CHƯƠNG
NĂM
NHỮNG
TÔN GIÁO XÊ-MÍT (SEMITIC)
DO
THÁI GIÁO
13.
CHÚA TỂ LÀ MỘT
Toàn
thế giới biết đến người Do Thái. Cuộc đời nay đây mai
đó mang họ đi khắp trái đất. Họ mang theo tôn giáo của
họ mà hầu hết những người Do Thái trung thành mãnh liệt
với tôn giáo của họ. Khi mặt trời lặn vào lúc bắt đầu
lễ Sabbath, nhiều triệu người Do Thái bắt đầu ngày nghỉ
và thờ phượng. Số người của họ không nhiều so với tổng
dân số trên thế giới. Nhưng thành công mà người Do Thái
đã tạo dựng trên thế giới lại rất rộng lớn và có ý
nghĩa đáng kể.
Do
Thái Giáo là "tôn giáo mẹ" của cả Cơ Đốc Giáo và Hồi
Giáo. Ba tôn giáo này là những tôn giáo chính của thế giới
Tây Phương. Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo thừa hưởng những
khái niệm tôn giáo, luân lý và tu tập từ Do Thái Giáo. Nếu
một sử gia không lưu ý đến việc đóng góp của người
Do Thái vào việc phát triển văn minh Tây Phương, thì sử gia
ấy không thể viết về quá khứ của nó và hiểu biết hiện
tại của nó.
Do
Thái không thuộc một giống người nào. Đời sống lang thang
khắp trái đất của họ khiến cho việc này không thể xẩy
ra. Hàng ngàn năm qua, họ là một nhóm các bộ lạc, gọi là
Hê Brơ (Hebrews). Bây giờ từ "Do Thái" áp dụng đúng cho bất
cứ ai là người có niềm tin Do Thái. Nói về mặt quốc gia,
người Do Thái là người Đức, Ả Rập, Mỹ, và hầu hết
mọi thứ người khác.
Mặc
dù quê hương dân tộc trải rộng, người Do Thái vẫn giữ
được nhiều thời đại ý thức gần gũi nhau Họ đã làm
việc này bằng cách thực hiện cẩn thận giới luật tôn
giáo của họ. Họ đã làm việc này do nhấn mạnh có một
mục đích duy nhất chân lý mà họ gọi là Shema: "Hãy nghe
đây này người Do Thái, Vị Chúa tể Thượng Đế chúng ta,
Chúa tể là Một". Đây là điểm chính yếu trong mỗi khóa
lễ tôn giáo Do Thái. Hơn thế nữa, nó là điểm mấu chốt
của Do Thái Giáo.
MỘT
THƯỢNG ĐẾ
Những
người Hebrews thời cổ tìm cách hiểu ý nghĩa và mục đích
cuộc đời, giống như những nhà hiền triết cổ Ấn Độ
và Trung Hoa. Vì băn khoăn đó, người Hebrews từ lâu cảm thấy
sự quan hệ đặc biệt với trung tâm vũ trụ. Truyền thống
Do Thái nói người ấy là Abraham. Abraham tin vào thượng đế
riêng. Ngài đặc biệt quan tâm đến số phận và mơ ước
của mình. Người Do Thái vẫn tôn kính người huyền thoại
này như người cha dân tộc. Những người khác tiếp nhận
niềm tin của Ngài và tìm thấy trong đó những câu trả lời
cho những câu hỏi riêng của họ về thế giới.
Cuối
cùng, xuất hiện một nhân vật vĩ đại, Moses. Ngài làm rõ
ràng và sáng tỏ khái niệm về một thượng đế riêng. Ngài
tin rằng thượng đế đã đồng ý đặc biệt với Abraham
và với tất cả những người nối dõi. Những người này
đã hứa trung thành và tận tâm. Đổi lại, Thượng Đế tạo
cho họ một quốc gia hùng mạnh.
Dân
Do Thái theo truyền thống vẫn tin rằng Thượng Đế đã tiết
lộ những qui luật lệ của đời sống cho Moses tại Núi Sinai.
Họ coi Moses là người sáng lập ra tôn giáo của họ. Họ
công nhận Moses có công cho họ những thâu thập quan trọng
về những luật lệ tu tập, đối xử và ăn uống theo tôn
giáo. Moses là nhà lãnh đạo được Thượng Đế chọn để
giải thoát người Hebrews khỏi sự nô lệ ở một nước xa
lạ thành đất của chính họ.
Những
niềm tin như vậy căn cứ vào chuyện cổ tìm thấy trong Sách
Genesis (Cuốn "Chúa Tạo Ra Thế Giới") và Exodus (Sự rời khỏi
Ai Cập của người Do Thái). Như nhiều học giả Do Thái lúc
nào cũng sẵn sàng lưu ý, những chuyện này không thể được
cho là lịch sử theo nghĩa đen. Những huyền thoại này cuối
cùng được viết lại sau nhiều thế kỷ tồn tại trong ký
ức của người Hebrews, những người đã kể lại chúng hết
từ thế hệ này đến thế hệ khác. Những huyền thoại cho
thấy lúc đầu Thượng Đế là một thượng đế thuộc bộ
lạc, người bảo vệ và ân nhân của người Hebrews, con cháu
Abraham. Thượng Đế được biết đến và được thờ phượng
bởi Abraham, người con Isaac và người cháu Jacob sau này được
gọi là Israel (Do Thái).
Dần
dà Người Hebrews - Do Thái tin chắc thượng đế bộ lạc ấy
chỉ là một Thượng Đế duy nhất của tất cả sáng tạo.
Đương nhiên, tiến trình này mất nhiều thời gian hết thế
kỷ này đến thế kỷ khác, qua những thời kỳ của những
nhà lãnh đạo lớn người Hebrews -- những người cha bộ lạc,
Moses, David và những hoàng đế khác, Isaiah và phần còn lại
của các nhà tiên tri. Dần đà dân chúng đạt đến một quan
niệm toàn diện có lẽ đã không có lúc khởi thủy khi còn
là những bộ lạc lang thang nay đây mai đó.
Nhưng
bây giờ, qua 2500 năm, sự khẳng định quan trọng nhất của
Do Thái Giáo đã là: "...Vị Chúa tể Thượng Đế của chúng
ta, Vị Chúa tể là Một." Sự phát triển thờ phượng một
Thượng Đế phản ảnh những kinh nghiệm và tính khí độc
đáo của người Do Thái. Trong đường lối riêng, họ đi đến
kết luận mà tất cả những tôn giáo hiện tiền ngày nay
chia sẻ: nằm dưới sự đa dạng vô tận mà chúng ta thấy
trong đời sống là một mục tiêu, một thực tại.
Đã
từ lâu, Người Do Thái thấy chẳng có gì quan trọng trong
việc thảo luận về bản chất của Thượng Đế. Thượng
Đế hiện hữu, Ngài là Một, Ngài là thực tại. Cả đến
ngày nay, không có lấy một tín ngưỡng mô tả những đặc
tính của Thượng Đế. (Chân lý) Shema là đủ.
Tuy
nhiên một số giáo sĩ Do Thái và triết gia đã lưu ý đến
việc mô tả những đức tính của Thượng Đế dù rằng không
một người Do Thái nào đã từng đòi hỏi xác nhận khái
niệm này. Thượng Đế ngay thẳng. Ngài là Đấng Sáng Tạo.
Ngài là tinh thần. Thượng Đế là người sẵn sàng giúp đỡ
con người, cung cấp phương tiện cho con người có thể tự
cứu mình khỏi những hạn chế của ngu muội và tội lỗi.
Thượng Đế đã tạo ra con người như con Ngài; bởi vậy,
họ phản ảnh bản chất của Ngài.
CHÍNH
TRỰC
Không
một người Do Thái nào có thể nói là yêu Thượng Đế, trừ
phi người ấy có quan hệ thương yêu với người láng giềng.
Người láng giềng gồm cả người thuộc chủng tộc khác
hay người lạ trên đất nước của mình, người xa lạ này
được đối xử như người Do Thái đối xử với người
đồng chủng. Hơn thế nữa, người Do Thái được đòi hỏi
phải làm:"... thương yêu người láng giềng như thương yêu
chính mình".
Sau
đó rất lâu khi điều này được viết ra, một người nào
đó đã đưa ra thách thức tới giáo sĩ nổi tiếng Hillel sống
và dạy học vào cùng thời với Jesus. Người thách thức đòi
giáo sĩ hãy nói tất cả những gì quan trọng về Do Thái Giáo
trong khoảng thời gian một con người có thể đứng bằng
một chân. Giáo sĩ Hillel tuyên bố:"Cái có hại cho ngươi,
không có hại cho người láng giềng. Đây là toàn bộ học
thuyết. Phần còn lại chỉ là lời dẫn giải. Bây giờ hãy
tiến lên và học hỏi".
Ngay
thẳng quan trọng đối với người Do Thái đến nỗi chúng
ta có thể nói người Do Thái có hai mối quan tâm giống nhau
-- tính chất duy nhất của Thượng Đế và tính ngay thẳng
của con người. Không khó khăn gì đối với con người khi
đi theo luật lệ và ý Thượng Đế. Được tạo ra theo hình
ảnh của Thượng Đế, chúng ta có khả năng tự nhiên học
hỏi về điều thiện. Người Do Thái nói rằng không làm được
điều phải, là chối bỏ bản chất của chính bạn.
LUẬT
LỆ
Thường
thường người Do Thái coi Thượng Đế như người đưa ra
luật cho dân tộc họ. Luật lệ mà Thượng Đế ban ra được
gọi là Torah, có nghĩa là lời "giáo huấn". Torah gồm có năm
cuốn đôi khi được gọi là Pentateuch (Năm quyển đầu của
Kinh Cựu Ước). Những cuốn này là Genesis (Chúa Sáng Tạo
Ra Thế Giới), Exodus (Sự Rời Khỏi Ai Cập), Leviticus (Phép
Tắc của Tu Sĩ), Numbers (Kinh Điển Do Thái và Cơ Đốc), và
Deuteronomy (Luật Moses và Chuyện Kể). Tất cả những người
Do Thái đều được khuyến khích nghiên cứu những cuốn sách
ấy. Toàn bộ Torah thường được đọc đều đặn mỗi năm
trong những giáo đường Do Thái, và một phần trơng mỗi lễ
Sabbath.
Torah
chứa đựng những huyền thoại về nguồn gốc của chính
nó. Theo những huyền thoại này, Thượng Đế trao Luật cho
Moses tại núi Sinai, trong khi người Hebrews cắm trại tại vùng
hoang dã sau khi thoát khỏi Ai Cập. Tại đây người Hebrews
khẳng định lại với Thượng Đế, hứa tuân theo luật của
Ngài. Truyền thống kể thêm rằng Thượng Đế nói về Mười
Điều Răn mà người ta tìm thấy ở Chương hai mươi trong
Exodus.
Có
rất nhiều điều răn, chắc chắn là hơn sáu trăm cả thảy.
Những điều răn nói về nhiều đề tài: chế độ ăn uống,
tội ác và hình phạt, tu tập, ngày lễ, và sự quan hệ của
con người. Nhiều người Do Thái là những người đầu tiên
khẳng định những luật này không thể được làm cùng một
nơi và một lúc. Thực tế họ có một tập sưu tầm về luật
mà người Hê Brơ - Do Thái trình bày có hệ thống một thời
kỳ nhiều năm cùng chung sống.
Trong
Kinh Thánh Do Thái, phần hai được gọi là "Những nhà Tiên
Tri". Nhiều người tin rằng đỉnh cao của tư tưởng và hiểu
biết Do Thái đã đạt được trong giáo huấn của những nhà
tiên tri. Những nhà tiên tri không nói trước tương lai; họ
"có nói" cho Thượng Đế. Trước nhất họ là phát ngôn viên
cho Thượng Đế, cảnh báo những hậu quả tàn khốc nếu
ý Thượng Đế không được tuân theo.
Chính
những nhà tiên tri này cố gắng trình bày cho người dân thấy
sự tận tâm với Thượng Đế không chỉ nằm trong việc đi
theo luật trong chi tiết nhỏ nhất. Tại sao con người phải
bận tâm về về việc tuân thủ chi tiết hơn sáu trăm luật?
Sự tận tâm nằm trong việc gìn giữ tinh thần của Luật.
Theo
Isaiah, đây là thuộc tính của người đã cân nhắc tinh thần
của luật. Đó là:
- Người
bước thẳng và nói thành thực
-
Khinh miệt lợi lộc giành được bằng áp bức
-
Không nhúng tay vào của đút lót
-
Không chịu nghe tiếng chém giết
-
Không chịu đứng nhìn tội lỗi.
Nhà
tiên tri Micah rút gọn những luật lệ quan trọng thành ba trong
lời tuyên bố nổi tiếng về nhiệm vụ tinh thần của một
người:
Ngươi
đã được bảo, này con người, thế nào là thiện
Và
Chúa đòi hỏi gì ở nơi ngươi:
Chỉ
thực hiện sự công bằng, và yêu điều tốt đẹp
Và
khiêm tốn đi cùng với Thượng Đế của ngươi.
Với
Amos, (nhà tiên tri người Hê Brơ ở thế kỷ 8 trước Công
Nguyên), tinh thần của Luật là: "Hãy tìm Chúa, Bạn có thể
sống".
Tuy
vậy Chương Ba của Kinh Thánh Do Thái ai cũng biết là "Những
Tác Phẩm". Nó gồm có những sách sử kể lại những cuộc
phiêu lưu của người Hê Brơ-Do Thái và hiểu biết thế giới
ngày càng tăng của họ. Nó cũng gồm có những bài thánh ca
và những tập thi văn khác. Trong khi những thứ này không được
coi là Luật căn bản như năm cuốn đầu, chúng vẫn nằm trong
tinh thần của Luật.
Những
người Do Thái đương đại không chỉ dựa vào ba chương này
trong tác phẩm thiêng liêng của họ. Có một số tác phẩm
khác không phải là một phần của Thánh Kinh, nhưng được
tôn thờ sau Kinh Thánh. Đó là Talmud. Talmud trên thực tế chính
là sự mở rộng của Torah được viết trong nhiều thế kỷ
sau khi các tác phẩm khác được hoàn tất. Talmud xuất hiện
để đáp ứng những điều kiện mà người Do Thái phải đương
đầu trong những thời kỳ sau này. Khi chỗ ở và môi trường
chung quanh thay đổi, nhu cầu tôn giáo và văn hóa thay đổi.
Luật lệ gia tăng vì nhu cầu mới. Những điều này được
truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ kia. Thỉnh thoảng,
những giáo sĩ có học thức bình luận về những luật truyền
khẩu này và những luật thành văn trước đó, tìm cách giải
thích lại chúng vì thời buổi thay đổi.
Do
sự bình luận không ngừng như vậy về truyền thống quá
khứ và những luật dưới ánh sáng của tình thế mới, Luật
của Do Thái Giáo vẫn còn tồn tại. Người Do Thái đương
đại có thể thích nghi một cách sáng tạo trước những đòi
hỏi không bao giờ tưởng tượng được bởi Moses hay những
bậc thầy lớn khác thời thượng cổ.
PHẬN
SỰ CỦA NGƯỜI DO THÁI
Truyền
thuyết cổ về sự đồng ý đặc biệt giữa Thượng Đế
và người Hê Brơ đã làm nhiều người Do Thái tin là Thượng
Đế đã chọn họ là những người được ưa chuộng hơn
tất cả các dân tộc khác trên trái đất. Họ cảm thấy
họ có đặc quyền, và một số coi những dân tộc khác như
hạ cấp. Tuy nhiên, những vị thầy sau này đã giải thích
khái niệm "chọn lựa" theo một cách khác. Họ nói rằng người
Do Thái được chọn lựa để phụng sự Chúa và dạy người
khác về một Thượng Đế của tất cả thế giới.
Vẫn
còn có một số Do Thái khăng khăng nghĩ về tính độc quyền.
Điều này khiến các nhà tiên tri rất quan tâm. Hãy nghe một
nhà tiên tri xa xưa cố sửa chữa những khái niệm lầm lẫn
của họ:
"Phải
chăng bạn không giống những người Ethiopians dưới mắt tôi,
Này
những người Do Thái "; phải chăng lời tiên tri của Chúa.
"Ta
đã không nuôi dưỡng người Do Thái từ đất nước Ai Cập,
Cũng
như người Philistines từ Caphtor và người Syrians từ Kir?"
Một
nhà tiên tri vô danh trình bày Thượng Đế của họ là Thượng
Đế của tất cả các dân tộc. Nhà tiên tri này trích dẫn
lời Thượng Đế nói: "Diễm phúc thay Ai Cập dân tộc của
ta, và Assyria tác phẩm của bàn tay ta, và Do Thái di sản của
ta". Nhiều người Do Thái thời ấy cho rằng toàn bộ cuốn
Jonah chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và khái niệm
"dân tộc được chọn lựa"
Lúc
nào cũng có nhiều người Do Thái hành động theo sự nhấn
mạnh của những nhà tiên tri. Những người Do Thái này không
bao giờ tin họ là những người được chọn lựa một cách
thiêng liêng hơn các dân tộc khác. Có người Do Thái truyền
thống khoan dung với những tín đồ tôn giáo khác. Tính kiên
nhẫn và sự chịu đựng của họ trong vấn đề tôn giáo
rất gần gũi với quan điểm của người Ấn Giáo và Phật
Giáo thành thật.
Về
khái niệm Thương Đế và Luật của họ, người Do Thái tìm
thấy giá trị quý nhất của họ. Vì những điều ấy, họ
cảm thấy được nhiều may mắn. Nhưng hầu hết không tin
rằng sự phù hộ chỉ dành riêng cho họ. Những người khác
cũng tìm thấy giá trị trong ý niệm của riêng họ, và người
Do Thái chấp nhận khác biệt này cho thêm phong phú. Về phần
họ, người Do Thái không mong muốn thuyết phục người khác
về tôn giáo của họ. Đó không phải là cách cứu rỗi. Đó
là lối sống. Và tuy có nhiều người đổi sang Do Thái Giáo,
nhưng người Do Thái không bao giờ tích cực trong công việc
đổi đạo người khác.
VƯƠNG
QUỐC CỦA THƯỢNG ĐẾ
Người
Do Thái bao giờ cũng quan tâm đến tính ngay thẳng. Họ không
bao giờ cảm thấy chính phủ hay đoàn thể như người ta biết
về chúng, tốt bằng họ. Cho nên người Do Thái hy vọng sau
này mọi người sẽ ngay thẳng và gia đình và xã hội sẽ
phản ảnh tính ngay thẳng đó. Theo truyền thống những người
Do Thái gọi thời tương lai này là "Vương Quốc của Thượng
Đế". Sẽ đến lúc luật ngay thẳng của Thượng Đế mở
rộng khắp thế giới.
Những
người Do Thái hiện đại và truyền thống có ý kiến khác
nhau về việc điều đó sẽ đến như thế nào và điều đó
sẽ là gì. Người Do Thái truyền thống vẫn nhắc tới Messiah,
Đấng Cứu Tinh được chọn bởi Thượng Đế để đưa vào
Vương Quốc này vì con người cho đến nay không thể làm việc
đó một mình được.
Những
người Do Thái phóng túng thích nghĩ rằng mỗi người là một
đấng cứu thế, người này làm bất cứ gì có thể để
thúc đẩy sự nghiệp về tính ngay thẳng tiến bộ. Dần dần,
Vương Quốc này sẽ tới.
Niềm
hy vọng của người Do Thái và Thiên Chúa Giáo về một trật
tự đạo đức thế giới rất giống nhau -- dù rằng chúng
được diễn đạt bằng những từ ngữ khác nhau. Và những
người Do Thái tuyên bố rằng điều đó sẽ là cho tất cả
mọi người vì họ tin rằng sự ngay thẳng của mọi quốc
gia góp phần trong thế giới tương lai.
Quan
tâm nhiều đến cách sống đúng hiện nay và làm cho thế giới
tốt lên của người Do Thái đã giảm bớt lo lắng về đời
sống bên kia thế giới. Ngay trong số những người Do Thái
cũng có những người không đồng ý về vấn đề này. Một
số người Do Thái truyền thống vẫn tin vào đời sống bên
kia thế giới gồm có thưởng phạt, phục sinh và tính vĩnh
viễn trong Thiên đường hay Địa ngục Những người Do Thái
phóng khoáng hơn lại không coi những đức tin này là quan trọng.
Dù họ tin rằng đặc tính của cá tính (hay linh hồn) không
thể chết, nhưng họ cũng không cần lo tạo ra những lý thuyết
về việc ấy. Đối với họ, cuộc đời này là cách sống,
cái đó mới chính là quan trọng. Làm điều phải ngay bây
giờ có giá trị hơn là tin vào cái gì. Nhiều người Do Thái
cảm thấy hối cải và những hành vi tốt trong một giờ ở
thế giới này còn tốt hơn là toàn bộ đời sống ở thế
giới tương lai.
MIỀN
ĐẤT HỨA
Người
Do Thái được thế giới biết đến là nhừng người nay ở
chỗ này mai ở chỗ khác. Hơn hai ngàn năm trước đây, những
biến chuyển trên thế giới khiến họ không có một ngôi
nhà vĩnh viễn và họ bị đẩy đi lang thang trên trái đất.
Bất kỳ họ định cư nơi nào, họ vẫn tiếp tục truyền
thống của họ và sự thờ phượng Thượng Đế. Thường
thường họ cùng nhau sống trong cộng đồng của họ, để
họ có thể duy trì tốt hơn những ngày lễ và những luật
lệ về chế độ ăn uống.
Người
khác thấy người Do Thái sống khác và đôi khi khó hiểu.
Những dị biệt khiến một số người phàn nàn, và thậm
chí ngược đãi người Do Thái. Người Do Thái đã bị đối
xử rất khắc nghiệt bởi những người láng giềng hơn bất
cứ một tôn giáo nào khác. Đặc biệt người Thiên Chúa Giáo
kết tội người Do Thái đã giết chết Đức Jesus -- và đã
phạm tội ngược đãi như vậy. Đến tận ngày nay, có những
nhà lãnh đạo không đắn đo biến người Do Thái trở thành
kẻ dơ đầu chịu, gây hận thù đối với người Do Thái.
Tại sao người Do Thái lại bi cư xử như thế là một vấn
đề nghiêm trọng vẫn còn liên quan đến những người học
lịch sử, xã hội học, nhân chủng học, và tôn giáo.
Họ
buộc phải chịu sự cô lập, và sự ngược đãi bởi láng
giềng qua nhiều năm khiến người Do Thái phải dựa vào lẫn
nhau và dựa vào truyền thống nhiều hơn. Hơn hai ngàn năm,
họ đã nhớ lời hứa xa xưa của Thượng Đế về mảnh đất
phải là của họ. Đó là huyền thoại về miền đất hứa
được tìm kiếm bởi những người Hê Brơ bỏ Ai Cập dưới
sự lãnh đạo của Moses. Mảnh đất này đã một thời gian
là của họ, nhưng đã bị xâm chiếm bởi hết quốc gia này
đến quốc gia khác, chỉ để rồi cuối cùng bị đuổi ra
khỏi miền đất này.
Nhiều
người Do Thái vẫn tiếp tục hy vọng một lần nữa đất
của Palestine sẽ là của họ. Để giúp mang hòa bình cho mảnh
đất tranh chấp gây ra bạo động giữa những người Do Thái
cực đoan nhất gọi là Zionist (người theo chủ nghĩa phục
quốc Do Thái), và những kẻ thù truyền kiếp của của họ,
người Ả Rập, vào năm 1948 Liên Hiệp Quốc chấp thuận chia
một phần Palestine cho Do Thái và một phần Jordan cho người
Ả Rập. Đương nhiên, những biên giới độc đoán này đã
không thể giải quyết hoàn toàn sự thù địch lâu đời,
trở nên phức tạp hơn bởi sự kiện cả hai quốc gia đều
tuyên bố Jerusalem là của mình, thành phố thần thánh của
Hồi Giáo, cũng như Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Liên Hiệp
Quốc chấp thuận nghị quyết quốc tế hóa thị xã này nhưng
không được Do Thái lẫn Jordan ủng hộ. Rồi, thành phố này
vẫn cón là mảnh đất bị phân chia. Lý do để cay đắng
hơn là nhiều người Do Thái phải bỏ nhà trên phần biên
giới Jordan, và nhiều người Ả Rập phải di chuyển từ phần
đất Do Thái khi vùng này bị chia cắt. Hiện nay hồ như có
một sự hòa bình không thân thiện giữa các quốc gia; nhưng
căng thẳng càng sâu xa.
Do
Thái đã mở cửa cho tất cả những người Do Thái trên thế
giới. Tuy nhiên có thể còn quá sớm để thấy điều gì sẽ
ảnh hưởng đến Do Thái Giáo đã từ bao thế kỷ dài không
có quê hương cho chính mình. Nhiều người Do Thái không coi
quốc gia mới thực sự quan trọng đối với tôn giáo, vì
họ tin rằng đời sống tôn giáo của họ có thể sống được
ở bất kỳ nơi đâu mà họ là người biết mình. Sự thờ
phượng Do Thái không dựa vào tổ quốc.
GIÁO
ĐOÀN DO THÁI
Không
có một nhà lãnh đạo trung tâm nào trong Do Thái Giáo. Mỗi
giáo đoàn đều tự trị. Giáo sĩ là những cư sĩ - không
phải là thầy tu. Các giáo sĩ dạy dân và cố gắng làm sáng
tỏ Luật. Giáo sĩ không nói với Thượng Đế hộ người
dân. Dân chúng là các thầy tu của chính họ, họ thờ phượng
Thượng Đế cho chính họ.
Trong
một thời gian dài, tất cả những người Do Thái đều là
"chính thống" nghĩa là họ đều tuân theo những luật lệ
ghi trong kinh thánh theo sự hiểu biết và khả năng tốt nhất
của họ. Nhưng những sức ép và thay đổi trong đời sống
hiện đại đã làm điều đó ngày càng khó khăn. Một số
tin là nhận thức thế giới hiện đại đòi hỏi thay đổi
biểu hiện cá nhân trong tu tập tôn giáo. Cho nên, ở thời
đại tương đối hiện đại, nhiều người Do Thái đã rời
bỏ những giải thích nghiêm ngặt về niềm tin, luân lý, và
cách tu tập của cha ông.
Do
Thái Giáo Chính Thống: Những ai vẫn cố gắng trung thành với
truyền thống cổ để được giải thích một cách nghiêm
ngặt, được coi là người Do Thái "Chính Thống". Họ coi toàn
bộ kinh Torah đã được thôi thúc một cách tuyệt diệu và
được tiết lộ bởi Thượng Đế cho Moses. Họ giữ tất
cả những luật của Moses, gồm có những hạn định về ăn
uống và những hạn chế nghiêm ngặt trong lễ Sabbath. Họ
dùng tiếng Hebrews trong tất cả những buổi lễ tại giáo
đường Do Thái. Những trường học đặc biệt do họ hỗ
trợ dạy con cái họ về lịch sử Do Thái và nguồn gốc của
tiếng Hebrew. Nhiều người Do Thái Chính Thống vẫn trông chờ
Messiah đích thân xuất hiện.
Do
Thái Giáo Bảo Thủ: Những người Do Thái "Bảo Thủ" là những
người tôn trọng và tôn kính Torah, nhưng họ tin vào sự giải
thích Torah qua sự nghiên cứu uyên bác thời hiện đại về
kinh thánh để hiểu rõ hơn. Họ tin rằng tiếp tục dạng
thờ phượng truyền thống là quan trọng với sự dùng tiếng
Hebrew trong các buổi lễ. Vào ngày lễ Sabbath, họ chỉ làm
việc thật cần thiết, và họ cố gắng làm cho nó trở thành
ngày cầu nguyện.
Do
Thái Giáo Cải Cách: Một phong trào hiện đại của Mỹ Quốc
đã lôi cuốn nhiều người Do Thái vào xứ này. Đó là Do
Thái Giáo Cải Cách và nó là kết quả của sự cố gắng
áp dụng Do Thái Giáo vào đời sống Tây Phương ở thế kỷ
hai mươi này. Những người Do Thái Giáo cải cách đọc Kinh
Torah với sự đánh giá chân lý của nó như đã được xác
định bằng sự đồng ý với lẽ phải và kinh nghiệm. Toàn
bộ truyền thống của dân tộc là điều họ kính trọng.
Sự thờ phượng cũng giống như các nhà thờ Thiên Chúa Giáo
Tin Lành. Các gia đình cùng nhau ngồi trong các buổi lễ gồm
nhạc đàn ống và các đội hợp ca, với nghi thức tế lễ
bằng tiếng Hebrew, nhưng thuyết giảng bằng Anh ngữ. Cả trai
lẫn gái đều được làm lễ kiên tín.
NHỮNG
BÀI HỌC CỦA DO THÁI GIÁO
Những
bậc thầy lớn của Do Thái Giáo đã góp phần to lớn vào
tư tưởng tôn giáo của con người. Họ dạy thương yêu Thượng
Đế và cùng đi với người đồng loại. Đời sống là một
giống như Thượng Đế chỉ có một. Tự do, phẩm giá, và
trách nhiệm của mỗi người có gốc rễ ở chính bản chất
của vũ trụ. Bởi vậy chắc chắn là, nếu đời sống của
ta được đáp ứng thỏa mãn thì ta phải thương yêu người
láng giềng như chính mình. Có được điều này là do thương
yêu Thượng Đế "với tất cả tâm ý, với tất cả linh hồn,
và với tất cả những gì mà bạn có thể".
Người
Do Thái tán thành là chúng ta không thể biết câu trả lời
cuối cùng về những điều huyền bí của đời sống và Thượng
Đế. Nhưng người Do Thái tuyên bố rằng trong cái thiện của
các lối sống ngay thẳng, cái thiện của Thượng Đế được
biết như sau:
Ôi
lạy Chúa, làm sao chúng tôi có thể biết Người? Nơi đâu
tôi có thể tìm thấy Người? Người gần gũi với chúng tôi
như hơi thở nhưng Người cũng xa chúng tôi hơn ngôi sao tít
đàng xa. Người huyền bí như sự tịch mịch mênh mông trong
đêm trường nhưng Người cũng thân thuộc với chúng tôi như
ánh sáng mặt trời. Đối với nhà tiên tri thời cổ, Người
không nói: Người không thể nhìn thấy mặt tôi, nhưng tôi
sẽ làm cho tất cả điều thiện của tôi đến trước mặt
Người. Dù vậy Người làm cho điều thiện đến trước chúng
tôi trong lĩnh vực của thiên nhiên và trong hàng loạt kinh
nghiệm về đời sống của chúng tôi. Khi công lý bừng cháy
giống như ngọn lửa mãnh liệt trong lòng chúng tôi, khi tình
thương yêu đem lại sự sẵn sàng hy sinh của chúng tôi, và
để đánh giá thật đầy đủ sự tận tâm quên mình khi chúng
tôi tuyên bố niềm tin của chúng tôi vào chiến thắng cuối
cùng của chân lý và công bình, chúng tôi không cúi chào trước
vẻ đẹp lạ thường về điều thiện của Người? Người
sống trong tâm chúng tôi như Người đã tỏa khắp thế giới
và chúng tôi bằng sự ngay thẳng chiêm ngưỡng sự hiện diện
của Người.
14.
LỄ HỘI VÀ NGÀY THÁNH
Người
Do Thái luôn luôn trân quý truyền thống của họ. Nhiều tập
tục gia đình và tôn giáo có ý nghĩa nhất tập trung vào các
lễ hội và ngày thánh.
Lễ
Sabbath. Vào lúc hoàng hôn chiều thứ Sáu, những cây nến được
thắp sáng trong hàng triệu nhà người Do Thái trên khắp thế
giới. Đó là dấu hiệu quy tụ gia đình và lễ Sabbath bắt
đầu với hai mươi bốn giờ thờ cúng và nghỉ ngơi. Khi người
cha và những đứa con trai lớn trở về sau buổi lễ tại
các giáo đường Do Thái, có những nghi thức gia đình đặc
biệt về việc tạ ơn Chúa và cầu nguyện. Họ quây quần
ăn bữa cơm ngon nhất và hạnh phúc nhất trong tuần, thường
thường dùng bữa với một số khách mời về nhà sau buổi
lễ tại giáo đường.
Buổi
sáng hôm sau toàn thể gia đình tham dự buổi lễ tại giáo
đường, nam giới và những con trai ngồi tại phòng hội họp,
phụ nữ và con gái đi vào hành lang dành cho phụ nữ. Buổi
lễ thay đổi tùy theo giáo đoàn. Thường thường, nó gồm
có cầu Kinh Torah và hát những bài thánh ca được chỉ huy
bởi người lĩnh xướng, một cư sĩ Do Thái có tài về việc
này. Có những lúc dành cho những lễ cầu kinh và đọc kinh
Torah. Cũng có thể có bài thuyết giảng của giáo sĩ.
Sau
khi trở về nhà, người Do Thái nghỉ ngơi theo cung cách tùy
thích của mỗi người, mặc dù người Do Thái Giáo Chính Thống
có nhiều hạn chế về làm việc, chơi, và đi lại. Vào buổi
chiều, người đàn ông và con trai trở lại giáo đường để
đọc kinh và thảo luận. Người Do Thái Chính Thống trù liệu
rất cẩn thận cho ngày này, việc nấu nướng và làm vệ
sinh phải hoàn tất trước ngày lễ Sabbath. Người Do Thái
Bảo Thủ chỉ làm những công việc cần thiết, và Người
Do Thái Cải Cách dành ngày này làm một ngày nghỉ ngơi và
thờ cúng, không có giới hạn đặc biệt nào cho những hoạt
động của họ. Tối đến, gia đình lại quy tụ để ghi nhớ
mục đích của Lễ Sabbath và bắt đầu tuần lễ mới.
Đã
rất nhiều năm, Sabbath đã là một trung tâm đặc biệt trong
đời sống gia đình người Do Thái. Tập tục thời đại cổ
sử dụng một ngày trong bẩy ngày để nghỉ ngơi và thờ
phượng là một đóng góp to lớn mà người Do Thái cống hiến
cho thế giới. Điều đó từ lâu đã được chia sẻ bởi
những người Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo -- dù những ngày
khác đã được chọn cho mục đích này.
Lúc
đầu, lễ Sabbath Do Thái là một lý tưởng mới đối với
quảng đại quần chúng làm việc cực nhọc nhiều giờ ngày
này qua ngày khác không có ngày nghỉ cuối tuần và nghỉ lễ.
Người Do Thái được yêu cầu cử hành lễ Sabbath và giữ
nó trong sạch, cho bất cứ ai cần sự nghỉ ngơi và thay đổi
như vậy. Có thể là kế hoạch xen kẽ đều đặn hàng tuần
giữa nghỉ ngơi và hoạt động, giữa làm việc và lễ bái,
đóng góp nhiều vào sự thành công của người Do Thái trong
nhiều lãnh vực.
Trong
mười điều răn, người Do Thái được nhắc nhở về tấm
gương của Thượng Đế: "...trong sáu ngày, Chúa tạo ra thiên
đàng, trái đất và biển, cùng với tất cả những gì trong
đó, nhưng nghỉ vào ngày thứ bẩy: đó là cách Chúa đến
ban phước lành vào ngày thứ bảy và làm nó trở thành thiêng
liêng. Điều này tăng thêm tầm quan trọng của tôn giáo đối
với nhu cầu nghỉ ngơi. Những giáo sĩ uyên bác dạy rằng
lễ Sabbath phải phục vụ nhu cầu cho con người cũng như của
Thượng Đế. Đối với người Do Thái, đời sống con người
bao giờ cũng là mối quan tâm lớn lao hơn là phép tắc trừu
tượng.
Rosh
Hashonah: Năm Mới. Vào tháng thứ bẩy của lịch Do Thái, người
Do Thái dành một thời gian dài để suy xét và sám hối. Ngày
bắt đầu năm mới được tổ chức trọng thể tại giáo
đường với tù và thổi, gọi là shofar. Âm thanh này mở ra
đợt thời gian mười ngày cho người Do Thái kiểm điểm lại
đời họ và tìm sự tha thứ cho các lỗi lầm của mình.
Vì
lịch Do Thái căn cứ vào chu kỳ mặt trăng chứ không phải
mặt trời, cho nên chính xác ngày này thay đổi từng năm.
Rosh Hashonah có thể đến sớm vào tháng Chín hay đầu tháng
Mười.
Đối
với hầu hết người Do Thái, giai đoạn mười ngày này là
thời gian phán xét. Truyền thống cổ nói rằng trong thời
gian này, Thượng Đế quyết định ai sẽ sống, ai sẽ chết;
ai sẽ được nghỉ ngơi, ai sẽ phải lang thang; ai sẽ được
an ổn, ai sẽ bị phiền nhiễu; ai sẽ trở nên nghèo khó và
ai sẽ trở nên giàu có; ai sẽ bị sa sút, và ai sẽ được
đề cao. Truyền thống cổ xa xưa hơn nói Rosh Hashonah là ngày
Thượng Đế viết Thiên Phán Xét vĩ đại ghi hồ sơ cuộc
đời mỗi người.
Mười
ngày cho người ta thời gian suy nghĩ về cuộc sống của mình
và những gì có thể làm được về đời sống. Mười ngày
này cho người ta thời gian và cơ hội thấy những lỗi lầm
của mình và cố gắng sửa chữa những lỗi lầm này. Mười
ngày thật trang nghiêm vào những ngày lễ thần thánh. Người
Do Thái truyền thống tin rằng người ta có thể thay đổi
được hồ sơ trong Thiên Phán Xét nếu thành thực, tử tế,
và ăn năn sám hối đủ. Họ tin là Thiên Phán Xét sẽ đóng
lại vào lúc kết thúc mười ngày.
Đỉnh
điểm của lễ tiết năm mới là Yoni Kippur, ngày thứ mười
của năm mới. Nó bắt đầu vào lúc mặt trời lặn (như tất
cả những ngày lễ Do Thái) và tiếp tục trong 24 giờ. Theo
truyền thống, những người Do Thái trưởng thành không ăn
uống vào ngày này. Họ dành tất cả thì giờ vào việc suy
tư và cầu nguyện. Có một khóa lễ trang trọng tại giáo
đường mà người Do Thái nào cũng cố gắng tham dự. Buổi
lễ bắt đầu với giai điệu luôn âm vang trong đầu, bài
ca Kol Nidre. Đó là sự cầu xin thoát khỏi những lời nguyện
tôn giáo không giữ được -- nhắc đến những ngược đãi
mà người Do Thái bị đau khổ không biết bao lần trong tay
những người không phải là Do Thái. Chấm dứt lễ Yoni Kippur
cũng lại bằng tiếng tù và thổi. Nó có ý nghĩa là đóng
lại Thiên Phán Xét cho đến năm sau.
Khái
niệm về Thiên Phán Xét và Thượng Đế với tư cách là Quan
Tòa vĩ đại cũng được thấy ở các tôn giáo khác. Và người
Do Thái, giống như những dân tộc khác, đã giải nghĩa truyền
thống theo nghĩa đen. Hoặc họ có thể giải nghĩa theo ý nghĩa
tinh thần và cá nhân sâu xa. Đôi khi họ gọi là "Những Ngày
Kinh Sợ" là những ngày mà người Do Thái hỏi những vấn
đề quan trọng về đời sống và tiếp tục phát triển tinh
thần. Do Thái Giáo không đưa ra cho tín đồ những câu trả
lời dễ dãi trước những vấn đề tôn giáo. Thay vì, Do Thái
Giáo khuyến khích họ tự vấn và tìm ra cách sống tốt đẹp
hơn.
Người
Do Thái không được dạy bảo rằng nhân loại căn bản là
tội lỗi hay những nhu cầu bình thường và lợi ích là sai.
Không có thầy tu hay nữ tu sĩ trong Do Thái Giáo. Thay vì, người
Do Thái nhấn mạnh cái đẹp tuyệt vời của đời sống gia
đình. Trong dịp năm mới, người Do Thái được khuyến khích
suy nghĩ về mối quan hệ với những người khác. Họ đã
hành động bằng tình thương yêu chân thật và công bằng
không? Họ đã khiêm nhường, nhớ đến những giới hạn của
mình chưa? Họ có cần xin tha thứ cho những tội lỗi gây
ra cho người đồng hương không?
Những
hành động thương yêu-khả ái là những phương tiện tốt
nhất để đền bù. Như những giáo sĩ nói, "Ai có tội phải
thú nhận và ngại ngùng làm như vậy, hãy để cho người
đó đi và làm điều thiện và họ sẽ tìm được sự tha
thứ".
Trong
khóa lễ Yoni Kippur, một số tiết được đọc từ cuốn của
Isaiah. Những tiết này vạch rõ cho người Do Thái đi lễ rằng
trọng tâm của tôn giáo là sự quan tâm thương yêu người
khác:
Không
phải tôi ăn chay?
Có
thể nới lỏng những vòng dây ác,
Xóa
bỏ những gánh nặng,
Và
để những người bị áp bức được tự do?
Không
phải là chia miếng bánh cho người đói,
Cũng
chẳng phải cái bạn mang lại cho người nghèo bị đuổi ra
khỏi nhà?
Khi
bạn thấy người trần trụi, bạn cho họ manh áo;
Bạn
không che dấu mình bằng da thịt của chính bạn?
Rồi
ánh sáng sẽ phá màn đêm khi ban mai...
Và
sự ngay thẳng của bạn sẽ vượt lên trên.
Lễ
Succos: Tabernacles. Một trong những ngày lễ Do Thái vui nhất
là lễ Succos, lễ này đến vào mùa gặt, khi những cây nho
nặng trĩu trái nho, và những hạt lúa chín vàng đầy đồng.
Đó là ngày hội tạ ơn, kéo dài chín ngày. Nó nhắc nhở
người Do Thái thời điểm phải rời khỏi Ai Cập khi họ
bắt buộc phải sống trong những chòi nhỏ (gọi là succos)
ở dọc đường. Người Do Thái thường làm mô hình những
chòi này cũng được gọi là tabernacles Họ trang hoàng những
cái chòi này bàng hoa, quả và cành cây để tưởng nhớ đến
lòng bao dung của Thượng Đế.
Những
người Do Thái hiện đại nghĩ đến lịch sử khổ đau của
những tín đồ đồng hương cũng như về dân tộc khác. Vào
ngày Sabbath trong dịp lễ Succos, lời cầu nguyện sau đây được
tụng:
Hôm
nay với lòng biết ơn chúng con nhớ đến Thượng Đế thương
yêu đã hướng dẫn cha ông chúng con trên bước đường lang
thang qua sa mạc hoang vu, và nơi hoang dã không có đường qua...
Chúng con cảm ơn Thượng Đế với lòng nhân từ không bao
giờ cạn đã hướng dẫn và che chở chúng con, những đứa
con trong tất cả năm tháng hành hương của chúng con... Chúng
con cầu nguyện rằng ân hưởng sự phù hộ của Thượng Đế
sẽ thức tỉnh trong chúng con, tinh thần thỏa mãn và dũng
cảm chịu đựng mà chúng con không bao giờ tự đắc do thành
công và chẳng bao giờ cay đắng bởi thất bại.
Cầu
mong chúng con cảm tình với những ai mà hy vọng của họ đã
bị thất bại và công lao của họ đã không kết quả. Cầu
mong cho bàn tay của chúng con sẽ được giang ra với những
người đau khổ, và tấm lòng của chúng con sẽ mở rộng
cho những ai cần đến. Đội ơn Thượng Đế, Ôi lạy Chúa,
Người cho tất cả điều thiện. A Men.
Vào
ngày thứ chín của lễ Succos, có một lễ mừng tại giáo
đường, khi những cuộn kinh Torah được rước bởi một đoàn
người vui vẻ. Đôi khi mọi người tham gia nhảy múa và ca
hát. Đó là một cách nữa để người Do Thái bầy tỏ lòng
thương yêu kinh Torah. Vào ngày này, những tiết cuối cùng
của Kinh Torah (Deuteronomy 34) được đọc lên. Rồi người
giáo sĩ quay về với tiết đầu của Genesis (Chúa Sáng Tạo
Ra Thế Giới):"Khởi đầu, Thượng Đế..." Hàng năm họ bắt
đầu đọc toàn bộ kinh Torah như thế ở mỗi giáo đường.
Hanukkah:
Lễ Dâng Hiến. Lễ Hanukkah là lễ dâng hiến thường đến
vào tháng Chạp. Người Do Thái cử hành lễ này trong tám ngày,
trong những ngày này có những buổi lễ đặc biệt tại giáo
đường, thức ăn cho ngày lễ đặc biệt và quà tặng. Hanukkah
nhắc nhở người Do Thái hiện đại một biến cố có ý nghĩa
trong quá khứ khi tổ tiên của họ tranh đấu cho tự do tôn
giáo.
Vào
thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, người Xy Ri nắm quyền
kiểm soát Palestine và cố gắng ép buộc người Do Thái đình
chỉ hoạt động tôn giáo. Một số người Do Thái đã ngưng
theo lệnh. Một số khác từ chối mặc dù có sự trả thù
của người Xy ri. Một thầy tu già, Mattathias, bắt đầu cuộc
nổi dậy. Sau này, con của ông ta, Judah Maccabee, đưa cuộc
nổi dậy tiến xa hơn nhiều và giành được chiến thắng
cuối cùng chống lại quân đội Xy ri. Trong cuộc lễ giành
lại được tự do, người Do Thái vào thành Jerusalem tẩy uế
ngôi đền, và tái lập sự thờ phượng tại đây. Họ tìm
thấy một hộp đựng dầu đóng kín thường dùng trong những
buổi lễ của họ. Theo truyền thống, dầu này được thắp
trước bàn thờ trong tám ngày.
Bây
giờ người Do Thái đốt tám ngọn nến trong lễ Hanukkah, thường
thường đốt một ngọn vào tối hôm đầu, ngọn thứ hai
vào đêm thứ hai và cứ thế tiếp tục. Họ cũng gọi lễ
Hannukkah là Hội Hoa Đăng. Hanukkah là lúc cực kỳ vui sướng
và cũng là lúc trang trọng nhớ lại tự do quý giá nhường
nào. Lức này người Do Thái đặc biệt cảm tạ về sự tự
do được lễ bái theo lương tâm của chính họ Cuộc tranh
đấu cho tự do tư tưởng và thờ cúng không bao giờ có thể
hoàn toàn chấm dứt. Đây là một nhiệm vụ đang tiếp diễn
và người Do Thái xác nhận điều này khi họ đọc kinh cầu
nguyện lể Sabbath đặc biệt trong lễ Hanukkah:
Ôi
lạy Chúa, hãy ban phước cho chúng con, đem ánh sáng Hanukkah
tỏa chiếu nhà chúng con và đời sống chúng con. Cầu xin ánh
sáng này nhen lên trong chúng con ngọn lửa của niềm tin và
lòng nhiệt tâm giống như Maccabees thời xưa, chúng con chiến
đấu can trường vì chính nghĩa của Thượng Đế. Xin hãy
làm cho chúng con xứng đáng với lòng thương yêu và phước
lành của Thượng Đế, cái khiên và người bảo vệ chúng
con. Amen.
Lễ
Purim. Vào đầu xuân -- thường vào tháng Ba - người Do Thái
cử hành một ngày lễ mừng đặc biệt. Trong các giáo đường
người ta qui tụ để nghe đọc về Megillah, cuốn sách về
Esther. Trái với sự lưu ý nghiêm trang thông thường trong buổi
lễ, người Do Thái trong ngày này phát cho trẻ em những đồ
gây tiếng ồn để dùng ở một vài chỗ trong lúc đọc. Sau
này trẻ em có thể chuyển thành kịch một câu truyện cổ.
Bạn bè và thân quyến thường trao đổi quà tặng, và nhiều
người Do Thái rất thích loại bánh quy đặc biệt, gọi là
bánh Haman.
Câu
chuyện mà họ nghe trong giáo đường liên quan đến một phụ
nữ Do Thái đẹp thuở xưa, Esther là vợ của Hoàng Đế ở
Persia. Cậu của Esther, Mordecai tình cờ khơi dậy lòng thù
ghét một vị quan cao cấp trong triều tên Haman.
Để
trả thù, Haman bắt đầu một kế hoạch tiêu diệt tất cả
người Do Thái, buộc tội họ không trung thành với nhà vua.
Khi Esther biết được kế hoạch này, bà liều chết vạch
trần âm mưu của Haman, bộc bạch dòng dõi Do Thái của chính
bà với nhà vua. Kết quả, nhà vua vinh danh Mordecai -- và Haman
bị treo cổ, một hình phạt mà chính y định sửa soạn cho
Mordecai.
Người
Do Thái vui mừng nghe đọc truyện này hàng năm. Họ sung sướng
với bàu không khí hội hè linh đình tràn ngập giáo đường
vào đêm đó với những trẻ em sử dụng mạnh mẽ những
đồ gây tiếng ồn ào bất kỳ ở đâu tên Haman được nói
đến. Chính họ cũng không quan tâm nhiều đến truyện có
thật hay không khi đem đọc. Nhiều học giả Do Thái cho rằng
truyện đó chỉ là cuốn tiểu thuyết lịch sử.
Tuy
nhiên ý nghĩa của câu chuyện là có thật và đúng. Đó chính
là chuyện hận thù hướng vào người Do Thái, chỉ vì họ
là người Do Thái. Lời buộc tội chính của Haman chống lại
người Do Thái là vì lối sống của họ "khác biệt". Việc
buộc tội này, cũng như những thứ tương tự như vậy đã
được phóng đi chống lại người Do Thái nhiều lần không
kể xiết trong quá khứ. Thảo nào mà họ cử hành lễ này
hàng năm về chuyện sa sút của một kẻ áp bức chống người
Do Thái.
Người
Do Thái cử hành lễ Purim không phải chỉ vì lý do này, mà
cũng là để công nhận tình anh em chung. Nhiều giáo sĩ nói
rằng khái niệm căn bản của ngày này là những dị biệt
giữa con người không cần phải gây ra chia rẽ bất đồng.
Sâu xa hơn tất cả những dị biệt là lòng nhân đạo của
chúng ta. Trong truyện này, nhà vua chấp nhận dân tộc có lối
sống khác biệt cho thấy ông đã nhìn thấy nhân loại bị
chia sẻ dưới tính đa dạng bên ngoài.
The
Passover (Lễ Quá Hải). Người Do Thái, giống như tất cả
các dân tộc khác, có một lễ hội vào mùa xuân. Xa xưa, người
dân cử hành lễ cầu nguyện cho đất mầu mỡ lại, những
con vật mới sinh trong bầy của chúng, và cây non phát triển
trong đời sống cỏ cây. Hàng trăm năm qua, người Do Thái
tổ chức lễ hội mùa xuân để tưởng nhớ những biến cố
huyền thoại được mô tả ở những chương đầu của Cuốn
Exodus (Sự Rời Khỏi Ai Cập).
Trong
nhiều năm, người Do Thái đã bị giữ làm nô lệ tại Ai
Cập. Moses trở thành người phát ngôn của họ và tìm cách
giải thoát họ khỏi Vua Pharaoh Ai Cập. Nhưng ông vua này trở
nên hết sức bướng bỉnh, theo huyền thoại, mặc dầu nhiều
tai họa do Thượng Đế giáng xuống người Ai Cập. Cho nên
Thượng Đế đã sai một tử thần giết tất cả những gì
mới sinh trên đất Ai Cập, cả người lẫn vật. Tuy nhiên
người Do Thái không bị giết. Họ đánh dấu nhà họ bằng
máu cừu. Cho nên tử thần "bỏ qua" nhà họ. Vua Pharaoh thuần
tính lại, và người Do Thái hấp tấp bỏ đi. Đến nỗi họ
không có thì giờ cho men vào bánh. Người ta phải nướng bánh
mà không có men.
Trong
thời gian cử hành lễ Passover, tất cả men đều được mang
đi khỏi nhà Do Thái truyền thống tám ngày. Người Do Thái
ăn Matzos, bánh không men, để tưởng nhớ đến những sự
đau khổ của tổ tiên. Đôi khi họ gọi lễ Passover là Lễ
"Bánh Không Men". Bánh đặc biệt, cỏ đắng, và những đồ
ăn tượng trưng khác giúp họ kỷ niệm sự giải thoát dân
Do Thái khỏi xiềng xích.
Nhiều
người Do Thái không bao giờ chấp nhận chuyện về những
tai họa và phép lạ trong Cuốn Exodus theo nghĩa đen hay là sự
thật lịch sử. Đó là vấn đề cá nhân hay phê bình giải
thích những bản văn của thánh kinh. Một số giáo sĩ dạy
"tai họa của tăm tối" tỷ dụ chỉ là cái tên khác của
dị đoan, và sự mù quáng tinh thần. Cho nên một số người
Do Thái cử hành lễ Passover không chỉ là sự giải thoát khỏi
một bạo chúa độc ác, mà còn là giải thoát khỏi xiềng
xích của những thói xấu và ý định tội lỗi.
Những
ngày lễ Do Thái không đơn giản cử hành và trang nghiêm những
việc cho là đã xẩy ra trong quá khứ. Những ngày lễ bao giờ
cũng có một ý nghĩa trọng đại cho hiện tại. Đó là vì
tập quán Do Thái được trải nghiệm trong nội tâm người
Do Thái -- không phải là đồ mặc vào những dịp lễ. Đúng
như vậy, vào ngày lễ Passover, trong khi người Do Thái nghĩ
về cảnh nô lệ xa xưa, họ cũng cầu nguyện cho người bị
làm nô lệ ngày nay:
Thượng
Đế của tự do, các con của Ngài vẫn rên xiết dưới gánh
nặng của người phân cắt công việc độc ác. Sự nô lệ
hạ thấp giá trị của thân và tâm của họ, và làm họ mất
đi niềm vui về lòng hào phóng của Ngài. Nỗi sợ hãi về
độc ác và sự hiểm họa của cái chết đã làm hại linh
hồn con người. Xin Thượng Đế hãy phá vỡ những xiềng
xích đã trói buộc họ. Xin hãy dạy cho con người hiểu rằng
rèn đúc xiềng xích cho người khác là rèn đúc xiềng xích
cho chính mình, chừng nào còn có người vẫn ở trong gông
cùm thì không một người nào thực sự được tự do. Xin
hãy giúp cho họ thấy rằng tự do chính là điều cần thiết,
hơi thở của cuộc đời và chỉ trong bầu không khí của
tự do thì chân lý, thịnh vượng và hòa bình mới có thể
thăng hoa.
Lễ
hội Shavuos. Người Do Thái cổ cử hành lễ hội này vào lúc
gặt lúa mạch tại Palestine. Sau này, người Do Thái cử hành
lễ hội Shavuos để tưởng nhớ đến Thượng Đế đưa kinh
Torah cho Moses. Việc gìn giữ lễ hội này nhấn mạnh đến
niềm tin tôn giáo căn bản của họ là vũ trụ có luật lệ,
trật tự, và mục đích.
Trong
những buổi lễ tại giáo đường, cuốn Ruth được đọc
trước giáo đoàn. Trong những giáo đường Cải cách và Bảo
Thủ, dịp này gồm cả lễ Kiên Tín cho trẻ em. Trẻ em đã
hoàn tất khóa học dưới sự chỉ dẫn của giáo sĩ, tuyên
bố trước giáo đoàn lòng trung thành với Thượng Đế và
ý định sống theo luật của Ngài.
Trên
những phương diện đó, người Do Thái đứng trước những
đòi hỏi và bí ẩn của đời sống, vững tin vào Thượng
Đế, và hãnh diện về truyền thống của họ. Từ ngàn năm
qua, dù phải đối đầu với vấn đề gì, người Do Thái
vẫn tin vào Luật của Chúa. Họ có được sức mạnh từ
lời tuyên bố đơn giản: "Chúa là Một".