HỒI
GIÁO
19.
MOHAMMED NÓI THAY ALLAH
Năm
lần một ngày, những người Hồi Giáo mộ đạo ở khắp
nơi quay mặt về thị trấn nhỏ ở Saudi Arabia (Ả Rập Xê
Út). Quỳ xuống trên một tấm thảm, họ cầu nguyện hướng
về Mecca. Thường thường họ sử dụng lời cầu nguyện mà
họ gọi là Fatihah được nổi tiếng đối với họ như lời
cầu nguyện Chúa dành cho người Cơ Đốc Giáo:
Đội
ơn Thượng Đế, Chúa tể của những thế giới!
Cầu
xin Đức Chúa lòng lành nhân từ!
Chúa
tể trong phán xử!
Chỉ
Người chúng con thờ cúng, và với Người chúng con cầu xin
giúp đỡ
Xin
Ngài dìu dắt chúng con trên con đường ngay thẳng,
Con
đường của những người đã được ân huệ; với những
người không giận dữ, và không đi vào con đường lầm lạc.
Hàng
triệu người đang theo nghi thức cầu nguyện Hồi Giáo, bắt
đầu mười bốn thế kỷ qua bởi Mohammed. Đó là một trong
những cách họ trình bày là họ đồng ý với điều mà Mohammed
nói với dân. Allah, Thượng Đế, là một thực thể trước
nhất của đời họ. Những người Hồi Giáo mộ đạo có
thể nhắc đi nhắc lại từ kinh Koran một cách thành thật:
Đích thực là lời cầu nguyện của con, và lòng mộ đạo
của con, và đời con, và cái chết của con, thuộc về Thượng
Đế".
Nhiều
năm đã qua từ khi Mohammed sống, dạy các tín đồ những điều
mà Thượng Đế đòi hỏi nơi họ. Đồng thời người Hồi
Giáo theo sát những mệnh lệnh của Kinh Koran, vững tin rằng
kinh này chứa đựng đúng điều Mohammed đã nói. Họ tin rằng
điều mà Ngài nói ở thế kỷ thứ sáu vẫn cung cấp những
câu trả lời phù hợp cho những câu hỏi hiện đại. Thượng
Đế là thế nào? Tôi là gì? Trách nhiệm của tôi đối với
Thượng Đế là gì? Việc gì sẽ xẩy ra sau khi tôi chết?
Đường lối sống chính đáng là gì?
ẢO
GIÁC CỦA MOHAMMED
Trong
một đêm tối tăm vào năm 611 trước Công Nguyên, một người
ở Mecca một mình ngồi cầu nguyện và trầm tư mặc tưởng
ở một hang Núi Hira, ngay ngoài thành phố. Những người biết
rõ ông có lẽ không lấy gì làm ngạc nhiên, vì ông thường
vào hang này tìm sự tịch mịch cần thiết cho sự suy tư sâu
xa. Nhưng đêm nay -- suốt từ đó người Hồi Giáo biết đến
"Đêm Quyền Năng Siêu Việt" -- mang đến cho Mohammed một kinh
nghiệm mới.
Đột
nhiên từ những suy tư, một ảo giác kỳ thú nổi lên nơi
Ngài. Thiên thần Gabriel xuất hiện, truyền lệnh của Thượng
Đế là Mohammed phải kêu gọi dân chúng thờ phượng Allah,
Thượng Đế duy nhất của tất cả các thế giới. Bị áp
đảo, Mohammed nói mình bất lực không thể làm công việc
như thế. Để trả lời, thiên thần Gabriel nhắc lại lệnh
của Allah hai lần nữa. Mohammed rời hang đá đi lên đỉnh
núi thử xem không khí ban đêm có thể làm cho kinh nghiệm lạ
lùng này mờ nhạt đi không. Ngay cả ở chỗ này, Ngài nghe
thấy một giọng nói bảo ngài rằng Ngài là nhà Tiên Tri của
Thượng Đế.
Bối
rối và sợ hãi, Mohammed chạy vội về nhà kể cho người
vợ, Khadijah, sự việc đã xẩy ra. Phải chăng Ngài mất trí?
Khadijah làm yên lòng Ngài, an ủi Ngài và khuyến khích Ngài
nghỉ ngơi cho đến khi Ngài trở lại bình tĩnh. Bà nghĩ về
những chuyện Ngài nói cho bà về đêm ấy. Bà thêm chúng vào
điều Bà đã biết về đời sống của chồng bà. Và lặng
lẽ, bà bắt đầu tin ảo giác này là thật.
MOHAMMED,
MỘT CÔNG DÂN ĐÁNG KÍNH TRỌNG
Khadijah
đã từ lâu tin chồng bà là một người khác thường. Từ
những ngày đầu mới quen biết nhau, khi cậu của Mohammed,
Abu Talib, đã giới thiệu ông với bà rằng ông là người
lãnh đạo đoàn bộ hành, bà đã phải kính trọng sự phán
xét và tính nết của Ngài. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ
với thành công, và sự kính trọng đã phát triển thành lòng
thương yêu lẫn nhau. Hai người đã lấy nhau, mặc dầu bà
đã là một góa phụ giàu có ở tuổi bốn mươi và Ngài mới
có hai mươi lăm tuổi. Cuộc hôn nhân trong mười lăm năm của
họ là một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc, mặc dù cái chết
của hai đứa con trai. Mohammed rất tận tụy với bà và bốn
đứa con gái.
Khadijah
biết những người trong bộ lạc của Mohammed, người Koreish,
đồng ý về sự đánh giá cao chồng của bà. Họ biết Ngài
là một người có tư tưởng, sau một thời gian dài im lặng.
Họ đi đến tôn kính Ngài và thường hỏi Ngài lời khuyên
khi họ cần đến một ý kiến khách quan. Dường như lúc nào
Ngài cũng rất ít khác biệt với những người quen biết Ngài,
từ ngày Ngài còn là một cậu bé mồ côi cho đến nay. Dù
là một cậu bé chăn cừu cho người cậu, trông coi cừu trong
những khu rộng lớn và trống trải của bãi sa mạc, Ngài
vẫn nghĩ đến những câu hỏi bất diệt về đời sống và
cái chết. Khi hôn nhân giải thoát Ngài khỏi phải làm việc,
Ngài bắt đầu đem những câu hỏi đó với Ngài vào hang động
để nghiền ngẫm suy tư.
Đặc
biệt Khadijah biết phạm vi bất mãn của Mohammed với điều
mà Ngài nhìn thấy đời sống của dân tộc Ngài khi Ngài quan
sát họ trong việc đối xử với nhau. Ngài đã nhìn thấy
không biết bao nhiêu vụ xung đột giũa những bộ lạc trong
đó các bên chống đối dấu đi những quyền lợi ích kỷ
dưới danh nghĩa tôn giáo và danh dự. Ngài đã nhìn thấy họ
buôn bán và làm lễ gần Mecca, nhất là trong những mùa hội
chợ, uống rượu, đánh bạc, và nhẩy múa. Thậm chí Ngài
chứng kiến những người cha Ả Rập chôn sống nhứng con
gái mà họ không muốn theo một tập tục phổ biến. Ngài
đã nhìn thấy dân tộc của Ngài quá chú trọng đến quyền
lợi nhỏ nhặt của bộ lạc đến nỗi không nhận thức được
những nguy hiểm từ những xứ ngoại quốc hiếu chiến.
Thận
trọng nhất là Ngài đã quan sát sự thờ cúng của họ tại
Ka’aba, một ngôi đền tôn giáo tại Mecca. Hai lần một năm
những người hành hương đến từ khắp Ả Rập để dâng
lời cầu nguyện và lễ vật trước những hình ảnh của
360 vị thần, một vị thần đại diện cho mỗi ngày theo năm
Ả Rập. Tòa nhà vuông bằng đá, Ka’aba, vẫn còn tồn tại
và vẫn che chở miếng đá đen tin là rơi từ Thiên Đường.
Huyền thoại Ả Rập kể Abraham và Ishamel đã xây dựng ngôi
đền Ka’aba như thế nào, đặt miếng đá đen (thiên thạch)
vào một góc. Mohammed đã quan sát những người hành hương
tại đấy và tại khu chợ ở Mecca, nơi có thể mua những
thần tượng nhỏ để mang về nhà.
Điều
mà Ngài nhìn thấy về tôn giáo Ả Rập đã để lại nơi
Ngài đầy những câu hỏi và nghi ngờ. Ngài đã đối chiếu
sự thờ phượng tại Mecca với ký ức của Ngài từ những
chuyến du hành đến những nơi khác và với điều Ngài biết
từ Cơ Đốc Giáo, Do Thái, và những người tin theo đạo thờ
lửa đến thăm Mecca. Niềm tin của người thờ thần lửa
vào Ngày phán xử và sự trừng phạt những người tội lỗi
là gì? Hầu hết những người Ả Rập sống mà không suy xét
đến cuộc sống mang họ đi đâu. Những cuốn sách thiêng
liêng của Cơ Đốc Giáo và Do Thái nói về sự khải huyền
của Thượng Đế đã làm cho những nhà tiên tri là gì? Người
Ả Rập không có khải huyền để giúp họ. Họ chưa bao giờ
có một nhà tiên tri. Chỉ có một Thượng Đế mà những dân
tộc khác thờ phượng là thế nào? Người Ả Rập vinh danh
ba trăm sáu mươi vị thần. Mohammed đã cân nhắc những khác
biệt ấy một thời gian dài.
NHÀ
TIÊN TRI KHÔNG ĐƯỢC QUẦN CHÚNG MẾN CHUỘNG
Như
Khadijah nhớ lại tất cả những sự việc này, Bà đoan chắc
ảo giác của Mohammed là sự thật. Từ lúc đầu, trước cả
chính Mohhammed hoàn toàn bị thuyết phục, bà tin rằng chồng
bà là nhà tiên tri do Thượng Đế chọn. Niềm tin không lay
chuyển của bà khiến chồng bà tin vào chính mình. Ít lâu
sau, những ảo giác khác lại đến với Ngài, trao thêm nhiều
chi tiết về sứ mạng của Ngài với Allah. Trong ba năm chờ
đợi, suy ngẫm và nói về Allah Ngài lặng lẽ cho thân quyến
và thân hữu biết. Vào lúc cuối cùng thời gian ấy, Ngài
đã tập họp được một nhóm nhỏ chỉ có ba mươi người
tin theo. Thời gian đã chín muồi cho công việc tích cực hơn.
Ít
lâu sau Ngài nói với một vài nhóm nhỏ tại khu chợ, ngoài
đường phố và ở Ka’aba. Ngài bảo họ, phải bỏ sự thờ
phượng các thần và nữ thần và phải theo ý của Allah, Thượng
Đế duy nhất của tất cả thế giới. Nếu họ không làm
như vậy, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề sau Ngày Xét Xử.
Đầu tiên, người dân tò mò nghe Ngài, vì đây là người
mà họ biết và kính trọng. Khi Mohammed tiếp tục với những
bài thuyết giảng lạ lùng, họ bắt đầu cười và chế nhạo.
Việc phải bỏ những cách thờ phượng cũ là không thể tưởng
tượng được. Phải chăng cha ông, tổ tiên đã thờ phượng
theo lối ấy? Những thần và nữ thần có hình ảnh trong đền
Ka’aba bao giờ cũng trông nom họ. Những nghi thức và tập
tục cũ của họ rất quen thuộc và thoải mái. Họ biết một
Thượng Đế duy nhất của Mohammed là gì đâu?
Một
số người trong bộ lạc bắt đầu nghi ngờ về sự lành
mạnh tinh thần của Ngài và những người khác trở nên khó
chịu về quyết định việc Ngài nhạo báng thờ phượng các
thần tượng ở Ka’aba. Họ sinh sống bằng cách cung cấp
nhu cầu cho những người hành hương về Mecca để thờ cúng.
Nếu người ta làm theo điều Mohammed yêu cầu, nguồn thu nhập
của họ sẽ không còn.
Mặc
dù bất bình phát triển, Mohammed nhất định nói là chính
Allah đã nói điều này với Ngài. Ngài bảo thính giả hãy
nghe cho kỹ, vì đây là những khải huyền cuối cùng Thượng
Đế làm cho con người. Trước khi mọi thứ được sáng tạo,
có một cuốn sách trên Thiên Đường chứa đựng tất cả
chân lý, Mohammed nói với họ như thế. Một phần cuốn sách
này chứa đựng đã được tiết lộ cho người Do Thái và
những người Cơ Đốc Giáo qua những nhà tiên tri của họ,
kể cả Jesus. Nhưng phần lớn của cuốn sách đó đã được
tiết lộ cho Mohammed.
Cuối
cùng những người Koreish không thể chịu đựng được nữa.
Họ từ chối và không nghe Ngài. Họ bắt đầu ngăn cản việc
thuyết giảng của Ngài và khủng bố các người đổi đạo.
Họ thử mọi cách để làm Ngài nản chí bỏ nhiệm vụ của
Ngài. Vì họ không còn nghe Ngài nữa, Ngài bắt đầu nói với
những người lạ đến buôn bán hay hành hương trong thành
phố. Những người Koreish cảnh cáo những du khách về Ngài
nhưng những lời cảnh cáo chỉ gợi thêm tính tò mò của
du khách. Những du khách mang về nhà câu chuyện về nhà thuyết
giảng lạ lùng này đã nói bất chấp những thành viên của
bộ lạc ông ta. Một số du khách từ thị trấn gọi là Yathrib
đặc biệt lưu ý đến những gì Mohammed thuyết giảng cho
họ. Họ đang tìm kiếm một nhà lãnh đạo có thể giúp họ
vượt qua được hậu quả của cuộc chiến tai hại giữa
hai bộ lạc. Họ bắt đầu nghĩ rằng Mohammed có thể là một
sự chọn lựa tốt cho trách nhiệm này.
Vào
lúc cao điểm của sự khủng bố, Khadijah chết. Cái chết
của bà lại được tiếp theo sau cái chết của người cậu
có thế lực của Mohammed, Abu Talib, người bảo vệ cho Ngài
dù rằng chưa bao giờ đổi đạo. Hai sự mất mát này kèm
theo sự khủng bố gia tăng làm Mohammed rất phiền não. Ngài
bắt đầu nghi ngờ Ngài không thể nào hoàn thành mục tiêu
tại Mecca, nơi đây an toàn cho nhóm tín đồ đang phát triển
của Ngài bị đe dọa. Những hoàn cảnh này dẫn đến quyết
định Ngài chấp nhận lời mời của những công dân Yathrib
để trở thành người lãnh đạo cuả họ.
CUỘC
ĐÀO THOÁT TỚI MEDINA
Cuộc
ra đi từ Mecca được thi hành rất bí mật vì những người
Koreish giận dữ có thể hãm hại họ. Tất cả hai trăm tín
đồ được phái đi trước. Mohammed và người đệ tử lâu
năm, Abu Bekr, đi cuối cùng. Mặc dù nhiều nguy hiểm nhưng
toàn nhóm đến Yathrib bình an. Để vinh danh sự quang lâm của
vị lãnh đạo mới, người dân đổi tên thành phố thành
"Thành Phố của Vị Tiên Tri". Thành phố này nay được gọi
là Medina. Phong trào của người Hồi Giáo đi Medina được
gọi là Hegira, có nghĩa là rút chạy hay sự di trú. Việc này
xẩy ra vào năm 622 sau Công Nguyên, và năm này trở thành năm
đầu tiên của Lịch Hồi Giáo. Bây giờ Mohammed ở trong một
vị thế thi hành quyền lực to lớn. Ngài trở thành người
trị vì, thầy tu, nhà làm luật, và quan tòa, tiên tri và tổng
chỉ huy toàn bộ cộng đồng. Ngài thiết lập hiến pháp cho
dân Ngài, hết sức cố gắng thống nhất tất cả những nhóm
khác biệt thành một khối thân hữu đoàn kết chặt chẽ.
Người dân giúp đỡ lẫn nhau chống lại kẻ thù và mọi
khó khăn. Họ phải trung thành với những quyết định của
Allah được tiết lộ cho nhà tiên tri, Mohammed.
Một
trong những hành động đầu tiên lúc tới Medina là xây dựng
một nhà thờ Hồi Giáo đon giản làm trung tâm cho người Hồi
Giáo đến thờ cúng. Nơi đây Ngài thuyết giáo thường xuyên.
Những bài thuyết giảng của Ngài vạch ra những tiêu chuẩn
luân lý đơn giản nhưng chắc chắn về lòng tốt đối với
những du khách và trung thành với bè bạn. Ngài thúc giục
họ cầu nguyện thường xuyên và phải trung thực trong những
hành động sùng bái Allah. Trong cách diễn đạt sa mạc, Mohammed
nói về những phần thưởng cho lối sống chính đáng và trừng
phạt cuộc sống phí phạm. Thiên đường giống như một ốc
đảo nghỉ ngơi thoải mái, trong khi địa ngục là một lò
lửa, đói khát, và cô đơn.
NHÀ
TIÊN TRI CHIẾN THẮNG
Mohammed
lúc nào cũng tin tưởng hy vọng những người Do Thái và Cơ
Đốc Giáo sẽ chấp nhận Ngài và thông điệp của Ngài như
chương kế tiếp trong cuốn sách khải huyền mà tất cả đều
giữ chung. Bởi vậy, khi Ngài đến Medina, Ngài đã chuẩn bị
phải rất kiên nhẫn trong nỗ lực để thuyết phục công
dân Do Thái ủng hộ thỏa ước Medina mới. Ngài còn yêu cầu
những tín đồ cầu nguyện quay mặt về Jerusalem, và Ngài
nhấn mạnh những yếu tố chung trong truyền thống của họ.
Tuy
nhiên, chẳng mấy chốc người ta thấy rõ ràng người Do Thái
sống tại đấy đã không có ý định gọi Mohammed là nhà
tiên tri của họ. Nhiều người còn chế nhạo sự khám phá
của Ngài. Các quan hệ có chiều hướng xấu đi khi một số
người Do Thái vi phạm những điều kiện trong thỏa ước
với Mohammed. Nhà tiên tri đưa ra một đòi hỏi hoặc họ phải
gia nhập Hồi Giáo hoặc phải rời đi. Lệnh này được thi
hành bởi quân đội của Mohammed. Đây là chiến thắng đầu
tiên trong danh sách dài những chiến thắng của Hồi Giáo với
quân địch. Những người Hồi Giáo cho rằng những biến chuyển
như vậy rất cần thiết để bảo vệ sự phát triển cộng
đồng tôn giáo của họ.
Thực
tế là, điều này đánh dấu một điểm quan trọng hơn trong
lịch sử Hồi Giáo. Mohammed đã bắt đầu nhìn thấy những
lời tiên tri của mình sẽ không dễ được chấp nhận bởi
những người không phải là Ả Rập. Hồi Giáo dần dần hướng
nhiều hơn về những người Ả Rập. Những truyền thống
Do Thái và Cơ Đốc Giáo bị thu hẹp và truyền thống Ả Rập
được nhấn mạnh từ đó. Những người Hồi Giáo không còn
cầu nguyện hướng về Jerusalem. Họ hướng về Mecca. Mohammed
và các tín đồ nóng lòng ngóng đợi ngày họ có thể trở
về Mecca một lần nữa.
Khi
tiếng tăm của nhà tiên tri vang dội khắp Ả Rập, nhiều
người đổi đạo vào tôn giáo mới. Cuối cùng, Mohammed cảm
thấy cần phải vì phúc lợi của tín đồ lấy Mecca với
quân đội của mình. Vậy nên, tám năm sau khi đào thoát khỏi
Mecca, Ngài trở về Mecca như một người chiến thắng. Bao
giờ Ngài cũng khoan dung với kẻ địch, tha thứ hầu hết
chúng. Họ chỉ phải thú nhận niềm tin với Thượng Đế
và nhà tiên tri của Thượng Đế.
Mohammed
đi ngay đến ngôi đền. Ngài bỏ đi tất cả những thần
tượng tại ngôi đền Ka’aba, tuyên bố đó là chỗ để
thờ phượng Allah. Mecca trở thành thánh địa của Hồi Giáo.
Sự
sụp đổ của Mecca đã khiến những cộng đồng khác tuyên
bố qui phục trước tôn giáo và sự cai trị của nhà tiên
tri. Đôi khi Mohammed tin rằng nhiệm vụ chính của Ngài là
thống nhất những bộ lạc Ả Rập bằng cách đưa họ lại
sống cùng nhau thành một quốc gia được cai quản theo ý Allah.
Khi những bộ lạc không cam kết trung thành, thì họ sẽ bị
giết và bị khuất phục bởi thánh chiến, cái mà người
Hồi Giáo tin là tượng trưng ý của Allah. Dần dần những
bộ lạc rải rác ở xa hợp nhất thành quốc gia Ả Rập.
Để
giữ lời hứa với người trung thành, Mohammed trở về sống
tại Medina. Nhưng Ngài vẫn hành hương tới Mecca, và bao giờ
Ngài cũng xem Mecca là trung tâm hợp pháp chính đáng để thờ
phượng Allah. Trong lần hành hương cuối cùng, Ngài thuyết
giảng một bài, bài hay nhất của Ngài còn nhớ được. Trong
bài giảng này, Ngài tuyên bố tất cả các tín đồ đều
là anh em, cũng như không bao giờ ngừng giúp đỡ và tôn trọng
lẫn nhau.
TẶNG
PHẨM CHO HỒI GIÁO CỦA MOHAMMED
Không
lâu sau khi trở về Medina từ cuộc hành hương cuối cùng,
Mohammed từ trần. Ngài thọ sáu mươi hai tuổi. Quá nhiều
việc đã xẩy ra từ khi Ngài một mình trong hang gần Mecca
và suy nghĩ về ý nghĩa của đời sống. Thông điệp của
Allah đã được đưa ra và được chấp nhận một cách nhiệt
tình. Những người Ả Rập đã biến đổi những thần tượng
thành thờ phượng Allah. Họ không còn những cuộc chiến tranh
bộ lạc. Họ đều là anh em. Họ không còn nhẩy múa, say sưa
và cờ bạc trong những cuộc lễ ồn ào. Họ cầu nguyện
và nhịn ăn và cảm thấy sự hiện diện của Allah gần gũi
bên cạnh họ.
Gia
tài của Mohammed để lại cho những tín đồ của Ngài thật
vĩ đại. Ngài để cho họ đủ mạnh và đoàn kết để chống
lại xâm lăng của ngoại bang. Ngài để lại cho họ một niềm
tin mà họ thấy trong sáng và thỏa mãn. Ngài để lại cho
họ nhiệt tình vì niềm tin đó dẫn họ đến truyền niềm
tin này cho tất cả người khác. Ngài để lại cho họ những
đệ tử được huấn luyện để tiếp tục phong trào. Ngài
để lại cho họ một đạo quân có thể mở rộng Hồi Giáo
đến những vùng đất khác bằng thánh chiến. Ngài để lại
cho họ tấm gương của đời Ngài hết sức tận tụy theo
ý của Allah.
Abu
Bekr, thường phụ lễ Ngài, là người đương nhiên được
chọn là người kế nghiệp nhà tiên tri, hay vua Hồi. Và sau
một thời gian tang lễ ngắn ngủi, Hồi Giáo tiếp tục như
trước hướng tới việc thực hiện toàn bộ giấc mơ của
nhà tiên tri. Lịch sử đã thay đổi. Con người đã thay đổi.
Họ không một mình thay đổi qua kinh nghiệm với con người
Mohammed nhưng qua tín điều Ngài dạy họ. Đó là tín điều
mà hàng triệu người Hồi Giáo vẫn đi theo, tuyên bố với
niềm tin hoàn toàn:" Không có Thượng Đế mà là Allah, và
Mohammed là nhà tiên tri của Allah".
20.
NGƯỜI HỒI GIÁO NGHE VÀ VÂNG LỜI
Hầu
hết những tôn giáo hiện đại trên thế giới thiết lập
tôn giáo bởi một biến cố của lịch sử. Có nhiều trường
hợp, nguồn gốc của những tôn giáo ấy bị chôn vùi quá
sâu trong thời gian đến nỗi chúng ta không biết được những
biến cố nào đã làm cho những tôn giáo ấy phát triển. Nhưng
Hồi Giáo được phân biệt bởi hai sự kiện ngay từ lúc
đầu. Trước tiên, Hồi Giáo trở thành một tôn giáo do kết
quả nỗ lực chủ tâm lập kế hoạch và xem xét kỹ càng.
Thứ nhì, toàn bộ phát triển của nó xẩy ra sau khi lịch
sử thế giới đã bắt đầu được ghi chép kỹ lưỡng.
Trong
thời gian ít năm ngắn ngủi, Mohammed đã tự nâng mình lên
một địa vị lãnh đạo độc đáo trong lòng dân tộc Ngài.
Ngài đã có cơ hội và thời gian để lập kế hoạch tỉ
mỉ đáp ứng những nhu cầu xã hội và tinh thần của đồng
bào của Ngài. Tuy rằng phải nói thay cho Allah, Mohammed đã
đưa ra những luật lệ về niềm tin, về bổn phận tôn giáo,
và về hạnh kiểm thích đáng. Kết quả, người Hồi Giáo
tự tìm thấy sự chỉ dẫn cho hầu hết mọi hoạt động
hay tình thế phải đối phó của con người.
TÔI
PHẢI TIN GÌ?
Ở
một nơi nào đó trong cuộc đời, mỗi một người có suy
nghĩ đều băn khoăn về quyền năng hay một sức mạnh chịu
trách nhiệm về sự sáng tạo mọi thứ mà chúng ta nhìn thấy,
nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy và sờ thấy. Loại quyền
năng hay sức mạnh ấy là gì? Nó hoạt động như thế nào
và khi nào? Cái gì đã khiến nó hành hoạt trước tiên?
Mohammed
đã phải đối mặt với những băn khoăn này khi còn là một
thanh niên. Qua ảo giác, Ngài tin là đã tìm ra câu trả lời.
Ngài đã không ngần ngại tiên cử những câu trả lời đến
với người khác. Allah, Đấng Bất Diệt, là nguồn gốc của
mọi sáng tạo. Tuyên bố chính tín ngưỡng của tất cả các
tín đồ là tin vào Allah: "Tôi xác nhận là không có Thượng
Đế mà chỉ có Allah"
Allah
công bằng và nhân từ. Ngài thấy và nghe mọi thứ. Ngài có
mặt ở khắp nơi. Ngài biết tất cả những hành động của
con người, tốt hay xấu. Vào Ngày Xét Xử, Allah xét xử đời
sống của con người. Trong lúc đầu Ngài quy định cách thức
mà tất cả mọi thứ phải có sự tồn tại của nó. Trong
lúc cuối cùng, Ngài quyết định vận mệnh bất diệt.
Mohammed
tin rằng vạn vật trong tính trật tự và tính tùy thuộc của
nó, nói lên câu chuyện về một Thượng Đế quả quyết.
Allah đã tạo ra tất cả mọi thứ và đã định trước mọi
biến chuyển. Tuy nhiên con người có thể tiếp xúc với Ngài
qua cầu nguyện, và con người được tự do đặt kế hoạch
cho đời mình. Tuy nhiên, họ phải biết rằng thiên đường
hay địa ngục là hậu quả chờ đợi họ.
Vì
từ lâu Allah đã tự rút khỏi chiều hướng sáng tạo tích
cực của mình, nên con người khó mà biết cách nào làm theo
ý của Ngài. Nhưng Allah hiểu nhu cầu của con người. Ngài
thiết lập ba cách để tiết lộ ý của mình cho con người:
một nhà tiên tri, Kinh Koran, và các thiên thần.
Cách
thứ nhất trong ba cách được bầy tỏ trong phần hai của
lời tuyên bố Hồi Giáo về niềm tin: "Tôi xác nhận không
có Thượng Đế mà chỉ có Allah, và Mohammed là nhà tiên tri
của Ngài."
Người
Hồi Giáo kính trọng những nhà tiên tri khác -- gồm Adam, Noah,
Abraham, Moses và Jesus. Nhưng Mohammed là nhà tiên tri cuối cùng,
"niêm phong". Không có vị tiên tri nào từng nói về uy quyền
như vậy. Không có vị tiên tri nào khác đã có sự tiết lộ
hoàn toàn từ Thượng Đế như vậy.
Mohammed
không bao giờ cho rằng mình là hơn một người bình thường.
Sự tranh cãi chính với người Cơ Đốc Giáo của Ngài là
nhiều người Cơ Đốc Giáo thờ cúng Đức Chúa Con, cũng như
Đức Chúa Cha. Ngài không thể tha thứ cho sự thêm nếm ấy.
"Không có ai trên thiên đường hay trái đất đến trước
Đấng nhân từ làm bề tôi"
Thượng
Đế là Đấng Bất Diệt
Chỉ
mình Ngài là Thượng Đế
Ngài
không sinh ra ai và cũng không bị sinh ra!
Cũng
chẳng ai giống Ngài cả!
Những
tiết lộ của Mohammed đã được gìn giữ trong Kinh Koran để
khai sáng những thế hệ tiếp nối. Kinh Koran là một cuốn
sách đặc biệt có ý nghĩa đối với người Hồi Giáo vì
nó đồng nhất với cuốn sách khác mà người Hồi Giáo tin
là tồn tại trên Thiên Đường từ lúc khởi thủy. Trong cuốn
sách thần thánh này, ý muốn của Allah được ghi lại. Cùng
những thiên khải như vậy cuốn sách đó là những thiên khải
được trao cho Mohammed và được viết trong Kinh Koran. Kinh Koran
là toàn bộ thông điệp của Thượng Đế gửi cho con người.
Những
người Hồi Giáo chính thống luôn luôn tin chắc rằng bản
văn trong sách thiêng liêng của họ là chính xác. "Những người
có trí nhớ" biết những điều mà Mohammed nói. Ít lâu sau
khi chết, những lời Ngài nói được viết thành văn bản.
Việc này đã làm cho người Hồi Giáo từ lúc khởi đầu
tôn giáo của họ có được bộ kinh thánh thiêng liêng.
Cách
hiểu biết ý Thượng Đế thứ ba là qua các thiên thần. Đối
với người Hồi Giáo thiên thần quan trọng nhất là Gabriel,
nổi tiếng với họ như một "thiên thần thiên khải". Chính
Gabriel đã mang thông điệp của Thượng Đế cho Mohammed. Gabriel
và những thiên thần khác ở chung quanh ngai vàng của Thượng
Đế, ở "tầng trời thứ bẩy" của thiên đường, thi hành
ý của Allah và phục vụ các sắc luật của Ngài.
Một
thiên thần khác -- hay thực ra nguyên là thiên thần - là Quỷ
thần, đã bị đầy ra khỏi khỏi thiên đường vì cao ngạo.
Người Hồi Giáo tin là thiên thần này đảm trách địa ngục
và với những phụ tá, hoạt động để cản trở ý của
Allah bằng cách quyến rũ con người vào con đường tội lỗi.
Tuy nhiên, Allah toàn năng và quyết định tất cả. Cho nên
công việc của thần Quỷ này bị hạn chế vào những gì
mà quỷ thần này chỉ có thể làm được trong khuôn khổ
chương trình của Allah. Thần Quỷ này thực sự không bao giờ
có thể cản trở nổi Allah, vì chương trình của Allah gồm
có phần để cho thần Quỷ làm công việc cám dỗ.
Thượng
Đế công bằng nhưng đời thường thưởng phạt theo đúng
với đặc tính cuộc sống của con người. Phải chăng điều
thiện là không được thưởng và điều ác là bị trừng
phạt. Kinh Koran nói với người Hồi Giáo là Phán Quyết cuối
cùng sẽ tới vào cuối thời đại này và bắt đầu sự trường
cửu khi Allah phán xét tất cả các linh hồn. Mỗi linh hồn
sẽ bị xử theo hồ sơ cuộc đời nó. Allah nhân từ, và người
thiện được phần thưởng lớn hơn người ấy đáng được
thưởng. Nhưng trừng phạt tội lỗi thì đúng theo tội lỗi
đáng bị trừng phạt.
Những
tín đồ đã theo ý của Allah thì sẽ được thưởng sống
đời đời trên thiên đường. Kinh Koran mô tả cuộc sống
trên thiên đường giống như một ốc đảo tuyệt vời, có
nước chảy, những thứ giải khát, trái cây và chim chóc,
các chàng trai và những thiếu nữ phục vụ nhu cầu của các
cư dân. Những người Hồi Giáo chín chắn tin rằng tiếng
gọi thực sự của thiên đường là sự hiện diện bất diệt
của Allah.
Địa
ngục đã được chuẩn bị cho những ai khác từ chối không
qui phục theo ý Allah. Hơn nữa, mô tả địa ngục giống như
người ở sa mạc có thể tưởng tượng đến nỗi thống
khổ cùng cực mãi mãi trong lửa và nóng. Cái mà họ ăn và
uống giống như nước sôi. Khi họ kêu cứu, sự giúp đỡ
làm họ trở thành khổ thêm. Một số người Hồi Giáo nói
rằng Kinh Koran dùng cách nói hình ảnh để vạch ra rằng sẽ
hoàn toàn không có niềm tin trong cuộc sống nếu không có
sự hiện diện của Allah.
Allah,
nhà tiên tri, kinh Koran, thiên thần và Phán Quyết Cuối Cùng
-- con người phải tin tất cả những thứ đó. Thiết yếu
niềm tin thứ sáu là: tin vào quyền năng hoàn toàn và vô biên
của Allah.
Thực
sự đây là sự nhắc lại của một số đặc tính của Allah,
vạch ra sự cần thiết vâng lời dứt khoát về phần con người.
Con người không cần hiểu ý của Thượng Đế -- thực ra,
không thể hiểu được. Nhưng con người phải phục tùng điều
đó. "Tôi nghe và vâng lời" mô tả mối quan hệ của con người
với Thượng Đế.
Danh
xưng Moslem có nghĩa "phục tùng" trong khi Islam có nghĩa là "sự
phục tùng ý của Allah". Người Hồi Giáo tin rằng phục tùng
mang lại hòa bình và thỏa mãn. Họ bác bỏ các thuật ngữ
"Mohammedan" (Môn đồ của Mohammed và "Mohammedanism" (Đạo Mohammed)
vì chúng ngụ ý thờ phượng Mohammed. Người Hồi Giáo chỉ
thờ phượng Allah.
TÔI
PHẢI LÀM GÌ?
Đạo
Hồi trải rộng nhanh chóng trên thế giới một phần do tính
đơn giản của nó. Tín điều của nó được nói rõ ràng
trong sáu niềm tin, như chúng ta đã thấy. Bổn phận tôn giáo
của các tín đồ được nói rõ ràng trong năm đòi hỏi được
coi là "năm trụ cột" của Đạo Hồi.
Tuyên
Bố Về Niềm Tin. Trước tiên, người Hồi Giáo phải tuyên
bố niềm tin của mình và lời nguyện trung thành. "Tôi xác
nhận không có Thượng Đế mà chỉ có Allah, và Mohammed là
tiên tri của Allah." Nói trước nhân chứng, lời tuyên bố
này được chấp nhận một tín đồ mới vào Tình anh em của
Đạo Hồi.
Cầu
nguyện. Kỷ luật tôn giáo chính của người Hồi Giáo là
cầu nguyện. Mohammed chỉ định năm lần một ngày cho cầu
nguyện thường lệ, và khuyến khích cầu nguyện riêng để
cảm thấy Allah luôn luôn hiện diện. Vào lúc mặt trời mọc,
giữa trưa, giữa buổi chiều, vào lúc mặt trời lặn và buổi
tối, những người Hồi Giáo được kêu gọi để cầu nguyện.
Từ tháp giáo đường, "những cột tru" của cầu nguyện, lời
kêu gọi được truyền đến hàng triệu người Hồi Giáo
mộ đạo:
Đức
Allah vĩ đại, Đức Allah vĩ đại.
Không
có Thượng Đế mà chỉ có Allah.
Mohammed
là thánh tông đồ của Allah.
Trước
lời cầu nguyện của các ngươi!
Trước
sự mộ đạo của các ngươi!
Đức
Allah vĩ đại, không có Thượng Đế, chỉ có Allah!
Trước
tiên, có nghi thức tẩy uế và đặt thảm cầu nguyện. Rồi
người Hồi Giáo quỳ xuống cúi đầu về hướng Mecca. Lời
cầu nguyện thường có dạng làm lại sự phục tùng ý của
Allah. Thường thường bầy tỏ của sự tôn thờ. Đối với
một số người, điều đó là sự xác nhận sự có mặt thường
xuyên của Thượng Đế là có thật.
Điều
này cuối cùng gần như đáp ứng lòng mong ước của Mohammed
hy vọng tất cả những tín đồ có thể coi Allah là kinh nghiệm
sống thực sự.
Người
Hồi Giáo cố gắng đến giáo đường để cầu nguyện vào
bất cứ lúc nào có thể được. Những tòa nhà đơn giản
này được thiết kế để người đi lễ quay mặt về Mecca.
Tất cả sự trang hoàng đều là những trang trí hình học,
theo lời khẳng định của Mohammed là không có hình ảnh. Thứ
sáu là ngày đặc biệt để cầu nguyện chung tại giáo đường.
Đàn ông đến giáo đường thi hành nghi thức tẩy uế, rồi
tụ họp thành từng nhóm nghe đọc kinh Koran rồi tham dự lễ
cầu nguyện. Trong mỗi giáo đường, người lãnh đạo hướng
dẫn buổi lễ chung và thuyết giảng hàng tuần về niềm tin
Hồi Giáo.
Thường
thường giáo đoàn gồm toàn nam giới, hầu hết người Hồi
Giáo tin rằng người phụ nữ nên cúng lễ tại nhà. Chính
Mohammed đã tuyên bố sự hành lễ tại nhà riêng tốt hơn
đối với phụ nữ. Nếu họ dự các lễ, thường thường
họ ngồi ở hậu trường.
Ăn
Chay. Ăn chay là một hành động tôn giáo thường xuyên của
người Hồi Giáo mộ đạo. Ăn chay là cần thiết cho tất
cả các tín đồ, ngoại trừ vì điều kiện thể xác hay những
hoạt động đặc biệt. Người Hồi Giáo ăn chay vào tháng
Ramadan, tháng thứ chín của Lịch Hồi Giáo. Trong mùa ăn chay
Ramadan, không được ăn thức ăn và đồ uống giữa lúc mặt
trời mọc và mặt trời lặn. Người Hồi Giáo tin rằng ăn
chay là sự nhắc nhở tốt để đưa những điều tinh thần
lên hàng đầu. Họ cố đọc và nghe toàn bộ Kinh Koran trong
tháng này và thường ở giáo đường.
Bố
Thí. Niềm tin vào tình anh em của tất cả người Hồi Giáo
đã giúp duy trì tập tục xa xưa trong việc chia sẻ tiền của
cho người túng thiếu. Có lúc, sự chia sẻ được hợp thức
hóa dưới hình thức "thuế" hàng năm. Bây giờ, việc này
thường được trả dưới hình thức cam kết tự nguyện để
giúp đỡ người túng thiếu và để ủng hộ những trường
học và giáo đường Hồi Giáo. Tuy có người có thể không
chọn cách trả đó, nhưng rất ít người không trả. Bạn
của họ đều mong muốn, và họ tin rằng tính hào phóng đối
với người khác khiến Allah sẽ hào phóng với họ.
Hành
Hương. Trên hết trong tư tưởng của mình trong cuộc đời
này, mỗi một người Hồi Giáo đềù sống với một mộng
ước và niềm mong chờ. Đó là hành hương đến Mecca, một
thành phố quá thiêng liêng đến nỗi người ngoại đạo không
được vào. Hàng năm vào tháng mười hai Lịch Hồi Giáo, con
đường đi tới Mecca đông nghẹt những người hành hương.
Họ hối hả tham dự những buổi lễ tập trung tại ngôi đền
Ka’aba cổ và Giáo Đường Mecca. Mohammed thúc giục các tín
đồ hành hương mỗi năm. Bây giờ, do sự mở rộng của Hội
Đoàn Hồi Giáo, mỗi người được yêu cầu phải đi một
lần trong đời người. Trong khi nhiều người không bao giờ
có thể thực hiện được chuyến đi, việc này vẫn là mục
tiêu cuộc đời của hầu hết người Hồi Giáo.
Một
khi đến nơi, người hành hương vào khuôn viên thiêng liêng
của Mecca, mỗi người đều mặc quần áo được thiết kế
sẵn làm cho tất cả người Hồi Giáo, giàu hay nghèo, đều
giống nhau. Địa vị xã hội, và chủng tộc, của cải bị
lãng quên, người hành hương tham dự nghi lễ thiêng liêng
của cuộc hành hương. Họ nhịn ăn và nhịn uống suốt ngày;
họ soạn thành kịch những huyền thoại truyền thống; họ
vinh danh Viên Đá Đen tại Đền Ka’aba. Vì đã tham dự cuộc
hành hương, những người Hồi Giáo này bao giờ cũng được
kính trọng bởi người đồng hương.
Hành
hương là một tác nhân thống nhất quan trọng cho Đạo Hồi.
Chắc chắn Mohammed đã nhấn mạnh việc này vì Ngài mong mỏi
điều đó phụng sự cho sự nghiệp đoàn kết các bộ lạc
Ả Rập. Nó còn giúp vào việc củng cố sự ràng buộc thân
hữu giữa những người Hồi Giáo.
NGƯỜI
HỒI GIÁO THIẾU NỢ GÌ NGƯỜI KHÁC
Để
hướng dẫn lối sống hàng ngày, người Hồi Giáo không phải
tìm đâu xa hơn ngoài Kinh Koran. Phần lớn chất đốt cho lửa
cảm hứng của Mohammed là cái vô luân và thiếu mục tiêu
đáng làm trong đời sống của những người đồng hương.
Kinh Koran tràn đầy những thông điệp phản ảnh mối quan
ngại này. Những tôn giáo khác có thể phát triển con người
sống cách biệt người khác, đặt những ham muốn và nhu cầu
cá nhân xuống hàng thứ yếu trước việc tìm cầu tinh thần.
Đạo Hồi không cố gắng thử làm như vậy. Đạo Hồi cố
gắng làm cho con người xứng đáng sống với nhau.
Từ
lâu Mohammed cấm tín đồ cờ bạc và đồ uống có chất say.
Có lẽ lúc Ngài làm vậy vì Ngài nghĩ lại những cảnh hỗn
loạn và chè chén ồn ào tại những hội chợ hàng năm gần
Mecca. Nếu những luật lệ chống cờ bạc và tình trạng say
xưa gây ra sự thay đổi trong đời sống của tín đồ, thì
những lời tuyên bố của Ngài về phụ nữ còn gây nhiều
thay đổi hơn. Đàn ông có thể ly dị và lấy nhiều vợ tùy
theo ý muốn được yêu cầu coi phụ nữ là người của cùng
một Đấng Tạo Hóa, có quyền riêng. Người chồng phải tôn
trọng quyền của người vợ đối với của hồi môn và phải
tuân theo một số luật lệ về ly dị và tái giá. Mohammed
thúc đẩy mọi nỗ lực để ngăn trở sự ly dị vì không
gì khác là làm phật lòng Allah.
Người
Mỹ giật mình về sự thực hành chính sách đa thê của Hồi
Giáo. Người Hồi Giáo, theo Kinh Koran, có thể lấy bốn vợ
(Mohammed một lần được phép đặc biệt của Allah, lấy mười
vợ). Tuy vậy Mohammed yêu cầu đàn ông xem xét hoàn cảnh và
tính khí của mình thật cẩn thận trước khi làm như thế.
Nếu họ không thể xử đối bình đẳng trong việc săn sóc
và tình cảm, họ chỉ nên lấy một vợ.
Càng
ngày càng nhiều người Hồi Giáo lấy một vợ, hoặc vì đó
là những gì mà họ tin tưởng hoặc những gì mà họ có thể
cung cấp được. Nhiều người Hồi Giáo bây giờ cố hiểu
tinh thần hay chủ định của luật trong kinh Koran. Những người
tín đồ tự do hơn khẳng định rằng chế độ một vợ một
chồng nằm trong tinh thần của Kinh Koran. Họ nhận thức rằng
thời gian đã thay đổi từ khi Mohammed làm luật lấy vợ.
Lúc ấy tỷ lệ người phụ nữ so với đàn ông cao hơn ngày
nay. Hơn thế nữa, theo như tập tục bộ lạc cổ, cách duy
nhất mà người đàn ông có thể giúp đỡ phụ nữ nghèo
khổ hay góa bụạ là lấy người đó.
Mặc
dầu đời sống và công việc của Mohammed bảo đảm cho người
phụ nữ Hồi Giáo nhiều đặc ân, mà không được hưởng
trước đây nhưng họ vẫn còn phải kín đáo và khiêm nhường.
Những hoạt động tôn giáo của họ nên được thi hành riêng
thì tốt hơn. Họ nên sống tách biệt ở nhà hơn là đi đây
đi đó. Họ không phải ẩn trốn trước tất cả những con
mắt, nhưng khiêm nhường và trầm lặng là những đức tính
phù hợp nhất cho họ.
Thuở
đầu, người Hồi Giáo có trách nhiệm tranh đấu với những
người anh em của họ nếu cần thiết. Mohammed nói chiến tranh
để tự vệ thì có thể chấp nhận, nhưng ta chỉ tấn công
khi chiến đấu vì Allah. Những cuộc thánh chiến như vậy
đã trải rộng Đạo Hồi trên một phần rộng lớn địa
cầu trong một thời gian rất ngắn. Mohammed dạy người Hồi
Giáo phải độ lượng với người bị chinh phục, không nên
mang thái độ thù địch.
Thực
ra, tất cả những luật lệ về lối sống có đạo đức
của một người Hồi Giáo bắt nguồn từ một trong những
điều cuối cùng mà Mohammed nói với tín đồ. Trong bài giảng
cuối cùng tại Mecca, Ngài có lời tuyên bố nổi tiếng về
tình anh em của tất cả tín đồ. Tất cả tín đồ đều
quan trọng và tất cả mọi người đều bình đẳng dưới
mắt Allah. Chỉ với lý do đó không thôi, thì lòng tốt và
kính trọng cũng đã là bổn phận đối với cha mẹ, con cái,
người nô lệ và tất cả người khác.
Người
Hồi Giáo phải trung thành trong lời hứa đối với nhau. Họ
kính trọng đời sống và tài sản của nhau. Đánh giá lòng
tốt của một con người dựa vào cách người ấy hành động
đối với anh em. Tất cả những gì mà con người tin tưởng
có thể được nói lên từ điều người ấy làm, như trong
ngụ ngôn Hồi Giáo:" Không có ai trong số các ngươi là tín
đồ cho đến khi biết yêu thương người anh em, những gì
mà người anh em thương yêu cho chính anh ta".
Lâu
nay, khi người ta đã quen sống trong các quốc gia, ai cũng biết
trách nhiệm xã hội. Nhưng những người Ả Rập ở thời
Mohammed đã tiêu hao ngày tháng trong tranh cãi nhỏ nhen và đánh
nhau liên miên giữa các bộ lạc. Mohammed nói không được
giới hạn trách nhiệm đối với những người sống ở thành
thị của Ngài hay thuộc về bộ lạc của Ngài. Ngài chịu
trách nhiệm về việc chia sẻ phúc lợi của tất cả những
ai có giá trị, quyền lợi, và mục tiêu chung với Ngài.
Mohammed
đã mở rộng mối quan tâm về người dân cửa Ngài, nhìn
chằm chằm vào phần còn lại của thế giới và giúp họ
tự thích nghi với một vai trò trên thế giới. Tất cả những
điều đó được làm trong khoảng thời gian hai mươi năm ngắn
ngủi. Người Hồi Giáo trung bình biết rõ bài học của mình.
Người Hồi Giáo theo giáo lý của vị tiên tri về tình anh
em là một công dân tốt trên thế giới.
21.
TÌNH ANH EM TRONG ĐẠO HỒI
Trong
cuộc đời Mohammed, những sự bất đồng ý kiến trong tín
đồ bị ngăn chặn chủ yếu là vì hiệu quả của sự đoàn
kết mà Ngài đạt được nơi họ. Nhưng khi Ngài chết, dân
tộc của Ngài -- giống như tất cả các dân tộc ở khắp
nơi -- vỡ lẽ ra rằng có một sự bất hòa trong việc thi
hành phần còn lại trong những mục tiêu Đạo Hồi. Đã có
bàn cãi trong lúc bắt đầu về việc ai là người sẽ thay
thế Mohammed trong việc lãnh đạo người ngoan đạo. Việc
này được giải quyết không mấy khó khăn với sự lựa chọn
người tin cẩn Abu Bekr làm vua Đạo Hồi. Không may, kế tục
những chỗ trống trong lãnh thổ Hồi Giáo không được bổ
sung dễ dàng. Vì đế quốc Hồi Giáo lớn mạnh, những bất
đồng ý kiến cũng phát triển.
Có
một vài nhóm có những khái niệm dứt khoát về phương pháp
tốt nhất để chọn lựa Vua Hồi. Những người đồng hành
đã là những người cộng tác gần gũi nhất với Mohammed
nghĩ rằng vua Hồi phải là một trong số người này. Một
số người nghĩ rằng sự lãnh đạo phải ở trong tay gia đình
Mohammed. Những người Koreish nghĩ rằng chính họ, bộ lạc
của Mohammed, phải kiểm soát triều đại Hồi Giáo.
SỰ
LAN RỘNG CỦA ĐẠO HỒI
Dưới
quyền của Abu Bekr, người Hồi Giáo tấn công Syria trong thánh
chiến đầu tiên chống lại một ngoại quốc. Những cuộc
xâm lăng Hồi Giáo bắt đầu. Dưới quyền vị vua thứ hai,
Omar, quân đôi Hồi Giáo tiến vào những cuộc chiến khác,
cuối cùng mang Đạo Hồi vao những phần đất của Phi Châu,
Ấn Độ, tất cả Mông Cổ và Tây Ban Nha.
Những
chương gây ấn tượng nhất trong lịch sử Đạo Hồi được
viết về những chiến binh hung dữ từ Ả Rập xông ra để
thôn tính thế giới. Những người mộ đạo Hồi Giáo cho
rằng họ làm như vậy trong một cố gắng thành thực cứu
thế giới khỏi Phán Quyết Cuối Cùng. Mohammed đã làm cho
họ cảm thấy đó là nhiệm vụ của họ, và nếu cần thiết
họ sẽ buộc thế giới vào sự cứu rỗi này. Sức mạnh
bao giờ cũng cần thiết. Người ta thường đưa ra ba điều
lựa chọn cho những người không phải là Hồi Giáo -- chấp
nhận kinh Koran, đóng một loại thuế đặc biệt vì đặc
quyền của những người không phải là Hồi Giáo còn lại,
hay cuối cùng là lưỡi gươm. Trang bị và tiếp tế cửa họ
có thể nói là thô sơ, người Hồi Giáo tiếp tục thắng
trận, thôi thúc bởi niềm tin về một sứ mạng và bởi một
số lý do khác ít tôn giáo hơn. Theo luật Hồi Giáo, binh lính
có thể giữ bốn phần năm chiến lợi phẩm trong thánh chiến.
Nếu sống sót, một người lính có thể trở nên rất giàu
có. Nếu chết, người lính sẽ đi thẳng vào thiên đường.
Những
người khác giải thích rằng một phần quyền lợi của người
Hồi Giáo trong việc xâm chiếm lan rộng nằm trong việc cuộc
sống của họ cho đến bây giờ bị giới hạn vào biên giới
đất đai sa mạc cằn cỗi của họ. Trước mặt họ bây giờ
là sự giàu có về đất đai và văn hóa của những nền văn
minh phồn thịnh và mầu mỡ của Địa Trung Hải. Không chỉ
sản phẩm của đất đai lôi cuốn họ, mà những kho tàng
về khoa học, mỹ thuật và triết học cũng lôi cuốn họ.
Chính
trong lúc đó kho tàng ở Medina bắt đầu tiến tới điểm
bùng nổ. Ai đã từng mơ ước về sự giàu có như thế đổ
vào từ những cuộc xâm lăng các nước? Và vua Hồi chịu
trách nhiệm về cách tiêu pha. Đối với nhiều người, nó
trở thành một vấn đề quan tâm nhất để có thể chia sẻ
trong quyết định chọn vua Hồi. Cuộc sống của những vua
Hồi tốt là hy sinh cho khát vọng và lòng tham của một số
nhóm người vô lương tâm.
Vì
Đạo Hồi bành trướng rộng, gồm càng ngày càng nhiều những
người không phải là Ả Rập, sự đồng thuận trở nên khó
khăn và cuối cùng không thể làm được. Tuy nhiên qua nhiều
thế kỷ, những người Hồi Giáo chính thống hơn khăng khăng
đòi một nhà lãnh đạo tôn giáo duy nhất cho toàn thể thế
giới Hồi Giáo. Nhưng thời gian và tình thế đã thay đổi
và vẫn còn đang thay đổi. Cuối cùng vào năm 1924, chế độ
vua Hồi chấm dứt.
Trong
những năm đầu sau cái chết của Mohammed, những câu hỏi
được nêu lên đưa đến kết quả phân hóa lớn trong Hồi
Giáo. Sự phân hóa này kéo dài đến tận ngày nay. Cả hai
nhóm đều coi đường lối suy nghĩ và hành động của họ
đều sát hợp với những tiết lộ của Mohammed. Cả hai nhóm
tin tưởng phong trào của họ tiêu biểu cho sự phát triển
đúng của Hồi Giáo.
LUẬT
SUNNA
Nhánh
chính thống hay bảo thủ của Đạo Hồi được gọi là Sunna,
được đặt tên như vậy vì sự nhấn mạnh của nó trong
việc thu thập các truyền thống Hồi Giáo cũng được gọi
bằng tên này. Những người theo luật Sunna tin rằng những
gì có trong Kinh Koran và trong Luật Sunna xác định những giới
hạn về niềm tin và hành động cho người Hồi Giáo. Kinh
Koran nói lời của Allah. Luật Sunna nói về hành động và
lời nói của Mohammed và những tập tục ban đầu của người
Hồi Giáo.
Có
lúc, người theo luật Sunna tin rằng kinh Koran và những truyền
thống phải được giải thích đúng như đã được viết.
Một giáo sĩ đáng tôn kính tên là Ashari giúp những người
theo luật Sunna phát triển những niềm tin hơi khác cho phép
sử dụng lý trí trong việc giải thích. Ông giải thích một
số niềm tin dường như mâu thuẫn vì nói Allah là tất cả.
Allah tạo mọi thứ và tất cả hành động và, cho nên Allah
chịu trách nhiệm cả hai thiện và ác. Con người phải chấp
nhận điều đó, mà không tranh cãi về việc này liệu có
thể được không.
Một
số băn khoăn làm sao kinh Koran có thể bất diệt như Mohammed
dạy cho họ. Nếu như vậy, sẽ không có gì khác được thiết
lập bên cạnh Thượng Đế? Và không phải là tội lỗi lớn
nhất trong mọi sự thờ phượng nhiều hơn một Thượng Đế?
Ashari dạy kinh ở trong dạng thức mà người Hồi Giáo có,
không bất diệt. Nhưng ở dạng lần đầu tiên nó hiện hữu
trong tâm trí Allah thì nó bất diệt.
Thường
có một số người không chú trọng nhiều vào nghi thức hay
luật lệ tôn giáo hay thần học. Đã có nhiều người Hồi
Giáo có tính khí này. Một số trong họ bắt đầu bầy tỏ
niềm tin của họ theo cách họ nhìn thấy ở những người
tôn giáo khác. Họ cảm thấy chân lý tôn giáo không chỉ hạn
chế trong tín điều và nghi lễ. Chân lý có thể đạt được
từ sự đồng cảm trực tiếp với Thượng Đế. Và vì vậy,
một số bắt đầu thực hành thiền định và những tập
luyện thần bí tận tụy khác.
Đầu
tiên họ hẳn là được chào đón bằng sự ngạc nhiên, vì
họ đã đi vượt qua sự tu tập thường lệ của Hồi Giáo.
Giống như một số người tự chối bỏ niềm tin khác, họ
mặc áo choàng len không thoải mái và không lưu ý gì đến
nhu cầu vật chất và xã hội. Họ bị gắn cho cái tên Sufis
có nghĩa "người "mặc đồ len". Vì số người gia tăng, họ
bắt đầu tập họp thành đoàn thể thân hữu, nhấn mạnh
sự tận tụy hoàn toàn với Thượng Đế. Mục tiêu của họ
là hợp nhất với Allah trong đời này, không phải chờ đợi
đến sau khi chết.
Dần
dà những người Sufis này đạt được sự tôn trọng của
những người Hồi Giáo chính thống. Một người đầu tiên
hiểu giá trị con đường của họ đi tới Thượng Đế là
Ghazzali, một trong những giáo sĩ Hồi Giáo được gọi là
"người phục hưng tôn giáo". Ghazzali qưan sát những thần
bí trong sự mộ đạo của họ và chính mình trở thành Sufi.
Ông nhìn thấy giá trị trong đời sống của sự mộ đạo
hoàn toàn.
Ông
bắt đầu dạy thần học Sunna có sửa đổi, căn cứ một
phần lớn vào học thuyết của Ashari, nhưng gồm có những
sự nhấn mạnh vào lòng yêu thích của người mặc khải thần
linh. Ông tin rằng người ta không phải là tín đồ của một
tôn giáo cho đến khi cảm thấy trực nghiệm tôn giáo. Tôn
giáo phải thay đổi điều gì đó về đời sống của tín
đồ. Không có sự thay đổi này, người ta chỉ ở trên bề
mặt của tôn giáo mà không ở trong lòng tôn giáo ấy.
Tôn
giáo thực sự đến qua ba bước. Trước nhất, người ta phải
cảm thấy hối hận về những tội lỗi quá khứ. Cần thiết
phải có sự thay đổi. Đó là hối lỗi. Rồi phải tập trung
đời mình vào Thượng Đế, không có gì quan trọng ngoài sự
mộ đạo. Rồi tín đồ phải phấn đấu sống một cuộc
đời thoát khỏi tội lỗi. Những Cột Trụ của Niềm Tin
giúp họ trong việc này. Và những kỷ luật của người Sufis
sẽ giúp họ thêm.
Mục
tiêu chính của Ghazzali trong Đạo Hồi là nhấn mạnh về lý
luận như một phương pháp duy nhất để biết ý của Thượng
Đế. Ông nói, ta phải luôn luôn sẵn sàng vâng lời Allah,
dù hiểu hay không hiểu. Mặc dầu Ghazzali hình thành học thuyết
của ông vào thế kỷ thứ mười một, nhưng học thuyết ấy
vẫn là tài liệu tin cậy cuối cùng cho người Sunnis.
SHIA
Khoảng
chừng một phần năm người Hồi Giáo trên thế giới thuộc
về nhóm không theo quốc giáo và không chính thống giáo gọi
là Shia. Phần lớn cư trú ở Persia (Ba Tư), những người Shi’ites
này cũng theo niềm tin từ những lời tiên tri của Mohammed
và từ kinh Koran. Tuy nhiên, điều chính chia rẽ họ với người
Sunnis là niềm tin vào truyền thống là Mohammed đã để lại
cho tín đồ chăm sóc anh em họ và người con rể Ngài, Ali.
Họ nói, Ali là nhà lãnh đạo được thần thánh chỉ định,
Imam (nhà lãnh tụ Hồi Giáo) của cộng đồng Hồi Giáo. Sự
lãnh đạo Đạo Hồi lẽ ra phải tập trung vào gia đình Mohammed.
Người Shi’ites tin rằng ba vị vua trước Ali đã giữ triều
đình Hồi Giáo một cách bất hợp pháp và đã không đếm
xỉa gì tới những lời mong ước của Mohammed. Vì lý do
đó,
người Shi’ites nguyền rủa những người đó trong những
lời cầu nguyện hàng ngày.
Người
Shi’ites đã vinh danh những người con cháu Mohammed bằng cách
làm họ có tính cao quí tôn giáo -- và đôi khi có tính cao
quí chính trị -- và quý tộc. Mỗi phái lấy tên của những
con cháu này làm nhà lãnh đạo thiêng liêng cho mỗi thế hệ,
tin rằng mỗi Imam không thể sai lầm và không tội lỗi. Những
hệ phái không bao giờ đồng thuận về ai và khi nào là Imam.
Họ cũng chẳng đồng ý vào lúc dòng dõi Imam được thần
thánh chỉ định chấm dứt.
Một
số người Shi’ites tin rằng người cuối cùng trong những
Imams không chết. Ngài đi vào ẩn náu và sẽ tái xuất hiện
trước Phán Quyết Cuối Cùng. Cho đến lúc đó, một số người
Shi’ites tin rằng "Imam ẩn náu" sẽ chỉ định người thay
mặt trên trái đất, để người ta có thể có sự hướng
dẫn của Ngài. Những người Shas ở Ba Tư (Iran) tự nhận
là dòng dõi từ Imam thứ bẩy, được cho là những đại diện
của "Imam ẩn náu".
Hệ
phái Shi’ites tồn tại qua nhiều thế kỷ bất đồng ý kiến
với số đông người Hồi Giáo vì họ nhất định bám níu
vào niềm tin của họ. Đôi khi họ sống sót trong các cuộc
thanh trừng bằng cách làm ra vẻ tin theo trong khi vẫn thực
thi "ngầm" niềm tin của họ. Những người Sunnis hiện đại
có khuynh hướng khoan hồng đối với những người Hồi Giáo
không phải chính thống.
Bất
cứ tôn giáo nào lôi cuốn được sự trung thành của một
số đông người chắc chắn sẽ tích lũy các tín điều, nghi
lễ, và tập tục đã được qui định. Ít lâu sau có những
người thấy tổ chức như vậy đã thu hút các tín đồ, cho
nên cảm hứng và mục tiêu nguyên thủy đã bị bỏ quên.
Đôi khi những người tinh ý này bắt đầu gây phong trào làm
trong sạch những đặc trưng bên ngoài và tôn giáo để trở
về với niềm tin cơ bản.
Phong
trào làm trong sạch như vậy được phát động trong Đạo
Hồi vào thế kỷ thứ mười tám. Một số ảnh hưởng của
nó vẫn còn kéo dài. Những người ủng hộ phong trào này
trở nên thất vọng vì ngày càng có khuynh hướng sùng bái
những giáo sĩ nổi tiếng và những nhà thần học và cả
Mohammed. Họ cảm thấy điều đó rất gần với việc thờ
phượng một vài thần. "Hãy quay trở về với Allah và Kinh
Koran" là lời khuyên thiết tha cho người Hồi Giáo. Phong trào
lôi cuốn sự ủng hộ tại Ả Rập Xê Út, nơi những dấu
tích lich sử bị chuyển ra khỏi lăng mộ của gia đình Mohammed
và những nhân vật chính yếu khác.
NHỮNG
THAY ĐỔI TRONG ĐẠO HỒI
Gần
như bất chấp chính nó, Đạo Hồi đã thay đổi chút ít ngay
từ lúc ban sơ. Có một thời, sự thay đổi trong Hồi Giáo
được coi như tội lỗi. Đây là một tôn giáo đã nhiều
năm cấm phiên dịch kinh Koran từ tiếng Ả Rập vì Allah đã
tuyên đọc Đạo Hồi bằng tiếng Ả Rập, và điều này không
được thay đổi. Nhưng thay đổi đã xẩy ra.
Những
xứ cận Đông càng ngày càng chú ý đến việc hiện đại
hóa, kỹ nghệ hóa, hay Tây phương hóa -- muốn nói thế nào
cũng được. Ngày nay hầu hết những người Hồi Giáo cảm
thấy lòng trung thành của họ mới hết phải dành cho đất
nước mà họ sống hơn là với toàn bộ tình anh em Hồi Giáo.
Những sự kiện của sự "co lại" trên thế giới ở thế
kỷ thứ hai mươi đã buộc Đạo Hồi trở nên khoan dung nhiều
hơn đối với những niềm tin khác và ít cứng rắn hơn về
tín điều của chính mình.
Tuy
nhiên hai thế lực đã tác động theo hướng đối nghịch
nhau. Một thế lực là tạo nước Pakistan tại Ấn Độ, kết
quả tự nhiên của vị đắng Hồi-Ân Giáo. Trong hai phần
-- một phần ở phía tây Ấn Độ, và một vùng nhỏ hơn ở
phía đông -- Pakistan là một thí nghiệm lý thú để làm giảm
bớt những xung đột tôn giáo.
Người
Hồi Giáo di trú vào Pakistan làm tăng thêm ý thức dị biệt
giữa Đạo Hồi và các tôn giáo khác.
Một
thế lực khác chống lại Nhà nước Israel của người Do Thái
với phong trào ra đi của hàng ngàn người Ả Rập khỏi nơi
đã là qưê hương của họ. Những người Hồi Giáo rất bất
mãn về quyết định này. Một khi người ta có kẻ thù chung,
thì họ lại nhấn mạnh vào những sự việc khác mà họ cùng
chia sẻ. Bởi vậy, người Hồi Giáo đã nhấn mạnh lại niềm
tin và tập tục của họ.
SỰ
ĐÓNG GÓP CỦA ĐẠO HỒI
Đã
từ
lâu thế giới đã trở nên quen thuộc với những gì mà người
Hồi Giáo Ả Rập đã làm cho thế giới. Lịch sử thế giới
đã thay đổi khi những đạo quân Hồi Giáo đầu tiên tiến
vào Syria. Mặt khác những kêu ca của người bị chinh phục,
người Hồi Giáo dùng sức mạnh vì lợi ích. Bất kỳ chỗ
nào họ đến, họ thúc đẩy mỹ thuật, khoa học và y học.
Họ gìn giữ trật tự và luân lý trong xã hội.
Những
ai chấp nhận Allah mà họ thờ cúng thì đến sùng bái một
Thượng Đế có chân giá trị và oai nghiêm -- bao giờ cũng
được gần gũi bởi những người thấp kém nhất. Thực ra
dưới mắt Allah, không ai là thấp kém. Tất cả đều bình
đẳng. Tình anh em của Đạo Hồi không ngừng lại ở biên
giới quốc gia, nòi giống hay của cải. Vì người Hồi Giáo
tin rằng mắt của Allah không thấy những khác biệt vô nghĩa
đôi khi do con người tưởng tượng ra.
Tất
cả điều này bắt nguồn sự thôi thúc của một người ở
Mecca cảm thấy trọng trách nâng dân tộc mình lên từ thờ
phượng những thần tượng tới chỉ thờ phượng một thượng
đế, Allah. Vào lúc cuối cùng của đời Ngài, Ngài nhìn vào
các môn đồ và cầu nguyện:" Ôi lạy Chúa! ta đã trao thông
điệp của ta và đã hoàn thành công việc của ta".
Những
người Hồi Giáo đã trả lời bằng giọng nói của họ, và
đã trả lời bằng đời của họ từ đấy: Vâng, quả thật,
Ngài đã làm.