Khi
chúng ta không biết xử dụng đúng cách những pháp môn tu
tập thì chúng ta sẽ bị dị ứng về pháp môn hoặc dị ứng
về nhận thức. Dị ứng đây có nghĩa là không thích
hợp cho căn cơ hay là thời điểm. Nếu chúng ta có quá
nhiều phương pháp học Phật mà không biết điều phối để
dùng cho đúng bệnh của mình hoặc không biết tận dụng phương
pháp nào đó thì chúng ta có thể sẽ coi thường Phật pháp
và không đem lại niềm an tịnh tối thượng cho mình.
Ngược lại, nếu chúng ta chuyên trì một pháp môn thì căn
bệnh của chúng ta sẽ chóng hết hơn.
Quan
điểm Tịnh Độ tông là nếu có thiền mà thêm Tịnh Độ
thì như câu ngài Vĩnh Minh Diên Thọ nói là : “Người tu thiền
mà có thêm Tịnh Độ là giống như con hổ có thêm cái sừng
và chắc chắn không sợ rơi lạc.” Nếu như tu thiền
mà không đủ phước báo, không đủ duyên lành và bị rơi
rớt thì sẽ rơi vào ma đạo. Do đó con đường niệm
Phật là chắc chắn hơn hết.
Quan
điểm của Thiền tông là con đường của thiền là con đường
tự lực và là căn bản của đức Phật Thích Ca và của Phật
giáo. Con đường Tịnh Độ là nhờ vào tha lực cho nên
con đường này giúp đỡ cho những người yếu đuối chưa
đủ thượng thiện căn để có thể thành tựu Niết Bàn một
cách nhanh chóng.
Tất
cả pháp môn của Phật có một mục đích duy nhất là đưa
hành giả đến giác ngộ giải thoát. Còn dụng công như
thế nào để đưa đến giác ngộ là không phải do pháp môn
mà tùy thuộc ở hành giả. Hiện tại phần nhiều người
đang biện biệt, suy nghĩ, tranh luận những điểm thắng, ưu,
biệt, yếu của những pháp môn mật tông, thiền tông, tịnh
độ tông, hoa nghiêm tông, thiên thai tông. Nhưng điểm
chính bị bỏ quên là không phải pháp môn là yếu tố mà
hành giả là con người dụng công trên từng pháp môn mới
là yếu tố đạt đến kết quả. Cũng như một căn nhà
có nhiều cửa ra vào và hiện tại chúng ta tranh cãi là cửa
nào tốt hơn thay vì chúng ta bước đến một cảnh cửa, mở
khóa và bước vào nhà. Khi chúng ta có một bản đồ,
một hướng quyết định để dấn thân vào con đường học
đạo để đạt được cái trí tuệ tột cùng hoặc tri kiến
Phật thì chúng ta (1) phải hiểu rõ ràng hướng đi đó, (2)
phải biết căn cơ và nổ lực của mình đang ở vị trí nào,
hoàn cảnh nào để biết rằng phải dùng pháp môn nào cho
thích hợp và gần đến mục tiêu nhất. Pháp môn nào
cũng có lợi nhưng phải biết xử dụng đúng đối tượng
và hoàn cảnh thì mới có kết quả hữu hiệu.
Làm
thế nào để chọn một pháp môn phù hợp mà không bị phân
tâm giữa nhiều pháp môn? Hay là nên chọn hai pháp môn
riêng biệt để hổ trợ cho nhau? Mỗi phương pháp có
hướng đi khác nhau và đồng thời cũng khác nhau trên một
khía cạnh nào đó. Chúng ta không thể xử dụng hai đạo
lộ cùng một lúc vì sẽ phí nhiều thời gian. Nhưng tại
sao Tổ lại nói là “có thiền mà thêm Tịnh Độ thì giống
như hổ thêm sừng”? Bởi vì chư Tổ ứng dụng pháp
thiền và pháp Tịnh Độ tại một mức cao thâm rồi thì các
ngài nhìn hai pháp đó là một chẳng phải hai. Nếu như
hành giả còn lưỡng lự, tranh chấp, nói trên danh tướng
thì Tổ sẽ ban cho phương thức là tu tập cả hai cái sẽ
lợi hơn vì rơi khỏi một cái thì còn lại cái kia. Đây
là nói trên phương tiện chứ trên thực tế thì những pháp
môn tu có từng bước một.
Tiên
quyết của thiền là thấy tánh thành Phật hay là tìm lại
chủ nhân ông hay là kiến tánh. Trên con đường tu, hành
giả phải nổ lực, dụng công của tự lực để thanh lọc
và thấu suốt con người của chính mình gọi là ngộ được
tự tánh có nghĩa là tự mình quyết định và chứng nhập
chân lý, phá vỡ vô minh để cuối cùng thành tựu được
Phật quả. Phật Thích Ca đã thành Phật nhờ ngồi thiền,
nếu không thì chẳng có cơ hội thành Phật.
Chủ
trương của Tịnh Độ là nếu tất cả chúng sanh có niềm
tin tuyệt đối với Phật gọi là tín, có cái hạnh thiết
tha rằng không muốn ở thế giới Ta Bà này nữa và có hành
trì nghiêm mật gọi là hạnh chuyên tức là luôn luôn niệm
Phật, nhớ tưởng đến Phật thì người đó sẽ cuối cùng
tiến đến nhất tâm bất loạn. Giai đoạn này người
ta thường nói là về Tịnh Độ, nhưng Tịnh Độ là không
có đến và không có đi bởi vì cảnh giới của Tịnh Độ
là thường tịch quang có nghĩa là luôn hiện hữu, luôn tồn
tại và luôn có mặt tại đây. Con đường tu Phật là
khởi hành từ một tâm và cuối cùng thành tựu từ một tâm.
Con đường của kiến tánh thành Phật không hề có khởi thủy
bởi vì con đường này bắt đầu từ hành giả khởi tâm
muốn tu, muốn thoát sinh tử, muốn độ chúng sinh. Cũng
ngay trong tâm này mà hành giả thanh tẩy các vọng niệm, hóa
độ các chúng sanh tâm và đó là thành tựu Niết Bàn ngay
trong tâm này. Đối với chư Phật hoặc chư Bồ Tát,
thế giới này không hề có nhiễm ô vì các ngài không có
tri kiến có nghĩa là không còn phân biệt, chấp mắc, thủ
giữ và do đó các ngài đã tận trừ vô minh. Con đường
tất yếu của Tịnh Độ, thiền tông hay mật tông đều quy
nhất về tâm.
Hành
giả nhận thức thế nào về Tịnh Độ? cảnh giới của Tịnh
Độ có thật hay không? Tư tưởng đại thừa trong Kinh
Kim Cang được nêu lên qua câu “phàm sở hữu tướng giai
thị hư vọng” tức là tất cả những gì có tướng, có
danh, có tự đều không có thật. Sở dĩ đức Phật nói
lên cảnh giới Tịnh Độ cũng do vì phương tiện mà phải
lập danh cho quốc độ đó thôi. Niết Bàn có thật thì
cảnh giới Tịnh Độ cũng có thật. Nơi nào có Phật
an trú thì nơi đó là Niết Bàn hoặc Tịnh Độ. Nhưng
cảnh giới này chỉ có thật với người thật tu và thật
chứng cho nên nếu như chúng ta không đạt đến nhất tâm
bất loạn thì sẽ không bao giờ tìm ra Tịnh Độ. Ngược
lại nếu đạt nhất tâm bất loạn, không còn vọng niệm
điên đảo nữa thì toàn bộ cái nhìn của chúng ta trở thành
Tịnh Độ. Cho nên ở đâu cũng có Tịnh Độ bởi vì
tất cả các pháp chỉ quy về một và một là tất cả.
Cảnh giới Tịnh Độ được diễn tả là Cực Lạc có nghĩa
là sự an lạc tuyệt đối, không còn biên giới, không còn
phân biệt và so sánh của tương đối. Đến giai đoạn
này thì tâm và cảnh trở thành nhất như tức là quy tựu
về một.
Trong
Thiền cũng vậy, những thiền giả khi kiến tánh tức là thấy
được Phật tánh rồi thì họ được tự tại, không còn
vướng mắc nữa và an trú trong cảnh giới của Niết Bàn.
Danh từ diễn tả giai đoạn kiến tánh này là “tức tâm
tức Phật” và “kiến tánh thành Phật.” Khi Thiền
nói đến “kiến tánh thành Phật” là nói trên ngôn ngữ
mà thôi, chứ thật ra thành Phật gì? Phật thân, Phật hoàn
chỉnh, y báo, chánh báo hay là Phật của pháp thân? Kiến
tánh đây là chỉ mới thành Phật của kiến giải thôi, chưa
phải là Phật của hoàn chỉnh. Thành Phật giống như
đức Phật Thích Ca ra đời độ sanh thì chúng ta còn phải
trải qua một quá trình tu chứng và còn phải trở lại thế
gian này để hoằng pháp, độ sanh, đền ơn chúng sanh để
viên mãn báo thân Phật.
Khi
niệm Phật đến nhất tâm bất loạn tức là tâm và cảnh
đã nhất như rồi thì chúng ta không còn thấy cảnh Ta Bà
này là phiền não, khổ đau nữa. Do đó chúng ta còn trở
lại thế gian này nhiều lần để độ sanh hoặc chia xẻ công
phu của chúng ta với nhiều người khác. Nếu còn nghĩ
rằng có đến, có đi, có đưa, có đón về một nơi chốn
nào đó thì vẫn còn nằm trong thế giới của tương đối,
của phạm trù sanh diệt.
Thế
giới của Phật gọi là Pháp thân tức là Như Lai lấy pháp
giới làm thân, cho nên bất cứ nơi nào của thế gian này
cũng là pháp tướng của Như Lai. Như Lai là như như bất
động, không có uế nhiễm; nếu có uế nhiễm là bởi do chúng
sanh khởi tình thức phân biệt. Tịnh Độ là một cảnh
giới của thực chứng và hành giả khi tu sẽ nhìn cảnh một
cách khác lúc chưa tu. Con người có 5 loại mắt (nhãn):
nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.
Dù bất cứ ở chỗ nào mà chúng ta cứ dùng nhục nhãn thì
chúng ta mãi phân biệt và khổ đau. Điều quan trọng
là chúng ta có thể dụng công để thay đổi cái quá trình
nhận thức hay không. Khi chúng ta thay được những phân
biệt giữa tư lượng (hiện lượng, tỷ lượng) và đạt
được chân hiện lượng thì tâm, cảnh nhất như và chúng
ta nhìn mọi cảnh một cách trực tiếp. Lúc đó tất
cả các pháp đều chân, không còn tội, phước, sanh, diệt
nữa và thế giới trở thành hoàn toàn thanh tịnh. Cho
nên giác giả chẳng còn khởi vọng động để phân biệt
thế nào là dơ, sạch, chỗ nào là Ta Bà, là Tịnh Độ.
Thường
thì Tịnh Độ được hiểu là pháp môn của tha lực, nhưng
tự lực và tha lực là một, không hai. Nếu không thấy,
không nghe, không học, không nhận thức, không dụng công, không
hiểu biết, chúng ta lấy cái gì để tự lực? Nếu không
chính chúng ta niệm Phật cho đến nhất tâm bất loạn thì
dựa vào đâu để nói là có tha lực? Cho nên tự và
tha không có rời nhau chỉ vì chúng ta bám trụ trên danh ngôn,
bám trụ trên tình thức mới khởi sanh phân biệt. Nếu
chúng ta không dụng công triệt để và không có người chỉ
cho phương pháp tu thì chúng ta sẽ không thể tháo gỡ những
ràng buộc và không đạt giải thoát.
Thường
thường chúng ta luôn nhìn thấy những sai trái, không thật
của người khác mà quên không nhìn lại chính mình. Khi
mãi truy tầm và mong ước có một thành tựu nào đó ngoài
cuộc sống này, chúng ta không nhìn ra được những ô nhiễm
của chính mình bởi vì chúng ta thiếu phần dụng công thực
chất và cái sức mạnh muốn tu ban đầu đã phôi phai từ
lúc nào mà chúng ta không hay biết. Vấn đề chính yếu
là dụng công để thành tựu chứ không phải bám theo ngôn
ngữ để đi sai chiều hướng tu tập. Chúng ta phải hiểu
rõ yếu tố quan trọng để quyết định sự thành đạt mục
đích giải thoát tối hậu, giải thoát của sinh tử, hay là
giải thoát của luân lý.
Chúng
ta có thể tự hỏi rằng do nguyên nhân nào mà khiến cho chúng
ta ở trong trần gian này? Đa phần là do chúng ta còn quá
nhiều tham muốn, ái ngã. Chỉ khi nào tâm chúng ta hoàn
toàn thanh tịnh, an nhiên để niệm Phật đến nhất tâm bất
loạn thì chúng ta mới có thể chấm dứt cái nhân ở hiện
tại và mọi thứ biến thành Niết Bàn hay Tịnh Độ.
Cũng vậy, khi nào chúng ta tu hành để đạt được con đường
của vô ngã và đạt trí tuệ để nhận ra rằng “ngũ uẩn
giai không độ nhất thiết khổ ách” thì chúng ta vượt qua
sinh tử và chứng Niết Bàn. Con đường của Tịnh Độ
và của Thiền tông đều đưa đến hai mục đích mà cùng
một lối đi để chúng ta hóa giải được những gì mà chúng
ta đang muốn giải thoát.
Quan
điểm của Tịnh Độ là nếu người mang nhiều tội lỗi
nhưng chuyên tâm niệm Phật thì được “đới nghiệp vãng
sanh” tức là mang nghiệp vãng sanh. Nhưng nếu đem những
nghiệp bất tịnh đó về Tịnh Độ thì nghiệp đem cất giữ
ở chỗ nào vì cảnh giới Tịnh Độ được định nghĩa là
cảnh giới thuần tịnh không hề có ô nhiễm. Như vậy
thì ngay trong thế giới này chúng ta phải tu tập để hóa
giải hết tất cả các nghiệp chướng và khi hoàn chỉnh xong
thì đương nhiên cảnh giới Tịnh Độ sẽ hiện. Nếu
chúng ta không thu rút các căn, thanh tịnh thân, khẩu, ý để
đạt tịnh nghiệp thì nhân lành và quả lành chẳng thể có
được. Có nghĩa là chánh báo phải thanh tịnh thì y báo
mới thanh tịnh được dù ở bất cứ chỗ nào.
Nếu
chúng ta nổ lực thiền định để kiến tánh thành Phật tức
là ngay nơi này chúng ta không còn vọng tưởng, không còn ngã
thì chúng ta chỉ mới có thấy tánh thành Phật mà thôi.
Để thành một đức Phật, chúng ta cũng phải hành đạo như
Phật Thích Ca, phải trả nợ cơm áo của tín chủ, phải trở
lại thế gian để chia xẻ khổ đau và lấy nỗi khổ đau
của chúng sanh làm cách hành đạo cho chính mình. Chỉ
khi nào chúng ta tồn tại được trong thế giới này thì chúng
ta mới có thể hiểu được giá trị của một đức Phật.
Nếu một đức Phật được tôn lên trong một thế giới hoàn
toàn trang nghiêm, không có ai đau khổ thì đức Phật đó không
có giá trị với cuộc đời. Đạo Phật tồn tại hơn
2500 năm là vì đạo Phật thăng trầm với chúng sanh, giúp
đỡ chúng sanh, đáp ứng nhu cầu tâm linh của chúng sanh.
Đức Phật tồn tại trong thế gian này mà không một chút
phai nhạt nào là vì giáo lý của ngài quá siêu việt và những
gì ngài nói là chân lý của thế gian. Chân lý đó là
trong thế gian này người nào sống an trú, thấy được các
tịnh cảnh, từ bỏ các tham ái, bỏ các ngã và tự ngã và
học đạo để cuối cùng chứng đắc được thắng trí thì
người đó thấy được Niết Bàn. Do đó chúng ta không
cần phải rời bỏ thế giới này và đi tìm kiếm hoặc ước
mơ một thế giới khác. Hiểu đúng nghĩa thì chúng ta
thấy rằng khi tâm và cảnh nhất như thì toàn bộ thế giới
này là Phật giới. Phật nói trong Kinh Pháp Hoa rằng:
“Nếu người nào thấy được thật tướng các pháp thì
cho dù thế gian này biến đổi nhưng đức Phật vẫn còn đang
thuyết pháp tại núi Linh Sơn, pháp hội Pháp Hoa vẫn chưa
hề chấm dứt.” Khi tâm chúng ta còn đầy vọng tưởng
ô nhiễm, còn phân biệt đủ thứ, chúng ta chẳng thể nghe
và thấy được Tịnh Độ hoặc cảnh giới của chư Phật.
Cho nên cảnh giới Tịnh Độ là cảnh giới hoàn toàn có thật
nhưng chỉ với những người thực chứng. Khi tranh cãi
rằng pháp môn này đúng, pháp môn kia sai thì chúng ta chỉ
có tranh cãi trên ngôn ngữ, trên cái vỏ bề ngoài trong khi
cái thực chất là thực tu và thực dụng. Khi soi xét
lại chính mình thì thấy rằng thời gian mà chúng ta lo tranh
cãi, phân biệt, chúng ta đã bị biến dạng bởi tham, sân,
si, phiền não.
Đức
Phật nói rằng: “Này các Tỳ Kheo có 3 cảnh giới mà các
ngươi không thâm nhập được đó là cảnh giới của thiền
chứng, cảnh giới của Phật trí và cảnh giới của nghiệp
báo.” Phật đã xác nhận là con người phàm phu chúng
ta không thể dự vào 3 cảnh giới này thì làm sao chúng ta
có thể tranh cãi bằng ngôn ngữ về những cảnh giới mà
chúng ta chưa thâm nhập được. Ngay khi dụng công chúng
ta thấy rất rõ là có cứu cánh có nghĩa là chúng ta sống
bình an để được chết bình an bởi vì nhân lành thì quả
sẽ lành. Nếu muốn niệm Phật không bị tán loạn, nguyên
nhân chủ yếu là đừng tạo thêm các nghi tình, đừng phan
duyên, đừng chạy theo, đừng bám víu. Như thế chúng
ta sẽ trở nên rỗng rang, vắng lặng và lúc đó tất cả
trong ta đều là thực chất có giá trị, có hoạt dụng.
Cảnh giới Phật chỉ có hiện hữu trong tâm thanh tịnh này
thôi.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT