-02-
Trăng
tròn tháng Giêng
Có
ba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy:
Magha
Puja là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phật
thuyết kệ Ovāda-pātimokkha (Giải thoát giáo), là căn
bản cho các giới luật sau này; Vesakha Puja là ngày lễ
Rằm tháng Tư, tức là ngày lễ Tam Hợp Đản Sinh - Thành Đạo
- Đại Niết Bàn; và Asalha Puja là ngày lễ Rằm tháng
Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân,
và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.
Rằm
tháng Giêng còn gọi là ngày Phật Di Chúc, kỷ niệm ngày Đức
Phật tuyên bố xác định nền tảng của giáo pháp và giới
luật đã thiết lập vững vàng, và Ngài sẽ nhập diệt (bát
niết bàn) 3 tháng sau ngày đó.
*
1)
Ovādapātimokkha
Khi
Đức Phật ngụ tại khu vườn trúc (Trúc lâm) trong thành Vương
xá, có 1250 vị tỳ-khưu dù không hẹn trước đến lễ bái
Ngài vào ngày trăng tròn tháng Magha theo lịch Ấn Độ, tương
ứng với tháng Giêng âm lịch. Các vị ấy là những đệ
tử đầu tiên đã xuất gia với Ngài và đều đắc quả A-la-hán.
Có sách ghi rằng trong số đó, 1000 vị là thuộc nhóm Jatila
tức nhóm đạo sĩ tóc bính đã xin xuất gia theo Đức Phật
sau khi được nghe Ngài giảng bài kinh Lửa Cháy (Tương Ưng
35.28); và 250 vị kia là thuộc nhóm Aggasāvaka trước kia là
đệ tử của ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.
Trong
dịp nầy, Ngài giảng bài kinh Ovāda-pātimokkha (Giải
thoát giáo), tóm tắt căn bản của giáo pháp giải thoát và
đời sống tu tập của bậc xuất gia như sau:
Chư
Phật thường giảng dạy,
Nhẫn,
khổ hạnh tối thượng,
Niết-bàn,
quả tối thượng,
Xuất
gia không phá người,
Sa-môn
không hại người.
Không
làm mọi điều ác,
Thành
tựu các hạnh lành,
Giữ
tâm ý trong sạch,
Chính
lời chư Phật dạy.
Không
phỉ báng, phá hoại,
Hộ
trì giới căn bản,
Ăn
uống có tiết độ,
Sàng
tọa chỗ nhàn tịnh,
Chuyên
chú tăng thượng tâm,
Chính
lời chư Phật dạy.
Giới
bổn căn bản này được ghi lại trong kinh Đại Bổn (Trường
Bộ 14). Trong kinh Pháp Cú, ba câu kệ trên cũng được tìm
thấy trong Phẩm Phật-đà, với câu kệ thứ hai được chuyển
thành câu kệ đầu (kệ số 183, 184, 185). Theo Chú Giải kinh
Pháp Cú, ba câu kệ này được Đức Phật nhắc lại lúc Ngài
ngụ ở tinh xá Kỳ Viên, để trả lời câu hỏi của Tôn
giả A-nan.
Lúc
đó, vào ngày Bố-tát đêm rằm tháng Magha, Tôn giả A-nan chợt
nghĩ: "Ðức Thế Tôn đã dạy rõ về cha mẹ của bảy đời
chư Phật, đã dạy về thọ mạng, cội cây của chư Phật
ngồi thành đạo, đệ tử, vị thống lãnh Tăng đoàn và người
ngoại hộ chính thức. Tất cả điều đó đã được đức
Thế Tôn nói rõ, nhưng Ngài không nói về phương cách giáo
giới của bảy đời chư Phật trong ngày Bố-tát. Không biết
phương cách có giống như hôm nay hay khác?".
Nghĩ
thế, Tôn giả đến bạch Phật và thưa hỏi những điều
như trên. Đức Phật trả lời:
- Chư
Phật tuy khác nhau về thời gian bố-tát, nhưng tương đồng
về lời dạy khi giáo giới. Đó là:
Không
làm mọi điều ác,
Thành
tựu các hạnh lành,
Giữ
tâm ý trong sạch,
Chính
lời chư Phật dạy. (PC 183)
Chư
Phật thường giảng dạy,
Nhẫn,
khổ hạnh tối thượng,
Niết-bàn,
quả tối thượng,
Xuất
gia không phá người,
Sa-môn
không hại người. (PC 184)
Không
phỉ báng, phá hoại,
Hộ
trì giới căn bản,
Ăn
uống có tiết độ,
Sàng
tọa chỗ nhàn tịnh,
Chuyên
chú tăng thượng tâm,
Chính
lời chư Phật dạy. (PC 185)
Lời
giáo giới trên chỉ được mỗi vị Phật tuyên bố lần đầu
tiên khi hội đủ 4 điều kiện (Caturansasan-nipāta):
-
Ðúng vào ngày trăng tròn tháng Magha,
-
Có các vị tỳ-khưu tự động đến bái kiến Ðức Phật,
không hẹn trước,
-
Các vị đó đều là Thánh tăng A-la-hán có lục thông, và
-
Các vị đó đều xuất gia với Đức Phật như là Thiện Lai
Tỳ-Khưu (Ehi-bhikkhu).
Trong
thời kỳ Đức Phật Thích Ca của chúng ta, số các vị tỳ-khưu
đó là 1250 vị.
Vì
thế, ngày rằm tháng Giêng mỗi năm được xem như là ngày
lễ kỷ niệm Đại hội Chư Thánh Tăng. Ngày nầy được cử
hành bằng nhiều hình thức nghi lễ khác nhau, như lễ hội
đặt bát đến chư Tăng, lễ thọ giới, lễ quy y, lễ thuyết
pháp, lễ nhiễu Phật, lễ thọ đầu đà, v.v. nhằm giúp người
Phật tử cư sĩ có cơ hội gieo duyên lành trong chánh pháp.
Ðặc biệt là lễ thọ đầu đà (dhutanga), trong đó,
các cư sĩ đến chùa, thọ bát quan trai giới, thức trọn đêm
để tham thiền, nghe pháp, tham vấn, luận đạo.
*
2)
Phật Di Chúc
Trong
45 năm hoằng pháp, Đức Phật truyền dạy tất cả những
điều cần thiết cho những ai quyết tâm cố gắng theo chân
Ngài, cả bậc xuất gia lẫn hàng cư sĩ tại gia. Chẳng những
các vị này đã nắm vững Giáo Lý mà còn có đủ khả năng
để rộng truyền đến kẻ khác. Như đã ghi lại trong kinh
Đại Bát Niết Bàn (kinh số 16, Trường Bộ): "... Các vị
đó đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có
kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp,
sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng,
trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ
ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể
chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền
bá Chánh pháp một cách thần diệu". Vào năm tám mươi
tuổi, Ngài quyết định từ bỏ từ bỏ thọ, hành, không
duy trì mạng sống lâu hơn nữa. Lúc ấy, Ngài đang ngự tại
thành Vesali.
Vào
ngày trăng tròn tháng Magha, sau khi đi khất thực và thọ trai,
Ngài đến nghỉ trưa tại đền Capala. Sau đó, Ngài cùng Tôn
giả A-nan đi đến giảng đường Kutagara tại rừng Ðại Lâm.
Ngài bảo Tôn giả A-nan đi mời tất cả Tỳ-khưu sống ở
gần Vesali tụ họp tại giảng đường này.
Đức
Thế Tôn nói với các vị Tỳ-khưu:
-
"Này các Tỳ-khưu, những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy,
quý vị phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền
rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh
phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
loài Trời và loài Người.
Này
các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng
dạy, quý vị phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và
truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu,
vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng
thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an
lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ,
Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề
phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỳ-khưu, chính những
pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà quý vị phải
khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm
hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng
sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".
Rồi
Ngài nói với các Tỳ-khưu:
-
"Này các Tỳ-khưu, đây là lời Ta nhắn nhủ quý vị. Các
hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát,
vì không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu
từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ".
Ðó
là lời Đức Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Ngài lại nói
thêm:
Ta
đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ
biệt quý vị, Ta đi một mình.
Tự
mình làm sở y cho chính mình,
Hãy
tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp
thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai
tinh tấn trong Pháp và Luật này
Sẽ
diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Dựa
vào sự kiện lịch sử đó, ngày rằm tháng Magha (tháng Giêng
âm lịch) mỗi năm được hàng Phật tử trong truyền thống
Nguyên thủy tổ chức để kỷ niệm ngày Phật Di Chúc, 3 tháng
trước khi Ngài nhập diệt.