TẠNG
TRUYỀN
Hướng
Dẫn Thiền Tây Tạng
Dưới
đây là bản Việt dịch từ nguyên tác Anh ngữ “Tibetan Meditation
Instructions,” một bản văn cô đọng về Thiền
Tây Tạng do Đức Đạt Lai Lạt Ma đời 14 viết cho ấn
bản điện tử của Tricycle, một tạp chí Phật Giáo tại
Hoa Kỳ. Nơi đây, ngài nói về pháp thiền này là hãy để
tâm vào trạng thái tự nhiên, và hãy quán sát tâm này –
mà tâm là một thực thể, theo ngài, có tánh sáng và tánh
biết, nơi đó bất kỳ những pháp gì, hiện tượng gì, sự
kiện gì trong thế giới xuất hiện với chúng ta cũng đều
qua nhận biết của thức. Khi ngồi, tóm gọn, chỉ để tâm
thả lỏng tự nhiên và nhìn vào tâm này, dần dần sẽ thấy
bản tánh của tâm.
(Bắt
đầu bản văn)
Trước
tiên, hãy sửa soạn tư thế của bạn: xếp chân ở vị trí
thoải mái nhất; xương sống thẳng như mũi tên. Đặt hai
bàn tay vào thế quân bình, khoảng cách chiều rộng bốn ngón
tay dưới rún, với bàn tay trái ở dưới, bàn tay phải đặt
trên, và các ngón cái chạm nhau để thành một hình tam giác.
Tư thế này của các bàn tay có liên hệ với chỗ trong cơ
thể, nơi nội nhiệt khởi lên. Nghiêng cổ xuống chút xíu,
để miệng và răng như bình thường, với đầu lưỡi chạm
vào vòm trên của miệng gần các răng phía trên. Hướng mắt
nhìn xuống thả lỏng – không cần thiết phải nhìn vào chóp
mũi; mắt có thể hướng về sàn nhà phía trước chỗ bạn
ngồi, nếu điều này tự nhiên hơn. Đừng mở mắt quá lớn
mà cũng đừng nhắm mắt; hãy để mắt mở hé chút xíu. Đôi
khi mắt sẽ khép lại tự nhiên; thế cũng được. Ngay cả
nếu mắt đang mở, khi ý thức chú tâm đều đặn vào đối
tượng, các hiện tướng của nhãn thức sẽ không quấy rối
bạn.
Với
những người mang kính, bạn có ghi nhận rằng khi gỡ kính
ra, bởi vì mắt thấy ít rõ ràng cho nên sẽ ít cơ nguy hơn
từ sự sinh khởi kích động, trong khi có thêm cơ nguy của
sự lơi lỏng? Bạn có thấy có dị biệt giữa việc hướng
mặt vào tường và không hướng vào tường? Khi hướng vào
tường, bạn có thể thấy là có ít cơ nguy của sự kích
động hay tán tâm? Qua kinh nghiệm, bạn sẽ quyết định sao
cho thoải mái, dễ an tâm...
Hãy
cố gắng để tâm trong trạng thái tự nhiên một cách sinh
động, không nghĩ gì về chuyện quá khứ hay về chuyện bạn
tính làm trong tương lai, không khởi lên bất kỳ một khái
niệm nào. Ý thức của bạn đang ở nơi đâu? Nó [ý thức]
đang ở với đôi mắt hay ở đâu? Nhiều phần, bạn sẽ cảm
thấy nó [ý thức] liên kết với đôi mắt, bởi vì chúng
ta khởi lên hầu hết nhận thức về thế giới này là xuyên
qua mắt thấy. Điều này là do dựa quá nhiều vào cảm thức
của chúng ta. Tuy nhiên, sự hiện hữu của một ý thức riêng
biệt có thể biết chắc được; thí dụ, khi chú tâm hướng
về âm thanh, thì những gì xuất hiện qua nhãn thức không
được ghi nhận. Như thế cho thấy một ý thức riêng biệt
đang chuyên chú hơn vào âm thanh nghe qua nhĩ thức, hơn là ảnh
của nhãn thức.
Với
tu tập kiên trì, ý thức có thể được nhận ra hay được
cảm nhận như một thực thể của ánh sáng thuần khiết và
của tánh biết, mà đối với nó bất kỳ thứ gì cũng có
khả năng để xuất hiện ra, và nó [ý thức], khi các điều
kiện thích nghi hội đủ, có thể được sinh khởi trong hình
ảnh của bất kỳ đối tượng nào. Khi nào mà tâm không đối
phó với khái niệm về ngoại cảnh, tâm sẽ an trú rỗng không
mà không có gì xuất hiện trong nó, hệt như nước trong. Thực
thể của nó [tâm] là thực thể của kinh nghiệm thuần túy.
Hãy để tâm trôi chảy tự nhiên mà đừng phủ lên khái niệm
nào. Hãy để tâm an nghỉ trong trạng thái tự nhiên của nó,
và quan sát nó. Lúc đầu, khi bạn chưa quen với pháp này,
nó thật là khó, nhưng dần dần tâm xuất hiện như nước
trong. Rồi thì, hãy hãy an trú với tâm không bị thêu dệt
này, mà đừng để khái niệm nào sinh khởi. Khi chứng ngộ
bản tánh của tâm, chúng ta sẽ lần đầu tiên định vị
được đối tượng của quan sát của loại thiền nội quan
này.
Thời
gian tốt nhất để tập pháp thiền này là vào buổi sáng,
tại một nơi im vắng, khi tâm rất trong suốt và tỉnh táo.
Đêm trước đó, nhớ đừng ăn nhiều quá hay ngủ nhiều quá;
như thế sẽ làm cho tâm nhẹ hơn và nhạy bén hơn vào buổi
sáng kế tiếp. Dần dần, tâm sẽ trở nên càng lúc càng an
bình; sự tỉnh thức và trí nhớ sẽ trở thành rõ ràng hơn.
(Hết
bản văn)
Pháp
Thở Đơn Giản
Dưới
đây là bản Việt dịch từ nguyên tác Anh ngữ “A Simple Breathing
Meditation,” một cẩm nang về bước đầu tập thiền của
Kadampa, một tông phái Tây Tạng đang có hơn 700 tự viện tại
36 quốc gia. Nguyên khởi, Đại sư Atisha (982-1054) từ An Độ
sang Tây Tạng, đã sáng lập tông phái Kadampa, với pháp tu
Lamrim, chuyển hóa tất cả mọi hoạt động thường ngày vào
con đường chứng ngộ giải thoát. Pháp Thở Đơn Giản là
bước đầu thiền tập, và có thể dùng cho mọi truyền thống
khác.
(Bắt
đầu bản văn)
Giai
đoạn đầu tiên của thiền là ngưng loạn tâm, và làm tâm
chúng ta trong trẻo hơn, sáng tỏ hơn. Điều này có thể thành
tựu bằng cách tập pháp thở đơn giản. Chúng ta chọn một
nơi im vắng để thiền tập, và ngồi trong một tư thế thoải
mái. Chúng ta có thể ngồi trong tư thế tréo chân truyền thống,
hay trong bất kỳ tư thế nào khác mà mình thấy thoải mái.
Nếu muốn, chúng ta có thể ngồi ghế. Điều quan trọng nhất
là giữ lưng cho thẳng để giữ tâm khỏi bị buồn ngủ hay
trì trệ.
Chúng
ta ngồi với hai mắt khép một chút thôi, và chú tâm vào hơi
thở. Chúng ta thở tự nhiên, tốt nhất là thở qua lỗ mũi,
đừng tìm cách kiểm soát hơi thở, và chúng ta chú tâm vào
cảm thọ về hơi thở khi hơi thở vào và ra hai lỗ mũi. Cảm
thọ này là đối tượng thiền tập của chúng ta. Chúng ta
nên cố gắng tập trung vào nó, và gác bỏ mọi thứ khác.
Thoạt
tiên, tâm chúng ta sẽ rất bận rộn, thậm chí có thể cảm
thấy rằng thiền tập đang làm cho tâm chúng ta bận rộn hơn,
nhưng trên thực tế chúng ta chỉ đang ý thức hơn về mức
độ bận rộn biến chuyển mà tâm chúng ta đang thực sự
hiện hành. Sẽ có một sức lôi cuốn lớn để dẫn [chúng
ta] theo các niệm khác nhau khi nó hiện khởi, nhưng chúng ta
nên chống lại [lôi cuốn đó] và cứ tập trung nhất tâm
vào cảm thọ về hơi thở. Nếu chúng ta thấy là tâm chúng
ta lang thang và chạy theo các niệm, chúng ta nên tức khắc
trở về với hơi thở. Chúng ta hãy làm thế liên tục khi
cần thiết, cho tới khi tâm an trú vào hơi thở.
Nếu
chúng ta kiên nhẫn tập cách này, dần dần các niệm lung tung
sẽ lắng xuống và chúng ta sẽ kinh nghiệm một cảm thọ
về sự an tĩnh trong tâm và sự thư giãn. Tâm chúng ta sẽ
cảm thấy sáng rõ và như rộng lớn bát ngát, và chúng ta
sẽ cảm thấy như được tươi mới. Khi biển dậy sóng, cặn
sẽ cuốn lên và nước sẽ đục ngầu, nhưng khi gió êm thì
bùn dần dần lắng xuống và nước nhìn rõ trong suốt. Tương
tự, khi dòng niệm không ngừng tuôn của chúng ta được an
tĩnh nhờ tập trung vào hơi thở, tâm chúng ta sẽ trở thành
trong suốt và sáng tỏ dị thường. Chúng ta nên ở trong trạng
thái an tĩnh tâm thức này một thời gian.
Mặc
dù thiền tập hơi thở chỉ là bước đầu thiền tập, nó
có thể rất là mãnh liệt. Chúng ta có thể thấy từ pháp
tu này là chúng ta có thể đạt được an tĩnh nội tâm và
sự an lạc chỉ bằng cách kiểm soát tâm, mà không dựa vào
bất kỳ điều kiện bên ngoài nào. Khi dòng niệm lắng xuống,
và tâm chúng ta tịch tĩnh, một niềm hạnh phúc sâu thẳm
và sự an lạc tự nhiên khởi lên. Cảm thọ về sự an lạc
và sự sung mãn giúp chúng ta đối phó với sự bận rộn và
khó khăn của đời sống thường nhật. Quá nhiều căng thẳng
thường đến từ tâm chúng ta, và nhiều vấn đề chúng ta
trải qua, kể cả bệnh hoạn, gây ra hay bị làm trầm trọng
thêm bởi sự căng thẳng này. Chỉ bằng cách thiền tập hơi
thở trong 10 hay 15 phút mỗi ngày, chúng ta sẽ có thể giảm
sự căng thẳng. Chúng ta sẽ kinh nghiệm một cảm thọ tịch
tĩnh, bao la bát ngát trong tâm, và nhiều vấn đề thường
gặp của chúng ta sẽ biến mất. Các hoàn cảnh gian nan sẽ
dễ dàng hơn để đối phó, chúng ta sẽ tự nhiên cảm thấy
nồng ấm và cởi mở với người khác, và quan hệ của chúng
ta với người khác sẽ dần dần thăng tiến.
(Hết
bản văn)
Đại
Thủ Ấn
Pháp
môn Mahamudra, thường được dịch là Đại
Thủ Ấn, còn gọi tắt là Đại Ấn, được trình bày
trong bản Việt dịch sau đây, theo toàn văn bài “See the True
Nature, then Let Go and Relax in That” (Hãy Nhìn Thấy Chân Tánh,
rồi Buông Xả và Thư Giãn trong Đó) – ghi lại cuộc phỏng
vấn đại sư Khenpo Tsultrim Gyamtso Rinpoche, thực hiện bởi
Melvin McLeod, đăng trên tạp chí Buddhadharma: The Practitioner’s
Quarterly, số mùa xuân 2004.
Khenpo
Tsultrim Gyamtso Rinpoche sinh năm 1934 tại miền đông Tây Tạng.
Sau khi hoàn tất việc học sớm của thầy về các kinh điển
Đại Thừa, thầy đi tới các bãi tha ma và hang động miền
trung Tây Tạng trong 5 năm để thực tập pháp tu Chod. Thầy
nhận được lời dạy pháp chỉ thẳng từ Đức Karmapa
đời thứ 16, và cư ngụ trong các hang động quanh Tsurphu trong
một năm, tiếp tục pháp tu Chod, và học thêm pháp của Dilyak
Drupon Rinpoche, vị thầy về nhập thất ẩn tu của vùng Tsurphu.
Sau đó, trong khi thầy đang nhập thất ở phía nam Lhasa, một
nhóm ni sư tới xin thầy giúp đối phó với người Trung Hoa.
Sau đó, thầy dẫn nhóm ni sư vượt biên an toàn sang An Độ;
nhiều vị trong nhóm bây giờ vẫn còn đang theo học pháp của
thầy.
Tại
Ấn Độ, Khenpo Tsultrim nhận được văn bằng Khenpo (có thể
dịch là Cao Học Phật Học, học ít nhất 10 năm) từ Đức
Karmapa, và văn bằng Geshe Lharampa (có thể dịch là Tiến Sĩ
Phật Học, học ít nhất 20 năm) từ Đức Đạt Lai Lạt Ma,
công nhận thành tựu cao của thầy về các môn tranh luận
và lý luận. Vào cuối thập niên 1970s, thầy đi Aâu Châu theo
yêu cầu của Đức Karmapa, và từ đó thầy liên tục đi và
giảng dạy không mệt mỏi, nổi tiếng với tài tranh luận,
với các bài ca ứng khẩu tự nhiên và với khả năng diễn
đạt các giáo pháp thâm sâu nhất của Phật Giáo Kim Cang Thừa
trong một cách rõ ràng, tiếp cận được và sống động.
(Bắt
đầu bản văn)
Melvin
McLeod (M): Thưa Rinpoche, thầy là một trong những vị thầy
hàng đầu của Đại Thủ Aán, pháp tu và triết học cao nhất
của tông phái Kagyu trong Phật Giáo Tây Tạng. Xin thầy mô
tả cái nhìn Đại Thủ Aán về bản tánh của tâm?
Khenpo
Tsultrim Gyamtso Rinpoche (K): Trong Đại Thủ Aán, có ba truyền
thống: kinh bộ Đại Thủ Aán, mật bộ Đại Thủ Aán, và
tánh bộ Đại Thủ Aán.
Truyền
thống kinh bộ Đại Thủ Aán bao gồm cả các thời chuyển
pháp luân thứ nhì và thứ ba (giáo pháp về Tánh Không và
về Phật Tánh, tuần tự). Theo lời giảng trong kỳ chuyển
pháp luân thứ nhì, thật tánh của tâm vượt ra ngoài mọi
khái niệm. Như thế có nghĩa là nó không có thể được mô
tả như là hiện hữu hay không hiện hữu, như là một cái
gì hay là không có gì, hay như là thường hay vô thường. Tâm
không thể được mô tả hay khái niệm hóa trong bất kỳ những
cách như thế: tánh của tâm thì vượt ra ngoài mọi khái niệm.
Rồi thì, theo lời giảng của thời kỳ chuyển pháp luân thứ
ba, đó là giáo pháp về Phật Tánh, như trong quyển luận Uttaratantrashastra
(1), tánh thật của tâm được mô tả như sự trong suốt chiếu
sáng. Đây là bản tánh được chứng ngộ về Phật Tánh,
hoàn toàn xa lìa mọi nhiễm ô, hoàn toàn xa lìa mọi bất toàn
hay khiếm khuyết nào. Tánh chiếu sáng (luminosity) này không
tách biệt với tánh không (emptiness). Cho nên, chân tánh của
tâm được mô tả như sự kết hợp của tánh trong suốt và
tánh không.
Truyền
thống mật bộ của Đại Thủ
Ấn giải thích rằng chân tánh của tâm chính là sự an
lạc (bliss) và tánh không (emptiness) không tách biệt nhau. Đây
là điều mà hành giả sẽ thiền tập trên đó, sau khi nhận
lễ gia trì (empowerments). Đón nhận lễ gia trì xong, và thiền
tập theo cách này, hành giả có thể chứng ngộ tánh rỗng
rang an lạc (bliss-emptiness) này; đây là chân tánh của tâm.
Cuối
cùng, là truyền thống tánh bộ Đại Thủ Ấn, trong đó chân
tánh của tâm được gọi là thamel gyi shepa, tức là tâm bình
thường. Tâm bình thường có nghĩa là, hành giả được dạy
rằng không cần phải thay đổi gì hết về tâm. Hành giả
không cần tu sửa nó dù theo bất kỳ cách nào. Hành giả không
cần ngăn chận bất cứ những gì đang xảy ra, hay là làm
bất cứ thứ gì mới cho xảy ra. Chân tánh của tâm thì vượt
ra ngoài mọi kỹ xảo khéo léo và mọi thêu dệt chế tác.
Truyền
thống tánh bộ Đại Thủ Ấn không lệ thuộc vào kinh điển
hay lý luận như kinh bộ và mật bộ Đại Thủ Ấn. Trong truyền
thống tánh bộ, vị thầy chỉ ra bản tánh của tâm học trò,
dựa vào kinh nghiệm riêng của học trò và dựa vào cách học
trò đang liên hệ với các hiện tướng vào lúc đó. Đó là
truyền pháp chỉ thẳng. Còn chỉ đọc nó trong một cuốn
sách thì không đủ. Bạn phải tin sâu vào thầy, và rồi thầy
có thể chỉ ra bản tánh của tâm. Cho nên, nếu có ai muốn
khảo sát bản tánh của tâm họ, và muốn được chỉ thẳng
ra, họ nên xin học từ một vị thầy mà họ thâm tín. Rồi
vị thầy sẽ trao cho họ lời dạy chỉ thẳng, và có thể
rằng họ sẽ chứng ngộ bản tánh của tâm.
Nếu
học trò biểu lộ được sự chắc thật rằng tâm thì xa
lìa mọi đến và đi, xa lìa mọi sinh, trụ và diệt, thì học
trò được nói là đã chứng ngộ tánh của tâm. Như thế
không có nghĩa là học trò đã có kinh nghiệm chứng ngộ trực
tiếp; trong ngữ cảnh này, chứng ngộ có nghĩa là có sự
chắc thật.
Nếu
đọc truyện về Ngài Milarepa gặp cậu bé chăn cừu Repa Sangye
Kyap, người ta sẽ có một khái niệm về một cách chỉ thẳng
giữa thầy và trò.
M:
Ngoài cách truyền pháp trực tiếp từ thầy sang trò, còn những
phương pháp nào hay thiền tập nào được sử dụng để chứng
ngộ bản tánh của tâm?
K:
Nếu muốn học cách khảo sát bản tánh của tâm, người ta
nên hiểu rằng có những cách khác nhau để làm như thế.
Thí dụ, trong truyền thống kinh bộ Đại Thủ Aán, có phương
pháp phù hợp với kỳ chuyển pháp luân thứ nhì [của Phật]
để khảo sát bản tánh của tâm, có phương pháp phù hợp
với kỳ chuyển pháp luân thứ ba.
Nếu
bạn muốn học về cách khảo sát tâm theo kỳ chuyển pháp
luân thứ nhì, bạn nên đọc cuốn The Sun of Wisdom. (2) Tất
cả những phương pháp để khảo sát Tánh Không được dạy
trong sách đó có thể được áp dụng vào tâm. Sự khác biệt
nằm ở chỗ kỹ thuật thiền tập thì làm theo Đại Thủ
Aán. Sự khảo sát thì y hệt nhau, nhưng khi bạn hoàn tất
việc khảo sát xong, [thì] phương pháp bạn thiền tập lại
làm theo pháp thiền Đại Thủ Aán.
Khi
bạn khảo sát theo kỳ chuyển pháp luân lần thứ ba, điều
bạn chắc thật sẽ là thật tánh của tâm là sự trong trẻo
chiếu sáng, xa lìa bất kỳ nhiễm ô nào. Có một bài kệ
trong bộ luận Uttaratantrashastra, bộ luận về Phật Tánh,
viết rằng, “Tánh thật của tâm là sự trong trẻo chiếu
sáng, không hề lay động như hư không. Có những cấu nhơ
lướt qua, nhưng chỉ là tạm thời, và không hiện hữu trong
bản tánh của tâm.”
(Lời
Người Dịch: Trong khi truyền thống Phật Giáo Trung Hoa và
Việt Nam dựa vào “Ngũ Thời Phán Giáo” để phân chia các
thời kỳ hoằng pháp của Phật, thì Phật Giáo Tây Tạng lại
chia ra chỉ có ba thời kỳ -- Đức Phật chuyển pháp luân
lần đầu là dạy pháp Tứ Diệu Đế, lần thứ nhì dạy
pháp Tánh Không, lần thứ ba dạy về Phật Tánh. Các thời
kỳ sau không phủ nhận thời kỳ trước, mà bao gồm luôn
cả thời kỳ trước. Thời kỳ thứ nhì được khai triển
trong các bộ luận Trung Quán, thời kỳ thứ ba trong các bộ
luận Duy Thức.)
Đó
là chìa khóa chính của thời chuyển pháp luân lần thứ
ba – để thấy rằng tự tánh của tâm là tánh sáng chiếu
và tánh không, và rằng không có gì có thể làm cho bản tánh
này bất toàn hay ngăn trở. Làm ngăn trở, không cho chúng ta
thấy chân tánh của tâm chỉ duy là những cấu nhiễm biến
hiện. Chúng không thật sự hiện hữu; cấu nhiễm không có
tự tánh và do vậy chúng có thể được gỡ bỏ.
Sau
khi phân tích dựa theo hoặc là [giáo pháp] chuyển luân lần
thứ nhì hay thứ ba, phương pháp thiền tập thì như nhau: đó
là, an nghỉ và thư giãn trong bản tánh của bạn. Theo [giáo
pháp] kỳ chuyển luân thứ nhì, bạn thấy rằng thật tánh
của tâm thì xa lìa các khái niệm thêu dệt, và bạn chỉ
cần buông xả hết và an nghỉ thư giãn trong đó. Theo [giáo
pháp] kỳ chuyển luân thứ ba, bạn thấy rằng thật tánh của
tâm là tánh sáng và tánh không, và bạn chỉ cần buông xả
hết và an nghỉ thư giãn trong đó.
M:
Thế thì trông rất là hân thưởng, qua cách Thầy trình bày.
K:
Nếu có sự hân thưởng vui thích, thì cũng vẫn không có chấp
giữ nào vào sự hân thưởng đó. Nếu có an nghỉ thư giãn,
cũng không có chấp giữ nào vào sự an nghỉ thư giãn.
M:
Nhiều Phật Tử phương Tây trong mọi truyền thống đã đọc
các bài ca của Ngài Milarepa. Chúng tôi được cảm hứng và
say mê vì các bài ca này, nhưng không nhất thiết xem chúng
như giáo pháp có thể ứng dụng vào pháp tu tập. Thầy đã
dạy nhiều về các truyện và bài ca của Milarepa; Thầy còn
cho các bài ca này được dịch lại lần nữa và phổ vào
nhạc theo giai điệu phương Tây. Trong tất cả các nguồn từ
truyền thống Tây Tạng, tại sao Thầy nhấn mạnh về lời
dạy của Milarepa?
K:
Milarepa là vị thành tựu giả lớn nhất ở Tây Tạng. Trong
các vị thầy chứng đạo đã sống ở Tây Tạng, Milarepa là
người vĩ đại nhất. Ngài thành Phật chỉ trong một kiếp
với một thân xác: ngài thanh tịnh các cấu nhiễm của nadi,
prana và bindu (3) và đạt toàn giác.
Milarepa
được gọi là học giả, tức người uyên bác. Ngài đã học
những gì? [Về] nghĩa quyết định, mà ngài đã bày tỏ trong
các bài ca. Do vậy, khi bạn dùng các bài ca của ngài như căn
bản để nghe, tư duy và thiền tập, bạn có sự hỗ trợ
thâm sâu và vi tế để khai mở tri thức.
Trước
kia, chúng tôi quen với việc hát các bài ca riêng lẻ, nhưng
bây giờ chúng tôi hát các bài ca chung với các truyện kể
liên hệ. Chúng tôi có khoảng 11 hay 12 chương đã dịch xong,
và nhiều chương trong đó là về chuyện Milarepa gặp các đệ
tử của ngài, đặc biệt là các nữ đệ tử của ngài, những
người rồi sau đó cũng tự chứng đạo. Các chương này đều
là các trợ giúp tuyệt diệu cho việc tu tập của chúng ta.
Bây giờ, người ta thích nghiên cứu và thiền tập, nhưng
họ cũng cần các giáo pháp cô đọng. Điều lớn lao về những
chương này là mỗi chương kể ra một chuyện đầy đủ về
Milarepa và một đệ tử nào đó, hay một nhóm đệ tử nào
đủ. Chúng đưa ra con đường đầy đủ từ đầu tới cuối,
từ khi các đệ tử lần đầu gặp Milarepa, kể lại chuyện
họ gặp nhau, cho tới những gì xảy ra khi họ tu tập và khi
Milarepa trao thêm cho họ những lời dạy. Do vậy, trong mỗi
chương có một pháp tu hoàn tất. Và các bài ca đều rất
thâm sâu. Hãy nhìn vào một bài ca, như bài “Chân Dung Chân
Thật Của Trung Đạo” (The Authentic Portrait of the Middle Way),
và xem có bao nhiêu thật sự trong đó. Thật tuyệt diệu.
Khi
chúng ta hát đêm qua, “E ma, hiện tượng ba cõi luân hồi,
trong khi không thật có nhưng vẫn đang xuất hiện, thật là
tuyệt diệu không ngờ.” Chỉ mới có hai dòng thôi đó, nhưng
nếu bạn biết ý nghĩa của hai dòng chữ này, ứng dụng của
nó là vô tận.
M:
Các bản dịch của các bài ca và truyện này mà chúng ta thường
biết tới thì lại trau chuốt trong ngôn ngữ triết học cao
siêu. Một trong những điều tôi thích thú – và thấy hiệu
quả – là việc Thầy cho dịch lại bằng ngôn ngữ trực
tiếp, đời thường. Bởi vì khi Thầy nghĩ về nó, những
bài ca này thường được hát cho những người mù chữ và
trong giai điệu bình dân của thời đó.
K:
Đúng vậy. Đó là cách Milarepa thực sự đã hát lên các bài
đó, trong những chữ dễ hiểu và để dân chúng có thể hiểu
được. Và thực sự hát những bài ca này đưa ra năng lực
đặc biệt, bởi vì chính Milarepa đã hát lên chúng. Khi chúng
ta hát các bài này lên, chúng ta liên hệ tới chúng trong cùng
cách mà Milarepa và các môn đệ ngài đã hát. Điều đó đưa
tới sức mạnh của ân sủng và sức mạnh của liên kết.
M:
Đối với tôi thì như dường rằng Thầy đang tự hiến mình
vào việc thiết lập một truyền thống tu trì Phật Giáo đầy
đủ và thuần chất ở Phương Tây. Vậy thì, cái gì là yếu
tính của đạo lộ tu trì mật bộ?
K:
Cốt tủy của truyền thống tu trì là, các khổ đau và cảm
xúc loạn động sẽ không bị gạt bỏ; mà nên là, hành giả
sẽ thiền tập về tánh thật của chúng. Trong cách này, chúng
được tự giải thoát, bởi vì khổ đau và cảm xúc loạn
động là tự sinh khởi và tự giải thoát. Do đó, hành giả
cần tu tập trong việc hiểu biết về nghĩa của tự sinh khởi
và tự giải thoát, tu tập trong pháp thiền tự sinh khởi và
tự giải thoát, và tu tập trong cách xử thế tự sinh khởi
và tự giải thoát. Đó là toàn bộ pháp tu. Bạn có hiểu
không?
M:
Không. [Cười.] Nhưng, “tự giải thóat” có nghĩa là gì?
K:
Sự so sánh thường dùng là hình ảnh một làn sóng khởi lên
và tan biến trở lại vào đại dương. Đó là một so sánh
tốt, nhưng nó thực sự như thế nào thì lại là điều mà
bạn phải kinh nghiệm cho chính mình. Như Drogan Sombuyagada nói,
“Khi bạn thấy trên một đại dương trong suốt, sáng rõ
tuyệt đẹp, với các lượn sóng khởi lên và biến tan trở
lại vào đại dương, bạn không biết rằng đây là vị đạo
sư đang giảng dạy cho bạn rằng các niệm chính là pháp thân?”
Tự sinh khởi và tự giải thoát có nghĩa rằng, khi niệm khởi
lên, nó y hệt một lượn sóng khởi lên từ đại dương của
sự trong sáng chiếu diệu. Và nó tan biến trở lại vào sự
trong sáng chiếu diệu đó. Nó không bao giờ xa lìa bản tánh
của sự trong sáng chiếu diệu, y hệt như sóng không bao giờ
rời nước.
Một
cách căn bản, như thế có nghĩa là, bất cứ thứ gì xuất
hiện đều luôn luôn là sự chiếu sáng. Thí dụ, niệm của
bạn không tới từ bất cứ nơi nào, và chúng không đi bất
cứ nơi đâu. Nhưng, cùng lúc, chúng xuất hiện và chúng hiển
lộ. Do vậy, hiện tướng đó, sự sinh khởi đó, được gọi
là tự sinh khởi và tự giải thoát bởi vì không có gì khác
hơn chính sự chiếu sáng đó nó tự giải thoát.
[Hát]
“Niệm không tới từ bất kỳ đâu, và chúng không đi bất
cứ nơi nào, thế nên làm sao chúng có thể là bất cứ thứ
gì khác hơn cái tự sinh khởi và tự giải thoát? Y hệt như
sóng trên đại dương.” Đó là cách nó là.
Milarepa
nói rằng niệm và hiện tướng của ma quỷ thì tự sinh khởi
và tự giải thoát. Cách ngài nói là thế này, “Cái xuất
hiện như là, được nhận thức như là, và được nghĩ tới
như là một bóng ma – bất cứ khi nào những thứ này xuất
hiện, từ người hành giả chúng xuất hiện; và bất cứ
khi nào chúng tan biến, vào người hành giả mà chúng tan biến.”
(LND.
Câu trên dịch theo sát nguyên văn, “What appears as, is perceived
as, and is thought of as a ghost – whenever these appear, from the yogi
they appear, and whenever they dissolve, into the yogi they dissolve,”
chỉ đổi một dấu ngắt câu để tránh nhầm lẫn. Nhưng
nếu dịch dài dòng hơn thì sẽ sáng nghĩa hơn, như “Cái
xuất hiện như là một bóng ma, cái được hành giả nhận
thức như là một bóng ma, và cái được hành giả nghĩ tới
như là một bóng ma – bất cứ khi nào những thứ này xuất
hiện, chỉ là từ hành giả mà chúng xuất hiện; và bất
cứ khi nào chúng tan biến, thì chính là chúng tan biến vào
[tâm] hành giả.”)
M:
A mà, câu hỏi kế tiếp phải là, làm cách nào hành giả tu
tập trong cách như thế.
K:
Để hiểu nguyên tắc của tự sinh khởi và tự giải thoát,
bạn phải tu tập trong cái nhìn thâm sâu của Đại Thủ Aán,
trong thiền tập thâm sâu của Đại Thủ Aán, và rồi nối
kết mọi thứ bạn làm vào với nó.
Thí
dụ, nếu bạn rất mệt và tâm bạn nặng nề và mờ tối,
bạn đừng gạt bỏ hoàn cảnh này. Thay vào đó, bạn hãy
cứ ngủ đi, và bạn thiền tập về tánh thật của giấc
ngủ, vốn là tánh chiếu sáng. Vị đại thành tựu giả Lavapa
đã thiền tập bằng cách ngủ trên các lề đường trong mười
hai năm, và trong cách đó Ngài đã chứng ngộ Đại Thủ Aán.
Toàn thể thời gian Ngài ngủ, Ngài đều thực sự thiền tập
trong tánh trong sáng chiếu diệu.
Nếu
bạn vào sự chắc thật trong cái nhìn thâm sâu của Đại
Thủ Ấn, bạn sẽ biết tự sinh khởi và tự giải thoát nghĩa
là gì, và bạn sẽ vui hưởng trong khi thiền tập. Khi bạn
có kinh nghiệm trực tiếp, có chứng ngộ trực tiếp, thì
bạn thực sự là một hành giả. Rồi thì bạn thực sự hiển
lộ như là tự sinh khởi và tự giải thoát.
(LND.
Dòng cuối của đọan trên, “Then you actually manifest as self-arisen
and self-liberated,” cũng là tông chỉ của Thiền Tông, bởi
vì bấy giờ thì tất cả mọi biến hiện trong tâm hành giả,
cho dù là tham sân si hay bất cứ gì, đều thấy ngay được
là như mây tự sinh khởi và rồi tự tan biến trong bầu trời
không tánh của tâm chiếu diệu. Trong Kinh Tạng Pali, Phật
cụ thể đã dạy Ngài La Hầu La hãy để tâm như hư không,
như dòng sông, như mặt đất… Vì các pháp vô tự tánh như
thế, nên điều khó chỉ còn là chỗ, làm sao thấy tánh vô
sở trụ của tâm, thì tự khắc giải thoát, mà không cần
trừng tâm hay quán tịnh gì.)
M:
Cho nên, nguyên tắc chính là, có những kỹ thuật cụ thể
để dựa vào đó tất cả các trạng thái của tâm có thể
được thiền tập vào đó và đưa về lại con đường...
K:
Đúng vậy. Khi bạn khéo léo và sử dụng các phương pháp,
thì tất cả các trạng thái của tâm có thể là bằng hữu
của bạn. Tất cả trạng thái của tâm có thể thành bạn
của mình, khi mình nhận ra rằng tánh thật của tâm thì tự
sinh khởi và tự giải thoát, rằng tất cả trạng thái của
tâm thực sự giống y hệt nhau – chúng tự sinh khởi và tự
giải thoát.
M:
Thầy nhấn mạnh vào việc học hỏi nghiên cứu, đặc biệt
về pháp lý luận của Long Thọ và Nguyệt Xứng, và các luận
sư khác của Trung Luận Tông. Làm sao mà pháp lý luận này
lại dẫn tới kết quả chứng ngộ, điều phi khái niệm tuyệt
đối?
K:
Hành giả không cần dẹp bỏ các niệm. Hành giả không cần
xua đuổi các niệm, bởi vì các niệm trong bản tánh thì tự
sinh khởi và tự giải thoát. Theo giáo pháp thời chuyển luân
lần thứ nhì, vừa khi niệm sinh khởi, chúng không gì khác
hơn là sự tự do xa lìa khỏi các thêu dệt nghĩ tưởng. Tánh
thật của chúng thì vượt ngoài khái niệm – như chúng xuất
hiện và như chúng được giải thoát, tánh thật của chúng
thì vượt ngoài khái niệm. Theo giáo pháp thời chuyển luân
lần thứ ba, khi niệm sinh khởi, chúng là bản tánh của sự
trong sáng chiếu diệu. Hệt như chúng sinh khởi và hệt như
chúng được giải thoát, chúng là bản tánh của sự trong
sáng chiếu diệu. Và theo mật bộ Đại Thủ Ấn, khi niệm
sinh khởi, bản tánh của chúng là Cái Rỗng Rang An Lạc, và
khi chúng được giải thoát, bản tánh chúng là sự an lạc
và sự rỗng rang.
Nhầm
lẫn xảy ra khi chúng ta nghe chữ “phi khái niệm” và nghĩ
là có một số dị biệt giữa khái niệm và phi khái niệm.
Rồi thì bạn nghĩ là bạn phải diệt trừ niệm, nhưng đó
là một sai lầm. Điểm chính phải là, chứng ngộ thật
tánh của niệm. Điểm chính phải là, đưa niệm về đạo
lộ. Niệm là bằng hữu của pháp tu tập, khi bạn có thể
thiền tập vào chân tánh của chúng. Nếu bạn không có thể
làm thế, thì bạn gặp rắc rối lớn, bởi vì bạn nghĩ bạn
cần phải vào một trạng thái phi khái niệm, nhưng niệm lại
cứ sinh khởi hoài.
Toàn
bộ pháp Đại Thủ Ấn chính là thấy tánh thật của niệm.
Đó là Đại Thủ Ấn – nó không gì khác hơn tánh thật của
niệm. Khi bạn có thể thấy như thế, rồi niệm là bằng
hữu của bạn.
Đại
Thủ Ấn là pháp tu tập, mà không hề dẹp bỏ niệm, không
hề dẹp bỏ các hiện tướng, không hề dẹp bỏ các cảm
xúc rối loạn, không hề dẹp bỏ khổ đau, nhưng lại là
mang tất cả những thứ này vào đạo lộ và chứng ngộ rằng
tánh thật của chúng là tự sinh khởi và tự giải thoát.
Khi
tôi thiền tập ở Tây Tạng, tôi hầu hết là nhập thất
trong núi, trong các hang động và các nghĩa địa. Khi ngồi
trong các nghĩa địa, tôi tập đưa các niệm và hiện tướng
của ma quỷ vào đạo lộ. Có những lúc trong đêm, tôi chợt
khởi niệm về ma quỷ và thấy các ma quỷ dữ dằn, cho nên
tôi thiền tập về tánh thật của chúng và chúng trở thành
đạo lộ của tôi. Khi tôi đang sống trong các hang động trên
núi, tôi thiền tập về tánh tự giải thoát của tất cả
các niệm. Tôi tập nhìn ra tánh thật của sự gặp gỡ của
hiện tướng và tâm. Trong cách này, sự gặp gỡ giữa hiện
tướng và tâm trở thành tự giải thoát.
M:
Sợ hãi khởi lên trong chúng ta mọi thời – nó là một tảng
gạch xây căn bản của luân hồi – nhưng sợ hãi không thường
được giải quyết như một vấn đề tâm linh. Làm sao chúng
ta làm việc với nỗi sợ của chúng ta?
K:
Cách để làm việc với nỗi sợ là như sau: Hãy thấy rằng
các niệm về sợ hãi không đến, không đi. Hãy thấy rằng
các niệm về sợ hãi không sinh khởi, cũng không diệt đi.
Rồi hãy nhìn vào các bản tánh vượt ngoài đến và đi, vượt
ngoài sinh và diệt; hãy nhìn vào bản tánh này, và hãy buông
xả và rồi hãy thư giãn. Khi tôi ngủ trong các nghĩa địa
và tôi sợ hãi các chúng ma quỷ, tôi thiền tập về thật
tánh của nỗi sợ đó. Ngay cả bây giờ, tôi gửi một vài
đệ tử tới các nghĩa địa, và tôi bảo họ thiền tập
như thế. Thế là tốt.
Nếu
bạn không nhận ra tánh thật của nó, thì sợ hãi gây ra nhiều
chuyện rắc rối. Nếu bạn nhận ra tánh thật của nó, sợ
hãi lại tốt bởi vì nó cho bạn một nhận thức sắc bén
về những cái tự sinh khởi và tự giải thoát. Nó cho bạn
một cơ hội tuyệt diệu để thiền tập về tánh thật của
tâm.
Giận
dữ là một thứ khác, cũng tốt, bởi vì giận dữ rất
là mạnh, và nó cho tâm của bạn nhiều năng lực. Cho nên,
nếu bạn thiền tập về tánh thật của giận dữ khi nó sinh
khởi, và nhận ra nó như là tự sinh khởi và tự giải thoát,
thì sự giận dữ của bạn tan biến, và bạn an trú trong tánh
thật của giận dữ, vốn là ánh sáng trong trẻo và chiếu
diệu. Thế là tốt.
Tại
Tây Tạng, có những hành giả nam và nữ sống chung với nhau,
và họ xích mích gây gỗ nhau rất là nhiều. Bề ngoài, trông
như họ xích mích gây gỗ nhau, nhưng thực sự điều họ đang
làm chính là sử dụng sự tương tác của họ như một phương
pháp để thiền tập vào tánh thật của sự giận dữ.
M:
Nhiều Phật Tử Tây Phương bối rối không biết xử thế
cách nào, khi họ thấy các lãnh tụ tinh thần của họ kình
chống nhau về mặt chính trị, hay làm trong những kiểu không
có vẻ phù hợp với chánh pháp. Như tông phái Kagyu của Thầy
đã bị chia rẽ vì tranh chấp chính trị các năm gần đây,
nhưng đây là điều mà không một cộng đồng nào hay tông
phái Phật Giáo nào tránh khỏi. Như vậy, học trò phải phản
ứng ra sao trước tình hình đó, để cho cảm xúc của niềm
tin và tận hiến không bị suy yếu?
K:
Trong trường hợp đó, người ta nên biết rằng cái trông
có vẻ như thế – nó chỉ là hiện tướng mặt ngoài. Nó
không phải là cái cách mà vạn pháp thực sự là. Trong tánh
thật của thực tại, không có mâu thuẫn xung đột nào. Tánh
thật của thực tại vượt cao qua mâu thuẫn xung đột, và
do vậy cái xuất hiện chỉ là hiện tướng mặt ngoài –
hệt như một giấc mơ, như một quáng nắng cầu vồng, như
một mặt trăng phản chiếu trong nước. Đó là cái người
ta nên biết.
Các
vị thầy trưởng các tông phái Phật Giáo Tây Tạng là các
vị hóa thân (tulku). Thực sự, một hóa thân như thế là một
trong các điển hình mà Đức Phật đã đưa ra cho hiện tướng
và tánh không, bởi vì các hóa thân thì không thật sự hiện
hữu. Do vậy, chúng ta nên nhớ một cách đặc biệt – rằng
một vị hóa thân chính là một thí dụ điển hình của hiện
tướng và tánh không, của một hình thức rỗng rang.
Do
vậy, khi các vị thầy hóa thân kình chống nhau, hay có vẻ
như kình chống nhau [cười], chúng ta nên biết rằng đó chỉ
là hiện tướng đơn thuần. Bởi vì họ là hóa thân, họ
không thật sự hiện hữu; họ là hiện tướng và là rỗng
không. Do vậy, sự kình chống là hiện tướng và rỗng không.
Nó không thật; nó là hiện tướng đơn thuần theo duyên mà
khởi.
Khi
các đạo sư lớn kình chống nhau, bởi vì đó chỉ là sự
kình chống giữa các hóa thân, hãy biết rằng nó không có
tự tánh. Hãy biết rằng đó là một thực tại tương đối,
mặt ngoài, chỉ là một hiện tướng đơn thuần theo duyên
mà khởi. Ngoài điều đó, không có gì khác mà các bạn cần
suy nghĩ.
M:
Thưa Rinpoche, kính cảm ơn Thầy nhiều. Tôi nghĩ là tôi làm
cuộc phỏng vấn, nhưng tôi lại được học về Đại Thủ
Ấn. Cảm ơn Thầy.
Cuộc
phỏng vấn được dịch bởi Ari Goldfield.
GHI
CHÚ:
(1)
Một trong 5 bộ luận, theo truyền thuyết do Bồ Tát Di Lạc
giảng cho ngài Asanga (khoảng thế kỷ thứ 4); bộ luận Uttaratantrashastra
là một trong các bản văn chính yếu để trình bày về Phật
Tánh. Trong năm 2000, bản văn được xuất bản cùng với lời
luận giải của Jamgon Kongtrul và Khenpo Tsultrim Gyamtso với tựa
sách Buddha Nature (Phật Tánh).
(2)
The Sun of Wisdom (Mặt Trời Trí Tuệ), xuất bản năm 2003, là
bản chú giải của Khenpo Tsultrim Gyamtso về bản văn Trung Luận
thời thế kỷ thứ hai của Nagarjuna, cuốn Fundamental Wisdom
of the Middle Way (Trung Đạo Căn Bản Trí). Sư đã dùng banûn
chú giải của Mipham làm hướng dẫn.
(3)
Theo giải thích của du-già cao cấp, trong ảo thân, tâm ý thức
đi theo đường khí lực prana (nghĩa đen là gió), chạy xuyên
các đường, gọi là nadi. Giọt bindu được tin là dưỡng
chất của tâm. Khi ba thứ này ô nhiễm, sẽ làm cho chúng sanh
mang thân này bị kẹt trong phân biệt nhị nguyên của chủ
thể và khách thể. Khi được thanh tịnh hóa, thì thân, khẩu
và ý của chúng sanh này được đồng bộ hoàn toàn và xuất
hiện trong bản tánh [kim cang] bất khả hoại.
(Hết
bản văn.)
Đại
Toàn Thiện
Giáo
pháp về Đại Tòan Thiện (Dzogchen),
giảng
bởi Tulku Urgyen Rinpoche (1920-1996)
Dưới
đây là bản Việt dịch, theo bản Anh ngữ “Existence &
Nonexistence” trên ấn bản điện tử của tạp chí Shambhala
Sun số tháng 3-2000. Bài này nguyên khởi trích từ cuốn sách
As It Is (Như Nó Đang Là) của nhà xuất bản Rangjung Yeshe Publications.
(Bắt
đầu bản văn)
“Nếu
bạn tin có cái gì gọi là tâm (mind), thực ra nó chỉ là một
niệm (thought). Nếu bạn tin rằng không có cái gì gọi là
tâm, thì nó chỉ là một niệm khác. Trạng thái tự nhiên
của bạn, xa lìa bất cứ niệm nào về nó – đó là phật
tánh. Tâm tương tự như hư không, trong đó nó thì không
có tự tánh, không phải vật chất gì. Không phải tuyệt diệu
sao, khi một cái không tự tánh, không thực thể gì cả, vậy
mà cũng có khả năng để kinh nghiệm?”
Bất
cứ pháp môn nào mà bạn tu tập, thì cũng hãy tu tập trong
Ba Sự Thắng Diệu.
Thứ
nhất, là tư lương thắng diệu về bồ đề tâm. Phải phát
nguyện bồ tát rằng, “Tôi sẽ thành tựu toàn giác vì lợi
ích cho tất cả chúng sanh.” Lấy nguyện này làm động cơ
tu học là một cách tối thắng để khởi đầu.
Sự
chuẩn bị thắng diệu này không thể thiếu được đối với
tất cả Phật tử, bởi vì chúng ta đều có nhiều kiếp khác
hơn kiếp này. Mắt nhìn thanh tịnh của các vị toàn giác
thấy rằng chúng ta đã trải qua vô lượng kiếp. Trong mỗi
kiếp, chúng ta có một cha và một mẹ. Chúng ta đã có quá
nhiều kiếp tới nỗi mỗi một chúng sinh, không một ngoại
lệ nào, đều đã từng là cha và mẹ của chúng ta. Như thế,
chúng ta nối kết với tất cả chúng sinh khác, và khi chỉ
đơn giản mong muốn giác ngộ và giải thoát cho chính mình
thì đã quá hạn hẹp. Để thành tự giác ngộ trong cách này
có nghĩa là bỏ rơi tất cả cha mẹ của mình.
Xin
hiểu rằng tất cả chúng sinh, tất cả cha mẹ chúng ta, không
muốn gì, chỉ trừ hạnh phúc. Bất hạnh thay, xuyên qua các
ác nghiệp, họ chỉ tạo ra nguyên nhân để đau khổ thêm.
Hãy ghi nhớ như thế, và hãy nghĩ tới tất cả cha mẹ chúng
ta, lang thang mù quáng không ngừng nghỉ, xuyên qua các trạng
thái luân hồi đau đớn. Khi chúng ta chân thực nghĩ nhớ như
thế, lòng từ bi thúc đẩy chúng ta sớm thành tựu giác ngộ
để giúp tất cả các chúng sanh một cách chân thực. Lòng
từ bi này không thể thiếu được, khi chuẩn bị tư lương
tu tập.
Pháp
tư lương thắng diệu cũng có cả việc quy y. Chúng ta thực
sự có khả năng chân thực để giúp người khác không? Chúng
ta có sức mạnh, có trí tuệ, có từ bi vô lượng để làm
như thế không? Bây giờ thì chúng ta chưa có. Ai có? Chỉ có
Đức Phật toàn giác mới thực sự có sức mạnh để bảo
vệ người khác, cũng như có giáo pháp thanh tịnh để thành
tựu giác ngộ. Thêm vào đó, còn có những người tu tập
giáo pháp đó trong sự truyền thừa liên tục. Tam Bảo, tức
ba bậc quý giá này, Phật, Pháp, Tăng là sự bảo vệ và cứu
độ chân thực duy nhất cho những người còn vô minh.
Chúng
ta nên xem Tam Bảo như nơi ẩn trú của mình, nơi cứu hộ
và bảo vệ cho chúng ta, từ bây giờ cho tới khi toàn giác.
Tam Bảo là nguồn chân thực và tin cậy để bảo vệ chúng
ta. Hành vi ủy thác sự tin cậy và nương tựa Tam Bảo cho
tới khi chúng ta thực sự có khả năng làm lợi ích người
khác, việc này gọi là “quy y.” Cùng với bồ đề tâm,
quy y là pháp tư lương tối thắng. Quy y là hiện thân cho toàn
bộ giáo pháp Nam Truyền, trong khi toàn bộ giáo pháp đại
thừa nằm trong việc lập nguyện bồ tát.
Phần
thứ nhì của ba sự thắng diệu được gọi là “phần chủ
yếu, thắng diệu, vượt ngoài khái niệm.” Điều này có
hai phương diện, giai đoạn thiết lập và giai đoạn hoàn
mãn. Điểm tập trung của pháp thắng diệu ngoài khái niệm
là sự đồng nghĩa với kim cang thừa, giáo pháp về Mật Thừa.
Giai
đọan thiết lập thường được hiểu như pháp quán tưởng
để xin gia hộ – quán tưởng cõi Phật và cung điện Phật,
trong đó có hình tướng của vị bổn tôn. Cõi này và vị
bổn tôn được xem như thế giới thanh tịnh và hữu tình
thanh tịnh. Chúng ta có thể nghĩ rằng đây là sản phẩm của
sự tưởng tượng của mình, nhưng thực sự đó là bản sao
chính xác của trạng thái nguyên thủy của vạn pháp. Đó
là cách mà vạn pháp vốn đã là như thế trong thực tại,
cũng còn được gọi là mạn-đà-la vĩ đại của bản tâm
hiển lộ.
Do
vậy, sự quán tưởng trong tận cùng không phải là chuyện
tưởng tượng cái gì không hề hiện hữu, nhưng chính là
nhìn thấy các pháp như nó hiện hữu thực sự như thế. Nó
xác chứng các pháp như là các pháp vốn thực đã là thế.
Đó là nguyên tắc chủ yếu của kim cang thừa. Nguyên
tắc này đã bao gồm cả giai đọan thiết lập và giai đọan
hòan mãn.
Giai
đọan thiết lập không phải như chuyện tưởng tượng một
mảnh gỗ như là vàng. Bất kể tốn nhiều thì giờ để tưởng
tượng rằng gỗ là vàng, nó không bao giờ thực sự là vàng.
Pháp này chỉ là, nhìn vàng như là vàng; xác chứng hay nhìn
các pháp như thực chúng là. Đó là ý nghĩa của pháp tu tập
[quán] bổn tôn, [niệm] mật chú và [nhập] định. Thân, khẩu
và ý của vị bổn tôn được hàm chứa trong 3 phương diện
của pháp tu kim cang thừa – đó là thiết lập, tụng niệm
và hòan mãn.
Tất
cả các hiện tướng đều là mạn-đà-la của các bổn tôn,
tất cả các âm thanh đều là mạn-đà-la của mật chú, và
tất cả các niệm đều là mạn-đà-la của tâm giác ngộ.
Bản tánh của tất cả các pháp hóa hiện và hiện hữu –
của tòan bộ thế giới này và tất cả chúng hữu tình –
là mạn-đà-la vĩ đại của bản tâm hiển lộ, tức trạng
thái căn bản của chúng ta. Ba mạn-đà-la này hiện hữu như
là căn bản nền tảng của chúng ta. Việc tu một pháp hành
thì dựa vào việc hiển lộ từ căn bản [tâm] này. Tu tập
pháp hành cũng dựa trên một số nguyên tắc rất chủ yếu:
rằng các pháp mật bộ được chứa đựng trong các mật chú,
các mật chú chứa đựng trong các lời dạy khẩu truyền,
và các lời dạy khẩu truyền chứa đựng trong việc ứng
dụng chính việc tu tập pháp hành này.
Để
tôi diễn giải lại điểm chủ yếu này. Trong kim cang thừa,
pháp hành là cách hiển lộ những gì nguyên sơ đã hiện hữu
trong hình thức của mạn-đà-la 3 phương diện của vị bổn
tôn, của mật chú và của đại định (tam muội). Khi tu tập
một pháp hành, chúng ta không áp đặt thứ gì giả tạo lên
trên trạng thái tự nhiên của các pháp. Mà đúng ra, đây
là một cách khẳng nhận trạng thái nguyên sơ của chúng ta,
trong đó bản tánh của tất cả các tướng đều là bổn
tôn, bản tánh của tất cả các âm thanh đều là mật chú,
và bản tánh của tâm là đại định. Đó là nguyên tắc căn
bản của giai đọan thiết lập. Và sự dị biệt trong sự
thâm sâu giữa giáo pháp của hiển giáo và mật giáo nằm
ở chỗ các giảng dạy tiếp cận bản tánh nguyên sơ ra sao.
Giáo pháp gần nhất, trực tiếp nhất, là giáo pháp của Kim
Cang Thừa.
Lý
do nào chia ra giai đọan thiết lập và giai đọan hòan mãn?
Giai đọan thiết lập vi diệu làm cho chúng ta đạt được
giác ngộ trong một kiếp này và trong một thân này, xuyên
qua bổn tôn, mật chú và đại định. Và giai đọan hòan mãn
có nghĩa là vị bổn tôn đó không gì khác hơn là Phật Tánh
nguyên sơ đã tự đầy đủ. Thể của nó thể hiện ra như
là Thân, tánh của nó chiếu diệu ra như là Ngữ, và dung lượng
của nó bao trùm khắp như là Tâm.
Tánh
giác nguyên sơ tự nó đã có sẵn trạng thái giác ngộ của
tất cả chư Phật như là ba phương diện của thân kim cang,
ngữ kim cang và tâm kim cang. Tu tập trong 3 pháp kim cang này
thì tự thân đã chứa sẵn trạng thái thâm sâu của đại
định, vốn không gì khác hơn là tự tánh của hành giả.
Đó là điểm khởi đầu, cũng là nguồn cội cho phần chính
yếu thắng diệu vượt ra ngòai khái niệm.
Bổn
tôn, mật chú và đại định là thân, ngữ và ý đã giác
ngộ. Thân kim cang có nghĩa là phẩm chất bất động, phẩm
chất vốn là căn cước của vị bổn tôn. Phẩm chất không
ngừng nghỉ là căn cước của mật chú, trong khi phẩm chất
không nhầm lẫn hay phẩm chất không mê mờ chính là căn cước
của tâm vị bổn tôn. Ba pháp kim cang này đã sẵn đủ trong
Phật Tánh của chúng ta. Chúng cũng được gọi là pháp thân,
báo thân, ứng thân (Skt.: dharmakaya, tầng tuyệt đối của
tâm nguyên sơ, tuyệt đối; sambhogakaya, tầng của năng
lực, cảm xúc và biểu tượng; nirmanakaya, tầng của hình
tướng hiển lộ).
Các
phương pháp vi diệu này của Kim Cang Thừa – tập một pháp
hành, thiền quán về bổn tôn, tụng niệm mật chú, và tu
tập đại định – đường gọi là một con đường nhanh
chóng. Phần cốt tủy của pháp này là bản tánh của tâm.
Đây là ngôn ngữ kim cang xa lìa mê vọng của Đức Phật tòan
giác, pháp có thể cho chúng ta thành tựu triệt ngộ trong một
kiếp. Giáo pháp này đã truyền trao không gián đọan xuyên
qua các vị đạo sư lớn cho tới vị bổn sư của tôi. Trong
khi tai của tôi may mắn nghe được giáo pháp này, thì chính
tôi lại không phải một cái gì đặc biệt. Mặc dù chính
tôi có thể nói ra những ngôn từ lớn lao vĩ đại, nhưng
xin hãy hiểu rằng tôi chỉ đang lặp lại những gì tôi may
mắn được học.
Rất
là khó để học được một thứ gì hay là để được tu
học trong pháp môn nào mà không có một vị thầy. Quý vị
có lẽ đều biết rõ như thế, vì quý vị đã ôm cặp tới
trường trong quá nhiều năm. Nền học vấn mà chúng ta đã
đón nhận là cái để chúng ta có thể sử dụng cho cả trọn
đời. Ngay cả thế, nền học vấn của chúng ta đã không
đưa chúng ta gần thêm một tấc nào tới cảnh giới giác
ngộ hòan mãn. Những năm miệt mài trên ghế nhà trường thì
tuyệt đối không phúc lợi thật nào.
Bởi
vì quý vị đều thông minh, tôi nghĩ quý vị có thể hiểu
vì sao tôi đang nói thế này. Bất kể những gì chúng ta làm
trong kiếp này, tất cả thông tin mà chúng ta đã gom góp lại
và tất cả kiến thức mà chúng ta thu thập và tất cả mọi
nỗ lực mà chúng ta đã tích chứa tài sản nhờ vào làm việc
và kinh doanh – khi tới lúc lìa trần, thì tất cả đều vô
dụng. Nó sẽ không giúp chúng ta được chút nào. Tôi có thể
dễ dàng nói như thế bởi vì tôi không có học vấn bao nhiêu!
Do vậy, tôi có thể mỉm cười và ra vẻ lớn lối về điều
này. Nhưng xin đừng nổi giận.
Điều
tôi đang cố gắng nói chính là, chúng ta có thể thành công
lớn trong việc làm giàu và đạt nhiều lợi ích vật chất.
Chúng ta có thể mua áo quần đắt tiền nhất, hay tạo danh
tiếng lớn trong thế giới này tới nổi ai cũng biết tới
tên mình. Điều đó có thể làm được. Chúng ta có thể đạt
các thành tựu thế gian ấy một cách nhiệt tình, và nghĩ
rằng có nhiều thì giờ để thụ hưởng chúng trong khi chúng
ta đang sống được nửa kiếp thọ mạng này.
Tuy
nhiên, trong nửa thứ nhì của kiếp này, khi chúng ta già đi,
đời sống bắt đầu kém vui. Tôi nói từ kinh nghiệm nơi
đây. Bắt đầu khó đứng dậy, khó đi lại rồi. Quý vị
thường trở bệnh hơn, và bắt đầy suy bệnh đủ thứ khác
nhau. Chờ đợi quý vị chỉ là bệnh nguy ngập hơn và cuối
cùng là cái chết.
Tất
cả những tai họa này xếp hàng phía trước chúng ta, và chúng
ta sẽ gặp chúng từng tự. Sau cái chết sẽ là cái gì thì
hiện chúng ta chưa rõ, bởi vì chúng ta không có thể nhìn
thấy kiếp kế tiếp của mình. Chúng ta cũng không thể thấy
nổi là có cái gì sau kiếp này. Khi chúng ta nhìn xuống mặt
đất, chúng ta không thấy cõi thấp hơn nào; khi chúng ta nhìn
lên bầu trời, chúng ta không thấy cõi trời nào hay cõi phật
nào. Với những đôi mắt hiện có bây giờ, chúng ta không
thấy nhiều bao nhiêu.
Xin
làm ơn xem xét điều này: hiện giờ đây, quý vị có một
thân, một tiếng nói và một tâm, có phải không? Trong đó,
tâm là quan trọng nhất. Không phải đúng rằng thân và ngữ
là đầy tớ cho tâm? Tâm là chủ, và nơi đây có thêm nhiều
thứ về tâm. Năm yếu tố thể lý (ngũ đại) là đất, nước,
gió, lửa và không gian thì không có khả năng nhận thức.
Ngược lại, tâm là cái có thể kinh nghiệm; đó là cái có
khả năng nhận thức (năng kiến). Năm cơ phận của mắt,
tai, mũi, lưỡi và thân thì không thể nhận thức và kinh nghiệm.
Một xác chết có đầy đủ ngũ căn như vậy, nhưng xác chết
không thể nhận thức, bởi vì nó không có tâm.
Nói
chữ xác chết có nghĩa là tâm đã rời đi. Chúng ta nói rằng
mắt thấy, rằng tai nghe, rằng lưỡi nếm, rằng mũi ngửi
và vân vân – nhưng nó chỉ có thể xảy ra khi có một tâm
để kinh nghiệm xuyên qua các cảm thọ đó. Vào giây phút
của cái mà chúng ta gọi là tâm, là ý thức hay là tinh thần
rời thân này, thì ngũ căn vẫn còn đó; nhưng không còn kinh
nghiệm nào qua đó được nữa.
Tâm
có nghĩa là cái biết được vui sướng và đau khổ. Trong
mọi thứ khác nhau trong thế giới này, chỉ có tâm kinh nghiệm
và nhận thức; không có gì khác nữa đâu. Do vậy, tâm là
cội gốc của tất cả các cảnh giới – tất cả cảnh giới
niết bàn cũng như luân hồi. Không có tâm thì không có gì
để cảm thọ hay nhận thức trong thế giới này. Nếu không
có gì cảm thọ hay nhận thức trong thế giới này, thì thế
giới sẽ hòan tòan trống vắng, có phải không? Tâm thì hòan
tòan là trống vắng rỗng rang, nhưng cùng lúc đó nó lại
có khả năng nhận thức, để biết.
Ba
cõi thấp được xếp theo mức độ đau đớn ở mỗi cõi,
trong khi ba cõi cao hơn được xếp theo mức độ vui sướng.
Tất cả được dựa vào cái để cảm nhận vui sướng và
đau đớn, cái đó là tâm. Nói cách khác, tâm là căn bản
hay là cội rễ của vạn pháp.
Tâm
thì rỗng rang trống vắng, và trong khi rỗng rang trống vắng,
nó vẫn biết hay kinh nghiệm được. Hư không thì trống vắng
và không biết bất cứ gì. Đó là điểm dị biệt giữa hư
không và tâm. Tâm thì tương tự như hư không, trong nghĩa nó
là phi vật thể, không phải vật chất. Thật kỳ diệu khi
có cái gì phi vật thể mà cũng có khả năng kinh nghiệm.
Có
tâm, nhưng nó phi thể lý và không thể cân lường. Quý vị
không thể nói là không có tâm, bởi vì nó là căn bản của
mọi thứ; chính nó là cái để kinh nghiệm mọi thứ khả
thể. Quý vị không có thể thực sự nói rằng có một thứ
gì gọi là tâm, và cùng lúc thì quý vị cũng không có thể
nói rằng không có tâm. Nó nằm vượt qua hai cực đoan của
hiện hữu (Có) và phi hiện hữu (Không). Đó là lý do vì sao
người ta nói, “Không hiện hữu, bởi vì ngay cả một vị
Phật cũng không thấy nó; không phải phi hữu, bởi vì nó
là căn bản của cả luân hồi và niết bàn.”
Nếu
chúng ta không có tâm, chúng ta sẽ là xác chết. Quý vị không
phải xác chết, có phải không? Nhưng quý vị có thể nói
rằng có một cái gọi là tâm để quý vị có thể thấy,
nghe, ngửi, nếm hay nắm giữ hay không? Nói thiệt, quý vị
có thể tiếp tục suy tìm theo kiểu như thế, tới một tỉ
năm nữa cũng không có thể thấy tâm là cái gì có hay không
có. Nó thực sự vượt qua hai cực hiện hữu và phi hiện
hữu.
Xa
lìa hai cực này là nguyên lý của Trung Đạo – rằng tâm
thì xa lìa sự đối nghịch giữa hiện hữu và phi hữu. Chúng
ta không phải nắm lấy ý tưởng rằng có một cái tâm cụ
thể hay là không có. Tâm trong tự thân là cái “như thị”
tự nhiên, có nghĩa rằng nó là một hợp thể vô tướng của
tánh rỗng rang và tánh biết. Đức Phật gọi hợp thể vô
tướng này là shunyata, tánh không. Shunye có nghĩa là trống
rỗng, trong khi tiếp ngữ –ta trong chữ shunyata nên được
hiểu như “có khả năng nhận thức.” Trong nghĩa này, tâm
là cái biết rỗng rang. Cái như thị tự nhiên có nghĩa đơn
giản là nó thì như thế, nó là như thế. Bản tánh của chúng
ta chỉ là như thế. Chỉ cần nhận thức như thế, không tô
màu lên với bất kỳ ý tưởng nào về nó.
Nếu
quý vị tin rằng có một cái gì gọi là tâm, thì nó chỉ
là một niệm. Nếu quý vị tin là không có cái gì gọi là
tâm, thì nó chỉ là một niệm khác. Tình trạng tự nhiên
của quý vị, xa lìa bất kỳ niệm nào về nó – đó là Phật
Tánh. Trong các chúng sanh bình thường, trạng thái tự nhiên
này hiển lộ qua sự suy nghĩ (thinking), hình thành niệm (thought).
Dính mắc trong suy nghĩ thì y hệt như là một sợi dây xích
nặng làm kéo ghì quý vị xuống. Bây giờ đã tới lúc để
giải thóat khỏi sợi dây xiềng này. Khỏang khắc mà quý
vị đánh vỡ dây xiềng của niệm tưởng, thì quý vị giải
thóat ra khỏi ba cõi luân hồi.
Trong
khắp thế giới này, không có gì cao quý hơn là biết được
cách phá vỡ xiềng xích này. Ngay cả nếu quý vị xem xét
hết cả thế giới, hay khảo sát từng mảnh một để tìm
xem có gì cao quý hơn, quý vị sẽ không thấy gì hết. Không
có vị Phật nào trong quá khứ, hiện tại và vị lai đã khám
phá ra lời dạy nào thâm sâu hơn hay trực tiếp hơn trong việc
thành tựu giác ngộ. Để học hỏi giáo pháp về tự tánh
của tâm có nghĩa là hiểu cách để chứng ngộ bản tâm.
Cách
học pháp truyền thống để thấy Tánh là trứơc tiên phải
tu tập các pháp sơ kỳ của “bốn lần của 100,000.” Sau
đó, quý vị sẽ tu tập pháp mật chú bổn tôn, lui về nhập
thất và hòan tất số tụng trì đã ấn định.
(LND.
Đọan trên có nói về pháp tư lương, tức pháp chuẩn bị
hành trang với “bốn lần của 100,000.” Đây là thực hiện
4 lần pháp Ngondro, trong đó có đủ các phần chỉ, quán, sám
hối, cúng dường và hồi hướng. Mỗi lần Ngondro phải tụng
100,000 lần một câu thần chú được giao, và lạy 100,000 lần.
Hòan tất Ngondro, thường mất nhiều tháng, sau đó mới được
thầy dạy về pháp thấy tánh của Dzogchen. Trang web Tây Tạng
palyul.org gọi chuẩn bị tư lương đó gồm bốn pháp căn bản.
Nhưng các tông phái Tây Tạng vẫn có nhiều dị biệt nhau
về cách dạy pháp chuẩn bị này. Một vài bản văn khác nói
chỉ cần một lần Ngondro là đủ. Thời này, khi hoằng pháp
vào Aâu-Mỹ, nhiều thầy không bắt chuẩn bị tư lương kỹ
như thế; hễ trò hỏi, thì thầy sẽ nói hết, và cả viết
sách ra hết. Nhưng các kỳ nhập thất dài hạn đều chuẩn
bị kỹ.)
Cuối
cùng, sau tất cả điều đó, giáo pháp này mới được dạy.
Nhưng bây giờ chúng ta đang ở một thời khác rồi. Ai cũng
bận rộn tới nổi không còn thì giờ để ngồi xuống thực
sự và trải qua hết mọi thứ tu tập đó. Bổn sư của tôi
một lần nói rằng những thời đại khác đang tới. Thầy
nói, “Nếu con gặp những ai hỏi về pháp này và muốn nghe
về tự tánh của tâm, thì hãy giải thích cho họ. Nếu họ
đã chuẩn bị đủ nhân duyên, họ sẽ hiểu, và nếu họ
hiểu thì họ sẽ lợi ích. Làm lợi ích chúng sinh là mục
đích Phật pháp. Được vậy là tốt.”
Khi
tôi còn trẻ, tôi thường cố gắng làm như thế. Y hệt như
khi có ai chỉ ra mặt trời mọc. Thường người ta nhìn về
hướng tây và thấy rằng ánh mặt trời đã chiếu đỉnh
núi; đó là cách người ta nhận ra rằng mặt trời đã mọc.
Nhưng thực sự, điều người ta phải làm chính là phải quay
người lại và ngó thấy mặt trời đang mọc ở phương đông.
Khi có ai bảo họ làm như thế, họ quay người lại và nói,
“A, đúng vậy, mặt trời thực sự đang mọc ở hướng đông!”
Đó là cách mà tôi đã giảng dạy, và đó là cách mà tôi
vẫn đang giảng dạy.
Thế
đó, quý vị đã nghe rằng tâm chúng ta thực sự là rỗng
rang trống vắng, nghĩa là nó không phải là một vật cụ
thể, và rằng cùng lúc thì nó có khả năng nhận thức, hiểu
biết, kinh nghiệm. Khi quý vị nghe điều này và nghĩ về điều
này, quý vị có thể tin không? Có rõ ràng không? Quý vị có
thể quyết định trên điểm này không?
Tâm
chúng ta thì rỗng rang trống vắng, và nó lại suy nghĩ tư
lường. Nói nó rỗng rang trống vắng có nghĩa là không có
thể chất cụ thể với bất kỳ một đặc tính có thể định
nghĩa nào. Và, tâm có khả năng suy nghĩ. Không phải thật
rằng chúng ta luôn luôn suy nghĩ về quá khứ, hiện tại
hay vị lai sao? Và không phải rằng chúng ta quá bận rộn suy
nghĩ tới nổi chúng ta luôn luôn khởi niệm này sau niệm kia,
cả ngày và đêm, không ngừng nghỉ hay sao?
Điều
đó không phải là cái gì đột nhiên xảy ra. Nó đã diễn
ra như thế tự lâu rồi, xuyên qua vô lượng kiếp sống trong
cõi luân hồi. Đó là cốt tủy của hiện hữu luân hồi.
Và nếu chúng ta cứ tiếp diễn cùng một cách như thế, chúng
ta sẽ bận rộn khởi niệm này sang niệm kia cho tới cùng
tận kiếp sống này.
Nó
không ngừng ở đó. Dĩ nhiên, không có thân nào trong cõi trung
ấm [trạng thái trung gian giữa chết và tái sinh], nhưng tâm
cứ tiếp tục khởi niệm liên tục vì thói quen. Sau một sự
tái sinh mới, bất kể là vào trong cảnh giới thấp hơn hay
cảnh giới cao hơn, hay là trong tầng địa ngục sâu nhất,
mọi thứ chỉ đơn giản là niệm này sinh khởi sau niệm kia.
Nhưng trong mọi thời, bản tánh thật của mọi thứ suy nghĩ
tư lường này lại là Phật Tánh – tánh giác.
Hãy
để tôi cho bạn một thí dụ về quan hệ giữa suy nghĩ và
tự tánh của tâm. Tự tánh của tâm y hệt mặt trời trên
bầu trời, trong khi suy nghĩ tư lường chỉ như phản chiếu
mặt trời trong nước. Không có nước, sẽ khó mà có mặt
trời phản chiếu, có phải không? Nước nơi đây là dụ cho
mọi vật được nhận thức, cho mọi thứ được giữ trong
tâm. Nếu bạn rút cạn nước ra khỏi hồ, thì các phản chiếu
đi đâu? Nó rút cạn theo nước? Hay nó ở lại treo lơ lửng
giữa trời?
Giữ
lấy chủ thể và đối tượng (chấp trì năng kiến và sở
kiến), người nhận thức và vật được nhận thức trong
tâm, được biểu tượng hóa bởi sự phản chiếu của mặt
trời trong hồ. Không có mặt trời trên bầu trời, sẽ có
ánh sáng nào trong thế giới này hay không? Không, dĩ nhiên
là không. Vậy đó, vậy mà một mặt trời đơn độc lại
có thể chiếu sáng tòan bộ thế giới. Mặt trời đơn độc
này y hệt như tự tánh của tâm, trong đó nó hiển dụng trong
nhiều cách khác nhau: Nó đưa tới ánh sáng và hơi ấm, và
xuyên qua sức nóng thì nó làm gió lưu chuyển. So sánh với
điều đó, thì phản chiếu của mặt trời không là gì cả.
Có phải ảnh chiếu của mặt trời [trong hồ] có thể chiếu
sáng tòan bộ thế giới? Nó có thể chiếu sáng dù chỉ là
chiếu sáng một chiếc hồ đơn độc không?
Tánh
giác của chúng ta, Phật Tánh, thì y hệt như chính mặt trời,
hiện hữu như thật tánh của chúng ta. Aûnh chiếu của nó
có thể được so sánh như các niệm của chúng ta – tất
cả các kế họach của chúng ta, ký ức của chúng ta, sự
chấp giữ của chúng ta, sự giận dữ của chúng ta, lòng hẹp
hòi của chúng ta, và vân vân. Một niệm khởi lên theo sau
niệm khác, một chuyển động của tâm xảy ra theo sau chuyển
động khác, cứ y hệt như một ảnh phản chiếu này theo sau
ảnh phản chiếu khác xuất hiện. Nếu bạn kiểm sóat mặt
trời đó trên bầu trời, có phải là bạn tự động kiểm
sóat tòan bộ các ảnh phản chiếu của nó trong nhiều hồ
nước trên tòan thế giới? Tại sao chú ý tới tất cả các
ảnh phản chiếu khác nhau? Thay vì cứ xoay vòng bất tận trong
cõi luân hồi, hãy chứng ngộ ra mặt trời đơn nhất đó.
Nếu bạn chứng ngộ bản tánh của tâm bạn, Phật Tánh đó,
thế là đủ rồi.
Hãy
hiểu sự dị biệt giữa Phật Tánh và các biểu hiện của
nó, tức là các niệm. Niệm xuất hiện trong nhiều lọai.
Có sự chấp giữ, có giận dữ, và có ngu ngốc; có 51 lọai
tâm sở hữu pháp, có 80 trạng thái niệm nội tại, có 84,000
cảm thọ phiền não.
(LND.
Đọan trên là Rinpoche giải thích theo Duy Thức Học, trong đó
phân tích là có 51 lọai tâm sở, fifty-one mental events; còn
80 trạng thái niệm nội tại, eighty innate thought states, có
thể đóan là kết quả của việc lấy 100 pháp trừ đi 20
món tùy phiền não, nhưng Rinpoche không nói chi tiết nơi đây
vì Ngài chỉ bàn tới phương diện thực dụng cho Thiền quán.
Tương tự, con số 84,000 nên hiểu là vô lượng.)
Bất
kể bao nhiêu lọai tâm có thể biến hiện, chúng đều, một
cách đơn giản, là các biểu hiện của bản tánh của tâm.
Và 84,000 lọai khác nhau của cảm thọ phiền não thì y hệt
như 84,000 ảnh phản chiếu khác nhau của mặt trời trong các
hồ nứơc khác nhau. Nếu bạn nắm lấy mặt trời và nhét
nó vào túi mình, thì một cách tự động bạn kiểm sóat tòan
bộ 84,000 ảnh phản chiếu. Tương tự, ngay giây phút mà bạn
chứng ngộ trạng thái tự nhiên của bạn, cái Tâm Phật đó,
cái Tánh Giác đó – trong cùng khỏanh khắc, tòan bộ 84,000
lọai cảm thọ phiền não cũng đồng thời biến mất.
Tất
cả các niệm khác nhau chúng ta có hoặc là trong quá khứ,
hoặc hiện tại hay tương lai, cho nên chúng có thể được
gọi là niệm quá khứ, niệm hiện tại, hay niệm tương lai.
Tiếng Tây Tạng gọi niệm là namtok. Chữ “nam” trong đó
có nghĩa là các hình tướng được nhận biết của năm giác
quan và các đối tượng tinh thần. Tokpa có nghĩa là khái niệm
được hình thành về cái được nhận thức. (LND. Dịch sát
nghĩa theo bản Anh văn như trên thì nghe lạ, nhưng nếu diễn
lại theo cách dùng chữ quen thuộc của PGVN thì sẽ đơn giản
hơn: Ngũ trần hay ngũ cảnh được nhận biết qua ngũ căn
sẽ thành ngũ thức; và do vậy, namtok chỉ có nghĩa là “ý
thức.”) Chúng sinh vẫn đang liên tục bận rộn sinh khởi
ý thức, khởi niệm này theo sau niệm kia về những gì được
kinh nghiệm. Cách suy nghĩ của các niệm trong tâm bạn, một
cách chính xác, là những gì ngăn che sự giải thoát và giác
ngộ.
Nếu
chúng ta tìm cách ngừng niệm thì chỉ tệ hại hơn. Bạn không
có thể rũ bỏ hay ném đi sự suy tưởng. Bạn có thể ném
bỏ cái bóng của bạn sao? Bạn có thể có cách nào cắt dòng
lưu chảy của niệm được tạo ra bởi tâm bạn, có thể
bằng cách kích nổ một quả bom nguyên tử? Như thế có sẽ
ngưng tâm khỏi suy tưởng? Chắc chắn, nó [bom] sẽ giết bạn,
nhưng các niệm của bạn sẽ tiếp tục trong cõi trung ấm
và dẫn vào kiếp sống kế tiếp. Có thứ gì khác trong thế
giới này có thể chận đứng tâm khỏi suy tưởng?
Để
ngưng suy tưởng, bạn cần phải chứng ngộ tự tánh. Nó y
hệt như nhìn thấy mặt trời trên bầu trời chỉ một lần
– là vĩnh viễn về sau, bạn biết mặt trời trông ra sao
rồi. Nếu bạn đuổi theo các ảnh phản chiếu của mặt trời,
bạn sẽ không bao giờ có thể thấy tất cả các ảnh phản
chiếu có thể có. Làm thế sẽ hoài thôi không nghỉ nổi.
Mặt trời trên bầu trời là mặt trời thật, và không có
nó, sẽ không có ảnh phản chiếu nào. Aûnh phản chiếu trong
nước chỉ là một phóng bản thôi.
Cùng
cách đó, tất cả các niệm chỉ là biểu hiện của tự tánh
của bạn; tự chúng không phải là tự tánh của bạn. Nếu
không xa lìa nổi các niệm, nếu không làm tiến trình khởi
niệm tan biến, thì không có cách nào để giải thóat hay giác
ngộ. Có một câu nói, “Hãy sử dụng niệm như chính thuốc
chữa trị cho nó.” Trong cùng cách đó, ảnh phản chiếu của
tất cả mặt trời tới từ mặt trời thật, nguyên gốc.
Nếu bạn nhận ra mặt trời thật trên bầu trời, thì không
cần chạy lòng vòng theo các ảnh phản chiếu của nó trong
thế giới này để tìm thấy nó.
Điều
quan trọng nhất là tâm rỗng rang, nhận biết của bạn. Sự
rỗng rang tự nhiên của nó là pháp thân, cũng gọi là tánh
không. Khả năng tự nhiên của bạn để biết và nhận thức
được gọi là báo thân, tánh biết.
Sau
khi được [thầy hay kinh điển] chỉ ra bản tánh của bạn
và nhận ra tự tánh, bạn thấy rằng không hề có “vật”
nào để thấy. Như tôi đã liên tục nói, “Không thấy một
vật chính là cái thấy tối thượng.” Chúng ta cần thấy
như thế. Nó được thấy ngay ở khỏang khắc bạn nhìn, và
trong khỏanh khắc nhìn thấy [như thế] thì nó được giải
thóat.
Cái
thấy này có thể không kéo dài hơn vài giây đồng hồ, có
lẽ không lâu hơn 3 cái búng ngón tay. Sau cái thời lượng
ngắn ngủi đó, chúng ta hoặc là bị dẫn đi bởi niệm về
cái gì đó, hoặc là chúng ta quên mất (LND. “Quên mất”
dịch từ chữ “forgetful”, có thể hiểu là “mất tỉnh
thức.” Hai chữ này sẽ dùng thay nhau tùy ngữ cảnh.). Điều
đó xảy ra cho tất cả mọi chúng sinh bình thường. Từ vô
lượng kiếp cho tới giờ, chúng ta cứ liên tục bị dẫn
đi bởi sự mất tỉnh thức và bởi suy niệm tư lường.
Ngay
khỏanh khắc mà bạn nhận ra, thì nó được thấy liền. Ngòai
ra không có cái nào khác mà bạn đã bỏ quên. Nó không
giống như hư không nhìn vào chính nó, bởi vì hư không thì
không thấy bất cứ gì. Khi tâm của bạn, vốn có khả năng
biết, nhận ra được chính nó, thì bạn lập tức thấy rằng
không hề có “vật nào” để thấy. Nó đã được thấy
trong cùng khỏanh khắc đó. Vào ngay khỏanh khắc đó, sẽ
không có niệm nào hết, bởi vì cái gọi là “niệm hiện
tại” đã tự nhiên biến mất.
Cái
khỏanh khắc chứng ngộ bản tâm được gọi là tâm bình
thường, cho dù là bạn nói về Đại Thủ Aán (Mahamudra), Đại
Tòan Thiện (Dzogchen) hay Đại Trung Đạo (Great Middle Way). Khi
chứng ngộ, đừng làm bất cứ thứ gì tới nó; đừng tìm
cách điều chỉnh hay tăng tiến nó; đừng biến đổi nó bằng
cách chấp nhận một điều này và bác bỏ một điều khác,
hay bị thúc đẩy bởi hy vọng hay sợ hãi – đừng làm bất
cứ thứ gì tới nó. Một người bình thường thì bị
dính vào chuyện khái niệm hóa với niệm hiện tại. Xin đừng
khái niệm hóa với một niệm hiện tại nào. Niệm hiện tại
có nghĩa là muốn hay không muốn, với hy vọng hay sợ hãi.
Hãy cắt liên hệ ra khỏi niệm hiện tại; đừng theo niệm
này. Khỏanh khắc mà bạn xa lìa khỏi các niệm của ba thời
(quá khứ, hiện tại, vị lai), thì đó là tâm Phật.
Bạn
không phải cố gắng đừng nghĩ về niệm hiện tại. Chúng
ta cần phải tu tập cách buông xả những gì được niệm
tới; đó là cách thiền tập. Trong cách buông xả này, không
có tới ngay cả một hạt bụi để hình dung, do vậy nó không
phải là một hành động của thiền định. Trong cùng lúc
đó, đừng để bị phân tâm ra khỏi đây cho dù một giây
đồng hồ. Cũng y hệt như cố gắng tưởng tượng ra hư không,
bởi vì không có gì cần được tưởng tượng hay là được
thiền quán trên đó. Bạn có cần phải tưởng tượng bất
cứ thứ gì để tưởng tượng hư không?
Khi
chúng ta nghe “Đừng để bị phân tâm,” chúng ta có thể
nghĩ rằng chúng ta phải làm điều gì để không phân tâm.
Người ta thường nghĩ rằng tìm cách duy trì không-phân-tâm
là một lọai hành vi cố ý. Điều này thực sự là như thế,
nếu mục đích là duy trì một trạng thái đặc biệt về
định tâm trong thời gian lâu dài. Hành vi cố ý sẽ cần tới
trong trường hợp đó. Nhưng tôi không nói bạn làm thế. Khỏang
khắc của cái biết rỗng rang tự nhiên không tự nó kéo dài
lâu đâu, nhưng thế là tuyệt nhiên hòan hảo. Bạn không phải
tìm cách kéo dài khỏanh khắc đó; mà chính là, hãy lập lại
nó nhiều lần. “Những khỏanh khắc ngắn, nhiều lần”
– đây là việc thiền tập trong sự tự nhiên không khuôn
thước gì. Sự tự nhiên không khuôn thứơc có nghĩa là bạn
không phải làm bất cứ thứ gì trong trạng thái đó. Nó y
hệt như lắc một cái chuông. Một khi, bạn lắc cái chuông,
thì có sự liên tục âm thanh; bạn không phải làm bất cứ
thứ gì để cho âm thanh tiếp diễn. Chỉ đơn giản để cho
sự liên tục đó kéo dài bởi chính nó, cho tới lúc nào đó
âm thanh tan biến đi.
Vào
khỏang khắc nhận ra được tự tánh tâm, thì hãy để nó
trong trạng thái tự nhiên, đơn giản như nó là. Nếu bạn
cứ lắc chuông hòai, âm thanh sẽ bị gián đọan bởi nỗ
lực cố gắng. Hãy để sự nhận biết [tánh] tự hiển lộ,
mà đừng can thiệp biến đổi nó. Đó là cách không để
mất sự liên tục. Chẳng bao lâu, sự nhận biết [tánh] đó
sẽ biến mất tự nó. Khi mới tu tập, một cách tự nhiên
chúng ta sẽ quên đi sau đó chút xíu. Chúng ta không cần tìm
cách ngăn cản việc đó, hay là canh chừng chống lại với
nỗ lực lớn. Một khi tán tâm, một lần nữa hãy nhận biết
trở lại. Đó là thiền tập.
Mỗi
cấp độ giảng pháp đều có mục tiêu riêng, và cho dù trung
tâm của Phật Pháp là để nhận biết tự tánh tâm và tu
tập trong đó, nhưng vẫn có trở ngại cần được quét sạch
và các pháp tu gia trì cần được thực hiện.
Gọi
là chướng ngại có nghĩa là điều gì đó ngăn không cho chúng
ta ở trong trạng thái tự nhiên. Những thứ này có thể được
quét sạch bởi các pháp tu tập nào đó. Cũng có những pháp
để tăng tiến pháp tu của chúng ta, và để vào chiều sâu
kinh nghiệm hơn. Hai pháp này – quét sạch trở ngại và tăng
tiến trang nghiêm – thì cực kỳ hữu dụng.
Các
chướng ngại bên ngòai thì liên hệ với môi trường của
chúng ta; các chướng ngại bên trong thì liên hệ với thân
thể chúng ta, và các chướng ngại sâu hơn nữa thì liên hệ
tới các mô hình niệm của chúng ta. Để quét sạch trở ngại,
cần phải thực hiện các pháp tư lương, và pháp tu nội quán
về bổn tôn, mật chú và định lực. Các nghiệp chướng
cần được gỡ bỏ, vì chúng là kết quả các hành vi xấu
ngăn cản bản tánh chúng ta. Nương tựa vào Phật, Pháp và
Tăng và vào vị đạo sư, các vị bổn tôn thì sẽ mau chóng
dẹp bỏ được các nghiệp chướng.
Còn
các pháp tăng tiến trang nghiêm là để vun bồi tâm sùng mộ
các vị giác ngộ, và lòng từ bi đối với chúng sinh. Lòng
sùng mộ và từ bi sẽ làm vững mạnh việc nhận ra tự tánh
tâm. Các pháp tu khác cũng giúp trang nghiêm tự tánh tâm; tuy
nhiên, Đức Karmapa đời thứ 3 nói rằng điểm cốt tủy nhất
là, “Trong khỏanh khắc của yêu thương, thì tánh không bắt
đầu chiếu sáng không ngăn che.”
Trong
khỏanh khắc hoặc là lòng sùng mộ hay lòng từ bi được
cảm nhận chân thực, từ sâu thẩm trong tâm chúng ta, thì
thực sự không còn gì ngăn trở chúng ta lâu hơn. Chúng ta
càng tu tập lòng sùng mộ đối với tất cả các vị thầy
giác ngộ, chư Phật và chư Bồ Tát, thì chúng ta càng tăng
tiến trong việc nhận ra tự tánh tâm. Một cách tương tự,
phát khởi lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh cũng sẽ
giúp rất nhiều trong việc trang nghiêm sự chứng ngộ Phật
Tánh.
Chúng
ta hãy kết thúc bài giảng này bằng cách thực hiện phần
cuối của Ba Pháp Thắng Diệu, đó là sự hồi hướng. Xin
nguyện cho công đức học các giáo pháp này, hồi hướng tới
và làm lợi lạc khắp tất cả các chúng sinh.
Tulku
Urgyen Rinpoche (1920-1995) là một trong các đạo sư Đại Tòan
Thiện của thời đại này. Thầy đã học và tu tập cả giáo
pháp Đại Tòan Thiện (Dzogchen) của dòng Nyingma, và pháp Đại
Thủ Aán (Mahamudra) của dòng Kagyu, và là thầy dạy pháp Đại
Tòan Thiện cho Đức Karmapa đời 16. Ngài đã có hơn 20 năm
ẩn tu, trong đó có 4 lần nhập thất, mỗi thất dài 3 năm.
Tulku Urgyen đã thành lập 6 tu viện và các trung tâm nhập thất
tại vùng Kathmandu, nơi bây giờ giáo pháp ngài dạy nối truyền
bởi các con trai ngài là Chokyi Nyima Rinpoche, Choling Rinpoche và
Tsoknyi Rinpoche. Bài viết này trích từ cuốn As It Is, và được
sự cho phép của Rangjung Yeshe Publications. @1999 Tulku Urgyen Rinpoche.
(Hết
bản văn)