Có
những người tuy không hiểu biết nhiều về Phật Giáo nhưng
lại có phần nào quen thuộc với giáo lý bất bạo động
và từ bi của đao Phật, những người này thường hay lầm
tưởng rằng giới Phật tử đều ăn chay. Họ có phần
nào ngạc nhiên pha chút thất vọng khi khám phá ra rằng rất
đông Phật tử ở cả phương Ðông lẫn phương Tây vẫn thường
ăn thịt (ăn mặn), cho dù không nhất thiết là tất cả Phật
tử ai ai cũng ăn thịt như vậy.
Bỏ
qua bên lề vô số những yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định ăn thịt của người Phật tử, dù riêng tư hay liên
quan đến hoàn cảnh xã hội, thì thái độ chung chung của
giới ‘Phật tử ăn mặn’ đều nằm dưới sự chi phối
của những yếu tố văn hoá và lịch sử, mỗi quốc gia một
khác biệt, không quốc gia nào giống quốc gia nào.
Một
ví dụ điển hình là giới Phật tử tu theo Ðại Thừa tại
hai quốc gia Trung Hoa và Việt Nam, sống một nếp sống cổ
truyền, giới Phật tử này thường thường là những nguời
ăn chay thuần thành. Ngược lại, tại Nhật Bản chẳng hạn,
không có gì lạ lùng khi thấy Phật tử ăn mặn, và hơn thế
nữa, tại Tây-Tạng, chuyện Phật tử ăn mặn gần như luôn
luôn là chuyện đương nhiên. Khi Phật Giáo bắt đầu
lan truyền qua Âu Châu, Mỹ Châu và nhiều nơi khác, những
người đệ tử mới tại các nơi này tự động áp dụng
thái độ và các pháp tu tiêu biểu của truyền thống
tu nào mà họ đang noi theo. Ðiều này thật ra cũng là
điều rất tự nhiên.
Tây-Tạng
là một quốc gia tại châu Á mà toàn bộ giáo huấn Phật
Giáo đã được truyền thẳng từ Ấn Ðộ vào Tây-Tạng [không
đi qua một trung gian nào]. Bắt đầu từ thế kỷ thứ
tám trở đi cho đến nay, người dân Tây-Tạng đã một lòng
gắn bó với giáo pháp cao sâu của truyền thống Ðại Thừa,
dưới cả hai dạng Kinh-điển lẫn Mật-điển, qua công phu
nghiên cứu, chiêm nghiệm và thực hành giáo pháp này trong
đời sống hằng ngày, một giáo pháp nghiêng về trí tuệ
và phát triển tâm từ bi hoàn vũ.
Hơn
thế nữa, điều mà ai cũng thấy rõ là chính giáo pháp và
thái độ sống phổ thông trong mọi tầng lớp của người
dân Tây Tạng nói chung, đã tạo được một ảnh hưởng rất
sâu sắc trong mối liên hệ giữa người dân Tây-Tạng và
môi trường thiên nhiên chung quanh.
Trước
ngày Tây-Tạng bị Trung Cộng xâm lăng, khi những người khách
du lịch từ châu Âu lần đầu đặt chân đến Tây-Tạng và
toàn vùng Hy Mã Lạp Sơn, họ đều sửng sốt khi nhìn thấy
cảnh sống vô cùng ôn hoà và rực rỡ của chim muông, dã
thú. Trong một quốc gia mà săn bắn là một hoạt động
rất hiếm hoi, hầu như đều bị mọi người lên án, thì
dã thú, chim muông chẳng còn chút gì phải sợ hãi loài người.
Tuy là như thế, nhưng sự thật hiển nhiên là ngườI dân
Tây-Tạng nói chung, từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ, vẫn
luôn luôn là những người ăn rất nhiều thịt. Lý do chính
yếu [đưa tới tình trạng ăn nhiều thịt này] có liên
hệ đến hai yếu tố thời tiết và địa dư.
Tại Tây Tạng, phần lớn đất đai nằm trên một độ cao
mà mọi việc trồng trọt, canh nông đều là việc bất khả.
Lẽ
dĩ nhiên, thói quen lâu đời thường mọc rễ, trở thành điều
ưa chuộng đặc biệt không thể thiếu, và ngay cả đã có
sẵn một niềm tin vững chắc vào đạo pháp thì rất nhiều
người Tây-Tạng hiện đang sinh sống tại nhiều vùng đất
khác nhau trên quả địa cầu vẫn chưa thay đổi được cách
thức ăn uống dinh dưỡng của họ. Ðiều này tự nó
cũng không phải là điều gì đáng ngạc nhiên.
Phải
từ bỏ những thói quen lâu đời là một việc làm rất khó,
và việc đầu tiên mà khách du lịch hay dân di tản khắp nơi
trên thế giới thường làm một cách thôi thúc là nhập cảng
và cố tìm mua cho bằng được đủ mọi loại thực phẩm
của riêng xứ họ.
Cũng
giống như những người còn lại trong cộng đồng nhân loại,
người dân Tây-Tạng thấy thịt là thức ăn rất ngon miệng,
và họ thường thưởng thức với tất cả sự hào hứng thích
thú. Nhưng ngay cả nếu chuyện ăn thịt đã và đang là
một tập quán bình thường đối với người dân bên trong
xứ Tây-Tạng cũng như đối với cộng đồng lưu vong bên
ngoài Tây-Tạng, thì phương pháp tu tập hằng ngày của truyền
thống Ðại Thừa, chẳng hạn như sự thường xuyên quán
chiếu về tâm từ bi và ước nguyện làm Bồ-Tát giải thoát
tất cả chúng sinh khỏi đau khổ -- phương pháp
tu tập này làm cho ta không thể nào không lên tiếng đặt
câu hỏi về việc ăn thịt [của người Phật tử].
Theo
mẫu mực bình thường thì người Phật-tử Tây-Tạng, ngay
cả những người công nhận mình thuộc dân ăn mặn chính
cống, cũng không hoàn toàn vô cảm trước vấn đề ăn thịt
này. Nhiều người công nhận một cách thẳng thắn là
việc
ăn thịt không thể nào không liên hệ đến hành động sát
hại thú vật một cách có tính toán, và cũng thẳng thắn
công nhận là việc ăn thịt là một chuyện thiếu lý tưởng,
không thích hợp chút nào cho những người Phật tử đang
thực hành theo Phật pháp. Có nhiều người Tây-Tạng
cũng cố gắng tránh ăn thịt trong những ngày lễ, cũng như
trong những thời điểm thiêng liêng trong năm. Nhiều người
tỏ vẻ kính phục truyền thống ăn chay; và rất hiếm có
một vị lạt-ma nào không ca ngợi và cổ võ những ai có thể
ăn chay cho dù chính vị lạt-ma đó vẫn đang ăn mặn
vì lý do này hay lý do khác.
Trong
cộng đồng lưu vong Tây-Tạng tại hai xứ Ấn-Ðộ và Nepal,
có nhiều thay đổi về phong tục tập quán đang từ từ thành
hình, nhất là trong giới trẻ, bởi vì việc ăn thịt
không bắt rễ một cách sâu xa đến vậy trong khung cảnh văn
hoá của hai quốc gia này. Một số tu viện, kể cả tu
viện Namgyal Dratsang, tu viện gốc của đức Ðạt-Lai Lạt-Ma
[tại Ấn Ðộ], đã không cho phép việc nấu nướng thịt
thà trong nhà bếp của tu viện nữa. Và ngay cả khi việc chọn
lựa ăn chay ăn mặn của mỗi tu viện là một chọn lựa có
tính cách độc lập, thì tại ngay những tu viện này, số
các vị tu sĩ và nữ tu sĩ bắt đầu hoàn toàn từ bỏ ăn
thịt ngày càng đông.
Ðối
với riêng những hành giả tại phương Tây, hoàn cảnh của
chúng ta có nhiều điểm dị biệt. Khác với người Tây-Tạng,
chúng ta có thể dễ dàng tìm ra được đủ loại rau trái
bổ dưỡng ở những nơi mà chúng ta đang sinh sống. Cho dù
như vậy, [điều đáng tiếc là] chúng ta lại đến từ một
nền văn hoá mà cả hai truyền thống tôn giáo lẫn đạo lý
đều cho phép và khuyến khích việc ăn thịt. Cái
nhìn từ bi đối với thú vật là một cái nhìn vốn sẵn
có trong tư tưởng Phật giáo và đã thấm nhuần trong tâm
thức của người dân Tây-Tạng cho dù cách thức ăn uống
dinh dưỡng của họ không thực sự đi sát với cái nhìn từ
bi này.
Ngược
lại, xã hội mà chúng ta đang sinh sống hoàn toàn không có
được cái nhìn từ bi như vậy. Phần lớn, trong thế
giới ngày nay, cách đối xử nhân đạo của chúng ta với
những con thú nuôi trong nhà chịu ảnh hưởng của tâm lý
tình cảm và những cân nhắc liên quan đến tiền bạc, vật
chất. Cách đối xử nhân đạo của chúng ta với những
con thú nuôi trong nhà này không phát mầm từ sự hiểu biết
rằng thú vật là những sinh vật cũng được thọ hưởng
trí óc và xúc cảm không khác gì chúng ta, và tự bản chất,
chúng cũng đang phải trải qua những cảnh khổ luân hồi không
khác gì chúng ta. Dù sao đi nữa, đối với những người
Phật tử ở phương Tây, những người do thói quen lẫn ham
muốn đã trở thành ‘dân ăn thịt,’ thì sự thử thách
dựa trên câu hỏi nêu ra về vấn đề ‘ăn mặn’ của Phật
giáo nói chung, và của truyền thống đại thừa nói riêng,
có chìu hướng bị ủ dột, trì trệ thêm. Bởi vì, như
những lý do đã được nêu ra ở trên, người Tây-Tạng cho
dù có thành tâm đến mấy chăng nữa thì họ cũng chẳng giúp
được gì nhiều cho các bạn đồng tu ở phương Tây [trên
vấn đề này], ngoại trừ một số hướng dẫn lý thuyết
suông.
Tình
trạng này còn trở nên rắc rối hơn nữa chính vì sự thâm
nhập của một số lý lẽ biện minh theo truyền thống xưa
cũ, được đưa ra cốt để tha thứ cho việc ăn thịt của
giới Phật tử. Những lý lẽ biện minh này đã được
nhiều người ở phương Tây chấp nhận quá mức dễ dàng,
thiếu óc phê phán. Có lẽ vì chính những người này đã
không đủ khả năng hoặc không đủ ý chí để cân nhắn
và lựa chọn một lối sống khác.
Những
lý lẽ biện minh này gồm có: (1) ý niệm về ba loại thịt
thuần tịnh (tam tịnh nhục), (2) tư tưởng rằng con vật nối
được liên hệ tâm thức với Phật pháp (và từ đó được
nhiều lợi lạc) khi thịt của chúng được chính các hành
giả nhai ăn, và (3) còn nhiều ý niệm khác nữa, đến từ
cái nhìn lệch lạc gom góp từ trong kinh điển đã đọc.
Như
đại sư Shabkar đã trình bày cho chúng ta thấy, những tranh
luận này hoàn toàn sai lạc, hoặc sai lạc quá nửa, và đòi
hỏi một lối diễn giải nghiêm túc, trung thực hơn.
[...] Thật ra việc này cũng dễ hiểu bởi vì những lý
lẽ biện minh trên được nêu lên với chút ân hận trong
lòng; đây là những cố gắng rất ‘người’ (rất ‘gượng
ép nhân tạo’) để cứu vãn lương tâm ray rứt
khi việc từ bỏ ăn thịt trở nên quá khó. Nhưng
trong một hoàn cảnh bình thường, với những người bình
thường [muốn tìm hiểu về vấn đề này một cách nghiêm
chỉnh], thì thật là một sai lầm nếu ta cho rằng những
lý lẽ biện minh đó là những diễn đạt nguyên lý rốt ráo.
Dù
sao đi nữa, điều quan trọng cần biết là tại Tây-Tạng,
hiện nay, cũng như trong quá khứ, đã luôn luôn có một quan
điểm hoàn toàn khác biệt với những lý lẽ biện minh kia.
Ðiều này đã hiện diện ngay từ những ngày đầu tiên nhất
của lịch sử Phật giáo tại Tây-tạng. Quan điểm này đã
được xác nhận một cách vô cùng cương quyết trong những
giáo huấn của đại sư Atisha và của những đệ tử thuộc
giòng truyền thừa Kadampa của ngài. Quan điểm này cũng
được một số nhỏ các cá nhân anh hùng tiếp tục ủng hộ
và chứng thực trong từng thế hệ nối tiếp. Những
trang sách được chuyển ngữ sau đây sẽ cho chúng ta thấy
rằng đại sư Shabkar chính là một người thuộc
trong ‘pháp hội vinh quang’ này -- pháp hội bao gồm những
vị Bồ-tát thực hành theo cả Kinh-điển lẫn Mật-điển.
Nương vào tình thương của họ đối với chúng sinh, và sự
quán chiếu của họ về sự đau khổ chúng sinh phải hứng
chịu mà những vị Bồ-Tát này đã quyết định từ
bỏ ăn thịt cho dù có phải chịu đựng tất cả những thử
thách to lớn, trong một hoàn cảnh sống vô cùng khó khăn,
khắc nghiệt.
Trong
những thảo luận của đại sư Shabkar về vấn đề ăn chay
ăn mặn, ngài đã nêu ra những câu hỏi vô cùng sâu sắc liên
quan nhiều khiá cạnh khác nhau của đạo Phật, ngang tầm vóc
với các giáo huấn thuộc Bà-la-đề-mộc-xoa, Ðại Thừa và
Kim-Cang Thừa. Và như một người đang quan sát nhân loại với
một tấm lòng từ bi rất sáng suốt, đại sư Shabkar đã phất
một luồng ánh sáng vô cùng rực rỡ sắc sảo lên trên nền
tảng xã hội và tôn giáo của thời đại của ngài.
Tác Giả Shabkar
Ðại
sư Shabkar Tsogdruk Rangdrol (1781-1851) đã để lại
nhiều pho văn tự đồ sộ, trong số đó có hai tài liệu
viết về tiểu sử của chính ngài, là một trong những tài
liệu được yêu chuộng và gây nhiều nguồn cảm hứng nhất
trong văn chương Tây-Tạng. Ngoài kho tàng thi ca gồm những
bài thơ và đạo ca trong hai văn kiện tiểu sử này, đại
sư Shabkar đã kể lại cho chúng ta nghe về sự nghiệp tâm
linh của ngài, khởi đầu bằng sự phát tâm từ bỏ thế
gian ngay trong thời thơ ấu, để cuối cùng dẫn đến thành
đạt trọn vẹn quả vị giác ngộ.
Ngài
đã bỏ gần như trọn cuộc đời trong động thất, hoặc
vân du đây đó khắp nơi như một kẻ hành hương, thăm viếng
rất nhiều những địa điểm linh thiêng tại Tây-Tạng và
toàn vùng Hy Mã Lạp Sơn -- từ Amdo và vùng biên giới Mông
Cổ ở phía bắc nơi ngài đã chào đời, cho đến rặng núi
hùng vĩ ở Amnye Manchen, và từ đó, ngang qua hai tỉnh U và
Tang ở miền trung, cho đến những khe núi ở Tsari, rồi đến
Kailash, đỉnh núi linh thiêng ở miền tây, và sau đó, xuôi
nam xuống thung lũng Kathmandu ở xứ Nepal.
Ngài
là một người tột cùng tự do, sống bên lề xã hội.
Phần lớn cuộc đời, ngài đã sống ẩn dật, trên những
rặng núi cao, không có ai bên cạnh chăm lo cho cả, ngoại trừ,
nếu có, một số rất ít những đệ tử tâm truyền nhất.
Những đệ tử này là những người có đủ khả năng
và ý chí để chịu đựng những khó khăn thử thách gây ra
bởi cảnh sống khắc nghiệt, và đã nếm được vị tự
do tuyệt hảo đến từ sự hoàn toàn từ bỏ những lo lắng
tầm thường thế gian.
Ðại
sư Shabkar không hề bị lệ thuộc vào khuôn mẫu mực thước
của xã hội hay của tăng đoàn, và tuy là một vị tỳ khưu
thọ đủ tất cả các giới, ngài chưa hề bao giờ liên kết
mật thiết với một hệ thống tăng-già có thế lực nào
cả, cho dù bất cứ khi nào có dịp là ngài cũng đến thăm
viếng và gia ơn [cho chư tăng tại các tu viện], nhiều khi
với một tấm lòng quảng đại tuyệt vời. Rất yêu
mến giới luật của đời sống tu viện, nhưng cũng hoà mình
thể nhập trong cách sống tự do và cách hành pháp của những
đạo sư du-già tu theo Mật-điển, chắc chắn ngài đã hiện
ra như một mẫu người lập dị trong những chuyến hành hương
liên tiếp của ngài, mặc y vá đụp của một vị tỳ khưu,
với giải khăn choàng màu trắng khoác vai và với mái tóc
dài không cắt tỉa của một đạo sư du-già.
Y phục
bất thường của đại sư Shabkar đã phản ảnh hết sức
trung thực nhân cách và những nỗ lực tâm linh của ngài.
Là một vị tỳ khưu mà cũng là một đạo sư du-già, trong
khi hành pháp, ngài đã phát triển pháp tu của Tiểu-Thừa
bằng tâm đoạn tuyệt thế gian, pháp tu của Ðại-Thừa bằng
tâm đại từ bi đối với tất cả chúng sinh, và pháp tu du-già
tối mật của Mật-Thừa. Cả ba thừa này đều hiện
diện trong Phật-giáo Tây-Tạng, được áp dụng từng giai
đoạn trên con đường tu, và có liên hệ rất nhiều với
giòng truyền thừa Kadampa.
Cho
dù vào thời đại của đại sư Shabkar thì Kadampa không tồn
tại như một giòng phái độc lập riêng rẽ nữa, nhưng những
giáo pháp của truyền thống Kadampa về Lamrim (những-giai-đoạn-trên-con-đường-tu)
đã tỏa ảnh hưởng vô cùng rộng lớn lên tất cả bốn
tông phái chính của Phật-giáo Tây-Tạng, tạo nguồn cảm
hứng cho những luận giải và trước tác tuyệt vời.
Những trước tác này là hạt mầm nuôi lớn đời sống tôn
giáo tại Tây-Tạng cho đến tận ngày hôm nay: chẳng hạn
như luận giải ‘Khi Tâm An Tĩnh’ (The Mind at Rest) của
đại sư Gyalwa Longchenpa, ‘Bảo Châu Trang Sức Của Giải Thoát’
(The Jewel Ornament of Liberation) của đại sư Je Gampopa, ‘Kho
Tàng Của Những Ðức Hạnh Cao Quý’ (The Treasure of Precious
Qualities) của đại sư Vidyadhara Jigme Lingpa, và chính đại
sư Je Tsongkhapa cũng đã viết ‘Ðại Luận Giải Về Những
Giai Ðoạn Trên Con Ðuờng Tu ’ (The Great Exposition of the Stages
of the Path).
Dựa
trên lời huấn thị của đại tôn sư Atisha, hình thái sinh
hoạt bề ngoài của đại sư Shabkar được tô đậm bằng
những giới luật thuần khiết của một nhà tu, trong khi đó,
sâu bên trong, suốt cuộc đời ngài luôn luôn là một hành
giả chuyên quán chiếu về lojong, cổ võ phương cách luyện
tâm dựa trên tâm Bồ-Ðề tương đối (relative bodhicitta)
và tâm Bồ-Ðề viên mãn (absolute bodhicitta). Sau rốt,
trong hình thái sinh hoạt ẩn mật, ngài lại là một đạo
sư du-già chứng đắc, đã thành tựu giác ngộ nhờ vào những
pháp tu mật-điển, nhất là nhờ vào những giáo pháp mật
truyền tối thượng của hai pháp Ðại Viên Mãn (Dzogchen) và
Ðại Thủ Ấn (Mahamudra). Cả ba truyền thống Tiểu-Thưà,
Ðại-Thừa và Mật-Thừa đều được kết hợp trong cách
ngài hành pháp, và chính ngài đã làm cho cách ngài hành pháp
trở nên một thành tựu toàn bích, viên mãn.
Thái
độ của đại sư Shabkar đối với những truyền thống khác
nhau của Phật-giáo Tây-Tạng hòan toàn không bị bất cứ
một đám mây thành khiến nào che mờ. Ðiều chắc chắn
là bởi vì ngài đã sống một cuộc đời tự do độc lập
tuyệt đối, không phải vướng mắc và trung thành với bất
cứ tổ chức nào cũng như không phải bị lệ thuộc vào bất
cứ một vị thí chủ nào. Cả cuộc đời ngài đã sống
một đời sống ‘từ tay đưa lên đến miệng,’ [theo kiểu
ai cho gì thì ăn nấy]. Ngài không có một mái chùa làm nơi
tá túc cố định, và mọi nhu cầu cần thiết được
thu gọn thành tuyệt đối tối thiểu. Nhiều đệ tử
hết sức tin tưởng sùng bái ngài, đã cúng dường cho ngài
rất nhiều tịnh tài, phẩm vật, nhưng ngài luôn luôn mau chóng
chia sẻ, phân phối tất cả những thứ này cho người khác
dưới hình thức cúng dường tôn giáo, hay bố thí từ thiện.
Ðạo pháp đối với ngài là việc phải huấn luyện
và quán chiếu bản thân, không phải là chuyện liên kết với
một giòng truyền thừa nào cả. Ngài rất yêu
mến những giáo pháp của đức Phật dưới bất cứ hình
dạng nào, và thái độ của ngài đối với tất cả
các truyền thống tu học của đạo Phật là sự kính ngưỡng
sùng bái chân thành.
Một
lần nọ, khi còn trẻ, trong lúc đang viếng thăm đại tu viện
Labrang Tshikhyil của giòng Gelugpa tại tỉnh Amdo, đại sư Shabkar
đã cầu nguyện xin cho ngài được đủ túc duyên để thực
hành Phật pháp một cách tuyệt vời trong sáng, không bị thành
kiến làm cho hoen ố. Khi nhắc lại về câu chuyện này
trong tiểu sử của ngài, ngài đã ghi lại nguyên văn một
câu nói của đức Ban-Thiền Lạt-Ma (Panchen Lama), hoá thân
đời thứ 5, minh xác về sự đáng tin cậy của tất cả các
giòng phái khác nhau của Phật-giáo Tây-Tạng. Ðức Ban-Thiền
Lạt-Ma đã phát biểu rằng, ‘Dựa trên những lời nói
này, tôi luôn luôn phát triển lòng kính ngưỡng và sùng bái
đối với tất cả các vị thầy và các giáo huấn của các
ngài, tôi nhìn thấy tất cả đều vô cùng thuần khiết.’
Ðiểm nổi bật nhất trong con người tôn giáo của đại sư
Shabkar là mức độ kết hợp mà ngài đã vận dụng được
giữa những giáo huấn của giòng Nyingma và những giáo huấn
của giòng Gelug, hai giòng phái này trước giờ vẫn thường
được coi là cách xa nhau như hai thái cực. Chuyện này xảy
ra có lẽ cũng là nhờ vào ảnh hưởng xã hội, vì vùng đất
đại sư Shabkar lớn lên nằm rất xa các trung tâm chính trị
và quyền bính; nơi đây, các hành giả thuộc tất cả
các tông phái khác nhau đều sống gần gũi và tự do trò truyện,
trao đổi với nhau.
Gốc
gác của đại sư Shabkar thuộc về giòng truyền thừa của
những đạo sư du-già Nyingma ở Rekong, tỉnh Amdo. Giòng
truyền thừa này rất nổi tiếng nhờ vào những lời nguyện
cam kết (samaya) vô cùng trong sạch, và nhờ vào năng lực thần
thông mà họ đã đạt được qua những chứng đắc tâm linh.
Chính ở vùng đất Rekong này mà đại sư Shabkar đã khởi
sự được rèn luyện về tôn giáo, và điều rất hiển nhiên
là tất cả những hướng dẫn mà ngài nhận được trong thời
gian này, từ lời giảng cho đến những tấm gương sáng trước
mắt, đã để lại một dấu ấn không gì tẩy xóa được
trên nhân cách của ngài.
Vào
năm hai mươi tuổi, ngài thọ giới tỳ khưu với đại sư
Arik Geshe Jampel Gyaltsen Oser, là vị trụ trì và nhà Phật học
của một đại tu viện thuộc giòng Gelug. Chính đại sư Arik
đã khuyên ngài nên đi tìm ngài Chogyal Ngakyi Wangpo, vị đại
tôn sư lừng lẫy thuộc giòng Nyingma mà cũng chính là bổn
sư của ngài. Từ đại tôn sư Chogyal Ngakyi Wango, ngài
đã thọ lãnh tất cả những giáo pháp của giòng Nyingma Cổ-Mật
(Old Translation school), trong đó có cả những hướng dẫn về
trekcho và thogal thuộc pháp tu Ðại Viên Mãn (Dzogchen); pháp
Ðại Viên Mãn sau này trở thành cốt lõi trong công phu tu luyện
của riêng ngài.
Cho
dù như thế, như đã được kể lại trong tiểu sử của ngài,
đại sư Shabkar cũng thường xuyên nhận được những mật
truyền và lễ quán đảnh từ các tân phái, chẳng hạn như
pháp Migtsema mà ngài rất yêu chuộng, tức là bài khẩn nguyện
nổi tiếng dâng lên đại sư Tsongkhapa, viên bảo ngọc trân
quý của Xứ Tuyết Tây-Tạng.
Về
sau, trên những chuyến hành trình đăng đẳng của ngài, ngài
rất hoan hỉ được thăm viếng những cơ sở tu viện vĩ đại
của giòng Gelug tại hai vùng U và Tsang ở trung phần; nơi đây
ngài đã phát tâm cúng dường hết sức rộng rãi, và đã
xin được thọ thêm nhiều giáo pháp tại đây. Ngoài ra, ngài
cũng hành hương đến đại tu viện của giòng Sakya và thọ
lễ gia lực với những người con trai của Wangdu Nyingpo, là
vị nối dõi đời thứ 33 của giòng truyền thừa Sakya.
Rồi nhân thể đang ở trong vùng lân cận, ngài không quên
đến viếng tu viện Jonang Ganden Puntsoling, tu viện gốc của
ngài Taranatha Kunga Nyingpo, nơi đây vẫn còn lưu giữ một tập
tài liệu ghi lại những lời giảng dạy [của ngài Nyingpo]
do chính đại sư Shabkar cho in lại từ một bản khắc bằng
gỗ.
Cuối
cùng, ngài hoàn toàn như người trở lại về mái nhà xưa
khi sống giữa những vị đạo sư du-già thuộc giòng Kagyu
ở đỉnh núi Kailash, và ở nhiều nơi khác nữa.
Khi
đọc lại tiểu sử cuộc đời đại sư Shabkar, trong không
khí tĩnh lặng sùng bái và trong niềm kính ngưỡng tỏa khắp
các giòng truyền thừa, người ta khó có thể đoán được
chiều sâu của những tranh chấp thù nghịch giữa các giòng
phái với nhau, và khó đóan được rằng chính những tranh
chấp này đã từng là bóng đen phủ lên lịch sử xã
hội Tây-Tạng qua nhiều thế hệ. Ðối với tất cả các
giòng truyền thừa của Phật giáo Tây-Tạng, lòng tôn sùng
của đại sư Shabkar mãnh liệt và chân thành đến nỗi chính
ngài đã được tán dương như là ứng thân của những nhân
vật khác nhau trong tất cả các giòng phái này. Ngài được
kính trọng như là hiện thân của Manjushrimitra, một trong những
vị khai sáng ra giòng truyền thừa Ðại Viên Mãn (Dzogchen)
của giòng phái Cổ Mật Nyingma. Ngài còn được công
nhận là hoá thân của đại sư Ngulchu Gyalse Thogme, vị thầy
mà giòng phái Sakya vô cùng kính ngưỡng, và là tái sanh của
đại sư Chengawa Lodro Gyaltsen [thuộc giòng Nyingma], một đệ
tử tâm truyền của đức Je Tsongkhapa. Nhưng, hơn hết
cả, chính dưới bóng của Milarepa, vị đại tôn sư lừng
lẫy nhất của giòng phái Kagyu và nhân vật được yêu mến
nhất trong truyền thống Tây-Tạng, đại sư Shabkar đã được
sùng kính và tán dương vì đã thể nhập trọn vẹn con người
của đạo sư Milarepa. Từ cách sống, tài năng, lòng kiên
trì cho đến những thành tựu chứng đắc, rõ ràng là đại
sư Shabkar đã bước theo những bước chân của đại đạo
sĩ Milarepa.
Ðại
sư Shabkar đã nổi tiếng vì mối quan tâm và tấm lòng trìu
mến của ngài dành cho thú vật. Thái độ của ngài không
những nói lên sự thông cảm và lòng biết ơn đẹp đẽ,
mà thái độ này còn bắt nguồn từ sự hiểu biết thấu
đáo về Phật pháp. Ðối với đại sư Shabkar, cũng như
đối với giới Phật tử nói chung, thú vật trước
hết cả phải được coi như là những sinh vật không khác
gì chúng ta, cũng đang bị mắc kẹt trong những đau khổ của
cõi luân hồi y như chúng ta. Cho dù trên phương
diện thể xác, thú vật có mang hình dạng khác biệt và kỳ
quái đến thế nào chăng nữa, và trên phương diện cảm quan
và giác quan, chúng có thô thiển đến mấy đi nữa, thì thú
vật vẫn may mắn có được trí óc, và trên phương diện
căn bản này, chúng cũng là những con người. Thú vật
cũng bám víu vào cái gọi là ‘ta’ của chúng, đâu khác
gì con người. Do đó, chúng cũng ao ước được hạnh
phúc và được như ý, dựa trên những hiểu biết, nhu cầu
riêng của chúng, và khi không đạt được những điều này
thì chúng cũng đau khổ vô ngần.
So
với con người thì thú vật phải chịu nhiều bất lợi to
lớn. Tâm trí của chúng bị che phủ bởi màn vô minh
dầy dặc hơn con người, và lúc nào chúng cũng bị sức mạnh
của bản năng cầm thú lấn áp. Thú vật thừa hưởng
những giác quan mạnh mẽ và sắc bén hơn con người, nhưng
trí thông minh ít ỏi của chúng không cho phép chúng lãnh hội
được đạo pháp, không thể nào làm được gì để chuyển
hoá từ trạng thái bám chấp đến được trạng thái tự
do giải thoát.
Trong
những năm dài nhập thất ẩn tu trong cô tịch trên những
rặng núi cao, và trong những chuyến đi đơn độc xuyên qua
những miền hoang dã ở Tây-Tạng, chắc chắn đại sư Shabkar
đã có nhiều cơ hội tận mắt nhìn thấy đủ mọi loại
thú, và có dịp quan sát cách chúng sinh sống. Những cơ
hội gần gũi thú vật này, cộng với lối sống hết sức
đơn sơ bình dị, chắc chắn đã tô đậm thêm cho tấm lòng
bi mẫn vốn có của ngài đối với loài thú, và chúng ta có
thể cảm nhận được điều này rất rõ trong vô số những
câu truyện được kể lại trong hai pho tiểu sử của ngài.
Ðời
sống giưã chốn hoang dã, với số lượng thức ăn ít ỏi
và một nơi trú ẩn sơ sài để che mưa che nắng, chắc chắn
đã giúp cho đại sư Shabkar hiểu rõ hơn về những khó khăn
và hiểm nguy trong thiên nhiên mà chim muông dã thú phải đương
đầu chống chọi. Ðã nhiều lần, có lẽ ngài đã phải
trải qua đói khát, lạnh lẽo, và chắc chắn ngài đã từng
chứng kiến cảnh sống bấp bênh và đau khổ của loài thú
khi chúng phải đương đầu với khí hậu luôn luôn thay đổi
không thể đoán trước, và với mối đe dọa đến từ những
con thú săn mồi khác trong thiên nhiên. Dĩ nhiên là ngài
đã tạo được những liên hệ thân thiết với loài thú,
và ngược lại, trong suốt những chuỗi ngày ngài tạm trú
ẩn tu trong động thất, chắc chắn những con thú này cũng
phải cảm thấy quen thuộc với sự hiện diện hiền hoà của
con người kỳ dị đó. Ðôi khi đại sư Shabkar cũng nói
chuyện với thú vật, và nhiều lần, khi lắng nghe tiếng kêu
inh ỏi của những con quạ hay tiếng kêu rầu rĩ của những
con chim cu, ngài tưởng tượng như chúng đang nói chuyện
với ngài, hay đang nói chuyện với nhau. Một lần kia,
ngài đã thuyết một bài pháp đơn giản cho một đàn lừa
hoang (kyang); có vẻ như chúng đã ở lại và lắng nghe ngài.
Một lần khác, chính ngài đã nhận được một bài học rất
thấm thía từ một con cừu già.
Ðiều
rõ ràng mà ta đọc được trong những trước tác của ngài
là ngài thường xuyên xúc động trước vẻ đẹp của loài
thú, và tìm được nhiều an ủi khi làm bạn với chúng.
Lắm khi, chỉ một tiếng kêu của đàn chim, hay tiếng rỉ
rả của côn trùng cũng đưa đến những thấu hiểu tâm linh,
và ngài thường ghi lại những kinh nghiệm này trong những
bài đạo ca.
Từ
những ngày còn bé thơ, đại sư Shabkar đã phải kinh hoàng
trước cách xử sự tàn nhẫn của loài người đối với
thú vật. Trong những trang đầu tiên trong quyển tiểu
sử của ngài, ngài ghi lại một kinh nghiệm thuở ấu thời.
Kinh nghiệm này đã đóng một dấu mộc lên tâm khảm của
ngài cho đến hết cuộc đời.
Một
mùa thu nọ, [dân làng] chúng tôi đã có được một vụ gặt
thật tuyệt hảo.
Tất
cả mọi người trong tất cả các gia đình, giàu nghèo gì
cũng thế, đều nói là chúng ta nên tổ chức ăn mừng.
Ðiều này có nghĩa là không biết bao nhiêu đàn cừu
sẽ phải bị sát hại, bị đem ra xẻ thịt. Thật là một
cảnh tượng vô cùng
khủng
khiếp. Tôi sợ đến thất vía hoảng kinh và trong lòng
dâng tràn bao thương xót. Không thể nào có đủ can đảm để
nấn ná ở chỗ người ta xẻ thịt
nên
tôi phải trốn đi một nơi khác và chờ cho đến khi việc
sát hại kết thúc rồi mới dám quay trở về. Khi trở về,
tôi nhìn thấy thây của những con cừu đã được xẻ thịt
nằm ngổn ngang dưới đất. Tôi thầm nghĩ, ‘Những
người này đã làm một việc vô cùng tồi bại, và người
ta vẫn tiếp tục làm như vậy cho dù người ta dư biết là
họ sẽ phải trả quả ác trong những kiếp kế tới.
Khi lớn lên, tôi nguyện sẽ chỉ sống theo gương chánh pháp.
Tôi sẽ hoàn toàn xa lánh những việc làm tệ hại như vậy.’
Và tôi đã nhiều lần lập đi lập lại lời hứa này với
chính mình.
[KWGJ (The King of Wish-Granting Jewels)
- (Ðại Vương Của Những Viên Ngọc Như Ý), f16] |
Trong
suốt cuộc đời của ngài, đại sư Shabkar cũng như bất cứ
vị thầy nào khác trong Phật giáo, đã thuyết pháp về định
luật nhân quả, và đã khuyến khích người nghe phải tránh
xa hành động giết hại. Ðiều này đôi khi đã đem lại rất
nhiều kết quả khả quan.
Cũng
giống như Jigme Lingpa, một vị tôn giả lão thành cùng thời
với ngài, đại sư Shabkar thường xuyên thực hành
pháp phóng sinh, cứu mạng thú vật bằng cách mua chúng rồi
thả chúng ra. Trong một bài đạo ca, ngài đã kể lại
rằng cho đến năm ngài năm mươi sáu tuổi (ngài thọ đến
tuổi bảy mươi), ngài đã cứu mạng và phóng sinh được
cả thảy vài trăm ngàn sinh mạng thú vật.
Thật
ra, trong thời niên thiếu, có một câu chuyện xảy ra trên
chuyến đi hành hương thủ đô Lhasa và câu chuyện này đã
trở thành mốc điểm thay đổi hoàn toàn cuộc đời cá nhân
của ngài. Giữa những buổi viếng thăm các đền đài, tu
viện, chư tăng, cũng như thăm viếng những nhân vật lãnh
đạo tôn giáo và chính trị đương thời, ngài luôn luôn bị
một ngôi chuà thu hút. Ðó là ngôi chuà tên Jokhang nằm
ngay giữ trung tâm thành phố Lhasa. Nơi đây có an vị
một bức tượng của Jowo Rinpoche [tên người Tây-Tạng gọi
đức Phật Thích Ca]. Bức tượng này là tượng của đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, và theo truyền thuyết, đã được tạc
khi đức Phật Thích Ca vẫn còn tại thế. Bức tượng
này đã và vẫn đang là một pháp bảo trân quý nhất trong
gia tài Phật giáo Tây-Tạng, và trải qua nhiều thế kỷ, luôn
luôn là pháp bảo đón nhận được nhiều chú ý nhất, từ
tài vật cúng dường cho đến những lời cầu nguyện.
‘Một
ngày nọ,’ theo như đại sư Shabkar kể lại trong tiểu sử
của ngài,
‘tôi
đã an trú trong sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong
một khoảng thời gian kéo dài lâu, thật lâu. Tôi hết
sức chí tâm chí thành khấn nguyện, và nhờ đó, đã bước
chân vào được trạng thái an tĩnh sâu xa tuyệt đối. Sau
đó, trong khi tôi đang bách bộ dọc theo con đường để đi
nhiễu (circumambulation) chung quanh thành phố, tôi đã gặp phải
xác của rất nhiều những con cừu và con dê đã bị giết
chết. Ngay giây khắc đó, lòng từ bi như nước lũ dâng
lên thật mãnh liệt trong tôi đến nỗi tôi không thể nào
chịu đựng được nữa vì tôi quá thương xót cho tất cả
những con thú đã bị giết chết trên cõi đời này. Tôi liền
quay gót trở lại trước bức tượng của đức Phật, và
trong khi đảnh lễ, tôi
đã
phát nguyện như sau: ‘Bắt đầu từ ngày hôm nay trở đi,
con nguyện sẽ hoàn toàn chừa bỏ hành động xấu ác ăn thịt
của chúng sinh, mỗi một chúng sinh đã từng là cha mẹ của
con trong quá khứ.’
[KWGJ, f201] |
Ðó
là năm 1812; đại sư Shabkar vừa tròn ba mươi mốt tuổi.
‘Từ giây phút đó trở đi,’ ngài kể tiếp,
‘không
một ai còn sát hại thú vật để làm thức ăn dâng cúng cho
tôi nữa. Tôi còn được nghe kể lại rằng, khi những
vị thí chủ hảo tâm và trung thành của
tôi
biết trước là tôi sắp ghé thăm, họ kháo với nhau là, ‘Ðại
sư này không ăn thịt, ngay cả thịt của một con vật đã
chết một cách tự nhiên (chết già); chúng ta không thể để
cho ngài thấy bất cứ cái gì dính đến thịt khi ngài ở
đây.’ Và họ đem dấu đi hết tất cả những gì dính đến
thịt. Ðiều hiển nhiên là không con
vật
nào còn bị sát hại [để làm thức ăn] cho riêng bản thân
tôi làm cho tôi tin chắc rằng đó là nhờ ơn gia hộ
của chính đức Phật Thích Ca .’ [KWGJ, f201] |
Quyết
định từ bỏ ăn thịt của đại sư Shabkar biểu hiện một
sự hy sinh đáng kể. Ngày hôm nay, những du khách
đến thăm Tây-Tạng cho biết là cơm gạo và rau trái được
nhập cảng qua từ Trung Quốc có thể tìm thấy dễ dàng ở
nhiều nơi, nhưng vào thời đại của đại sư Shabkar thì không
phải là như vậy.
Ðúng
là từ ngàn xưa, tại những vùng đồng bằng ở độ thấp
thuộc miền nam và miền đông Tây-Tạng, người ta có thể
trồng đủ ngũ cốc và rau trái cho phần lớn dân trong nước
dùng để tô điểm thêm cho thói quen ăn uống nặng phần thịt
thà. Nhưng nếu nói là vào thời đó, việc trồng trọt rau
trái được phát triển ở mức độ quy mô có thể cung cấp
đầy đủ số lượng dinh dưỡng cần thiết cho việc ăn uống
bằng rau trái (ăn trường chay) thì điều này hoàn
toàn khó có thể xảy ra. Không có rau trái nào có thể
sống sót được ở những nơi mà độ cao là 20 ngàn thước
Anh, và ở miền bắc Tây-Tạng thì chỉ toàn là những vùng
đồng cỏ bao la bát ngát, phù hợp cho việc chăn nuôi những
loại thú như trâu yak, dê và cừu mà thôi.
Bởi
thế, hành động từ bỏ ăn thịt là một việc làm thật
sự anh hùng, không dễ mấy ai làm được. Ðiều đó
có nghĩa là phải hài lòng với việc ăn uống dinh dưỡng
bao gồm những thức ăn đạm bạc như bơ, sữa đông lạnh,
và tsampa. Tsampa là món ăn thuần tuý của người
dân Tây-Tạng làm bằng bột xay từ lúa mạch đã được
rang vàng; thông thường khi ăn, người ta trộn bột với nước
trà hoặc với bơ rồi vo lại thành viên. Ăn uống như
vậy có nghĩa là sức đề kháng sẽ bị thuyên giảm do thiếu
chất đạm và thiếu chất vitamins. Ðó cũng có nghĩa là sẽ
dễ bị nhiễm lạnh do thiếu chất mỡ trong người. Ta có
thể hiểu được dễ dàng là lối ăn uống kham khổ đạm
bạc như vậy nằm ngoài khả năng chịu đựng của đại đa
số quần chúng tại Tây-Tạng. Ngay cả ở một quốc
gia mà tinh thần Ðại-Thừa bàng bạc khắp mọi nơi, nơi mà
không một ai không biết đến những giáo huấn của đức
Phật về lòng từ bi thì việc phải thực hành giáo huấn
từ bi này qua thói quen ăn uống hằng ngày là một việc làm
bất khả đối với số đông dân chúng.
Trong
trường hợp của những tu viện lớn, nếu như có chư tăng
nào có ước nguyện hoàn toàn bỏ ăn thịt thì điều đó
cũng không thể thực hiện được vì chùa sẽ không có đủ
số lượng rau trái để cung cấp cho quý thầy này. Việc trở
thành một người ăn trường chay tại Tây-Tạng đòi hỏi
một sức chịu đựng mạnh mẽ và một tấm lòng cương quyết
chỉ có thể đến được từ một niềm tin sắt đá nhất
mà thôi.
Tất
cả những điều đã được nêu ra ở trên -- chẳng hạn như
công phu tu tập của đại sư Shabkar đã trải rộng khắp tất
cả các giáo huấn, hoặc tình đoàn kết vô điều kiện của
ngài với tất cả các giòng truyền thưà của Phật-giáo Tây-Tạng,
hoặc sự nghiêm túc và hoàn hảo của nhân cách của ngài,
hoặc những hy sinh mà ngài sẵn sàng chấp nhận cốt chỉ
để được sống cho đúng với lý tưởng và những hiểu
biết rốt ráo của mình -- tất cả những điều này đủ
để đại sư Shabkar có được một chỗ đứng khác thường,
và cho phép ngài nói lên tiếng nói chính thức cho cả một
truyền thống [của những người nguyện bỏ thịt ăn chay].
Do đó, những gì ngài nói ra về vấn đề ăn thịt và sự
liên hệ giữa việc ăn thịt và việc thực hành Phật pháp
là những điều rất quan trọng. Chúng ta cần phải lắng
nghe, cho dù rất có thể những điều này đi ngược lại với
cái nhìn và những gì mà chúng ta yêu thích, hoặc có chiều
hướng nằm ngoài khả năng thực hiện của chúng ta.
Trước
khi chúng ta đào sâu chi tiết về những lý luận của đại
sư Shabkar, chúng ta cần nên phổ biến cho mọi người biết
điều này: thật là vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói
là không thể thực hiện được, để đi đến một định
nghĩa chung dựa trên giáo lý của đạo Phật về vấn đề
ăn thịt -- định nghĩa chung nào mà có thể kêu gọi được
sự biểu đồng tình từ tất cả các phe phái. Ðiều
này vô cùng khó bởi vì chính thái độ của đức Phật về
vấn đề ăn thịt, như đã được ghi lại trong kinh điển,
xem chừng là một thái độ mơ hồ, không rõ ràng. Trong
một số kinh điển, nhất là trong các bộ kinh tìm thấy trong
truyền thống Tiểu-Thừa, chúng ta thấy là đức Phật khuyên
các đệ tử nên bỏ ăn chỉ có vài ba loại thịt [được
coi là không trong sạch]; do đó, lời khuyên này có hàm ý là
ngoài ba loại thịt không trong sạch đã bị cấm thì thịt
nói chung là một món ăn có thể chấp nhận được. Ðức
Phật cũng cho phép tăng đoàn ăn những loại thịt đặc biệt
có đủ tiêu chuẩn [được coi là trong sạch]. Trong những
dịp khác, người ta nói là chính đức Phật cũng đã ăn thịt,
và có những nguồn tin xác nhận rằng cái chết của đức
Phật xảy ra vì ngài đã ăn phải một món thịt heo đã nhiễm
độc do đệ tử cúng dường. Ðiều này đã gây ra ít
nhiều tranh cãi. Ở những nơi khác, rõ ràng nhất là
trong kinh Lăng-già (Lankavatara-sutra) cũng như trong các kinh điển
Ðại-Thừa khác, đức Phật lại chỉ trích việc ăn thịt
một cách nặng nề bằng những lời lẽ quyết liệt nhất,
và cấm ngặt việc ăn thịt trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Cuối cùng, trong một số các bộ luận đặc biệt thuộc về
Mật-Ðiển, việc ăn thịt, cũng như uống rượu, không những
được cho phép mà còn có vẻ như được tán thành và cổ
võ.
Ðại
sư Shabkar đã tiếp cận vấn đề hóc búa này bằng tinh thần
của con đường chuyển hoá từ từ (the gradual path), và ngài
giải thích về những xung đột quá rõ ràng trong kinh điển
như là những biểu lộ của khả năng giáo huấn của đức
Phật. Ðã chứng được đạo quả giác ngộ, đức Phật
không có ý định đi tìm cách chứng minh quyền năng của ngài
bằng cách tuyên bố rằng chân đế tối thượng hoà nhập
tánh Không, vì ngài biết rằng điều này nằm ngoài khả năng
lãnh hội của thính chúng. Ước nguyện đầu tiên của
ngài là giúp cho những người khác đạt đến được trình
độ hiểu biết như ngài, và qua cách đó, ngài là một người
vô cùng thực tiễn. Ngài biết là người ta chỉ có thể
chuyển hoá nhờ vào những gì mà người ta có thể hiểu được
hoặc thực sự áp dụng được, nên ngài không làm cho họ
bối rối với những lời lẽ cao siêu, viễn vông, hay cố
gắng áp đặt những giới luật nằm ngoài khả năng của
họ. Ngược lại, ngài đã thuyết pháp tuỳ theo
căn cơ và nhu cầu của đại chúng.
Do
đó, những giáo huấn được ghi lại trong kinh điển là những
chứng cứ tuỳ hoàn cảnh, được nói ra trong một trường
hợp đặc biệt nào đó, với riêng một số cá nhân nào đó.
Giáo huấn thích hợp với một cá nhân hay một nhóm nhỏ cá
nhân không nhất thiết là thích hợp cho những kẻ khác.
Những lời hướng dẫn dành riêng cho những đệ tử căn cơ
thượng thừa có phần nào gần gũi với chính hiểu biết
của đức Phật, chắc chắn những lời hướng dẫn này không
thể phù hợp với những đệ tử sơ căn là những người
rất cần một con đường chuyển hóa từ từ. Tất cả kinh
điển Phật giáo biểu trưng cho toàn bộ giáo huấn ở tầm
mức rộng rãi, nhưng tựu chung, tất cả những giáo huấn
này chỉ có một mục tiêu duy nhất là đưa chúng sinh
đến bờ giải thoát.
Có
hai điều mà chúng ta có thể kết luận được sau đây. Thứ
nhất, phải công nhận là có một hệ thống giáo huấn rất
quy củ, rất xác thực. Hệ thống giáo huấn này gồm
có những hướng dẫn căn bản, cần thiết được giảng dạy
tuỳ theo nhu cầu, và tiếp theo sau đó, là những hướng dẫn
ở mức độ đòi hỏi cao hơn, được đào sâu hơn khi nào
học trò đã sẵn sàng hơn. Ðối với đại sư Shabkar
cũng như đối với tất cả các vị thầy theo truyền thống
Phật giáo Tây-Tạng, những giáo huấn được đề ra trong
Tiểu-Thừa là những giáo huấn tột cùng quan trọng, đặt
nền móng cho sự hiểu biết chín chắn và thực hành chín
chắn. Nhưng những giáo huấn này không phải là chấm hết.
Những giáo huấn của Ðại-thừa vượt trội lên trên những
giáo huấn Tiểu-Thừa, và cũng như thế,ngay trong truyền thống
Ðại-Thừa, những giáo huấn Kinh-Ðiển là nền móng chuẩn
bị cho sự vượt trội của những giáo huấn về Mật-Ðiển.
Nhờ vào đó, toàn bộ giáo huấn của đức Phật đã dung
nhập một cách rất hoà hợp và khít khao; những hướng dẫn
xem chừng thiếu sót ở tầm nhìn cao được đặt đúng vào
vị trí căn bản, cần cho sự chuẩn bị ở phía dưới
của cây thước đo. Nếu nhìn theo cái nhìn như trên thì những
giáo huấn trong kinh điển của cả Tiểu-Thừa lẫn Ðại-Thừa
đều có thể hoà hợp thống nhất với nhau, và thật
sự không cần thiết để phải ước đóan, như có
một số người có thẩm quyền đã làm, rằng có thể có
nhiều kinh điển đã được học trò đời sau hoặc tự ý
thêm vào, hoặc cố tình diễn giải sai lạc những lời Phật
dạy.
Kết
luận quan trọng thứ nhì là những các giáo huấn của đức
Phật đều vô cùng xác thực tuỳ trường hợp và tùy
hoàn cảnh mà giáo huấn đó đã được giảng dạy.
Thật là một lỗi lầm to lớn nếu ta trích dẫn và áp dụng
những giáo huấn này một cách chung chung, không đặt chúng
trong đúng khung cảnh đã được đề ra cho việc chỉ dạy.
Do đó, phải hiểu là một giáo huấn được đưa ra trong khung
cảnh Tiểu-Thưà nằm bên ngoài khung cảnh của Ðại-Thưà,
cũng như giáo huấn này sẽ không xác thực cho mấy khi được
đem lồng vào khung cảnh Ðại-Thừa. Như đại sư Shabkar
đã chứng minh cho chúng ta thấy, phần lớn, chính cách nhìn
hời hợt và sai lạc của chúng ta khi đọc kinh điển đã
đưa đến tình trạng hoang mang bối rối [khi chúng ta đề
cập đến] vấn đề ăn mặn trong đạo Phật.
Như
chúng ta đã nhận thấy, cho dù truyền thống Ðại-Thừa hiện
diện khắp nơi ở Tây-Tạng, cho dù rất nhiều vị đại sư
đã thuyết giảng và sống theo đúng tất cả những gì rốt
ráo tinh khiết nhất của giáo huấn của Ðại-Thừa, nhưng
việc áp dụng tinh thần Ðại-Thưà trên vấn đề ăn thịt
là một áp dụng không thực tế với đa số người dân Tây-Tạng.
Và như chúng ta đã suy đoán, cách dùng kinh điển và trích
dẫn kinh điển vô căn cứ (đặt bên ngoài hoàn cảnh mà giáo
huấn đó đã đuợc giảng dạy), thật ra chỉ là một phần
của một khung cảnh ‘nhân tạo.’ Khi người ta bị
cưỡng ép, chính vì những yếu điểm của họ, để hành
động trái ngược lại với lý tưởng thì điều tự nhiên
nhất là người ta sẽ cố gắng tìm cách biện minh hoặc
chứng minh rằng việc làm của mình là đúng, một là
để đỡ quê mặt, hai là để làm nhẹ bớt hậu quả tâm
lý nặng trĩu gây ra vì việc làm này. Trong những trường
hợp thực sự khó khăn, điều tự nhiên nhất người ta làm
vẫn là không tìm cách chống chỏi mà cứ buông xuôi theo hoàn
cảnh. Chẳng hạn như ở hai vùng Kham và Amdo, vào cuối
mùa đông, người ta đói kinh khủng là đói. Nếu vào
lúc đó, người ta có thịt để ăn thì phải là một người
có trái tim sắt đá ghê lắm mới nỡ lên tiếng phê bình
và đặt câu hỏi với những kẻ đi mua thịt về để ăn--
cho dù những kẻ này chẳng hề lo nghĩ xem thịt này từ đâu
tới và tự cho là họ không có trách nhiệm gì hết với cái
chết của con vật.
Nhưng
cho dù những lý luận dựa trên hoàn cảnh đặc biệt này,
đã và đang từng có sức thuyết phục đến thế nào chăng
nữa tại Tây-Tạng, thì điều quan trọng vẫn là việc phải
tiếp tục giữ gìn những nguyên tắc trọng yếu.
Cho dù việc ăn thịt có thể được biện minh một cách thích
đáng trong một vài trường hợp cá nhân hoặc hoàn cảnh đặc
biệt, nhưng chúng ta không thể để cho điều này che mờ một
sự thật hiển nhiên khác: đó là việc ăn thịt có khả
năng phá hoại lý tưởng Ðại-Thừa, và trong những
trường hợp bình thường khác, việc ăn thịt tự nó là một
việc làm không thể nào chống chế hay bào chữa được. Có
một điều rất rõ ràng trong những trước tác của đại
sư Shabkar, điều này trở thành là một trong những mối bận
tâm nhất của ngài: Cho dù những điều kiện thực tế
có khó khăn đến cách mấy chăng nữa thì chúng ta vẫn cần
phải cất lên tiếng nói trung thực và giữ cho lý tưởng
sống còn. Tất cả những điều này đã giúp đưa
đại sư Shabkar lên một địa vị sắc sảo, nổi bật hơn
nữa. Những giáo huấn về vấn đề ăn thịt của ngài xem
chừng rất lạ thường và quá lý tưởng ngay chính ở phương
Tây giàu mạnh, đừng nói chi đến xứ Tây-Tạng với những
điều kiện sống vô cùng kham khổ, khắc nghiệt.
Cho
dù như vậy, điều hiển nhiên ở đây là không có giới luật
nào mà không uyển chuyển [không có cái gì quá cứng ngắc,
quá cố định]. Bất kể khung cảnh văn hoá địa dư như thế
nào thì hành động cư xử của mỗi người vẫn tuỳ thuộc
nơi căn cơ và sự lựa chọn của riêng cá nhân. Có một
điều rõ ràng là [khi phải lựa chọn hành động], sự thành-tâm-dựa-trên-hiểu-biết-đúng-đắn
là yếu tố quan trọng nhất, cho dù lắm khi ta phải công nhận
là sự ‘tự lừa dối’ cũng có thể trở thành một
người bạn đường dai dẳng, nhất là khi khả năng xét đóan
của ta bị lòng ham muốn và năng lực của thói quen lôi kéo.
Ðại
sư Shabkar hoàn toàn ý thức về những yếu tố rắc rối này,
và thái độ của ngài đến từ một cái nhìn thực tiễn
nhuộm lòng từ bi. Ngài ân hận và thương xót nhìn thấy
cảnh tượng [người ta ăn thịt], nhưng đồng thời, ngài
cũng biết rất rõ pháp tu [bỏ ăn thịt] mà ngài đang cổ
võ là một việc làm quá tầm tay với đối với rất nhiều
đồng bào Tây-Tạng của ngài. Dù sao đi nữa, ngài
vẫn tiếp tục cổ võ pháp tu này, nhưng cổ võ mà
không xét đoán hay ra mặt đạo đức. Ngài thương
xót cho những nạn nhân của đồ tể, và tỏ ra thiếu kiên
nhẫn với thuật ngụy biện và đạo đức giả của một
số các pháp tu đã ổn định lâu đời. Nhưng
ngài cũng biết là trong những trường hợp này -- rất
có thể là trong bất cứ trường hợp nào khác cũng thế --
điều tốt nhất mà ngài có thể làm để giúp cho hoàn cảnh
trở nên sáng sủa hơn là thuyết phục và làm gương cho mọi
người.
Phần
đầu trong quyển tiểu sử của đại sư Shabkar được kết
thúc bằng những câu kệ, ngài đã duyệt lại thành quả của
mình kể cho đến ngày hôm đó, tức là cho đến năm ngài
56 tuổi. Tự lên tiếng thay cho mình, ngài nói như sau, ‘Tôi
đã giữ trọn giới khất sĩ Ba-la-đề-mộc-xoa (Pratimoksha),
Bồ-Tát giới, cũng như những giới của Mật-Thừa. Tôi đã
từ bỏ thịt, rượu, tỏi, hành, và thuốc lá, và nuôi sống
tôi bằng ba thực phẩm trắng, ba thực phẩm ngọt, bằng
trà và bơ và bột tsampa.’ [KWGJ, f480b] Sau
đó, ngài nhắc đến những đệ tử của ngài: 108 đại đệ
tử tâm truyền, 1,800 đại thiền giả, cả nam lẫn nữ,
mười ngàn, trăm ngàn những vị tăng ni là môn đồ của
ngài hiện đang sống trong những tu viện, cũng như vô số
những đạo sư du-già, những hành giả sống tại các làng
mạc, cùng những người tu tại gia, họ đã cố gắng
tu tập như thế nào qua việc cầu nguyện, nhịn ăn (fasting),
và trì chú. Trong số đệ tử khổng lồ này, ngài nhắc riêng
đến một số người mà ngài dành cho danh dự đặc biệt,
những người này ‘nhờ chứng đắc được tâm từ
bi và tâm Bồ-Ðề tối thượng, đã hoàn toàn bỏ ăn thịt.’
[KWGJ, f480b] Số người này lên đến khoảng 300 người
-- một con số ít ỏi so với tổng số đệ tử của ngài
nhưng đã được ngài nhắc đến với tất cả lòng hoan hỉ
biết ơn.
Tất
cả những đệ tử còn lại của đại sư Shabkar đều là
dân ăn thịt -- ngài đã thâu nhận họ như những người học
trò cần được huấn luyện trên con đường tu. Trong
phần viết về ‘Những Lỗi Lầm Của Việc Ăn Thịt’
(The Faults of Eating Meat), đại sư Shabkar trích dẫn Ðại-bát
Niết-bàn kinh (Mahaparinirvana-sutra), trong đó đức Phật có
nói rằng, ‘Giáo huấn của ta không giống như là giáo
huấn của một kẻ trần truồng tu khổ hạnh. Ta, đấng
Như Lai, đưa ra những giới luật có liên hệ với từng trường
hợp của từng cá nhân.’ Noi theo truyền thống
đó, đại sư Shabkar không phải là một người theo chủ nghĩa
cố chấp, chỉ biết cổ võ một giới luật duy nhất trong
tất cả mọi hoàn cảnh. Ðiều ngài quan tâm đến nhất
là mọi người cần phải thay đổi và trưởng thành.
Ðối với chúng ta là những người đang đi trên con đường
đạo, chúng ta đang phải đối diện với những đòi
hỏi đôi khi quá sức chịu đựng của mình. Do đó, phương
cách hữu hiệu và thực tế nhất để chúng ta có thể tiếp
cận những vấn đề này là tự nhận lấy một thái độ
nhún nhường, và sẵn sàng dấn bước khởi đầu từ ngay
nơi chúng ta đang đứng (‘start where we are’), với tất cả
vốn liếng thô thiển sẵn có trong ta, với tất cả những
cá tính của riêng ta, những nhu cầu của ta, những yếu điểm
của ta. Nếu, vì bất cứ lý do gì mà chúng ta không thể bỏ
ăn thịt được thì chính trong địa vị của người đang
ăn thịt, chúng ta sẽ khởi sự tự rèn luyện. Và hiển nhiên
là chúng ta đang được rèn luyện và đang tiến dần đến
một mục đích. Chỉ một điều này không thôi cũng đủ
là lý do chính đáng để ta cần phải tôn trọng ý kiến [về
việc bỏ ăn thịt] và không nên áp đảo ý kiến này bằng
những tranh luận phiến diện. Khi ta chấp nhận rằng
ta có tiềm năng để thay đổi thì đây chính là điều kiện
tiên quyết cho những tiến triển đạo đức. Theo
bước chân của chư Bồ-Tát, ta phải sẵn sàng chờ đợi
chuyện ta sẽ được chuyển hoá; và trong chiều sâu và chiều
rộng của sự chuyển hoá đó, thì chuyện ta có thể
phải điều chỉnh cách thức ăn uống dinh dưỡng xem ra cũng
chỉ là một thay đổi rất nhỏ bé mà thôi.
Shabkar
và Truyền Thống Ăn Chay Trong Phật Giáo Tây Tạng, Đại sư
Shabkar
(ấn
bản PDF để in)
Lời
Giới Thiệu của Nhóm Dịch Thuật Padmakara
SHABKAR
Và TRUYỀN THỐNG ĂN CHAY TRONG PHẬT GIÁO TÂY-TẠNG
Trích
từ tập sách ‘Thức Ăn Cho Bồ Tát‘ Những Giáo Huấn Của
Ðạo Phật Về ViệcTừ Bỏ Ăn Thịt (Padmakara Translation Group
2004)
Tập
sách ‘Food For Bodhisattvas’ (Thức Ăn Cho Bồ Tát) của
Ðại sư Shabkar do nhóm Padmakara Translation Group chuyển Anh-ngữ
và do Shambhala Publications xuất bản vào năm 2004 www.shambhala.com
________________________________________________________
Tâm-Bảo-Ðàn
chuyển Việt-ngữ trích đoạn Lời Giới Thiệu của tập sách
trên do nhóm Padmakara biên soạn để cúng dường Drubwang
Norbu Rinpoche
tháng
9/ 2005.
OM
MANI PADME HUNG
Viet_Vajra
Foundation trình bày và ấn tống tháng 11/2006
để
kỷ niệm ngày ra mắt trang nhà www.shabkar.org - A Non-profit
Website Dedicated to Vegetarianism as a Buddhist Way of Life.
Muốn
nhận bản gốc điện tử hoặc đọc các tài liệu dịch thuật
về Kim Cang Thừa-Phật Giáo Tây Tạng, xin vào xem trang nhà
www.vietvajra.org
Mọi
sai sót là của người chuyển Việt-ngữ.
Mọi
công đức xin hồi hướng pháp giới chúng sinh
03-30-2007
04:32