CHƯƠNG
BỐN
TÔN
GIÁO
CỦA NHẬT BẢN
12.
THẦN GIÁO: CON ĐƯỜNG CỦA NHỮNG VỊ THẦN
Có
nhiều người nghĩ rằng Thần Giáo, tôn giáo địa phương
của Nhật Bản, không còn nữa hay tôn giáo này đang chết
rất nhanh chóng. Họ nghĩ rằng tôn giáo bắt đầu suy thoái
với sự đầu hàng của Nhật Bản vào lúc kết liễu Thế
Chiến Thứ Hai. Nhưng tín ngưỡng và tập tục truyền thống
vẫn có con đường sống. Không bao giờ có thể ban sắc lệnh
hay làm luật để loại bỏ tín ngưỡng ra khỏi đời sống.
Sự thất trận của Nhật Bản trong Thế Chiến Thứ Hai và
sự chiếm đóng của Mỹ Quốc trong những năm theo sau đó
chắc chắn có thay đổi một số lễ nghi và tu tập tôn giáo.
Dầu vậy vẫn còn một số không thể thay đổi được. Đó
là tinh thần tôn giáo cơ bản của người Nhật. Họ gọi
nó là Thần Giáo, "con đường của những Vị Thần".
Người
Nhật Bản chia sẻ niềm tôn kính Phương Đông về di sản
văn hóa của họ. Trong một trăm năm vừa qua, sự tôn thờ
quá khứ đã bị đặt trước thử nghiệm mạnh nhất mà ta
không thể tưởng tượng được. Nhật Bản vẫn tồn tại
và tiến tới một cuộc cách mạng -- cuộc tấn công dữ dội
của công nghiệp hóa và quan niệm Phương Tây, và hai cuộc
chiến tranh thế giới, một trong hai cuộc chiến dẫn đến
sự thất bại liểng xiểng. Không có một nước nào đã phải
chuyển từ chế độ phong kiến thành hệ thống công nghiệp
qui mô lớn quá nhanh như vậy. Thế mà hàng ngày người dân
của xứ đó vẫn thưởng thức vẻ đẹp của nó, hết sức
tôn trọng nhau, và một tận tụy sâu sắc với xứ sở của
họ.
Đúng
là quan niệm của người Nhật đang thay đổi. Nhưng từ khi
lịch sử Nhật Bản cho thấy sự thay đổi liên tục trong
tám mươi năm qua hơn là nghìn năm trước, thật là khó mà
lập biểu sự thay đổi. Chúng ta phải nhớ rằng tương lai
đến từ hiện tại, khi hiện tại bắt nguồn từ quá khứ.
Cho nên, có thể chắc chắn cho rằng những giá trị yêu quý
nhất đối với người Nhật Bản sẽ cùng với họ đi vào
tương lai.
TÍNH
CHẤT GIỐNG THIÊN NHIÊN
Một
người Nhật chắc hẳn phải hỏi, "Đời sống là gì?". Nhưng
người ấy không đặt câu hỏi "Đời sống của tôi là gì?".
Họ thấy mình là một phần của những điều kỳ diệu sinh
động đầy cảm hứng trong mọi thứ tồn tại. Họ có cảm
giác gần gũi với thiên nhiên mà người Âu Châu hay Mỹ Châu
bình thường không có.
Người
Nhật lúc nào cũng cảm thấy sự lôi cuốn bởi không gian
bên ngoài -- cát, gió, tinh tú, sóng, tiếng kêu côn trùng, bản
nhạc của thác nước.
Người
Nhật tin tưởng rằng cùng những lực tuyệt diệu như thế
vận chuyển trong thiên nhiên cũng chuyển động trong chính
họ. Không có gì khác biệt. Không có ranh giới ngăn cách giữa
thần thánh và con người. Vì lý do này, tôn giáo và đời
sống của một con người đã đi vào lẫn nhau nên hầu như
không thể nói nơi nào cái này bắt đầu và cái kia chấm
dứt. Những ai cho rằng Thần Giáo không phải là một tôn
giáo chắc hẳn bị bối rối bởi khuynh hướng này. Với những
người Nhật Bản chín chắn, tôn giáo là phải như vậy. Tại
sao tôn giáo phải là cái gì đó "thêm vào" đời sống con
người?
Người
Nhật tìm thấy sự an ủi và cảm hứng trong cái đẹp của
môi trường chung quanh. Họ đã xây dựng những ngôi đền
ở những chỗ có vẻ đẹp rất ngoạn mục. Họ cố gắng
giữ mình luôn hòa nhịp với tất cả vẻ yêu kiều hướng
về chúng:
Chỉ
cần một lá cây,
Hay
một cọng cỏ mềm mại,
Vị
Thần kinh hoàng
Tự
hiện ra.
Thói
quen về cái đẹp dẫn người Nhật tham dự những cuộc lễ
và liên hoan dường như lạ lùng với chúng ta. Liên Hoan Nghe
Côn Trùng là một thí dụ về việc này. Vào một buổi tối
yên tĩnh vào những tuần đầu mùa thu, hoàng đế và hàng
ngàn thần dân yên lặng ngồi nghe những tiếng động của
nhiều loại côn trùng. Giống như kiểu câu chuyện về một
đạo sư Thiền Phật Giáo bước ra trước lớp học để giảng
một bài Pháp. Đạo sư này dừng lại để nghe tiếng chim
hót ngoài cửa sổ, và rồi cho giải tán lớp học. Có nhiều
những bài thuyết giảng về thiên nhiên -- và người Nhật
tự do thưởng thức.
Vào
thời điểm cây anh đào trổ hoa, người Nhật thường đóng
cửa tiệm và đi đến các công viên và miền quê để thưởng
ngoạn vẻ đẹp của hoa anh đào nở trước khi chúng tàn héo.
Đôi khi họ dành những buổi chiều tối vào việc ngắm trăng.
Hay họ ngồi hàng giờ ngắm cái đẹp của mảnh vườn, hoặc
cắm hoa, hoặc cả đến ngắm nhìn một nhành cây hay một
chiếc lá.
Ngắm
cái đẹp của chúng dẫn dắt họ trau dồi cái đẹp tại
nha, tại sân của riêng họ và trong tất cả những nghề thủ
công mỹ nghệ. Họ cần cù tìm cảm hứng mà cuộc sống và
thiên nhiên hiến dâng cho họ. Đôi khi họ dùng thơ để bầy
tỏ cảm nghĩ về tính cách giống thiên nhiên.
Thường
thường người Nhật Bản làm thơ rất ngắn, chỉ diễn tả
đủ để truyền cảm của họ. Đương nhiên, thường là thơ
của họ không truyền đạt cùng cảm nghĩ tới một người
nào đó, nhất là đối với các độc giả ở xứ khác. Mà
là ta giải thích cho chính ta. Ai có thể nói một thi phẩm
phải nói gì?
Dưới
đây là một vài thí dụ về những vần thơ thiên nhiên của
người Nhật có thể là có nhiều hoặc ít ý nghĩa mà người
đọc có thể tìm thấy ở chúng:
Trên
cánh hoa mận nở,
Bông
tuyết rơi dày đặc;
Tôi
ước gom một ít
Để
trao đến tận người
Nhưng
tuyết tan trong tay tôi
Trên
những sườn đồi dốc
Tuyết
vẫn còn nằm đó --
Nhưng
dưới chân cây liễu,
Nước
lũ chảy ào ào,
Xuân
đâm chồi nẩy lộc.
Tôi
sẽ so sánh gì
Cuộc
đời này của ta?
Nó
giống như con thuyền
Đi
khỏi lúc rạng đông
Không
để lại vết tích.
Bầu
trời là biển cả
Nơi
sóng mây cuồn cuộn
Mặt
trăng là con thuyền;
Tiến
về các chùm sao
Chèo
theo đường của nó.
TẦM
QUAN TRỌNG CỦA SỰ THANH KHIẾT
Bầu
trời, hoa lá, cây cối và cảnh đẹp nói với người Nhật
Bản về cái đẹp và sự thanh khiết. Qua nhiều thế kỷ,
người Nhật Bản nhìn vào những cảnh như vậy với lòng
tôn kính. Họ cảm thấy nỗi kinh sợ trong sự hiện diện
của vẻ yêu kiều thanh khiết mà họ ý thức sâu xa. Họ mong
ước xứng đáng với nó. Điều này đã khiến họ ngưng không
tranh đấu cho sự thanh khiết bên trong và bên ngoài.
Người
Nhật không lại gần nơi thờ cúng ở nhà hay nơi công cộng
mà lại không tham dự lễ tẩy uế trước. Có các máng nước
đặc biệt gần nơi thờ cúng công cộng để người đi hành
lễ có thể dùng nước đó để rửa tay và xúc miệng.
Chỉ
sau khi người ta làm cho chính mình trong sạch theo cách đó
người ta mới nghĩ mình đáng được lễ lạy tại đền.
Những người Nhật chín chắn nhận thức đây là sự tượng
trưng cho sự thanh khiết nội tâm không thực sự tùy thuộc
vào sự tẩy uế bên ngoài.
Nhà
của người Nhật là kiểu mẫu về sạch sẽ và ngăn nắp.
Bàn thờ thần -- trung tâm thờ cúng Thần Giáo tại gia được
giữ sạch sẽ tinh tươm. Bàn thờ ở những nơi thờ cúng
thường xuyên được làm lại để không một tình trạng mục
nát nào làm hại nơi chốn của vẻ đẹp này.
Ở
Nhật Bản xưa, có lễ bán niên gọi là Đại Lễ Tẩy Uế.
Tất cả mọi người tham gia lễ này bằng cách chà xát những
chiếc áo giấy lên trên thân mình rồi đem đốt hay ném xuống
sông, hồ hay biển. Rồi hoàng đế, nói với Nữ Thần Mặt
Trời, tuyên bố tất cả mọi người lại trong sạch. Từ
xa xưa, người Nhật Bản cổ tin chắc là việc tẩy uế thân
xác rất quan trọng đối với các vị thần. Sau này, những
người Nhật Bản nghĩ rằng thần cũng muốn sự thanh khiết
về đạo đức. Đại Lễ Tẩy Uế tượng trưng cho cả hai.
Những
nghi lễ như vậy khiến người dân cảm thấy đúng đối với
chính họ và đối với thế giới. Những người Thần Giáo
coi trọng việc tổ chức các lễ này thường xuyên, để họ
có thể cảm thấy thoát khỏi sự ô uế. Họ không lo lắng
về những tội lỗi hay sai lầm cá nhân. Họ quan tâm đến
tất cả người dân của họ đến mức họ cảm thấy phải
chia sẻ tội lỗi vì khuyết điểm và ô uế chồng chất của
bất cứ người nào. Tội lỗi gộp lại này khiến họ tìm
sự thanh khiết cho toàn bộ xã hội Nhật.
SỰ
TẬN TỤY CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN
Người
Nhật Bản đọc truyền thuyết cổ điển về sự khởi đầu
đất nước của họ trong "Biên Niên Sử Nhật Bản", tờ Nihoiigi,
và những "Hồ Sơ về Những Sự Kiện Cổ", tờ Kojiki. Họ
đọc Nữ Thần Mặt Trời, Amaterasu, cho người cháu xuống
làm vua đầu tiên tại các hải đảo. Đây là điều mà nữ
thần này nói với người cháu:" Ta nghĩ rằng đất nước
này chắc chắn thích hợp cho sự mở rộng nhiệm vụ thiên
giới để vinh quang có thể tràn đầy vũ trụ. Chắc chắn
nó là trung tâm của thế giới".
Cùng
sự đánh giá cao như vậy về xứ sở đã là sự quan tâm
đầu tiên của người dân Nhật. Họ tận tụy say mê với
những hải đảo đẹp đẽ của họ. Họ làm ruộng với lòng
kiên nhẫn vô bờ bến. Ho săn sóc vườn tược, công viên
và trang trại với sự tinh xảo dễ mến.
Các
Dân Tộc khác từ lâu đã trở nên quen thuộc với lòng trung
thành mãnh liệt của người dân Nhật đối với xứ sở của
họ, với đồng hương của họ, và với hoàng đế của họ.
Nó bắt nguồn từ cảm tính họ là con cháu của những vị
thần và xứ sở của họ là đất đai được các vị thần
chọn, và hoàng đế của họ là dòng dõi trực tiếp của
Amaterasu (Thái Dương Thần Nữ). Truyền thống này, thêm vào
sự kiện hàng nhiều thế kỷ, dân Nhật hầu như sống biệt
lập trên các hải đảo của họ nhiều thế kỷ, là nguyên
nhân chính của "tinh thần Nhật Bản"
Mỗi
một người dân Nhật đều quan tâm đến tất cả người
Nhật. Cái gì tốt cho toàn bộ nước Nhật cũng là cái mà
mỗi người dân Nhật mong muốn cho chính mình. Hạnh phúc của
dân tộc ảnh hưởng đến toàn thể. Hoàng Đế nhắc nhở
họ về dòng dõi thiêng liêng và trách nhiệm của họ đối
với quốc gia. Chính vì vậy mà người dân nhật hết sức
tận tụy với hoàng tộc trước khi Thế Chiến Thứ Hai chấm
dứt.
Lòng
trung thành của người Nhật là một đức hạnh cao đến mức
người quân nhân thường hy sinh thân mình không hề do dự.
Thực ra, đôi khi họ nhiệt tâm làm như vậy vì tin rằng linh
hồn của họ có thể giúp bảo vệ đất nước. Một phần,
đặt giá trị vào lòng can đảm và trung thành bắt nguồn
từ quá khứ phong kiến gần đây của Nhật Bản khi những
hiệp sĩ được giáo dục trở thành chiến sĩ can cường.
Dù chế độ phong kiến đã bị thay thế nhưng tinh thần ấy
vẫn còn truyền lại đến ngày nay. Trung thành và danh dự
vẫn là những thái độ thiêng liêng của người Nhật.
SẴN
LÒNG HỌC HỎI
Sự
quan tâm mãnh liệt đến văn hóa riêng của họ không ngăn
trở người Nhật học hỏi nơi người khác. Họ đã vay mượn
triết lý và đạo đức từ người theo Khổng Giáo, tôn giáo
và nghệ thuật từ người theo Phật Giáo, và kỹ thuật công
nghệ từ người Phương Tây. Nhưng khi sự trao đổi hàng hóa
và khái niệm diễn ra, Nhật Bản tiếp nhận chúng theo cách
riêng của mình. Trên đất Nhật, những thứ đó trở thành
Nhật Bản.
Về
tôn giáo, người Nhật học hỏi rất nhiều từ những gì
mà người theo Không Giáo và Phật Tử Trung Hoa có thể dạy
họ. Nhưng Thần Giáo vẫn còn là một tính cách ái quốc cao
của dân tộc Nhật. Có thời kỳ, Quốc Gia Thần Giáo -- hay
Đền Đài Thần Giáo -- được dạy tại các trường học
dưới hình thức nghi lễ và được điều hành bởi một ngành
đặc biệt của chính phủ. Mới đây việc này đã thay đổi,
và một số liên hoan theo mùa màng đã không còn được thực
hiện rộng rãi. Ngày nay, khi một người Nhật tự gọi mình
là Thần Giáo, có thể có nghĩa là người ấy là thành viên
của một trong số các giáo phái Thần Giáo. Hay có thể có
nghĩa là người ấy kính trọng và tôn thờ những truyền
thống quá khứ như "Con đường của các thần" ngay dưới
Phật Giáo hay những tôn giáo khác.
LÒNG
HÀO HIỆP CỦA CON NGƯỜI
Người
Nhật thấy đời sống rất tốt đẹp, và họ sung sướng
chấp nhận nó như thế. Họ không cố ý nghi ngờ điều đó.
Họ chấp nhận đời sống một cách vui vẻ hơn một số môn
đồ của một số tôn giáo. Ngay cả những người Phật Tử
tại Nhật Bản cũng không quá thiên về cái khổ của đời
sống. Người Thần Giáo cảm thấy "Ở Nhà" trong thế giới
này. Họ tin rằng các thần mong muốn sự sung sướng và hạnh
phúc của họ. Đời sống tốt đẹp và con người cũng tốt
đẹp. Làm sao có thể trái ngược lại được khi các thần
tạo ra họ?
Thần
giáo không có bản liệt kê các điểu răn và không có bản
điều luật luân lý phải theo. Hơn một trăm năm mươi năm
trước, một nhà học giả Nhật viết:" Chính là vì người
Nhật thực sự đạo đức trong việc thực hành nên họ không
cần đến lý thuyết đạo đức, và sự quan trọng hóa của
người Trung Hoa về lý thuyết đạo đức là do thực hành
không nghiêm của họ."
Một
người Nhật khác cùng thời vạch ra rằng con người được
tạo ra "bởi tinh thần của hai Thần Sáng Tạo (Izanagi và Izanami).
Cho nên tự nhiên là họ được phú cho kiến thức về những
gì họ phải làm và phải tránh. "Họ không cần phải bận
tâm với hệ thống luân lý ", ông viết thêm vào như vậy.
Vì
người Nhật cảm thấy con người thực sự tốt bụng, nên
họ không bao giờ lo lắng về tội lỗi. Con người có thể
gây lầm lỗi, lầm lỗi này có thể được gọi là "tội
lỗi", nhưng không phải là tràn đầy tội lỗi. Người Nhật
tôn thờ qua việc tặng lời cảm ơn hơn là kể lể nhược
điểm của mình và tìm cách xin tha thứ cho họ. Không ai dạy
người thần giáo nghĩ chính mình là "đồ giun dế trong cát
bụi".
Người
Thần Giáo không bao giờ quan tâm đến khái niệm kiếp sau.
Không có lời dạy nào về cuộc đời bên kia ngôi mộ, và
người Thần Giáo không cầu nguyện cho hạnh phúc tương lai.
Họ cầu nguyện nhiều hơn về những thứ rõ ràng như thực
phẩm, hạnh phúc, phúc lợi của quốc gia và bầy tỏ lời
cảm ơn. Dù Thần Giáo không nhấn mạnh đời sống sau khi
chết, thì Phật Giáo đã đáp ứng cho dân tộc Nhật. Dân
tộc Nhật Bản cũng như dân tộc Trung Hoa, thích phối hợp
giáo lý từ nhiều tôn giáo.
THẦN
Hầu
hết người Thần Giáo nói về "Thần". Đối với đa số người
Thần Giáo, có nhiều Thần và Nữ Thần, bày tỏ lợi ích
của con người và mọi mặt của thiên nhiên. Những nhà Thần
Giáo tri thức có thể nói về "thần thánh". Đối với họ,
tính thần thánh có trong mọi thứ hoàn toàn thiên nhiên vì
không có gì siêu nhiên. Đặc tính thiêng liêng này cũng ở
trong con người dù rằng con người không hiểu làm sao nó có
thể như thế. Sự tôn kính nhiều thần và hồn thiêng các
anh hùng, và những người nổi tiếng chỉ là công nhận tính
thần thánh hiện diện trong tất cả thảy đời sống.
Những
người chín chắn hơn trong Nhật Bản hiện đại tin tưởng
vào một Thần. Hay họ có thể giải thích điều đó như là
niềm tin vào một nguồn gốc vì đặc tính thần thánh của
toàn bộ đời sống. Nhưng Thần Giáo phát triển rộng lớn
nhờ niềm tin vào nhiều thần. Tài liệu từ năm 901 sau Công
Nguyên cho thấy ba nghìn ngôi đền tại Nhật Bản, có trên
ba nghìn thần được thờ cúng. Đến năm 1914 có trên 190,000
ngôi đền tại Nhật. Có hàng trăm ngàn người thăm viếng
các ngôi đền chính hàng năm. Những ngôi đền khác chỉ là
những ngôi đền gần đường ở xa quận lỵ.
Thái
Dương Thần Nữ, là trung tâm của sự thờ phượng Thần Giáo.
Người anh em, Thần Dông Tố, được tôn kính rộng rãi, và
Nữ Thần Thực Phẩm cũng vậy. Tất cả thần đều là dòng
dõi của cặp thần gốc đã sinh ra những hải đảo của Nhật
cũng như vô số các vị thần khác. Những vị thần này được
gọi là Izanagi, Bàu trời cha và Izanami, Đất Mẹ. Thần thoại
Nhật Bản đầy những chi tiết về chuyện sáng tạo, gồm
cả chuyện về Izanagi (Trời) ra lệnh cho Amaterasu (Thái Dương
Thần Nữ) trị vì Miền Thượng Giới. Từ nhiều năm, Thái
Dương Thần Nữ là biểu tượng của mọi thứ quý giá nhất
trong sự phát triển của dân tộc Nhật.
Khi
Thái Dương Thần Nữ phái người cháu trai trị vì Nhật Bản,
nữ thần này tặng cho người cháu ba báu vật thiêng liêng
nhất trong Thần Giáo. Đồ châu báu cho hoàng đế, được
để ở cung vua tại Tokyo, là những biểu tượng của sự
phục tùng và tính quyền quí. Thanh gươm, giữ tại đền Owari,
tượng trưng cho trí tuệ và công lý và tấm gương, để tại
ngôi đền Ise, tượng trưng sự ngay thẳng và thanh khiết.
Những người thần giáo tin rằng những huyền thoại và báu
vật này dùng để nhắc nhở họ về quyền lực thiêng liêng
được trao cho các hoàng đế dùng để trị vì.
THỜ
PHƯỢNG THẦN GIÁO
Từ
cuộc chiến tranh mới đây, đã có những thay đổi mạnh mẽ
trong đời sống và tập quán Nhật Bản. Không thể nào có
thể tiên đoán được những nghi lễ Thần Giáo cổ sẽ tiếp
tục ra sao vào những năm tới. Hiệp ước hòa bình ký kết
giữa Nhật và Hoa Kỳ và sự rút lui của những lực lượng
chiếm đóng có thể đặt lại tầm quan trọng trong văn hóa
vốn có của Nhật, hay có thể là không. Hoàng đế, bằng
sắc lệnh của chính mình, đã tuyên bố rằng Ngài không còn
được coi là dòng dõi Thái Dương Thần Nữ. Tuy vậy những
tập quán và cảm tưởng của thần dân trung thành Nhật có
thể đã có thể rõ ràng bị ảnh hưởng bởi lời tuyên bố
này.
Người
Nhật tiếp tục đi tới các ngôi đền có những thần và
nữ thần khác nhau, để cầu nguyện cho được mùa, thực
phẩm, hay sự thịnh vượng quốc gia. Họ tự tẩy uế theo
phong tục và chắp tay cung kính như người Phương Đông thường
làm. Rồi họ dâng lễ vật, tiền bạc, gạo, cởi giầy, và
vào phòng cầu nguyện.
Người
thần giáo không sử dụng hình ảnh của các thần mà sử
dụng biểu tượng của các thần. Trên những kệ thờ thần
có những bài vị hay những mảnh giấy ghi tên những vị thần
mà họ muốn tôn kính. Một ngọn đèn được đốt tại đấy,
và gia đình đặt hoa cùng một chút rượu vang hay bánh cốm
bỏng ở đó hàng ngày nếu có thể được. Những người
Thần Giáo trung thành cố gắng tổ chức nghi lễ cầu nguyện
ngắn trước bàn thờ thần mỗi ngày.
Những
thầy tu Thần Giáo, sống như thường dân, hướng dẫn các
buổi lễ chính thức trong những ngày lễ quan trọng. Họ không
thường xuyên thuyết giảng vào các buổi lễ hàng tuần. Họ
chịu trách nhiệm bảo vệ những đồ vật thiêng liêng trong
ngôi đền. Thường thường họ có một công việc khác ngoài
việc làm thầy tu.
Những
ngôi đền Thần Giáo có một cổng vào đặc biệt, gọi là
torri. Không ai biết chính xác làm sao mà cấu trúc hấp dẫn
này trở thành một phần của ngôi đền; cái nguyên thủy
đích thực của nó đã bị mất từ thời cổ. Chắc là nhiều
năm trước đây nó dùng để treo chim hiến tế cho Thái Dương
Thần Nữ. Tuy nó không còn dùng cho mục đích này, nhưng cái
cổng vào vẫn có ở lối vào tại mỗi ngôi đền Thần Giáo.
Đôi khi có một dãy cổng vào. Cổng vào là biểu tượng để
phân biệt của Thần Giáo.
CÁC
GIÁO PHÁI THẦN GIÁO
Những
ngôi đền Thần Giáo hay "nhà thờ" thấy ở các nước khác
không phải là một phần của Thần Giáo Quốc Gia mà là dạng
thức giáo phái Thần Giáo. Chúng ta có thể gọi chúng là giáo
phái. Chúng không được nhà nước hỗ trợ và không tùy thuộc
vào ân sủng của Hoàng Đế Nhật Bản. Những người Mỹ
gốc Nhật theo giáo phái này không thích đề cập đến những
phong trào này bằng cùng cái tên Thần Giáo.
Tuy
nhiên hầu hết các giáo phái, đưa vào giáo lý và nghi lễ
của họ nhiều yếu tố của Thần Giáo quốc gia cũng như
của Phật Giáo. Tại Nhật, mười ba giáo phái như vậy được
chính thức công nhận; nhưng có nhiều giáo phái khác không
được chính thức liệt kê. Nhiều trong những giáo phái này
áp dụng phương pháp giáo dục và truyền giáo của giáo phái
Cơ Đốc. Một số trong giáo phái tập trung việc thờ phượng
vào Thượng Đế chung toàn năng. Một số nhấn mạnh niềm
tin có tác dụng chữa lành bệnh.
Câu
trả lời tôn giáo về "tinh thần Nhật Bản" cổ vẫn còn
là một sức mạnh đáng kể trong đời sống tôn giáo của
thế giới ngày nay. Người Nhật đã tìm thấy sự thỏa mãn
sâu xa cho chính họ. Họ khiến những người khác nghĩ rằng
mình cũng có thể tìm thấy sự thỏa mãn tương tự bằng
cách hoàn toàn chấp nhận đời sống là như thế và hưởng
thụ những vẻ đẹp và sự kỳ diệu mà đời dâng hiến
cho những người đã bỏ thì giờ để quan sát và nghe ngóng.