CHƯƠNG
HAI
PHẬT
GIÁO
6.
ĐỨC PHẬT HỎI VÀ TRẢ LỜI
Vào
giữa thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên, nhiều người tại
Ấn Độ đã bắt đầu sử dụng đường tắt trong tôn giáo
được mô tả trong Chương trước về sự thờ phượng của
người Ấn Độ Giáo. Nói chung đó là thời kỳ tan vỡ ảo
tưởng. Chắc là vì người dân hoàn toàn vỡ mộng về cuộc
sống, họ ngày càng sợ hãi đầu thai. Một số người quên
cả câu hỏi nghiêm túc nhất là gì, trong nỗ lực điên cuồng
để tự cứu lấy mình và ra khỏi 100,000 kiếp sống mà họ
cảm thấy họ bị đọa. Mỹ thuật lúc đó cho thấy người
dân quý bò, hươu nai, ngựa, lợn, khỉ và voi. Những người
khác tự hành xác mình -- đứng nguyên một chỗ rất lâu,
nhìn chằm chằm vào mặt trời Ấn Độ gay gắt, hay nuốt
khói và lửa.
Nhiều
thầy tu không giúp ích đặc biệt gì. Chính các thầy tu cũng
bận tâm với con đường tắt trong đời sống tôn giáo. Họ
không coi thiên hướng thầy tu của họ là quan trọng. Trong
một bức tranh vào thời gian ấy, một vài con chó tượng trưng
cho các thầy tu được đem trình bày trong một cuộc diễu
hành lớn. Họ tụng lời cầu nguyện: "Om, hãy để cho chúng
tôi ăn! Om, hãy mang thực phẩm cho chúng tôi! Vị Chúa tể
của thực phẩm, hãy mang thực phẩm đến, hãy mang thực phẩm
đến! (Om là từ tắt nhất để chỉ Thượng Đế). Người
dân bày tỏ xa hơn nữa ý kiến thấp hèn về các thầy tu
trong câu tục ngữ Ấn Độ: "Vishnu nhận những lời cầu nguyện
khô khan, trong khi các thầy tu ăn ngấu nghiến các lễ vật".
Ấn
Độ Giáo sau này giành lại được địa vị lãnh đạo tại
Ấn, nhưng trong thời gian này, nhiều người không thể tìm
ra câu trả lời thỏa mãn về những khó khăn xáo trộn trong
đời sống. Vì sự bất toại nguyện này, chẳng mấy chốc
có nhiều cải cách tôn giáo xuất hiện trong cố gắng giải
thoát cho Ấn Độ Giáo khỏi tính nông cạn của nó. Một trong
những cải cách này là sự khởi đầu của Phật Giáo.
THÁI
TỬ CỒ ĐÀM
Vào
thời điểm này, khi những người chín chắn nghi ngờ tôn
giáo quê hương của họ, vị thái tử tên Gautama (Cồ Đàm)
ra đời. Ngài là con một của tiểu vương Flinch giàu có thuộc
đẳng cấp chiến binh, và cha mẹ Ngài hy vọng Ngài sẽ trở
thành người trị vì đất nước. Cha Ngài sợ Ngài có thể
làm những gì mà đẳng cấp cao đã làm -- trở thành người
đi tìm đạo lý, hay người thoát ly khỏi kiếp trầm luân
từ bỏ cuộc đời. Tham vọng to lớn là người con phải theo
bước chân mình, người cha đã làm tất cả những gì có
thể làm được để bảo vệ Đức Cồ Đàm trước những
ảnh hưởng có thể dẫn Ngài từ bỏ cuộc đời vương giả.
Vì
nhiều huyền thoại về lúc thiếu thời, rất khó biết sự
thực về Đức Cồ Đàm. Nhưng dường như rất rõ ràng Ngài
là một thanh niên thông minh và thành thực, nhậy cảm đối
với tất cả những biến chuyển chung quanh Ngài. Cũng có thể
là vì sự nhậy cảm đó, mà cha Ngài cố gắng bảo vệ Ngài
không muốn cho Ngài biết tội lỗi và bất hạnh tồn tại
bên ngoài bức tường thành. Những câu chuyện cho chúng ta
biết cha mẹ Ngài bao vây Ngài bằng lối sống xa hoa và tất
cả thú vui vật chất. Cha mẹ Ngài muốn làm cho Ngài cảm
thấy tất cả đời sống đều hạnh phúc và lạc thú, chẳng
có lý do gì mà buồn hay thậm chí quá nghiêm trang -- Cha mẹ
Ngài hy vọng Đức Cồ Đàm hoàn toàn chấp nhận đời sống
vương giả, và sẽ không bao giờ nghi ngờ đến những khác
biệt về cuộc đời của người khác.
Tuy
nhiên, giống như mọi thanh niên, Đức Cồ Đàm muốn sống
một cuộc đời theo cách riêng của mình bất chấp dự định
của cha mẹ Ngài. Trong khi đi qua một công viên - theo chuyện
kể lại -- Ngài nhìn thấy bốn việc in sâu vào ấn tượng
của Ngài. Những sự việc này làm Ngài sửng sốt hơn bất
cứ kinh nghiệm nào trước đây mà Ngài đã từng trải qua.
Đầu
tiên Ngài nhận thấy một người già nua run lẩy bẩy, răng
rụng, tóc bạc, lưng còng, chống trên một cái gậy. Lần
đầu tiên, Ngài hiểu ra là tuổi già đến với tất cả mọi
người. Sau đó, Đức Cồ Đàm nhìn thấy một người bệnh,
thật gớm ghiếc khi nhìn thấy. Đức Cồ Đàm trở nên choáng
váng hơn, Ngài băn khoăn phải chăng trước sau ai cũng phải
đau khổ. Một cảnh khó chịu thứ ba là một xác chết nằm
bên vệ đường. Hiển nhiên là lần đầu tiên cái chết trở
thành có thật đối với vị thái tử trẻ tuổi. Sau khi những
cảnh này đã khiến cho thái tử suy nghĩ buồn rầu về cái
vô thường của đời sống và sắc đẹp. Ngài tình cờ gặp
một nhà sư, ăn mặc tề chỉnh với một vẻ mặt thanh thoát.
Đó chính là lúc ý định rời đời sống hoàng cung trở thành
thực sự đối với Đức Cồ Đàm.
Những
huyền thoại cho biết cha Ngài đã cố gắng như thế nào để
đánh lạc hướng thái tử về suy nghĩ nghiêm chỉnh đó. Những
vũ nữ xinh đẹp được đưa vào hoàng cung để thái tử giải
trí với những vũ điệu và ca nhạc. Cố gắng loại bỏ những
suy nghĩ nghiêm trang của Ngài, những vũ nữ này ra sức nhảy
múa cho đến khi gục ngã vì kiệt sức. Khi Đức Cồ Đàm
nhận thấy sự biến đổi to lớn về bề ngoài của họ vì
họ nằm trong những tư thế thô kệch khi ngã xuống, một
lần nữa Ngài lại thấy sự buồn rầu và xấu xa của đời
sống. Ngài nhất quyết bỏ hoàng cung êm ấm ngay tức khắc.
Mặc dù con nhỏ và người vợ trung thành, bất chấp sự canh
phòng cẩn mật của lính canh của cha Ngài, Đức Cồ Đàm
đã rời bỏ cung điện và tìm sự vắng vẻ trong rừng. Ngài
đã không trở về qua nhiều năm và cho đến khi nhiều thay
đổi đã xẩy ra trong đời Ngài.
CÔNG
CUỘC TÌM KIẾM CỦA ĐỨC CỒ ĐÀM
Đức
Cồ Đàm đã rời bỏ cung điện với tâm tư tràn đầy câu
hỏi: Đời sống là gì? Tại sao có sự bất hạnh? Trong những
khu rừng Ấn Độ quạnh quẽ và vô tận, Ngài đã tìm kiếm
những người uyên bác có thể giúp Ngài tìm ra câu trả lời.
Ngài hy vọng tìm được sự thỏa mãn mà Ngài nhìn thấy trên
gương mặt nhà sư ngày nọ tại công viên. Vì dường như
nhà sư đã tìm thấy sự thỏa mãn này trong đời sống tôn
giáo, Ngài quyết định cũng tìm tôn giáo.
Trong
vài năm Ngài đã học hỏi với những đạo sư giỏi nhất
mà Ngài tìm thấy. Là một học trò giỏi, chẳng bao lâu Ngài
đã có học thức bằng các vị đạo sư. Một trong các vị
đạo sư, khâm phục sự hiểu biết của Ngài, mời Ngài ở
lại cộng tác để dạy người khác. Nhưng Đức Cồ Đàm
cảm thấy Ngài chưa thể dạy người khác khi Ngài chưa tìm
ra câu trả lời mà chính Ngài đang tìm kiếm. Ngài biết rõ
kinh sách, nhưng Ngài không tim thấy sự thỏa mãn. Ngài biết
tập luyện về Du Già, những cũng không thấy hài lòng.
Ngài
vẫn bị những câu hỏi nóng bỏng dầy vò: Tại sao có bất
hạnh? Làm sao con người được hạnh phúc?
Ngài
chuyên cần hơn vào sự tu tập khổ hạnh. Ngài đã bỏ lại
tất cả những lạc thú vật chất. Ngài buộc mình ăn càng
ngày càng ít đi, và thiền định ngày càng nhiều hơn. Cuối
cùng, huyền thoại cho biết, Ngài chỉ sống bằng một hột
gạo một ngày, và bỏ tất cả thì giờ vào thiền định
và nghiên cứu. Sau sáu năm kiên trì tìm kiếm và tích cực
hy sinh, cái chết chỉ là gang tấc. Thế mà Ngài vẫn chưa
tìm ra câu trả lời. Một hôm Ngài ngất đi vì gần chết
đói.
Việc
này chứng tỏ đỉnh điểm trong đời sống Đức Cồ Đàm,
vì Ngài đã nhìn thấy tất cả sự vô ích về những cái
mà Ngài đang làm. Nếu Ngài tiếp tục chủ nghĩa khổ hạnh,
Ngài sẽ chết và không tìm ra câu trả lời. Điều mà Ngài
đang làm, Ngài nhận định, quả là điên rồ như cố gắng
buộc không khí thành nút. Ngài phải trực tiếp đi thẳng
vào vấn đề.
Một
vài người bạn theo Đức Cồ Đàm, ngưỡng mộ Ngài vì lòng
nhiệt huyết tôn giáo của Ngài, khi thấy Ngài quyết định
ăn trở lại bèn bỏ đi. Bây giờ Ngài một mình lẻ loi với
những tư tưởng của chính mình. Ngài ngồi dưới gốc cây
và bắt đầu suy nghĩ về vấn đề bất hạnh và khổ đau.
Quá bối rối sau sáu năm tìm kiếm giải pháp, Ngài quyết
định tìm câu trả lời qua tư tưởng và thiền định trước
khi rời bỏ nơi này.
ĐỨC
CỒ ĐÀM TRỞ THÀNH PHẬT
Sau
một ngày và gần một đêm, Ngài đã tìm thấy câu trả lời.
Ngài đã trở thành giác ngộ với kiến thức mới. Ngài đã
trở thành Phật "một người giác ngộ". Trong niềm vui về
sự hiểu biết mới của Ngài, Ngài nói lớn, mặc dù taị
đấy không có người nào. Ngài nói ta không còn phải chịu
bất hạnh của đời sống hiện tại và không còn phải tái
sinh liên tiếp trong cuộc sống. Vì Ngài đã đạt được tuệ
giác về sự đau khổ của con người -- bản chất của khổ
đau, nguyên nhân, và sự chấm dứt khổ đau. Ngài đã thoát
khỏi cái vòng bất tận của phiền não và khổ đau, thoát
khỏi cảm giác của buồn phiền và chán ghét -- được tự
do sống.
Rồi
Đức Phật Cồ Đàm băn khoăn ta phải làm gì. Ta có nên dạy
người khác điều mà ta phát hiện sau nhiều năm tìm kiếm?
Có người nào hiểu Ngài không? Ngài quyết định tin vui Ngài
có được bây giờ phải được chia sẻ với những người
sốt sắng tìm kiếm. Cho nên Ngài đi về Benares (Ba La Nại),
nơi Ngài sẽ tìm lại năm người đồng tu với Ngài trước
đây đã bỏ Ngài khi Ngài quyết định từ bỏ con đường
khổ hạnh.
Họ
là những người đầu tiên được nghe những điều mà Ngài
đã khám phá ra. Bài pháp đầu tiên mà Ngài giảng cho họ
được biết là Chuyển Pháp Luân. Bài pháp này nói về vấn
đề khổ đau và cách vượt khổ đau. Những điểm mà Đức
Phật nhấn mạnh đến trong bài pháp đầu tiên này, trong niềm
vui phấn khích về sự tỉnh thức của Ngài, đã hình thành
những khái niệm căn bản của Đạo Phật. Đạo Phật là
tôn giáo của những người tìm sự tỉnh thức (giác ngộ).
CON
ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO
Con
đường mà Đức Phật Cồ Đàm tìm ra được miêu tả là
"Trung Đạo" giữa những cực đoan. Những cực đoan phải tránh
một mặt là đời sống quá ham mê nhục dục, và mặt khác
là đời sống quá khổ hạnh. Cả hai cực đoan này dẫn đến
mất quân bình trong cuộc sống. Cả hai cũng chẳng dẫn đến
mục tiêu thực sự thoát khỏi khổ đau. Nhiều người chẳng
bao giờ nhận ra quá ham mê sang giàu và thú nhục dục đã
ảnh hưởng đến những câu hỏi và mục tiêu thực sự của
họ. Một số người thấy cái tai hại của sự ham mê quá
mức đã đi đến chỗ coi bất cứ thứ gì đem lại khoái
lạc là nguy hại. Cả hai nhóm đều phản ứng quá mạnh trước
sự khao khát của nhân loại.
Đức
Cồ Đàm khám phá ra chẳng cực đoan nào là khôn ngoan vì chẳng
cực đoan nào mang lại hạnh phúc cả. Quá ham mê có cùng kết
quả cuối cùng trên con người giống như để cho dây đàn
vi ô lông quá trùng. Mặt khác tự hành xác cùng cực có kết
quả giống như dây đàn vi ô lông quá căng đến mức phải
đứt. Trong cả hai trường hợp đàn không kêu thích hợp.
Không có âm thanh vì hoặc là quá trùng hoặc là quá căng.
Chính vì thiếu hòa hợp hay hài hòa mà Đức Cồ Đàm coi đó
là khổ đau của con người. Để giúp con người tìm ra sự
hòa hợp bên trong chính họ và hòa hợp với vũ trụ mà Ngài
bắt đầu dạy.
Trước
thời Đức Phật Cồ Đàm, những nhà triêt học Ấn dạy rằng
con đường đi tới tự biết mình mỏng như lưỡi dao cạo.
Đức Cồ Đàm khám phá ra ý nghĩa của điều này cho chính
Ngài và nghĩ ra một con đường cụ thể hơn để dạy người
khác. Tuy nhiên trong những lời dạy của Ngài, Ngài không bao
giờ rời xa truyền thống Ấn Độ. Một số người và một
số sách có cảm tưởng Đức Cồ Đàm cố gắng bắt đầu
một tôn giáo mới, hoặc Ngài hoàn toàn không đồng ý với
những đạo sư đương thời. Việc này không phải như vậy.
Đức
Cồ Đàm chỉ đi vào sự nghiên cứu tìm tòi đạo lý với
một câu hỏi khác: Điều gì đã khiến cho nhiều người không
hạnh phúc? Ngài đã mang câu hỏi này đến các vị đạo sư
giỏi nhất mà Ngài tìm gặp nhưng Ngài cũng không thể giải
quyết được vấn đề với điều mà các đạo sư dạy Ngài.
Vậy nên Ngài không còn ngưỡng mộ các triết gia chỉ nói
về giải thoát khổ đau. Đức Cồ Đàm muốn nhắc nhở họ
là họ đang chơi đùa với những chữ nghĩa. Ngài dặn bè
bạn của Ngài đề phòng các trường phái triết lý, vì các
vị đạo sư có khuynh hướng chỉ coi trọng những lời nói
của mình.
Muốn
tìm con đường Trung Đạo hòa hợp với cuộc sống, Đức
Phật tuyên bố, mỗi người phải tự mình thận trọng tìm
kiếm -- không nên bỏ thì giờ vào việc tranh cãi. Mỗi người
phải thăm dò và trải nghiệm. Đức Phật nói, "người ta
có thể đạt được hạnh phúc nếu thực hành việc tìm cầu".
7.
TẠI SAO TÔI KHÔNG HẠNH PHÚC?
Ngay
cả trẻ em cũng khổ đau. Khi chúng không thoải mái, chúng
khóc. Khi chúng lớn hơn chúng tìm các cách khác để bày tỏ
cái không thoải mái của chúng. Nhưng không có vấn đề khổ
đau với một em nhỏ vì em không thực sự nghĩ về việc ấy.
Em chỉ phản ứng. Khổ đau trở thành vấn đề chỉ khi người
ta tự hỏi, "Tại sao tôi đau khổ?" hay hầu hết chúng ta thường
nói, "Tại sao tôi không hạnh phúc?"
Thường
thường khi chúng ta ở khoảng 10 tuổi hay hơn một chút, ít
nhất cũng có một vài dịp chúng ta khổ đau và cũng băn khoăn,
"Tại sao sự đau khổ này? "Hiển nhiên, Đức Cồ Đàm không
nảy ra câu hỏi này một cách nghiêm chỉnh đến khi Ngài vào
khoảng ba mươi tuổi. Chắc là vì cha mẹ Ngài cố gắng ngăn
chận Ngài nếm trải bất cứ gì không lạc thú.
Những
thanh niên lớn lên trong môi trường được bảo hộ quá mức
thường không biết đến việc phải đối mặt với bất hạnh
thực sự. Con người có cá tính khác nhau, và nhịp độ thay
đổi từ thiếu niên sang thanh niên cũng không ai giống ai.
Nhưng trước sau, mỗi người đều phải đối mặt với câu
hỏi về lý do khổ đau -- của chính mình và của người khác.
Toàn
bộ sự đóng góp của Đức Cồ Đàm vào kiến thức nhân
loại tập trung vào vấn đề đau đớn và bất hạnh. Kiến
thức mới mà Ngài trở thành giác ngộ đêm đó dưới gốc
cây, là lý do về khổ đau và cách vượt qua khổ đau. Bài
pháp đầu tiên Ngài nói về kiến thức này với những người
đồng tu với Ngài trước đây đã bỏ Ngài đi về Ba Lã Nại.
Những điều Ngài đề cập đã trở thành những nguyên tắc
chủ yếu của Đạo Phật ngay cả đời nay, và những nguyên
tắc này được gọi là Tứ Diệu Đế. Chân lý thứ nhất
mà Ngài cố gắng giải thích cho bạn Ngài là sự thật về
khổ đau.
CHÂN
LÝ CAO QUÝ THỨ NHẤT
Sinh
là khổ; hoại là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; sự hiện
diện của những đối tượng mà ta ghét, sự chia lìa với
những đối tượng mà ta yêu thích làm ta khổ, không đạt
được mong muốn là khổ. Bám níu vào sự sống là khổ.
Khi
nghiên cứu danh sách này, rõ ràng Đức Cồ Đàm nói về kinh
nghiệm của mọi người chứ không phải kinh nghiệm của mình
Ngài. Sinh nở thật không thoải mái cho cả mẹ lẫn con, tuy
đứa trẻ dường như không ý thức được việc này. Sự
ra đời một khái niệm mới, hay một "ngã" mới hay cá tính
mới, cũng có thể rất đau đớn; vì những thói quen cũ và
khái niệm cũ rất khó bỏ. Tàn tạ cũng đau đớn, dù là
sự tàn tạ của một cái răng hay sa sút về đạo đức và
niềm tin của con người. Ốm đau thật phiền toái, cả thể
xác lẫn tinh thần. Cả cái chết lẫn nỗi sợ chết cho chính
chúng ta hay cho người cũng là đau khổ. Sự hiện diện của
đối tượng mà ta ghét hoặc sự vắng mặt của đối tượng
mà ta yêu cũng là một trải nghiệm đau khổ. Không đạt được
điều mong muốn mà chúng ta đặt ra khiến chúng ta rất đau
khổ. Và khi chúng ta có thêm nhiều hiểu biết về đời sống,
chúng ta trở nên tỉnh thức rằng bám níu vào bất cứ gì
có thể khiến chúng ta đau khổ.
Thật
đáng tiếc là quá nhiều người nói rằng Đức Phật bi quan
về đời sống hay Ngài nói tất cả đời sống là khổ đau.
Nếu chúng ta giải thích xác đáng lời Ngài nói như đã được
ghi lại thì điều đó không phải là điều Ngài nói. Ngài
đã dạy rằng mọi thứ chứa đựng khả năng khổ đau; mỗi
quãng đời có thể đưa đến sự không hòa hợp cho một người.
Đức Phật không nói tất cả đời sống đều khổ đau.
Rõ
ràng sự giải thích của Đức Cồ Đàm về khổ đau vượt
qua cái khổ đau thể xác đơn thuần. Ngài nhấn mạnh nhất
về cái khổ đau của tâm và những cảm xúc. Đây là cái
bất hạnh sâu xa nhất. Đức Cồ Đàm tin rằng người không
có hòa hợp trong cuộc sống cảm thấy cái khổ đau này. "Nếu
tôi không hạnh phúc, đó là vì tôi không sống hòa hợp. Nếu
tôi không sống hòa hợp, đó là vì tôi không biết cách chấp
nhận thế giới là như thế. Có lẽ tôi đang mong muốn những
thứ trên thế gian mà tôi không có quyền mong muốn. Có lẽ
tôi đang bám níu quá mạnh vào một phần thế giới của tôi,
bởi vậy mất sự tiếp xúc với toàn bộ bức tranh".
Đức
Cồ Đàm cố gắng lấy điểm bắt đầu là thực tế kinh
nghiệm có thật, mà không ai có thể nghi ngờ, và mỗi người
có thể hiểu cho chính mình. Ngài nói, trong tất cả kinh nghiệm
của con người, trừ phi có một sự hiểu thấu thực sự,
có một yếu tố đau đớn. Ngài chuyển lời mời: "Hãy tìm
hiểu cho chính mình nếu điều này không đúng với đời bạn".
Ngài yêu cầu mỗi người hãy xem không phải chỉ có Ngài
trong tình trạng khó khăn. Tất cả mọi người, vào lúc nào
đó trong đời sống, phải đối mặt với sự thật chung này
-- sự không hòa hợp của họ. Đó không phải chỉ là "bất
hạnh của tôi"; đó là vấn đề mà tất cả con người đều
có. Đức Cồ Đàm nhắc nhở bạn rằng "cái phiền não" của
tôi là cái "phiền não của thế giới" -- và cái phiền não
của thế giới là cái phiền não của tôi.
CHÂN
LÝ CAO QUÝ THỨ HAI
Đức
Cồ Đàm nói với đệ tử của Ngài, "Ta chỉ dạy hai điều,
khổ đau và thoát khỏi khổ đau". Ngài giống như một bác
sĩ đến khám bệnh nhân. Đầu tiên bác sĩ xem người bệnh
cảm thấy thế nào. Rồi bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân của
bệnh. Đức Cồ Đàm giống như một thầy thuốc giỏi, tiến
vào Chân Lý Cao Quý Thứ Hai, nguyên nhân của khổ đau.
Đó
là Chân Lý Cao Quý về nguồn gốc của khổ đau. Chính sự
khao khát thèm muốn gây ra sự tái tạo những cái bắt đầu
trở thành. Cái khao khát thèm muốn này đi kèm bởi khoái cảm
nhục dục và tìm cầu thỏa mãn nơi đây, nơi kia. Nó mang
dạng thức thèm muốn để làm vừa lòng giác quan, hay thèm
muốn sự phát đạt.
Khổ
đau là kết quả của thái độ lầm lẫn đối với thế giới
và những kinh nghiệm của chúng ta trong thế giới. Thế giới
không xấu, nhưng thái độ thèm muốn đã làm thế giới hình
như xấu. Cái thèm muốn này, hay ham muốn thái quá làm chúng
ta thành nô lệ cho bất cứ gì chúng ta thèm muốn. Ai ai cũng
nhìn thấy nguyên lý này hoạt động -- thèm muốn ăn uống,
thèm muốn nổi tiếng. thèm muốn thành công. Tất cả làm
chúng ta mất tự do để lựa chọn một cách khôn ngoan. Điều
mà Đức Phật Cồ Đàm muốn người ta thấy là ai thèm muốn
thì không thể được tự do và bởi vậy không thể có hạnh
phúc thực sự.
Quý
vị có thể nói hồ như có hạnh phúc trong khi thực hiện
mọi ham muốn. "Nếu tôi có mọi thứ tôi muốn và làm mọi
thứ muốn làm, tôi sẽ hạnh phúc." Nhưng loại hạnh phúc
đó lại là gây ông đập lưng ông, vì nó không đem thỏa
mãn sâu xa hơn mục tiêu thực sự của con người. Chúng ta
thường thấy người ngày càng lệ thuộc nhiều vào những
niềm vui giả tạo vì họ thực sự sợ phải đối mặt với
bất hạnh sâu xa hay bất an trong chính họ.
Đức
Cồ Đàm khuyên mỗi người hãy tự mình tìm ra sự khác biệt
giữa hai loại hạnh phúc. Và Ngài nói về những quan sát của
chính Ngài.
Khi
theo đuổi hạnh phúc, tôi nhận thấy những tính xấu phát
triển và những tính tốt mất đi, vậy nên tránh loại hạnh
phúc này. Và khi theo đuổi hạnh phúc, tôi nhận thấy tính
xấu mất đi, và tính tốt phát triển, thì loại hạnh phúc
này nên theo.
Ngài
đưa ra thêm lời khuyên cho những người tìm cầu hạnh phúc.
Ngài nói, thèm muốn dẫn đến bất hạnh gây ra bởi sự ngu
muội về những nhu cầu thực sự của chúng ta. Nếu chúng
ta không ngu muội như vậy, chúng ta sẽ không làm cho mình bất
hạnh khi theo đuổi những thứ không bao giờ toại nguyện.
Điều này đem chúng ta trở lại cùng câu hỏi đã được
nêu lên qua nhiều thế kỷ trước đây bởi những người
Ấn Độ thông thái: "Tôi thực sự là ai?". Đức Cồ Đàm
đồng ý với họ là con người không phải chỉ là cảm nghĩ
và tư tưởng. Một người khôn ngoan bao giờ nói về bất
cứ cảm nghĩ nào, "Điều này không phải là tôi thực sự."
Đức Phật dạy hoạt động đáng giá trong đời sống dẫn
đến có nhiều kiến thức hơn về cái ngã thực sự, vì điều
này đem hạnh phúc.
Những
thứ mà con người thường ham thích không thỏa mãn nhu cầu
thực sự của họ. Một câu chuyện Phật
Giáo
kể lại, trong một cuộc hành trình, Đức Cồ Đàm tình cờ
gặp 30 người đàn ông đang chạy. Ngài liền ngưng họ lại
và hỏi họ gặp chuyện gì, và họ liền kể lại câu chuyện.
Trong khi họ đang cùng nhau đi chơi và ăn ở ngoài trời, một
trong những người bạn nữ của họ đã trốn đi cũng những
tư trang của người khác nên những người này nóng lòng chạy
đuổi theo người ăn cắp.
Đức
Phật liền hỏi một câu: "Các bạn nghĩ xem điều nào tốt
hơn -- đuỗi theo người đàn bà hay đi tìm cái ngã?" Những
người đàn ông này quyết định tìm cái ngã thực sự quan
trọng hơn chạy theo đồ vật. Câu chuyện kể, những người
này trở thành đệ tử của Đức Phật.
Giống
như ba mươi thanh niên trẻ, chúng ta có thể phí phạm sức
lực của chúng ta vào việc tìm kiếm vô bổ. Nếu chúng ta
khôn ngoan, chúng ta ngưng lại và tự hỏi, "Cái gì thực sự
đáng truy tìm?" Câu trả lời của Đức Cồ Đàm rất trực
tiếp: Chúng ta phải tìm nguyên nhân của sự thèm muốn của
chúng ta, rồi chúng ta tìm cách loại bỏ nguyên nhân.
CHÂN
LÝ CAO QUÝ THỨ BA
Khổ
đau chấm dứt với sự chấm dứt hoàn toàn thèm muốn.
Con
người không phải làm nô lệ cho thèm muốn của mình, Đức
Cồ Đàm nói như vậy. Người ta có thể làm một việc gì
đó về bất hạnh của mình. Mỗi người có một sự lựa
chọn về cách sống. Người ta có thể sống bằng những hoạt
động đơn giản, không gây ra vấn đề thường lệ, những
hoạt động này nảy sinh vì thèm muốn. Hay người ta có thể
chọn sự phản ứng của mình trên cơ sở của mỗi trạng
huống gặp phải. Trong trường hợp thứ nhất, người ta hành
động do "nhu cầu" bề mặt, không biết về nhu cầu thực
sự của mình. Trong trường hợp thứ hai, người ta có thể
nhận thức được tiềm năng thực sự của mình. Sự lựa
chọn tùy theo cá nhân, và do chính người ấy sẽ gặt hái
kết quả.
Thí
dụ, người ta có lần thấy rằng ăn thứ gì đó mình thích
có thể khiến tâm trí người ấy thoát khỏi phiền toái.
Sau này, dù người ấy có thể chọn cách ăn thứ gì tốt
mỗi lần cảm thấy không hạnh phúc. Nhưng loại hành xử
đó có thể rất khó giải quyết vấn đề. Thực tế là người
ấy chỉ thêm vào những phiền toái mà không biết, vì người
ấy có thể mắc chứng khó tiêu và quá mập và đầy những
vấn đề không bao giờ được giải quyết. Đó là loại tình
huống mà Đức Cồ Đàm đang suy xét khi Ngài nói, "khao khát
thèm muốn gây nên sự tái tạo của những cái bắt đầu
trở thành"trong Chân Lý Cao Quý Thứ Hai của Ngài. Tránh vật
lộn thực sự trong lòng với mỗi khó khăn, khi nó khiến cho
mình vấp phải vấn đề mới do một vấn khác. Người ấy
xây đắp vấn đề mới trên nền móng của tất cả những
vấn đề chưa được giải quyết. Làm như vậy, người ấy
tiếp tục tái tạo bất hạnh của mình.
Khi
người ta gặp một vấn đề mới trong cùng một chiều hướng
vô ích như vấn đề cũ, người ấy tạo ra những hành động
vô ích và những thói quen bất thiện. Điều này có thể dẫn
đến hạnh phúc trường cửu không? Đức Phật trả lời,
không. Ngài nói, những hành động và những thói quen như vậy
phát xuất từ những ham muốn không được xem xét và không
có gì ngăn cản. Chúng dẫn đến giạ tăng bất hạnh. Chúng
cứ xuất hiện trong đời sống con người nhiều lần, trong
những chiều hướng mới, và cả trong kiếp sống mới, theo
giáo lý của Đức Phật.
Phật
Tử giống như người Ấn Độ Giáo, tin tưởng vào tái sinh.
Những hành động vô ích và những thói quen bất thiện phải
được loại bỏ hay khắc phục trước khi có thể giải thoát
khỏi cái vòng vô tận của kiếp sống cấu thành phần lớn
khổ đau của con người. Đó là một phần mà Đức Cồ Đàm
ý nói bởi câu "bám níu vào cuộc sống" trong Chân Lý Thứ
Nhất của Ngài. Toàn bộ hệ thống tái sinh và tất cả bất
hạnh có thể chấm dứt đối với một người khi người
ấy chấm dứt sự thèm muốn không có gì ngăn ngại.
Sự
khao khát, sự phẫn uất, sự mê đắm -- đây là những dấu
ấn của thèm muốn. Những hành động phát xuất từ chúng
dẫn đến bất hạnh. Hạnh phúc đạt được bằng cách chấm
dứt thèm muốn. Xây dựng tính nết con người hôm nay quyết
định hạnh phúc người ấy sẽ đạt được ở ngày mai.
Người Phật tử có thể nói thêm rằng loại cuộc đời mà
người ta sống hôm nay quyết định một phần vận hội hạnh
phúc ở kiếp luân hồi tới. Người Phật Tử không nói "một
người" hay một "linh hồn" -- ngay cả đến Cái Ta Ấn Độ
Giáo -- khi chuyển qua kiếp khác. Chính ảnh hưởng của kiếp
quá khứ tái sinh vào kiếp tới. Khi một đứa trẻ đến tuổi
trưởng thành, chúng ta biết ảnh hưởng từ lúc nhỏ của
nó quyết định phần lớn việc nó trở thành loại người
trưởng thành nào. Người Phật Tử cũng nói thêm rằng điều
gì đúng trong một kiếp sống thì sẽ đúng cho tất cả các
kiếp sống có thể hiểu được, vì kiếp sống trần gian
này chỉ là một đoạn trong nhiều đoạn khác.
Ta
có thể thấy khó mà hiểu được lý thuyết Phật giáo về
những ảnh hưởng quá khứ và sự luân hồi kéo dài qua nhiều
kiếp sống. Nhưng rất dễ thấy rằng một lý thuyết như
vậy đóng góp vào sự hiểu biết của chúng ta về kiếp sống
của mình bây giờ. Những gì mà chúng ta là hôm nay được
quyết định bởi mọi thứ đã đi vào quá khứ của ta, kể
cả lịch sử nhân loại. Chúng ta sẽ là gì ngày mai được
quyết định ở hôm nay bởi sự lựa chọn của chúng ta. Người
Phật Tử nói, chúng ta sẽ có sự lựa chọn tốt nhất khi
chúng ta chọn lựa một cách thận trọng, khắc phục tính
ích kỷ và những dục vọng mãnh liệt.
8.
LÀM SAO TÔI CÓ THỂ TÌM THẤY HẠNH PHÚC?
Nếu
Đức Phật Cồ Đàm chỉ nói, "Chấm dứt những dục vọng
dẫn đến bất hạnh, thì tức là Ngài đã không để lại
cho các đệ tử của Ngài một sự giúp đỡ thực sự nào.
May mắn là Ngài không ngừng lại việc dạy bảo bằng lời
khuyên. Ngài hiểu hầu hết mọi người cần được giúp đỡ
để biết cách ngăn chặn thèm muốn. Bài thuyết giảng đầu
tiên của Ngài kết thúc với Tứ Diệu Đế quan trọng. Đưa
ra lời tuyên bố cuối cùng về chân lý mà Ngài đã khám phá
ra, Đức Cồ Đàm mô tả phương pháp mà con người có thể
ngăn chặn thèm muốn. Từ thời Đức Phật Cồ Đàm, phương
pháp này được gọi là "Bát Chánh Đạo". Tám bước này là
phương pháp đặc trưng mà Đức Cồ Đàm đề nghị cho con
người để tự giải thoát khỏi những nanh vuốt của dục
vọng của chính mình.
(1)
Chánh Kiến
Đức
Cồ Đàm nói, bước thứ nhất tiến tới hạnh phúc là quan
điểm đúng (chánh kiến) về bất hạnh. Trước khi có tiến
bộ, người ta phải nhìn vào vấn đề xem vấn đề đó là
gì. Khi thấy chính sự không hiểu biết của mình về những
sự việc có thật trong đời mình đã gây ra phiền toái, và
khi chấp nhận trách nhiệm về phiền toái ấy, thì ta đã
đi vào con đường đúng. Đức Cồ Đàm không cho rằng Ngài
đã tìm ra con đường độc đáo đi tới hạnh phúc. Ngài miêu
tả con đường đó đã có từ xưa. Nhưng Ngài cảm thấy đa
số người ta không ý thức được con đường này.
Đức
Cồ Đàm nói, chừng nào chúng ta nhìn đời từ quan điểm
sai lầm (tà kiến) chúng ta còn tiếp tục tham dục những thứ
mà ta tưởng rằng những thứ đó làm chúng ta hạnh phúc.
Đó là con đường tự lừa dối mình. Chúng ta phải học cách
nhìn cho chính mình tại sao có ảo tưởng. Rồi chúng ta sẵn
sàng đi vào bước thứ hai mà Đức Cồ Đàm gọi là chánh
tư duy (khát vọng đúng).
(2)
Chánh Tư Duy
Mọi
người đều khao khát một cái gì đó. Cái khó khăn là hầu
hết chúng ta, trong hoàn cảnh tinh thần và tình cảm rối rắm,
đã khao khát những điều sai trái. Chúng ta đã không tập
trung khao khát và nỗ lực của chúng ta vào mục tiêu đáng
giá. Nhưng khi chúng ta từ bỏ những giá trị sai lầm dẫn
chúng ta tới bất hạnh, chúng ta sẵn sàng chọn giá trị thực
sự. Đức Phật vạch rõ lòng tốt và tình thương là chân
giá trị. Những giá trị ấy chỉ có thể đạt được khi
người ta vượt qua được vấn đề quan tâm đầu tiên của
mình là cái "Ta", "Tôi" và "Của Tôi". Chỉ sau khi thôi không
còn cho mình là trung tâm thì lòng tốt và tình thương chân
thật xuất hiện ở mức tự phát và tự do.
Hai
bước đầu tiên của Đức Phật trên con đường Trung đạo
nói về tầm quan trọng của việc cải thiện thái độ. Ba
bước kế tiếp nói về loại hạnh kiểm phải bắt nguồn
từ thái độ đúng.
(3)
Chánh Ngữ
Bước
thứ ba là chánh ngữ. Người đi theo con đường Bát Chánh
Đạo của Đức Phật thì không còn thích thú thị phi, phỉ
báng, và lăng mạ hay chuyện vu vơ. Lời nói nặng sẽ được
kiểm soát, ân cần và thận trọng, vì nó xuất phát từ thái
độ tử tế đối với người khác. Một số người phạm
tội do điều mà họ nói còn tồi tệ hơn cả những kẻ phạm
tội chai lì làm. Đức Phật công nhận, giống như những nhà
tâm lý học hiện đại công nhận, đây là một chướng ngại
cho sự trưởng thành chân chính.
(4)
Chánh Nghiệp (Hành Xử Đúng)
Bước
kế tiếp trong Bát Chánh Đạo của Đức Phật là bước quan
trọng của chánh nghiệp. Đức Phật không mô tả tường tận
phạm vi của bước này. Nhưng những đệ tử của Ngài đã
từng bước thảo một danh sách những gì ta không nên làm.
Một bản liệt kê tiêu biểu nói không được giết, trộm
cắp, tà dâm, nói dối hay dùng các chất say. Tuy nhiên, những
lời dạy bảo cấm đoán này có liên quqn đến tầm quan trọng
về hành xử mà Đức Cồ Đàm nói. Ngài biết rằng khuyến
khích người ta làm một số điều quan trọng hơn là ra lệnh
cho họ không được làm này nọ.
Đối
với Đức Cồ Đàm, chánh nghiệp (hành xử đúng) có nghĩa
là tình thương. Đức Cồ Đàm dạy rằng "tất cả những
gì chúng ta có chính là kết quả những gì mà chúng ta nghĩ".
Cho nên chúng ta không nên chứa chấp những cảm nghĩ của
oán giận hay thù hận. Cảm nghĩ và tư tưởng làm hỏng cơ
hội được hạnh phúc như hành động. "Nó hành hạ tôi, nó
đánh bại tôi, nó làm tôi tiêu tan, nó cướp đoạt tôi --
ở những người chứa chấp những tư tưởng ấy, thù hận
không bao giờ chấm dứt," Đức Cồ Đàm cảnh báo chúng ta.
Vì Ngài khám phá ra rằng bất cứ lúc nào "hận thù cũng không
chấm dứt hận thù, hận thù chỉ chấm dứt bằng tình thương".
Và Ngài nói trong một dịp khác, "Hãy để cho con người vượt
qua giận dữ bằng tình thương, hãy để cho con người khắc
phục tội lỗi bằng điều thiện."
Đức
Cồ Đàm thường nói với bạn bè rằng ngay cả khi bị đánh
đập vũ phu, hoặc bị lăng mạ hay bị đánh bằng gậy gộc,
bị ném đá, cũng không nên đánh lại hay có những tư tưởng
hận thù. "Nếu ai chửi rủa bạn, bạn phải dẹp đi tư tưởng
hận thù, và quyết tâm, 'Tâm ta sẽ không bị xáo trộn và
không một lời giận dữ nào sẽ thoát ra từ môi chúng ta.
Tôi vẫn tử tế và thân hữu và có những tư tưởng thương
yêu và không thù oán giấu giếm nào.' Nếu bạn bị đánh
bằng quả đấm, bằng đá, bằng gậy gộc, bằng gươm, bạn
phải ném tư tưởng hận thù và gìn giữ tâm bạn với lòng
thương yêu không có một thù oán giấu giếm nào."
(5)
Chánh Mạng
Đối
với một người thực sự tha thiết tìm cầu chân hạnh phúc,
bước thứ năm là một bước kế tiếp hợp lý. Đó là kế
sinh nhai đúng (chánh mạng). Đức Cồ Đàm tin rằng, có một
số công việc mà người ta làm không thể không làm hại nghiêm
trọng chính mình và người khác. Bất cứ một công việc
nào làm tổn thương sự sống dưới bất cứ hình thức nào
cũng không nên theo. Với người Phật Tử, việc làm ăn này
gồm có: nghề đồ tể, người bán độc dược (ma túy, các
chất say, và tương tự), buôn bán nô lệ, hay người chủ
nô lệ. Ta không nên tham gia vào việc cất rượu hay phân phối
rượu. Cũng chẳng nên làm quân nhân.
Điều
này trái ngược hẳn với giáo lý của Ấn Độ Giáo mà Đức
Cồ Đàm rất quen thuộc. Người Ấn Độ Giáo tin rằng một
người sinh ra để làm nghề nghiệp thích đáng của mình.
Nhưng Đức Phật tin rằng ta không nên cản trở người khác
tìm cách thích ứng vừa ý nhất với cuộc sống. Vì thế,
người ta có thể phải thay đổi nghề nghiệp. Chính Đức
Phật có chung quanh Ngài những người đã từ bỏ đời sống
gia đình và nghề nghiệp thường lệ để đi vào lối sống
tu viện. Ngài cho rằng lý tưởng là tất cả những người
thành thật tìm cầu đạo lý đều làm như vậy. Bằng cách
đó, chắc chắn họ sẽ tìm được sự thỏa mãn lâu dài.
Tuy nhiên sau này một đoàn thể cư sĩ được thành lập. Qua
nhiều năm, ngày càng nhiều những người Phật Tử tiếp tục
sống với gia đình, tìm những công việc thích hợp, hơn là
bỏ lại những thứ như vậy để vào tu viện.
(6)
Chánh Tinh Tấn
Bước
thứ sáu là một bước vượt quá tầm mức hạnh kiểm. Ấy
là Chánh Tinh Tấn, và đối với Đức Phật, những từ này
có một ý nghĩa đặc biệt. Chánh Tinh Tấn có nghĩa là ta
phải tìm cho chính mình một tốc độ riêng trên con đường
Bát Chánh Đạo đi tới chân hạnh phúc. Người tìm cầu đạo
lý không hành động quá chậm chạp hay quá vội vàng. Không
có hạnh phúc nào đạt được trong cố gắng bắt kịp người
khác. Bạn chính là bạn, có nhu cầu của riêng bạn và nhịp
độ của chính bạn. Nhiệm vụ học hỏi để biết những
cái ngã thực sự của chúng ta là học cách đi ở tốc độ
tốt nhất.
(7)
Chánh Niệm
Bước
Thứ Bẩy của Đức Cồ Đàm là Chánh Niệm. Ngài tuyên bố
rằng chính tâm dẫn con người vào hầu hết đời sống bất
hòa. Đức Phật cho rằng, dục vọng thể chất làm quẫn trí,
nhưng thường là vì tưởng tượng mạnh mẽ tạo quá nhiều
dục vọng. Thèm muốn ăn uống tự nó không làm người ta
bất hạnh. Bất hạnh phát triển khi ăn quá nhiều hay quá
ham muốn ăn uống. Một phần của chánh niệm có nghĩa là
học cách nghiên cứu dục vọng thể chất và tất cả mọi
thứ khác xem chúng thực sự là gì không phải như tưởng
tượng làm chúng biến thành.
Mục
đích của Đức Phật là dạy con người rằng những đối
tượng lôi cuốn giác quan có sức mạnh làm chúng ta không
hạnh phúc vì chúng có thể dẫn đến tham dục thái quá. Ngài
thấy rằng những người đàn ông bình thường có thói quen
"lý tưởng hóa" phụ nữ. Ngài dặn dò các đệ tử của Ngài
hãy vượt qua thói quen nô lệ về bộ mặt đẹp. Chuyện được
kể lại về một người lữ khách một lần hỏi một nhà
sư Phật Giáo, "Xin Ngài cho biết, Ngài có trông thấy một
phụ nữ đi bộ dọc theo con đường này không?" Nhà sư trả
lời, "Tôi không thể nói liệu đó là một phụ nữ hay nam
giới đi qua con đường này. Điều mà tôi biết là một bộ
xương đi qua con đường này". Đó là Chánh Niệm Phật Giáo
dẫn tới chỗ cực đoan.
Đức
Phật Cồ Đàm hy vọng những người hành trì Bát Chánh Đạo
sẽ phát triển tính bình tĩnh trong việc tìm cầu hạnh phúc.
Bằng cách đó, mỗi người hãy học cách lùi xa khỏi chính
mình và quan sát những đam mê của chính mình mà không bị
kích thích như khi nhìn các vì sao trên trời. Mỗi người phải
tập coi những xúc cảm của mình xem chúng là gì, cả bên
ngoài lẫn bên trong. Vấn đề này nhắc đến cả cảm nghĩ
đau đớn lẫn cảm nghĩ vui sướng. Nhà sư Phật Giáo cố
gắng luôn nhớ rằng cảm nghĩ tồn tại rất ngắn ngủi,
nó đến rồi đi. Bằng cách này nhà sư có thể giữ vững
mình không bị xáo trộn bởi cảm xúc, không thèm muốn, hay
bám níu vào thứ gì. Những ai có thể chấp nhận cảm nghĩ
của mình trong một cách khách quan này, sẽ ít bị xúc động
bởi những thứ đó.
(8)
Chánh Định
Bước
cuối cùng của Bát Chánh Đạo được gọi là Chánh Định.
Đức Cồ Đàm tán thán một số tập luyện Du Già đang thịnh
hành vào thời Ngài. Tuy rằng Ngài không tìm thấy trong Du Già
câu trả lời đầy đủ trước câu hỏi của Ngài về Bất
Hạnh, Ngài đã được giúp đỡ bởi sự tu tập này để
"an" tâm. Cho nên Ngài nói với các đệ tử của Ngài về giá
trị của sự tu tập này.
Sự
tập luyện Du Già được dạy cho từng cá nhân. Nó liên quan
đến việc học cách lắng được những vọng tưởng của
tâm cho đến khi người đó có thể đi thẳng vào kiến thức
về nhu cầu thực sự của mình. Sự định tâm này do Đức
Cồ Đàm chỉ dạy không phải là một tiến trình lập luận
hay lô gic học. Nó là một cách hiểu biết khác -- bằng tuệ
giác hay trực giác. Vì Đức Cồ Đám công nhận con người
thay đổi nhiều về tính khí, Ngài đưa ra nhiều kiểu huấn
luyện tâm để Chánh Định. Những phương cách này được
phát triển bởi đệ tử của Ngài trong việc tu tập Du Già
vẫn quan trọng đối vói những Phật Tử nhiệt tâm ngày nay.
NIẾT
BÀN
Đức
Cồ Đàm nhấn mạnh người hành trì nghiêm túc Bát Chánh Đạo
sẽ đạt được Niết Bàn. Nghĩa hẹp của Niết Bàn là sự
dập tắt thèm muốn, hận thù và tham lam. Như chúng ta đã
thấy, đối với Đức Phật, sự dập tắt thèm muốn, và
những thái độ không thích hợp là chân hạnh phúc. Niết
Bàn có một nghĩa khác rất quan trọng đối với hầu hết
các Phật Tử. Đó là thoát khỏi tất cả luân hồi trong tương
lai, thoát khỏi "Vòng Trở Thành".
Vì
người Phật Tử không nói đến linh hồn hay Cái Ta, cho nên
họ ngần ngại nói về Đấng Tối Thượng như Phạm Thiên.
Họ cảm thấy những vấn đề này không thể xác định chắc
chắn được. Họ cho rằng, nói suông không quan trọng. Hiểu
biết và tìm hiểu mới quan trọng. Nhưng dù có hay không có
một linh hồn hay đấng Tối Thượng người Phật Tử tin có
tái sanh. Vì những ảnh hưởng và các khuynh hướng thói quen
của kiếp này sẽ tiếp tục tự tái sinh dưới hình thức
này hay hình thức khác trong thời gian không hạn định của
tương lai.
Niết
Bàn không phải là nơi chốn. Nó là một trạng thái của tâm.
Niết bàn đạt được sau những trầm tư nghiêm túc và nỗ
lực mãnh liệt. Trầm tư là một trong những công đức chính
của Người Phật Tử. Vô tư đáng trách. Người Phật Tử
so sánh người vô tư với con khỉ cuồng nhiệt tìm kiếm thức
ăn trong rừng.
Niết
Bàn không có nghĩa là mất ý thức cá nhân vào lúc chết,
vì Đức Cồ Đàm đã đạt niết bàn, và đã bỏ nhiều năm
cố gắng giúp người khác đạt Niết Bàn. Tuy nhiên người
Phật Tử sớm thấy cần nói về Niết Bàn tối hậu. Niết
Bàn này có thể đạt được sau khi chết. Họ gọi đó là
Parinirvana (Vô dư niết bàn).
Một
người thực sự hạnh phúc là người đã đem cả tư tưởng
và nỗ lực cần thiết để thực hiện Niết Bàn. Đức Phật
không kính trọng chức tước hay đẳng cấp -- ngay cả đến
những đẳng cấp thượng lưu của Ấn Độ. Ngài nói người
ta không thể tiến tới hạnh phúc bằng dòng dõi gia đình
mà người ấy được sinh ra. Phải chăng chính Ngài đã sinh
ra không phải là một Thái Tử, thế mà có lúc Ngài đã từng
là người bất hạnh nhất trong những người bất hạnh? Không
phải bởi dơng dõi, không phải bởi của cải, mà là người
ta phải khám phá ra cách vượt qua khổ đau. Bằng tìm cách
vượt qua tham dục bất thiện, bằng cách duy trì việc tu tập
Bát Chánh Đạo, bằng kiến thức của chính mình -- bằng những
thứ này, ta đạt được hạnh phúc trường cửu.
9.
CON ĐƯỜNG NÀO TÔI PHẢI ĐI?
Ngày
này một phần năm người trên thế giới là Phật Tử. Chuyện
về tôn giáo của họ quay về từ ngày Đức Cồ Đàm ngồi
dưới gốc cây Bồ Đề và đứng lên với sự hiểu biết
mới về đời sống. Phật giáo bắt đầu khi năm đệ tử
của Đức Cồ Đàm nghe Ngài kể về kinh nghiệm của Ngài.
Năm người này lại trở thành đệ tử của Ngài, lần này
với quyết tâm thực sự. Nếu họ giữ những tin tức tốt
đẹp này cho mình họ thôi, thì Phật Giáo đã không bao giờ
bắt đầu được. Có thể nói là họ vui vẻ kể lại tất
cả những gì họ nghe được. Số đệ tử của "vị Giác
Ngộ" từ từ phát triển
Đức
Cồ Đàm đã dành phần cuộc đời dài còn lại của Ngài
vào việc giảng dạy và tổ chức các nhóm đệ tử của Ngài.
Cuối cùng, khi Ngài trên 80 tuổi, Ngài từ trần. Những đệ
tử buồn bã của Ngài tiếp tục hội họp và nghiên cứu,
đồng thời cùng nhau hành thiền tưởng nhớ đến những lời
dạy và các cuộc hội họp của Ngài. Đầu tiên họ theo sát
giáo lý của Ngài. Họ cho thấy sức mạnh ảnh hưởng của
Ngài bằng cách duy trì những điều mà họ phải làm giá như
Ngài vẫn còn sống với họ.
Dần
dà một số bắt đầu thấy và trình bày những điều nhắc
họ về bậc thầy của họ. Những điều này trở thành các
biểu tượng của Phật Giáo. Cây Bồ Đề, "Cây Trí Tuệ",
nhắc nhở người Phật Tử nhớ đến sự giác ngộ của Ngài.
Bông sen nở nhắc nhở bất cứ ai cũng có thể hướng thượng,
tinh khiết trước bất cứ gì bao quanh. Bánh xe luân hồi Phật
Giáo là sự tưởng nhớ đến bài pháp đầu tiên về chân
lý bất diệt và cái vòng vô tận của sự trở thành. Những
nhà sư quay bánh xe là biểu tượng để định luật của việc
đưa chân lý bất diệt vào sự chuyển động.
Có
lúc trong những năm đầu Ngài nhập diệt, đệ tử của Đức
Cồ Đàm viết những lời Ngài nói và lời dạy của Ngài
chia thành ba tạng. Kinh sách này được gọi là Tam Tạng Kinh
Điển có nghĩa là "ba tạng chứa". Những vị đạo sư Phật
Giáo quan trọng khác giải thích một số các kinh tạng này.
Họ cũng nói những điều mà người Phật Tử mong ước nhớ
lại. Có những điều được thêm vào kinh thánh.
Dần
dà, những người đệ tử của Đức Cồ Đàm bắt đầu có
ý kiến khác nhau về những gì là quan trọng nhất trong sự
tìm cầu hiểu biết về đời sống. Những sự bất đồng
ý kiến lúc đầu nảy sinh và phát triển thành hai tông phái
lớn. Tông phái Phật Giáo tự cho rằng thay đổi ít so với
hình thái giáo lý của Đức Phật là Tiểu Thừa hay Nam Tông.
Tiểu Thừa Phật Tử, phần lớn cư ngụ tại Thái Lan, Ceylon,
và Miến Điện. Tông Phái lớn hơn là Đại Thừa hay Bắc
Tông Phật Giáo phát triển tại vùng rộng lớn của Trung Hoa,
Nhật Bản, Đại Hàn, và Tây Tạng.
Hai
thuật ngữ này có một ý nghĩa lý thú. Tiểu Thừa có nghĩa
là "cỗ xe nhỏ" và một số ít người có thể thoát khỏi
đời sống khổ đau bằng giới luật nghiêm ngặt. Đại Thừa
có nghĩa "cỗ xe lớn" và có nghĩa nhiều người có thể làm
tròn nhiệm vụ đòi hỏi trên con đường giải thoát.
Cả
hai tông phái này không phải là một lực chính trong đời
sống tôn giáo Ấn Độ, quê mẹ của Phật Giáo. Một thời
gian dài sau khi Đức Cồ Đàm nhập diệt, người dân nhìn
nhận Phật Giáo như một tôn giáo riêng rẽ tách khỏi Ấn
Độ Giáo. Sau khi các nhà sư truyền giáo mang lý tưởng Phật
Giáo đến những vùng đất khác, người dân Ấn dần đà
bắt đầu bác bỏ lý tưởng này như một tôn giáo riêng rẽ,
vì hầu hết giáo lý ấy không bao gồm một số khái niệm
và tu tập đã là một phần truyền thống và xã hội của
họ từ nhiều thế kỷ. Vì một số khái niệm của Đức
Phật được hành trì bởi một số Ấn Đô Giáo, ảnh hưởng
của vị hoàng tử cao quý, thâm trầm vẫn tồn tại tại ở
Ấn Độ hiện đại. Tuy nhiên sự đóng góp của Đức Phật
vào chân lý tôn giáo phát triển rộng lớn ở các vùng đất
khác. Và trong những vùng đất khác này của Viễn Đông, Phật
Giáo đã đạt được nhiều vinh quang tràn đầy.
TIỂU
THỪA PHẬT GIÁO: CON ĐƯỜNG CỦA TỰ LỰC
Ở
Thái Lan, Ceylon và Miến Điện, có nhiều Phật Tử thuần thành,
họ tự tin vào lối sống dạy bởi vị giáo chủ, Đức Cồ
Đàm. Nền tảng cơ bản trong niềm tin của họ là ta chịu
trách nhiệm về sự cứu độ của mình. Quá khứ, hiện tại,
tương lai của mình -- tất cả đều do chính mình. Như Đức
Phật dạy, họ tin như vậy. Không có thần thánh nào sắp
xếp sự cứu độ này. Không ai có thể làm việc đó cho mình.
Người
Phật Tử Tiểu Thừa mộ đạo thực sự là A La Hán mà bổn
phận đầu tiên là tự cứu độ. Người ấy hành trì chuyên
cần để giải thoát khỏi phiền não của nhiều kiếp. Người
ấy tự mình dấn thân vào sự tìm cầu giải thoát bằng cách
tập trung vào lời dạy và triết lý từ giáo lý của Đức
Cồ Đàm. Những nhu cầu về vật chất như ăn, ở, và quần
áo đều hạn chế đến mức tối thiểu. Cả đến những
thứ này cũng thường được tiếp tế bởi các tín đồ khác,
những người không thể phá tất cả những ràng buộc theo
cách A La Hán làm. Họ hy vọng giành được công đức do sự
giúp đỡ A La Hán.
Giống
như tất cả các tôn giáo khác, có một số ít người có
thể và đặt mọi thứ khác đứng sau việc tìm cầu đạo
lý. Công nhận sự thật này, những nhà sư dạy dân chúng
không có cách nào khác hơn là học hỏi chân lý mà Đức Phật
dạy cho họ. Không có thầy tu trong cộng đồng Phật Giáo
Tiểu Thừa nhưng có một đoàn thể tăng già tích cực. Họ
dạy dân chúng điều họ coi là thiết yếu: phát triển tinh
thần hàng ngày và bầy tỏ lòng khả ái đối với mọi thứ.
Những người Phật Tử ngày nay học hỏi điều Đức Cồ
Đàm dạy cho người cư sĩ đã tập trung đông đảo để học
tập giáo lý từ Ngài. Họ được yêu cầu giữ năm giới
đầu tiên của đoàn thể tăng già cổ xưa. Họ cũng được
dạy tụng lời nguyện Phật Giáo rất phổ biến về "Qui Y
"
Tôi
qui y Phật
Tôi
qui y Pháp
Tôi
qui y Tăng
Những
lời dạy của các nhà sư truyền bá khắp các vùng đất Tiểu
Thừa Phật Giáo vì hầu hết tất cả thanh niên trẻ đều
tu học một thời gian trong các tu viện như một phần học
hành của họ. Nơi đây họ tham dự vào phần nghiên cứu vào
những buổi lễ tôn giáo, trong thiền hành và tất cả các
hoạt động khác của tu viện. Những nhà sư dạy họ nhấn
mạnh vào khái niệm quan trọng nhất trong Phật Giáo Tiểu
Thừa -- đó là họ phải học để chịu trách nhiệm về sự
phát triển đạo lý của mình. Họ được khuyến khích nghiên
cứu và đặt thành vấn đề các truyền thống đạo lý. Họ
sẽ không chấp nhận lý thuyết hay tu tập không giúp ích gì
cho việc tìm cầu đạt Niết Bàn. Họ học hỏi những giá
trị của sự tự chủ và ôn hòa trong tất cả mọi sự việc.
Sau
việc học hành như vậy, một số thiếu niên quyết định
xin được thọ giới và sống như một nhà sư trong suốt cuộc
đời còn lại. Mọi người vui với chiều hướng của biến
chuyển này, vì tất cả các tín đồ cảm thấy đó là con
đường duy nhất bảo đảm sự giải thoát khỏi cái vòng
vô tận đau khổ của kiếp sống. Tuy nhiên, gia đình buồn
phiền vì rút cục là mất đứa con, tự an ủi bằng cách
nhớ rằng không nên bám níu quá nhiều vào bất cứ thứ gì.
Họ biết rằng đứa con trai ấy đang làm việc để đạt
Niết Bàn. Có những cuộc lễ long trọng để đánh dấu những
nguyện sống cuộc đời tu viện. Các chàng trai làm lớn chuyện
Từ Bỏ Vĩ Đại mà Đức Cồ Đàm đã làm, từ bỏ gia đình
và vương quốc, khoác áo nhà sư và mang bình bát khất thực,
quyết tâm đi tìm sự giải thoát.
Người
Phật Tử tin rằng những lời dạy của Đức Cồ Đàm vẫn
áp dụng cho đời sống ở thế kỷ hai mươi vì giáo lý ấy
xuất phát thẳng từ sự vật lộn với cuộc đời của Đức
Cồ Đàm. Vì trí tuệ của Ngài đạt được trực tiếp từ
cái xẩy ra cho Ngài chứ không phải do sách vở, ngày nay những
người Phật Tử Tiểu Thừa được khuyến khích đi theo cùng
loại tiến trình học tập Ngài đã làm. Hầu hết họ xác
quyết vị giáo chủ của họ rất đúng về sự hiểu biết
bản chất của phiền não và cách để vượt qua nó. Cho nên
người Phật Tử hết thế này đến thế hệ khác thấy giáo
lý cổ xưa vẫn giá trị. Đó là lý do tại sao những người
Phật Tử Tiểu Thừa ngày nay vẫn rất gần gũi với tinh thần
của những người Phật Tử lúc phôi thai ở Ấn Độ cổ
xưa.
Giống
như hầu hết các tôn giáo, Phật Giáo Tiểu Thừa đã cùng
hòa hợp với người dân lâu đời đến nỗi một số tập
tục xã hội ngày này dường như là một phần của tôn giáo
này. Cả đến trẻ em cũng được dạy sự cần tự chủ,
kính trọng Phương Đông và sự thờ kính cha mẹ, giản dị
trang nhã về con người và nhà cửa, sự thanh thản về xúc
cảm và cư xử. Trong một số nhà và chùa có các thần tượng
hay những tượng Phật, ngoài ra người ta đặt những bông
hoa trắng tượng trưng sự tôn kính.
Tràn
đầy tất cả những công trình xây dựng nhiều mầu sắc
nhưng yên tĩnh của Phật Giáo Tiểu Thừa là những khái niệm
thiết yếu. Con người tự mình phải hiểu biết về sự giải
thoát của chính mình, hãy bắt đầu ngay từ bây giờ. Người
ấy phải tỏ ra đồng cảm và hòa thuận trong các cuộc tiếp
xúc với tất cả chúng sinh. Người ấy phải học cách kiểm
soát tất cả tư tưởng và hành động của mình, vì đây
là những thứ này làm thành chính con người ở cõi đời
này và chúng ảnh hưởng đến tất cả những kiếp kế tiếp.
Không
có hành động hay tư tưởng nào ngăn chặn ta hoàn thành việc
đó. Nó tiếp tục trong cái nó là nguyên nhân xẩy ra. Nếu
bạn trở nên nóng giận và sỉ vả một người bạn, đó
không phải là sự chấm dứt của hành động và lời nói.
Người bạn, bị xúc phạm bởi sự nóng giận của bạn, có
thể phản ứng lại bằng giận dữ với bạn hay cả đến
với người khác. Trên phương diện đó, hành động này tiếp
tục và sống dựa vào những hành động khác. Con đường
của hành động tử tế cũng diễn ra như vậy. Khi bạn tỏ
lòng tốt với một người khác hay cả đến một con vật,
khiến người nhận được sự tử tế cũng hành động cùng
một cách đối vối bên thứ ba.
Ta
gặt cái ta gieo: Người Phật Tử tin rằng tính nết hình thành
những tư tưởng và hành động mà ta đã gieo. Kết quả của
tư tưởng và hành động là cái được tái sinh -- không phải
cái "tôi tinh thần" hay linh hồn. Ta chỉ nhớ lại cuộc đời
mà Ngài Cồ Đàm sống, Ngài đã làm gương hơn là chỉ bằng
lời nói. Ngài đã chứng tỏ tất cả con người có thể giáo
dục lấy mình đến giác ngộ và Niết Bàn. cho dù mất hơn
một kiếp sống. Tác động của tư tưởng và hành động
thiện và nhân ái của Đức Cồ Đàm vẫn tiếp tục cho đến
ngày nay và mọi thời đại dù Đức Cồ Đàm đã tự giải
thoát khỏi vòng tái sinh. Mọi người đều có thể làm những
gì như Đức Cồ Đàm đã làm.
ĐẠI
THỪA PHẬT GIÁO: CON ĐƯỜNG TƯƠNG TRỢ
Theo
đường lối riêng, Đại Thừa Phật Giáo khác hẳn Tiểu Thừa
Phật Giáo. Phật Giáo Bắc Tông này khởi đầu ngay những
năm sau cái chết của Đức Cồ Đàm, khi những đệ tử của
Ngài khao khát những ngày đã qua lúc Ngài ở với họ. Lúc
nào họ cũng tưởng nhớ đến Ngài với lòng tôn kính. Một
số đệ tử sớm đi đến chỗ gắn tầm quan trọng đặc
biệt vào bất cứ gì làm họ nhớ đến đời sống của Ngài.
Những nơi hội họp của họ dần dần bắt đầu giống như
chùa. Những sự thay đổi sâu xa xẩy ra trong sự giải thích
thánh kinh. Những hình thái mới này của Phật Giáo mang tên
Đại Thừa. Đại Thừa nảy sinh để đáp ứng nhu cầu tinh
thần về người dân bình thường bình dị, chăm chỉ làm
việc.
Phật
Tử Đại Thừa tin là họ đúng trong nỗ lực giúp đỡ sự
phát triển tôn giáo. Họ chỉ vào tấm gương phục vụ không
vị kỷ của chính Đức Phật trong việc dạy người khác
cách tìm đường tới Niết Bàn cả đến khi Ngài đã tự
mình đạt được mục tiêu. Tình thương yêu như Ngài đã
chứng tỏ trở thành giáo lý tối thượng của các trường
phái và các phái Đại Thừa Phật Giáo. Đại Thừa Phật Giáo
không lý tưởng hóa A La Hán, người "nay đây mai đó một
mình như con tê giác" tìm kiếm Niết Bàn. Thay vào đó, họ
tỏ lòng kính yêu vị thánh từ bi, một Bồ Tát. Đó là một
người chia sẻ những khổ đau và hy vọng của tất cả chúng
sinh nên đã tự mình không vào Niết Bàn cho đến khi tất
cả những người khác có thể vào Niết Bàn với Ngài. Đó
là lý tưởng chiếm ưu thế trong Phật Giáo Trung Hoa và Nhật
Bản.
Chuyện
về Đức A Di Đà (hay A Mi Đà như được gọi tại Nhật Bản)
minh họa vị trí của Bồ Tát trong Đại Thừa Phật Giáo.
Mặc dù A Di Đà nguyên thủy là một Bồ Tát, bây giờ Ngài
đã thành Phật, vì trong Đại Thừa Phật Giáo có rất nhiều
Phật. Đức Phật A Di Đà đứng kế Đức Cồ Đàm trong tâm
người Phật Tử Bắc Tông. (Ở vùng bắc, Đức Cồ Đàm được
gọi là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là "bậc hiền
triết của dòng họ Sakya" mà gia đình Ngài thuộc dòng họ
ấy). Theo huyền thoại, A Di Đà là người sống vô lượng
kiếp trước. Ngài phát nguyện đem cả trí tuệ và công đức
để cứu những người khác. Qua nhiều năm, Ngài xây đắp
cái có thể gọi là "Kho Tàng Công Đức", một tài khoản khổng
lồ điều thiện. Phật Tử Đại Thừa tin rằng bất cứ ai
cần công đức có thể rút ra từ tài khoản ấy bằng cách
thiền định về từ bi của Đức A Di Đà và niệm tên Ngài.
Trong
các tác phẩm Phật Giáo, tài khoản này thường được đề
cập đến như chiếc "Thuyền chở Nguyện của Đức A Di Đà".
"Chiếc "Thuyền chở Nguyện "được trù tính để chở người
vượt qua lũ lụt của cuộc đời tới "miền đất thanh tịnh"
hay Tây Phương Cực Lạc, nơi Đức A Di Đà thành lập cho tất
cả những ai có niềm tin nơi Ngài. A Di Đà là hình ảnh trung
tâm của một số trường phái và giáo phái trong Đại Thừa
Phật Giáo. Những nhóm này gồm có cái được gọi là "Miền
Đất Thanh Tịnh" của Phật Giáo, vì họ tin rằng bất cứ
ai có niềm tin nới Đức A Di Đà sẽ vào Tây Phương Cực
Lạc khi chết và, như vậy thoát khỏi vĩnh viễn phiền não
và tái sinh.
Bồ
Tát nổi tiếng nhất là Quán Âm (Nhật Bản gọi Kwannon) là
vị nữ thần từ bi. Chuyện cổ nói với người Phật Tử
Đại Thừa rằng Ngài sống từ xa xưa. Ngài tràn ngập tình
thương và khả ái đối với tất cả nhân loại đến mức
Ngài đã phát nguyện giúp đỡ bất cứ người nào bất cứ
ở đâu cần tới Ngài. Thâm chí Ngài không vào cực lạc lúc
nhập diệt. Thay vào thiên đàng Ngài tới sống tại một hòn
đảo, nơi đây hiện có một ngôi chùa tượng trung sự có
mặt của Ngài. Người Phật Tử có thể cầu nguyện Ngài
giúp đỡ trong việc gom góp đủ công đức để tránh khỏi
tái sinh. Một số Phật Tử hành hương đến ngôi chùa này
tại hòn đảo của Ngài ở Biển Đông Trung Hoa.
Lý
tưởng căn bản của cả hai câu chuyện là sự tương trợ.
Người Phật Tử nói cho chúng ta biết những huyền thoại
này được viết bằng truyện tranh. Những huyền thoại này
cho chúng ta thấy chúng ta không độc lập. Chúng ta là một
phần của sự tùy thuộc lẫn nhau trong tất cả đời sống.
Ảnh hưởng của tư tưởng và hành vi của tôi quấn vào ảnh
hưởng của bạn. Không ai là một hải đảo riêng biệt, một
mình trong biển cả đời sống. Mỗi người là một phần
của lục địa. Một nghệ sĩ vẽ bức tranh tượng trưng đời
sống của chúng ta sẽ không vẽ những đường thẳng kéo
dài từ mỗi người chúng ta đến thiên đường nào đó ở
trên. Người ấy vẽ một mạng lưới, những đường thẳng
phức tạp, vì mỗi cá nhân đóng góp phần mình vào cho người
khác. Cho nên, người Phật Tử tin rằng Đức A Di Đà và Đức
Quán Thế Âm cho công đức của họ cho tất cả.
Một
nhà thi sĩ Phật Giáo đã bày tỏ rất đẹp đẽ ý tưởng
về Bồ Tát là gì và Bồ Tát làm gì:
"Tôi
là người che chở cho người không được che chở, hướng
dẫn viên cho người lạc đường, là con tàu, bờ đê, cây
cầu cho những người tìm vào bờ; là ngọn đèn cho những
ai cần đèn, giường nằm cho những ai cần giường, thuộc
hạ cho những ai cần thuộc hạ.
Nếu
tôi không làm trọn lời nguyện của tôi bằng hành động,
tôi sẽ là sai với tất cả chúng sinh. và dù số phận của
tôi thế nào... Nếu tôi không nỗ lực ngay hôm nay, tôi sẽ
gục ngã."
Bất
kỳ ở đâu, Đại Thừa Phật Giáo cũng lôi cuốn một số
đông tín đồ, có những nhà sư, triết gia và sinh viên. Cũng
có một tổ chức tôn giáo có nhiều thần, có chùa, thầy
tu và các cuộc lễ. Vẫn ham thích trở thành một nhà sư nếu
có thể được nhưng cũng có nhiều cách để một cư sĩ tham
gia tôn giáo. Có những nghi thức cho sự thờ phượng riêng
và các thời kinh được hướng dẫn bởi các nhà sư. Một
số hệ phái có những bài thuyết giảng và những âm điệu
tụng niệm trong các thời kinh. Một số có những lớp học
chủ nhật. Ở một vài nơi, Hội các thiếu niên Phật tử
(Gia Đình Phật Tử) là nét đặc thù. Một số thành phố
lớn tại Hoa Kỳ có những nhà thờ Phật, nơi đây bạn có
thể thấy một số các hình thức thờ phượng mới.
Hầu
hết Phật Tử Đại Thừa nhấn mạnh Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni không phải chỉ là người đã sống vào một thời gian
nào đó hay ở một nơi nào đó. Ngài nhiều hơn thế nhiều.
Ngài khám phá ra chân lý bất diệt. Bất cứ lúc nào một
người phụng thờ Đức Phật, tức người ấy thực sự phụng
thờ Phật Tánh bất diệt mà Đức Cồ Đàm đã khám phá ra.
Vạn vật không phải được sắp đặt đến mức khám phá
này chỉ xuất hiện ở thời đại chúng ta. Phật Tử Đại
Thừa tin có nhiều Phật ở các thời đại khác. Họ đang
mong đợi sự thị hiện của Đức Di Lặc, Đức Phật vị
lai ở thời đại kế tiếp. Tóm lại, họ nói về vô lượng
Đức Phật, những Đức Phật đã khám phá ra chân lý cho con
người ở mọi thời đại. Họ có cùng Phật tánh, cái có
thể tìm thấy ỏ mọi người. Tất cả đều có thể đạt
giác ngộ hay Phật Qủa. Nhiều người nói Bồ Tát là các
Đức Phật của thời đại tương lai.
Có
một khía cạnh khác trong Phật Giáo Đại Thừa khác hẳn những
lý tưởng mà chúng ta đã khảo sát, được gọi là Thiền
theo Trung Hoa và Zen ở Nhật Bản. Ở Nhật Bản có ngôi nhà
thờ hoạt động dựa vào triết lý của nó nhưng chủ yếu
nó là một trường phái về tư tưởng thích hợp với nhiều
nhà sư. Thiền không nhấn mạnh bất cứ một ý tưởng nào
về đấng cứu tinh, Thiên Đường Tây Phương, niềm tin hay
thượng đế. Các triết gia Thiền nói rằng tất cả những
ý tưởng và tu tập giống như cái vỏ cần phải phá vỡ
ra nếu muốn ăn trứng. Người ta bám níu vào các ý tưởng
và tu tập, quên đi điều họ muốn giải thích và trình bày.
Bám níu vào ý tưởng giống như bám níu vào gió hay giữ gió
trong hộp. Gió tránh bạn. Chân lý cũng giống như vậy, nếu
bạn tự giới hạn vào một tư tưởng hay một hành động.
Đối
với người Phật Tử Thiền, thầy giáo, sách vở, và kinh
thánh chỉ là những lời gợi ý -- giống như ngón tay chỉ
mặt trăng. Trẻ nhỏ thường nhìn vào ngón tay chỉ hơn là
nhìn vào vật được chỉ. Hầu hết những người lớn cũng
bận tâm nhiều đến cái chỉ hơn là đến cái được chỉ.
Tâm, miệng, mắt, tai và tay cung cấp cho chúng ta ý kiến, cảm
tưởng và hành động. Nhưng những thứ này chỉ là cách để
mô tả hoặc trình bày điều đã xẩy ra cho chúng ta. Cái nguy
hiểm là chúng ta bị ràng buộc vào ý kiến, ấn tượng và
hành động, mà quên đi kinh nghiệm tạo ra chúng. Đó cũng
giống như đặt quá nhiều giá trị vào khung hình hơn là vào
cái hình được thiết kế để làm cho nổi bật. Hay cững
giống như trân quý cái bìa sách và quên đi câu chuyện trong
sách.
Người
Phật Tử tu Thiền nói rằng bạn chỉ tìm thấy chân lý bằng
kinh nghiệm chứ không phải nghĩ về chân lý hay nghe ai kể
về kinh nghiệm của người ấy. Muốn hiểu ý nghĩa cuộc
đời, ta phải sống, chứ không phải hình thành các lý thuyết
về nó. Một hôm một đạo sư Thiền nổi tiếng muốn gây
sửng sốt cho đệ tử của Ngài bằng cách ném tất cả tượng
Phật vào lửa để căn phòng được ấm hơn. Đây là cái
mà Thiền nói là mọi người phải làm với tất cả khái
niệm của mình - đốt chúng đi để chúng không chứa đầy
tâm ta quá mức. Phải đập tan mọi lý thuyết như đập tan
thần tượng bằng đất sét. Người tu Thiền còn dạy rằng
nếu nói đến chữ "Phật", phải súc sạch miệng mình.
Các
đạo sư Thiền biết rằng bằng lời nói từ miệng không
thể dạy chân lý, Chân lý chỉ có thể tìm thấy bằng kinh
nghiệm. Khi người trẻ tuổi hỏi về Niết Bàn hay Phật,
các đạo sư thiền thường trả lời với bất cứ gì họ
thấy trong tâm tuy là ngớ ngẩn. Hay họ có thể dùng "phép
đột khởi" mà đánh đệ tử. Họ hy vọng với câu trả lời
bất thần như vậy khiến người đệ tử ngộ được. Họ
thường nhắc các đệ tử là tập trung vào một vấn đề
không mang lại câu trả lời vì chỉ làm cho tâm bạn bối
rối trong việc suy nghĩ. Bạn phải sống cuộc đời điều
độ và khả ái, tiếp tục các công việc hàng ngày, học
cách đặt vấn đề, các ấn tượng và tư tưởng của bạn.
Đột nhiên một ngày nào đó, bạn sẽ ngộ.
TẦM
VƯỢT XA CỦA PHẬT GIÁO
Không
một vùng đất nào trên thế giới lại thay đổi nhanh hơn
Viễn Đông. Hoàn cảnh trong những xứ sở Phật Giáo đã thay
đổi nhiều lần từ khi Đức Cồ Đàm triển khai lần đầu
tiên câu trả lời về điều bí ẩn tại sao con người đau
khổ. Cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa Phật Giáo đã chứng
tỏ có thể thích ứng với những hoàn cảnh thay đổi và
với những dân tộc khác nhau. Thế giới ngày mai sẽ phát
triển từ thế giới hôm nay. Cho nên Phật Giáo chắc chắn
sẽ tiếp tục là một ảnh hưởng thực sự trong đời sống
của những nước láng giềng Viễn Đông của chúng ta. Đại
Thừa Phật Giáo đang mở rộng ảnh hưởng bằng cách gửi
các nhà truyền giáo tới những vùng đất mới vối niềm
tin là điều Đức Phật khám phá ra có thể giúp đỡ hầu
hết mọi người.
"Tại
sao tôi không hạnh phúc?" Đức Phật gợi ý: vì bạn tràn
đầy mong muốn, cho đến khi sự mong muốn là sự khát khao
thì nó không thể thỏa mãn được dù bạn đã được thứ
bạn muốn.
"Làm
thế nào tôi có hạnh phúc?" Bằng cách chấm dứt mong muốn.
Giống như ngọn lửa tắt khi không thêm dầu thêm vào, cho
nên sự bất hạnh của bạn chấm dứt khi nhiên liệu của
tham dục thái quá bị lấy đi. Khi bạn chiến thắng được
lòng ích kỷ, những thói quen và hy vọng dại dột, hạnh phúc
thực sự sẽ hiện ra.