THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
PHÁP LUẬN
Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
Trang 05
Trang 06
Trang 07

THIỀN TỊNH SONG TU
(do Diệu Mỹ trích từ băng giảng của Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu 
trụ trì Minh Quang Thiền Viện tại 30-32 Chadderton Street, 
Canley Vale, Sydney, NSW 2166, Australia http://www.minhquangthienvien.com )

Khi chúng ta không biết xử dụng đúng cách những pháp môn tu tập thì chúng ta sẽ bị dị ứng về pháp môn hoặc dị ứng về nhận thức.  Dị ứng đây có nghĩa là không thích hợp cho căn cơ hay là thời điểm.  Nếu chúng ta có quá nhiều phương pháp học Phật mà không biết điều phối để dùng cho đúng bệnh của mình hoặc không biết tận dụng phương pháp nào đó thì chúng ta có thể sẽ coi thường Phật pháp và không đem lại niềm an tịnh tối thượng cho mình.  Ngược lại, nếu chúng ta chuyên trì một pháp môn thì căn bệnh của chúng ta sẽ chóng hết hơn.

Quan điểm Tịnh Độ tông là nếu có thiền mà thêm Tịnh Độ thì như câu ngài Vĩnh Minh Diên Thọ nói là : “Người tu thiền mà có thêm Tịnh Độ là giống như con hổ có thêm cái sừng và chắc chắn không sợ rơi lạc.”  Nếu như tu thiền mà không đủ phước báo, không đủ duyên lành và bị rơi rớt thì sẽ rơi vào ma đạo.  Do đó con đường niệm Phật là chắc chắn hơn hết.

Quan điểm của Thiền tông là con đường của thiền là con đường tự lực và là căn bản của đức Phật Thích Ca và của Phật giáo.  Con đường Tịnh Độ là nhờ vào tha lực cho nên con đường này giúp đỡ cho những người yếu đuối chưa đủ thượng thiện căn để có thể thành tựu Niết Bàn một cách nhanh chóng.

Tất cả pháp môn của Phật có một mục đích duy nhất là đưa hành giả đến giác ngộ giải thoát.  Còn dụng công như thế nào để đưa đến giác ngộ là không phải do pháp môn mà tùy thuộc ở hành giả.  Hiện tại phần nhiều người đang biện biệt, suy nghĩ, tranh luận những điểm thắng, ưu, biệt, yếu của những pháp môn mật tông, thiền tông, tịnh độ tông, hoa nghiêm tông, thiên thai tông.  Nhưng điểm chính bị bỏ quên là không phải pháp môn là yếu tố mà hành giả là con người dụng công trên từng pháp môn mới là yếu tố đạt đến kết quả.  Cũng như một căn nhà có nhiều cửa ra vào và hiện tại chúng ta tranh cãi là cửa nào tốt hơn thay vì chúng ta bước đến một cảnh cửa, mở khóa và bước vào nhà.  Khi chúng ta có một bản đồ, một hướng quyết định để dấn thân vào con đường học đạo để đạt được cái trí tuệ tột cùng hoặc tri kiến Phật thì chúng ta (1) phải hiểu rõ ràng hướng đi đó, (2) phải biết căn cơ và nổ lực của mình đang ở vị trí nào, hoàn cảnh nào để biết rằng phải dùng pháp môn nào cho thích hợp và gần đến mục tiêu nhất.  Pháp môn nào cũng có lợi nhưng phải biết xử dụng đúng đối tượng và hoàn cảnh thì mới có kết quả hữu hiệu.

Làm thế nào để chọn một pháp môn phù hợp mà không bị phân tâm giữa nhiều pháp môn?  Hay là nên chọn hai pháp môn riêng biệt để hổ trợ cho nhau?  Mỗi phương pháp có hướng đi khác nhau và đồng thời cũng khác nhau trên một khía cạnh nào đó.  Chúng ta không thể xử dụng hai đạo lộ cùng một lúc vì sẽ phí nhiều thời gian.  Nhưng tại sao Tổ lại nói là “có thiền mà thêm Tịnh Độ thì giống như hổ thêm sừng”?  Bởi vì chư Tổ ứng dụng pháp thiền và pháp Tịnh Độ tại một mức cao thâm rồi thì các ngài nhìn hai pháp đó là một chẳng phải hai.  Nếu như hành giả còn lưỡng lự, tranh chấp, nói trên danh tướng thì Tổ sẽ ban cho phương thức là tu tập cả hai cái sẽ lợi hơn vì rơi khỏi một cái thì còn lại cái kia.  Đây là nói trên phương tiện chứ trên thực tế thì những pháp môn tu có từng bước một.

Tiên quyết của thiền là thấy tánh thành Phật hay là tìm lại chủ nhân ông hay là kiến tánh.  Trên con đường tu, hành giả phải nổ lực, dụng công của tự lực để thanh lọc và thấu suốt con người của chính mình gọi là ngộ được tự tánh có nghĩa là tự mình quyết định và chứng nhập chân lý, phá vỡ vô minh để cuối cùng thành tựu được Phật quả.  Phật Thích Ca đã thành Phật nhờ ngồi thiền, nếu không thì chẳng có cơ hội thành Phật.

Chủ trương của Tịnh Độ là nếu tất cả chúng sanh có niềm tin tuyệt đối với Phật gọi là tín, có cái hạnh thiết tha rằng không muốn ở thế giới Ta Bà này nữa và có hành trì nghiêm mật gọi là hạnh chuyên tức là luôn luôn niệm Phật, nhớ tưởng đến Phật thì người đó sẽ cuối cùng tiến đến nhất tâm bất loạn.  Giai đoạn này người ta thường nói là về Tịnh Độ, nhưng Tịnh Độ là không có đến và không có đi bởi vì cảnh giới của Tịnh Độ là thường tịch quang có nghĩa là luôn hiện hữu, luôn tồn tại và luôn có mặt tại đây.  Con đường tu Phật là khởi hành từ một tâm và cuối cùng thành tựu từ một tâm.  Con đường của kiến tánh thành Phật không hề có khởi thủy bởi vì con đường này bắt đầu từ hành giả khởi tâm muốn tu, muốn thoát sinh tử, muốn độ chúng sinh.  Cũng ngay trong tâm này mà hành giả thanh tẩy các vọng niệm, hóa độ các chúng sanh tâm và đó là thành tựu Niết Bàn ngay trong tâm này.  Đối với chư Phật hoặc chư Bồ Tát, thế giới này không hề có nhiễm ô vì các ngài không có tri kiến có nghĩa là không còn phân biệt, chấp mắc, thủ giữ và do đó các ngài đã tận trừ vô minh.  Con đường tất yếu của Tịnh Độ, thiền tông hay mật tông đều quy nhất về tâm.

Hành giả nhận thức thế nào về Tịnh Độ? cảnh giới của Tịnh Độ có thật hay không?  Tư tưởng đại thừa trong Kinh Kim Cang được nêu lên qua câu “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” tức là tất cả những gì có tướng, có danh, có tự đều không có thật.  Sở dĩ đức Phật nói lên cảnh giới Tịnh Độ cũng do vì phương tiện mà phải lập danh cho quốc độ đó thôi.  Niết Bàn có thật thì cảnh giới Tịnh Độ cũng có thật.  Nơi nào có Phật an trú thì nơi đó là Niết Bàn hoặc Tịnh Độ.  Nhưng cảnh giới này chỉ có thật với người thật tu và thật chứng cho nên nếu như chúng ta không đạt đến nhất tâm bất loạn thì sẽ không bao giờ tìm ra Tịnh Độ.  Ngược lại nếu đạt nhất tâm bất loạn, không còn vọng niệm điên đảo nữa thì toàn bộ cái nhìn của chúng ta trở thành Tịnh Độ.  Cho nên ở đâu cũng có Tịnh Độ bởi vì tất cả các pháp chỉ quy về một và một là tất cả.  Cảnh giới Tịnh Độ được diễn tả là Cực Lạc có nghĩa là sự an lạc tuyệt đối, không còn biên giới, không còn phân biệt và so sánh của tương đối.  Đến giai đoạn này thì tâm và cảnh trở thành nhất như tức là quy tựu về một.

Trong Thiền cũng vậy, những thiền giả khi kiến tánh tức là thấy được Phật tánh rồi thì họ được tự tại, không còn vướng mắc nữa và an trú trong cảnh giới của Niết Bàn.  Danh từ diễn tả giai đoạn kiến tánh này là “tức tâm tức Phật” và “kiến tánh thành Phật.”  Khi Thiền nói đến “kiến tánh thành Phật” là nói trên ngôn ngữ mà thôi, chứ thật ra thành Phật gì? Phật thân, Phật hoàn chỉnh, y báo, chánh báo hay là Phật của pháp thân?  Kiến tánh đây là chỉ mới thành Phật của kiến giải thôi, chưa phải là Phật của hoàn chỉnh.  Thành Phật giống như đức Phật Thích Ca ra đời độ sanh thì chúng ta còn phải trải qua một quá trình tu chứng và còn phải trở lại thế gian này để hoằng pháp, độ sanh, đền ơn chúng sanh để viên mãn báo thân Phật.

Khi niệm Phật đến nhất tâm bất loạn tức là tâm và cảnh đã nhất như rồi thì chúng ta không còn thấy cảnh Ta Bà này là phiền não, khổ đau nữa.  Do đó chúng ta còn trở lại thế gian này nhiều lần để độ sanh hoặc chia xẻ công phu của chúng ta với nhiều người khác.  Nếu còn nghĩ rằng có đến, có đi, có đưa, có đón về một nơi chốn nào đó thì vẫn còn nằm trong thế giới của tương đối, của phạm trù sanh diệt.

Thế giới của Phật gọi là Pháp thân tức là Như Lai lấy pháp giới làm thân, cho nên bất cứ nơi nào của thế gian này cũng là pháp tướng của Như Lai.  Như Lai là như như bất động, không có uế nhiễm; nếu có uế nhiễm là bởi do chúng sanh khởi tình thức phân biệt.  Tịnh Độ là một cảnh giới của thực chứng và hành giả khi tu sẽ nhìn cảnh một cách khác lúc chưa tu.  Con người có 5 loại mắt (nhãn): nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.  Dù bất cứ ở chỗ nào mà chúng ta cứ dùng nhục nhãn thì chúng ta mãi phân biệt và khổ đau.  Điều quan trọng là chúng ta có thể dụng công để thay đổi cái quá trình nhận thức hay không.  Khi chúng ta thay được những phân biệt giữa tư lượng (hiện lượng, tỷ lượng) và đạt được chân hiện lượng thì tâm, cảnh nhất như và chúng ta nhìn mọi cảnh một cách trực tiếp.  Lúc đó tất cả các pháp đều chân, không còn tội, phước, sanh, diệt nữa và thế giới trở thành hoàn toàn thanh tịnh.  Cho nên giác giả chẳng còn khởi vọng động để phân biệt thế nào là dơ, sạch, chỗ nào là Ta Bà, là Tịnh Độ.

Thường thì Tịnh Độ được hiểu là pháp môn của tha lực, nhưng tự lực và tha lực là một, không hai.  Nếu không thấy, không nghe, không học, không nhận thức, không dụng công, không hiểu biết, chúng ta lấy cái gì để tự lực?  Nếu không chính chúng ta niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn thì dựa vào đâu để nói là có tha lực?  Cho nên tự và tha không có rời nhau chỉ vì chúng ta bám trụ trên danh ngôn, bám trụ trên tình thức mới khởi sanh phân biệt.  Nếu chúng ta không dụng công triệt để và không có người chỉ cho phương pháp tu thì chúng ta sẽ không thể tháo gỡ những ràng buộc và không đạt giải thoát.

Thường thường chúng ta luôn nhìn thấy những sai trái, không thật của người khác mà quên không nhìn lại chính mình.  Khi mãi truy tầm và mong ước có một thành tựu nào đó ngoài cuộc sống này, chúng ta không nhìn ra được những ô nhiễm của chính mình bởi vì chúng ta thiếu phần dụng công thực chất và cái sức mạnh muốn tu ban đầu đã phôi phai từ lúc nào mà chúng ta không hay biết.  Vấn đề chính yếu là dụng công để thành tựu chứ không phải bám theo ngôn ngữ để đi sai chiều hướng tu tập.  Chúng ta phải hiểu rõ yếu tố quan trọng để quyết định sự thành đạt mục đích giải thoát tối hậu, giải thoát của sinh tử, hay là giải thoát của luân lý.

Chúng ta có thể tự hỏi rằng do nguyên nhân nào mà khiến cho chúng ta ở trong trần gian này?  Đa phần là do chúng ta còn quá nhiều tham muốn, ái ngã.  Chỉ khi nào tâm chúng ta hoàn toàn thanh tịnh, an nhiên để niệm Phật đến nhất tâm bất loạn thì chúng ta mới có thể chấm dứt cái nhân ở hiện tại và mọi thứ biến thành Niết Bàn hay Tịnh Độ.  Cũng vậy, khi nào chúng ta tu hành để đạt được con đường của vô ngã và đạt trí tuệ để nhận ra rằng “ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách” thì chúng ta vượt qua sinh tử và chứng Niết Bàn.  Con đường của Tịnh Độ và của Thiền tông đều đưa đến hai mục đích mà cùng một lối đi để chúng ta hóa giải được những gì mà chúng ta đang muốn giải thoát.  

Quan điểm của Tịnh Độ là nếu người mang nhiều tội lỗi nhưng chuyên tâm niệm Phật thì được “đới nghiệp vãng sanh” tức là mang nghiệp vãng sanh.  Nhưng nếu đem những nghiệp bất tịnh đó về Tịnh Độ thì nghiệp đem cất giữ ở chỗ nào vì cảnh giới Tịnh Độ được định nghĩa là cảnh giới thuần tịnh không hề có ô nhiễm.  Như vậy thì ngay trong thế giới này chúng ta phải tu tập để hóa giải hết tất cả các nghiệp chướng và khi hoàn chỉnh xong thì đương nhiên cảnh giới Tịnh Độ sẽ hiện.  Nếu chúng ta không thu rút các căn, thanh tịnh thân, khẩu, ý để đạt tịnh nghiệp thì nhân lành và quả lành chẳng thể có được.  Có nghĩa là chánh báo phải thanh tịnh thì y báo mới thanh tịnh được dù ở bất cứ chỗ nào.

Nếu chúng ta nổ lực thiền định để kiến tánh thành Phật tức là ngay nơi này chúng ta không còn vọng tưởng, không còn ngã thì chúng ta chỉ mới có thấy tánh thành Phật mà thôi.  Để thành một đức Phật, chúng ta cũng phải hành đạo như Phật Thích Ca, phải trả nợ cơm áo của tín chủ, phải trở lại thế gian để chia xẻ khổ đau và lấy nỗi khổ đau của chúng sanh làm cách hành đạo cho chính mình.  Chỉ khi nào chúng ta tồn tại được trong thế giới này thì chúng ta mới có thể hiểu được giá trị của một đức Phật.  Nếu một đức Phật được tôn lên trong một thế giới hoàn toàn trang nghiêm, không có ai đau khổ thì đức Phật đó không có giá trị với cuộc đời.  Đạo Phật tồn tại hơn 2500 năm là vì đạo Phật thăng trầm với chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh, đáp ứng nhu cầu tâm linh của chúng sanh.  Đức Phật tồn tại trong thế gian này mà không một chút phai nhạt nào là vì giáo lý của ngài quá siêu việt và những gì ngài nói là chân lý của thế gian.  Chân lý đó là trong thế gian này người nào sống an trú, thấy được các tịnh cảnh, từ bỏ các tham ái, bỏ các ngã và tự ngã và học đạo để cuối cùng chứng đắc được thắng trí thì người đó thấy được Niết Bàn.  Do đó chúng ta không cần phải rời bỏ thế giới này và đi tìm kiếm hoặc ước mơ một thế giới khác.  Hiểu đúng nghĩa thì chúng ta thấy rằng khi tâm và cảnh nhất như thì toàn bộ thế giới này là Phật giới.  Phật nói trong Kinh Pháp Hoa rằng:  “Nếu người nào thấy được thật tướng các pháp thì cho dù thế gian này biến đổi nhưng đức Phật vẫn còn đang thuyết pháp tại núi Linh Sơn, pháp hội Pháp Hoa vẫn chưa hề chấm dứt.”  Khi tâm chúng ta còn đầy vọng tưởng ô nhiễm, còn phân biệt đủ thứ, chúng ta chẳng thể nghe và thấy được Tịnh Độ hoặc cảnh giới của chư Phật.  Cho nên cảnh giới Tịnh Độ là cảnh giới hoàn toàn có thật nhưng chỉ với những người thực chứng.  Khi tranh cãi rằng pháp môn này đúng, pháp môn kia sai thì chúng ta chỉ có tranh cãi trên ngôn ngữ, trên cái vỏ bề ngoài trong khi cái thực chất là thực tu và thực dụng.  Khi soi xét lại chính mình thì thấy rằng thời gian mà chúng ta lo tranh cãi, phân biệt, chúng ta đã bị biến dạng bởi tham, sân, si, phiền não.  

Đức Phật nói rằng: “Này các Tỳ Kheo có 3 cảnh giới mà các ngươi không thâm nhập được đó là cảnh giới của thiền chứng, cảnh giới của Phật trí và cảnh giới của nghiệp báo.”  Phật đã xác nhận là con người phàm phu chúng ta không thể dự vào 3 cảnh giới này thì làm sao chúng ta có thể tranh cãi bằng ngôn ngữ về những cảnh giới mà chúng ta chưa thâm nhập được.  Ngay khi dụng công chúng ta thấy rất rõ là có cứu cánh có nghĩa là chúng ta sống bình an để được chết bình an bởi vì nhân lành thì quả sẽ lành.  Nếu muốn niệm Phật không bị tán loạn, nguyên nhân chủ yếu là đừng tạo thêm các nghi tình, đừng phan duyên, đừng chạy theo, đừng bám víu.  Như thế chúng ta sẽ trở nên rỗng rang, vắng lặng và lúc đó tất cả trong ta đều là thực chất có giá trị, có hoạt dụng.  Cảnh giới Phật chỉ có hiện hữu trong tâm thanh tịnh này thôi.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap