-06-
Năm
chướng ngại
Chướng
ngại chính cản trở sự thành công trong hành thiền và phát
tuệ giải thoát thường có dạng của một trong năm loại
triền cái (ngũ cái). Triền cái là sự ngăn che, làm cho vướng
mắc trong vòng luân hồi sinh tử. Tiếng Phạn là "Nīvarana",
và tiếng Anh dịch là "Hindrances". Toàn thể pháp hành
đưa đến Giác ngộ có thể được diễn tả như một nỗ
lực để vượt qua năm chướng ngại nầy, đầu tiên là tạm
thời đè nén chúng để đắc Thiền-na (Jhāna) và phát
tuệ minh sát, rồi dần dần chế ngự và trừ diệt chúng
một cách vĩnh viễn qua công phu phát triển Bát Chánh Ðạo.
Năm chướng ngại đó là:
-
Tham dục (Kāmacchanda, Sense desire)
-
Sân hận (Vyāpāda, Ill will)
-
Hôn trầm (Thīna-middha, Sloth and Torpor)
-
Trạo cử (Uddhacca-kukkucca, Restlessness)
-
Hoài nghi (Vicikicchā, Doubt)
Trong
nhiều bài kinh, Đức Phật giảng dạy tóm tắt việc chế
ngự năm triền cái ấy như sau:
"...
Vị Tỳ-khưu lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khu
rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài
trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị
ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú
chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham dục ở đời,
sống với tâm thoát ly tham dục, gột rửa tâm hết tham dục.
Từ
bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng
từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm
hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy
sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng
về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn
trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy
sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết
trạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống
thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa
tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp..."
Ở
đây, trong bài nầy, chúng tôi xin giải thích thêm về năm
chướng ngại ấy trong tiến trình tu tập hành thiền của
người con Phật.
*
1.
THAM DỤC là để chỉ trạng thái mong cầu dục lạc qua
năm giác quan của hình dáng, âm thanh, mùi hương, vị nếm,
và cảm xúc. Tham dục đặc biệt không bao gồm các ước nguyện
được hạnh phúc qua căn thức thứ sáu là tâm ý.
Trong
một dạng cực đoan, tham dục là lòng mong ước mãnh liệt
để tìm khoái lạc trong những hoạt động tình dục, thức
ăn ngon, hương thơm, cảnh sắc đẹp đẽ hoặc âm nhạc du
dương. Nó cũng bao gồm lòng ham muốn thay thế các cảm giác
khó chịu hay đau đớn bằng các cảm giác dễ chịu, có nghĩa
là lòng ham muốn được có cảm giác thoải mái.
Ðức
Phật ví sự tham dục như thể đi vay nợ. Các sự khoái lạc
ta có qua năm căn đều phải trả lại qua các đau khổ về
biệt ly, mất mát hoặc sự trống rỗng đói khát, vốn sẽ
theo đuổi mãnh liệt sau khi các khoái lạc đã bị tiêu dùng.
Cũng như bất cứ món nợ nào cũng phải trả thêm lời, và
như thế Ðức Phật dạy rằng sự khoái lạc đó thật ra
là nhỏ bé so với các đau khổ phải hoàn trả.
Trong
khi hành thiền, thiền sinh vượt qua lòng tham dục bằng cách
buông xả mọi quan tâm về thân thể và hoạt động của năm
giác quan. Nhiều người cho rằng năm giác quan đó hiện diện
để phục vụ và bảo vệ tấm thân, nhưng thật ra, tấm thân
nầy hiện hữu để phục vụ cho năm giác quan, vì chúng dàn
dựng thế giới để tìm cầu khoái lạc. Thật thế, Ðức
Phật đã từng bảo rằng: "Năm giác quan chính là thế giới",
và để thoát ra thế giới, để vui hưởng hạnh phúc siêu
thế của thiền-na, chúng ta phải biết xả ly các quan tâm
về thân và năm giác quan của nó.
Khi
vượt qua được tham dục, tâm của thiền sinh sẽ không còn
để ý đến các hứa hẹn của khoái lạc và cũng không còn
để ý đến sự khoan khoái của cơ thể. Thân thể dường
như tan biến và năm giác quan dường như đóng lại. Sự khác
biệt giữa khi còn tùy thuộc hoạt động của năm giác quan
và khi vượt qua chúng cũng như thể sự khác biệt khi ta nhìn
ra bên ngoài qua khung cửa sổ và khi ta nhìn vào gương soi.
Tâm ta khi được giải thoát khỏi hoạt động của năm giác
quan sẽ có thể thật sự quay nhìn vào bên trong và thấy rõ
bản chất thật sự của nó. Từ đó, trí tuệ nảy sinh để
cho ta biết được ta là ai, từ đâu và tại sao.
*
2.
SÂN HẬN là để chỉ trạng thái mong muốn trừng phạt,
gây khổ hoặc tàn phá. Nó bao gồm lòng thù ghét một người
hoặc một hoàn cảnh nào đó, và vì nó tạo ra một năng lực
mãnh liệt, nó rất hấp dẫn và tạo lôi cuốn. Có lúc nó
có vẻ như được biện minh vì nó có một sức mạnh làm
băng hoại khả năng phán xét vô tư của ta. Nó cũng bao gồm
lòng thù hận tự thân, thường được xem như một mặc cảm
tội lỗi, để tước đoạt mọi khả năng tạo hạnh phúc.
Trong khi hành thiền, lòng sân hận thường hiện ra như sự
chán ghét vào chính đối tượng thiền quán, bỏ rơi nó để
hướng sự chú tâm của ta lang thang qua các nơi khác.
Ðức
Phật ví lòng sân hận như thể người bị bệnh. Bệnh tật
cản trở sự tự do và hạnh phúc của sức khỏe. Cũng như
thế, lòng sân hận cản trở sự tự do và hạnh phúc của
an bình.
Sân
hận được vượt qua bằng cách áp dụng lòng Từ mẫn. Khi
có sự sân hận đối với người nào, lòng Từ mẫn dạy
cho ta thấy được các sự kiện khác về người ấy ngoài
sự kiện đang làm ta đau khổ, để thấy rằng tại sao người
ấy làm khổ ta - thông thường giúp ta thấy được ngay chính
người ấy cũng đang bị đau khổ - và khuyến khích ta bỏ
qua các đau khổ của chính mình và nhìn người khác với lòng
từ bi.
Tuy
nhiên, nếu ta chưa làm được như thế, lòng Từ mẫn cho chính
bản thân cũng sẽ giúp cho ta không còn sân hận vào tự thân,
chấm dứt tự làm khổ mình bằng các ký ức về những hành
động đau khổ. Như thế, khi có sân hận vào ngay chính mình,
Từ mẫn sẽ giúp ta thấy được lỗi lầm của chính mình,
khuyến khích ta tự tha thứ cho chính mình, giúp ta học được
qua các bài học đó rồi buông xả chúng. Kế đến, nếu ta
có lòng sân hận về đối tượng tham thiền - thường là
lý do khiến thiền sinh không được an bình - lòng từ mẫn
sẽ giúp ta bám sát và nâng niu đối tượng đó một cách
trìu mến và vui thích.
Cũng
như bà mẹ thường có bản tính tự nhiên thương yêu đứa
con, thiền sinh có thể đối xử với hơi thở của mình với
các cảm giác tương tự. Như thế, thiền sinh không thể nào
quên lãng hơi thở của mình - một đối tượng tham thiền
- cũng như thể bà mẹ không thể nào bỏ quên đứa con trong
khi vào chợ. Từ đó, thiền sinh không thể nào xao lãng hơi
thở vì một ý nghĩ nào đó, cũng như bà mẹ không thể nào
buông bỏ đứa con mà bà đang bồng bế trong tay. Khi lòng sân
hận được vượt qua, ta sẽ tạo được một liên hệ lâu
bền với mọi người, an vui với đối tượng tham thiền,
và từ đó ta sẽ hoàn toàn thấm nhập vào thiền-na.
*
3.
HÔN TRẦM là để chỉ trạng thái nặng nề của cơ thể
và mờ tối của tâm thức, kéo ta vào một sự lừ đừ và
chán nản. Ðức Phật ví nó như thể bị giam vào một phòng
tối, chật chội, không thể di chuyển tự do, trong khi bên
ngoài là trời nắng sáng. Trong khi hành thiền, nó làm cho ta
chỉ có những giác niệm rời rạc, yếu ớt và từ đó đưa
đến sự ngủ gục trong lúc thiền mà ta lại không biết.
Hôn
trầm được vượt qua bằng cách làm khơi dậy năng lực tinh
tấn. Nguồn năng lực lúc nào cũng có sẵn nhưng ít người
biết cách khai thác nó. Ðặt một mục đích, một mục đích
vừa phải, là một cách khôn ngoan và hữu hiệu để phát
sinh năng lực, để tạo nhiều hứng khởi vào công việc trong
tay. Một đứa bé con thường có một sự thích thú tự nhiên,
và tiếp theo là năng lực, bởi vì thế giới bên ngoài rất
mới lạ đối với em. Như thế, nếu chúng ta học cách nhìn
vào đời sống của chính ta, hoặc pháp thiền của ta, bằng
tâm trí của một người mới bắt đầu (sơ tâm), ta sẽ luôn
luôn nhìn nó qua những góc nhìn mới lạ và những điều khả
thi tươi tắn, với nhiều nghị lực và tinh tấn, xa rời trạng
thái buồn chán.
Tương
tự, ta có thể tạo hứng khởi vào điều đang làm bằng cách
huấn luyện tư tưởng để nhìn được cái đẹp trong chuyện
thông thường. Từ đó, phát sinh sự thích thú, tránh khỏi
trạng thái nửa sống nửa chết của hôn trầm.
Tâm
thức có hai nhiệm vụ chính: cái làm (tác nhân - the
doer) và cái biết (tri nhân - the knower). Hành
thiền là để làm an dịu "cái làm" để đạt đến an định
tuyệt đối trong khi vẫn duy trì "cái biết". Hôn trầm sẽ
xảy ra khi thiền sinh bất cẩn, làm an dịu "cái làm" lẫn
"cái biết", không có khả năng để phân biệt chúng.
Hôn
trầm là một vấn đề rất thông thường, từ từ lan rộng
ra rồi bao trùm tâm thiền sinh. Một thiền sinh thiện xảo
phải biết canh chừng, phát hiện ngay những dấu hiệu đầu
tiên của hôn trầm, nhận định chúng và phải có phản ứng
đối phó kịp thời. Cũng như khi ta đến ngã ba đường, ta
có thể chọn một đường cho tâm thức xa rời sự hôn trầm.
Hôn trầm là một trạng thái khó chịu của thân và tâm, quá
cứng đọng không thể đi vào sự an lạc của Thiền-na, và
quá mù quáng không thể khám phá ra các Tuệ quán. Tóm lại,
đây hoàn toàn là một sự phí phạm thì giờ.
*
4.
TRẠO CỬ là để chỉ trạng thái tâm như khỉ vượn chuyền
cành, không bao giờ chịu ở yên tại bất cứ chỗ nào. Nó
được tạo ra từ trạng thái tìm lỗi trong tâm, không bao
giờ chịu thỏa mãn với sự việc như thật, và như thế
phải phóng ra ngoài tìm những hứa hẹn tốt hơn, lúc nào
cũng nhìn sang nơi khác.
Ðức
Phật ví trạo cử như một tên nô lệ, tiếp tục chạy nhảy
theo lệnh của ông chủ khắc nghiệt luôn luôn đòi hỏi sự
toàn hảo, và như thế không bao giờ cho phép nó được dừng
nghỉ.
Trạo
cử được vượt qua bằng cách phát triển sự biết đủ
(tri túc), là đối nghịch với sự tìm lỗi. Ta học cách an
vui đơn giản qua sự hài lòng với chút ít, chứ không phải
lúc nào cũng đòi hỏi cho nhiều. Ta cảm thấy biết ơn trong
giây phút hiện tại, chứ không phải moi tìm các khiếm khuyết
của nó. Như một thí dụ, trạo cử khi hành thiền thường
là sự nóng nảy mong sao để tiến nhanh vào giai đoạn kế
tiếp. Thế nhưng, cấp độ tiến triển nhanh nhất thường
xảy ra cho những thiền sinh nào chỉ biết bằng lòng với
những gì họ đạt được ngay trong hiện tại. Vì có sự
tri túc, hài lòng đó đã làm chín muồi để đi vào giai đoạn
kế tiếp.
Cho
nên, ta phải cẩn thận về thái độ làm nhanh cho xong, và
thay vào đó, cần phải học cách an nghỉ trong trạng thái
hài lòng và tri túc. Làm như thế, "cái làm" sẽ tan biến và
công phu hành thiền sẽ nở hoa.
Hối
hận là một trạng thái đặc biệt của trạo cử, là
nghiệp quả của các hành động bất thiện. Cách duy nhất
để vượt qua hối hận - sự trạo cử do lương tâm cắn
rứt - là phải giữ gìn giới đức, tập sống tử tế, khôn
ngoan và dịu dàng. Một người không có đạo đức hoặc sống
buông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắc
trong khi hành thiền.
*
5.
HOÀI NGHI là để chỉ trạng thái nội tâm đặt nhiều
câu hỏi rối ren trong lúc thiền sinh cần yên lặng để tiến
sâu hơn vào tâm thức. Nghi ngờ tạo ra câu hỏi về chính
khả năng của ta: "Không biết tôi có làm được việc nầy
không?", hoặc nghi vấn về pháp hành: "Không biết cách
nầy có đúng không?", hoặc ngay cả nghi vấn về ý nghĩa:
"Cái
gì đây?". Cần phải nhớ rằng các câu hỏi đó là chướng
ngại trong lúc hành thiền, bởi vì chúng đặt ra không đúng
thời, và vì thế trở thành sự xâm chiếm, làm lu mờ tri
kiến thanh tịnh.
Ðức
Phật ví nghi ngờ như thể bị lạc trong sa mạc, không nhận
ra được các mốc điểm. Sự nghi ngờ đó được vượt qua
bằng cách thu thập các lời hướng dẫn rõ ràng, có một
bản đồ tốt, để giúp ta thấy được các mốc điểm vi
tế trong vùng đất không quen thuộc của tâm thiền sâu kín,
và từ đó biết được con đường phải đi. Nghi ngờ về
khả năng của chính mình có thể được vượt qua bằng cách
nuôi dưỡng lòng tự tin với một vị thiền sư tốt. Vị
thiền sư có thể ví như một huấn luyện viên thể thao có
khả năng thuyết phục các vận động viên rằng họ có thể
thành công.
Ðức
Phật dạy rằng mỗi người chúng ta có thể, và sẽ đắc
Thiền-na và Giác ngộ nếu ta thực hành theo các hướng dẫn
của Ngài một cách nghiêm túc và kiên nhẫn. Chỉ có điều
là ta không thể biết chắc chắn khi nào thì kết quả đó
sẽ xảy ra. Kinh nghiệm hành thiền giúp ta vượt qua các nghi
ngờ về khả năng của ta và về con đường hành đạo. Khi
ta tự thực chứng được các giai đoạn tốt đẹp của con
đường, ta khám phá rằng thật ra ta có khả năng cao nhất,
và đây đúng là con đường đưa ta đến mục đích đó.
Nghi
ngờ - trong dạng kiểm tra thường xuyên: "Ðây có phải
là Thiền-na? Tôi được kết quả đến đâu?" - được
vượt qua bằng cách nhận thức rằng các câu hỏi như thế
nên hoãn lại cho đến lúc cuối, trong những phút cuối của
buổi thiền. Vị bồi thẩm tòa án chỉ có quyết định trong
ngày cuối phiên tòa, khi các tang chứng đã được trình bày.
Cũng như thế, một thiền sinh thiện xảo chỉ biết yên lặng
thu nhặt mọi bằng chứng, và chỉ xét duyệt trong những phút
cuối để khám phá ý nghĩa của nó.
Trong
hành thiền, nghi ngờ hoàn toàn tan biến khi tâm thức hoàn
toàn tin tưởng vào sự vắng lặng, không còn gây rối loạn
với các đối thoại, các lời thì thầm bên trong. Cũng như
thể ta có được một tài xế tài ba, ta hoàn toàn tin tưởng
người đó, và ta chỉ là một hành khách, ngồi yên lặng
quán sát ghi nhận trong suốt cuộc hành trình.
*
Trong
phẩm Năm Pháp, Tăng Chi Bộ, Đức Phật có nói về tầm quan
trọng của việc đoạn tận năm triền cái như sau:
-
"Vị Tỳ-khưu nào sau khi đoạn tận năm triền cái bao phủ
tâm, làm yếu ớt trí tuệ, thì vị ấy sẽ có sức mạnh,
có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, sẽ biết
được lợi ích của người, sẽ biết được lợi ích của
cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến
thù thắng, xứng đáng là bậc Thánh".
Khi
hành thiền, nếu có vấn đề xảy ra thì đó là vì có sự
hiện diện của một trong Năm Triền Cái nầy, hoặc là sự
kết hợp của chúng. Như thế, khi thiền sinh gặp khó khăn,
thiền sinh nên dùng các định nghĩa như trên của Năm Triền
Cái như là bảng kiểm tra để xác định vấn đề. Từ đó,
thiền sinh biết được cách hóa giải thích hợp, áp dụng
cẩn thận, vượt qua trở ngại để tiến vào mức thiền
cao sâu hơn.
Khi
hoàn toàn vượt qua được năm sự ngăn che đó, hàng rào giữa
thiền sinh và sự an lạc của thiền-na sẽ không còn hiện
hữu nữa. Do đó, sự kiểm chứng chắc chắn nhất để biết
Năm Triền Cái nầy đã thật sự được vượt qua là thiền
sinh phải nỗ lực phát triển được khả năng đem tâm an
định vào các tầng thiền-na.
(Dựa
theo bài "The Five Hindrances",
Thiền
sư Ajahn Brahmavamso)