VI.
MỘT VÀI ÐỀ NGHỊ ÐỂ CẢI TIẾN
QUÁ
ÍT
Bây
giờ chúng tôi hầu như gần kết thúc, chúng tôi muốn có
một vài đề nghị làm sao khoa học có thể cải tiến.
Ðiểm
thứ nhất mà chúng tôi muốn nói đến là điểm đã nói trước
đây, về sự " thiếu thốn". Khoa học không đầy đủ để
giải quyết các khó khăn trên thế giói hiện đại. Chúng
tôi muốn lấy môi sinh làm thí dụ, vì vấn đề bảo vệ
môi sinh là một trong những vấn đề quan trọng của thời
đại chúng ta, và khoa học phải giữ một vai trò lãnh đạo
để giải quyết vấn đề, nhất là về phương diện nghiên
cứu và đề nghị các giải pháp.
Kiến
thức khoa học không giá trị. Khoa học có thể báo động
cho chúng ta về những nguy hiểm hiện hữu, nguyên nhân, và
những phương cách mà chúng ta phải đối đầu. Kỹ thuật,
bắt nguồn từ khoa học, là khí cụ thiết yếu trong công
việc này. Nhưng dù chúng ta có những khí cụ có giá trị
như trên vẫn chưa đủ cho chúng ta giải quyết vấn đề.
Hơn thế nữa, khi chúng ta xét nguyên nhân của những khó khăn
này, chúng ta tìm thấy chúng phát xuất từ khoa học và kỹ
thuật.
Khoa
học và kỹ thuật không thể sửa chữa công việc làm của
chính mình. Mặc dù chúng ta có đủ kiến thức cần thiết,
nhưng chúng ta lại không sử dụng. Thay vì có khả năng kỹ
thuật giải quyết vấn đề, chúng ta lại tiếp tục loại
kỹ thuật làm trầm trọng thêm. Ðơn giản, kiến thức khoa
học không thể thay đổi tư cách đạo đức của con người
thay vì sự kiện là nếu kỹ thuật đứng đắn được sử
dụng chúng ta có thể giải quyết những khó khăn mà chúng
ta phải đối đầu. Những toan tính dể giải quyết những
khó khăn ấy đều bị tắc nghẽn vì lưỡng lự. Trong khoa
học tương lai ngay tức khắc, khoa học phải tự mình bằng
lòng làm việc với sự rèn luyện trí óc khác, cung cấp các
dữ kiện cho một nỗ lực tập thể để giải quyết những
khó khăn ấy.
Bây
giờ cái gì có thể sử dụng để giải quyết khó khăn của
nhân loại thêm vào khoa học và kỹ thuật? Từ quan điểm
Phật giáo, giải quyết khó khăn của nhân loại, bất kỳ
loại nào, bao giờ cũng phải thực thi với ba phương pháp
trọng yếu vì những khó khăn của nhân loại phát xuất trên
mức độ khác nhau .
Về
phương cách môi sinh chẳng hạn, có ba mức độ phải được
hội nhập là:
1.
Mức độ về tư cách đạo đức.
2.
Mức độ về tâm.
3.
Mức độ về sự hiểu biết.
Ba
mức độ phải được hợp nhất trong tiến trình giải quyết
khó khăn:
1.
Trên mức độ tư cách đạo đức, phải có sự kiềm chế
xã hội, đó là kiềm chế sự phóng khoáng thân thể ra phía
ngoài và tư cách cách đạo đúc về nói năng.
Có
hai phương cách kiềm chế cách cư xử ngoài xã hội:
- Thứ
nhất, kiềm chế không cần đến điều lệ hay luật gồm
hình phạt cho những kẻ phá luật lệ vân vân. Trong Phật
Giáo gọi là 'vinaya' (luật).
- Phương
cách thứ hai kiềm chế từ trong phạm vi cá nhân, do ý định.
Hầu hết trong những trường hợp ý định phát xuất từ
tín ngưỡng tôn giáo. Nếu, thí dụ, có đức tin, và tin tưởng
trong tôn giáo, có sự sẵn lòng và thiện chí để kiềm chế
tư cách đạo đức. Phương cách này trong Phật Giáo gọi là
sila (giới).
Tóm
lại phương cách thứ nhất là vinaya (luật) - Ðiều lệ và
tiêu chuẩn để ngăn ngừa các hành động phá hoại, và phương
cách thứ hai là sila (giới)- dụng ý có lý trí để kiềm
chế hầu khỏi vi phạm những giới cần phải tôn trọng.
Cả
hai phương cách này đều liên hệ đến việc kiểm soát và
huấn luyện tư cách đạo đức. Trên phương diện xã hội,
rất cần thiết thiết lập những luật lệ, nhưng cũng chưa
đủ. Chúng ta phải cần phải có giới để tuân theo vâng
giữ cho đến khi hạnh kiểm của chúng ta không còn vương
mắc và được điều hòa.
2.
Vì tâm là yếu tố tạo nguyên nhân của các vấn đề: Nếu
chúng ta muốn mọi người tham gia vào việc bảo vệ thiên
nhiên, trước tiên chúng ta phải đặt sự ham thích này trong
tâm của mọi người. Cho nên từ "việc bảo vệ thiên nhiên",
chúng ta đi đến "ham thích bảo vệ thiên nhiên".
Từ
đâu sự ham thích bảo vệ thiên nhiên phát xuất? Sụ ham muốn
này phát xuất từ lòng mến yêu thiên nhiên. Nếu có sự cảm
kích với thiên nhiên, ham thích bảo vệ thiên nhiên tự nhiên
sẽ bộc phát theo sau. Nhưng chưa phải là hết - người dân
chỉ cảm kích thiên nhiên khi họ sống hạnh phúc với thiên
nhiên.
Dường
như hầu hết mọi người đã nhận thức được sự quan trọng
việc cảm kích thiên nhiên, nhưng tất cả những gì họ nhìn
thấy đều chỉ rất ngắn ngủi. Họ không nhìn thấy cả
chuỗi những điều kiện. Bao lâu mà họ không nhìn được
tất cả các yếu tố liên đới, những dự tính để giải
quyết vấn đề đều sẽ thất bại. Chúng ta phải nghiên
cứu sâu xa để tìm ra đầu mối của chuỗi ấy, để nhìn
thấy nhu cầu gì cần phải làm để khuyến khích người dân
cảm mến thiên nhiên.
Lòng
mến yêu thiên nhiên sẽ phát xuất với khó khăn nếu người
dân sống không hạnh phúc với thiên nhiên. Người dân phải
có tâm sống thoải mái với thiên nhiên trước khi họ có
thể mến yêu thiên nhiên, và từ đó họ có thể phát triển
lòng ham thích bảo vệ thiên nhiên và sẽ dẫn đến công việc
bảo vệ ngày nay.
Dù
vậy có nhiều yếu tố khác hay những ngăn ngại trong chuỗi
điều kiện của chúng ta, điều này quá đủ đưa đến ý
kiến tổng quát. Cho đến nay khoa học đã có một vai trò
quan trọng trong việc ngăn chặn tiến trình này hoạt động.
Ðó là lòng ham thích tìm hạnh phúc từ sự khai thác thiên
nhiên khiến cho người ta cảm thấy, sâu xa trong phạm vi của
mình, là con người chỉ hạnh phúc nhờ kỹ thuật, và thiên
nhiên là một trở ngại cho hạnh phúc này.
Nhiều
trẻ em trong hiện tại cảm thấy hạnh phúc của chúng nằm
nơi kỹ thuật, và cảm thấy không thoải mái với thiên nhiên.
Thậm chí, chúng có thể đi xa hơn nữa coi thiên nhiên như
kẻ thù, một trở ngại cho hạnh phúc của chúng. Thiên nhiên
phải được chinh phục để có thể vui hưởng hạnh phúc
của kỹ thuật. Hãy nhìn vào tâm của người ta trong thời
đại này. Bạn có thể nhìn thấy hầu hết mọi người trong
xã hội đều nghĩ như vậy. Ðó là kết quả từ ảnh hưởng
của khoa học trong Thời Ðại Kỹ Nghệ mới đây.
Tin
tưởng chinh phục thiên nhiên và tìm hạnh phúc trong hàng hóa
vật chất biểu hiện và chủ trương bởi kỹ thuật đã ngự
trị trong tâm con người một thời gian lâu khiến con người
có cảm nghĩ thiên nhiên là kẻ thù, một chướng ngại cho
sự tiến bộ của nhân loại. Bao lâu mà cảm nghĩ này còn
lan tràn, sẽ rất khó khăn cho con người mến yêu thiên nhiên
vì con người không thể tìm được hạnh phúc trong thiên nhiên.
Vì
lý do này, đường lối suy nghĩ của chúng ta phải thay đổi.
Nếu chúng ta tiếp tục sống trong thế giới thiên nhiên, chúng
ta phải tìm thấy điểm quân bình, và để chúng ta có thể
làm được việc đó, chúng ta phải phát triển lòng cảm mến
thiên nhiên, ít nhất cũng nhìn thấy điều thiên nhiên cho
chúng ta hạnh phúc. Có rất nhiều cái đẹp trong thiên nhiên,
và kỹ thuật có thể sử dụng để nâng cao sự cảm kích
thiên nhiên.
Ðể
được hữu hiệu hơn, sự chế ngự cách hành xử của chúng
ta rất cần thiết được hỗ trợ bởi sự nhận thức tinh
thần. Nếu thừa nhận một hành động khéo léo hay một ý
tưởng đẹp đẽ trong cách hành xử như vậy, hay có đủ
động lực khiến chúng ta tự nguyện bắt đầu rèn luyện
nhân cách của chúng ta trong một đường lối xây dựng, rồi
nhu cầu tự huấn luyện không cần phải bắt buộc hay cần
đến một thao tác khó khăn.
3.
Mức trí tuệ liên hệ tới sự hiểu biết nhân quả, hay nguyên
nhân và điều kiện trong thiên nhiên. Ðiều này quan trọng
hàng đầu. Ðể hiểu rõ việc ủng hộ hay bác bỏ giải pháp
bảo vệ thiên nhiên, chúng ta phải hiểu biết một phần nào
về thiên nhiên. Về phương diện này, Khoa Học Thuần Túy
có thể là lợi ích to lớn, cung cấp các dữ kiện giúp chúng
ta nhìn được những yếu tố xác đáng liên hệ đến việc
phá hoại môi sinh, đến đường lối nào mà môi sinh bị phá
hoại, và những hậu quả gì sẽ sẩy ra từ sự phá hoại
này.
Hiểu
được tình trạng này sẽ mở rộng tâm ý con người và làm
cho con người lãnh hội được. Nếu có sự hiểu biết ta
thấy được một hành động nào đó có thể là nguyên nhân
gây tại hại cho môi sinh dẫn đến hiệu quả tai hại cho
con người, chúng ta sẽ cảm thấy khích lệ để thay đổi
cách hành xử của chúng ta.
Tuy
nhiên, đôi khi, mặc dù hiểu biết hậu quả xấu của việc
gì đó, chúng ta vẫn không thể thay đổi cách hành xử của
chúng ta vì tâm chúng ta không chấp nhận vì còn nông cạn.
Do đó tại sao tâm chúng ta quan trọng phải có cả sự hiểu
biết tình trạng ở một mức trí thức lẫn tình cảm, sự
thừa nhận, một thiện chí sống hạnh phúc với thiên nhiên.
Kiến thức khoa học không thôi không đủ để lôi cuốn con
người thay đổi đường lối, vì từ luyến ái đến thói
quen, lợi dưỡng cá nhân, xã hội ưu tiên vân vân... Với
niềm vui về thiên nhiên là căn bản, bất luận một sự thấu
hiểu bằng trí thức nào, chẳng hạn như sự hiểu biết hệ
thống sinh thái học, sẽ giúp việc hiểu biết xâu xa hay làm
vững mạnh tất cả những phẩm tính về mức độ cảm xúc.
Ðể
thực sự đối đầu với tình thế, chúng ta phải có một
giải pháp hiểu biết. Những phương pháp của Phật Giáo là
một giải pháp hiểu biết cho vấn đề trên tất cả các
mức độ. Có ba mũi nhọn, hay phân chia (bậc) của Phật đạo.
Trong Phật Giáo bậc thứ nhất chúng tôi gọi là giới (sila)
tức sự kiềm chế hay kiểm soát nhân cách trong phạm vi luật
(vinaya), luật lệ và điều lệ. Thu thúc hành động đạt
được do dụng ý là cốt tủy của giới. Cả hai mức độ,
điều luật và ý định tinh thần đều nằm trong tiêu đề
tổng quát của giới để rèn luyện tư cách đạo đức.
Bậc
thứ hai liên quan đến tâm để rèn luyện cảm nghĩ, phẩm
tính và thói quen của tâm phải có đạo đức và khéo léo.
Ðó là định (samadhi), cách rèn luyện tâm.
Bậc
thứ ba là huệ (trí tuệ panna) hay kiến thức hiểu biết.
Trí tuệ là phẩm tính điều hành hoạt động của bậc thứ
nhất và bậc thứ hai, xem xét chúng và đem chúng vào con đường
chính đáng. Trí tuệ có khuynh hướng không tích cực, cho nên
trí tuệ phải đưọc hỗ trợ bởi việc rèn luyện, đạo
đức và thiền định.
Trí
tuệ không những giám sát việc thực hành kiềm chế tinh thần
và thiền định, mà cũng còn khảo sát mặt tiêu cực của
sự vật, cái thấy thí dụ như hậu quả tai hại của cách
hành sử không khéo léo, cả đến những trường hợp cách
hành xử đem niềm vui và lợi ích trong đường lối nào đó.
Nếu lạc thú như vậy lại đem lại tai hại, trí tuệ là
tiếng nói cho chúng ta biết ta phải loại bỏ cách hành xử
ấy hay phải sửa lại cách hành xử cho đúng cách.
Ba
bậc trên đây cùng nhau hoạt động và tùy thuộc lẫn nhau.
Trước tiên chúng ta rèn luyện các hành động, trau dồi cách
hành xử khéo léo, và loại bỏcách hành xử vụng về. Ðồng
thời chúng ta rèn luyện tâm, thấm nhuần tâm với nỗ lực
khéo léo và cảm nghĩ hỉ lạc hay thỏa mãn trong việc thực
hành, mở mang chánh kiến và lý do thực hành thấy được
đúng lợi ích hay tai hại của những hành động của chúng
ta.
Khi
tu tập và thực hành chúng ta càng ngày càng trở nên kiên
định hơn, tâm sẽ thấy hỉ lạc trong việc tu tập khiến
niềm tin tăng trưởng. Khi niềm tin gia tăng, tâm sẽ sáng suốt
nhận định và hiểu thấu được hành động của chúng ta.
Khi trí tuệ và sự hiểu biết phát sinh, thấy sự lợi ích
trong việc tu tập và sự tai hại không tu tập, niềm tin lại
tăng trưởng, chúng ta có thể kiểm soát đưọc cách hành
xử của chúng ta, đem áp dụng và làm cho cách hành xử phù
hợp hơn với chánh đạo.
QUÁ
TRỄ
Bây
giờ chúng ta đi đến phẩm chất của "Quá Trễ". Chúng tôi
muốn quý vị rõ được ý nghĩa chúng tôi muốn nói trong câu
này để trình bày điều liên quan đến khoa học. Một thí
dụ, chúng tôi muốn so sánh quan điểm trong Ðạo Phật với
quan điểmcủa khoa học có một số tương đồng.
Trong
khoa học chúng ta có kiến thức khoa học ở một mặt, và
thái độ khoa học ở một mặt. Trong nhiều trường hợp quan
điểm khoa học quan trọng hơn kiến thức khoa học. Lý do này
là tại sao? Vì dữ kiện hay kiến thức đạt được do khoa
học nhiều khi cho thấy sai và phải điều chỉnh lại. Ðiều
này cho thấy sự tiến hành đang xẩy ra. Ðó là quan điểm
khoa học hay mục tiêu là một nguyên tắc không thay đổi,
nguyên tắc đã đem lợi ích lớn lao cho nhân loại. Dù từng
mảnh kiến thức của cá nhân có thể được sử dụng ngày
nay hay không, tuy không phải là một điều chắc chắn, nhưng
thái độ này là một điều kiện có thể dùng được ngay
và có lợi ích ngay. Quan điểm của khoa học và đạo Phật
cũng có một số dị biệt.
Trước
nhất, chúng tôi xin được giải thích. Cái gì là quan điểm
Phật Giáo và quan điểm khoa học? Quan điểm của cả Phật
Giáo lẫn khoa học có cùng một mục tiêu, đó là nhìn tất
cả sự vật theo nhân và quả, hay nguyên nhân và các điều
kiện. Ðương đầu với bất cứ trường hợp nào, cả hai
quan điểm Phật Giáo và quan điểm khoa học đều cố gắng
nhìn vào nguyên nhân và điều kiện để thấy rõ chúng đúng
như thế nào.
Thí
dụ, bạn nhìn người bạn đang tiến về phía bạn với bộ
mặt đau khổ. Với hầu hết chúng ta, nhìn nét đau buồn trên
khuôn mặt người bạn thường làm cho bạn không vui. Chúng
ta có thể nghĩ rằng người bạn này giận chúng ta, và chúng
ta thường phản ứng lại bằng cách tiêu cực. Một nhận
thức về kinh nghiệm không vui nảy sanh và phản ứng không
thích sanh khởi vì nghĩ rằng: "người bạn này giận dữ,
vậy sao ta không giận dữ". Và chúng ta lại cũng mang một
tâm trạng buồn đau để phản ứng lại.
Nhưng
với quan điểm Phật giáo hay khoa học, khi chúng thấy một
người bạn chúng ta tiến về phía chúng ta với bộ mặt đau
buồn, chúng ta không nhìn vào bộ mặt ấy với một tâm trạng
bực dọc thương hay ghét mà mục tiêu là khám phá ra sự thật
tại sao người bạn có nét mặt giận dữ. Ðó là quan điểm
nhìn vào sự vật theo nguyên nhân và điều kiện... "Chà, anh
có vẻ giận dữ, tôi lấy làm lạ sao bạn tôi hôm nay trông
có vẻ giận dữ. Tôi lo lắng có điều gì sẩy ra làm phiền
anh. Có lẽ có người nào đó ở nhà đã làm anh bực bội,
hay có lẽ tại anh không tiền, hay có lẽ anh ...." Ðó là chúng
ta tìm nguyên nhân thực sự gây ra cho anh. Ðó là cái mà chúng
tôi gọi là quan điểm Phật Giáo, áp dụng đến hiện tượng
tinh thần, quan điểm này tương quan với quan điểm khoa học
áp dụng trên bình diện vật chất. Ðó là một quan điểm
tìm hiểu, một quan điểm nhìn vào sự vật theo nguyên nhân
và điều kiện.
Nếu
cách nhìn vào tình trạng như vậy, không có vấn đề gì phát
xuất. Quan điểm như vậy sẽ dẫn đến giải quyết vấn
đề và mở mang trí tuệ. Tìm kiếm nguyên nhân và điều kiện
về cái đau buồn của người bạn, chúng ta có thể hỏi anh
về nguyên nhân hay hành động bằng một cách tế nhị nào
đó khiến anh cho ta câu trả lời đưa đến cách giải quyết
vấn đề.
Ðó
là quan điểm thông thường trong cả Phật Giáo lẫn khoa học.
Nhưng quan điểm này khác biệt nhau thế nào? Quan điểm của
khọc là quan điểm chỉ dùng đạt kiến thức, nhưng quan điểm
Phật Giáo lại được coi như một phần và một mảnh của
chính đời sống. Quan điểm này là một phần của đời sống
khôn ngoan khéo léo, đó là cách sống hòa hợp trong xã hội,
Tóm lại, đó là đạo đức.
Quan
diểm của khoa học điển hình rõ ràng khoa học tránh vấn
đề đạo đức hay những giá trị thực ra chứa đựng trong
đó. Quan điểm khoa học chính trong nó là đạo đức, nhưng
vì khoa học phủ nhận hoàn toàn nó, khoa học hoàn toàn không
biết đến sự lợi ích đạo đức đem lại . Quan trọng hơn
nữa, khoa học không nhìn thấy đạo đức là yếu tố thiết
yếu trong tiến trình tìm hiểu sự thật của thiên nhiên.
Quan
điểm Phật Giáo không chỉ đơn giản dùng để đạt kiến
thức, mà còn áp dụng trong đời sống hàng ngày, ngay trong
hiện tại. Khi chúng ta áp dụng chặt chẽ hàng ngày vào sự
việc, chúng ta đi đến phẩm chất mà chúng ta gọi là "Quá
Trễ" . Vì quan điểm khoa học chỉ là một quan điểm đơn
giản tìm kiến thức, tất cả mọi áp dụng thực hành phải
đợi cho đến khi khoa học có được tất cả những câu trả
lời. Bao lâu mà chúng ta chưa có câu trả lời chúng ta bị
bó tay. Nếu chúng ta chưa biết được điều gì nó ra sao,
chúng ta không biết cách hành xử với nó.
Nhưng
trong thế giới này có quá nhiều sự vật mà khoa học chưa
có câu trả lời và cũng không cho biết bao giờ khoa học mới
có câu trả lời. Ðồng thời, nhân loại, cả cá nhân lẫn
xã hội, phải sống trong hiện tại. Nói một cách đơn giản,
cuộc sống cho chúng sanh trong một đường lối thích nghi và
khéo léo, trong không gian này quãng đời của một cá nhân
trong xã hội, đúng thời điểm, không thể chờ đợi những
câu hỏi ấy từ thế giới khoa học.
Quan
điểm Phật Giáo là tìm kiếm kiến thức liên kết với cuộc
sống, nhằm vào nhìn sự vật theo nhân quả là một phần
và một mảnh của tiến trình cho một cuộc sống tốt đẹp,
không phải đơn giản chỉ là một khí cụ để tìm kiến
thức. Cho nên, với quan điểm Phật Giáo, bất cứ bao giờ
chúng ta gặp điều gì mà chúng ta chưa biết rõ ràng, hay chưa
kiểm chứng được, chúng ta phải có một nhân sinh quan giúp
chúng ta thực hành khéo léo đối với việc đó. Chúng ta không
mất mẫu mực trong đời sống.
Quan
điểm khoa học là chỉ tìm kiếm kiến thức mà không có một
nhân sinh quan về đời sống. Phật Giáo dạy cả hai lãnh vực,
đưa con đường thực hành trong việc tương quan vói sự vật
trong đời sống hiện tại. Chúng tôi xin đưa ra một chứng
minh, một vấn đề khó khăn của nhân loại qua các thời đại,
và đối với vấn đề đó, ngay cả chúng tôi là Phật Tử,
không sử dụng một nhân sinh quan Phật Giáo thích đáng. Chúng
tôi muốn nhắc đến vấn đề về những chúng sinh cõi trời
(Chư Thiên).
Vấn
đề chư thiên là một vấn đề có thể nhận xét trong phạm
vi tương quan với sự thật có thể xác minh, hay nó có thể
nhận xét trong mối tương quan với xã hội loài người, dưới
ánh sáng của đời sống mỗi ngày. Nhìn vào vấn đề với
quan điểm khoa học, chúng ta nghĩ trong phạm vi sự thật có
thể xác minh, đó là những điều đó thực có hay th?c không
có. Rồi chúng ta tìm một phương cách kiểm tra vấn đề.
Vấn đề trở thành một của những sự thật 'đang chờ đợi
phải được xác minh', hay có lẽ là 'không thể xác minh được'.
Nhưng
chẳng cần phải lưu ý đến vấn đề đang chờ đợi xác
minh hay không xác minh, hay vấn đề được coi như không xác
minh được, vấn đề vương mắc lại ngay tại đây, và nhân
loại không có cách giải quyết thực tiễn. Bao lâu mà vấn
đề không xác minh được, vấn đề đơn giản trở thành
một vấn đề của niềm tin. Nhóm này tin những sự vật này
hiện hữu, nhóm kia không tin sự vật đó hiện hữu. Mỗi
bên đều có ý kiến riêng của mình. Hãy ghi nhận là nhũng
ai tin là không có những sự vật như vậy không vượt qua
mức độ của niềm tin - họ vẫn còn bị kẹt về niềm tin
là những sự vật như vậy không hiện hữu. Cả hai nhóm này
đều sống trong một xã hội. Bao lâu mà họ còn có những
dị biệt và niềm tin không giải quyết được, sẽ có trạng
thái tinh thần căng thẳng.
Chẳng
hạn, khoa học không đưa ra lời khuyên dặn gì, nhưng trong
Phật Giáo có nhiều cách thực tập cho nhiều trình độ. Trên
mức độ thứ nhất, tìm kiếm sự thật bằng kinh nghiệm
bất kể là ai muốn chúng minh vấn đề theo cách này hay cách
khác, không có khó khăn gì. Những ai muốn tìm kiếm những
dữ kiện, tự do tiếp tục việc nghiên cứu của họ, hoặc
tán thành có sự hiện hữu của chúng sinh cõi trời hoặc
không tán thành.
Trên
mức độ thứ hai, tìm ra một quan điểm chính đáng về cách
cư xử trong đời sống hàng ngày, chúng ta nên làm gì? Trong
Phật Giáo có cách thực hành không gây mẫu thuẫn gì dù có
sự hiện hữu hay không có sự hiện hữu của chư thiên. Ðời
sống của chúng ta có một tiêu chuẩn rõ ràng có thể áp
dụng ngay tức khắc. Chúng ta lúc nào cũng sẵn sàng chấp
nhận sự thật, dù có chứng minh được có sự hiện hữu
của chư thiên hay không có sự hiện hữu của chu thiên., và
đưòng lối sống của chúng ta không ảnh hưởng gì đến
việc khám phá đó.
Ða
số người dễ dàng bị thống trị hay bị dồn vào thế phòng
thủ vì nghi ngờ về giải pháp là như vậy khiến bị lôi
cuốn về một trong hai quan điểm cực đoan - chư thiên hiện
hữu thực sự hay không hiện hữu thực sự . Nếu bạn tin
các chư thiên hiện hữu, bạn phải cầu khẩn, và thi triển
lễ nghi để làm vừa lòng họ. Nếu bạn không tin các chư
thiên hiện hữu, bạn phải lý luận với những người tin
chư thiên hiện hữu.
Nhưng
trong Phật Giáo chúng tôi phân biệt rõ ràng giữa sự tìm
kiếm dữ kiện tiến hành bình thường, và cách xử xự đời
trong cuộc sống hàng ngày. Ðời sống của chúng ta không tùy
thuộc nơi chư thiên. Nếu có chư thiên thì chư thiên cũng
chỉ là những chúng sinh trong vũ trụ này giống như chúng
ta phải chịu sanh, già, bệnh và chết. Chúng ta những người
Phật Tử có giáo lý khuyến khích chúng ta phát triển các
tu tưỏng thiện với tất cả chúng sinh trong vũ trụ. Nếu
có các chúng sanh cõi trời, chúng ta phải có tư tưởng thiện
với ai là chư thiên.
Cốt
lõi của đạo Ph?t là giáo pháp tự phát triển và tự lực.
Mục tiêu tự do. Nếu chúng ta thực hành theo nguyên tắc tự
lực, chúng ta hiểu trách nhiệm của chúng ta như thế nào.
Trách nhiệm của chúng ta là phải tự rèn luyện, phải đạt
kết quả tốt hơn. Và trách nhiệm của các chư thiên là chính
họ phải đạt kết quả tốt hơn. Cho nên cả hai cùng có
trách nhiệm là phải tự cải tiến để đạt kết quả tốt
hơn. Chúng ta có thể cùng hiện hũu với chư thiên với cùng
loại tư tưởng. Ðồng thời dù chư thiên hiện hữu hay không
hiện hữu, không phải là mối quan tâm của chúng ta. Giống
như con hà mã và con beo - mỗi con đều có thể hiện hữu
chung sống hòa bình trên thế giới không có trở ngại gì.
Cũng như vậy, Phật giáo có một nhân sinh quan rõ ràng về
vấn đề, và người Phật Tử không lo lắng gì về những
điều này.
Nếu
không có quan điểm này, chúng ta sẽ bị mắc kẹt trong vấn
đề có hiện hữu hay không hiện hữu. Nếu chư thiên hiện
hữu, chúng ta phải cư xử ra sao? Chúng ta có thể tạo ra các
nghi lễ và hy sinh (các con vật), điều này không phải là
bổn phận của người Phật Tử. Trách nhiệm của người
Phật Tử là tu tập để đạt tốt đẹp hơn. Nếu con người
thành công hoàn toàn trong việc tự mình đạt kết quả tốt
đẹp hơn, người ấy sẽ trở nên chúng sinh thượng hạng
của tất cả chúng sanh - -ngay cả các chư thiên cũng phải
tôn kính người ấy.
Ðó
là một thí dụ quan điểm Phật Giáo, mà cốt lõi giống như
thái độ mô tả trong sự so sánh kẻ bị thương bằng mũi
tên độc. Nếu bạn bị bắn bởi mũi tên, nhiệm vụ đầu
tiên của bạn là hãy rút mũi ra trước khi độc được có
thể lan tràn khắp cơ thể và giết bạn. Về việc tìm kiến
dữ kiện liên hệ đến việc sẩy ra này, bất cứ ai nghĩ
rằng phải làm, nhưng việc trước nhất cũng vẫn phải là
rút mũi tên ra đã.
Việc
này tương tự như cách suy nghĩ của Sir Arthur Stanley Eddington.
ông có ý kiến tương tự, mặc dù ông không nêu lên trên
phương diện Phật Giáo. ông viết:
"Quả
thực dễ dàng cho một con lạc đà chui qua một lỗ kim hơn
là một khoa học gia đi qua một cái cửa. Dù cửa ấy là cửa
của một căn nhà thô sơ hay cửa đó là của một nhà thờ,
điều khôn ngoan hơn là một con người khoa học nên coi mình
như một người bình thường và bước qua hơn là chờ đợi
cho đến khi tất cả những khó khăn liên hệ đến sự thâm
nhập thực sự quyến vào khoa học được giải quyết."
Kinh
sách của Cơ Ðốc Giáo nói rằng quả là dễ dàng cho một
con lạc đà chui qua một lỗ kim hơn là một người giàu có
lên thiên đàng. Eddington lập lại câu đó: quả dễ dàng cho
con lạc đà chui qua lỗ kim còn hơn là một con người khoa
học bước qua một cái cửa để vào phòng. ông muốn nói
gì đây?
Chúng
tôi muốn nhấn mạnh nơi đây là Eddington muốn nói đến con
người khoa học chứ không phải là khoa học gia. Lý do là
rất khó khăn cho một con người khoa học trước nhất đứng
ngay trước cửa và lo lắng, " Chà, tôi lo ngại nếu tôi đi
qua cửa này?" ông ấy phải xét tất cả những định luật
vật lý. Chẳng hạn ông ấy tính sức ép của không khí là
bao nhiêu một inch vuông trên cơ thể ông ta khi đi qua cửa,
tốc độ của trái đất vào lúc đó, hậu quả sẩy ra khi
ông bước vào phòng.. ông suy nghĩ hoài. Cuối cùng con người
khoa học này thấy không thể nào đi qua cửa này được vì
ông chẳng bao giờ tính hết được những con tính khoa học
của ông. Cho nên tại sao Eddington nói quả là dễ dàng cho
con lạc đà chui qua lỗ kim hơn là một con người khoa học
đi qua cái cửa.
Eddington
kết luận những khoa học gia nên hành xử như một người
bình thường. Dù là cái cửa của một nhà thờ, cái cửa
của một nông trại, hay bất cứ loại cửa nào đi nữa, hãy
cứ đi qua đi. Muốn kiểm soát lại, cứ việc tiếp tục sau.
Việc này rất trùng hợp với quan điểm Phật Giáo, cho nên
chúng tôi đã bao gồm vào đây.
VÂN
ÐỀ PHÁT TRIỂN CHỈ CÓ THỂ ÐỀ CẬP TỚI KHI THỰC SỰ HIỂU
ÐƯỢC CÁC GIÁ TRỊ
Khoa
Học Thuần Túy giữ vững cho là giá trị rỗng tuếch, nhưng
ai cũng biết vai trò khoa học quan trọng như thế nào trong
việc mở mang xã hội cận đại, mặc dù việc mở mang là
do hoạt động của con người, đã thấm nhuần đầy với
giá trị. Khi chúng ta nhìn kỹ vào lịch sử, chúng ta tìm thấy
những giá trị đã có một ảnh hưởng tế nhị trong việc
sanh khởi và phát triển khoa học, bắt đầu với đức tin
và sự khao khát muốn biệt sự thật của thiên nhiên, cho
đến giá trị phá hoại nhất, ham muốn chinh phục thiên nhiên
và sản xuất thật nhiều hàng hóa vật chất.
Giải
pháp về vấn đề những giá trị trong khoa học không phải
là nỗ lực để loại bỏ chúng. Khoa học không cần thiết
cố gắng để tránh các giá trị. Ðó là vấn đề cố gắng
làm sáng tỏ những giá trị mà khoa học làm hay nên làm và
có. Nếu không, khoa học không biết đến, sẽ trở thành ảnh
hưởng tiêu cực, một ảnh hưởng có thể đe dọa phá hủy
hoàn toàn nhân loại.
Trong
những phần trước của bài này, chúng tôi cố gắng trình
bày xin liên hệ của khoa học đến những giá trị trên hai
mức độ, giá trị tối thượng và giá trị tạm thời. Giá
trị tối thượng là giá trị khoa học phải gắn bó để
có thể đạt được chân lý tối thượng, vì giá trị tối
thượng tự nó đã là chân lý, và như vậy, nó là một yếu
tố cần thiết trong việc đạt được chân lý chủ yếu.
Tuy nhiên, giá trị tối thượng, điều thiện cao nhất, hay
tự do, là một lý tưởng, là một mục tiêu, và như vậy
sẽ không ảnh hưởng nhiều về phẩm chất của khoa học
nói chung.
Giá
trị ảnh hưởng nhất và tức khắc với khoa học, là giá
trị thứ yếu chia làm hai loại: loại từ đó phát xuất có
sự hòa hợp, giá trị tối thượng; và giá trị giả tạo
xâm nhập vào khoa học do kết quả của sự thiếu phản ảnh
đến các giá trị.
Trong
khi các khoa học gia không hiểu gì về các giá trị, và không
nhìn thấy sự tương quan giữa những giá trị và chân lý
mà họ đang tìm kiếm, thêm vào giới hạn phạm vi kiến thức
mong muốn và việc đem lại trong việc tìm kiếm không kết
quả của kiến thức tối thượng, khoa học sẽ bị lấy đi
bởi các giá trị kém hơn và những giá trị phản ứng, một
số thừa hưởng từ những thế hệ trước và một số do
dục vọng và ham muốn hạnh phúc trong tâm ngày nay của chính
các khoa học gia. Khi những giá trị hạ đẳng này ảnh hưởng
đến tâm, sẽ không những đương nhiên quẳng đi sự tìm
kiến kiến thức chính đáng, mà còn mang lại ảnh hưởng
phá hoại, gây nên những khó khăn ngay trong hiện tại và tương
lai.
Ngược
lại, nếu các khoa học gia, hay những ai đi tìm sự thật,
nhận định được sự liên hệ giữa những giá trị trừu
tượng và thế giới vật thể, họ cũng sẽ nhận thức được
muốn tìm kiếm và hiểu đưọc sự thật tự nhiên là phải
hiểu bản chất con người; đó là con người phải hiểu chính
mình và hiểu thiên nhiên chung quanh mình. Khi có sự nhận thức
như thế, giá trị thứ yếu bắt nguồn từ giá trị tối
thượng tự nó sẽ sanh khởi. Nhiệm vụ tư động sẽ hoàn
thành. Khi có chánh kiến, kết quả sẽ gấp đôi là:
1.
Sự tìm kiếm kiến thức sẽ không bị giới hạn hay hướng
dẫn sai lầm, mà sẽ trực tiếp tiến thẳng trên con đường
tìm kiếm loại kiến thức cao nhất.
2.
Loại giá trị thứ yếu chính đáng tự động sanh khởi và
sự phát triển con người sẽ tiến hành đi đôi với việc
tìm kiếm kiến thức.
Nếu
sự tìm kiếm căn cứ vào chánh kiến, loại giá trị chính
đáng tự động hiện hữu.
Loại
giá trị tối thượng là một điều kiện đạt được khi
nhận thức được sự thật. Không cần thiết phải tự tranh
đấu để đạt giá trị, đơn giản chỉ cần mang trong tâm.
Khi điều này nhận thức được, loại giá trị thứ yếu
sẽ quân bình, thích hợp với giá trị tối thượng sẽ sanh
khởi.
Mặc
dù trên con đường đi lên hòa hợp, sự bảo đảm cho giá
trị không cần thiết, vì đã bao gồm trong sự tỉnh giác
được sự thật, trong thực tế, kiến thức khoa học học
như vậy được chuyển vào kỹ thuật, cần thiết nhấn mạnh
một số giá trị để làm sáng tỏ hướng đi của sự nghiên
cứu và để ngăn chặn sự xâm nhập của các giá trị thấp
kém và giá trị phá hoại.
Một
vài thí dụ về những giá trị tích cực như: sự tìm kiến
kiến thức để đạt tự do từ con người bất toàn, hay tìm
kiếm kiến thức để giải quyết các vấn đề, và xa hơn
nữa sự phát triển nhân loại....gồm cả các giá trị thấp
kém như phải tranh đấu để làm mọi việc thận trọng với
kết quả có hại tối thiểu.
Cuối
cùng, hiểu được sự quan trọng của giá trị giúp cho các
khoa học gia nhận thức được và hiểu phương cách liên kết
đến giá trị mà họ phải tiếp xúc trong việc tìm kiếm
kiến thức, như tham lam, giận hờn, đau khổ, ghen ghét, thèm
muốn vân vân...như trường hợp của Newton. Quan trọng hơn
nữa là họ sẽ thấy giá trị của những giá trị chính đáng,
và biết cách làm thế nào sử dụng chúng có hiệu quả. Cuối
cùng, khoa học gia sẽ có ý thức về đức hạnh và không
trở thành chỉ là những đầy tớ cho kỹ nghệ.
Một
giá trị đứng hàng đầu cho nhân loại và hoạt động của
nhân loại là hạnh phúc, hay phẩm tính của hạnh phúc và
khổ đau. Giá trị của hạnh phúc nằm sâu trong tiềm thúc
đằng sau tất cả những hoạt động của con người, và đó
là một phần thiết yếu của đạo đức. Quan niệm hạnh
phúc của ta sẽ tự nhiên ảnh hưởng đến những việc làm
của ta. Chẳng hạn, những giá trị của Thời Ðại Kỹ Nghệ
nhìn thấy hạnh phúc nằm trong sự chinh phục thiên nhiên để
sau thiên nhiên có thể được sử dụng theo sự mong muốn
của con người. Việc này đã dẫn đến những sự phát triển
gây nên quá nhiều khó khăn hiện nay trên thế giới.
Ðể
giải quyết thành công những vấn đề, chúng ta phải nhìn
vào sự thật của hạnh phúc và khổ đau và xem chúng đúng
ra sao. Ngược lại, nếu chúng ta không điều chỉnh lại những
giá trị của chúng ta về hạnh phúc và khổ đau, chúng ta
sẽ không có phương cách gì để giải quyết những vấn đề
mở mang nhân loại.
Ðể
hiệu chính lại sự giải thích ý nghĩa về hạnh phúc, tóm
lại, để thay đổi giá trị xã hội, không nên cố gắng
trong việc tìm hạnh phúc trong việc phá hoại thiên nhiên,
nhưng nên tìm hạnh phúc trong việc hòa hợp với thiên nhiên.
Trong đường lối này, chúng ta có thể giới hạn sự thao
tác thiên nhiên, điều sẽ làm cho nhân loại nhẹ bớt khổ
đau hơn là thoả mãn lạc thú-tìm kiếm.
Nhân
loại phải nhận thức nếu nhân loại tiếp tục tìm kiếm
hạnh phúc từ sự phá hoại thiên nhiên, nhân loại sẽ không
tìm được hạnh phúc, ngay cả đến khi thiên nhiên hoàn toàn
bị hủy diệt. Ngược lại, nếu nhân loại có thể vui sống
cùng thiên nhiên, nhân loại sẽ chứng nghiệm hạnh phúc ngay
cả trong khi phát triển tự do từ khổ đau.
Nói
chung, có ba giá trị chính mà các khoa học gia không tránh khỏi
liên hệ là:
1.
Giá trị trần thế, mà các khoa học gia, cũng như những người
bình thường đều có chung với mọi người. Ðiều này gồm
có sự khích lệ hay động cơ thúc đẩy, cả tốt lẫn xấu,
sẩy ra trong đời sống hàng ngày trong sự tìm kiếm và sử
dụng kiến thức. Những giá trị như vậy bao gồm lòng vị
kỷ, ham muốn của cải, lợi lạc, danh thơm hay nổi tiếng,
hoặc mặt khác những giá trị vị tha, như khả ái và từ
bi.
2.
Những giá trị liên hệ như nguyên tắc, đường hướng học
hỏi nào, như ý kiến chinh phục thiên nhiên, hay giá trị kỹ
nghệ, niềm tin hạnh phúc chỉ có thể có được do của cải
hàng hóa vật chất, hay ngược lại, nguyên tắc giải quyết
khó khăn và nâng cao đời sống.
3.
Giá trị tối thượng mà khoa học gia phải gắn bó như một
thành viên của loài người, đó là giá trị mà lý tưởng
của loài người cũng như toàn thể, như chúng tôi đã nói,
cho đến nay đã không được thế giới khoa học lưu tâm.
Khoa học mới chỉ ở giữa đường, với khát vọng biết
nhũng sự thật của thiên nhiên trên mức độ bên ngoài. Khát
vọng như vậy không bao gồm vấn đề của con người hay điều
thiện tối thượng.
Khoa
học còn nhiều việc chưa hoàn tất đối với ba loại giá
trị trên đây.
KHUYẾN
KHÍCH KỸ THUẬT XÂY DỰNG
Trên
mức độ đời sống hàng ngày, hay thỏa mãn nhu cầu nhân
loại, khoa học đóng một vai trò thiết yếu dọn đường
cho kỹ thuật phát triển và khuyến khích việc sản xuất,
phát triển và tiêu thụ của kỹ thuật không cân xứng. Mặt
khác, sự ưa chuộng của xã hội cho một loại kỹ thuật
đặc biệt khuyến khích nghiên cứu khoa học nhằm vào việc
sản xuất, phát triển, và tiêu thụ kỹ thuật đó.
Từ
cái mà ta nhìn thấy, khoa học hỗ trỡ bởi niềm tin vào hiệu
lực chinh phục thiên nhiên và sản xuất nhiều hàng hóa vật
chất, đã thúc đẩy sự sản xuất và phát triển kỹ thuật
trên một con đường đem đến những khó khăn nghiêm trọng.
Khoa học và kỹ thuật hiện nay đã làm hại hơn là đem lợi
ích.
Loại
sản xuất, phát triển và tiêu thụ của kỹ thuật gây nên
những khó khăn ấy là loại đưa đến Tham (ích kỷ, phục
vụ phí phạm cho tham dục trên bình diện nhục dục), Sân
(gây nên khai thác, phá hoại, buôn bán quyền lực), và Si (khuyến
khích cẩu thả, hoạt động phí phạm thì giờ, tiêu thụ
mù quáng và lạm dụng kỹ thuật).
Trong
việc phát triển khoa học trên múc độ kỹ thuật, cần thiết
phải thay đổi một số mệnh danh căn bản bằng cách khuyến
khích sự phát triển kỹ thuật xây dựng, không đem hiệu
quả tai hại trong phạm vi kiềm chế của ba nguyên tắc :
1.
Kỹ thuật ôn hòa.
2.
Kỹ thuật đem lại lợi ích.
3.
Kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển hiểu biết và cải
tiến con người.
Chúng
tôi muốn nói chút ít về điểm này.
1.
Chúng ta thừa nhận nhu cầu của một con người bình thường.
Con người bình thường muốn thỏa mãn ham muốn lạc thú đối
với giác quan. Chúng tôi không muốn loại bỏ hay chối bỏ
nhũng lạc thú giác quan này. Ðiểm quan trọng là khuyến khích
kiềm chế cách hành xử đến mức độ không đi đến phá
hoại hay quá mức, khuyến khích việc kiềm chế tâm, giữ
tâm trong phạm vi giới hạn ôn hòa. Ðó là giới hạn mà ham
muốn cảm xúc tự tạo được quân bình bằng sự tỉnh thức
cái thật sự lợi lạc và thật sự cần thiết cho đời sống.
Ðiều này được diễn tả trong từ ngữ "biết ôn hòa'. Ðiều
này gắn bó với sự phát triển trí tuệ do sự phát triển
nhân loại. Ðặc biệt phải có một số nguyên tắc điều
hành việc sản xuất, phát triển và tiêu thụ hàng hóa vật
chất trong lãnh vực những thứ này đem lợi ích thực sự,
nhằm vào việc nâng cao đời sống hơn là thỏa mãn các giá
trị thấp kém. Nói tóm lại chúng ta có thể gọi là ' kỹ
thuật ôn hòa', hay kỹ thuật có một giới hạn không tham
lam.
2.
Thêm vào ích kỷ và tham lam, nhân loại có khuynh hướng thèm
muốn quyền thế của người khác, hay hủy diệt những ai
chống lại ham muốn của mình. Tiềm lực của con người về
sân đã tìm thấy trong nhiều đường lối, khiến việc sản
xuất, phát triển và tiêu thự của kỹ thuật dễ dàng đưa
đến sự phá hoại lẫn nhau hơn là sự hợp tác lẫn nhau.
Nhân loại phải quay lại, đổi hướng sự phát triển bằng
cách thiết lập một mục tiêu rõ ràng, và thiết lập một
kế hoặch vững vàng và kiên quyết để khuyến khích việc
sản xuát, phát triển và tiêu thụ hàng hóa có tính cách xây
dựng và lợi ích cho xã hội loài người. Kỹ thuật đem lợi
ích sẽ giúp tránh khỏi hay giảm thiểu sản xuất kỹ thuật
đem sân hận.
3.
Cho đến nay, sản xuất, phát triển và tiêu thụ của kỹ
thuật hầu hết là thứ dẫn con người đến sự bất cẩn,
nhiễm độc, và vô tri vô giác nhất là trong hiện tại trong
khi nhiều phần đất trên thế giới đã bước vào Thời Ðại
Thám Hiểm. Nếu nhân loại thực hành lầm lẫn về kỹ thuật
thám hiểm này, thay vì phục vụ cho hoạt động giáo dục,
kỹ thuật sẽ là một dụng cụ khuyến khích tâm bất cẩn.
Thí dụ, hãy chứng kiến những máy chơi trò cờ bạc, và
những trò chơi video trên khắp các thành phố trên thế giới,
hoàn toàn không một mực đích gì ngoài việc phí phạm thì
giờ và tiền bạc. Hãy chứng kiến việc sử dụng ngu muội
kỹ thuật, không một ý thức về lợi ích hay nguy hiểm, dẫn
đến tai hại cho môi sinh. Những sự việc này không những
đã làm suy biến môi sinh mà chúng cũng làm giảm giá trị
phẩm cách của con người.
Vì
lý do này, chúng ta cần phải thực hiện một sự thay đổi
đường hướng có ý thức - nhấn mạnh vào việc sản xuất,
phát triển và tiêu thụ của kỹ thuật đem lại tri thúc và
mở mang cho con người, dùng nó như một dụng cụ để truyền
đạt kiến thức hữu dụng, và khuyến khích người dân dùng
thì giờ có tính cách xây dựng. Việc sử dụng kỹ thuật
phải có ý thức, hiểu biết sự liên quan đến lợi và hại.
Theo đường lối này, kỹ thuật sẽ là một dụng cụ nâng
cao phẩm chất của đời sống, và bảo vệ môi sinh. Xã hội
sẽ trở thành một môi sinh hỗ trợ và khuyến khích sự mở
mang tâm linh. Loại kỹ thuật thứ ba này có thể gọi là "kỹ
thuật nâng cao tri thúc và phát triển con người" trục tiếp
chống lại kỹ thuật đem si mê.
Nếu
sản xuất, phát triển và tiêu thụ của kỹ thuật có thể
hướng vào đường lối này, và nếu khoa học mở ra con đường
về loại kỹ thuật này, thì sự phát triển xây dựng chắc
chắn sẽ trở thành sự thực.
-
HẾT -
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
CHƯƠNG
I:
1-
Encyclopedia Britannica, In thứ 15 1988, theo "Lịch Sử Khoa Học"
của L Pearce Williams (cuốn 27, Trang 37)
CHƯƠNG
2:
2-
Sir Arthur Stanley Eddington, "Bản Chất của Thế Giới Vật Lý"
(New York; Macmillan, 1929, Trang 282 (38)
CHƯƠNG
3:
3-
Dhammaniyama hay Kinh Uppada, A. I. 286 (57)
4-
Kinh Natumba, S II 64-65 (58)
5-
Kalama hay Kinh Kesaputtiya A.J. 188 (60)
6-
Kinh Mahapadana, D.II.15 (62)
7-
Kinh Naga, A. III. 346, Udayitherakatha, Khu., Thag. 689 (63)
8-
Kinh Pháp Cú 188-192 (63)
9-
Kinh Sisapa, S.V. 347 (66)
CHƯƠNG
4
13-
Kinh Puhbakotthaka, Sam. S. V. 220 (79)
14-
Rene Descartes, trích bởi Clive Ponting, "Lịch Sử Thế Giới",
St. Martin Press, Nữu Ước, 1992 P. 148
CHƯƠNG
5
15-
Xem Bản Ghi Chú số 2 (107)
16-
Mac Planck, "Sự bí ẩn về chúng sanh", trong "Những câu hỏi
vế Quantum", ấn hành bởi Ken Wilbur (Boston: New Science Library,
1984) p. 107
17-
Sir James Jeans, "Vũ trụ huyền bí" (CaMbridge Univertsity Press,
1931, p, 11 (107)
18-
Roger Penrose, "Tâm Mới của Hoàng Ðế", New York, Penguin Books,
1954, p. 40 (120)
20-
Ibid., pp 46,52 (120)
21-
Ibid., p. 39 (121)
22-
Ibid., p 38 (121)
23-
Sir Arthur Stanley Eddington, "Sự chống đỡ của Huyền Thoại",
trong "Những câu hỏi về Quantum", ấn hành bởi Ken Wilbur (Boston:
New Science Library, 1984) p. 208 (143)
VÀI
NÉT VỀ TÁC GIẢ:
Hòa
thượng Prayudh Payutto sinh năm 1939 tại tỉnh Suphanburi, miền
Trung Thái Lan. Ngài thọ giới Sa Di năm 13 tuổi. Trong khi còn
đang là Sa Di, Ngài đã tốt nghiệp lớp cao cấp nhất về
tiếng Pali. Do thành quả này, Ngài được thọ phong Tỳ kheo
dưới sự bảo trợ của Hoàng Gia năm 1961.
Sau
khi tốt nghiệp ngành Nghiên cứu Phật học tại Viện Ðại
Học Phật Giáo Mahachulalongkom, đạt văn bằng cao cấp về
Giáo Dục năm 1962, và 1963, Ngài giữ nhiệm vụ Phụ Tá Tổng
Thư Ký Ðại Học Phật Giáo, đồng thời đi thuyết giảng
khắp Thái Lan và ngoại quốc, Ngài đã thuyết giảng tại
Ðại Học Pensylvania, Ðại Học Harvard, và Swarthmore ở Hoa
Kỳ.
Những
thành quả văn hóa của Ngài tại Thái Lan rất to lớn, nhất
là tác phẩm Buddhadamma (Phật Pháp), bao gồm toàn thể giáo
lý của Ðức Phật cùng nhiều bài giảng về xã hội, khoa
học, giáo dục nhìn từ quan điểm Phật giáo, đã được
ấn hành. Do những thành quả về những lãnh vực ấy, Ngài
đã được trao tặng Tiến Sĩ Danh Dự về nghiên cứu Phật
Học của Viện Ðại Học Mahachualongkorn năm 1982, Tiến Sĩ
Triết Của Viện Ðại Học Thammasat năm 1986; Tiến Sĩ Giáo
Dục của các Viện Ðại Học Sipalakorn năm 1987, Viện Ðại
Học Kasetsart năm 1987, và Viện Ðại Học Srinakarinvirot năm
1990; và Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học của Viện Ðại học Chulalongkorn
năm 1988 và Viện Ðại Học Mahidol năm 1989.
Hiện
nay, tác giả vừa làm việc tại Bangkok và tại tỉnh Chacherng
Sao, miền Trung Thái, đồng thời đi thuyết giảng tại khắp
Thái Lan và ngoại quốc.
Xin
xem thêm nguyên tác Anh ngữ: "Buddhism
as the Foundation of Science"
Nguồn:
http://www.budsas.org/