-03-
Bốn
sự thật cao quý
Trích
lục kinh điển
Bài
nầy dựa theo bản Anh ngữ "The Four Noble Truths - A Study Guide"
của Tỳ-khưu Thanissaro, đăng trong trang web Access-to-Insight,
và các bản Việt ngữ của Hòa Thượng Thích Minh Châu (Ðại
Tạng Kinh Việt Nam).
Ðức
Thế Tôn bảo các vị Tỳ-khưu: "Nầy các Tỳ-khưu, bởi vì
không thông hiểu, không thấu đạt Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ
Diệu Ðế) mà ta cũng như quý vị từ lâu đã phải trải
qua nhiều kiếp luân hồi trong vòng sinh tử. Bốn sự thật
ấy là gì?
Vì
không thông hiểu Sự Thật về Khổ (Khổ Ðế) mà chúng ta
luân hồi, không thông hiểu Sự Thật về Nguồn Gốc của
Khổ (Tập Ðế), không thông hiểu về Sự Thật về Ðoạn
Diệt Khổ (Diệt Ðế), không thông hiểu Sự Thật về Con
Ðường Diệt Khổ (Ðạo Ðế), mà chúng ta đã phải luân
hồi trong vòng sinh tử. Bằng cách thông hiểu, bằng cách thấu
đạt Sự Thật về Khổ, Sự Thật về Nguồn Gốc của Khổ,
Sự Thật về Ðoạn Diệt Khổ, Sự Thật về Con Ðường Diệt
Khổ, lòng tham thủ về sinh hữu được đoạn tận, sự hỗ
trợ để sinh hữu được phá hủy, và từ đó không còn phải
tái sinh nữa."
-
Kinh Ðại Bát Niết Bàn (Trường Bộ, 16)
Ðức
Phật giảng về sự Giác Ngộ của Ngài:
"Tri
kiến phát sinh, minh sát phát sinh, tuệ giác phát sinh, hiểu
biết phát sinh, minh kiến phát sinh trong ta, về những điều
mà từ trước ta chưa từng nghe đến:
- Ðây
là Sự Thật Tuyệt Ðối về Khổ ... Khổ nầy phải được
thông hiểu ... Khổ nầy vừa được thông hiểu.
- Ðây
là Sự Thật Tuyệt Ðối về Nguồn Gốc của Khổ ... Nguồn
Gốc nầy phải được đoạn tận ... Nguồn Gốc nầy vừa
được đoạn tận.
- Ðây
là Sự Thật Tuyệt Ðối về Sự Diệt Khổ ... Diệt Khổ
nầy phải được trực nghiệm ... Diệt Khổ nầy vừa được
trực nghiệm.
- Ðây
là Sự Thật Tuyệt Ðối về Con Ðường Diệt Khổ ... Con
Ðường nầy phải được thực chứng ... Con Ðường nầy
vừa được thực chứng.
Nầy
các vị Tỳ-khưu, khi nào mà sự hiểu biết và nhận thức
nầy của ta - với ba vòng chuyển và mười hai kết hợp về
bốn Sự Thật Tuyệt Ðối đó - không tinh thuần, ta không
thể khẳng định rằng ta là Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác,
vượt hơn tất cả mọi loài trong vũ trụ, chư thiên, ma quỷ,
phàm phu, tu sĩ, vua chúa và thường dân. Tuy nhiên, ngay khi sự
hiểu biết và nhận thức nầy của ta - với ba vòng chuyển
và mười hai kết hợp về bốn Sự Thật Tuyệt Ðối đó
- hoàn toàn thật sự tinh thuần, ta khẳng định rằng ta là
Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác, vượt hơn tất cả mọi loài
trong vũ trụ, chư thiên, ma quỷ, phàm phu, tu sĩ, vua chúa và
thường dân. Tuệ giác và tri kiến phát khởi trong ta: 'Sự
Giải Thoát đã xảy ra. Ðây là kiếp sống cuối cùng. Không
còn phải tái sinh nữa.'"
-
Kinh Chuyển Pháp Luân (Tương Ưng, 56.11)
1.
Diệu Ðế về Khổ
1.a)
Ðịnh nghĩa:
"Nầy
các vị Tỳ-khưu, đây là Diệu Ðế về Khổ: Sinh là khổ,
già là khổ, chết là khổ; ưu sầu, than khóc, đau đớn, buồn
rầu, và tuyệt vọng là khổ; liên kết với những điều
không ưa thích là khổ, cách ly những điều ưa thích là khổ;
không đạt được những gì mong muốn là khổ; tóm lại, cả
năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) để tham thủ là
khổ."
-
Kinh Chuyển Pháp Luân (Tương Ưng, 56.11)
1.b)
Sáu căn:
"Và
thế nào là Diệu Ðế về Khổ? Câu trả lời phải là sáu
căn đều khổ. Sáu căn đó là gì? Là căn của mắt (nhãn
căn), căn của tai (nhĩ căn), căn của mũi (tỷ căn), căn của
lưỡi (thiệt căn), căn của thân (thân căn), và căn của ý
(ý căn). Ðây là Sự Thật Cao Quý về Khổ."
-
Tương Ưng, 56.14
1.c)
Khổ như lửa cháy:
"Tất
cả đều là lửa cháy. Cái gì là lửa cháy?
- Mắt
là lửa cháy. Hình sắc là lửa cháy. Nhận thức từ mắt
là lửa cháy. Tiếp cận qua mắt là lửa cháy. Những gì sinh
khởi tùy thuộc vào sự tiếp cận qua mắt, cảm giác như
là khoái lạc, đau đớn, hoặc không lạc không đau, đều
đang thiêu cháy...
- Tai
là lửa cháy. Âm thanh là lửa cháy. Nhận thức từ tai là
lửa cháy. Tiếp cận qua tai là lửa cháy. Những gì sinh khởi
tùy thuộc vào sự tiếp cận qua tai, cảm giác như là khoái
lạc, đau đớn, hoặc không lạc không đau, đều đang thiêu
cháy...
- Mũi
là lửa cháy. Mùi hương là lửa cháy. Nhận thức từ mũi
là lửa cháy. Tiếp cận qua mũi là lửa cháy. Những gì sinh
khởi tùy thuộc vào sự tiếp cận qua mũi, cảm giác như là
khoái lạc, đau đớn, hoặc không lạc không đau, đều đang
thiêu cháy...
- Lưỡi
là lửa cháy. Vị nếm là lửa cháy. Nhận thức từ lưỡi
là lửa cháy. Tiếp cận qua lưỡi là lửa cháy. Những gì
sinh khởi tùy thuộc vào sự tiếp cận qua lưỡi, cảm giác
như là khoái lạc, đau đớn, hoặc không lạc không đau, đều
đang thiêu cháy...
- Thân
là lửa cháy. Vật xúc chạm là lửa cháy. Nhận thức từ
thân là lửa cháy. Tiếp cận qua thân là lửa cháy. Những
gì sinh khởi tùy thuộc vào sự tiếp cận qua thân, cảm giác
như là khoái lạc, đau đớn, hoặc không lạc không đau, đều
đang thiêu cháy...
- Ý
là lửa cháy. Tư tưởng là lửa cháy. Nhận thức từ ý là
lửa cháy. Tiếp cận qua ý là lửa cháy. Những gì sinh khởi
tùy thuộc vào sự tiếp cận qua ý, cảm giác như là khoái
lạc, đau đớn, hoặc không lạc không đau, đều đang thiêu
cháy. Thiêu cháy với gì? Thiêu cháy với lửa tham, lửa sân,
và lửa si. Ta nói với quý vị rằng tất cả đều đang thiêu
cháy với sinh, già, chết, ưu sầu, than khóc, đau đớn, buồn
rầu, và tuyệt vọng."
-
Tương Ưng, 35.28
2.
Diệu Ðế về Nguồn Gốc của Khổ
"Nầy
các vị Tỳ-khưu, đây là Diệu Ðế về Nguồn Gốc của Khổ:
lòng tham thủ làm cho sinh hữu - kèm theo với ham muốn và ưa
thích, thêm vào chỗ nầy chỗ kia, nghĩa là tham thủ các dục
lạc, tham thủ thường sinh, tham thủ đoạn sinh."
-
Kinh Chuyển Pháp Luân (Tương Ưng, 56.11)
Ai
sống trong đời này,
Bị
ái dục buộc ràng
Sầu
khổ sẽ tăng trưởng,
Như
cỏ Bi gặp mưa.
Ai
sống trong đời này
Ái
dục được hàng phục
Sầu
rơi khỏi người ấy
Như
giọt nước lá sen. (Pháp Cú, 335-336)
Như
cây bị chặt đốn,
Gốc
chưa hại vẫn bền
Ái
tùy miên chưa nhổ,
Khổ
này vẫn sanh hoài. (Pháp Cú, 338)
3.
Diệu Ðế về Sự Diệt Khổ
"Nầy
các vị Tỳ-khưu, đây là Diệu Ðế về Diệt Khổ: sự tàn
lụn và ngưng không còn tàn dư, sự xuất ly, sự từ bỏ,
sự giải phóng, và sự buông bỏ lòng tham thủ."
-
Tương Ưng, 56.11
3.a)
Tháo gỡ các nguyên nhân về khổ:
"Ta
bảo với các vị Tỳ-khưu, việc chấm dứt các lậu hoặc
không thể nào có được nơi những người không thấy và
không biết. Thấy gì và biết gì? 'Ðây là sắc, đây là nhân
của nó, đây là sự tan biến của nó. Ðây là cảm thọ,
đây là nhân của nó, đây là sự tan biến của nó. Ðây là
tưởng, đây là nhân của nó, đây là sự tan biến của nó.
Ðây là hành, đây là nhân của nó, đây là sự tan biến của
nó. Ðây là thức, đây là nhân của nó, đây là sự tan biến
của nó.' Việc chấm dứt các lậu hoặc chỉ có thể xảy
ra nơi những người thấy và biết như thế.
Tuệ
giác về sự đoạn diệt khi đoạn diệt hiện hữu là do duyên
sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh. Duyên sinh
của nó là gì? Ðó là sự giải phóng.
- Giải
phóng là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là sự lạnh nhạt.
- Sự
lạnh nhạt là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không
do duyên sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là sự chán chường.
- Chán
chường là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do
duyên sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là tri kiến về bản
chất của sự vật.
- Tri
kiến về bản chất của sự vật là do duyên sinh. Nó không
thể xảy ra nếu không do duyên sinh. Duyên sinh của nó là gì?
Ðó là tâm định tĩnh.
- Tâm
định tĩnh là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không
do duyên sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là thư thái.
- Thư
thái là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là khinh an.
- Khinh
an là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là hỷ.
- Hỷ
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là lạc.
- Lạc
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là tín tâm.
- Khổ
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là tái sinh.
- Tái
sinh là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là hữu.
- Hữu
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là thủ.
- Thủ
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là tham muốn.
- Tham
muốn là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là thọ.
- Thọ
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là tiếp xúc.
- Tiếp
xúc là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là sáu xứ (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý).
- Sáu
xứ là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là danh sắc.
- Danh
sắc là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là thức.
- Thức
là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên sinh.
Duyên sinh của nó là gì? Ðó là nghiệp hành.
- Nghiệp
hành là do duyên sinh. Nó không thể xảy ra nếu không do duyên
sinh. Duyên sinh của nó là gì? Ðó là vô minh.
Cũng
như khi chư thiên làm mưa sấm, trút nước vào vùng núi cao,
nước nầy chảy xuống theo triền dốc, làm đầy các khe núi,
hang động. Khi các khe và hang động đầy tràn, nước sẽ
chảy xuống các hồ nhỏ. Khi các hồ nhỏ đầy tràn, nước
sẽ chảy xuống các hồ lớn. Khi các hồ lớn đầy tràn,
nước sẽ chảy xuống các dòng suối. Khi các dòng suối đầy
tràn, nước sẽ chảy xuống các sông lớn. Khi các sông lớn
đầy tràn, nước sẽ chảy ra đại dương. Cùng thế ấy:
Hành
có vô minh là duyên,
Thức
có hành là duyên
Danh
sắc có thức là duyên
Sáu
xứ có danh sắc là duyên,
Tiếp
xúc có sáu xứ là duyên,
Thọ
có tiếp xúc là duyên,
Tham
muốn có thọ là duyên,
Chấp
thủ có tham muốn là duyên,
Hữu
có chấp thủ là duyên,
Sinh
có hữu là duyên,
Hoạn
khổ có sinh là duyên,
Tín
tâm có hoạn khổ là duyên,
Lạc
có tín tâm là duyên,
Hỷ
có lạc là duyên,
Khinh
an có hỷ là duyên,
Thư
thái có khinh an là duyên,
Tâm
định tĩnh có thư thái là duyên,
Tri
kiến về bản chất của sự vật có tâm định tĩnh là duyên,
Chán
chường có tri kiến về bản chất của sự vật là duyên,
Lạnh
nhạt có chán chường là duyên,
Giải
phóng có lạnh nhạt là duyên,
Tuệ
giải thoát có giải phóng là duyên."
-
Tương Ưng, 12.23
3.b)
Lý Duyên Sinh:
"Phương
cách cao quý nào cần phải được nhận thấy đúng đắn và
phân biệt rõ ràng bằng trí tuệ? Ðây là lúc một người
đệ tử cao sang quán xét được rằng:
Khi
cái nầy hiện hữu thì cái kia hiện hữu
Từ
việc khởi sinh cái nầy thì có khởi sinh cái kia.
Khi
cái nầy không hiện hữu thì cái kia không hiện hữu,
Từ
việc đoạn diệt cái nầy thì có đoạn diệt cái kia."
Nói
cách khác:
"Vô
minh là duyên của hành,
Hành
là duyên của thức,
Thức
là duyên của danh sắc,
Danh
sắc là duyên của sáu xứ,
Sáu
xứ là duyên của tiếp xúc,
Tiếp
xúc là duyên của thọ,
Thọ
là duyên của tham,
Tham
là duyên của chấp thủ,
Chấp
thủ là duyên của hữu,
Hữu
là là duyên của sinh,
Sinh
là duyên của già, chết, ưu sầu, than khóc,
đau
đớn, buồn rầu, và tuyệt vọng.
Ðó
là nguồn gốc rốt ráo của hoạn khổ.
Giờ
đây, chấm dứt và đoạn diệt vô minh, đưa
đến
đoạn diệt hành,
Ðoạn
diệt hành đưa đến đoạn diệt thức,
Ðoạn
diệt thức đưa đến đoạn diệt danh sắc,
Ðoạn
diệt danh sắc đưa đến đoạn diệt sáu xứ,
Ðoạn
diệt sáu xứ đưa đến đoạn diệt tiếp xúc,
Ðoạn
diệt tiếp xúc đưa đến đoạn diệt cảm thọ,
Ðoạn
diệt cảm thọ đưa đến đoạn diệt tham muốn,
Ðoạn
diệt tham muốn đưa đến đoạn diệt chấp thủ,
Ðoạn
diệt chấp thủ đưa đến đoạn diệt hữu,
Ðoạn
diệt hữu đưa đến đoạn diệt sinh,
Ðoạn
diệt sinh đưa đến đoạn diệt già, chết, ưu sầu, than khóc,
đau đớn, buồn rầu, và tuyệt vọng.
Ðó là
sự chấm dứt rốt ráo các hoạn khổ.
Ðây
là phương cách cao quý cần phải được nhận thấy đúng
đắn và phân biệt rõ ràng bằng trí tuệ."
-
Tăng Chi, 10.92
4.
Diệu Ðế về Con Ðường Diệt Khổ
4.a)
Bát Chánh Ðạo:
"Nầy
các vị Tỳ-khưu, đây là Diệu Ðế về Con Ðường Diệt
Khổ, đó chính là Con Ðường Tám Chánh: Chánh Kiến, Chánh
Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn,
Chánh Niệm, Chánh Ðịnh."
-
Kinh Chuyển Pháp Luân (Tương Ưng, 56.11)
Bát
Chánh Ðạo là Pháp Thừa (Dhamma-yana):
"Này
Ananda, Con Ðường Tám Chánh nầy là đồng nghĩa với cỗ xe
tối thượng, là cỗ xe Pháp, là sự chiến thắng vô thượng
trong mọi chiến trận nhiếp phục tham, sân, si."
-
Tương Ưng, 5.4
Ðịnh
nghĩa về tám chi phần:
"Này
các vị Tỳ-khưu, thế nào là chánh tri kiến? Ðó là
sự thông hiểu về khổ, sự thông hiểu về nguyên nhân của
khổ, sự thông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông hiểu
về con đường diệt khổ.
Thế
nào là chánh tư duy? Ðó là tư duy về sự xuất ly, tư
duy về vô sân, tư duy về vô hại.
Thế
nào là chánh ngữ? Ðó là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói
hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù
phiếm.
Thế
nào chánh nghiệp? Ðó là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy
của không cho, từ bỏ hành động tà dâm.
Thế
nào là chánh mạng? Ðó là đoạn trừ tà mạng, nuôi
sống với chánh mạng.
Thế
nào là chánh tinh tấn? Ðó là tinh tấn ngăn chận không
cho khởi sanh các bất thiện pháp chưa sanh, tinh tấn trừ diệt
các bất thiện pháp đã sanh, tinh tấn phát khởi các thiện
pháp chưa sanh, và tinh tấn duy trì các thiện pháp đã sanh.
Thế
nào là chánh niệm? Ðó là sống quán thân trên thân,
nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục mọi tham ưu trên đời;
sống quán thọ trên thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục
mọi tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm,
tỉnh giác, điều phục mọi tham ưu trên đời; sống quán
pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều phục mọi
tham ưu trên đời.
Thế
nào là chánh định? Ðó là ly dục, ly pháp bất thiện,
chứng và trú Thiền-na thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc
do ly dục sanh, có tầm, có tứ; rồi làm cho tịnh chỉ tầm
và tứ, chứng và trú vào Thiền-na thứ hai, một trạng thái
hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất
tâm; rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm
sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú,
chứng và trú vào Thiền-na thứ ba; rồi xả lạc, xả khổ,
diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào Thiền-na
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh."
-
Tương Ưng, 5.8
4.b)
Tìm lại Con Ðường Cũ Xa Xưa:
"Có
một người đang đi theo một con đường mòn trong rừng. Ðột
nhiên người ấy tìm ra được một con đường cũ xa xưa mà
các vị tiền nhân thường dùng. Người ấy liền đi theo con
đường ấy. Sau đó, người ấy tìm lại được thành phố
cổ xưa mà ngày trước đã có nhiều người trú ngụ, với
các công viên, vườn cây, hồ ao, đền đài tráng lệ. Người
ấy trở về, báo cáo với vua và các quan đại thần: 'Thưa
bệ hạ, khi thần dân đi theo con đường mòn trong rừng, thần
dân đã tìm lại được một con đường cũ xa xưa. Thần dân
liền đi theo con đường ấy. Sau đó, thần dân tìm lại được
thành phố cổ xưa mà ngày trước đã có nhiều người trú
ngụ, với các công viên, vườn cây, hồ ao, đền đài tráng
lệ. Kính xin bệ hạ hãy trùng tu lại thành phố ấy.' Sau
đó, nhà vua và các quan đại thần quyết định trùng tu thành
phố cổ đó, và về sau, thành phố nầy trở nên phồn thịnh,
đông dân cư, phát triển lớn mạnh và giàu có.
Cùng
thế ấy, ta đã tìm lại con đường cũ xa xưa, một con đường
mà các Bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác đều đi qua trong các thời
kỳ trước. Con đường cũ xa xưa đó là gì? Ðó là Con Ðường
Tám Chánh: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp,
Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh. Ta đã
đi theo con đường ấy.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về già và chết,
tri kiến về nguyên nhân của già và chết, tri kiến về đoạn
diệt già và chết, tri kiến về con đường đoạn diệt già
và chết.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về sinh, tri kiến
về nguyên nhân của sinh, tri kiến về đoạn diệt sinh, tri
kiến về con đường đoạn diệt sinh.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về hữu, tri kiến
về nguyên nhân của hữu, tri kiến về đoạn diệt hữu, tri
kiến về con đường đoạn diệt hữu.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về chấp thủ,
tri kiến về nguyên nhân của chấp thủ, tri kiến về đoạn
diệt chấp thủ, tri kiến về con đường đoạn diệt chấp
thủ.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về tham muốn, tri
kiến về nguyên nhân của tham muốn, tri kiến về đoạn diệt
tham muốn, tri kiến về con đường đoạn diệt tham muốn.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về thọ, tri kiến
về nguyên nhân của thọ, tri kiến về đoạn diệt thọ, tri
kiến về con đường đoạn diệt thọ.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về tiếp xúc, tri
kiến về nguyên nhân của tiếp xúc, tri kiến về đoạn diệt
tiếp xúc, tri kiến về con đường đoạn diệt tiếp xúc.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về sáu xứ, tri
kiến về nguyên nhân của sáu xứ, tri kiến về đoạn diệt
sáu xứ, tri kiến về con đường đoạn diệt sáu xứ.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về danh sắc, tri
kiến về nguyên nhân của danh sắc, tri kiến về đoạn diệt
danh sắc, tri kiến về con đường đoạn diệt danh sắc.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về thức, tri kiến
về nguyên nhân của thức, tri kiến về đoạn diệt thức,
tri kiến về con đường đoạn diệt thức.
Theo
con đường đó, ta đã có được tri kiến về nghiệp hành,
tri kiến về nguyên nhân của nghiệp hành, tri kiến về đoạn
diệt nghiệp hành, tri kiến về con đường đoạn diệt nghiệp
hành.
Tri
kiến được như thế, ta đã truyền dạy lại cho các nam và
nữ tu sĩ, nam và nữ cư sĩ, để đời sống thánh thiện nầy
được trở nên hùng mạnh, huy hoàng, quảng bá sâu rộng cho
chư thiên và loài người".
-
Tương Ưng, 12.65
4.c)
Con đường giải thoát:
"Nầy
Subhada, nếu giáo pháp nào mà không hàm chứa Bát Chánh Ðạo
thì giáo pháp đó không đào tạo các vị sa môn đạt đạo
quả thứ nhất (Dự lưu, Tu-đà-hoàn), không đào tạo
các vị sa môn đạt đạo quả thứ hai (Nhất lai, Tư-đà-hàm),
không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ ba (Bất
lai, A-na-hàm), không đào tạo các vị sa môn đạt đạo
quả thứ tư (Vô sanh, A-la-hán).
Nầy
Subhada, nếu giáo pháp nào có hàm chứa Bát Chánh Ðạo thì
giáo pháp đó sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả
thứ nhất, sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ
hai, sẽ đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ ba, sẽ
đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ tư.
Nầy
Subhada, giáo pháp của Ta có hàm chứa Bát Chánh Ðạo nên giáo
pháp đó đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ nhất,
đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thứ hai, đào tạo
các vị sa môn đạt đạo quả thứ ba, đào tạo các vị sa
môn đạt đạo quả thứ tư. Các hệ giáo pháp khác đều
không đào tạo các vị sa môn đạt đạo quả thánh, đắc
tuệ giải thoát. Nầy Subhada, khi nào các vị sa môn tu tập
và truyền giảng Chánh Pháp một cách đúng đắn thì thế
giới nầy sẽ không bao giờ trống vắng các bậc A-la-hán
giải thoát."
-
Kinh Ðại Bát Niết Bàn (Trường Bộ, 16:214)