CHƯƠNG
BA
TÔN
GIÁO TRUNG HOA
10.
LÃO GIÁO: LỐI SỐNG TỰ NHIÊN KHÔNG ÉP BUỘC
Trong
chừng mực chúng ta có thể nhớ, tin tức về Trung Hoa đã
là những tin về sự thay đổi cách sống của người dân:
nội chiến, chiến tranh quốc tế, cách mạng, phát triển chính
trị mới. Bao giờ những sự thay đổi như vậy cũng gây nhiều
tổn hại đến toàn bộ đời sống của người dân. Ở Trung
Hoa cũng như ở bất cứ nơi nào, tôn giáo bị bắt buộc phải
thay đổi. Nhiều truyền thống cổ và các lễ hội và các
khái niệm không còn được tôn trọng và tuân theo hay được
hiểu biết bởi người Trung Hoa ngày nay.
Nước
Trung Hoa cổ tương đối không bị đụng chạm bởi khoa học
hiện đại và những tiến bộ giáo dục cho đến đầu thế
kỷ thứ hai mươi. Tuy nhiên, nhiều thế kỷ trước, có một
nhà hiền triết tên là Lão Tử, nhà hiền triết này tin và
dạy rằng thế giới chuyển động theo kiểu siêu phàm phản
ảnh của sự vận hành nhịp nhàng và trật tự của thiên
nhiên. Lão Tử nói, toàn bộ trí tuệ và hạnh phúc cho con
người là con người phải tự mình thích ứng với trật tự
này và tự suy ngẫm về phản ảnh lối sống mà thế giới
này vận động.
Đời
sống và tư tưởng của Lão Tử đã ảnh hưởng sâu đậm
vào đời sống và tư tưởng của người Trung Hoa. Không có
Ngài thế giới sẽ nghèo nàn hơn. Những lời giáo huấn của
Ngài cùng với lời dạy của những đệ tử sau này của Ngài
tin tưởng như Ngài đã làm, tạo thành tư tưởng căn bản
của Lão Giáo. Tuy nhiên khi ta nhìn lại một cách thận trọng
vào quá khứ Trung Hoa -- vào khoảng 600 năm trước Công Nguyên
-- chúng ta chỉ thấy hình bóng mờ ảo nhạt nhòa của nhà
hiền triết, một nhà hài hước, một triết gia và một nhà
tiên tri. Hình ảnh của Lão Tử trở nên gần gũi với huyền
thoại. Tuy nhiên nhiều học giả cho rằng Ngài thực sự đã
sống. Chuyện kể rằng Đức Khổng Tử đã đến thăm Ngài
và hai triết gia này đã đàm luận với nhau. Lão Tử được
ghi nhận trong các sách được viết vào thế hệ sau thế hệ
Ngài. Theo truyền thống, chính Lão Tử được cho là tác giả
cuốn Đạo Đức Kinh, một cuốn sách nhỏ có sức hấp dẫn
mà nhiều cái Lão Giáo đã dựa vào.
Trước
hết Lão Tử bị thúc đẩy nói ra vì Ngài nhìn chung quanh Ngài
thấy nhiều người bối rối bởi những câu hỏi không được
trả lời về đời sống. Những câu hỏi nầy cũng không khác
nhiều với những câu mà bạn và tôi hỏi ngày nay. Giống
như mọi câu hỏi căn bản của con người, những câu hỏi
này được nhắc đi nhắc lại qua nhiều thế hệ. "Tôi là
gì? Đời sống của tôi là gì? Phải chăng tôi đang sống
cuộc đời đẹp nhất mà tôi có thể? Tôi sẽ ra sao? Làm
sao tôi có thể làm tốt hơn? Kết quả cố gắng làm tốt
hơn như thế nào?"
Người
Trung Hoa nhìn vào thế giới một cách lạc quan và khi họ hỏi,
họ hỏi bằng hy vọng và tin tưởng. Ho quan sát thấy thế
giới là chỗ tốt cho con người. Ta có thể tin cẩn vào thế
giới. Tất cả những kinh nghiệm trong các tiếp xúc hàng ngày
với thế giới cho họ thấy thế giới có trật tự và có
thể đáng tin cậy. Thiên nhiên không vân hành bằng ý thích
chợt nảy ra. Người Trung Hoa dường như cảm thấy họ "thuộc
về" thiên nhiên.
Tuy
nhiên Lão Tử nhìn vào những người chung quanh Ngài và thấy
một số người tranh đấu vì hạnh phúc mà không nhớ đến
các truyền thống đã dạy họ. Ngài thấy người dân cố
gắng thay đổi cái mà đời sống hiến dâng thay vì phải
chấp nhận nó. Và Ngài nói: "Bạn tìm kiếm sự thông thái,
tính tốt và sự bằng lòng. Những cái mà bạn cố gắng tìm
kiếm những thứ ấy lại là mù quáng và khờ dại. Bạn không
thể nào nhìn thấy sự thông thái là lòng tin, tính tốt là
chấp nhận và bằng lòng là tính đơn giản? Đó là đường
chuyển động của thế giới.
ĐƯỜNG
CHUYỂN ĐỘNG CỦA THẾ GIỚI
Vào
những ngày xa xưa hơn Lão Tử, con đường chuyển động của
thế giới được đặt tên là Đạo, nghĩa đơn giản là "con
đường" hay "đường đi". Nó được dịch là "thiên nhiên"
hay "con đường của "thiên nhiên". Đó là quỹ đạo mà vũ
trụ vận hành và có sự tồn tại. Con người là một phần
của vũ trụ. Khi con người hầu như là tự nhiên, họ chuyển
động theo luật tùy thuộc và tác động lẫn nhau trên khắp
thế giới. Nếu Đạo được phép tự do hành hoạt trong con
người thì mọi sự đều ở mức tốt nhất, vì Đạo có
bản chất hoàn hảo: quân bình toàn hảo, hòa hợp toàn hảo.
Chính là Đạo -- không có gì khác.
Đạo
là nguồn gốc của tất cả mọi thứ được sáng tạo ra.
Nó chịu trách nhiệm đưa tất cả mọi thứ vào sự tồn
tại, kể cả thánh thần Trung Hoa. Bản thân Đạo chính không
bao giờ được coi là thượng đế. Đạo là thực tế. Nó
có trước bất cứ một vũ trụ nào. Nó tạo ra tất cả cuộc
sống và tiếp tục giữ cuộc sống hành hoạt qua sự giải
phóng ra năng lượng của nó. Thăng trầm, thủy triều lên
xuống, tồn tại và suy tàn -- do sự luân phiên như vậy của
năng lượng Đạo, cuộc sống bắt đầu và tiếp tục.
Dù
vậy, Đạo không bao giờ bắt buộc con người phải hành động
theo
một đường lối nào đó. Đạo chỉ hành hoạt. Chỉ có vậy.
Đặt
tên Lão Giáo như vậy vì Lão Tử và các môn đồ của Ngài
khẳng định Đạo là con đường của đời sống. "Trở về
với thiên nhiên "là mục tiêu của họ -- "thiên nhiên" được
hiểu là con đường tự nhiên và thích hợp của mọi thứ.
Những người theo đạo Lão lúc phôi thai đã hoàn toàn tin
theo đường lối này đến mức tìm cách kêu gọi Trung Hoa
chấm dứt các nghi lễ, các tập tục của con người và cả
đến nền văn minh, vì đấy là kết quả của sự can thiệp
vào thiên nhiên.
ĐƯỜNG
CHUYỂN ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Những
người theo Đạo Lão lúc phôi thai thường đề cập đến
"Thời Đại Vàng Son" quá khứ khi con người sống trong hòa
bình và hòa hợp vì họ sống thiên nhiên, thoát khỏi tính
nhân tạo, giản dị -- nói tóm lại, người của Đạo. Những
thứ tốt đẹp mà con người tìm thấy đã bị mất khi thời
đại này qua đi. Con người chỉ có thể tìm lại chúng khi
họ trở về với tính đơn giản,và tính thiên nhiên hoàn
toàn là đặc điểm của Thời Đại Vàng Son.
"Thiên
nhiên" là chìa khóa của tất cả những câu trả lời của
người theo Đạo Lão về những vấn đề mà đời sống khiến
chúng ta hỏi. Điều thiện cao tột bậc nhất và hạnh phúc
chân thật của con người được tìm thấy do tuân theo lối
sống của toàn bộ thiên nhiên, Đạo. Khi người ta sống tự
nhiên, người ta thấy thoải mái trong nội tâm và có thể
chấp nhận những gì đời sống hiến dâng. Khi người ta có
tham vọng hay xông xáo, người ta mâu thuẫn với bản chất
thực sự của mình. Trong cuộc nội chiến tiếp theo với chính
mình, người ta đánh một đòn chí tử vào hạnh phúc có thể
có của mình.
Trong
khi Lão Tử bình tĩnh gợi ý là con người phải thư giãn và
chấp nhận thế giới nó là như thế, thay vì cố gắng thay
đổi nó, có nhiều người đã lớn tiếng không đồng ý.
Những nhà cải cách và triết gia, Đức Khổng Tử trong số
người này, đi khắp nơi và bảo những người nghe rằng con
đường duy nhất để đạt hạnh phúc và thịnh vượng là
đức hạnh. Khi mỗi người biết làm bổn phận của mình,
và làm tròn trách nhiệm của mình, thì đất nước và dân
tộc sẽ được phước lành. Họ cũng nói về thời đại
vàng son quá khứ khi hạnh phúc là một luật lệ hơn là một
ngoại lệ. Nhưng họ nói rằng giá trị của nó có thể được
thực hiện một lần nữa khi người dân biết cách đối xử
với nhau.
"Không
phải thế, không phải thế!" Những người theo Đạo Lão lúc
mới hình thành kêu lên. Đức hạnh, bổn phận -- chỉ đạt
được bởi những ai tự mình đi và làm những gì đến một
cách tự nhiên. Tại sao con người tranh đấu vì thiện tính?
Thiện tính tự nó đến khi tất cả luật lệ được quên
đi và nỗ lực chấm dứt. Không bao giờ đạt đức hạnh
được bằng cách tìm kiếm nó. Bổn phận chỉ có thể thi
hành khi bạn không cố gắng thi hành nó.
Lão
Tử hầu như không đồng tình với những nhà cải cách tiêu
biểu chỉ muốn thêm vào hết luật lệ này đến luật lệ
khác cho cách sống thích hơn. Ngài nói, "chỉ sau khi người
dân đã lầm đường lạc lối thì các nhà cải cách mới
kêu gọi, hãy tử tế, hãy ngay thẳng! tôi sẽ nói với bạn
cách làm". Khi một gia đình không yên ấm, cha mẹ bắt đầu
nói với con cái phải biết tôn kính và vâng lời. Điều này
cũng áp dụng cho các quốc gia, chỉ những lúc quốc gia rối
loạn, người dân mới lo lắng về lòng ái quốc.
Thiên
nhiên không bao giờ tranh luận về chiều hướng mà con người
làm. Thiên nhiên chỉ tiếp tục là thiện. Và lập luận nào
có thể thay đổi đường chuyển động của thế giới? Trọng
lực không bàn thảo hay năn nỉ với chúng ta, nó chỉ hành
hoạt. Bằng cách đó, thiên nhiên cho chúng ta thấy Đạo. Lão
Tử chỉ ra rằng Đạo không bao giờ ép buộc, thế mà không
có gì Đạo không hoàn thành. Chính xác là vì sự hoạt động
không ngừng, không tranh đấu, không ép buộc của nó, Đạo
là sức mạnh duy nhất.
Người
sống theo Đạo sẽ không bao giờ dùng sức mạnh, vì sức
mạnh đánh bại mục tiêu cao hơn của mình. Người muốn cố
gắng làm cho thế giới thành cái mình muốn sẽ tự mình làm
hại mình và những người khác trong mưu toan này. Ai khăng
khăng tranh đấu vì một điều gì đó liên quan đến cố gắng
của mình, chỉ mất gía trị của cái mà mình tìm kiếm. Như
vậy người ấy làm hại lý tưởng của mình, làm thất bại
mục tiêu của mình, và bị thất bại khổ sở.
Con
người học hỏi từ ao nước đục. Dù quấy lên bao nhiêu
cũng không thể làm nó trong lại được. Nhưng khi để mặc
nó yên, tự nó trở nên trong. Cũng như vậy đối với con
người và quốc gia. Những người cầm quyền đặc biệt phải
hiểu điều này. Có lần Lão Tử nói người trị vì dân chúng
giống như nấu một con cá nhỏ một cách nhẹ nhàng. Nấu
quá mức, quấy đảo nhiều, cá sẽ rời thành từng miếng
nhỏ hay mất hương vị của nó. Cũng như vậy với những
người được cho là đi dạy người khác, những người ấy
phải nắm khái niệm này. Người nào nghĩ rằng mình biết
nhiều về người khác có thể nghĩ rằng mình khôn ngoan. Nhưng
chỉ khi người nào biết mình mới nắm được sự thực và
điều quan trọng.
CON
NGƯỜI CÓ ĐẠO
Lão
Tử và Trang Tử, một người theo Lão Giáo nổi tiếng sau này
(vào khoảng 350-275 trước Công Nguyên), đã miễn cưỡng tuyên
bố, Chánh Đạo không phải là Đạo có thể bày tỏ bằng
lời. Không thể miêu tả con người của Đạo theo nghĩa đen.
Tuy nhiên người ta thúc giục hai vị này định rõ nghĩa. Và
Lão Tử đã vẽ một bức tranh bàng lời:
Đó
là người thận trọng, giống như người vượt sông vào mùa
đông;
Đó
là người do dự, giống như người sợ hãi người láng giềng;
Đó
là người nhũn nhặn, giống như người khách;
Đó
là người mềm mỏng, giống như băng tuyết sắp sửa chảy.
Người
theo Lão Giáo cảm thấy rằng miêu tả như vậy của người
đĩnh đạc và thanh thản như vậy là rất đúng, không phải
vì Lão Tử hay người nào đó đã nói như vậy -- mà là vì
chúng phản ảnh bản chất của sự vật, Đạo.
Một
hôm Trang Tử đang câu cá thì một vài viên quan to ở tỉnh
Ngài đến thăm Ngài. Trong khi Ngài tiếp tục câu cá, họ tâng
bốc Ngài về sự thông thái của Ngài và đề nghi Ngài một
chức quan cao trong chính phủ, chức vụ này sẽ làm cho nhiều
người thừa nhận và tôn kính Ngài. Vẫn tiếp tục câu cá
Trang Tử hỏi các vị có biết con rùa thần đã chết trên
ba nghìn năm mà hoàng tử giữ nó chắc chắn trong một cái
hòm trên bàn thờ của tổ tiên. Rồi Ngài hỏi tiếp, "Quý
vị có nghĩ rằng con rùa ấy thích chết và để cái xác còn
lại của nó được tôn sùng hay thích sống và ve vẩy cái
đuôi trong ao bùn lầy?"
Họ
trả lời, "Thích sống và ve vẩy cái đuôi trong ao bùn lầy."
Trang
Tử nói, "Quý vị đi theo con đường của Quý vị, còn tôi,
tôi cũng thích ve vẩy cái đuôi trong bùn lầy ở cái ao của
tôi"
CÁI
GÌ ĐÁNG GIÁ? BA KHO BÁU
Vậy
thì cái gì là có giá trị? Và vì cái gì người ta nên nỗ
lực? Một người không thể chỉ ngồi khoanh tay và chờ đợi.
Vì khi sống trong một nhóm người, ta phải nghĩ đến người
khác. Những người theo Lão Giáo lúc đầu đã phải đương
đầu với khó khăn đời sống hàng ngày. Họ biết họ phải
sống theo triết lý của họ, cũng như phải suy nghĩ về triết
lý này. Họ quyết định có ba thứ -- ba kho báu, họ gọi
như vậy- đó là hướng dẫn tối thượng của con người
đối với Đạo. Ba kho báu này là yêu thương, trung dung và
khiêm nhường. Làm sao ba đức tính này giúp người có Đạo
sống trong thế giới này? "Hãy thương yêu, ta có can đảm
này; hãy trung dung ta có dư dật; không phiêu lưu đi trước
thế giới ta là người đứng đầu các quan".
Người
thấy Đạo trong chính mình, sẽ thấy Đạo nơi người khác
và trong tất cả thế giới. Chính người này thấy phúc lợi
thực sự của chính mình tốt đẹp cho tất cả mọi người.
Điều thiện cho tất cả mọi người cũng là điều thiện
cho chính mình. Đó là điều mà Lão Tử muốn nói về hãy
thương yêu. Người có Đạo sẽ hành động bằng thiện tính
đối với tất cả con người, đối với những người được
gọi là tốt cũng như đối với những người được gọi
là xấu, thậm chí đem tình thương đối với hận thù to lớn.
Nếu không làm được điều này thì dù ta có xả trí hận
thù đứng đắn thì một số hận thù hay kết quả của nó
vẫn tồn tại. "Hãy thương yêu, ta sẽ trở nên can đảm."
Con người có Đạo tin thế giới, và thế giới có thể được
giao phó cho người ấy.
Trong
tất cả tư tưởng và hành động, con người có Đạo phải
rất điều độ. Thái quá về bất cứ hướng nào cũng là
những chướng ngại cho sự vừa lòng. Người có Đạo không
quyết định trước sẽ đi theo đường lối hành động nào
trong những hoàn cảnh nhất định. Người có Đạo cũng không
quyết định trước là sẽ không tự mình hành xử theo một
đường lối nào đó. Người có Đạo bao giờ cũng nhớ rằng
bất cứ cái gì nảy sinh ra khi nó là cách hành động hoặc
suy nghĩ đơn giản nhất và tự nhiên nhất thì đó là đường
lối phải theo. Theo chiều hướng đó, những hành động của
người có Đạo bao giờ cũng đầy đủ và bao giờ cũng đúng.
"Hãy điều độ, ta sẽ dư dật".
Lão
Tử và các đệ tử của Ngài không bao giờ tìm địa vị
cao trong cơ quan chính phủ, vì làm điều này trái ngược với
niềm tin của họ. Ta không thể giúp người bằng cách cố
gắng chỉ huy những hành động của họ. Và họ chỉ vạch
ra cách ta có thể đạt được mục tiêu tốt hơn bằng cách
tự mình giữ mình ở một địa vị tầm thường. Trong thế
giới của chúng ta không có chỗ cho một số người vượt
xa người khác. Chỉ có chỗ cho tất cả sống một cách tự
nhiên và tương trợ lẫn nhau. Không để cho ai tìm kiếm lợi
ích riêng tư hay thắng lợi cá nhân.
Thiên
đường bất diệt, trái đất trường cửu.
Làm
sao chúng lại như vậy? đó là vì chúng không nuôi nấng đời
sống của chính chúng;
Đó
là lý do tại sao chúng sống lâu.
Cho
nên người Hiền tự đặt mình vào địa vị tầm thường;
nhưng bao giờ cũng ở hàng đầu,
Ở
ngoài thời cuộc; nhưng luôn ở đấy.
Không
phải chỉ vì người Hiền không tranh đấu cho bất cứ cứu
cánh riêng tư nào.
Mà
là tất cả cứu cánh cá nhân có được hoàn thành không?
Những
đặc tính này là những kho báu không bị chôn vùi ở một
nơi nào sâu đến mức cần có thầy hoặc bạn hay triết gia
đào lên cho chúng ta. Những kho báu này được tìm thấy khi
chúng ta trở nên tỉnh thức về những điều này mà chúng
ta thường không lưu tâm đến trong bản chất sâu xa của chúng
ta. Chỉ cần bóc đi những lớp sợ hãi và thói quen và những
khát vọng nông cạn, chúng ta sẽ tìm thấy những kho báu ấy.
Thiếu những đức tính ấy cho chúng ta thấy một người bị
ép buộc, không thiên nhiên và không hạnh phúc.
TÔI
PHẢI LÀM GÌ?
Bổn
phận phải thi hành, không phải vì người ta cảm thấy có
bổn phận phải thi hành, mà nhiều hơn là vì không cảm thấy
phải thi hành. Người có Đạo tuân theo việc đời tới mức
cần đòi hỏi nhằm làm cho mình ít bị khó khăn nhất trong
cách sống hòa hợp với Đạo. Rõ ràng là người ấy không
thể sống hòa hợp nếu lúc nào cũng mưu toan tránh trách nhiệm
và lật đổ chính quyền và thể chế. Cũng rất rõ ràng là
người ấy không sống hòa hợp nếu luôn luôn trù tính giành
lấy phần lớn trách nhiệm và cải cách hay củng cố những
thứ chung quanh mình. Thế giới giống như nước xuýt lắm
thầy nhiều ma. Người khôn ngoan từ chối không thêm gia vị
vào hay khuấy nó lên. Người ấy thích đợi loại kết hợp
thích ứng và tự nhiên.
Nhưng
làm sao chúng ta có thể chỉ ngồi đợi để sự việc xẩy
ra mà không hành động gì để giúp đỡ hay cản trở? Rất
khó để làm nhưng cũng đơn giản thôi.
Nó
cũng đơn giản và khó khăn như bải hoải. Trang Tử đưa ra
lời khuyên:
Người
ta cảm thấy một cảm giác vui thích trước khi mỉm cười,
và mỉm cười trước khi nghĩ đến cách nên mỉm cười. Hãy
cam chịu chuỗi sự việc đúng.
Thế
giới này không phải của chúng ta để mà liều. Thế giới
này là của bạn để sống và hiểu biết. Một hòa âm không
sinh ra những nốt nhạc ngang tai, vang lên một mình. Nó sinh
ra bằng những nốt nhạc nhũn nhặn, mềm dẻo hòa hợp một
cách tự tin và thanh thản.
Trang
Tử có lần nói một câu chuyện về một người bắt đầu
cuộc sống độc lập chứ không sinh ra niềm tin vào Đạo.
Anh ta quá sợ hãi cái bóng của mình và không thích tiếng
bước chân mình đến nỗi quyết định bỏ trốn chúng. Tuy
nhiên, anh ta càng di chuyển thì lại càng nhiều tiếng bước
chân. Và mặc dù chạy thật nhanh, anh ta không bao giờ có thể
bỏ xa bóng của mình. Cho nên anh ấy nghĩ mình chạy quá chậm.
Anh ta chạy hết sức nhanh và không nghỉ. Kết quả anh ta yếu
đi và cuối cùng thì chết. Anh ta không biết rằng có thể
làm mất bóng mình trong bóng râm và chấm dứt tiếng bước
chân bằng cách đứng nguyên một chỗ. Quả thực anh ta khờ
dại. Trang Tử nói, "Bất hạnh cho những nhà cải cách và
luân lý đi thuyết giảng về sự trong sạch và lòng tốt là
họ chạy trốn cái bóng của chính họ".
CÁI
GÌ ĐÚNG? CÁI GÌ THẬT?
Những
người theo Lão Giáo nói rằng, khi ta thực sự ngưng không
phân tích nó, làm sao ta có thể đòi đưa ra phép tắc về
cách sống tốt? Làm sao ta có thể cảm thấy đủ tin tưởng
vào kiến thức của riêng mình để làm một việc như vậy?
Người tự phụ làm ra vẻ biết nhiều chắc chắn chỉ là
vì cái tôi của mình. Người thật sự khôn ngoan là người
không biết mình khôn ngoan. Suy nghĩ mà chúng ta biết, khi thực
sự chúng ta không biết, là chứng bệnh đặc biệt mà mọi
con người đều mắc phải. Chỉ khi chúng ta trở nên chán
ngán tính kiêu ngạo và gian dối như vậy, chúng ta mới có
thể chữa cho mình khỏi bệnh.
Mong
mỏi giúp người làm việc này, Trang Tử thường sử dụng
một chi tiết hài hước dễ hiểu. Ngài kể một câu chuyện
một lần Ngài mơ như thế nào khi là một con bướm bay lượn
vui chơi đó đây. Ngài không còn ý thức mình là con người
nữa. Rồi đột nhiên tỉnh dạy và thấy mình nằm dài trên
giường, vẫn là một con người. Tuy nhiên rồi Trang Tử tự
hỏi mình, "phải chăng tôi là con nguời mơ thành bướm hay
bây giờ tôi là con bướm mơ thành con người?"
Cái
gì đúng? Làm sao tôi biết được đó là điều tôi biết?
Đó là những câu hỏi không thể trả lời dứt khoát được
bởi người thực sự khôn ngoan, dù rằng có nhiều nhà hiền
triết tự cho mình là khôn ngoan đã đưa ra câu trả lời.
Tất cả câu trả lời tùy thuộc vào thời gian, nơi chốn
và hoàn cảnh. Người có Đạo không màng tới bản liệt kê
câu hỏi; không lưu ý đến qui tắc hành xử; vượt lên luân
lý và đạo đức. Người có Đạo không phục tùng quyền
uy bên ngoài thuộc bất cứ loại gì. Họ chỉ nghe theo bản
chất thiên nhiên sâu xa của chính mình. Làm như vậy họ không
những tìm ra chân lý mà còn sống đúng chân lý. Vì trong bản
tính sâu xa nhất của mình, Đạo đang hoạt động rõ ràng
và mạnh mẽ. Không đi khỏi cửa mà người có Đạo vẫn
có thể biết toàn bộ thế giới.
Những
người tiền phong của Lão Giáo đã nói những lời như vậy,
họ không thích nói chút nào. Họ biết những ấn tượng về
cuộc đời của họ không thể truyền đạt bằng lời. Những
ấn tượng của họ chỉ có thể hiểu thấu hoàn toàn bởi
những ai chia sẻ những ấn tượng ấy bằng kinh nghiệm của
chính họ. Mỗi người chúng ta có lúc thất bại khi định
đưa những cảm nghĩ sâu xa nhất hay trực giác của mình thành
lời. Vào những lúc như vậy, chúng ta có thể diễn tả bằng
thi văn, bằng âm nhạc, hay một dạng thức nghệ thuật khác.
Đó cũng đúng như vậy đối với người theo Lão Giáo. Nếu
chúng ta muốn hiểu họ, chúng ta phải nhận thức là chúng
ta đang đề cập đến thi văn về những ấn tượng. Những
lời nói không có nghĩa được hiểu theo nghĩa đen, vì lời
nói không thể chuyển tải những cảm tưởng một cách đầy
đủ. Nhưng những lời của Lão Giáo có nghĩa phải được
hiểu một cách nghiêm túc.
LÃO
GIÁO, SỰ SÙNG BÁI ĐẠO LÝ
Sự
miễn cưỡng dùng lời làm phương tiện cho cảm nghĩ của
họ không phải không đúng chỗ. Hầu như lời nói được
thốt ra hay những tín hiệu được vẽ trên giấy, khi nhược
điểm của lời bộc lộ ý tứ của người nói và người
viết. Người ta hiểu lời theo nghĩa đen, đi theo chúng đến
từng chi tiết, giống những qui tắc mà những người Lão
Giáo lúc phôi thai chế nhạo như thế. Bám níu vào những miêu
tả về người có Đạo, người ta quên mất sự hòa hợp
bên trong đã được mô tả lúc đầu. Nhớ "ba kho báu", người
ta quên việc tìm chúng bị vùi lấp trong chính mình. Cố gắng
theo Lão Tử và Trang Tử, người ta quên con đường để hiểu
Đạo.
Điều
này không đáng ngạc nhiên chút nào. Người ở thời thời
Lão Tử chưa bao giờ thực sự bỏ tính dị đoan do sự bầy
tỏ của Ngài hay của bất cứ đạo sư nào. Sự đòi hỏi
của họ đầy những lo âu hàng ngày về công việc, bè bạn
và gia đình. Thật dễ chịu và yên lòng khi xoa dịu những
linh hồn lúc nào cũng hiện diện ở mọi nơi xung quanh họ.
Những người này không có thì giờ, giáo dục, hay ham thích
suy nghĩ tìm tòi về đời sống. Hầu hết mọi người, mọi
nơi, và ở mọi thời đại, sống một cuộc đời không nghĩ
sâu xa về cuộc đời.
Tuy
vậy, hầu hết mọi người đều kính trọng những người
suy nghĩ sâu xa, và đặc biệt là một ít những nhà tư tưởng
nổi tiếng mà những lý tưởng của những người này hấp
dẫn họ như một phần quan trọng của những gì phổ biến
là đúng. Thường thường, vì lòng tôn trọng, họ đâm ra
tôn kính và rồi, hầu như không cảm thấy, sùng bái. Vì vậy
người ta sùng bái Lão Tử. Những thế hệ sau này coi Ngài
như thánh. Họ quên mất là hạnh phúc mà Lão tử nói phải
đạt được bằng quá trình mà Ngài đi theo -- phù hợp với
chiều hướng của mọi sự -- Đạo. Dường như họ nghĩ có
con đường tắt đi đến sự toại nguyện mà Lão Tử đã
trải nghiệm.
Dần
dà qua nhiều năm, tự biết mình và kiến thức đời sống
đã là những mục tiêu của Lão Giáo bị bỏ lại đằng sau.
Chưa bao giờ người theo Lão Giáo phát triển mạnh mối quan
tâm chính của họ nằm trong sự xua đuổi lo âu và phiền
muộn. Đúng, những người theo Lão Giáo lúc phôi thai cũng
đã muốn điều này, nhưng là sản phẩm phụ của sự hòa
hợp với bản chất của sự vật. Bây giờ người theo Lão
Giáo mong muốn biến hạnh phúc thành một việc dễ dàng hơn.
Và họ bắt đầu đưa ra linh đơn, tiên dược và nghi thức
ma thuật nhằm giúp đạt được việc đó.
Lão
Giáo trở thành sự tìm tòi linh đan thần diệu, phương thuốc
chữa khỏi tất cả mọi bệnh tật, và kéo dài đời sống
thảnh thơi. Những người theo Lão Giáo lúc phôi thai trước
hết rút khỏi cuộc sống giả tạo và không thiên nhiên nhằm
hiểu biết thực tế. Những thế kỷ sau này nối tiếp bởi
những người theo Lão Giáo ẩn dật trước thực tế nhằm
đi theo những tập tục dị đoan mà họ hy vọng sẽ thoát
khỏi được bất hạnh. Những người Lão Giáo lúc phôi thai
tán dương kiến thức và sự hiểu biết về Đạo, tìm cách
hòa hợp với tính chất của mọi sự. Những người theo Lão
Giáo sau này cố gắng can thiệp vào tiến trình thiên nhiên
để đạt bất tử và thoát khỏi lo lắng.
Những
người theo Lão Giáo khác, thất vọng về đời sống này trở
thành người sống ẩn dật, sống chờ chết, theo điều mà
họ tin rằng sự giải thích đúng giáo lý của Lão Tử là
"không làm gì cả". Những người này chỉ có một số ít,
số đông quần chúng bám vào ý nghĩa bình dân hơn của Lão
Giáo -- dị đoan và ma thuật. Những người theo Lão Giáo chấp
nhận Đạo của họ là nguồn vui mà lúc này họ tin và là
niềm hy vọng cho họ trong tương lai sau khi chết.
Lão
Tử dạy rằng con người không nên lo lắng hay phục vụ quỷ
thần mà nhiều người tưởng rằng quỷ thần là tất cả.
Thay vì, con người nên nghiên cứu để biết các chiều hướng
của vạn vật. Không có gì có thể mang lại từ sự thờ
phượng ngu tối và hãi hùng những quỷ thần như vậy. Người
có Đạo không bị khó khăn gì bởi những quỷ thần tốt
hay xấu. Những người làm ma thuật cố gắng bắt thiên nhiên
làm theo ý muốn của mình. Và sức mạnh không bao giờ thành
công. Thiên nhiên sẽ dạy cho họ điều này.
Nhìn
vào cách sống hiện tại, chắc chắn Lão Tử rất đau buồn
là điều đó đã đi đến chấm dứt những gì mà Ngài đã
dạy. Ngài có thể có đầy cảm giác vô ích, điều có thể
xẩy đến với bất cứ người đề xướng nào nhìn vào những
gì đã phát triển do công lao của mình. Đạo, với tư cách
là người khai sáng, đầy những thứ mà Ngài coi là ít đáng
làm.
Tân
Lão Giáo không thể tồn tại như một tôn giáo có hiệu quả,
cho dù cựu Lão Giáo cổ xưa đã không tồn tại lâu dài. Dần
dần, những người bị lôi cuốn vào tư tưởng Lão Giáo trở
nên chán nản. Những người đi tìm sự tốt đẹp của xã
hội loài người quay về với Đạo Khổng đưa ra sự giúp
đỡ trực tiếp và thực tiễn trong vấn đề đó. Những người
thích mặt thiền định của Lão Giáo, bắt đầu nghiên cứu
Phật Giáo. Và Lão Giáo cổ điển được dạy bởi Lão Tử,
thực tế đã ngừng tồn tại
Tôn
Giáo của một người Trung Hoa bình thường ngày nay là một
sự pha trộn nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau. Vai Trò
của Lão Giáo trong sự pha trộn này đã là một khía cạnh
vô tư và vui vẻ trong đời sống dân tộc. Hầu hết những
ngày lễ tôn giáo, với những buổi lễ vui tươi bắt nguồn
từ Lão Giáo ở quá khứ. Những buổi lễ này gồm có những
cuộc lễ về sinh nhật đầy ý nghĩa -- nhất là sinh nhật
của các bé trai -- hôn lễ, sự ra đời của đứa trẻ, và
về một số mùa màng trong năm. Bây giờ có một nhóm thầy
tu được huấn luyện để điều hành những người tự gọi
mình là người theo Lão Giáo.
Đạo
Lão của Lão Tử và Trang Tử sống hầu như dựa vào những
thứ mà nó tiến dẫn cho những tôn giáo khác mạnh hơn và
tồn tại lâu hơn. Khổng Giáo gộp niềm tin Lão Giáo vào lòng
tốt căn bản của con người. Phật Giáo tại Trung Hoa vốn
đã nhấn mạnh tầm quan trọng về hiểu biết nội tâm, được
củng cố thêm và thay đổi một chút theo tôn giáo địa phương.
Với tư cách là một triết lý tôn giáo, Lão Giáo đã phai,
nhưng nó đã gửi đi nhiều sự hiểu biết rằng đời sống
nội tâm của mình là đời sống quan trọng.
11.
KHỔNG GIÁO: LỐI SỐNG HÒA HỢP VÀ KHUÔN PHÉP
Huyền
thoại kể rằng khi Lão Tử đã rất già thì có một thanh
niên học rộng ở tỉnh lân cận đến thăm. Người thanh niên
trẻ này, đã bỏ hầu hết ngày tháng của mình vào việc
nghiên cứu, đến để hỏi một số câu hỏi. Giống như Lão
Tử, người thanh niên này quan tâm đến phẩm chất đời sống
tại Trung Hoa. Anh ta cũng tin rằng lùi lại "những ngày xưa
cũ tốt đẹp" của thời đại vàng son mà người ta đã có
đời sống tốt đẹp hơn và xứ sở này nói chung sung túc
hơn.
Người
thanh niên trẻ tuổi này là Khổng Tử, và Ngài đã tiến tới
niềm tin này qua con đường nghiên cứu và tìm tòi những tài
liệu cổ của Trung Hoa. Khi Ngài thu thập và giải thích những
tác phẩm kinh điển, Ngài đã tìm ra điều được coi là manh
mối của đời sống hạnh phúc hơn ở những ngày ban sơ.
Để thực sự hiểu triết lý Khổng Tử, chúng ta vẫn phải
quay về với những bình luận của Ngài về những tác phẩm
kinh điển này. Những sách văn tuyển, các câu chuyện về
Khổng Tử và những lời bình luận của Ngài về tình trạng
đời sống cũng nói về những đề xuất vì lợi ích cho người
đồng hương của Ngài.
Cả
Lão Tử lẫn Khổng Tử đều quan tâm đến những yếu điểm
xã hội và luân lý của thế hệ các Ngài. Lão Tử vấp phải
sự thách thức của lối sống có quan điểm căn bản là những
thể chế và phong tục vào thời Ngài không thiên nhiên, do
đó cần phải tránh... Khổng Tử, một người bảo thủ thực
sự, dạy rằng điều tốt nhất trong quá khứ phải được
gìn giữ và cải tiến cho thích đáng. Trong quá khứ có chìa
khóa cho hiện tại và tương lai. Ngài không tìm cách thiết
lập một tôn giáo mới hay một hệ thống đạo đức mới.
Khổng
Tử cũng đối đầu với câu hỏi căn bản mà Lão Tử quan
tâm. "Đời sống là gì? Làm sao tôi có thể sống hòa hợp
tốt nhất trong thế giới này? Làm sao tôi có thể sống một
cuộc đời hạnh phúc? Tôi là gì?" Một phần câu trả lời
Khổng Tử quay về với thiên nhiên và Đạo cũng như Lão Tử
đã làm. Ngài quan sát thấy tất cả các bộ phận của thiên
nhiên hoạt động hòa hợp với nhau. Ngài khẳng định con
người có thể học từ thiên nhiên. Bằng cách theo con đường
của thiên nhiên và sự hòa hợp, con người có thể làm điều
tốt nhất mà con người có thể làm được trong thế giới
này.
Hòa
hợp là lý tưởng của Khổng Tử, cũng là lý tưởng của
Lão Tử. Khác biệt giữa hai người ở chỗ nào? Trước hết
là cá tính của hai người khác hẳn nhau. Trong những vấn
đề mà hai vị phải đối đầu, tính khác nhau về quan điểm
quyết định sự khác biệt trong cách giải quyết mà họ đưa
ra. Trong khi Lão Tử có khuynh hướng là "cá nhân chủ nghĩa",
thì Khổng Tử tin rằng toàn bộ trách nhiệm của con người
là xã hội. Con người không phải là người sống tách khỏi
đồng loại. Cho nên hòa hợp đối với con người có nghĩa
hòa hợp với những người khác. Lão Tử tin tưởng rằng
trách nhiệm của con người là phải hiểu mình và phải trực
tiếp hướng mình vào hòa hợp với Đạo. Nhưng Đức Khổng
Tử tin rằng trách nhiệm của con người là cùng cộng tác
với nhau và thi hành nhiệm vụ mà xã hội kỳ vọng ở nơi
họ. Dĩ nhiên sự cộng tác như thế bám chắc vào Đạo, nhưng
trình độ kinh nghiệm của con người lại là phương tiện
qua đó con người bầy tỏ họ thống thuộc về vũ trụ. Khi
người ta phát triển được khả năng hòa hợp với những
người đồng loại, thì họ có thể hiểu được sự hòa
hợp của vạn vật.
CẦN
PHẢI CÓ LUẬT LỆ CHO CUỘC SỐNG
Khổng
Tử thấy không phải tất cả mọi người đềụ cư xử một
cách cộng tác và giúp đỡ lẫn nhau. Điều này, đối với
tâm trí thực tiễn của Khổng Tử, có nghĩa đơn giản là
họ cần một số tiêu chuẩn nhất định. Trong những tác
phẩm của Ngài, Khổng Tử nhấn mạnh đến những tiêu chuẩn
như vậy, Ngài nhắc lại, và giải thích những luật lệ truyền
thống cổ của xã hội Trung Hoa. Ngài thấy không cần thêm
những luật lệ mới. Nhiệm vụ của Ngài như Ngài đã dự
tính là soạn thảo và truyền đạt cho hậu thế những tập
tục và cách cư xử trước đây của xã hội Trung Hoa. Ngài
không viết điều gì mới, vì Ngài tin tưởng và trân quý
tổ tiên.
Tại
sao những luật lệ đó lại cần thiết? Lúc đầu tất cả
mọi luật lệ đều nảy sinh do nhu cầu của con người. Đây
là chiều hướng mà tất cả những luật pháp có ích ra đời.
Có những vấn đề khi cùng chung sống, và những luật lệ
được soạn ra để giải quyết vấn đề. Ở đâu, có nhiều
người chung sống với nhau thì ở đó có nhiều vấn đề
hơn những nơi ít người. Chính quyền của một thành phố
lớn phức tạp hơn chính quyền của một ngôi làng nhỏ nhiều.
Trung Hoa đã có rất nhiều người. Nhờ có Khổng Tử Trung
Hoa đã thu thập nhiều luật lệ. Tất cả những luật lệ
này nhằm làm cuộc sống suông sẻ hơn. Những luật lệ này
không bị ép buộc như luật lệ giao thông. Những luật lệ
này giống phép xã giao hơn.
Luật
lệ có nhiều ý nghĩa hơn khi nó rõ ràng rành mạch. Người
thích sống trong một xã hội có trật tự cảm thấy thoải
mái hơn khi luật lệ xã hội có nội quy rõ ràng và khi chúng
định rõ thời gian và nơi chốn. Cứ thế, qua nhiều năm,
những người theo Khổng Giáo coi trọng nhiều bản liệt kê
luật lệ đặc biệt bao hàm mọi thứ từ chào hỏi và trò
chuyện với bạn bè tới lễ lạy tổ tiên. Y phục và đàm
luận được qui định. Cả đến tư thế và bước đi cũng
được liệt kê, cho nên không ai cố gắng thành thật mà lại
có thể không làm được điều phải. Đi theo những luật
lệ này chứng tỏ ham thích thực sự cộng tác với người
đồng hương của mình.
CÁCH
SỐNG HÒA HỢP VỚI NGƯỜI KHÁC: QUÂN TỬ
Để
cho người dân biết họ phải sống ra sao, Khổng Tử đưa
ra mô hình "Người Quân Tử" hay một người cao quý hoặc sang
trọng. Khổng Tử gọi người đó là "sang trọng" hay quân
tử vì Ngài có niềm tin là coi những nhà cầm quyền là bậc
thầy. Tuy nhiên, bất cứ ai vào bất cứ lúc nào cũng có thể
sống như một người Quân Tử.
Người
Quân Tử phát triển trong nhân cách của mình. Năm Đức Hạnh
Kiên Định (Ngũ Thường) mà người ấy rèn tập cho đến
khi chúng tự nhiên như hơi thở. Làm điều phải là một phần
không thể tách rời của người quân tử. Khi Khổng Tử nói
về chính Ngài rằng chẳng phải cho đến khi Ngài bẩy mươi
tuổi Ngài mới đi theo tiếng gọi con tim mà vẫn không vượt
qua ranh giới của lẽ phải, có lẽ Ngài quá khiêm tốn hay
rất nhún nhường. Tuy nhiên, người theo đạo Khổng chân chính
dành thì giờ cần thiết tạo nếp sống theo lẽ phải thành
thói quen đến mức không ngưng nghỉ nghĩ đến việc làm điều
phải.
(1)
Thái đô chính đáng (Nhân). Đức hạnh thứ nhất trong Năm
Đức Hạnh Kiên Định là thái độ người Quân Tử mong muốn
hòa thuận với người khác. Người Quân Tử biết không thể
làm tròn vai trò của mình trong đời sống trừ phi cộng tác
và sẵn lòng giúp đỡ. Thái độ chính đáng biểu lộ qua
hạnh kiểm. Con người có mầm mống thái độ như vậy ngay
trong bản thân mình, nhưng nó phải được giúp phát triển.
Đôi khi thái độ đức hạnh này được coi là phép tự chủ
bên trong.
(2)
Thủ Tục Chính Đáng (Lễ). Đức Hạnh Kiên Định thứ hai
là thủ tục thích đáng. Người có một tâm hồn cao thượng
đã tiến hành nghiên cứu về nguyên tắc hạnh kiểm. Người
ấy biết cách áp dụng chúng vào từng sự việc xẩy đến.
Người ấy biết tất cả phép tắc xã giao, những phép tắc
này đưa ra cái mà mỗi hoàn cảnh xã hội qui định cho một
người có lòng nhân ái đầy đủ. Người ấy biết tất cả
những nghi lễ và nghi thức tập trung vào việc tôn thờ tổ
tiên. Người ấy biết cách ngồi, cách đứng, cách nói chuyện,
cách đi và cách biểu lộ diện mạo sắc thái của mình trong
mọi trường hợp. Tuy nhiên, những nghi thức và thủ tục
này không giá trị nếu không có một thái độ thích đáng.
"Người không có lòng nhân ái trong tâm, thì làm gì với những
nghi lễ?"
(3)
Kiến Thức Chính Đáng (Trí). Đức Hạnh Kiên Định thứ ba
là kiến thức. Người Quân Tử là một người hiểu biết,
vì con người phải được giáo dục nhằm ứng phó một cách
đứng đắn. Mục tiêu của người theo Khổng Giáo là phát
triển dần dần những phép tắc đã thuộc lòng thành thói
quen. Những đề tài dạy người ta sửa chữa thói quen tinh
thần là lịch sử, văn chương, và bổn phận công dân, đó
là những cái hình thành những tác phẩm kinh điển Trung Hoa.
Người Quân Tử đặt kế hoach giáo dục của mình gồm tất
cả những thiết yếu như vậy. Qua nhiều thế kỷ, những
tác phẩm kinh điển Trung Hoa là nền tảng giáo dục tại Trung
Hoa. Thời đại tiên tiến đã thay vào những đề tài khác,
nhưng người theo Khổng giáo vẫn dành cho các tác phẩm Cổ
Điển một sự kính trọng.
Khi
Khổng Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, Ngài
không đề xuất khái niệm mới. Ngài chỉ nhắc lại và nhấn
mạnh vào điều tổ tiên đã nói. Trật tự xã hội tùy thuộc
vào luân lý căn bản -- luân lý trong lời nói và hành động
đứng đắn. Cũng giống như người xưa, Khổng Tử tin tưởng
luân lý phải được áp dụng vào mọi bình diện cuộc sống,
đồng thời nó cũng rất có ý nghĩa trên bình diện chính
quyền. Vì người cầm quyền là thầy của tất cả. Những
vị thầy này dạy luân lý một cách rất hiệu quả khi họ
làm tấm gương tốt về luân lý và khi họ cai trị một cách
nhân từ. Chỉ qua một quá trình như vậy thì cuối cùng thời
đại vàng son mới sẽ đến, khi tất cả mọi người đối
với nhau trong sự ân cần tử tế và coi trọng nhau.
(4)
Dũng Khí Đúng Theo Luân Lý (Nghĩa). Theo Đức Hạnh Kiên Định
thứ tư, người Quân Tử nên phát triển dũng khí luân lý
cần thiết để trung thành với chính mình và đem lòng nhân
ái tới xóm giềng. Mọi việc người Quân Tử làm bằng chí
khí đó đóng góp đáng giá cho xã hội. Qua từng hành vi của
người Quân Tử, mà quan hệ con người được cải tiến.
(5)
Kiên Trì Chính Đáng (Tín). Đức hạnh cuối cùng của Năm
Đức Hạnh Kiên Định là tầm quan trọng về tư cách của
họ -- sự kiên định. Người Quân Tử đã hoàn thành bốn
đức hạnh, và sẽ kiên quyết hoàn thành. Người Quân Tử
bao giờ cũng tử tế và hữu ích. Người Quân Tử lúc nào
cũng biết bổn phận của mình và bao giờ cũng biết cách
làm bổn phận ấy. Vì người Quân Tử đã phát triển hạt
giống đức hạnh trong bản tính của mình, cho nên sống hòa
hợp với mọi thứ trong vũ trụ. Vì người Quân Tử có sự
hòa hợp trong chính mình, cho nên là một phần của sự hòa
hợp vũ trụ. Đó là lý do tại sao người Quân Tử bao giờ
cũng làm điều phải đúng lúc.
LÒNG
NHÂN ĐẠO HOÀN HẢO
Người
theo Khổng Giáo thường nói về "lòng nhân đạo hoàn hảo".
Con người có thể đạt được lòng nhân này vì người theo
Khổng giáo tin là có cái gì đó trong mỗi người, ngay từ
khi mới lọt lòng. Đó là một tính thiện bẩm sinh hay tính
khả ái có thể được phát triển do những cảm nghĩ giúp
đỡ người khác. Chính Mạnh Tử, một người theo Khổng Giáo
nổi tiếng sau này, là người nhấn mạnh tính thiện bẩm
sinh của con người. Khi Mạnh Tử và Khổng Tử nói về tính
thiện của con người rút cục có nghĩa là con người thích
hợp để sống với người khác. Đúng là có một quá trình
sửa soạn lúc đầu, như chúng ta đã nhìn thấy. Cách cư xử,
thói quen, kiểu suy nghĩ và những phán xét phải được cải
thiện.
Khi
một người tự giáo dục lấy mình để thành người Quân
Tử, người ấy tử tế, hữu ích và có đạo đức. Hạt
giống tính tốt trong chính con người ấy tạo thành các đức
tính ấy. Cho nên có thể có nhiều hành động thiện mà người
Trung Hoa thật hết hy vọng từng liệt kê tất cả chúng từng
hành động một. Khuôn vàng thước ngọc của họ được nói
lên bằng ngôn ngữ tiêu cực. Tuy nhiên, nó tràn đầy mối
quan tâm vì người khác. "Đừng làm cho người khác điều
gì mà bạn không muốn người ta làm điều ấy cho bạn"
QUAN
HỆ CHÍNH ĐÁNG
Một
phần cố gắng làm cho cách sống chính đáng dễ dàng cho mọi
người, người theo Khổng Giáo nhấn mạnh năm quan hệ cá
nhân quan trọng đòi hỏi phải khả ái và lịch thiệp. Những
điều này đã từng được dạy cho từng học sinh, nhưng hệ
thống giáo dục này đã bị gián đoạn vào đầu thế kỷ
này. Tuy vậy nhiều người theo Khổng Giáo vẫn nghĩ rằng
nếu ai nấy đều sử dụng năm Đức Hạnh Kiên Định trong
năm mối quan hệ, thời đại vàng son thực sự sẽ bắt đầu.
Nếu có hạnh phúc hay hòa hợp, mười người liên hệ trong
những giao tiếp này phải sử dụng thái độ có đạo đức
và đức hạnh đối với nhau:
(a)
Chồng và vợ (Phu thê)
(b)
Cha và con (Phụ tử)
(c)
Anh và em (Huynh đệ)
(d)
Vua và tôi (Quân thần)
(c)
Bạn và bạn (Bằng hữu)
Xin
lưu ý rằng cả hai phía điều mong mỏi là mối quan hệ. Mỗi
phía đều chịu trách nhiệm về hành động, nói năng và suy
nghĩ trên phương diện khả ái và hữu ích.
Một
số người có thể nói rằng điều này chưa đủ. Những người
khác trên xứ sở của họ và những vùng đất khác thì sao?
Người theo Khổng Giáo giữ lý tưởng khoan dung và khả ái
đối với tất cả láng giềng của mình và tất cả người
khác trên trái đất. Nhưng cá nhân họ không giao tiếp với
tất cả người khác. Phạm vi quen biết của người ấy có
giới hạn. Chính vì lý do này mà năm quan hệ cá nhân được
liệt kê. Một người hành động bằng lòng tốt và quan tâm
đến một số ít người mà người ấy tiếp xúc thường
xuyên thì tốt hơn nhiều là chỉ nói miệng về "thương yêu"
tất cả con người. Người ấy không bao giờ biết tất cả
mọi người. Một đời sống thiện là ở chỗ hành động
thích hợp với những người mà ta gặp hàng ngày theo những
kinh nghiệm hàng ngày.
TÌNH
THƯƠNG YÊU VÀ HIẾU THẢO TRONG GIA ĐÌNH
Từ
lâu trước thời điểm sách vở lịch sử bắt đầu, người
Trung Hoa tin tưởng rằng bổn phận đầu tiên của một người
là đối với cha mẹ. Trong những gia đình lớn theo phong tục
Trung Hoa, cha mẹ, ông bà, và các cụ được coi như rất khôn
ngoan, rất được thương yêu và rất được tôn kính. Cái
chết của họ không giảm đi lòng kính trọng đối với các
bậc ấy. Kính trọng tổ tiên là con đường trải rộng "cảm
nghĩ gia đình" vượt qua cái chết. Khổng Tử và những người
theo Khổng Giáo đã góp phần quan trọng trong việc giữ hiếu
đễ tận tụy với cha mẹ đứng hàng đầu trong lý tưởng
của Trung Hoa.
Trẻ
em tại Trung Hoa không bao giờ được phép tự do lựa chọn
và cư xử như trẻ em tại Phương Tây. Chúng được rèn luyện
một cách tử tế nhưng rất kiên quyết ngay từ đầu nhằm
làm cho chúng có thái độ và cách cư xử thích đáng. Không
vâng lời hết sức ít có, và bất hiếu lại còn ít có hơn.
Trẻ giữ hiếu với cha mẹ đến mức chấp nhận những quyết
định của cha mẹ về chúng, kể cả việc lựa chọn chồng
hay vợ. Người Trung Hoa tin rằng những vấn đề như thế
cha mẹ khôn ngoan hơn con cái nhiều.
Đương
nhiên, tính trung thành với gia đình đã thay đổi rất nhanh
với những sự thay đổi khác vào thế kỷ hai mươi. Những
phát triển chính trị mới đã gây ra sự đổ vỡ trong truyền
thống gia đình cổ và còn có thể gây ra những thay đổi
lớn hơn. Tuy nhiên, hiếu thảo là một phần của đời sống
Trung Hoa từ lâu và vẫn còn ảnh hưởng tại Trung Hoa.
TÔN
KÍNH TỔ TIÊN
Khổng
Tử khuyến khích tôn kính và thờ cúng tổ tiên vì Ngài tin
rằng việc ấy giúp cho con người phát triển thái độ và
hạnh kiểm thích đáng. Khi một người dâng lễ vật trước
linh vị người quá cố, người ấy nhớ lại nguồn gốc và
tình thương yêu của người quá cố. Kinh nghiệm này giành
được từ cảm nghĩ kính trọng và trung thành. Vì một người
có hiếu vượt qua cái chết cho thấy mức tận tụy lớn hơn
là chỉ kính trọng cha mẹ còn tại thế.
Nhiều
người theo Khổng Giáo dâng lễ vật và những vật bị hiến
tế để tưởng niệm người chết mà không bao giờ tin rằng
thần hồn người chết hiện diện. Những người theo Khổng
Giáo thấy việc làm này có giá trị vì việc làm ấy giúp
họ xây dựng thói quen tốt về sự kính trọng người khác.
Đồng thời việc ấy làm tăng thêm sức mạnh của xã hội.
Vì hai lý do đó, Khổng Giáo bao gồm sự thờ cúng tổ tiên
trong những mặt quan trọng về sự hành xử của con người.
CÁCH
THỜ PHƯỢNG
Khổng
Tử không tìm cách thay đổi hay nói nhiều về tín ngưỡng
tôn giáo và những sự tu tập ở thời gian Ngài. Đơn giản
là Ngài chấp nhận chúng như thế -- ở chừng mực chúng vẫn
phụng sự xã hội. Ngài không màng tới khái niệm bình dân
tôn giáo hay tập tục những cái bỏ qua kinh nghiệm và kiến
thức thông thường. Ngài không thích nói về quỷ thần mà
nhiều người thờ cúng vì mê tín dị đoan và sợ hãi. Một
lần, Đức Khổng Tử nói với một môn đồ hỏi Ngài về
quỷ thần, "Trong khi bạn không thể phụng sự con người,
làm sao bạn có thể phụng sự được quỷ thần?" Đối vối
Ngài, thật phí thì giờ để bận tâm về điều mà bạn không
biết rõ ràng. Đời sống sau khi chết là một thí dụ khác.
"Trong khi bạn không biết đời sống, làm sao bạn có thể
biết được về cái chết". Ta không có thì giờ về những
điều ta không thể biết, vì ngay cả biết xóm giềng cũng
cần đến một đời người.
Khổng
Tử không quan tâm đến khái niệm về Thượng Đế và những
vấn đề khác trong thần học. Nhưng Ngài có một sự tận
tụy thực sự đối với những buổi lễ tôn giáo cổ, vì
Ngài tin những cuộc lễ này giúp xây dựng thái độ và thói
quen cần thiết cho một hạnh kiểm thích đáng. Tôn giáo cá
nhân của Ngài giới hạn vào sự thờ phượng tổ tiên, cách
sống luân lý của Năm Đức Hạnh Kiên Định, và sự công
nhận tôn thờ Ngọc Hoàng trên thiên đường. Phần lớn, Khổng
Tử chấp nhận tôn giáo cổ Trung Hoa là sự tôn thờ pha trộn
các thần thiên nhiên và tổ tiên.
Số
đông người Trung Hoa thờ Trời như vị thần tối thượng
hay một trong nhiều thần với sự giải thích khác nhau đối
với bất cứ vị thần nào. Sự thờ phượng Ngọc Hoàng Thượng
Đế đã là một sự thờ cúng hoàng gia, cai quản suốt trong
lịch sử Trung Hoa của các vị hoàng đế với những nghi lễ
về mùa màng. Rất ít người theo Khổng Giáo cùng với những
nhà trí thức Trung Hoa khác, tham dự tích cực vào sự thờ
phượng Ngọc Hoàng. Tuy nhiên họ có khuynh hướng ủng hộ
những cuộc lễ của nhà Vua là có giá trị vì chúng giúp
người dân nhớ lại nguồn gốc của họ.
Nhiều
người hỏi: Khổng Giáo có phải là một tôn giáo không? Chính
Khổng Tử cũng không cho rằng điều ngài dạy là tôn giáo.
Ngài không mong chờ sự thiên khải từ Ngọc Hoàng như một
sự ủy quyền về điều ngài dạy. Ngài nói với đệ tử
của Ngài kính sợ Ngọc Hoàng là tốt vì đó là một thế
lực thông minh, sáng tạo chuyển vận một cách hoàn toàn tự
nhiên thông qua Đạo. Trời vô tư và công bằng. Sau này những
người theo Không Giáo thêm vào niềm tin này là Ngọc Hoàng
là một vị thần, nhưng là một vị thần không có ảnh hưởng
gì đến con người hay thế giới mà Ngài tạo ra. Tuy vậy,
trọng tâm chính của Khổng Giáo bao giờ cũng là lòng nhân
đạo. Mạnh Tử mô tả ý muốn của Trời về những gì có
ý nghĩa đối với con người bằng cách nói rằng hãy giữ
đúng bản chất của nó là con đường của Trời. Cố gắng
trung thực với bản chất của Trời cũng là con đường của
con người.
Khổng
Tử coi mình là một nhà cải cách xã hội chứ không phải
là một nhà lãnh đạo tôn giáo. Ngài mơ ước và làm việc
cho một xã hội trong đó con người sống trong sự hòa hợp
hoàn hảo. Nếu điều Ngài dạy không phải là tôn giáo thí
ít nhất cũng là sùng đạo. Khổng Tử dạy niềm tin của
Ngài vì Ngài tin là niềm tin này được hỗ trợ bởi bản
chất của mọi sự. Giáo huấn của Ngài là muốn đem con người
vào sự phù hợp với thực tế.
ĐIA
VỊ CỦA KHỔNG TỬ TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA
Trong
cuộc đời mình, Khổng Tử là một bậc thầy được kính
trọng, nhưng Ngài chỉ là một trong nhiều bậc thầy. Khi Ngài
còn sống, tiếng tăm và sự yêu mến của nhân dân đối với
Ngài không bao giờ đủ dẫn đến việc áp dụng những giáo
huấn của Ngài trong chính quyền. Trái lại Ngài đã bỏ ra
nhiều năm cố thuyết phục hết vị vua này đến vị vua khác
áp dụng lý tưởng của Ngài, nhưng tất cả đều vô ích.
Ngài có một số môn đồ trung thành tin chắc vào tính hơn
hẳn về lý tưởng của Ngài, nhưng những người khác không
hoàn toàn đồng ý về ý kiến này. Mãi cho đến mấy trăm
năm sau khi Ngài chết, giáo huấn của Đức Khổng Tử về
luân lý mới bắt đầu giành được một địa vị quan trọng
trong đời sống người Trung Hoa.
Những
tác phẩm cổ điễn Trung Hoa mà Ngài đã đầu tư quá nhiều
thời gian và tư tưởng vào trở thành cơ sở cho khoa cử công
chính về chức vụ chính quyền. Việc này đánh dấu thời
buổi toàn bộ mẫu hình đời sống Trung Hoa bắt đầu là
Khổng Giáo. Hơn hai nghìn năm tư tưởng của Khổng Giáo chi
phối giáo dục, chính quyền và văn hóa. Việc này chính thức
bị chấm dứt ngay vào đầu thế kỷ này, nhưng con người
thay đổi châm hơn thể chế. Tất cả dân chúng không đột
nhiên quên những truyền thống cổ.
Lý
tưởng cá nhân của Khổng Tử chưa bao giờ tiến tới mức
phát triển trọn vẹn, dù những lý tưởng này uốn nắn tiến
trình văn minh Trung Hoa. Đôi khi vua chúa và các chính trị gia
dường như tỏ ra thành thật hơn trong thực tế khi họ đi
theo giáo huấn về luân lý của Ngài hy vọng sự trung thành
bề ngoài với Khổng Tử của họ có thể giành được ủng
hộ từ người dân. Đôi khi họ truy tặng chức tước và
phẩm hàm cho Ngài và cho các hậu duệ của Ngài.
Ngay
sau cái chết của Ngài, Khổng Tử đã được thâu nhận gia
đình tôn thờ thành tiên tổ. Những người khác cũng tiếp
tay trong việc tôn thờ vì tại Trung Hoa người ta kính trọng
thầy như cha mẹ. Giáo huấn của Ngài bao giờ cũng làm những
người hâm mộ Ngài quan tâm chứ không bao giờ bằng một
hành vi phép lạ hay đặc tính siêu phàm. Khổng Tử được
tôn thờ như một vị thánh, nhưng đó chỉ là sự thờ phượng
của người vô học tin tưởng rằng điều quan trọng là thờ
phượng cho nhiều chứ không phải thờ phượng có suy nghĩ.
Có lẽ loại thờ phượng này có thể được mô tả như sự
thờ phượng anh hùng đặc biệt. Nói chung, Khổng Tử là một
vị thầy lớn tại Trung Hoa và tại Nhật Bản với ảnh hưởng
ít hơn. Ngài đã được vinh danh cao hơn bất cứ người nào
khác trong toàn bộ quốc gia lịch sử của Ngài.
KHỔNG
GIÁO, SỰ SÙNG BÁI TÔN GIÁO
Đôi
khi những cố gắng mạnh mẽ được thực thi để cũng cố
Khổng Giáo thành quốc giáo, với Khổng Tử hồ như là vị
cứu tinh. Những nỗ lực này bị thất bại vì một số lý
do. Thứ nhất, người Trung Hoa thường quen với tự do tôn
giáo, và khái niệm chỉ có một tôn giáo quốc gia làm họ
khó chịu. Thứ hai, dường như họ không muốn biến Khổng
Giáo thành tôn giáo như Lão Giáo và Phật Giáo. Có lẽ với
họ đã từ lâu đó là cơ sở chính trong đời sống của
họ để họ giới hạn nó vào một tôn giáo có tổ chức.
Những
phong trào chính trị mới tại Trung Hoa đôi khi đổ lỗi cho
Khổng Giáo và Khổng Tử về nhiều điều xấu xa của xã
hội Trung Hoa. Việc này một phần là do sự cố gắng làm
mất uy tín những truyền thống và tín ngưỡng cổ, hầu mang
lại ý tưởng mới cho chính quyền và giáo dục. Ngày nay,
Khổng Tử không còn giữ địa vị được kính trọng như
trước đây trong ký ức và lịch sử dân tộc của Ngài.
ĐỜI
SỐNG ĐÒI HỎI GÌ NƠI CON NGƯỜI?
Dù
giáo huấn của Ngài chưa bao giờ đạt được thành công mà
Khổng Tử mong muốn cho họ, song một số khái niệm quan trọng
của Ngài tồn tại sau cái chết của Ngài và những thế kỷ
sau này. Những ý tưởng này đã trở thành một sự đóng
góp đặc biệt cho Trung Hoa và quốc gia láng giềng, Nhật Bản,
nơi người ta thường thấy giá trị tư tưởng và nghệ thuật
Trung Hoa được vay mượn. Thực ra, đời sống và tư tưởng
của nhà triết gia khả ái này đã đóng góp vào kiến thức
của toàn thể thế giới.
Trên
hết, Khổng Giáo kêu gọi mối quan tâm mạnh mẽ về lòng
nhân đạo. Lập luận chính của người theo Khổng Giáo với
cả hai Phật tử và người theo Lão Giáo đã là họ quay lưng
lại với người đồng loại để đi tìm những điều gì
tốt nhất cho chính họ. Không bao giờ, không bao giờ nên coi
bản thân quan trọng hơn xã hội. Mổi một người phải tìm
thấy sự hoàn thành nhiệm vụ trong chính hành động giúp
đỡ và biết người khác.
Khổng
giáo đòi hỏi những người cai trị và các nhà lãnh đạo
một sự giải thích đặc biệt đối với người dân họ
trị vì. Lý do duy nhất mà những người cai trị tồn tại
là giúp dân được tốt hơn. Nếu khái niệm này được chấp
nhận một cách nghiêm chỉnh bởi những nhà lãnh đạo quốc
gia, nghệ thuật quản lý nhà nước, sẽ đạt được đỉnh
cao mới, và đời sống của tất cả sẽ được cải thiện.
Cuối cùng người theo Khổng Giáo nói, cả đến hòa bình thế
giới sẽ đạt được.
Ai
có thể nói tất cả điều tốt đẹp có thể dẫn đến kết
quả nếu gia đình chấp nhận trách nhiệm mà Khổng Tử trao
cho họ? Khổng Giáo đặt trước gia đình tầm quan trọng trong
công việc gia đình về giáo dục luân lý. Nó vạch ra sự
gắn liền luân lý vào đời sống thật tự nhiên và tươi
sáng như thế nào.
"Đời
sống đòi hỏi gì nơi tôi? Theo truyền thống Trung Hoa nói:
Nó đòi hỏi thái độ và hạnh kiểm tốt. Nó đòi hỏi bạn
chấp nhận quyền lợi của đồng loại phải được đặt
trên hết trong sự quan tâm của bạn. Trong cách sống như vậy
với người khác, bạn sẽ đạt được điều thiện to lớn
nhất -- bạn sẽ tìm thấy một địa vị trong thế giới này.
Bạn sẽ tìm thấy chính bạn.