CƠ
ĐỐC GIÁO
15.
JESUS VÀ VƯƠNG QUỐC CỦA THƯỢNG ĐẾ
Vị
thế của Jesus trong lịch sử không chỉ là một cá nhân từ
hai ngàn năm qua, Jesus là một biểu tượng tôn giáo. Những
sự kiện về đời sống của Ngài đã được thêu dệt với
hy vọng và ước mơ của nhiều thế hệ người Cơ Đốc Giáo.
Vì những lý do này hầu như không thể có được một hình
ảnh lịch sử thực sự về con người vô tình trở thành
người khai sáng ra Đạo Cơ Đốc, và dù cho - đối với nhiều
người Cơ Đốc Giáo - và chính cả Thượng Đế.
Chúng
ta cũng nên đặt vấn đề nghiên cứu Jesus bằng cùng một
phương pháp chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu các nhà tiên
tri và lãnh tụ các tôn giáo khác. Chúng ta cần sự tôn trọng,
thành thật, và cởi mở. Hoàn toàn nên nhớ rằng khuynh hướng
ca ngợi hoặc cả đến phong thánh người lãnh đạo tôn giáo
lớn là đặc điểm của sự phát triển ở hầu hết các
tôn giáo. Thái độ lịch sử của Cơ Đốc Giáo minh họa điều
này -- cũng như lịch sử của Lão Giáo và Phật Giáo. Mải
mê đề cao vai trò thiêng liêng mà Nhà Thờ đã gán cho Jesus,
nhiều người đã quên tìm kiếm trí tuệ trong những lời
giáo huấn của Ngài. Họ đã sùng bái Ngài -- nhưng lơ là
đi theo Ngài. Tuy vậy ít nhất vẫn có một số người thấy
rằng đàng sau tất cả sự sùng kính Jesus đã tìm cách không
làm cho con người chấp nhận chính mình, mà chấp nhận lối
sống của Ngài. Và lối sống ấy là gì?
NHỮNG
CHUYỆN VỀ JESUS
Chúng
ta không có văn bản ghi thời gian Jesus sống. Những câu chuyện
cổ nhất về Ngài mà chúng ta có thể tìm thấy có ghi trong
Kinh Tân Ước. Theo Mark Sách Phúc Âm thường được coi như
câu chuyện sớm nhất trong những câu chuyện này. Tuy nhiên
câu chuyện được viết trên bốn mươi năm sau cái chết của
Đức Chúa Jesus. Thật thú vị nhận thấy đó là câu chuyện
bình dị nhất trong Sách Phúc Âm. Những năm sau, Sách Phúc
Âm được viết bởi -- Matthew, Luke, và John. Mỗi một cuốn
được viết với một mục đích: giới thiệu Jesus và công
trình của Ngài nhằm lôi cuốn một nhóm người mới ở mức
độ nào đó.
Một
số phần trong các Phúc Âm này đều giống nhau, nhưng cũng
có nhiều khác biệt. Thí dụ, những người viết Phúc Âm
không đồng ý về lễ rửa tội của Jesus hay những kinh nghiệm
tôn giáo dẫn đến lễ rửa tội của Ngài và giáo huấn của
Ngài. Họ cũng không đồng ý có sự hiện hữu của những
dấu hiệu của Thượng Đế để chứng tỏ cho mọi người
công nhận Jesus là đứa con duy nhất của Thượng Đế.
Những
người viết không đồng ý -- và những nhà học giả Cơ Đốc
Giáo ngày nay cũng không đồng ý - về niềm tin của Jesus về
Vương Quốc của Thượng Đế. Một số nói rằng, giống những
người Do Thái ở Palestine trong thời của Ngài, Jesus mong ước
vương quốc này xuất hiện theo kiểu thế giới rung động
gây đầy ấn tượng. Người khác nói rằng Jesưs nghĩ về
việc ấy chỉ là Vương quốc nội tâm từ từ xuất hiện
trong tâm con người. Có những đoạn trong Tân Ước chứng
minh mỗi giải thích. Có những đoạn tuyên bố sự mong ước
của Jesus về một vai trò quan trọng trong Vương quốc, là
người đại diện của Thượng Đế. Và cũng có những đoạn
khác giới thiệu Ngài như một vị thầy khiêm nhường như
Amos, Hosca, hay những nhà tiên tri khác.
Vì
những khác biệt thú vị như vậy trong việc giải thích các
chi tiết, các nhà học giả công nhận rằng chúng ta không
bao giờ có thể biết Jesus thực sự. Chúng ta chỉ có thể
biết Ngài qua sự nhớ lại của con, cháu, những người lần
đầu tiên nghe nói và biết Ngài. Các sử gia biết đó là
vấn đề chung cho tất cả các tôn giáo, nhưng người Cơ Đốc
Giáo đã có nhiều cố gắng "chứng tỏ" các vấn đề bằng
cách dựa vào kinh thánh hơn nhiều người khác có "bằng chứng"
như vậy không phải là mối quan tâm to lớn đối với những
người Phật Giáo và Ấn Độ Giáo chẳng hạn. Họ tin rằng
chân lý là vô tận. Chân lý được hiểu đối với từng
người qua kinh nghiệm bản thân cũng như đối với những
nhà lãnh đạo tôn giáo trọng yếu.
Bởi
vậy chúng ta nên biết ngay vào lúc đầu, chỉ có một chút
chúng ta có thể chứng minh về cách Jesus sống và dạy. Những
chỗ mà các học giả trung thực không đồng ý, thì điều
quan trọng là chúng ta tìm hiểu hồ sơ cho chính chúng ta. Bằng
cách đó, chúng ta có thể nhận thức được những vấn đề
khó khăn liên quan đến việc chọn lựa bất cứ sự giải
thích nào. Mỗi một người chúng ta phải nhớ rằng không
có những nỗ lực thực sự thì sẽ chỉ tìm thấy trong các
hồ sơ những điều mình muốn khám phá ra tại đấy. Thường
thường những điều chúng ta tìm thấy nói nhiều về cá tính
của chúng ta hơn là nói về chân lý mà chúng ta tìm kiếm.
Chuyện
về Jesus không chấm dứt với cái chết của Ngài. Nó trải
dài qua nhiều thế kỷ của Cơ Đốc Giáo. Jesus cam kết theo
ý Thượng Đế, như Ngài hiểu điều đó, và đối với những
đòi hỏi cấp thiết thuộc Vương Quốc của Thượng Đế.
Sự cam kết này và hàng loạt sự việc trong đời Ngài đã
làm Jesus trở thành nhân tố chỉ đạo trong đời sống người
Cơ Đốc Giáo. Trên mười chín thế kỷ đã qua, từ khi Ngài
nói với các đệ tử và tín đồ. Bóc đi từng lớp năm tháng
để khám phá ra, cách tốt nhất mà chúng ta có thể xem Ngài
dạy và sống ra sao.
JOHN,
NGƯỜI RỬA TỘI
Vào
một ngày bình thường ở Palestine vào khoảng năm 26 sau Công
Nguyên, một người gọi là John, Người Rửa Tội, đang giảng
dạy gần bờ sông Jordan. Danh tiếng là bậc thần nồng nhiệt
và nghiêm khắc đã vang dội đến tận miền quê. Và vào ngày
đó có nhiều người đã đi bộ từ xa về để nghe Ông. Một
khi ở đấy rồi, họ ngồi trên đá cứng trong cái nóng nứt
nẻ.
Họ
bị diễn giả thu hút đến nỗi không còn thấy sự không
thoải mái của mảnh đất khô cằn của Judea. John nói với
họ một cách khẩn khoản và nghiêm nghị. Ông giảng về kiểu
sống mới mà họ phải sống -- một cuộc sống nổi bật
về sự hối cải những lầm lỗi trong quá khứ. Họ phải
sám hối ngay bây giờ vì Vương Quốc của Thượng Đế sắp
xuất hiện, mang hòa bình và thỏa mãn cho những người ngay
thẳng nhưng mang đau khổ khủng khiếp cho những người có
tội. Những tiện nghi của đời sống, những lễ vật trong
đền đài, nghi thức và nghi lễ về lễ bái, không thành vấn
đề. Vấn đề là một sự thay đổi cơ bản về cuộc sống,
với toàn bộ sự tồn tại của mình được tẩy uế và chỉnh
đốn bằng sám hối.
Trong
số những người chú ý nghe những lời khẳng định của
John buổi chiều hôm ấy có một thanh niên tên là Jesus. Jesus
đi bộ suốt từ Nazareth đến để nghe vị thầy mới này
thuyết giảng, vị này sống ẩn dật ở vùng hoang mạc nhưng
đã lôi cuốn đông quần chúng đến đó do sức mạnh ở thông
điệp của ông. Jesus đã bị khích động lạ lùng bởi những
lời Ngài nghe, bởi tính dũng cảm, thành thực, và sức mạnh
của những lời này. Ngài quan sát những người khác nhận
lời mời của John đi xuống sông Jordan để được rửa tội
như một dấu hiệu của sự sám hối và lời hứa sống cuộc
đời mới. Sau khi nghe, Jesus cũng đi xuống để được John
rửa tội.
MỘT
QUYẾT ĐỊNH MỚI
Jesus
xúc động sâu xa bởi điều đã kinh qua. Ngài dường như cảm
thấy Thượng Đế ghi nhận hành động của Ngài và vui lòng
với việc này. Không bao lâu sau, chính Jesus đi vào nơi hoang
mạc để suy tư về đời sống của mình sẽ như thế nào
sau này. Trong lúc suy tư một mình, Jesus tin rằng Thượng Đế
muốn Ngài sống một cuộc đời đặc biệt, dạy người khác
và giúp đỡ họ.
Jesus
cảm thấy mình không muốn giống như kiểu thần John, sống
xa rời quần chúng, một mình nơi hoang mạc. Thay vì, Jesus sẽ
mang thông điệp của mình cho người dân ở các thành phố
và thị xã, cũng như những người ở miền quê. Lòng Ngài
tràn ngập niềm khao khát muốn dạy cho những người phải
hàng ngày đối đầu với những khó khăn của đời sống
và tôn giáo -- không phải chỉ cho những người có thể bỏ
nhà cửa và tiện nghi hàng ngày như những tín đồ của John.
Ngài trở về nhà và nói với gia đình cùng bạn bè điều
Ngài quyết định làm.
Không
dễ dàng gì thi hành quyết định của Ngài. Hầu hết người
trong gia đình và bè bạn không thể hiểu và đánh giá đúng
ý định của Ngài. Đối với một số trong đám người này,
Jesus bao giờ cũng có vẻ như nghiêm khắc nhưng họ không bao
giờ trông chờ Ngài ra đi hẳn khỏi kiểu sống bình thường.
Mẹ Ngài, anh em ngài, chị em Ngài đều lệ thuộc vào Ngài
để sống từ khi Cha Ngài, Joseph chết. Làm sao họ có thể
sống không có Ngài.
Ngài
phải đối đầu với những phản đối và có lẽ sự chế
diễu của người dân trong làng Ngài. Một số người tán
thành sự ra đi của Ngài gia nhập vào một trong những phong
trào bí mật chống lại người La Mã. Nhưng làm sao Ngài có
thể giúp dân của Ngài chiến thắng được quân xâm lăng
chỉ bằng cách trở thành một nhà thuyết giáo lang thang? Cũng
có thể Jesus phải đương đầu với những nghi ngờ kéo dài
liệu về việc Ngài có thể sống theo đường lối Ngài dự
tính không. Không nhà, không thu nhập, không bè bạn để Ngài
có thể phụ thuộc. Tất cả sự ăn mặc của Ngài đều do
những người đến nghe Ngài nói cung cấp. Điều Ngài giảng
dạy cho họ có xứng đáng với những gì họ cho không?
Bất
chấp mọi lập luận, Ngài vẫn tiến lên. Ngài đã trông chờ
những khó khăn như vậy. Sức mạnh nào Ngài cần thiết để
thi hành kế hoạch của Ngài đã đến từ sự cảm hứng dẫn
đến chúng. Đơn độc và không có sự tán đồng của thân
nhân và bè bạn, Ngài đi về Capernaum, bắt đầu nơi đây
mục vụ dẫn đến cái chết cho Ngài và sự ra đời đạo
Cơ Đốc.
THƯỢNG
ĐẾ VÀ VƯƠNG QUỐC CỦA NGÀI
Quyết
định của Jesus, giống như hầu hết những quyết định như
vậy, có những căn nguyên sâu xa. Còn là một đứa trẻ nhỏ,
Jesus đã học lịch sử và kinh thánh Do Thái nơi cha Ngài và
những nhà lãnh đạo giáo đường. Ngài thấy rõ niềm hy vọng
của người Do Thái luôn luôn hướng về một tương lai sáng
sủa và tốt đẹp hơn, khi Thượng Đế giúp đỡ người Do
Thái lấy lại được tự do và thanh thế giữa các quốc gia.
Niềm hy vọng này cháy rực trong lòng họ trong khi họ phải
sống dưới ách xâm lược của người La Mã.
Trong
một thời gian Jesus đã suy nghĩ rất cẩn thận về niềm hy
vọng của quốc gia này, và Ngài biết rằng Ngài không thể
hoàn toàn đồng ý với những người có niềm hy vọng ấy.
Nhiều người Do Thái đã có cảm tưởng vô vọng cho rằng
với tư cách cá nhân những gì họ đã làm là không quan trọng.
Họ tin tưởng rằng một lúc nào đó Thượng Đế sẽ làm
phép lạ, đem đến một thời đại mới, khi Palestine trở
nên hùng mạnh, độc lập và được tôn trọng giữa những
quốc gia. Sẽ không có quân đội chiếm đóng hay những người
cai trị ngoại quốc. Dân Do Thái sẽ sống trong thịnh vượng
như họ đã từng sống dưới triều Vua David xa xưa. Để mở
đầu thời đại mới này, người được Thượng Đế xức
dầu thánh, Đấng Cứu Tinh, Messiah, sẽ chiến thắng quân thù.
Rồi Đấng Cứu Tinh sẽ trị vì Vương quốc của Thượng
Đế mà bao thế hệ người Do Thái đã hy vọng.
Việc
này không phải là cách mà Thượng Đế sẽ làm cho sự việc
thay đổi, Jesus quyết định như vậy. Thượng Đế không ban
phước lành cho một số hay từ chối không ban phước lành
cho những người khác. Phước lành của Thượng Đế đến
trong tĩnh lặng, khiến người ta thấy cuộc đời là cái tốt
đẹp nhất để sống. Vương Quốc của Thượng Đế không
phải là điều kiện để mà chờ đợi trong một tương lai
được dấu kín. Không, Vương Quốc của Thượng Đế là triển
vọng hiện thời về điều thiện bị che khuất, giống như
một hạt giống ở trong mỗi con người. Bạn chỉ việc để
cho nó phát triển tự nhiên, giúp cho nó phát triển bằng thái
độ yêu thương và những hành vi lương hảo. Và chú ý, nó
phát triển từ từ cho đến khi chính bạn là một phần của
Vương Quốc Thượng Đế.
Khái
niệm của Jesus về Vương Quốc phát sinh một cách rất tự
nhiên từ niềm tin của Ngài về Thượng Đế. Jesus trải qua
kiểu huấn luyện tôn giáo mà tất cả những người Do Thái
trung thành đều cố gắng truyền cho con cái. Ngài đã nghe
nhiều chuyện về các nhà tiên tri. Ngài biết nhiều bản thánh
thi mô tả tình thương yêu và nhân từ của Thượng Đế.
Quan trọng hơn cả là Jesus đã bỏ thì giờ để phát triển
sự quan hệ thân thiết cá nhân với Thượng Đế. Cầu nguyện
và trầm tư mặc tưởng đã dẫn Ngài đến chỗ cảm thấy
như ở nhà với Thượng Đế. Sau này Jesus đã kể lại nhiều
chuyện ngụ ngôn miêu tả Thượng Đế như một người cha,
tha thứ, quan tâm và thương yêu. Trong suốt cuộc đời của
Ngài, Ngài đã quay về với Thượng Đế như người hướng
dẫn, nguồn sức mạnh và cảm hứng, lúc nào cũng có chiều
hướng suy ngẫm và cầu nguyện.
Jesus
thường nhắc đến ý muốn của Thượng Đế khi Ngài dạy
và an ủi những người nghe. Chắc chắn, Thượng Đế mong
đợi một điều gì đó nơi con người. Ngài mong con người
cư xử với nhau bằng mối quan tâm thương yêu, tha thứ và
nhẫn nại, giống như Ngài đối xử với họ. Đó là sự
ngay thẳng mà Vương Quốc của Thượng Đế đòi hỏi, không
phải sự ngay thẳng bị trói buộc bằng luật lệ và thói
quen. Sự ngay thẳng này đi sâu hơn nhiều -- sâu như những
tư tưởng và ý định và khao khát. Từ nguồn gốc này, nó
trôi chảy thành nói lời ngay thẳng, hành động chính trực
và nỗ lực chân chính.
JESUS
VÀ GIÁO HUẤN CỦA NGÀI
Ở
Caperenaum và hầu hết các thành phố Ngài tới sau này, Jesus
được người bình dân tiếp đón ân cần. Ngài đến với
họ với một thông điệp hy vọng đặc biệt. Nhiều người
không đủ tiền mua những thứ hiến tế đặc biệt để cúng
lễ hàng năm cho ngôi đền tại Jerusalem. Các thầy tu nói với
họ rằng những thứ hiến tế phải được hiến dâng nếu
họ muốn được ân sủng của Thượng Đế. Họ phải làm
gì? Jesus nói lễ vật của một tấm lòng biết hối lỗi và
một đời sống trong sạch còn quan trọng hơn nhiều những
lễ vật bằng hoa quả đầu mùa và những con dê non mới một
năm.
Một
số người vui vẻ nghe Jesus là những người cảm thấy cực
kỳ tội lỗi vì những luật lệ mà họ không giữ. Có vô
số luật lệ Do Thái nói họ phải ăn gì và phải được
phụng sự ra sao và qui định tuân thủ nhiều tập tục tôn
giáo nhỏ mọn như thế nào. Người nghèo dành cả thì giờ
vào việc nhặt nhạnh kiếm sống một cuộc sống nghèo nàn
không có cơ hội và thường không có thông tin về những luật
lệ như vậy. Nhiều giáo sĩ Do Thái buộc tội họ là những
người tội lỗi. Jesus nói với người dân, họ không nên
quá quan ngại về việc thi hành luật lệ đến mức quên tinh
thần của luật lệ. Luật lệ và những giáo đồ thuộc tôn
giáo bình dân của Ngài nhấn mạnh vào hai điều: Thương yêu
Thượng Đế và thương yêu láng giềng.
Một
số người trở thành bệnh vì họ tràn đầy cảm nghĩ tội
lỗi hay quá buồn phiền bởi sự thất bại thường xuyên
trong khi làm tất cả những điều tôn giáo đòi hỏi. Đối
với những người như vậy, thông điệp của Jesus tựa như
thuốc. Họ bệnh trong tâm, và điều đó đã làm họ bệnh.
Những lời nói và sự hiểu biết của Ngài làm họ cảm thấy
khá hơn và sức khỏe của họ được hồi phục. Qua những
tình huống như thế, Ngài có danh tiếng như một người chữa
lành bệnh. Ngài đã lôi cuốn nhiều người vì lý do đó.
Đôi khi Ngài cũng nản chí vì có nhiều người muốn chữa
khỏi bệnh, nhưng quá ít người muốn theo Ngài sống theo ý
Thượng Đế.
Không
phải tất cả mọi người đều thích điều mà họ nghe được.
Nhiều người Do Thái cảm thấy người ta không thể sống
một cuộc đời tốt đẹp trừ phi thi hành đầy đủ luật
Do Thái đến từng chi tiết đòi hỏi nỗ lực cao nhất. Họ
không thích nghe thấy ai nói những luật ấy không quan trọng.
Một số những nhà lãnh đạo tôn giáo trở nên rất giận
dữ vì thanh danh của Jesus như người chữa lành bệnh gia tăng.
Họ nghĩ rằng những người tội lỗi đó đáng bị đau khổ.
Jesus phải làm gì thích hợp khiến họ cảm thấy được tha
thứ? Chỉ một mình Thượng Đế biết liệu họ có được
tha thứ hay không.
Một
số người Do Thái khác lo lắng vì Jesus dường như quá ư
thanh thản và quá ư thương yêu. Ngài thậm chí không hận
thù kẻ địch của họ, những binh lính La Mã xâm lược. Họ
biết lịch sử giống nòi của họ, với tất cả những chiến
bại và những cuộc xâm lăng nhục nhã. Sự chiếm đóng của
La Mã là một chiếm đóng duy nhất trong chuỗi dài chiếm đóng
của những kẻ xâm lược. Một số tín đồ của Jesus hy vọng
Ngài có thể chứng tỏ mình là Đấng Cứu Tinh hùng mạnh,
sẽ đến để giúp họ giành được địa vị hùng cường
và thịnh vượng một lần nữa. Khi Ngài tiếp tục dạy họ
về tình thương yêu và kiên nhẫn, một số tỏ ra chán ghét.
Một số tiếp tục theo, vẫn hy vọng Ngài sẽ là Đấng Cứu
Tinh vào lúc cuối cùng.
Một
số đông tín đồ không hiểu điều mà Jesus đang nói khi Ngài
miêu tả khái niệm của Ngài về Vương Quốc Thượng Đế.
Ngài nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại người dân không nên
chờ đợi cho đến lúc có hoàn cảnh lý tưởng để sống
một cách đứng đắn. Một con người là cái người ấy ở
trong chính mình.
Phẩm
tính này của đời sống nội tâm không bị quyết đinh bởi
quân đội chiếm đóng, hay theo đúng luật, hay dâng lễ vật
tại đền. Tư tưởng mà bạn có trước khi bạn nói quan trọng
hơn điều bạn nói. Thái độ bạn có bên dưới hành động
quan trọng hơn cái bạn làm.
Jesus
kể những chuyện đẹp đẽ cốt làm cho Vương Quốc này hình
như thật đối với người nghe. Vương Quốc của Thượng
Đế giống như hạt cải giống, nhỏ nhất trong tất cả hạt
giống. Nhưng khi nó lớn lên, cây cải rất lớn. Cũng như
vậy, bên trong Vương Quốc mới đầu rất nhỏ đến nỗi
ta có thể không ý thức được. Nhưng khi nó đã phát triển
đầy đủ, nó trùm khắp mọi thứ khác trong cuộc đời con
người. Vương Quốc của Thượng Đế giống như một kho báu
ẩn dấu trong cánh đồng. Khi người ta khám phá ra kho báu
ấy, họ vội vã bán tất cả mọi thứ để mua cánh đồng
ấy. Cũng giống như vậy, khi người ta khám phá ra giá trị
không thể lượng định được của Vương Quốc, người ta
sẽ bỏ tất cả mọi thứ vì Vương Quốc.
Đối
với Jesus, Vương Quốc của Thượng Đế là mục tiêu tối
hậu của tất cả nỗ lực con người. Ngoài ra không có gì
thực sự đáng để tìm kiếm. Con người được chỉ định
để sống trong Vương Quốc như vậy. Nó không lệ thuộc vào
thời gian hay nơi chốn. Vương Quốc của Thượng Đế chỉ
cần hỏi những người thẳng thắn làm công dân của nó với
lòng nhân từ, khả ái, và tình thương yêu là luật của nó.
Bất kỳ ở đâu, có những người ngay thẳng dùng nhân từ,
khả ái, và tình thương yêu làm lối sống của họ, nơi đó
có Vương Quốc của Thượng Đế.
Khi
Jesus nói về Vương Quốc của Thượng Đế, Ngài tràn đầy
ý thức khẩn trương. Người dân không nên khoanh tay chờ đợi
Thượng Đế mang mình vào Vương Quốc. Thời gian là ngay bây
giờ. Người dân phải khám phá ra khả năng của mình về
điều thiện và bắt đầu sống một cách chính đáng. Jesus
nói với người dân, điều này đòi hỏi sự sám hối. Họ
phải từ bỏ cách sống cũ lại và bắt đầu chọn cách sống
ngay thẳng theo ý Thượng Đế. Rồi Vương Quốc của Thượng
Đế sẽ tới. Thượng Đế đã sẵn sàng. Con người cũng
phải sẵn sàng.
Vì
Ngài cảm thấy mạnh đến nỗi mỗi con người phải hội
đủ những điều kiện của Vương Quốc, Jesus mang thông điệp
của Ngài đến nhiều người bị gọi là tội lỗi. Những
người công kích Ngài thấy rất dễ dàng vạch ra duyên cớ
khi Ngài nói với những người thu thuế đáng ghét hay thăm
viếng những người mà tiếng tăm khả nghi. Làm sao người
ta có thể là một đạo sư tôn giáo tốt nếu có quan hệ
xấu như vậy? Jesus trả lời, "Ta không đến để kêu gọi
người ngay thẳng, mà là kêu gọi người tội lỗi sám hối".
Cứ
thế, Jesus nhắc đi nhắc lại Thượng Đế không quở trách
người tội lỗi quá nhiều như một số người đã làm. Thượng
Đế sẵn sàng tha thứ lúc người ta thành thực xin tha thứ.
Thượng Đế giống như một người cha thấy con bỏ nhà đi
uổng phí tiền bạc và thì giờ vào sự tìm kiếm dại dột
vì dục lạc. Lúc đứa con trở về, buồn bã hơn và khôn
ngoan hơn, quyết định sống chính đáng, người cha mừng đón
nó, tha thứ không quở trách vì được niềm vui con mình trở
về. Cũng vậy, Cha trên Thiên Đường hân hoan chào đón những
ai quá ân hận về quá khứ dại dột và nay thành thật sẵn
sàng cố gắng sống theo ý Chúa.
Vào
cuối một năm giảng dạy, Jesus đã thu thập được một số
tín đồ. Mười hai người trong số đó sau này được biết
là tông đồ của Ngài, quá ấn tượng với thông điệp của
sư phụ, đến nỗi bỏ cả nhà cửa, gia đình và công ăn
việc làm. Giống như Jesus, họ cảm thấy những đòi hỏi
của Vương Quốc xóa đi tất cả những cân nhắc nhỏ bé
tầm thường. Ngoài ra mọi thứ chỉ là thứ yếu trước cuộc
tìm kiếm đời sống tinh thần.
Jesus
càng ngày càng ý thức được hoạt động của Ngài gặp nhiều
sự không tán thành từ nhiều người. Giới chức Tôn Giáo
Do Thái, những người không bao giờ nhiệt tình với sứ mạng
của Ngài, trở nên thù nghịch hơn. Những người La Mã, chỉ
mong muốn hòa bình và trật tự, nghi ngờ bất cứ phong trào
cấp tiến nào có những kế hoạch cách mạng. Họ bắt đầu
sợ lời thuyết giảng của Jesus về Vương Quốc sắp tới,
dầu là đối với Jesus, việc này hoàn toàn chỉ là tinh thần.
Đã
từ lâu, đã có những khuyến cáo là cách sống mà Jesus chọn
sẽ dẫn Ngài đến cái chết. Đã đến lúc phải thay đổi
lời dạy của Ngài để Ngài không phải gánh chịu cơn tức
giận của giáo sĩ quyền thế. Đã đến lúc phải bảo đảm
với người La Mã bằng cách ít nhấn mạnh đến Vương Quốc
của Thượng Đế. Jesus không thể chấp nhận những thỏa
hiệp như vậy dưới ánh sáng quan tâm chính của Ngài về
ý Thượng Đế. Ngài phải ra khỏi Jerusalem, vì nơi đây là
trung tâm của Đạo Do Thái. Ngài cảm thấy Ngài có lời phán
truyền để đưa ra và phải tham dự vào lễ Passover (Quá Hải).
Ngài bao giờ cũng tham dự các lễ hội tôn giáo có người
của Ngài. Cho nên, vào cao lúc náo nhiệt nhất ngày lễ, Jesus
cùng với các tông đồ của Ngài đi vào Jerusalem.
MỤC
VỤ CỦA NGÀI CHẤM DỨT
Trong
lần thăm viếng này, Jesus đã bị chết trên cây thánh giá
trong tay những người La Mã. Chắc chắn có một số thầy
tu hay một số người ái quốc Do Thái ghen ghét đã giúp đỡ
thuyết phục người La Mã cho rằng người này (Jesus) là người
khích động quần chúng chống lại sự thịnh vượng của
đất nước này. Một số nhà ái quốc đã thất vọng là
Jesus vẫn từ chối không lãnh đạo cuộc nổi dạy chống
lại La Mã. Các thầy tu cảm thấy địa vị của mình đảm
bảo hơn sau khi Ngài ra đi. Không có quần chúng đông đảo
khóc than nhân danh Jesus. Một số đông tín đồ của Ngài đã
bỏ Ngài trước đó, thất vọng vì chờ đợi vô ích ở Ngài
tuyên bố chính mình là Đấng Cứu Thế. Đối với một số
tông đồ, dường như toàn bộ cuộc phiêu lưu tôn giáo đã
bắt đầu đòi hỏi quá nhiều. Họ bỏ Jesus vì an toàn của
chính họ.
Jesus
hẳn đã có nhiều lúc nản chí vào những ngày cuối cùng.
Ngài đã thấy nhiều người ao ước Ngài làm những điều
mà niềm tin của Ngài không cho phép Ngài làm. Ngài đã thấy
các tông đồ hành động về nhiều mặt cho thấy họ vẫn
không am hiểu tường tận điều mà Ngài cố gắng từ lâu
giảng dạy cho họ về ý của Thượng Đế. Có lúc Ngài biết
Ngài có thể bị sát hại. Phải chăng cái chết của Ngài
đã đến trước khi Ngài hoàn tất tất cả những gì Ngài
định làm? Phải chăng Ngài đã để dân chúng vẫn còn chưa
được sửa soạn có những con đường qua đó Thượng Đế
sẽ thực hiện để mang vào Vương Quốc? Hẳn là khó khăn
biết bao để nhìn thấy nỗ lực của Ngài chấm dứt trước
khi Ngài đạt được mục tiêu.
CƠ
ĐỐC GIÁO BẮT ĐẦU
Nhưng
cứu cánh đã tới. Những tông đồ hoang mang đi trốn. Sau
này, khi cảm thấy an toàn, họ gặp nhau và nói với một giọng
kín đáo về chuyện bi thảm đã xẩy ra. Nỗi buồn của họ
đã dẫn họ đến tình đoàn kết sâu xa hơn, và họ cùng
nhau tưởng nhớ đến những điều đã kinh qua mà họ chia
sẻ với Jesus. Ngay từ sự đoàn kết này, Cơ Đốc Giáo bắt
đầu.
Về
nhiều mặt, Cơ Đốc Giáo khác biệt hẳn tôn giáo giản dị
của Jesus. Nhưng về ý tưởng chính về niềm tin, nó quay lại
với người thanh niên nhũn nhặn tận tụy từ Galilee đã từng
nói con người phải cam kết hết thẩy cho Thượng Đế và
rồi cho xóm giềng. Cái chết của Jesus là hậu quả niềm
tin của Ngài, là một bước tiếp theo hợp lý trong cuộc đời
hiến dâng của Ngài cho nhiệm vụ mang Vương Quốc của Thượng
Đế xuống trái đất.
16.
NỀN MÓNG CỦA NIỀM TIN
Rất
dễ hiểu sự hoang mang và sợ sệt của đám tin đồ ban đầu
của Jesus mục kích việc bắt bớ và đóng đinh trên cây thánh
giá của Jesus. Ngài đã bị giết như một tội phạm, và họ,
vì đã chia sẻ công việc làm với Ngài lo ngại chắc chắn
phải chia sẻ hình phạt của Ngài. Hết sức vội vàng họ
ẩn náu, và trong một thời gian, phong trào này dường như
không còn.
Khi
cơn nguy hiểm đã qua, những tông đồ của Jesus bắt đầu
gặp lại nhau, họ nhớ lại những lúc vui buồn trong những
ngày sống với Sư phụ. Đồng thời họ tìm sự an ủi cho
nỗi buồn của họ bằng cách kể lể và kể lại những chuyện
về Jesus. Họ không ngưng sống như thế với ký ức dường
như Jesus vẫn sống với họ. Một số bắt đầu tin rằng
Ngài không chết. Đúng, Ngài đã chết trên cây thánh giá và
đã được đem chôn. Nhưng bây giờ Ngài sống lại. Ngài chỉ
bỏ họ một thời gian ngắn, để sửa soạn mở ra một thời
đại mới, Vương Quốc của Thượng Đế.
NHỮNG
NGƯỜI CƠ ĐỐC GIÁO ĐẦU TIÊN
Những
sự tin chắc này dễ dàng đến với những người Cơ Đốc
Giáo ở thế kỷ đầu tiên. Vào thời ấy có những người
mà sự ngu dốt làm cho họ có niềm tin dị đoan. Đôi khi họ
tin vào những giấc mộng và ảo tưởng của họ. Họ tin vào
quỷ sứ và thiên thần. Họ tin rằng đôi khi xác chết có
thể đi ra khỏi mồ. Bây giờ họ tin Jesus sẽ trở lại.
Để
nuôi hy vọng, họ nhớ lại những lời tuyên bố mà họ nghĩ
rằng do Jesus nói. Phải chăng Ngài đã không nói Vương Quốc
sắp đến tức thì? Phải chăng Ngài đã không kêu gọi họ
bằng đời sống bình thường của họ làm việc với Ngài
để Vương Quốc đến? Phải chăng Ngài đã không hứa rằng,
họ có thể chia sẻ trong Vương Quốc? Chắc chắn đúng là
như vậy. Ngài sẽ trở lại, và Vương Quốc của Thượng
Đế sẽ cùng với Ngài trở lại. Kết cuộc, Ngài chính là
Chúa Cứu Thế.
Nhiệt
tình với sự cấp thiết về bức thông điệp của họ, những
tông đồ gấp rút nói với những người khác. Jesus sẽ sớm
trở về để mang vào Vương Quốc của Thượng Đế. Việc
này xẩy ra trong thế hệ của họ! Nhiều người Do Thái nghe
và chú ý đến lời răn này để tự sửa soạn. Sau này, năm
này qua năm khác, không có gì xẩy ra, sự cấp bách của thông
điệp bắt đầu tiêu tan.
CƠ
ĐỐC GIÁO BỎ DO THÁI GIÁO
Giáo
huấn của Jesus chưa bao giờ trở thành một phần của Do Thái
Giáo nguyên thủy. Jesus đã hướng thông điệp của Ngài vào
những ai không thấy được an ủi trong Do Thái Giáo khắt khe.
Nhiều tín đồ bị lôi kéo ra khỏi đời sống Do Thái cả
về tôn giáo lẫn chính trị. Được củng cố bởi ảnh hưởng
của Jesus, những người này thay đổi thái độ nhanh hơn,
theo quan điểm chính thống Jesus hơn. Dù vậy, cũng phải một
thời gian rất lâu trước khi những người cơ đốc giáo Do
Thái chấp nhận những người không đạo (không phải là Do
Thái) vào đoàn thể của họ.
Vị
tông đồ Peter ở trong đám các người khăng khăng giữ phong
trào độc quyền Do Thái. Nhưng sau này, khi Paul trở thành Cơ
Đốc Giáo, ông đã thuyết phục Peter và những người khác
chấp những người không đạo vào nhóm. Sau đó, những người
không phải là Do Thái đã nhanh chóng đông hơn những người
Do Thái trong phong trào Cơ Đốc Giáo.
JESUS
LÀ CHÚA CỨU THẾ CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
Về
tất cả những người liên quan đến nguồn gốc của Cơ Đốc
Giáo, Paul là người chịu trách nhiệm nhiều nhất về chiều
hướng niềm tin của nó. Paul đã thêm vào những ghi nhận
mới quyết định tiến trình tương lai. Khái niệm mới đến
từ những tôn giáo "sùng bái huyền bí" có tính chất đại
chúng lan tràn trên mảnh đất Địa Trung Hải. "Sự huyền
bí" này có hiệu quả cho sự hợp nhất thần bí và tượng
trung với một thượng đế sống dưới hình thức con người,
chết đi nhưng rồi sống lại. Qua một nghi lễ bí mật, hợp
nhất một cách tượng trưng Ngài với thượng đế của Ngài,
các tín đồ được bảo đảm là Ngài có thể thay đổi bản
tính người thành tính thần thánh và bởi vậy có được
kiếp sau hạnh phúc. Có một số sự sùng bái huyền bí với
những thượng đế khác nhau. Nhưng tất cả đều nhấn mạnh
đến sự cứu rỗi do sự tận tụy với Chúa Phục sinh.
Thật
thú vị là từ Kyrios (Chúa) mà người Hy Lạp áp dụng với
thượng đế phục sinh, đã được Paul sử dụng để áp dụng
cho Jesus. Tất nhiên những ai nghe thấy Jesus được gọi là
Kyrios sẽ giải thích Ngài theo ý nghĩa sùng bái-huyền bí.
Đối với nhiều người đổi đạo sang Cơ Đốc Giáo, Jesus
là thượng đế cứu rỗi đầu tiên trong xác thân con người.
Một
trong những cuộc thảo luận vĩ đại nhất trong lịch sử
Cơ Đốc Giáo là liệu có phải Jesus là thần thánh, giống
như Thượng Đế, hay Thượng Đế. Sau nhiều hùng biện dư
dội, cuối cùng người ta quyết định Jesus là Thượng Đế
thực sự của chính Thượng Đế ". Cuộc thảo luận này chỉ
là một trong những cuộc tranh cãi thần học, hầu hết những
cuộc tranh cãi này lẽ ra đã không phát triển nếu một mình
Jesus giúp tổ chức một tôn giáo mới phát triển. Có thể
nói chắc là Jesus có lẽ đã không lưu ý đến một chút nào
cả. Đời sống, đối với Ngài không phải là điều để
tranh luận và bàn cãi. Tôn giáo cũng vậy. Con người phải
sống có tôn giáo, không phải tranh cãi.
Người
Cơ Đốc Giáo nói Jesus là vị cứu rỗi trực tiếp. Thông
thường họ gọi Ngài là Chúa có nghĩa là Người cứu nguy
hay Chúa Cứu thế. Họ nói Jesus Christ là Chúa con của Thượng
Đế. Hầu hết những người Cơ Đốc Giáo tin rằng Ngài chia
sẻ tính thần thánh của Thượng Đế, chính Ngài là Thượng
Đế. Ngài sống và chết như một con người và vì con người.
Nhưng Ngài hồi sinh từ nấm mồ và thăng thiên và "ngồi ngay
bên tay phải Thượng Đế", như một tín điều nổi tiếng
tuyên bố.
Những
sự xác định này phát triển từ khái niệm sùng bái huyền
bí cổ đến nỗi những người Cơ Đốc Giáo hiện đại không
biết nguồn gốc hay lý do về sự tồn tại của chúng. Những
khái niệm này còn sống mãi vượt qua cả nguồn gốc của
nó, vì chúng được bao gồm trong các tín điều của các nhà
thờ Cơ Đốc Giáo chính thống. Có một câu chuyện Cơ Đốc
Giáo cổ nói về những khái niệm cổ. Câu chuyện này được
nhiều người gọi là "câu chuyện cứu rỗi". Nó mô tả con
người chìm ngập trong tội lỗi từ thời mới có người
đầu tiên. Con người đầy tính độc ác đến mức không
biết gì về điều thiện. Chỉ có Thượng Đế mới có thể
làm gì để chuộc lỗi cho họ từ tình trạng ấy. Cho nên
Thượng Đế chọn dân Hê Brơ - Do Thái để dạy con người
hướng thượng trên tội lỗi đang diễn ra này.
Người
Do Thái không đóng vai trò thích đáng của mình trong kế hoạch
này. Cho nên Thượng Đế phái Jesus Christ, đứa con duy nhất
của Thượng Đế, mang con người trở về hòa hợp với chính
mình. Qua đời sống, cái chết, phục sinh, và thăng thiên vào
Thiên Đàng, Jesus đã làm moị điều cần thiết. Qua sự hy
sinh thiêng liêng này, con người giành được sự hủy bỏ
hay tha thứ những tội lỗi to lớn chống lại Thượng Đế.
Thực
tế là tất cả những người Cơ Đốc Giáo chấp nhận những
mục chính trong câu chuyện đầu bi thảm là thực, mặc dầu
một số không nhìn vào các lời kể cái gì thực sự xẩy
ra. Một số cảm thấy đó là cách mô tả cái gì đó là thực.
Họ nói câu chuyện có nghĩa là khởi đầu người ta có ý
định hoàn toàn và có quan hệ chính đáng với Thượng Đế.
Tuy
nhiên, hết người này đến người kia, từ thế hệ này đến
thế hệ khác, đã có những sự chọn lựa không thích hợp.
Họ mất mối quan hệ chính đáng, và bởi vậy họ mất khả
năng sống toàn hảo. Mỗi người phải trải qua khó khăn nhưng
là tiến trình bổ ích để tìm thấy điều đó. Đồng thời
một người cố gắng chân thật, Thượng Đế lưu ý đến
hạnh phúc của người ấy. Thượng Đế có thể làm cho người
ta tìm lại chính mình.
Cho
đến nay đa số các người Cơ Đốc Giáo đã nói Jesus là
một phần thiết yếu con đường cứu rỗi có thể làm được
của Thượng Đế.
Điều
này đã dẫn dắt người Cơ Đốc Giáo cầu nguyện với Chúa
Jesus và tôn thờ Ngài, giống như họ tôn thờ Thượng Đế.
Nhiều người Cơ Đốc Giáo đã tìm thấy ở Chúa Jesus tất
cả những gì về thượng đế mà họ biết.
Tất
cả những người Cơ Đốc Giáo cho rằng niềm tin của họ
bắt nguồn từ điều mà Jesus đã nói hoặc làm, dù rằng
người Cơ Đốc Giáo trong tất cả các giáo phái tin rằng
nhiều điều mà chính Jesus cũng chưa bao giờ nghe nói. Trong
quá trình phát triển Cơ Đốc Giáo, người Cơ Đốc Giáo cũng
đối mặt với cùng những câu hỏi chung về bản chất của
con người và bản chất của Thượng Đế. Hầu hết những
người Cơ Đốc Giáo tìm thấy câu trả lời cho những câu
hỏi này khác hẳn với những câu trả lời của chính Jesus.
Câu trả lời tùy thuộc kinh nghiệm cá nhân. Vậy nên câu
trả lời của Cơ Đốc Giáo thay đổi theo thời gian và không
gian. Nhưng những câu hỏi mà người dân băn khoăn ở thời
Jesus và ở thời đại chúng ta, cũng rất giống nhau, vì con
người cơ bản là giống nhau.
TÔI
LÀ GÌ?
Người
Cơ Đốc Giáo thường nói con người còn nhiều hơn những
gì mà nó có vẻ là như thế. Cái có thể nhìn thấy, xác
thân, thực sư là cái nhà của cái ta không nhìn thấy. Theo
truyền thống, người Cơ Đốc Giáo gọi cái tôi nội tâm
này là "linh hồn". Xác thân con người chỉ là thứ tạm bợ,
và cuối cùng sẽ chết. Những thành phần của nó một lần
nữa lại trộn lẫn với thành phần của đất. Nhưng linh
hồn của con người thì bất diệt, tồn tại sau cái chết
của xác thân, hầu hết người Cơ Đốc Giáo nói như vậy.
Linh
hồn con người có liên quan với Thượng Đế trong ý nghĩa
này. Thượng Đế là tinh thần bất diệt, hiện hữu trước
khi sáng tạo. Linh hồn con người được tạo ra bởi Thượng
Đế, và một khi được tạo ra, chúng cũng bất diệt. Người
Cơ Đốc Giáo tin rằng mỗi linh hồn là một cá thể, được
hợp nhất với xác thân cá nhân từ trước khi sinh ra. Qua
sự hợp nhất của linh hồn và xác thân, một con người được
thành hình.
Người
Cơ Đốc Giáo cố gắng miêu tả linh hồn bằng nhiều cách.
Một số người nghĩ rằng linh hồn có liên quan với trí thông
minh hay với sinh lực, hay với một thứ gì khác. Nhưng người
Cơ Đốc Giáo nói chung chẳng bao giờ có thể đồng ý bằng
một từ khác về linh hồn. Họ nói "linh hồn" có nghĩa là
"cái gì đó bất diệt" không phải là cái gì đó không xác
định. Nó không bị ảnh hưởng bởi cái chết hay lực phá
hoại khác. Nó là cái nằm dưới toàn bộ đời sống có ý
thức của con người. Không thể nhìn thấy nó được. Nó
không ở chỗ nào cả. Nó vô tận và không thay đổi. Sự
hiện hữu của nó không thể chứng minh được. Nó hiện lên
bằng "niềm tin".
THƯỢNG
ĐẾ LÀ GÌ?
Một
đứa trẻ sơ sinh không biết mình là con người. Nó phải
dần dà kinh nghiệm qua thực tế mà biết nó khác mẹ nó,
rồi nó đi đến chỗ biết nó khác với tất cả những người
khác. Nó phải học để có ý thức về chính nó. Rồi nó
càng ngày càng có ý thức với những người mà nó tiếp xúc.
Khi
nó lớn lên, trưởng thành trong mối quan hệ với chính nó
và người khác, nó được chuẩn bị đầy đủ cho những
kinh nghiệm rộng lớn hơn. Những qui luật tự nhiên có, trật
tự và sự không thay đổi của thiên nhiên mà nó quan sát
từ hồi thơ ấu, những hy vọng và nhu cầu mà nó chia sẻ
với đồng loại; chu kỳ phát triển và suy tàn có căn cứ
trong đó nó nhìn thấy mọi sinh vật cũng góp phần -- những
thứ đó dần dà làm cho nó có ý thức về điều gì đó vượt
quá nó và những người như nó. Dường như có một ý nghĩa
và một kế hoạch đối với cuộc sống. Đó là gì? Cái gì
ở đằng sau tất cả thứ đó?
Những
câu hỏi như vậy nằm trong số câu hỏi phổ biến nhất về
những băn khoăn của con người. Chúng đã đưa hầu hết mọi
người suy nghĩ rằng cái gì đó hay người nào đó mà họ
gọi là Thượng Đế ở đằng sau tất cả. Người Cơ Đốc
Giáo đã đưa ra nhiều miêu tả về Thượng Đế, mặc dù
họ thừa nhận rằng Thượng Đế vượt qua sự hiểu biết
và mô tả của con người. Thượng Đế quyền năng, trí tuệ,
nhân từ và thương yêu vô hạn. Thượng Đế là vô hạn,
vô hình, và nhân từ. Ngài là Người Phán Xử, Chúa, Cha.
Những
miêu tả này có ý nghĩa gì đối với một người hoàn toàn
lệ thuộc vào kinh nghiệm riêng của mình. Bất cứ một trong
những từ ngữ này đều không thể có giá trị như nhau đối
với tất cả mọi người. Những miêu tả này giống như những
biển báo hay bảng chỉ đường ở dọc đường. Nhưng chúng
không phải là mục đích như một số nhà thần học tuyên
bố. Rất hữu ích để nhớ rằng khi Jesus muốn truyền cái
gì đó thuộc niềm tin và triết lý của Ngài, Ngài dùng ngụ
ngôn, truyện kể, và những hình thái tu có chất thơ.
Những
trang sử của Cơ Đốc Giáo cho thấy nhiều nhà lãnh đạo
không biết nhiều về người dân bằng Jesus. Ngài biết rằng
không có hiểu biết thật sư nào tách rời khỏi kinh nghiệm
trực tiếp hay gián tiếp. Con người phải biết và xác định
Thượng Đế cho mình. Nhưng lịch sử Cơ Đốc Giáo chứa đựng
những chuyện có niềm tin ép buộc. Đã có những lúc khi niềm
tin này được xác định và tất cả những ai không chấp
nhận điều đó đã bị bắt buộc ra khỏi nhà thờ. Có những
tranh cãi, chiến tranh và khủng bố dưới danh nghĩa của tín
ngưỡng này hay tín ngưỡng kia.
Tuy
vậy thường là ngay cả đến lúc cực điểm của khủng bố
và ép buộc, vẫn có một số người thận trọng biết rằng
niềm tin là chuyện cá nhân. Tín ngưỡng thực là không thể
ép buộc. Khái niệm về Thượng Đế của người ta là chuyện
cá nhân cũng như phản ứng của người ta trước một bản
giao hưởng. Tôi không thể nghe giao hưởng thay cho bạn, cũng
không thể trải nghiệm về Thượng Đế cho bạn. Vậy thì
tại làm sao chúng ta có thể miêu tả chúng trong cùng một
từ ngữ.
THÁNH
THẦN LÀ GÌ?
Chuyện
Cơ Đốc Giáo về cứu rỗi nói Thượng Đế cho thấy tình
thương yêu vĩ đại khi Ngài gửi con trai ngài xuống sớm giữa
loài người để hướng dẫn và cứu rỗi. Nhưng Jesus không
còn ở đấy để hướng dẫn người dân đi vào lối sống
tốt hơn. Thay vào chỗ của Jesus, chuyện cổ nói rằng, Thượng
Đế sai Thánh Thần. Trong nhiều năm qua, những cuộc tranh cãi
sôi nổi đã diễn ra trong giới chính thống về địa vị
và chức năng của Thánh Thần. Hầu hết những người Cơ
Đốc Giáo hiện đại không còn quan tâm đến những cuộc
thảo luận này. Thánh thần được coi như Thượng Đế ở
một dạng khác. Đó chính là quyền năng của Thượng Đế
đang tác động vào và qua đời sống của tín đồ nhằm trợ
giúp cho họ và giữ quan hệ đúng với Thượng Đế và với
xóm giềng.
Cơ
Đốc Giáo có ba thượng đế hay chỉ có một -- tùy theo ý
kiến của người giải thích. Người Cơ Đốc Giáo thường
phẫn nộ khi ai đó nói rằng Cơ Đốc Giáo không phải là
độc thần. Tuy nhiên những người sống trên những mảnh
đất không phải là Cơ Đốc thấy rất khó hiểu làm sao Đức
Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Thánh Thần lại có thể là một
Thượng Đế. Người Cơ Đốc Giáo thường trả lời là Thượng
Đế có thể xuất hiện trong nhiều vai trò, cũng giống như
một người có thể là con, là chồng, và là cha.
CÁI
GÌ LÀ QUAN HỆ VỚI THƯỢNG ĐẾ?
Người
Cơ Đốc Giáo chính thống là người xác nhận học thuyết
bày tỏ trong những tín điều quan trọng của nhà thờ. Thường
thường những tín điều đã trả lời những câu hỏi của
người Cơ Đốc Giáo trước khi có cơ hội đặt câu hỏi.
Tuy vậy hàng triệu Cơ Đốc Giáo chính thống vẫn cho rằng
họ thỏa mãn với những câu trả lời của tín điều.
Theo
giáo huấn chính thống, Thượng Đế tạo ra thế giới và
mọi thứ trong đó vì lòng thương yêu phúc lành của Ngài.
Ngài quyết định là hiện thân của điều thiện trong vũ
trụ, trong mọi sinh vật sống, trong mọi thứ hiện hữu. Đây
là một học thuyết khó hiểu, như mọi cố gắng giải thích
về căn nguyên của sự sáng tạo.
Cơ
Đốc Giáo chính thống nói rằng một khi Thượng Đế tạo
ra người và đem họ xuống sống trái đất, Ngài sẽ không
để họ không biết ý muốn của Ngài. Ngài sẽ trao cho họ
sự phát hiện không ngừng về trách nhiệm của họ. Ngài
làm cho họ có thể sống tốt đẹp và cuộc sống thỏa mãn.
Điều này có được do một đức tính quan trọng của Thượng
Đế -- ân huệ.
Ân
huệ của Thượng Đế làm cho con người có thể hiểu Thượng
Đế và ý muốn vì họ của Ngài trong đời sống thường
nhật. Ân huệ này làm cho họ có thể giũ sạch những lầm
lỗi cũ và lại phấn đấu vì sự tuyệt hảo hay ít nhất
cũng trở nên tốt hơn. Ân huệ của Thượng Đế dẫn đến
khả năng về một "đời sống bất diệt", hay đặc tính bất
diệt của đời sống không bị phá hủy bởi cái chết của
con người.
Hầu
hết các người Cơ Đốc Giáo khăng khăng cho rằng có một
loại thiên đàng nào đó mà người mộ đạo trung thành có
thể mong đợi bằng đức tin. Họ quan niệm thiên đàng này
theo nhiều cách khác nhau, dù nhà thờ đã từ lâu nhắc nhở
các tín đồ đừng ước ao sự báo ơn vật chất mà phải
nỗ lực tinh thần làm điều chính đáng. Nhiều người Cơ
Đốc Giáo chính thống cũng tin vào ma quỷ gọi là Satan (Sa
Tăng), và loại địa ngục nào đó hay nỗi thống khổ đời
đời với những ai không được "cứu vớt".
Nguyên
nhân cơ bản niềm tin về thiên đàng và địa ngục, ma quỷ
và thiên thần, và những thứ giống như vậy chỉ được
hiểu một phần ngay cả ngày nay. Không một cái gì trong những
thứ này có sự tồn tại thực sự. Tuy vậy họ đều nói
điều gì đó về nhu cầu của con người. Họ nói về nỗi
thống khổ do cảm nghĩ tội lỗi và "lạc đường". Họ cũng
nói về những lúc thanh thản tâm hồn dường như "thiên đàng".
Những
người không tìm thấy tự do và niềm vui trong hiện tại,
hay lo lắng quá mức về quá khứ và tương lai. Thường thường
sự thất vọng và vỡ mộng của họ khiến họ hy vọng ở
ngày mai có thể giải quyết những khó khăn phiền nhiễu họ
hôm nay. Lo lắng nhiều về "đời sống sau khi chết" mà nhiều
người cẩn thận cảm thấy, không phải là một dấu hiệu
của sức khỏe nội tâm và niềm tin đích thực về những
triển vọng trong cuộc sống. Đúng hơn là nó cho thấy sự
thiếu niềm tin và lòng tin thực sự vào cuộc sống.
Một
số người Cơ Đốc Giáo lúc nào cũng khăng khăng cho rằng
thiên đường và địa ngục không phải là chỗ để ở trong
một tương lai xa xăm. Chúng là những hoàn cảnh của tâm linh.
Người ta có ý định để con người sống trong an bình với
Thượng Đế. Vì họ đã được dự định như vậy, làm theo
ý của Thượng Đế mang lại cho họ thanh bình. Đó là thiên
đường. Không cần phải chết mới thấy thiên đường. Cũng
vậy, ai vi phạm những điều kiện cần thiết để sống an
bình với Thượng Đế, hiện đang sống trong địa ngục.
THẾ
NÀO LÀ CUỘC SỐNG CÓ ĐẠO ĐỨC?
Muốn
sống thật đạo đức không phải là dễ dàng. Nó đòi hỏi
cố gắng và đôi khi đau đớn. Đi theo những nghi thức sùng
bái Thượng Đế riêng, và hối hận về những lầm lỗi trong
quá khứ, tử tế có ích cho người khác cũng chưa đủ. Các
chi tiết phù hợp cho những người Cơ Đốc Giáo nhớ đến
lời Jesus nói con người trước hết phải biết thương yêu
Thượng Đế và rồi thương yêu đến xóm giềng. Cuộc sống
có đạo đức đòi hỏi một sự tập trung hoàn toàn xoay quanh
Tinh thần thương yêu. Chỉ có bằng cách ấy, những hành động
thiện và sự tận tụy thành thực mới có ý nghĩa và mục
đích. Rồi đời sống mới hoàn toàn.
Hầu
hết những người Cơ Đốc Giáo tin rằng người ta vẫn có
thể mắc những lỗi lầm trong đời sống hàng ngày dù rằng
người ấy đạt trọng tâm đời sống vào thái độ thương
yêu. Họ gọi những lầm lỗi ấy là "tội lỗi". Tội lỗi
thay đổi tùy theo tính cách nghiêm trọng của tội lỗi đối
với con người hay tội lỗi đối với Thượng Đế. Hầu
hết những nhà thờ Cơ Đốc Giáo có tổ chức đã phân loại
các tội lỗi và mức độc ác của chúng. Những người đi
lễ được răn bảo không vi phạm tội lỗi và được chỉ
dẫn cách được tha thứ khi họ phạm tội.
Sống
trong sợ hãi, tội lỗi, và ân hận khác biệt hẳn với sống
sáng tạo mà một số người Cơ Đốc Giáo đạt được. Họ
đã khám phá ra rằng một đời sống tốt đẹp không đến
từ việc ghi nhớ những điều nên làm và những điều không
nên làm. Nó đến từ sự đương đầu với đúng sự việc
bằng niềm tin và sự quan tâm. Rồi tất cả những tiếp xúc
và kinh nghiệm là tôn giáo. Tất cả đời sống là tôn giáo.
Và thực sự chúng ta có thể có cuộc sống tốt nhất.
Tất
cả những cung cách xử sự và luân lý ngày nay dường như
hình thành trên nền móng của sự tự kiềm chế và tôn trọng
người khác. Qua lối sống khôn ngoan và ôn hòa, con người
có thể xây dựng những thói quen tốt. Những thói quen tốt
là sự trợ giúp cho một đời sống tốt đẹp. Nhưng những
người Cơ Đốc Giáo thận trọng ghi nhớ rằng mỗi hành động
mới đòi hỏi một quyết định mới. Một đời sống tốt
đẹp đạt được là do chọn lựa khôn ngoan, cân nhắc những
gì điều chỉ có giá trị tạm thời với điều có giá trị
lâu dài.
Nhiều
thế kỷ qua, người Cơ Đốc Giáo tin rằng họ đã tìm thấy
hạnh phúc lâu dài và sâu xa bằng cách sống tận tụy với
Thượng Đế và với những người khác. Cơ hội lớn nhất
của con người là tìm cầu cứu cánh này. Nhưng người Cơ
Đốc Giáo thừa nhận rằng nhiều người chung quanh chúng ta
sống dường như không khám phá ra đức tính đó. Tuy vậy
cơ hội này vẫn được dành cho mỗi người. Thượng Đế
không chọn cho họ. Những người Cơ Đốc Giáo mộ đạo tự
chọn lấy, họ nói như Jesus dạy: "Cơ hội của ngươi sẽ
được thực hiện".
17.
CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN CỨU RỖI LINH HỒN
Xuất
phát từ Jesus mà Cơ Đốc Giáo bắt đầu và lấy tên này.
Tuy nhiên chắc là Jesus cảm thấy mình là một người xa lạ
trong việc bàn luận về niềm tin Cơ Đốc Giáo. Như Jesus đã
thấy, trước sự buồn phiền của Ngài, người ta thường
háo hức tôn kính với một vị thầy được tin cậy hơn là
theo gương của Ngài về sự tìm kiếm can đảm. Từ thế kỷ
thứ nhất, người Cơ Đốc Giáo đã quên và không lưu ý hầu
hết những gì Jesus dạy. Thay vì bám níu vào Jesus, Họ thấy
ở nơi Ngài nhiều điều mà thật ra Ngài không bao giờ mơ
tưởng cho là của chính mình. Cơ Đốc Giáo không phải là
một tôn giáo của Jesus. Đó là một tôn giáo về Jesus.
Lý
do chính về sự dị biệt mà Cơ Đốc Giáo cho thấy nằm trong
thực tế đơn giản: thế giới không còn giống như thời
của Jesus. Vì thế giới thay đổi, các tôn giáo thay đổi.
Không có tôn giáo nào đứng nguyên một chỗ. Mỗi tôn giáo
đều đi qua một tiến trình phát triển và biến đổi chừng
nào nó còn là một lực sống giữa con người. Nó hấp thụ
khái niệm, hy vọng, sợ hãi, và tập tục. Vì tôn giáo thay
đổi con người nên chính tôn giáo cũng thay đổi.
Cho
nên người Cơ Đốc Giáo đã thay đổi bởi niềm tin của
họ, và dần dần những niềm tin đã bị biến đổi. Thường
thường những niềm tin khác biệt hình thành cơ sở cho một
hội ái hữu mới hay giáo đoàn những người thấy trong đó
một hy vọng mạnh mẽ cho một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Bởi vậy, Cơ Đốc Giáo được đại diện bởi nhiều nhóm
khác nhau, mỗi nhóm coi đường lối của mình là quan trọng,
và có lẽ tốt hơn, con đường đi đến cứu rỗi linh hồn.
GIÁO
HỘI CƠ ĐỐC LA MÃ
Những
người Cơ Đốc La Mã truy nguyên nguồn gốc của họ từ cuộc
đàm thoại giữa Peter và Jesus, như được kể trong Kinh Matthew
16:17-19. Trong đoạn này, Jesus nói với Peter rằng Ngài là nền
móng của Giáo hội. Peter là sứ giả của Thượng Đế phái
xuống trái đất, có quyền quyết định cái phải và cái
trái và tha thứ tội lỗi hay không tha thứ. Người Cơ Đốc
La Mã nói lời tuyên bố này minh chứng Jesus thiết lập Giáo
hội của họ.
Họ
nói rằng Thượng Đế phong Peter làm Giáo hoàng đầu tiên
có đủ quyền hành đối với tất cả người Cơ Đốc Giáo.
Dòng dõi Giáo hoàng được kéo dài đến ngày nay, mỗi vị
Giáo hoàng có quyền hành như quyền hành của Peter. Mỗi vị
Giáo hoàng là người đứng đầu hữu hình của Giáo hội.
Christ là người trị vì vô hình.
Đối
với người Cơ Đốc La Mã, Giáo hội là một phần thiết
yếu trong chương trình cứu rỗi con người của Thượng Đế.
Thượng Đế vì tình thương yêu và ân huệ đã thiết lập
Giáo hội để làm rõ và xác định những phương tiện cho
sự chuộc tội của con người. Đây là lý do duy nhất mà
Giáo hội. Nhớ điều này, những nhà lãnh đạo Cơ Đốc Giáo,
từ Giáo hoàng đến tu sĩ, đã không ngừng tìm cách làm cho
Giáo hội có ảnh hưởng trong cả những chi tiết nhỏ nhất
về sự cứu rỗi linh hồn con người.
Niềm
Tin. Tín đồ Cơ Đốc Giáo không bị đòi hỏi phải hiểu
chương trình cứu rỗi. Họ cũng không bị đòi hỏi phải
hiểu Thượng Đế -- đương nhiên là họ không thể. Cơ Đốc
Giáo yêu cầu tin theo và vâng lời. Niềm tin và vâng lời dựa
vào một học thuyết căn bản: nếu Thượng Đế là một Thượng
Đế có tình thương vô hạn, thì Thượng Đế phải hình thành
nguồn cứu vớt nhân loại rõ ràng. Cơ Đốc Giáo La Mã khẳng
định điều đó đúng là điều mà Thượng Đế đã làm khi
Ngài phái Jesus, con Ngài xuống trần thế. Đến lượt Jesus,
Jesus đã trao cho Peter "chìa khóa của vương quốc"
Ai
cũng cần được cứu vớt vì phải chịu tội lỗi đầu tiên
của họ mà loài người đã phạm phải chống lại Thượng
Đế. Người Cơ Đốc Giáo tin vào câu chuyện cổ kể Thượng
Đế đã ban cách cứu rỗi linh hồn bởi gánh nặng tội lỗi.
Bởi khổ đau mà Thượng Đế gây cho con người, Jesus đã
trả món nợ mà con người không bao giờ hy vọng đáp ứng
được. Jesus đã làm cho tất cả mọi người đều có thể
nhận được sự cứu rỗi linh hồn.
Ảo
Tưởng Ban Phước Lành. Sự cứu rỗi linh hồn mang đến cho
con người hạnh phúc cao nhất mà người ta có thể biết,
Ảo Tưởng Ban Phước Lành. Điều này không đơn giản là
"thiên đường". Trong khi việc xẩy ra tại thiên đường, thực
sự là điều phải kinh qua mặt đối mặt với Thượng Đế.
Chỉ sau khi chết việc này mới xẩy ra. Trong khi ta sống, chỉ
có sự gợi ý về việc đó.
Sống
trong thế giới này, kiến thức của chúng ta bị hạn chế.
Chúng ta chỉ có thể thấy một phần của chân lý. Nhưng chúng
ta được tạo ra để biết Thượng Đế, và biết cái toàn
thể, và chỉ qua kiến thức này, chúng ta có thể tìm được
hạnh phúc sâu xa. Ảo Tưởng Ban Phước Lành đem đến kiến
thức trọn vẹn về chân lý, qua tầm nhìn của Thượng Đế.
Nó vượt ra ngoài sự hiểu biết và giải thích, nhưng người
Cơ Đốc Giáo được Giáo hội bảo đảm, đó là phước lành
vĩ đại nhất.
Kinh
Thánh. Kinh thánh, giống như nghi thức của Cơ Đốc La Mã thường
là tiếng La Tinh. Trong những năm gần đây, sự chuyển ngữ
ra tiếng khác đã được chấp thuận. Kinh Thánh Cơ Đốc Giáo
La Mã gồm có những sách quen thuộc về Cựu và Tân Ước
và một chương phụ gọi là Apocrypha (Kinh Ngụy Tác)
Người
Cơ Đốc Giáo sùng kính nhất Kinh Thánh chủ yếu vì nó chứa
đựng câu chuyện về cứu rỗi linh hồn. Họ tin rằng không
có lầm lẫn hay không rõ trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, hầu hết
những người Cơ Đốc Giáo không tự mình nghiên cứu Kinh
Thánh. Họ không mong mỏi gì giải thích Kinh Thánh cho chính
họ, vì Giáo hội giải nghĩa hầu hết các đoạn trong Kinh.
Người
Cơ Đốc Giáo nghiên cứu những lời giáo huấn của Giáo hội
được coi là quan trọng hơn đọc Kinh Thánh.
Lễ
Ban Phước. Người Cơ Đốc Giáo La Mã tiếp xúc với Giáo
hội thường xuyên qua việc dùng bẩy lễ ban phước, chúng
cho họ sự chỉ đạo và sức mạnh về con đường cứu rỗi
Họ coi những lễ ban phước này là những biểu tượng ân
huệ của Thượng Đế được truyền qua Giáo hội. Những
người Cơ Đốc Giáo La Mã không cho rằng lễ ban phước là
con đường duy nhất để cứu rỗi. Nhưng lễ ban phước mở
ra một lối thoát an toàn và chắc chắn trước sự bất hạnh
và trừng phạt đời đời đối với những ai sử dụng lễ
ban phước ấy.
Thường
thường một người Cơ Đốc Giáo La Mã nhận Lễ ban phước
trong Lể Rửa Tội lúc còn thơ ấu. lễ ban phước này xóa
bỏ tội lỗi đầu tiên và bất cứ tội lỗi nào đã phạm
phải cho đến lúc đó. Lễ ban phước xong, Lễ Kiên Tín sẽ
được tiến hành khi đủ trưởng thành để hiểu. Nó ban
phước lành của Thánh thần giúp ý muốn và can đảm theo
ý của Thượng Đế như Giáo hội giải thích.
Khi
người Cơ Đốc Giáo kết hôn, lễ ban phước trong Hôn nhân
ban phước lành của Thượng Đế và chấp thuận về hôn nhân
và những đứa con được sinh ra sau này bởi cập vợ chồng
này.
Nhà
Thờ coi việc này rất quan trọng đến mức không công nhận
bất cứ lễ hôn nhân nào ngoài nghi lễ của chính mình. Những
người Cơ Đốc Giáo La Mã được dạy rằng hôn nhân là sự
hợp nhất thánh thiện và bất diệt giữa nam và nữ vì mục
đích tiếp tục giống nòi.
Lễ
ban phước trong Lễ Thụ Phong là để rửa tội và để cống
hiến cho người nam và người nữ phụng sự trong nghi lễ
thần thánh của các thầy tu và nữ tu sĩ và về chức thầy
tu. Người được thụ phong bỏ đi những lo âu hàng ngày,
kể cả hôn nhân và đời sống gia đình. Đó là nhiệm vụ
tối thượng của người Cơ Đốc Giáo. Đối với những ai
có thể thực thi được những đòi hỏi của nó, lễ này
mở ra nhiều cơ hội cứu rỗi hơn bất cứ lối sống nào
khác.
Những
người sắp chết nhận được Lễ ban phước trong Lễ Xức
Dầu cuối cùng từ thầy tu. Lễ này tha thứ những tội lỗi
cuối cùng của họ.
Có
hai Lễ ban phước khác, lễ Ban Thánh thể và Lễ Xưng tội
thường được tổ chức thường xuyên để ban phước lành
tinh thần. Mỗi chủ nhật hay vào một ngày nào đó người
Cơ Đốc Giáo phải tham dự một lễ gọi là lễ mi-xa, kỷ
niệm Lễ ban Thánh thể. Đó là một nghi lễ cổ tưởng nhớ
đến bữa ăn cuối cùng của Jesus cùng với các tông đồ
của Ngài và về cái chết của Ngài trên cây thánh giá như
sự hy sinh để chuộc tội lỗi cho con người. Trong lễ này,
vị thầy tu thi hành hai phần phép lạ về rượu vang và bánh,
biến chúng thành máu và thân xác của Jesus Christ mà không
thay đổi vẻ ngoài của chúng.
Người
Cơ Đốc Giáo tin rằng phép lạ trong sự biến thể xẩy ra
khi thầy tu dâng các phần tử cho Thượng Đế, trong khi trình
diễn lại cái chết của Jesus Christ. Rồi thầy tu chia phần
cả bánh và rượu vang đã được biến đổi. Trừ phi đau
yếu ngăn cản, người Cơ Đốc Giáo được yêu cầu dự lễ
ban Thánh thể để nhận bánh cúng từ vị thầy tu tại bàn
thờ ít nhất một năm một lần trong mùa Phục Sinh. Do sự
làm đi làm lại tấn kịch tôn giáo này, người Cơ Đốc Giáo
tin
họ được giúp đỡ trong tiến trình tiến tới cứu rỗi
linh hồn.
Vì
không có một lễ ban phước nào xóa bỏ khuynh hướng tội
lỗi của con người, người Cơ Đốc Giáo thường xuyên cần
tìm sự tha thứ những tội lỗi mới phạm phải. Việc này
có thể làm được qua lễ ban phước trong Lễ xưng tội. Xưng
tội gồm có hối hận tội lỗi, thú tội với thầy tu, thi
hành những hình phạt được ban ra bởi thầy tu, và giành
được sự tha thứ từ thầy tu.
Thánh.
Những thánh được tôn vinh bởi Cơ Đốc Giáo La Mã gồm có
những tông đồ lúc đầu, một số thành viên của những
dòng tu thánh thần, và những người có niềm tin và hành động
cho thấy sự tận tụy trọn vẹn trong việc đi tìm sự cứu
rỗi. Những người Cơ Đốc Giáo tin rằng những người thánh
thiện này sống trọn đời cho sự cứu rỗi thành công nên
họ có thể giúp những người khác. Qua sự cầu nguyện tới
các vị thánh, và qua việc đốt nến trước hình ảnh của
họ, và qua hành động tôn vinh tinh thần của vị thánh, người
Cơ Đốc Giáo La Mã tin là có thể giành được một số công
đức của vị thánh cho mình.
Mary.
Người Cơ Đốc Giáo La Mã sùng kính mẹ của Jesus như "Mary
thánh thiện, Mẹ của Thượng Đế". Họ tin rằng bà được
tôn vinh khác thường bởi Thượng Đế khi Thượng Đế chọn
bà là một bà mẹ đồng trinh mang thai đứa con do phép lạ.
Đối với nhiều người Cơ Đốc Giáo, Mary dường như gần
gũi hơn và quan tâm đến những khó khăn của họ hàng ngày
hơn là Jesus Christ và Thượng Đế khi họ làm cho người thờ
cúng kính sợ. Đôi khi họ gọi bà là "Hoàng Hậu của Thiên
Đường", và xin bà cầu nguyện cho họ ngay bây giờ và khi
họ chết.
Nhà
Thờ và Lịch sử. Từ Cơ Đốc có ý nghĩa phổ biến hay chung
trong ảnh hưởng của nó đối với con người. Chắc chắn,
Nhà Thờ Cơ Đốc Giáo La Mã đã ảnh hưởng một phần lớn
nhân loại. Nhà Thờ đã nói với hàng triệu người có ham
muốn chủ yếu là có cảm giác an ổn và chắc chắn trong
một đời sống bị đè nặng bởi đau buồn và ngờ vực.
Đối với những người này, đó là ngọn lửa hy vọng và
bảo đảm cho cuộc đời họ sống hiện nay và cuộc đời
sắp đến.
NHÀ
THỜ CHÍNH THỐNG CƠ ĐỐC GIÁO PHƯƠNG ĐÔNG
Những
nhà nghiên cứu văn hóa đã từ lâu nhận thấy sự khác biệt
to lớn giữa những người dân ở Đông và Tây bán cầu. Từ
lúc còn trứng nước Cơ Đốc Giáo đã có những bất đồng
ý kiến bởi những dị biệt. Có những vụ xung đột và bất
đồng ý kiến một phần do chính trị, một phần do xã hội,
và một phần do tôn giáo. Cuối cùng vào thế kỷ thứ mười
một, những sự xung đột đưa đến sự tan vỡ không bao giờ
có thể sửa chữa được. Những nhà thờ phương Đông và
Phương Tây rút phép thông công lẫn nhau, và mỗi bên đều
tuyên bố bên mình mới là Chính Thống Cơ Đốc Giáo.
Nhà
Thờ. Nhà Thờ phương Đông không có Giáo hoàng. Mỗi nhà thờ
là một phần của một vùng gọi là một giáo khu thuộc một
liên đoàn giáo trưởng. Những người Cơ Đốc Giáo Phương
Đông tin họ là những người của Nhà Thờ xác thực duy nhất
bắt nguồn trực tiếp từ công việc của những người Cơ
Đốc Giáo đầu tiên. Họ gọi nhà thờ đó là "Tòa Thánh
Tông Đồ Cơ Đốc Giáo Chính Thống"
Tín
Điều. Nhà Thờ Phương Đông không thay đổi những tín điều,
nhưng họ không giải thích theo nghĩa đen. Người Cơ Đốc
Giáo La mã tập trung vào sự cứu rỗi do cái chết của Jesus,
nhưng người Cơ Đốc Giáo Phương Đông quan tâm khá nhiều
đến bản chất thiêng liêng của con người. Người Cơ Đốc
Giáo La Mã cố gắng vâng theo những lời dạy của nhà thờ,
nhưng người Cơ đốc Giáo Phương Đông cố gắng nặng về
cảm thấy là một với Thượng Đế. Những người Cơ Đốc
Giáo khác lại bận tâm để đạt sự cứu rỗi cho kiếp sau,
nhưng người Cơ Đốc Giáo Phương Đông lại tìm cách tái
sinh tinh thần ngay trong đời này.
Các
Lễ Ban Phước. Người Cơ Đốc Giáo Chính Thống Phương Đông
tiến hành bẩy Lễ Ban Phước. Giống như người Cơ Đốc
Giáo La Mã, họ coi lễ mi-xa là hành động thờ phụng quan
trọng nhất nhưng cả hai rượu và bánh được dâng cho giáo
đoàn.
Giới
Tăng Lữ. Thầy tu được coi như những tác nhân cần thiết
giữa Thượng Đế và con người. Thầy tu có thể có gia đình
nếu hôn nhân xẩy ra trước khi thụ phong. Các tu sĩ, đương
nhiên phải giữ những lời nguyện thông thường về sự tận
tụy, trong sạch, vâng lời, và nghèo nàn. Giám mục được
tuyển chọn trong số các tu sĩ mỗi giáo phận. Họ được
gọi là giáo trưởng hay tổng giám mục. Họ ngang hàng về
cấp bậc, tuy một người có thể được bổ nhiệm làm người
lãnh đạo danh dự.
Thờ
Phượng. Những buổi lễ theo thông lệ và uy nghi rất thân
thiết đối với người Cơ Đốc Giáo Phương Đông. Những
thầy tu của họ ngâm những lời về nghi lễ bằng tiếng
Hy Lạp, hay bằng tiếng Slavonic (Xla-vơ) của Nhà Thờ Cổ.
Nhà Thờ được trang hoàng với những bức tranh tôn giáo đặc
biệt gọi là tranh thánh tượng- không bao giờ có các bức
tượng.
Kinh
Thánh. Kinh thánh thực chất giống như kinh thánh quen thuộc
đối với tất cả người Cơ Đốc Giáo. Các tu sĩ khuyến
khích tín đồ đọc Kinh Thánh, và tất cả những gì có thể
giải thích điều họ đọc.
Tu
Tập. Người Cơ Đốc Giáo Chính Thống Phương Đông thường
cảm thấy tôn giáo của mình đòi hỏi một sự thay đổi
trong đời sống nội tâm. Họ không cảm thấy phải đòi hỏi
sự thay đổi lớn trong xã hội hay chính phủ. Vì lý do đó,
nhà thờ Phương Đông, đôi khi chấp nhận những hoạt động
của chính phủ hay xã hội mà người Phương Tây đã lên án.
Hầu
hết những người Cơ Đốc Giáo Chính Thống Phương Đông
sống ở đông Âu, tại Á Châu và Ai Cập. Vì họ thường
không chú tâm vào việc tuyển mộ những người đổi đạo,
tôn giáo của họ chỉ lan tràn sang Hoa Kỳ và những mảnh
đất khác hầu hết bằng con đường di dân.
Bất
cứ nơi nào mà người Cơ Đốc Giáo Phương Đông đã đi tới,
họ đều lấy được cái vẻ đẹp lặng lẽ và cái tượng
trưng phong phú trong các buổi lễ và nhà thờ của họ. Họ
đã gây được ấn tượng với những người khác bằng sự
tìm kiếm một đời sống nội tâm trầm lặng thong dong vượt
qua con người và liên kết họ với thần thánh.
NHỮNG
NHÀ THỜ CƠ ĐỐC GIÁO TIN LÀNH
Giáo
Hội Cơ Đốc Giáo lại chia rẽ nữa. Sự chia rẽ khởi đầu
bởi một người Đức trẻ tuổi tên là Martin Luther. Hầu
như Luther không biết hành động của ông hôm đó năm 1517
dẫn tới sự cải tổ Tin Lành có ảnh hưởng sâu rộng. Tất
cả những gì Ngài làm là để thông báo ước muốn của Ngài
bàn cãi về những lý do kết án việc hạ giá "sự xá tội"
được quảng cáo cao độ, đó là bảo đảm tha thứ các tội
lỗi.
Tình
cờ là việc bán xon (hạ giá) mà Ngài kết án lại được
đưa ra bởi một chức quyền của Giáo Hội Cơ Đốc Giáo
La Mã và được Giáo hoàng phê chuẩn.Và chính Luther là một
thầy tu. Loan báo đóng đinh vào cửa nhà thờ của Ngài là
một thách thức làm hoảng hốt quyền lực của Giáo hoàng
và Giáo Hội, vào cái ngày mà toàn thể xã hội bị trị bởi
sự bức chế của họ. Đối đầu với yêu cầu phải rút
lại lời tuyên bố của mình, Luther cảm thấy không thể làm
như thế một cách thành thực. Những người đồng hương
tập hợp quanh Ngài, và Sự Cải Tổ Tin Lành bắt đầu.
Sau
này những nhà lãnh đạo đã có những "phản đối" rộng
lớn chống lại quyền lực của Giáo Hội. Động cơ thúc
đẩy của họ không giống nhau nhưng những người này có
một niềm tin chung. Đường lối cứu rỗi không phải là độc
quyền của Giáo Hội Cơ Đốc Giáo La Mã và Giáo hoàng. Hầu
hết những sự phản đối là chống lại hệ thống nhà thờ,
không chống lại học thuyết. Đối với đa số những người
Tin Lành, vẫn không có sự bất đồng ý kiến về học thuyết
cơ bản.
Bây
giờ có rất nhiều giáo phái khác nhau trong Tin Lành, và không
có một quyền lực duy nhất nào trên tất cả. Hầu hết những
người Tin Lành tin vào quyền lựa chọn niềm tin tôn giáo
và tình đoàn kết tôn giáo của những người khác. Tự do
về niềm tin và tự do chọn lựa nhà thờ đã dẫn đến nhiều
thay đổi về chủ đề Tin Lành. Mặc dầu vậy, những người
Tin Lành thấy các lãnh vực cùng đồng ý ngày càng tăng trong
tín điều và trong những cố gắng phục vụ xã hội.
Cứu
Rỗi Bằng Niềm Tin. Hầu hết những người Tin Lành cho rằng
không có người nào dù làm gì đi chăng nữa, có thể đạt
được sự cứu rỗi cho chính mình hay cho người nào khác.
Cứu rỗi là một tặng phẩm của Thượng Đế. Ta phải tin
tưởng đời sống và cái chết của Jesus khiến con người
lấy lại quan hệ hòa hợp với Thượng Đế. Phước lành
cao cả nhất của Thượng Đế nằm trong kế hoạch cứu rỗi
được mở ra cho tất cả. Tất cả những gì cần thiết là
niềm tin.
Cuộc
Sống Hiến Dâng. Đời sống tôn giáo không đòi hỏi người
ta phải bỏ hôn nhân, gia đình, và những lợi ích hàng ngày
của con người. Những người Tin Lành hầu như không có tu
sĩ và nữ tu sĩ., và những mục sư của họ thường là những
người có gia đình. Niềm tin, không phải là những việc làm,
hình thành con đường cứu rỗi. Niềm tin không lệ thuộc
vào nghề nghiệp của ta, nhưng Thượng Đế kêu gọi con người
gắng hết sức mình ở bất cứ nơi đâu. Tôn giáo không phải
là vấn đề đi nhà thờ hay suy ngẫm ngoan đạo. Đó là cách
bạn sống hàng ngày.
Chức
Phận Thầy Tu Của Tất Cả Tín Đồ. Mỗi người có thể
trực tiếp đi tới Thượng Đế cho chính mình Nhiệm vụ của
Nhà Thờ và các mục sư của Nhà Thờ là dạy con người,
không phải là thay mặt họ, hay chỉ huy họ. Đây là cốt
lõi thực sự của Tín Lành. Có những lý do khác về sự tồn
tại của Nhà Thờ: giải thích ý Thượng Đế, nuôi dưỡng
tình thân hữu và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên
cùng tìm kiếm những mục tiêu giống nhau. Quyền lực lãnh
đạo Nhà Thờ cũng khác nhau, một số được cai quản bởi
các mục sự, một số bởi các mục sư và những thành viên
được đề cử, và một số bởi toàn bộ hội viên.
Kinh
Thánh. Hầu hết những người Tin Lành tin là Kinh Thánh chứa
đựng những luật lệ về niềm tin và thực hành tôn giáo.
Cho nên những người Tin Lành nghiên cứu Kinh Thánh một cách
nghiêm túc, đọc kinh thánh bằng ngôn ngữ của chính mình.
Tuy nhiều người Tin Lành hiện nay giải thích Kinh Thánh ít
cứng nhắc hơn nhiều, nhưng vẫn còn có một số cho rằng
việc này họ có toàn quyền tới những từ nhỏ nhặt nhất
không cần để ý đến ý nghĩa lịch sử.
Thờ
Phượng. Những người Tin Lành được khuyến khích cầu nguyện
thành thật và thường xuyên. Đối với một số, cầu nguyện
là phương pháp cầu xin Thượng Đế các thứ. Hay đó là cách
giúp bè bạn thoát khỏi tình trạng khó khăn hay "đổi đạo"
một người nào đó. Đối với những người thận trong nhất,
đó là sự cố gắng để nhìn sự việc chúng thực sự là
như thế nào, để đi vào quan hệ chính đáng với chính mình,
với Thượng Đế của mình và với thế giới của mình.
Hầu
hết những người Tin Lành tiến hành hai lễ ban phước, rửa
tội và lễ ban thánh thể. Họ không tin vào thuyết biến thể.
Đối với những người Tin Lành, cảm nghĩ và ý định của
một người khi nhận lễ ban phước quan trọng hơn nghi lễ
của lễ ban phước. Điều này cũng đúng cho những nhiệm
vụ của tôn giáo khác gồm có lễ vật ủng hộ nhà thờ,
sự tham dự các buổi lễ, và tham gia vào Hội ái hữu Cơ
Đốc Giáo.
Một
người Tin Lành được tự do sống cuộc đời tốt nhất và
tận tụy nhất mà người ấy có thể, chọn tình thân hữu
mà người ấy cảm thấy hoàn toàn có thể làm được. Để
giúp đỡ sống theo đường lối ấy, một số người Tín
Lành đặt niềm tin vào Jesus làm Chúa Cứu Thế riêng cũng
như cho tất cả ai tin. Những người khác giành được cảm
hứng về đời sống tôn giáo từ tấm gương cao thượng về
cuộc đời của Jesus.
Tin
Lành Thuộc Phái Phúc Âm. Đa số các nhà thờ Tin Lành được
coi là nhà thờ Tin Lành thuộc Phái Phúc Âm. Những nhóm này
nhấn mạnh vào sự ly khai với Nhà Thờ Cơ Đốc Giáo, cho
rằng quyền uy như vậy là sự xuyên tạc tôn giáo. Những
sự chống đối đầu tiên là thành thật và cần thiết, nhưng
sau này mỗi một giáo phái phát triển một uy quyền của riêng
mình không khác gì nhiều với điều họ đã lên án.
Những
nhà thờ Phái Phúc Âm khẳng định ủng hộ học thuyết chính
thống. Trong đó học thuyết chính là nhu cầu của con người
về sự cứu rỗi và kế hoạch cứu rỗi con người của Thượng
Đế. Trong nửa đầu thế kỷ thứ hai mươi đã có một sự
đổi mới mạnh mẽ trong những học thuyết cũ, được coi
là phong trào chính thống mới.
Một
số giáo phái Tin Lành cho rằng một số giáo huấn là nền
tảng của Cơ Đốc Giáo. Nhất là họ đã nhấn mạnh vào
toàn bộ chân lý của Kinh Thánh và những phép mầu mà Kinh
Thánh nói. Những người Cơ Đốc này được gọi là người
theo trào lưu chính thống. Họ được biết đến vì những
cố gắng gây xúc cảm mạnh mẽ trong việc cải đạo người
khác đi theo niềm tin của họ.
Những
người Tin Lành Tự Do. Ngay từ lúc khởi đầu Cơ Đốc Giáo,
có một số người chín chắn thấy không phải ai cũng có
thể thỏa mãn với cùng lời nói và cùng kinh nghiệm. Những
người Cơ Đốc Giáo hiện đại khẳng định về tự do của
niềm tin có một truyền thống dựa trên thực tế trong quá
khứ tôn giáo của họ. Họ được gọi là những Người Tự
Do -- một nhóm thiểu số trong Tin Lành. Chậm nhưng chắc con
số nhóm này gia tăng. Thậm chí có lẽ ý nghĩa hơn là sự
việc ảnh hưởng của họ dần dần giúp giải thoát những
nhóm chính thống hơn.
Những
Người Tự Do thực sự tin rằng mỗi người phải có cơ hội
để phát triển trong kinh nghiệm và hiểu biết tôn giáo cùng
với việc thử nghiệm đường lối sống tốt đẹp hơn. Họ
tin rằng tôn giáo dành cho toàn bộ một con người cả về
cảm nghĩ và lẽ phải của mình. Họ chứng minh nhà thờ là
một thể chế giúp con người trở thành như cá nhân và những
thành viên của tình thân hữu dân chủ. Sự cứu rỗi mà người
Tin Lành Tự Do tìm kiếm hình thành qua lối sống trong tính
trọn vẹn của nó.
Cơ
Đốc Giáo không phải là con đường, nhà thờ nào hay nhóm
duy nhất. Cơ Đốc Giáo là cái người Cơ Đốc Giáo tạo ra.
Nó giống như con sông không ngừng chảy vào biển vô hình.
Những dòng nước chảy vào biển đôi khi hơi mặn. Những
xoáy nước hình thành dọc theo bờ sông đôi khi tù đọng.
Nhưng giống tất cả những tôn giáo lớn khác trên thế giới,
Cơ Đốc Giáo tiếp tục tiến tới một tương lai mà không
ai có thể tiên đoán hoàn toàn được. Nó tiến đi với hy
vọng và khát vọng cũng như với sợ hãi và lo âu của nhiều
triệu người tự gọi họ là người Cơ Đốc Giáo.
18.
SỐNG BẰNG TÔN GIÁO
Tôn
giáo trong trạng thái tốt nhất của nó đáp ứng những nhu
cầu căn bản của con người. Phân tích đến cùng, tất cả
chúng ta dường như đều cần những điều giống nhau. Chúng
ta cần cảm thấy chúng ta quan trọng đối với những người
quanh chúng ta. Chúng ta cần cảm thấy chúng ta có một vị
trí giữa những người đồng loại. Chúng ta cần cảm thấy
mục đích và ý thức về hướng đi trong cuộc sống của
chúng ta. Và chúng ta cần cảm thấy chúng ta đang tiến tới
những mục tiêu cao nhất của chúng ta.
Trong
mỗi năm từ khi Jesus nói và đi trên những nẻo đường của
Palestine, một số người đã tìm thấy câu trả lời cho những
nhu cầu sâu xa nhất của họ trong cái Ngài đã nói và làm.
Những bất đồng ý kiến về việc tin vào cái gì thường
nhiều hơn nhưng chẳng mấy quan trọng. Điều quan trọng là
họ đã sống xứng đáng hơn vì cuộc đời của Jesus.
Người
Cơ Đốc Giáo nói thông điệp của Jesus là vô tận, vì Ngài
đã rút ra những bài học trực tiếp từ những kinh nghiệm
của những người Ngài biết. Đối với họ, nhiều tuyên
bố của Ngài khi Ngài bầy tỏ ra vẫn đúng đến ngày nay.
Bài giảng đạo trên núi đã thôi thúc người Cơ Đốc Giáo
mộ đạo có lối sống thận trọng bởi những chuyện ngụ
ngôn của Ngài. Nghiên cứu cẩn thận và sử dụng thận trọng,
những lời dạy như vậy làm cho tâm trí của những người
Cơ Đốc Giáo ngày nay thanh thản.
HÃY
TỰ KÍNH TRỌNG
Jesus
biết nhiều người đã mất ý thức về giá trị thực sự
của chính mình. Họ cảm thấy họ không quan trọng đối với
Thượng Đế và con người. Những tu sĩ và các vị thầy tôn
giáo chỉ cho họ thêm khó khăn vì bị gán cho là "những kẻ
tội lỗi" và "không trong sạch". Đối với những người bị
phiền toái như vậy, Jesus đã thuyết giảng thông điệp về
lòng tin, ""Các ngươi là tinh hoa của xã hội, "các ngươi là
ánh sáng của thượng đế".
Đôi
khi mất tự trọng khiến người ta qụy lụy trước một người
khác có vẻ là quan trọng. Đã có nhiều người Cơ Đốc Giáo
quá ư khúm núm tuân theo những mệnh lệnh và chỉ đạo của
những người lãnh đạo nhà thờ. Họ không dám nghi ngờ,
hỏi han hay điều tra, vì sợ hãi họ có thể mắc thêm lầm
lỗi. Không có chỗ nào trong thông điệp của Jesus đề cập
đến quyền của ai đó có thể chỉ đạo niềm tin cho người
khác. Jesus đã công khai gửi lời mời dân chúng tham gia với
Ngài trong việc tìm kiếm một cuộc đời phong phú. Trong việc
tìm kiếm này, tất cả đều bình đẳng.
Ngày
nay chúng ta sống trong một thế giới đầy lo âu. Hoàn cảnh
này do con người tạo ra, và hoàn cảnh ấy có thể bị loại
bỏ bởi những nỗ lực thông minh của con người. Chúng ta
lo lắng về nhiều điều không kể xiết -- mất một cái gì
đó, muốn một cái gì đó. Chúng ta lo lắng về chuyện lớn
chuyện nhỏ, và sự lo lắng của chúng ta xâm nhập vào mọi
chỗ trong cuộc sống. Chúng ta càng ngày càng nên không thể
làm những việc nên làm và có thể làm vì chúng ta quá lo
lắng về những thứ ta không thể làm được. Jesus cố gắng
làm dịu đi những sự sợ hãi như vậy bằng cách vạch ra
giá trị thực sự.
Đừng
lo lắng về đời sống, quan tâm đến việc ăn gì và uống
gì, hay về thân xác, quan tâm đến việc mặc gì. Đời sống
có quan trọng hơn thực phẩm, và thân xác hơn quần áo không?
Hãy nhìn vào những con chim hoang dã, chúng không gieo và gặt,
hay không tích trữ thực phẩm trong kho, thế mà Thượng Đế
vẫn cho chúng ăn.
Ngày
nay cũng như vào thời Jesus, con người có thể trở nên bệnh
hoạn về tinh thần và thể xác khi họ không còn tôn trọng
mình. Đôi khi bệnh hoạn ở dạng coi thường ham muốn riêng,
hay cảm tính, hay bề ngoài. Jesus không bao giờ ngưng nghỉ
khuyến khích con người hãy tôn trọng chính mình. Ngài biết
người ta không thể tiến tới chín chắn trừ phi có khả
năng chấp nhận mình là như thế.
Nếu
một người trong chúng ta quá ghét cái cách ai đó hành động
hay bề ngoài, người ấy sẽ chỉ nhìn thấy cái mà người
ấy không thích về chính mình. Phải chăng đó là bức tranh
thực sự của con người ấy là như thế? Dĩ nhiên là không.
Tương tự, một số người thất bại không thấy thỏa mãn
trong những cuộc tiếp xúc với người khác. Họ đang nghĩ
về bề ngoài và cách đối xử của những người bạn họ,
thay vì thực sự hiểu biết họ.
Jesus
dạy con người phải thương yêu xóm giềng như thương yêu
chính mình. Nếu chúng ta muốn thương yêu người, chúng ta
phải thương yêu mình trước. Chúng ta thường được bảo
thương yêu mình sau. Nhưng nếu đứng là vậy, chúng ta chẳng
bao giờ thương yêu ai cả. Thương yêu mình một cách khôn
ngoan là cơ sở để thương yêu người khác đứng đắn.
THƯƠNG
YÊU NGƯỜI
Quá
nhiều người lầm lẫn về việc khư khư giữ lấy tình thương
yêu cho chính mình. Họ cố gắng thuyết phục người yêu quyết
định vì mình hoặc cả đến hành động vì mình. Jesus nói,
tình thương yêu chân thật đơn giản là cho người đó quyền
là chính mình.
Thỉnh
thoảng chúng ta cố gắng thay đổi hay sửa đổi một người
nào đó. Chúng ta thường thường biết như vậy là phá vỡ
tình thân hữu. Chúng ta càng cố gắng ép buộc người ta theo
kiểu mẫu của mình, thì chúng ta lại càng có ít ảnh hưởng
với họ. Ép buộc tự nó thất bại. Tình thương yêu và chấp
nhận là sức mạnh vĩ đại nhất. Chúng được đền đáp
bằng tình thương yêu và chấp nhận.
Đó
là bài học gian khổ nhất về tư cách làm cha mẹ. Đương
nhiên các em nhỏ phải được bảo vệ trước cái nguy hiểm
có thể xẩy ra do những quyết định non nớt của chúng mang
lại. Tuy nhiên, khi năm tháng trôi qua, cha mẹ phải biết cách
để cho con cái gánh vác trách nhiệm về đời sống của riêng
chúng. Không ai có thể trở nên chín chắn nếu không được
phép là chính mình.
Có
một câu châm ngôn nổi tiếng, "Tha thứ nhưng đừng quên".
Dàn hòa với người bạn mà mình đã cãi cọ, nhưng mình vẫn
còn nuôi sự oán giận ngấm ngầm. Những cảm nghĩ đau đớn
chôn vùi dưới cái tha thứ bên ngoài có cơ hội phát triển
và trở nên cay độc. Chúng ngăn trở mối quan hệ tốt hơn
với người khác.
Jesus
hiển nhiên biết rõ sự thật là nếu một người không thật
tâm tha thứ thì chính người ấy không thể hạnh phúc:
Nếu
ngươi tha thứ người khi họ làm ngươi khó chịu. Thượng
Đế cũng sẽ tha thứ cho ngươi. Nhưng nếu ngươi không tha
thứ người khi họ làm ngươi khó chịu, Thượng Đế cũng
sẽ không tha thứ cho ngươi về tội lỗi của ngươi.
Và
trong lời cầu nguyện quen thuộc căn cứ vào những khuyến
bảo của Jesus cho tín đồ, có lời yêu cầu này:" Hãy tha
thứ cho chúng con vì những tội lỗi của chúng con, chúng con
tha thứ những người làm việc xấu chống lại chúng con."
Jesus
lúc nào cũng nhắc nhở người dân là tha thứ cho người sai
trái cũng quan trọng như đối với người đã làm sai. Tha
thứ phải được thực thi thường xuyên khi cần. Không có
giới hạn nào cho việc này. Mặt khác oán hận sẽ len lỏi
và dần dần ngăn cản người không biết tha thứ sống hạnh
phúc.
Jesus
dạy tình thương yêu là qui luật trong tất cả các lĩnh vực
của đời sống con người, giữa bạn bè với nhau, giữa người
trong gia đình, giữa những nhóm người. Những người Cơ Đốc
Giáo hoàn toàn bất đồng giữa họ với nhau về việc áp
dụng lời dạy này. Một số người nói rằng lời dạy ấy
không thể áp dụng cho mối quan hệ giữa những nhóm người
hay quốc gia. Họ còn nói đó là lời khuyên tốt nhưng không
thể thực hiện và không có ai trên trái đất này có ý định
theo. Một số người Cơ Đốc Giáo đã cầu xin chiến tranh,
tra tấn và hành hình trên danh nghĩa đức tin của họ. Những
người khác lại nhất định rằng tình thương yêu phải được
áp dụng trong tất cả những giai đoạn của cuộc đời, đến
mức cao nhất có thể được.
HÃY
THÀNH THẬT
Chỉ
khi chúng ta biết thương yêu chúng ta mới có thể thành thật
với chính mình và với người khác. Đối với Jesus, thành
thật nội tâm có tầm quan trọng hàng đầu để có một cuộc
sống đạo đức. Ngài kêu gọi người dân hãy có đạo đức,
không phải chỉ để thực hành điều thiện. Ngài thất vọng
bởi những người giả vờ đứng cầu nguyện trong giáo đường
hay ở góc phố để người ta nghĩ rằng họ ngoan đạo. Jesus
nói rằng cầu nguyện trong thâm tâm và tại nhà tốt hơn cầu
nguyện để gây ấn tượng nơi công cộng rất nhiều.
Ngài
nói với các tín đồ rằng sẽ không đi tới đâu cả trong
việc tìm kiếm tinh thần bằng cách nhắc đi nhắc lại những
"câu rỗng tuếch". Thất vọng biết bao khi thỉnh thoảng nhiều
người Cơ Đốc Giáo ngày nay nghĩ rằng tôn giáo đó gồm
có nhắc đi nhắc lại tín điều và lời cầu nguyện không
có ý nghĩa gì đối với họ. Nguy cơ thực sự là sự không
thành thật này làm chúng ta mù quáng về nhu cầu một điều
gì hơn nữa, và chúng ta tiếp tục cố làm ra vẻ chúng ta
thỏa mãn.
Chúng
ta không thành thật trên nhiều phương diện khác. Chúng ta
làm những hành vi tốt cốt để gây ấn tượng có lợi với
người khác mà không có xúc cảm gì về điều thiện. Chúng
ta biết nói những lời lễ phép mà không có xúc cảm gì về
lễ phép. Chúng ta gia nhập các đoàn thể và các nhóm xã hội,
nhưng chúng ta không học cách thương yêu người hơn nữa.
Chúng ta mang những bộ mặt đẹp đẽ giả tạo trước công
chúng, và đôi khi chúng ta lừa bịp chính chúng ta. Nhưng cảm
nghĩ nội tâm quan trọng hơn những gì chúng ta trưng ra ở
bề ngoài nhiều. Chỉ khi những ý định nội tâm xứng với
những hành động bên ngoài thì chúng ta mới sống dồi dào.
Điều này là thành thật.
HÃY
DỄ DẠY
Người
có lối sống tốt nhất là một người vẫn tìm kiếm những
lối để sống tốt hơn. Người như vậy duy trì khả năng
băn khoăn về đời sống. Người đó mong mỏi hàng ngày được
dạy bảo điều gì mới và tốt hơn. Người ấy cởi mở
và thành thật giống như đứa bé nhỏ tràn đầy kinh ngạc
và thích thú với mỗi kinh nghiệm mới.
Jesus
thấy nhiều người "tôn giáo" như những người Pharisees và
Sadducees không thể dạy bảo được. Họ cảm thấy họ đã
biết hết những câu trả lời. Vậy nên không cần nêu câu
hỏi. Mọi thứ đều được giải quyết theo "Luật" hay "Sách".
Đời sống không dạy cho họ điều gì mới cả. Nó chỉ làm
cho họ chắc chắn là những câu trả lời của họ mới là
những câu trả lời.
Vô
số người Cơ Đốc Giáo đã biết những giá trị của tính
ham học. Họ tiếp tục kiên định quan sát đời sống bằng
sự quan tâm. Họ từ chối không chấp nhận những câu trả
lời của một người nào đó nếu không kiểm tra chung. Họ
đã cố gắng theo lời khuyên bảo của Jesus:
Hãy
hỏi, và điều ngươi hỏi sẽ được trao cho ngươi. Hãy tìm
kiếm, và ngươi sẽ tìm thấy điều mà ngươi tìm kiếm. Hãy
gõ cửa, và cửa sẽ mở cho ngươi. Bao giờ ngươi hỏi, cũng
sẽ được nhận, và ngươi tìm kiếm sẽ tìm thấy, và người
gõ cửa thì cửa sẽ mở cho ngươi.
"Phước
lành cho những người đói khát tính chính trực vì họ sẽ
được thỏa mãn!" Đó là toa thuốc cho lối sống tôn giáo
đã được áp dụng và dặn bảo bởi những người Cơ Đốc
Giáo cách xa thời của Francis of Assisi, Meister Eckhart, và Rufus
Jones.
Vì
những vấn đề nhỏ nhặt và những mối lo âu không quan trọng,
chúng ta thường không nhìn thấy đời rộng lượng như thế
nào với chúng ta. Đó là một thế giới tuyệt diệu mà chúng
ta đang sống. Không ai có thể lấy đi niềm vui sống cơ bản
và hồn nhiên của chúng ta -- mùi vị của thực phẩm, hương
thơm của cây thông trong mưa, cái đẹp của đêm trăng, âm
thanh của thác nước, mầu sắc của hoàng hôn, niềm vui của
tình yêu và đang được yêu. Có thể nói, không ai có thể
thực sự lấy những thứ đó của chúng ta, trừ phi chính
chúng ta. Tấn thảm kịch của cuộc đời không chỉ là sự
vô nhân đạo của con người đối với con người, dưới
những hình thức của trại tập trung, bóc lột, và chiến
tranh. Bi kịch của cuộc đời cũng là sự hành hạ mà chúng
ta đặt lên chính chúng ta vì không chấp nhận những gì là
của chính chúng ta.
Đời
sống là một tặng phẩm. Jesus nói "Ngươi tự do nhận"; "tự
do cho". Tất cả những niềm vui căn bản của đời sống là
tặng phẩm đến với chúng ta không cần phải kiếm chúng.
Hầu hết trong chúng ta không ý thức được điều này quá
xâu. Jesus thường nhấn mạnh đến những tặng phẩm tuyệt
vời mà đời sống hiến dâng.
Có
một ý nghĩa thực sự trong chuyện ngụ ngôn về người con
trai hoang tàng, người thanh niên này đã phí phạm mọi thứ
mà đời sống đã cho anh ta, cho đến khi anh ta sống "vô giá
trị". Đối với nhiều người Cơ Đốc Giáo, chuyện ngụ
ngôn này dạy: Có thể bạn đã phí phạm mọi thứ đời sống
tặng bạn cho đến nay. Bạn có thể đang phải sống vô giá
trị - sợ sệt, lo âu, tội lỗi, và ân hận. Dù vậy, những
ảnh hưởng nhân từ mà cuộc đời ban tặng vẫn vận hành
trong vũ trụ, và trong bạn, để hồi phục lại cái ngã thực
sự của bạn. Đỉnh cao về chuyện ngụ ngôn của Jesus là
khi người thanh niên ưu phiền này "đến với chính mình".
Bất
cứ ai trong chúng ta cũng có thể đến với chính mình, vì
mỗi lúc nó lại tạo ra cơ hội cho chúng ta. Chừng nào chúng
ta còn sống, chúng ta còn phải đương đầu với sự thách
thức của việc tiếp tục phát triển tinh thần và xúc cảm.
Jesus nói, tất cả chúng ta lúc nào cũng có sự dồi dào của
đời sống và nguồn vui của nó phục vụ cho hạnh phúc sâu
xa nhất của chúng ta. Những người Cơ Đốc Giáo gặp cơ
hội tìm ra chân lý cho chính mình mà Jesus đã nói: "Hãy chú
ý, Vương Quốc của Thượng Đế ở trong bạn."