V.
TIẾN VÀO RANH GIỚI CỦA TÂM
GIỚI
HẠN CỦA KIẾN THỨC KHOA HỌC
Bây
giờ chúng tôi muốn đề cập đến những giới hạn về kiến
thức và nghiên cứu của khoa học. Trở lại như đã nói trước
đây, chúng tôi có nói đến bản chất khác biệt và phạm
vi đối tượng của chúng ta về kiến thức gợi lên một
số nhận định. Chúng tôi có nói rằng Phật Giáo nghiên cứu
phạm vi con người và xác nhận hiểu thấu sự thực của
con người là có thể hiểu được trọn vẹn vũ trụ, trong
khi khoa học chỉ đặt trọng tâm vào sự nghiên cứu thế
giới bên ngoài mà kiến thức này chỉ đưa đến sự hiểu
biết về thế giới vật chất. Cùng tột kiến thức này chỉ
đưa đến ranh giới của tâm mà thôi vì nó chỉ ảnh hưởng
thế giới vật chất (và ngược lại) trong một phạm vi giới
hạn.
Chúng
tôi cũng đã nói đến khoa học, đặc biệt về vật lý, đã
thành công với nhiều tiến bộ vĩ đại, có thể nói rằng
đã tiến đến giới hạn của lãnh vực kiến thức. Trước
đây, khoa học tin rằng khoa học có thể hiểu biết toàn bộ
vũ trụ đơn giản chỉ cần hiểu biết thế giới vật chất
bên ngoài bằng các cuộc nghiên cứu khoa học căn cứ vào
năm giác quan. Khoa học lấy quan điểm cho rằng tất cả các
hiện tượng của tâm bắt nguồn từ vật chất. Hiểu được
toàn vẹn vật thì cũng hiểu được tâm. Nhưng ngày này chỉ
một thiểu số khoa học gia tin như vậy vì kiến thức to lớn
tìm ra về vật không đem đến một ánh sáng nào về tâm cả.
Trong
hiện đại, quan niệm sự thật về vật và tâm được phân
định thành hai nhóm hay mẫu chính:
1.
Thế giới về vật thể và thế giới về tâm giống như hai
mặt của một đồng tiền. Có nghĩa là chúng hoàn toàn riêng
rẽ, nhưng chúng tác động lẫn nhau. Nhóm thứ nhất tin rằng
hai sự thực này đều trái ngược nhau, và mỗi mặt phải
được nghiên cứu riêng rẽ và sau tổng hợp vào thành một
kiến thức duy nhất.
2.
Thế giới về vật thể và thế giới về tâm giống như hai
hai cái nhẫn (vòng tròn) cùng trong một quỹ đạo. Nhóm thứ
hai thấy vùng kiến thức là một qũy đạo lớn có một vòng
tròn bên trong và một vòng tròn bên ngoài. Vòng tròn bên trong
bị giới hạn vào chu vi của nó trong khi vòng tròn bên ngoài
bao trùm cả lãnh vực của mình và cả vòng tròn bên trong.
Nếu hiểu được vòng tròn bên ngoài thì hiểu được tất
cả trong lẫn ngoài, nhưng nếu chỉ hiểu vòng tròn nhỏ, sự
hiểu biết chưa trọn vẹn vì vẫn chưa hiểu được vòng
tròn lớn. Vòng lớn bao trùm cả vòng nhỏ. Nếu hiểu được
vòng lớn, thì hiểu được tất cả, nhưng chỉ hiểu được
vòng nhỏ thì kiến thức chưa trọn vẹn vì chưa hiểu vòng
tròn lớn bên ngoài.
Bây
giờ, nếu trong mô hình ấy, kiến thức về vật là vòng tròn
nhỏ, dù kiến thức về vật bao trùm cả thế giới vật thể,
cũng vẫn chỉ hiểu được vòng tròn nhỏ mà thôi. Vẫn chưa
hiểu được vòng tròn lớn bên ngoài tức tâm. Nếu mặt khác,
vòng tròn bên ngoài mà ta có thể hiểu được thì đương
nhiên hiểu được mọi sự vật. Nay mô hình nào đúng hơn?
Chúng tôi không đưa ra câu trả lời, và để lại câu trả
lời cho những ai quan tâm đến vấn đề tự có câu trả lời.
Trong
bất cứ trường hợp nào, nhiều những nhà vật lý lỗi lạc
đã khẳng định rằng kiến thức của khoa học mới chỉ
có một phần, và chỉ mới bắt đầu. Trong phạm vi mô hình
của các vòng tròn, kiến thức về vật chỉ là vòng tròn
nhỏ trong quỹ đạo vì nó nằm trong giới hạn của năm giác
quan và không chú ý đến giác quan thứ sáu (tâm). Vượt trên
những giác quan, chúng ta tiến đến thế giới ký hiệu, chứng
minh bằng toán số, trong sự tương quan mà Sir Arthur Edlington
đã nói như sau:
" Chúng
ta được biết sự khảo sát về thế giới bên ngoài bằng
những phương pháp của các khoa học về vật lý không dẫn
dến một sự thật cụ thể mà chỉ mang lại cái bóng của
thế giới ký hiệu. "
Một
nhà vật lý trứ danh khác là ông Max Planck đoạt giải thưởng
Nobel về Vật Lý năm 1918, được coi như cha đẻ của Thuyết
Lượng Tử Quantum hiện đại, có tuyên bố là không bao lâu
nữa một trong những huyền bí khoa học được giải quyết
thì một thế giới khác sẽ xuất hiện vào vị trí của nó.
ông thừa nhận những giới hạn của chân lý khoa học với
những lời rõ ràng:
"...Khoa
học không thể giải quyết cái bí ẩn chủ yếu của thiên
nhiên. Ðó là vì, trong phân tách cuối cùng, chính chúng ta
là một phần của thiên nhiên cho nên chúng ta là một phần
của bí ẩn mà chúng ta đang cố gắng giải quyết."
Một
khoa học gia khác còn đi xa hơn nữa viết:
"...
một thành quả nổi bật nhất về vật lý ở Thế Kỷ Thứ
Hai Mươi không phải là Thuyết Tuơng Ðối với sự gắn bó
của không gian và thời gian vào nhau, hay thuyết lượng tử
với cái 'không' hiển hiện của định luật nguyên nhân, hay
sự phân tích nguyên tử với kết quả sự vật không phải
thấy chúng là như vậy; mà đó là sự công nhận chung quát
chúng ta chưa tiến đến sự khám phá ra chân lý tuyệt đối."
Vậy
nên kiến thức mới đạt đến giai đoạn đó! Ðây là sự
tiến bộ có ý nghĩa lý nhất của khoa học: sự nhận thức
bất lực trong việc tiến tới chân lý. Tất cả mà khoa học
có thể đạt được chỉ là cái bóng của thế giới ký hiệu.
Nếu khoa học chấp nhận tình trạng này đã đến lúc phải
chọn một con đường mới: hoặc định rõ lại phạm vi của
mình, hoặc mở rộng lãnh vực nghiên cứu hầu đạt tới
hoàn toàn chân lý của thiên nhiên.
Nếu
khoa học mãn nguyện tự giới hạn vào phạm vi nguyên thủy,
khoa học sẽ trở thành một lãnh vực chuyên môn khác không
thể nhìn thấy toàn bộ bức tranh của sự vật chúng như
thế nào. Nếu mặt khác, khoa học quả thật muốn dẫn dắt
nhân loại đến sự hiểu biết thực sự của thiên nhiên,
khoa học phải mỏ rộng lãnh vật về tư tưởng, định rõ
lại ý nghĩa căn bản, và bước ra khỏi giới hạn hiện tại.
THẾ
GIỚI VẬT CHẤT: Việc Làm Không Hoàn Tất Của Khoa Học
Ngày
nay, cả đến trong thế giới về vật thể chúng ta đã nói,
khoa học chuyên môn, chân lý căn bản v?n vượt qua sức mạnh
của khoa học giải thích. Vẫn còn nhiều điều khoa học không
giải thích nổi, hay đã có lần tưởng là thông suốt nhưng
rồi lại không đứng vững.
Một
thí dụ về 'Quart' (Cực Vi Trần). Quart là căn bản hay thành
phần cấu tạo nhỏ nhất, nhưng chưa hẳn đã là đúng vì
có một khám phá khác về một hạt phân tử căn bản (Lân
Trần) ở khắp nơi. Cho nên Quart vẫn là một vấn đề hoài
nghi. Lúc này, ta tin tưởng vào một hạt phân tử căn bản,
nhưng có một số người vẫn hoài nghi phải hay không phải,
hoặc có hay không một hạt phân tử căn bản hơn và nó hiện
hữu khắp nơi.
Quanta
(Lượng Tử) cũng trong tình trạng y hệt. Quanta là đơn vị
nhiệt lương căn bản, nhưng rồi những đon vị căn bản nhiệt
lượng này không thể là không bị bác, được biết là hiện
hữu, chúng vẫn chỉ là được hiểu hay tin tưởng có hiện
hữu.
Chúng
ta vẫn chưa chắc chắn vật hay nhiệt năng là hai mặt của
một sự vật. Nếu là trường hợp này, làm sao chúng có thể
hoán chuyển? Cả về ánh sáng mà các khoa học gia đã dầy
công nghiên cứu vẫn chưa định nghĩa được rõ ràng. Cái
gì là bản chất căn bản của ánh sáng? Ðiều này vẫn coi
như là những huyền bí sâu xa của khoa học. Ánh sáng là một
nhiệt năng vừa là một làn sóng vừa là một phân tử. Tại
sao nó lại như thế? Và làm sao có thể tốc độ của nó
giữ nguyên khi trong Thuyết Tương Ðối, cả đến thời gian
có thể bị giãng ra và co lại?
Lãnh
vực điện-từ là một huyền bí khác, một nguồn năng lượng
khác chưa được định nghĩa rõ ràng là làn sóng hay một
phân tử. Ánh sáng vũ trụ từ đâu đến? Chúng ta không biết.
Cả đến sức hút (hấp dẫn) vẫn chưa hoàn toàn hiểu được
rành rẽ. Nó hành hoạt như thế nào? Chúng ta không biết.
Và Thuyết Tuơng Ðối nói cho chúng ta biết khối không gian-thời
gian có thể thiên lệch. Sao lại như vậy? Quả là khó khăn
cho một người bình thường hiểu được những việc này.
Tất
cả trong tất cả, khoa học chưa biết rõ ràng làm sao vũ trụ
và đời sống xuất hiện thế nào. Ðiểm chủ yếu của sự
nghiên cứu trong khoa học là nguồn gốc vũ trụ và sự ra
đời. Ngày nay, Thuyết Big Bang là mốt thời trang. Nhưng Big
Bang đã xuất hiện như thế nào? Nguyên tử khởi thủy đến
từ đâu? Những câu hỏi nêu ra bất tận. Ngay cả đến câu
hỏi 'Ðời sống là gì?' vẫn là một bí ẩn.
Nói
tóm lại, chúng ta có thể nói bản chất của sự thật trên
mức độ căn bản vẫn vượt qua phạm vi nghiên cứu. Một
số khoa học gia đã nói không có cách chi khoa học có thể
trực tiếp biết các điều này.
Có
thể nói do bẩm sinh (tự nhiên) nếu chúng ta chỉ giới hạn
công cuộc nghiên cứu vào thế giới vật chất, chúng ta không
thể đạt được sự thật căn bản. Cả đến sự thật căn
bản nhất về vũ trụ mặt vật lý không thể hiểu được
bằng cách chỉ nghiên cứu một mặt, thế giới vật chất,
vì thực ra tất cả mọi sự vật trong vũ trụ đều tương
quan lẫn nhau. Ðã tuơng quan lẫn nhau, nhìn vào một mặt không
thể tiến tới câu trả lời dứt khoát. Sự thật về mặt
kia cũng phải được xét đến, vì mảnh vụn còn lại của
bí ẩn có thể hiện hữu phía mặt kia sự thật, phía mặt
đã không được lưu ý tới.
Khi
khoa học đạt tới điểm này trong công cuộc nghiên cứu,
khoa học bắt buộc sẽ lưu ý vào việc trả lời các vấn
đề về tâm. Ngày nay chúng ta có thể nhìn thấy nhiều nhà
khoa học, vật lý, bắt đầu quay lại và chú ý vào tâm xem
nó hành hoạt ra sao.
Một
số người nói rằng cả đến Thuyết Tương Ðối cững đơn
giản chỉ là một hệ thống triết lý, một sản phẩm của
tư tưởng, một quan niệm. Không gian và thời gian tùy thuộc
vào thức, tâm. Sự nhận thức trần cảnh của con người
về hình thể và kích thước của vật thể chỉ là sự hành
hoạt của giác quan, mà cũng tùy thuộc vào tư tưởng. Chúng
là sự nhận xét của tâm, không phải chỉ là một ấn tượng
qua năm giác quan. Mắt nhìn sắc (hình thể), nhưng nó không
biết kích thước và hình dáng. Sự hiểu biết về kích thước
và hình dáng là chức năng của tâm. Cho nên kiến thức từ
năm giác quan chưa phải là tận cùng của vật thể.
Cái
gì biết khoa học? Tâm. Nhưng khoa học chưa biết bản chất
của tâm này. Nếu khoa học muốn biết chân lý rốt ráo, khoa
học phải biết tâm. Thời gian gần đây vấn đề quan sát
viên và người được quan sát đã sôi nổi. Chúng là hai khác
nhau hay chúng chỉ là một?
Một
số khoa học gia bắt đầu thấy bối rối về bản chất của
tâm và cố gắng xác định xem tâm đúng là gì. Có phải tâm
chỉ là một sự kiện trỗi lên trong sự hành hoạt của vật,
giống như một máy điện toán? Rồi chúng ta có những câu
hỏi phải chăng máy điện toán có tâm. Rất nhiều sách đã
được viết về vấn đề này. Chúng tôi đã được đọc
một cuốn của Penrose là một cuốn sách thuộc loại sách
bán chạy nhất trong nước. ông kết luận rằng máy điện
toán không thể có tâm được.
Trong
bất cứ trường hợp nào, hoài nghi vẫn còn không thể bị
xua tan cho đến khi nào khoa học chính thức nhận tâm trong
lãnh vực của mình. Chẳng bao lâu vấn đề tâm và vật là
một hay là hai riêng rẽ. Vấn đề này đã có từ thời Ðức
Phật, và đề cập đến trong những câu hỏi mà Ðức Phật
không trả lời chẳng hạn như:'Có phải đời sống và thân
là một hay khác biệt?'
Ngày
nay, các nhà lãnh đạo lãnh vực khoa học dường như chia thành
bốn nhóm chính về lý thuyết hay phương thức nhận xét về
bản chất của sự thật.
Nhóm
thứ nhất được gọi là nhóm chính thống, giữ vững lập
trường là khoa học cuối cùng có thể trả lời được tất
cả các câu hỏi, và chỉ có khoa học là phương cách duy nhất
có thể thực sự đạt được sự hiểu biết sự thật.
Nhóm
thứ hai, một nhóm của khoa học gia 'mới' thừa nhận khoa
học không thể giải thích sự thật của tâm, nhưng họ nghĩ
là cả hai phía vẫn được phép tiếp tục công trình nghiên
cứu độc lập. Nhóm này không đồng ý với nhóm tin tưởng
chỉ có vật lý hay cả đến các nhà vật lý 'mới' có khuynh
hướng hội nhập vật lý với những tôn giáo Ðông Phương.
Nhóm
thứ ba là nhóm với những nhà vật lý mới tin tưởng là
vật lý tương hợp với các tôn giáo Ðông Phương. Họ tin
là tôn giáo Ðông Phương giúp việc giải thích bản chất
của sự thật, và hướng dẫn vật lý phát triển trong tuơng
lai. Ðiển hình trong nhóm này là Fritjol Capra, mặc dù ý kiến
của Capra không được chấp nhận bởi đa s? các nhà vật
lý học trên thế giới.
Nhóm
thứ tư là một nhóm với các nhà vật lý mới nhưng nhóm
này giữ vững lập trường thế giới vật chất là một trình
độ của sự thật dung chứa cảnh giới của tâm. Nhóm này
tức mẫu I như chúng tôi đề cập ở phần trên quỹ đạo
với cái vòng tròn nhỏ bên trong.
Tất
cả là vấn đề thuộc khoa học và khoa học phải tự lựa
chọn. Chúng tôi không muốn đánh giá tại đây, và xin đề
cập tới một đề tài mới. Bây giờ chúng tôi muốn đi vào
thế giới của tâm, và đặc biệt những giá trị mà khoa
học chưa nghiên cứu. Vì thì giờ có hạn nên chúng tôi chỉ
nêu một thí dụ và đây vấn đề đạo đức.
ÐẠO
ÐỨC: Một Chân Lý Chờ Ðợi Sự Xác Minh
Ðạo
đức là một trong những điều chúng tôi gọi là 'giá trị',
đó là điều liên quan đến thiện và ác. Thiện và ác là
các giá trị hay nguyên tắc. Ðạo đức là một đề tài rộng
lớn và quan trọng, một vấn đề thường được coi như thuộc
tôn giáo, nhưng nơi đây, chúng tôi coi nó liên quan đến khoa
học.
Một
số người đi xa hơn nữa nói thiện ác hoàn toàn có tính
cách tục lệ xã hội, một vấn đề tùy theo sở thích. Họ
tin rằng thiện và ác có thể giải thích theo đường lối
mà họ thích. Ý kiến như vậy tưởng như bao gồm một số
biện pháp của sự thật, khi chúng ta phải làm thế nào khi
thấy một số hành động tại một số xã hội được coi
như thiện, nhưng tại m?t số các xã hội khác lại coi như
ác.
Tuy
nhiên loại nhận thức này phát xuất từ sự mơ hồ về những
yếu tố gây nên. Nguyên do từ:
1.
Sự thất bại không phân biệt được giữa đạo đức và
tục lệ.
2.
Sự thất bại thấy sự tương quan của đạo đức liên kết
với sự thật.
Do
vậy chúng ta thấy ba điểm để xét: sự thật, đạo đức
và tục lệ. Chúng ta phải hiểu rằng sự khác biệt và sự
tương quan giữa ba điều này. Chuỗi yếu tố gây nên liên
hệ hết, từ phẩm tính của thiện và ác là những điều
kiện thực của chân lý, hướng ra ngoài để trở thành hành
động hay lời nói thiện hay ác, chúng là đạo đức, và do
sự liên hệ ra ngoài một lần nữa trở thành luật và tục
lệ xã hội, những điều ấy trở thành tục lệ.
Hệ
thống của sự thật, đạo đức và luật lệ rất tương
tự như hệ thống khoa học. Căn bản của khoa học, Khoa Học
Thuần Túy, là sự thật. Nằm trên căn bản này, chúng ta có
Khoa Học Thực Dụng và kỹ thuật. Nếu Khoa Học Thuần Túy
lầm lỗi, Khoa Học Thực Dụng và kỹ thuật đau đớn. Từ
Khoa Học Thực Dụng và kỹ thuật, chúng ta tiến đến mức
độ thứ ba, đó là hình thức kỹ thuật áp dụng. Những
hình thức này có rất nhiều và thay đổi. Một trong những
lý do này là kỹ thuật, trong đường lối hữu hiệu nhất,
tìm cách làm việc với các định luật thiên nhiên. Những
hình thức kỹ thuật này thay đổi cho phù hợp vì chúng ít
nhiều rất thích hợp với định luật thiên nhiên. Những
hình thức kỹ thuật thích hợp nhất với định luật thiên
nhiên, hoạt động như các tần số cho chức năng tốt nhất
của những định luật liên hệ, trở thành hiệu nghiệm nhất
và ngược lại.
Chân
Lý có thể so sánh với Khoa Học Thuần Túy.
Ðạo
Ðức có thể so sánh với Khoa Học Thực Dụng và kỹ thuật.
Ðiều
lệ hay tục lệ có thể so sánh với những hình thức áp dụng
bởi kỹ thuật.
Các
xã hội quyết định tục lệ hay điều lệ để tự điều
hành. Ðó là tục lệ quyết định tùy theo sở thích. Thí
dụ, ở Thái Lan theo luật lệ, xe phải được lái phía bên
trái đường, trong khi ở Hoa Kỳ, xe cộ phải đưọc lái phía
bên tay mặt đường. Các quốc gia quyết định các luật lệ
khác nhau. Bây giờ, luật nào tốt, luật nào xấu? Thái Lan
có thể nói người Mỹ xấu vì họ lái xe bên mặt không,
hay người Mỹ có thể nói ngược lại không? Lẽ dĩ nhiên
là không. Những luật lệ này là những tiêu chuẩn của mỗi
quốc gia, và mỗi quốc gia tự do ấn định tiêu chuẩn của
mình. Việc này là tục lệ.
Tuy
nhiên, tục lệ không đơn giản là một vấn đề sở thích,
có những lý do đằng sau nó. Cho dù là những vấn đề rất
tầm thường như quyết định phải lái xe phía bên nào đường,
phải có một mục đích trong tâm. Mục đích đó là gì? Mục
đích đó là tạo được trật tự, hòa hợp trên đường,
và phúc lợi của người dân trong phạm vi xã hội. Ðó là
điều mà cả hai quốc gia mong muốn, và đó là mối quan tâm
của đạo đức. Xã hội Hoa Kỳ muốn phẩm tính này, và xã
hội Thái cũng vậy. Cho dù tục lệ khác biệt, phẩm tính
đạo đức mong muốn của cả hai quốc gia đều giống nhau.
Trong thí dụ này, chúng ta có thể nhìn thấy sự khác biệt
trong việc làm luật lệ, nhưng cốt tủy, trong ý nghĩa đạo
đức, có sự kiên định trước sau như một.
Bây
giờ vấn đề nêu lên, luật lệ nào đem kết quả tốt hơn?
Ðó là điểm chủ yếu. Ta có thể hỏi luật lệ nào đem
trật tự và hòa hợp hơn giữa việc lái xe bên phải của
Mỹ và lái xe bên trái của Thái Lan. Có một số ý kiến khác
biệt chính trong các luật lệ này, nhưng không có nghĩa là
xã hội quyết định các luật lệ do sở thích.
Ðó
là sự tuơng quan giữa đạo đức và tục lệ hay luật lệ.
Luật lệ tạo ra để mang kết quả cho đạo đức. Trong ngôn
ngữ nhà tu hành Phật Giáo, các thầy tu đơn giản nói "Luật
là để phát triển giới hạnh" ... Luật bao hàm ý nghĩa về
quy luật và các điều lệ của xã hội, nhưng mực đích của
những luật lệ ấy là giới hạnh, đạo đức.
Có
một ngoại lệ trong những trường hợp luật lệ đương nhiên
được làm ra để đem lợi ích cho một thành phần nào đó
hay cho một thiểu số được chọn lựa. Thí dụ, có nhiều
lần chúng ta nghi ngờ một số luật được tạo ra để bảo
vệ quyền lợi của một nhóm được chọn lựa. Trong truờng
hợp này chúng ta nói có sự thối nát trong phạm vi ban hành
luật lệ, hậu quả làm suy đồi đạo đức. Khi gốc rễ
của cấu trúc luật lệ bị mục nát, rõ ràng không thể có
được kết quả tốt. Dù vậy, nhiều xã hội quyết định
nhiều quy luật và điều lệ với hậu ý trong sạch là tạo
kết quả đạo đức.
Vì
có mục tiêu chung này là đạo đức, nhưng hình thức của
các điều lệ đưa đến kết quả khác biệt, chúng ta phải
biết làm sao phân biệt rõ ràng giữa đạo đức và tục lệ.
Chúng ta có thể nhìn thấy một số nhiều các dị biệt trong
tục lệ, tập quán và truyền thống ở những xã hội khác
nhau - thí dụ như tập quán gia đình. Trong xã hội này, một
người đàn bà được phép có nhiều chồng, người đàn ông
được phép có nhiều vợ, trong khi ở những xã hội khác,
tập quán lại khác hẳn. Tuy nhiên, trên hết, mục đích ở
đây là gì? Mục đích là trật tự và hòa hợp trong phạm
vi gia đình. Ðó là mục đích của họ, và đó là đạo đức.
Tuy
nhiên trong việc quyết định luật lệ cho xã hội, người
dân thay đổi mức độ thông minh và trí tuệ, có nhiều ý
định, đôi khi thành thực, đôi khi không thành thực. Xã hội
có nhiều môi trường khác nhau, lịch sử khác nhau. Với quá
nhiều những yếu tổ thay đổi, kết quả phạm vi đạo đức
cũng khác biệt, tùy theo trường hợp nhiều hay ít hữu hiệu.
Thỉnh thoảng, những điều lệ này cần phải xét lại giá
trị của nó. Tục lệ gắn chặt với đến hoàn cảnh đặc
biệt, việc xét lại phải tùy theo thời gian và địa điểm.
Thời gian và địa điểm là mối quan tâm của tục lệ, nhưng
mục đích đạo đức vẫn chung cho tất cả.
Cho
nên nhìn vào tình hình bằng một phương cách đứng đắn,
vẫn thấy có những sai biệt trong những điều lệ áp dụng,
chúng ta có thể nhìn thấy kết quả những nỗ lực của nhân
loại để tạo dựng một xã hội hòa hợp. Ðó là, tục lệ
không phải là kết quả cuối cùng, nhưng chỉ là phương tiện
áp dụng bởi con người để đạt mức độ đạo đức phổ
thông, ít nhiều hữu hiệu, tùy vào trí thức và sự thành
thật của người quyết định tục lệ ấy.
Mang
trong tâm sự hiểu biết trên đây, chúng ta có thể tránh được
niềm tin sai lầm là thiện ác chỉ là tục lệ xã hội, hay
được ban hành do sở thích. Chúng ta phải nhìn vào các điều
lệ mà nhân loại cố gắng tìm đạo đức, để đạt được
lòng tốt chân thật. Dù sao, những điều lệ có thể hữu
dụng hay vô hiệu quả, mục đích của chúng ta vẫn là một
đạo đức.
Sự
thành công của điều lệ liên hệ chặt chẽ đến tiêu chuẩn
đạo đức hiện đại trong phạm vi những người quyết định
điều lệ ấy, dù những người ấy đã có các quyết định
một cách thông thái hay không.
Bây
giờ vấn đề phải hay không phải đạo đức là một điều
kiện thực sự, chúng tôi nhắc đến nguyên tắc của đạo
đức căn cứ trên sự thật hay chân lý. Ðó là, đạo đức
phải phù hợp với tiến trình nhân quả, hay nguyên nhân và
điều kiện. Trong lãnh vực tục lệ, bất cứ lúc nào điều
lệ được tạo ra mang kết quả đạo đức tốt, chúng ta
nói điều lệ ấy hữu ích. Thí dụ, nếu chúng ta điều hành
xe phải chạy bên phía trái hay phía bên mặt đuờng, và điều
lệ này mang lại trật tự và hòa hợp, chúng ta nói điều
lệ này đạt được mục đích.
Sự
thật, đạo đức và tục lệ là những phẩm tính trừu tượng.
Vì đạo đức liên hệ chặt chẽ với sự thật, đạo đức
tiếp theo là một yếu tố trong cả dòng suối nguyên nhân
và điều kiện. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến
cách cư xử của con người rất phúc tạp, khó mà có thể
tiên đoán được như tiên đoán thời tiết!
Nếu
chúng ta không hiểu và nhìn thấy sự tương quan và liên hệ
giữa sự thật, đạo đức và tục lệ, chúng ta không thể
xét được những giá trị, tài sản tinh thần, và thấy vị
trí đúng của chúng trong phạm vi định luật thiên nhiên,
hoạt động theo nguyên nhân và điều kiện.
'CÁI
GÌ CHÂN LÝ', 'CÁI GÌ PHẢI RA SAO'
Bây
giờ xin để chúng tôi so sánh một lần nữa giữa khoa học
và Phật Giáo. Như chúng tôi đã nói trước đây, khoa học
không bao gồm hoàn cảnh của con người trong việc nghiên cứu,
vì khoa học đổi hướng nhằm vào vật chất.
Phật
Giáo tìm hiểu các định luật thiên nhiên, và đem áp dụng
chúng cho một viễn cảnh đạo đức. Khi người ta thực hành
đúng theo đạo đức, họ sẽ nhận đưọc kết quả phù hợp
với định luật thiên nhiên nhân quả, đạt được một đời
sống tốt đẹp, mục đích của họ. Ðiều này cho chúng ta
một chu kỳ với ba giai đoạn: 1) Biết hay nhận thức được
chân lý, 2) thực hành theo đường lối đạo đức; 3) đạt
được đời sống tốt đẹp.
Khoa
học biết những sự thật của thiên nhiên, nhưng chỉ về
mặt vật chất, và đem kiến thức này cho kỹ thuật, đạt
một đời sống dư dật theo mục đích.
Con
đường dẫn đến một đời sống lành mạnh, con đường
kia dẫn đến một đời sống dư dật; một phương thức giải
quyết với bản chất của con người, phương thức kia giải
quyết với bản chất của vật chất. Khoa học không liên
hệ đến chân lý của đạo đức, nhưng vì giải quyết với
thế giới vật chất nên chỉ liên hệ đến kỹ thuật.
Thông
thường khoa học chính nó chỉ quan tâm đến câu hỏi 'Cái
gì' và coi thường với câu 'Ra sao', mối quan tâm của giá
trị hay đạo đức nằm vượt qua phạm vi của nó. Khoa h?c
không nhìn thấy đạo đức căn cứ vào sự thật vì khoa học
không nhìn thấy sự liên hệ giữa 'Cái Gì' và 'Ra Sao' . Trên
bình diện vật chất, khoa học có câu hỏi 'Ra Sao' dù không
biết, nhưng câu hỏi chỉ để dành cho cho kỹ thuật.
Thí
dụ, Khoa Học Thuần Túy nói với chúng ta nước sẽ đông
lại khi độ nhiệt xuống không độ Celsius. Nguyên tắc và
phương cách phải phù hợp như vậy. Cho nên chúng tôi nói
Khoa Học Thuần Túy tìm kiếm chân lý của thiên nhiên, trong
khi Khoa Học Thực Dụng mang kiến thức đó thành hiệu quả.
Khoa
học tự nó áp dụng những vấn đề trên bình diện vật
chất, nhưng về những câu hỏi đạo đức, khoa học im lặng.
Chẳng hạn chúng ta nhìn thấy một hố sâu lớn đầy lửa,
với nhiệt độ lên tới cả ngàn độ. Chúng ta nói với một
người nào đó: "Cơ thể của con người chỉ có thể chịu
đựng được đến một nhiệt độ nào đó thôi. Nếu cơ
thể vào trong lửa ấy ắt phải cháy thành than". Ðó là sự
thật. Bây giờ thí dụ chúng ta nói: "Nếu bạn không muốn
cháy thành than, bạn không nên vào hố lửa ấy". Trong trường
hợp này, trình độ khoa học nói cho chúng ta biết hố ấy
nhiệt độ là bao nhiêu, và cơ thể con người không thể chịu
nổi nhiệt độ như thế. Ðạo đức là quy luật thực hành
nói: "Nếu bạn không muốn bị cháy thành than, đừng vào lửa
đó".
Cũng
giống như vậy, kỹ thuật phải căn cứ trên những sự thật
của Khoa Học Thuần Túy, đạo đức phải căn cứ trên sự
thật.Giống như bất cứ kỹ thuật nào mà không xây dựng
trên sự thật của khoa học thì không thể thực hiện được,
cũng vậy, bất cứ đạo đức nào không xây dựng trên chân
lý thiên nhiên thì đạo đức ấy sai. Vấn đề đạo đức
gồm cả "Ra Sao" và "Cái Gì", trong đó nói đến sự thật
của bản tính con người, khía cạnh của sự thật thiên nhiên
mà khoa học không chú ý tới. Vì lý do đó, sự hiểu biết
đúng sự thật, gồm sự hiểu biết về bản tính con người,
thì không thể có đư?c nếu không có sự hiểu biết rõ ràng
đạo đức xác thật. Câu hỏi là, loại sự thật nào, và
bao nhiêu sự thật, và mức độ nào, có đủ để mang lại
một sự hiểu biết của đạo đức thuần khiết?
CHÂN
LÝ THẬT SẼ LÀ NỀN TẢNG CỦA KHOA HỌC
Lãnh
vực khoa học ngưng lại ở thế giới vật chất, nó không
bao gồm con người. Vì lý do đó, khoa học không có lời khuyên
nào cho con người phải sống và cư xử ra sao, nó cũng không
đả động gì đến vấn đề đạo đức. Nhưng rồi vì tâm
mà khoa học lan chàn và tiến bộ đến mức có được. Nguồn
gốc và cảm hứng về việc sanh sản và sự lớn mạnh trong
khoa học là sự ham muốn biết sự thật, cùng với sự nhận
thức trong định luật thiên nhiên, là những phẩm hạnh tinh
thần. Ngay cả đến những giá trị thâm nhập vào khát vọng
ở thời gian cuối cùng, chẳng hạn như khát vọng muốn chinh
phục thiên nhiên, cũng đều là tiến trình tinh thần.
Không
những khát vọng kiến thức sự nhận thức mới nói trên
đây, nhưng ngay cả đến sự khám phá vĩ đại của khoa học,
cũng là những sản phẩm của tâm. Một số khoa học gia có
phẩm tính mà chúng ta gọi là 'trực giác', và có thể vạch
ra các sự thật mà họ khám phá ra được do con mắt của
tâm trước khi đem kiểm chứng trong thế giới vật lý. Trước
nhiều những khám phá quan trọng trong khoa học, ở một mức
độ nào đó, trực giác liên hệ... khoa học gia nhìn thấy
điều gì đó do con mắt của tâm, và điều này trở thành
sáng kiến dẫn đến việc nghiên cứu vấn đề.
Không
có phẩm tính của trực giác và thấy trước, khoa học cũng
chỉ là một ngành kiến thức nào đó không căn bản, hay rộng
ra là một vấn đề của sự phỏng đoán. Khoa học sẽ thiếu
đường hướng và mục tiêu. Trực giác và thấy trước đóng
vai trò chính yếu trong lịch sử khoa học. Với nhiều khoa
học gia lỗi lạc, trực giác này liên hệ đến việc tiến
hành tạo được các khám phá quan trọng nhất. Sự gợi ý
của một số luồng tư tưởng hay nghiên cứu, phát xuất từ
tâm khoa học gia, khởi đầu hệ thống lý luận, công thức
của giả thiết và thử nghiệm, đưa đến kết quả của
một lý thuyết mới.
Tất
cả những tiến bộ khoa học đạt được đến nay, đều
xuất phát từ niềm tin, nhận thức, khát vọng muốn biết,
trực giác vân vân...Trong tâm của những khoa học gia lỗi
lạc nhất, những người đã đạt được những khám phá
quan trọng nhất, đều do các phẩm tính có nhiều trên đây.
Quan
sát cũng bắt đầu bằng tư tuởng, tư tưởng tạo con đường
điều tra, và bắt buộc quan sát vào khuôn khổ thích hợp.
Thí dụ, Newton thấy trái táo rơi và hiểu được Ðịnh luật
của trọng lực. Theo chuyện, Newton khi nhìn thấy trái táo
rơi, ông nhận thức được, nhưng thực ra ông đã suy nghĩ
và cân nhắc từ nhiều tháng ở thời đó về bản chất của
sự hấp dẫn. Ðó là một tiến trình tinh thần của tâm ông
tiến đến cao độ nhận thức được khi nhìn thấy trái táo
rơi.
Ðôi
khi việc này xẩy ra với chúng ta. Chúng ta có một số khó
khăn đặc biệt nào đó đã từ lâu chúng ta không tìm được
cách giải quyết, rồi chúng ta ngồi im lặng, bỗng nhiên câu
trả lời lóe lên trong tâm trí của chúng ta. Những câu trả
lời này không phải tự nhiên phát xuất bừa bãi hay ngẫu
nhiên.Thực ra, tâm đã hoạt động trên một mức độ tinh
tế. Sự nhận thức là kết quả của tiến trình nguyên nhân
và hậu quả.
Tâm,
do niềm tin và động cơ thúc đẩy, là nguồn gốc của khoa
học, qua trực giác và thấy trước là lực do đó khoa học
có thể tiến triển và qua mục đích và mục tiêu hình dung
mong mỏi trong tâm, đó là đường hướng cho khoa học tiến
bước trong tuơng lai. Sự tìm kiếm chân lý căn bản có thể
thực thi vì tâm nhận thức những chân lý ấy có hiện hữu.
Tới
điểm này chúng tôi xin đưa ra tên một khoa học gia lỗi lạc
đã khiến tôi có ý niệm về đề tài nói chuyện này. Không
ai khác lạ hơn đó là khoa học gia Albert Einstein. Tuy nhiên
ông không nói đúng những lòi tôi dùng. Tôi đã chú giải
dài dòng.
Ðiều
mà Einstein có nói là:
"...
trong thời đại vật chất này của chúng ta, những khoa học
gia đứng đắn chỉ là những người đạo lý thâm sâu.."
Einstein
cảm thấy trong thời đại này, rất khó khăn tìm thấy người
có tôn giáo. Chỉ có những khoa học gia nghiên cứu khoa học
với một tâm thanh tịnh có đạo lý thực sự. ông tiếp:
"...nhưng
khoa học chỉ có thể tạo ra bởi những người thấm nhuần
với khát vọng tìm chân lý và hiểu biết...những cá nhân
ấy mà chúng ta hàm ơn những thành quả sáng tạo khoa học
của họ, tất cả những người đó thấm nhuần với nhận
thức tôn giáo thực sự là vũ trụ của chúng ta là một thứ
gì toàn hảo khả thi cho công cuộc nghiên cứu kiến thức."
Sự
ham muốn biết sụ thật, và niềm tin đàng sau thiên nhiên
có những định luật là chân lý bất biến trên toàn cõi
vũ trụ - Ðiều này là cái mà Einstein gọi là cảm nghĩ đạo
lý hay rõ ràng hơn 'cảm nghĩ tôn giáo vũ trụ' . Rồi ông
lại tiếp:
"...cảm
nghĩ tôn giáo vũ trụ là động cơ mạnh mẽ và cao thượng
cho công cuộc nghiên cứu khoa học.'
"...
Phật Giáo, như chúng ta đã được biết từ những tác phẩm
tuyệt tác của Schopenhaumer, bao gồm yếu tố chứng tỏ mạnh
mẽ điều này ..."
Einstein
nói Phật Giáo có một mức độ cao của cảm nghĩ tôn giáo
vũ trụ, và cảm nghĩ tôn giáo vũ trụ là nguồn gốc hay hạt
giống của công cuộc nghiên cứu khoa học. Cho nên quý vị
có thể tự quyết định về nhan đề mà chúng tôi dùng cho
bài nói chuyện có đúng hay không.
Chúng
tôi có trình bầy trong một đường lối nào mà có thể nói
Phật Giáo là nền tảng của khoa học, nhưng xin đừng quá
chấp vào sự quan trọng của ý kiến này, vì chúng tôi không
hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Einstein. Sự không đồng
ý của chúng tôi không phải là điều mà ông ta nói mà là
ông nói quá ít. Cái mà ông Einstein gọi là 'cảm nghĩ tôn
giáo vũ trụ' chỉ là một phần của cái cảm nghĩ tôn giáo,
vì tôn giáo bao giờ cũng quay về với con người, đến bản
chất của con người, gồm cả con người phải đối xử với
thiên nhiên ra sao, bên trong cũng như bên ngoài. Chúng tôi thấy
trong lời nói của Einstein không rõ ràng bao gồm sự tự biết
mình và lợi ích cho con người. Tuy nhiên có thể là từ những
lời của Einstein mà chúng ta có thể nhìn thấy ông cảm thấy
rễ của khoa học trong sự ham thích của con người về kiến
thức, và thừa nhận nó trong thứ tự của thiên nhiên.
Nhưng
bây giò tiến tới điểm này, chúng tôi đã nói chúng tôi
không muốn quý vị quá lo lắng phải hay không phải Phật
Giáo là nền tảng của khoa học hay không. Thực ra phải nên
thay đổi nhan đề bài nói chuyện này, chẳng hạn như .."Khoa
học phải như thế nào mà Phật Giáo lại là nền tảng của
nó". Ðiều này sẽ cho chúng ta một vài viễn cảnh mới để
nghĩ tới. Câu "Phật Giáo là nền tảng của khoa học", chỉ
là một ý kiến, và một số người có thể cho là câu ấy
có tính cách tự cao tự đại. Và việc này sẽ chẳng đưa
chúng ta đến đâu. Nhưng nếu chúng ta nói: "Khoa học phải
như thế nào để có thể đặt nền móng trên Phật Giáo",
câu này sẽ có tính cách xây dựng hơn, cho chúng ta một số
điểm thực tiễn và cụ thể để xét.
Ðiều
này là một câu hỏi quan trọng, một câu hỏi đòi hỏi một
số phê phán. Chúng tôi có thể có câu trả lời, và chúng
tôi cố gắng giữ trong phạm vi những điểm đã được đề
cập và câu trả lời dùng như một loại tóm lược.
Trước
tiên chúng ta phải mở rộng nghĩa của từ ngữ 'tôn giáo'
hay cảm nghĩ tôn giáo' để có thể đối chiếu với Phật
Giáo.
A)
Những từ ngữ 'cảm nghĩ tôn giáo vũ trụ' bao gồm cả thể
giới thiên nhiên bên ngoài lẫn bên trong con người, hay cả
vũ trụ vật lý, trừu tượng, hay tinh thần gồm cả những
giá trị.
B)
Sự định nghĩa về khoa học, bắt nguồn từ sự khao khát
muốn biết sự thật phải được bổ túc bởi lòng ham muốn
đạt được điều thiện cao nhất mà Phật Giáo gọi là 'tự
do từ sự bất toàn vẹn của con người'
Tại
điểm A chúng ta mở rộng định nghĩa về thiên nhiên phải
được thực hiện. Ở điểm B, chúng ta lập lại những giá
trị ấy tương hợp với điều thiện cao nhất, bảo đảm
khao khát sự thật trong sạch và rõ ràng, không cho cơ hội
nhũng giá trị thấp kém làm hư nguyện vọng của chúng ta.
Với
hai điểm trên đây trong tâm, bây giờ chúng ta có thể trả
lời: "Khoa học đồng ý với Phật Giáo là khoa học mong muốn
hiểu sự thật tự nhiên đi đôi với việc phát triển con
người và sự đạt được điều thiện cao nhất" Hay chúng
ta có thể nói: "Khoa học đặt nền móng trên Phật Giáo phát
xuất từ việc mong mỏi kiến thức về thiên nhiên, cùng với
sự ham thích muốn đạt điều thiện cao nhất, nền tảng
xây dựng sự phát triển con người".
Loại
định nghĩa này dường như bao quanh vào Khoa Học Thực Dụng,
nhưng không hẳn là như thế. Từ một viễn cảnh, khoa học
tự nhiên trong thời đại cuối bị ảnh hưởng bởi động
lực ích kỷ như đã nói trước đây, không được tốt lắm.
Vì lý do dó chúng tôi đề nghị những sự khích lệ xen vào
để lựa chọn hầu ngăn ngừa nhũng gì trước đây từ phát
xuất, thay thế ham thích chinh phục thiên nhiên và sản xuất
thật nhiều của cải vật chất với nguyện vọng thoát khỏi
khổ đau.
Lập
lại nghĩa trên, chúng ta có thể nói "Khoa học đạt được
kiến thức hiểu biết thật sự của sự thật sẽ là sự
hợp nhất của những khoa học vật lý, khoa học xã hội và
nhân loại. Tất cả mọi khoa học đều liên hệ lẫn nhau
và như một". Hay nói một cách khác: "Khi khoa học mở rộng
phạm vi định nghĩa căn bản của nó, và cải tiến kỹ thuật
đề tìm tòi và nghiên cứu, những sự thật của khoa học
xã hội và nhân loại sẽ đạt được do sự nghiên cứu khoa
học".
Câu
này không phải là một câu nói giỡn hay cẩu thả. Ngày nay
các tiến bộ của khoa học và xã hội của con người trong
môi trường tổng quát cần có sự liên kết trong việc tìm
kiến thức. Quý vị có thể nói thời gian đã chín mùi. Nếu
chúng ta không giải quyết kịp thời trong một đường lối
thích hợp, thời gian chín mùi này sẽ bị phôi pha như một
trái cây quá chín. Câu hỏi là " Liệu khoa học có gánh trách
nhiệm dẫn nhân loại đến sự thống nhất học hỏi này
không?"
Trên
mức độ thứ hai đó là nguyên tắc của sự cam kết với
kiến thức đó là kiến thức của sự thật hữu ích có thể
chia làm hai loại:
A)
Kiến thức cần thiết, hay sự thật hữu ích, đó là kiến
thức cần thiết cho một đời sống tốt đẹp mà có thể
cho một con người đạt được trong phạm vi của một cuộc
sống.
B)
Những loại kiến thức khác không cần thiết, hay sự thật
không hữu ích. Những điều ấy chưa được kiểm chứng,
phải được xem xét cho đến khi được kiểm chứng, nhưng
một đời sống tốt đẹp không tùy thuộc vào chúng và cũng
không phải chờ đợi câu trả lời cho chúng.
Ðời
sống của một con người rất giới hạn và ngắn ngủi. Phẩm
tính của đời sống, hay điều thiện tối thượng, là những
điều phải đạt cho được của một con người trong phạm
vi đời sống ngắn ngủi giới hạn này. Kiến thức khoa học
có khuynh hướng nói:' Hãy chờ đến khi chúng tôi kiểm lại
điều này trước đã, rồi bạn sẽ biết phải làm gì". Thái
dộ này nên thay đổi, phân biệt rõ ràng giữa những loại
khác biệt của kiến thức nói trên. Nếu khoa học quả là
nền tảng hiểu biết của học hỏi, nó phải liên hệ đúng
tới hai loại sự thật ấy.
Mặt
khác, nếu khoa học tiếp tục hành hoạt như bây giờ, nó
cần phải có sự bổ túc bằng sự hợp tác bởi sự tiến
dẫn của Phật Giáo cho những câu trả lời về những câu
hỏi đòi hỏi phải có câu trả lời ngay, hầu sự đạt được
điều thiện cao nhất trong đời sống có thể thực hiện
được, trong khi khoa học có thể tìm được câu trả lòi
cho những câu hỏi ấy hoặc dù không trả lời được cũng
không ảnh hưởng gì đến khả năng sống trong an lạc và
hạnh phúc.
CHẤP
NHẬN GIÁC QUAN THỨ SÁU
Lý
do chúng tôi cần phải làm sáng tỏ những mục tiêu trung gian
là nếu Khoa Học Thuần Túy không thể xác định giá trị
của chính nó, nó không thể tránh được ảnh hưởng những
quyền lợi khác. Những nhóm bên ngoài với quyền lợi riêng
tư, đã xác định giá trị khoa học trong quá khứ, giá trị
đã dẫn đến sự phá hoại thiên nhiên trong công cuộc tìm
kiếm của cải vật chất. Việc này đã đem khoa học trở
thành được gọi là kẻ 'phục vụ cho kỹ nghệ'. Kẻ phục
vụ cho kỹ nghệ không phải là người phục vụ cho nhân loại.
Trong những ngày này, một số người nói kỹ nghệ đang phá
hoại nhân loại, một điểm cần được cứu xét. Nếu khoa
học không tạo được giá trị cho chính mình, thì người
khác sẽ tạo được.
Con
người là những chúng sanh có ý định. Ðó là một phẩm
tính duy nhất của con người. Ðó có nghĩa là việc tìm kiếm
kiến thức không thể nào có được mà không có giá trị.
Vì con người là loại chúng sinh cao nhất, có khả năng đạt
đến sự hiểu biết sự thực và điều thiện tối thượng,
con người nên nhận thức tiềm lực này.
Bao
lâu mà con người không minh định được vị trí của mình
liên quan đến giá trị, chưa hiện hữu trong phạm vi thế
giới giá trị, thì khoa học sẽ có đường hướng xác định
bởi những quyền lợi khác. Kết quả, khoa học gia cảm thấy
bị bịp bợm và dao động trong công cuộc nghiên cứu. Bao
lâu mà kỹ nghệ là minh tinh chính của xã hội, kỹ nghệ
có thể ảnh hưởng rất mạnh đến khoa học, do các tầng
lớp của chính phủ ảnh hưởng đến đường lối chính quyền,
và do thể chế tài chánh với trợ cấp cho khoa học. Chẳng
hạn, nếu một khoa học viện đệ trình một dự án nghiên
cứu trong một lãnh vực đặc biệt, nhưng việc nghiên cứu
này không đem lợi ích gì cho kỹ nghệ, bộ kỹ nghệ có quyền
hành không ủng hộ và áp lực chính phủ hành động khác
đi. Khi việc này xẩy ra, các khoa học gia có thể nản trí,
và bỏ cuộc như Sir Isaac Newton.
Newton
bị ảnh hưởng rất mạnh bởi những giá trị trong công cuộc
nghiên cứu của ông. Newton khám phá ra Ðịnh Luật Trọng Lực
khi ông mới có 24 tuổi. Tuy nhiên, những ý kiến của ông
đã bị chống đối lúc bấy giờ. Những trường khoa học
cũ chế giễu ông, làm ông đau buồn. ông đã không hợp tác
với ai cả. Ngay khi ông bắt đầu việc nghiên cứu, người
ta đã công kích ông, ông buồn giận và bỏ việc nghiên cứu.
ông đã hoàn toàn xa lánh khoa học và không đi đâu cả trong
20 năm.
Bấy
giờ Edmond Halley, khoa học gia đã tiên đoán chu kỳ của sao
chổi và người ta đã lấy tên ông để đặt cho sao chổi,
nhìn thấy giá trị công trình nghiên cứu của Newton, bèn tìm
đến an ủi và khuyến khích Newton. Cảm dộng Newton trở lại
làm việc và bắt đầu viết tác phẩm trọng yếu Philosophiae
Naturalis Principia Mathematica.
Nhưng
rồi, khi ông mới chỉ hoàn tất hai phần ba tác phẩm, trong
thời gian hai mươi hai năm mà Newton từ chối không cho in khám
phá của mình thì một khoa học gia khác hiểu được Ðịnh
Luật Trọng Lực và phép tính, tuyên bố là ông mới là người
khám phá ra tất cả trước Newton.
Khi
Newton nghe thấy như vậy ông lại giận hờn. ông không chịu
tiếp tục viết nốt tác phẩm mà ông đã viết được hai
phần ba. Một lần nữa Halley lại phải đến gặp ông năn
nỉ ông tiếp tục ông mới hoàn tất tác phẩm.
Thí
dụ điển hình trên đây cho thấy giá trị đã lấn át một
khoa học gia với hậu quả cho cả khoa học thế giới. Nếu
Newton là một thiên tài, đã có một con tim mạnh mẽ, không
nhượng bộ trước những đau buồn và phẫn nộ, ông có thể
đóng góp nhiều hơn nữa cho thế giới khoa học, nhiều hơn
những gì ông đã đóng góp. Tâm trạng của ông đã khiến
ông quăng bỏ khoa học thời gian trên hai mươi năm.
Ngày
nay khi lãnh vực kỹ nghệ và tài chánh có nhiều thế lực
mạnh mẽ, khoa học phải đủ mạnh với giá trị của chính
mình để ngăn chận các giá trị bên ngoài lấn át. Trong thời
đại môi sinh bị tàn phá, một số sự thật khám phá ra bởi
khoa học không gây chú ý cho một số lãnh vực kỹ nghệ và
tài chánh.
Chúng
ta nghe thấy những lời tuyên bố của một số nhóm các nhà
nghiên cứu của Hoa Kỳ là sự kinh hoàng về nhà kính vô căn
cứ, thế giới không nóng lên, do kết quả của công cuộc
nghiên cứu của họ đã chứng minh được. Rồi ít lâu sau,
một nhóm nghiên cứu khác nói với chúng ta là nhóm thứ nhất
bị ảnh hưởng bởi tài chánh của một số lãnh vực kỹ
nghệ trong việc đánh giá các kết quả của họ. Tình trạng
hết súc là phức tạp. Lợi thế cá nhân bắt đầu đóng
một vài trò trong việc nghiên cứu khoa học., và lệ thuộc
nhiều hơn nữa vào ảnh hưởng của giá trị. Cả đến kiến
thức và nghiên cứu thực thi ngày nay về tình trạng môi sinh
là mối quan tâm của giá trị; đó là chuyên để thực hiện
nhu cầu đặc biệt, nhưng trong trường hợp này chúng rõ ràng
xác thực hay các giá trị xây dựng.
Và
đến cuối cùng, đạo đức dạy các khoa học gia phải có
một hoài bão trong sạch về kiến thức. Ðó là sức mạnh
hùng mạnh nhất mà khoa học có thể có được. Ngày nay chúng
ta bao quanh bởi một thế giới dồi dào giá trị hầu hết
là tiêu cực. Trong quá khứ, khoa học và kỹ nghệ cùng nhau
làm việc giống như vợ với chồng. Có rất nhiều tiến bộ
vĩ đại. Kỹ nghệ thúc đẩy khoa học tiến, và khoa học
giúp kỹ nghệ phát triển. Nhưng trong thời đại này, vì một
số quyền lợi của kỹ nghệ đã trở thành một khó khăn
trong môi sinh thiên nhiên, và vì khoa học bị chất vấn về
điều này, câu trả lời của một số câu hỏi đang làm cho
lãnh vực kỹ nghệ bối rối. Rất cần thiết cho khoa học
và kỹ nghệ phải dự phần hay ít nhất cũng chứng nghiệm
sự căng thẳng trong mối tương quan với nhau. Khoa học có
thể bị bắt bưộc phải có bạn mới, người bạn này sẽ
giúp đỡ và khuyến khích khoa học tìm kiến thức hữu ích
cho giống người.
Khi
khoa học tiến tới ranh giới của tâm, câu hỏi phát xuất:
"Liệu khoa học có công nhận giác quan thứ sáu và những dữ
kiện đã chúng nghiệm tại đây? hay các khoa học gia tiếp
tục cố gắng kiểm chứng tính khí và tư tưởng bằng cách
nhìn vào các hóa chất tiết ra từ bộ não, hay đo đạc luồng
sóng trong óc bằng một máy, và theo cách ấy là chỉ nhìn
vào cái bóng của sự thật mà thôi?"
Ðiều
này giống như nghiên cứu một viên đá từ tiếng rơi tõm
xuống nước, hay từ gợn sóng lăn tăn trên mặt nước. Họ
có thể đo các làn sóng tương ứng với các viên đá mọi
cỡ khác nhau - nếu có một tiếng động có nghĩa là viên
đá phải cùng một cỡ - họ sẽ có thể đưa và một phương
trình toán học, tiên đoán cỡ viên đá, tương úng với tiếng
rơi tõm vào nước, hay ước tính khối đá rơi xuống nước
bằng cách đo các gợn sóng gây ra.
Có
phải phương pháp nghiên cứu của khoa học về thiên nhiên
đã như vậy không? Sự kiện là, họ thực ra chẳng bao giờ
cầm đến một viên đá! Nếu đó là trường hợp, khoa học
có thể có một cái nhìn vào một số đường lối quan sát
và thí nghiệm dùng bởi một số truyền thống khác, như Phật
Giáo, duy trì quan sát và thí nghiệm thực hành từ kinh nghiệm
trực tiếp trong tâm trí, một đường lối có giá trị về
sự tôn trọng định luật thiên nhiên.
...Không
cần thiết cho khoa học phải cố tránh những giá trị. Ðó
là vấn đề cố gắng làm sáng tỏ các giá trị mà khoa học
đã có ....
Xin
xem thêm nguyên tác Anh ngữ: "Buddhism
as the Foundation of Science"