MỤC
LỤC
Lời
nói đầu
Lời
thưa về việc hiệu đính
Tiểu
sử Tôn giả Sàntideva
Chương
1: Lợi ích của Tâm Bồ Đề
Chương
2: Sám hối tội nghiệp
Chương
3: Phát Tâm Bồ Đề
Chương
4: Thực hành Tâm Bồ Đề
Chương
5: Chánh niệm, Tỉnh giác
Chương
6: Nhẫn nhục
Chương
7: Tinh tấn
Chương
8: Thiền quán
Chương
9: Trí tuệ
Chương
10: Hồi hướng
LỜI
NÓI ĐẦU
Ngài
Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện
Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu
hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của
Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm
hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời.
Dịch
giả đã tham cứu các bản dịch dưới đây:
- Bản
Hán dịch của Trần Ngọc Giao
-
bản Pháp dịch của Georges Driessens
-
bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton
-
bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải .
Luận
này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo
lối tu Đại thừa ở Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung
Hoa. Vì dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ
cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, vì vậy không thể
tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức
cùng qúy Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản
dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn.
Xin
chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đã
giúp phần hiệu đính và hoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi
hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi
khổ não, viên thành Phật đạo.
California,
Mùa Phật Đản 2459-2005
Nguyên
Hiển
Lời thưa
về việc hiệu đính
Tập
Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát,“ của Tôn giả Santideva,
do cư sĩ Nguyên Hiển dịch sang Việt ngữ năm 2005, theo thể
kệ, đã đến tay tôi trong một hoàn cảnh đầy kỷ niệm.
Năm 2005, chúng tôi bị một bệnh nặng hành hạ suốt nửa
năm dài. Hàng ngày đau nhức vô cùng. Chúng tôi chưa đồng
ý để bác sĩ mổ và kham nhẫn chịu đựng. Hàng ngày niệm
Phật và thỉnh thoảng đọc phẩm Phổ Môn.
Một
ngày nọ, năm người bạn từ phương xa đến thăm vì muốn
„tiếp sức“ cho chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đang nằm ở
bệnh viện trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Các bạn phải
trò chuyện cùng nhau nơi hành lang của bệnh viện. Cuối cùng
chúng tôi gặp mặt nhau khoảng 15 phút rồi chia tay. Riêng đạo
hữu Nguyên Định có đem theo để tặng và khuyên chúng
tôi nên đọc tập Luận nói trên. Chúng tôi đọc lướt qua
và thấy nội dung vô cùng ý nghĩa.
Một
buổi tối, sau bữa ăn chiều, chúng tôi đọc lại tập Luận
kỹ hơn. Bỗng dưng trong đầu chúng tôi vang lên âm thanh như
dòng nhạc của những câu kệ trong phẩm Phổ Môn, ví dụ
như
„Bi
thế giới lôi chấn,
Từ
ý diệu đại vân,
Chú
cam lồ pháp vũ
Diệt
trừ phiền não diệm“ hoặc
„Diệu
âm, Quán thế âm,
Phạm
âm, hải triều âm,
Thắng
bỉ thế gian âm,
Thị
cố tu thường niệm“.
Lòng
chúng tôi bỗng nổi lên cảm hứng chỉnh sửa ngay lại một
số câu trong bản dịch của cư sĩ Nguyên Hiển, với ước
muốn mình có riêng một bản Luận đọc nghe êm nhẹ hơn,
dù không bằng những câu ví dụ trong phẩm Phổ Môn.
Chúng
tôi vừa đọc vừa ghi chép cho đến khi cảm thấy buồn ngủ.
Kim đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya. Chúng tôi vô cùng
kinh ngạc: Tại sao mình đã mất cảm giác đau nhức và mệt
mỏi suốt 6 tiếng đồng hồ? Có gì linh thiêng và huyền nhiệm
tỏa ra từ những dòng kệ „Nhập Hạnh Bồ Tát“chăng? Chúng
tôi đi ra hành lang bệnh viện để kiểm lại thì giờ. Đồng
hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya.
Hôm
sau, đạo hữu Nguyên Châu, trong nhóm những người đã đến
thăm chúng tôi, gọi điện thoại hỏi về bệnh tình. Chúng
tôi thuật lại chuyện kỳ diệu đã trải qua trong đêm. Đạo
hữu liền kể ngay cho tôi biết lược sử của Tôn giả Santideva
và cho biết Phật tử Tây Tạng rất sùng kính Luận „Nhập
Hạnh Bồ Tát“ như Phật tử châu Á sùng kính phẩm Phô Môn.
Nhiều Phật tử đã cảm nhận được sức mạnh thiêng liêng
toát ra từ tập Luận. Cuối cùng anh bạn đã khuyên chúng
tôi nên cố gắng „đánh bóng“ công trình việt dịch của
cư sĩ Nguyên Hiển vì điều này vừa giúp cho bản thân chúng
tôi giảm được sự đau khổ của thân xác trong lúc đau bệnh
và biết đâu bạn bè nhờ đó mà có được một bản dịch
dễ tụng hơn. Chúng tôi đã hứa sẽ theo đuổi việc „đánh
bóng“ ấy. Động cơ quan trọng nhất đã thúc đẩy việc
làm của chúng tôi là đạo hữu Nguyên Hiển đã cho phép chúng
tôi hiệu đính lại bản dịch của anh.
Những
ngày hôm sau chúng tôi lần lượt nhận được 5 bản dịch
khác do bạn bè gởi đến với lời khuyến khích làm công
việc hiệu đính. Đó là bản Đức ngữ „Eintritt in das Leben
zur Erleuchtung“ do G.S. Ernst Steinkellner chuyển ngữ năm 1981,
ba bản Việt ngữ gồm có: „Bồ Tát Hạnh, do Thượng Tọa
Thích Trí Siêu dịch năm 1990, „Nhập Bồ Tát Hạnh“ do Ni
Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998 và „Một tia chớp sáng
trong đêm tối“ do đức Dalai Lama giảng giải và do Đoàn
Phụng Mệnh dịch năm 1999 và bản Anh ngữ „Engaging in Bodhisattva
Behavior“ do ông Alexander Berzin dịch năm 2005. Sáu bản dịch
rất công phu với những chú giải rõ ràng mà chúng tôi đọc
được, đã soi sáng cho chúng tôi thấy được nội dung và
ý nghĩa của con đường đi của các bậc Bồ Tát. Nơi
đây, chúng tôi chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc của
chúng tôi đến tất các vị dịch giả và giảng giải.
Hôm
nay, sau gần một năm rưởi, chúng tôi hoàn thành bản hiệu
đính với tâm trạng khinh an, mặc dù vẫn còn nhiều khuyết
điểm. Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến tất cả
chúng sinh và cầu mong cho tất cả đều đạt được mục
đích giác ngộ và giải thoát.
Chúng
tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn sâu sắc đến hiền nội và
bằng hữu đã khuyến khích và hỗ trợ việc hiệu đính,
hỗ trợ tìm tài liệu, đánh vi tính và sửa lỗi chính tả.
Göttingen,
ngày 14.01.2007
Lê
Triều Phương
TIỂU
SỬ
TÔN
GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA)
Thích
Trí Siêu (Pháp)
Theo
truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng
Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua
Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng
thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa
đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu
thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.
Lớn
lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài
nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn
Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có
chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu
ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng
của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy
đây.”
Tỉnh
dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ
tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung
thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa
khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định
uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống
vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một
thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi
thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời:
”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài
rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội củaVăn
Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”.
Vừa
nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt
được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy
kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống
trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường
và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát.
Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội
trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu
nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy
Văn Thù Bồ Tát.
Sau
đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều
của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được
vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ lòng thành kính
nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ
Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp
vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ
nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh
tức, tìm cách gièm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng:
”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình
một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng
tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến
làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin
Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa
tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa
tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được,
nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi
ngờ nhất quyết đòi xem.
Cuối
cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết
muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt
phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận
và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến
con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối
hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành
tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa
tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua
khỏi mù.
Sau
đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda,
xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe
hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận:
Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra.
Ngài
tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền
định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền
quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài
chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế
một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống
khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến: Nếu
chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên
lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết
gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối
cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử
tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi
ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể
trùng tuyên Kinh Luận gì được.
Sau
khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng
lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau
này?”. Vì muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những
sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên
Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi
Có và Không không còn khởi lên trong tâm…... thì ngài bay
lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài
còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh.
Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài
tìm kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya
(Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và
Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).
CHƯƠNG
MỘT
LỢI
ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ
Đối
tượng và mục đích
1.
Con trân trọng cúi đầu
Đảnh
lễ các đức Phật (1)
Cùng
các vị Thừa Kế (2)
Và
những bậc đáng kính.
Con
nương lời Phật dạy
Xin
nêu lên ngắn gọn
Lối
vào hạnh Bồ Tát
2.
Luận này nghĩa chẳng mới
Vần
điệu cũng không hay
Chẳng
dám vì lợi tha
Viết
ra để nhắc nhở
Và
thấm nhuần tâm mình.
3.
Nhờ sự nhắc nhở này
Mà
tín tâm tăng trưởng
Ai
cùng một tin tưởng
Cũng
được lợi ích nhiều.
Lợi
ích của tâm bồ đề
4.
Hạnh phúc thay gặp duyên
Sinh
ra thân con người
Nay
không nhân cơ hội
Để
tu hành giải thoát
Sau
này tìm đâu ra.
5.
Như đêm mây dày dặc
Được
lằn chớp chiếu soi
Nhờ
thần lực chư Phật
Tâm
lành thoảng khởi lên.
6.
Đức hạnh rất yếu ớt
Trước
sức mạnh điều xấu
Chỉ
có tâm Bồ đề
Mới
cưỡng lại, đứng vững.
7.
Trải nhiều kiếp tư duy
Phật
thấy tâm Bồ đề
Có
công đức vô lượng
Cứu
vô số chúng sinh
Thoát
ra ngoài biển khổ.
8.
Muốn thoát khổ của đời
Trừ
tai họa muôn loài
Muốn
được chân hạnh phúc
Chớ
rời tâm bồ đề
9.
Người người trong sanh tử
Phát
được tâm bồ đề
Được
gọi là con Phật
Xứng
đáng được tôn kính
10.
Nước phép tâm bồ đề
Sẽ
biến thân ô trược
Thành
thân Phật vô giá
Hãy
giữ Bồ đề tâm
11.
Đấng Đạo sư thấy rõ
Tâm
Bồ đề qúi báu
Muốn
vượt thoát ba cõi
Phải
giữ vững tâm này.
12.
Làm lành như cây chuối
Quả
hết rồi héo khô
Tâm
Bồ đề to lớn
Như
đại thụ xum xuê
Luôn
sinh quả tươi tốt.
13.
Người đời phạm tội nặng
Nhờ
thế lực che chở
Biết
sự nghiệp đã tạo
Sao
chẳng tìm chỗ nương?
14.
Đức Di Lặc đã giảng
cho
Thiện tài biết rằng
Tâm
Bồ đề kỳ diệu
Như
lửa thời hoại kiếp
Đốt
tan bao tội nặng
Chỉ
trong một sát na.
Hai
loại tâm bồ đề
15.
Tâm bồ đề bao gồm
Hai
nguyện để tu tập:
Trước
là nguyện phát tâm
Sau
thực hành tâm ấy.
16.
Ai cũng đều biết rằng
“Muốn
đi“ khác với “đi“
Người
trí nên biết rõ
Sự
khác biệt như vậy.
17.
Nguyện phát tâm bồ đề
Tuy
sinh kết quả lớn
Song
không thể sánh bằng
Nguyện
thực hiện tâm này.
Ca
ngợi tâm bồ đề
18-19.
Những ai đã quyết tâm
Cứu
độ mọi chúng sinh
Thì
không thể ngừng nghỉ
Thực
hiện tâm bồ đề.
Từ
lúc ấy trở đi
ngay
trong khi ngủ nghỉ
Phước
đức vẫn liên tục
Tăng
lớn như hư không
20.
Để người tin Tiểu thừa
Không
ngừng bước tiến lên
Trong
Kinh Vấn Diệu Lý
Đấng
Như Lai đã dạy
Công
đức tâm bồ đề
Thật
rộng lớn vô biên.
21-22.
Chỉ nghĩ cách chữa lành
Đầu
mọi người khỏi nhức
Là
sự phát tâm quý
Đem
cho ta phước đức.
Phước
đức càng lớn hơn
Khi
cứu giúp chúng sinh
Thoát
ưu phiền thống khổ
Đạt
được cõi an lành.
23.
Có cha nào, mẹ nào
Đã
phát tâm như vậy?
Tiên,
chư Thiên, Phạm Thiên
Đã
có chưa tâm ấy?
24.
Xưa nay dù trong mơ
Chưa
ai nguyện như thế
Dù
vì lợi cho mình
Nói
chi đến phát nguyện
Cứu
độ cho người khác.
25.
Làm sao có thể tìm
Được
một vị Bồ Tát
[Một
viên ngọc hy hữu]
Giữa
chúng sinh ích kỷ
Chẳng
biết làm điều lành
Vì
lợi ích chúng sinh!
26.
Tâm bồ đề trân quý
Là
mầm mống an vui
Là
linh dược diệt khổ
Tạo
phước đức vô lường.
27.
Ý nghĩ làm lợi người
Đã
hơn phước cúng Phật
Huống
chi luôn nỗ lực
Làm
lợi lạc chúng sinh.
28.
Có biết bao chúng sinh
Tuy
cầu mong an vui
Song
hủy diệt nguồn cội
Sản
sinh ra hạnh phúc
Như
tận diệt kẻ thù.
29.
Chúng sinh thiếu niềm vui
Lại
chịu nhiều đau khổ
Tâm
nguyện Bồ đề này
Đem
vui và diệt khổ.
30.
Tâm Bồ đề có thể
Trừ
diệt sự ngu si
Có
bạn lành nào sánh
Còn
phước nào lớn hơn?
31.
Ta khen kẻ đáp ơn
Khi
thọ ân bố thí
Bồ
tát luôn ban ơn
Dầu
chưa được cậy nhờ
Với
tâm hạnh như vậy
Đáng
ca ngợi xiết bao!
32.
Kẻ bố thí thức ăn
Giúp
chúng sinh đỡ đói
Dù
họ no nửa ngày
Đã
là người đáng trọng
33.
Bồ tát thường ban cho
Niềm
vui của chánh giác
Làm
thỏa mãn tất cả
Nguyện
vọng mọi hữu tình .
34.
Đức Phật đã dạy rằng
Bồ
tát cứu muôn loài
Nên
đáng được tôn quý
Ai
phỉ báng Bồ tát
Sẽ
sa đại địa ngục
35.
Ngược lại, ai tín thành
Cung
kính chư Bồ tát
Sẽ
hưởng phước đức lớn
Bồ
Tát dù gian nan
Việc
ác vẫn không làm
Càng
hăng làm việc thiện.
36.
Tôi kính xin đãnh lễ
Người
phát tâm bồ đề
Đem
vui cho chúng sinh
Cho
cả kẻ hại mình.
Tôi
cúi đầu kính lạy
Và
xin được quy y
Nơi
chư vị Bồ tát
Cội
nguồn chân hạnh phúc.
CHƯƠNG
HAI
SÁM
HỐI TỘI NGHIỆP
Nghi
lễ Bồ Tát
Ca
ngợi
1.
Để con nắm giữ được
Tâm
nguyện quí giá này
Con
cúng dường chư Phật
Và
Pháp Bảo thiêng liêng
Con
cúng dường Bồ tát
Đầy
phẩm tính tốt lành.
Cúng
dường
2.
Cúng dường hoa quả tươi
Thức
ăn ngon quý nhất
Nước
uống thật tinh khiết
Vật
quý báu trên đời
3.
Cúng dường núi châu báu
Rừng
thanh tịnh ngát hương
Hoa
cõi trời diễm tuyệt
Trái
quý buông trĩu cành
4.
Cúng dường những hương thơm
Ngào
ngạt cõi trời đất
Cúng
dường trang sức quý
Cúng
dường cây như ý
Thành
tựu mọi ước mơ
Cúng
dường mọi ngũ cốc
Tự
sinh không người trồng.
5.
Cúng dường ao sen đẹp
Thiên
nga hót dịu êm
Và
mọi vật vô chủ
Đầy
dẫy khắp bầu trời.
6.
Con giữ chúng trong tâm
Dâng
lên đấng Thế Tôn
Và
chư vị Bồ tát
Thỉnh
cầu đức Thế Tôn
Từ
bi nghĩ đến con
Mà
nhận vật cúng dường.
7.
Con vô phước bần cùng
Không
một chút tài sản
Kính
xin đức Phật thương
Nhận
lễ vật tâm con.
8.
Con nguyện đem thân tâm
Để
làm kẻ nô bộc
Phụng
sự Phật, Bồ tát
Mong
quí ngài xót thương
Thâu
nhận lễ vật này.
9.
Được các ngài thâu nhận
Thân
tâm con siêu thoát
Con
nguyện sống lợi tha
Diệt
trừ các ác nghiệp.
10-11.
Đây nhà tắm tráng lệ
Nền
thủy tinh long lanh
Cột
trụ khảm trân châu
Lọng
dù bằng ngà ngọc
Trần
thiết lộc bình quý
Đầy
nước thơm thích ý
Ngân
vang muôn diệu âm
Thỉnh
Phật, Bồ tát tắm
12.
Đây khăn tắm sạch thơm
Lau
khô thân các ngài
Đây
y phục cõi trời
Với
màu sắc mỹ lệ
Lan
tỏa hương dịu thơm.
13.
Đây y phục mềm mại
Và
trăm trang sức quý
Dâng
lên Đức Phổ Hiền,
Văn
Thù, Quán Thế Âm.
14.
Hương liệu thơm vũ trụ
Xin
thoa ngọc thể Ngài
Tỏa
hào quang thanh tịnh
Óng
ánh sắc vàng ròng.
15.
Xin cúng dường chư Phật
Các
tràng hoa đẹp đẽ
Kết
từ hoa tươi thơm
Như
hoa sen, hoa lài
Hay
hoa mạn đà la.
16.
Con xin dâng chư Phật
Vầng
mây hương ngây ngất
Dâng
thực phẩm cõi trời
Thức
ăn uống đẹp ngon.
17.
Con dâng đèn hoa ngọc
Chân
chạm đá sen vàng
Nền
nhà dịu mát hương
Rải
đầy hoa đẹp ý.
18.
Xin cúng dường chư Phật
Những
lâu đài tráng lệ
Rèm
buông ngọc lung linh
Du
dương ngân tiếng hát.
19.
Xin dâng hiến chư Phật
Lọng
che bằng châu ngọc
Cán
đúc toàn vàng ròng
Viền
thêu hoa mỹ lệ.
20.
Cúng phẩm nhiều như mây
Nhạc
du dương hoà tấu
Khổ
đau được dịu xoa
Mong
sao chúng mãi còn.
21.
Mưa hoa, mưa ngọc ngà
Mong
luôn luôn buông rơi
Trên
thân Phật, tháp Phật
Trên
giáo pháp diệu kỳ.
22.
Như Ngài Diệu Cát Tường
Xưa
kia cúng dường Phật
Nay
con xin cúng dường
Phật,
Bồ tát như vậy.
23.
Dùng âm vang hải triều
Tán
dương công đức Phật
Nguyện
tiếng tán dương này
Luôn
vang đến các Ngài.
24.
Nguyện hoá thân như bụi
Lễ
lạy Phật ba đời
Lễ
lạy Pháp và Tăng
Cùng
khắp cả pháp giới.
25.
Con lễ lạy tháp Phật
Các
nơi Bồ tát ở (3)
Lễ
bậc trì giới nhất
Kính
lễ hàng thánh tăng.
Quy
y
26.
Từ nay cho đến khi
Đạt
Vô thượng Bồ đề
Con
nguyện quy y Phật,
Pháp
và chư Bồ Tát.
Sám
hối
27.
Trước chư Phật, Bồ Tát
Ở
cùng khắp mười phương
Thánh
chúng bi trí huệ
Con
xin chấp hai tay
Thành
khẩn nguyện như vầy:
28-29.
Từ vô thỉ đến nay
Trôi
lăn trong sinh tử
Với
tội ác không lường
Do
tự mình gây ra
Hay
xúi giục người làm
Vì
vô minh che lấp
Nay
con biết lỗi lầm
Thành
tâm
xin sám hối.
30-31.
Lỗi lầm con đã phạm
Qua
nghiệp thân, khẩu, ý
Đã
gây bao tổn hại
Cho
Tam bảo (4), mẹ cha
Cũng
như cho Thầy Tổ
Và
cho bao kẻ khác
Nay
trước đức Thế Tôn
Con
thành tâm sám hối
Mọi
tội lỗi gây ra.
32.
Nếu sám hối chưa trọn
Con
lỡ chết thì sao?
Vậy
xin Ngài mau cứu
Trước
khi thần chết đến.
33.
Thần chết thật lừa lọc
Nó
không biết đợi chờ
Tội
rửa sạch hay chưa
Dù
đang bệnh hay khỏe
Con
không thể nào tin
Vào
mạng sống mong manh
Lập
loè như lửa đóm.
34.
Con đã không ý thức
Chết
là bỏ tất cả
Nên
con đã quanh quẩn
Với
bè bạn, kẻ thù
Nên
đã tự gây ra
Biết
bao điều xấu ác.
35.
Đời người như mộng ảo
Điều
gì đã trải nghiệm
Cũng
chỉ là ký ức
Tất
cả đều trôi qua
Không
bao giờ trở lại.
36.
Kẻ thù thành hư vô
Người
thân như mây khói
Thân
ta rồi phải chết
Tất
cả trở về không.
37.
Trong đời ngắn ngủi này
Kẻ
thân, thù đã chết
Duy
nghiệp ác đã gây
Còn
lại đe dọa ta.
38.
Tôi đã không ý thức
Rồi
cũng chết như họ
Nên
cứ tham sân si
Tạo
ra bao lầm lỗi.
39.
Mạng sống giảm từng ngày
Chẳng
bao giờ ngừng nghỉ
Không
thể nào tăng lên
Làm
sao ta thoát chết?
40.
Đến lúc sắp lâm chung
Dù
thân thuộc vây quanh
Thống
khổ lúc hấp hối
Tôi
gánh chịu riêng mình.
41.
Khi Diêm Vương đến bắt
Thân
bằng có ích gì?
Chỉ
phước đức mới cứu
Tôi
lại chưa tu tập!
42.
Do buông lung không biết
Hậu
quả xấu mai sau
Bám
víu đời mong manh
Ta
tạo bao nghiệp xấu.
43.
Như kẻ ra pháp trường
Kinh
hãi, miệng khô đắng
Mắt
trợn trắng, thất thần
Hình
sắc cũng đổi khác.
44.
Huống chi khi thấy bóng
Ma
vương đến bắt ta
Kinh
hoàng sao kể xiết
Khổ
đau dâng tột cùng.
45.
Ai cứu tôi ra khỏi
Cơn
sợ hãi lớn này
Tôi
tròn xoay đôi mắt
Nhìn
bốn phương van cầu.
46.
Bốn phương không thấy ai
Sợ
hãi lại càng tăng
Không
nơi nào che chở
Tôi
phải làm sao đây?
47.
Con xin quy y Phật
Ngài
là đấng Từ Bi
Bảo
vệ, đem lợi ích
Cho
tất cả muôn loài
Có
năng lực giải cứu
Tiêu
trừ bao hãi sợ.
48.
Con xin quy y Pháp
Mà
chư Phật chứng ngộ
Có
thể đưa chúng sinh
Sang
đến bờ giải thoát
Và
con xin quy y
Nơi
chư vị Bồ Tát.
49.
Trong cơn sợ bấn loạn
Con
xin dâng thân mạng
Lên
Bồ tát Phổ Hiền
Và
Bồ tát Văn Thù.
50.
Với tiếng kêu khẩn thiết
Con
cầu Đức Quan Âm
Với
tấm lòng đại bi
Cứu
con, kẻ mê lầm.
51.
Con cầu cứu các Ngài
Hư
Không Tạng Bồ Tát
Địa
Tạng Vương Bồ Tát
Chư
Bồ Tát đại bi.
52.
Con cũng xin nương tựa
Kim
Cương Trí Bồ Tát
Ngài
mà các sứ giả
Của
Diêm vương khiếp vía .
53.
Xưa trái lời Phật dạy
Nay
gặp nạn hãi hùng
Con
xin quy y Phật
Mau
cứu độ cho con.
54-56.
Với bệnh nhẹ tầm thường
Đã
tuân lời thầy thuốc
Huống
chi trăm thứ bệnh
Sinh
từ tham sân si!
Một
trong trăm bệnh này
Đã
đủ làm tiêu hủy
Mọi
loài Nam Diêm phù
Nay
chạy khắp mọi nơi
Tìm
không ra thuốc chữa.
Phật
là đại y vương
Dạy
giáo lý thoát bệnh
Những
ai không làm theo
Thực
ngu si đáng trách.
57.
Bên hố sâu vài trượng
Tôi
đi phải đề phòng
Cạnh
địa ngục sâu thẳm
Sao
đời đời nhởn nhơ?
58.
Nghĩ rằng tôi chưa chết
Nhởn
nhơ sống phóng dật
Quả
thật là dại khờ
Bởi
vì sớm hay muộn
Cái
chết phải đến thôi.
59.
Tôi không thể có được
Cái
cảm giác dễ chịu
Rằng
trong ngày hôm nay
Thần
chết sẽ không đến.
Chắc
chắn nó xuất hiện
Làm
sao yên hưởng nhàn?
59.
Ai cho sự không sợ
Ai
chỉ tôi lối thoát
Làm
sao thoát hãi kinh
Của
sự chết phải đến
Sao
có thể nhởn nhơ?
60.
Khoái lạc đã trải qua
Chỉ
còn là hoài niệm
Bám
víu mà làm chi
Để
trái lời Phật dạy?
61.
Chết là lìa bỏ hết
Người
thân và bạn bè
Đi
vào cõi vô định
Bạn
hay thù ích chi?
62.
Tôi nên hằng ngày đêm
Tỉnh
thức với tư duy
Rằng
gieo ác, gặt ác
Làm
sao ta tránh khỏi
Sự
gieo xấu ác đây?
63-64.
Vì ngu đần, vô minh
Phạm
giới do Phật chế
Gây
biết bao tội lỗi
Lòng
run sợ ác báo.
Nay
đối diện chư Phật
Con
chấp tay đãnh lễ
Chư
Phật và Bồ tát
Xin
thành tâm sám hối.
65.
Mong các Ngài tha thứ
Bao
tội lỗi từ xưa
Và
con xin thệ nguyện
Vĩnh
viễn không tái phạm
Những
hành vi độc ác.
CHƯƠNG
BA
PHÁT
TÂM BỒ ĐỀ
Vui
theo hạnh lành
1.
Tôi xin vui sướng theo
Công
đức và hạnh lành
Mà
chúng sinh thực hiện.
Tôi
cầu họ an vui.
2.
Tôi vui mừng ca ngợi
Chúng
sinh thoát khổ ải
Và
thoát vòng luân hồi
Thành
Bồ tát, thành Phật.
3.
Tôi xin vui sướng theo
Tâm
nguyện như biển cả
Của
chư Phật, Bồ tát
Giúp
mọi loài đang sống
Được
hạnh phúc an vui.
Thỉnh
cầu chánh Pháp
4.
Tôi chấp tay thỉnh cầu
Chư
Phật khắp mười phương
Đốt
lên đuốc chánh pháp
Soi
đường kẻ lầm mê
Đang
rơi vào thống khổ.
Thỉnh
cầu bậc Chiến Thắng ở lại thế gian
5.
Tôi chắp tay thỉnh cầu
Xin
các bậc Chiến Thắng
Đang
muốn nhập Niết Bàn
Hãy
ở lại thế gian
Suốt
hằng hà sa kiếp
Để
cứu độ chúng sinh
Thoát
khỏi vòng tăm tối.
Hồi
hướng công đức
6.
Với công đức làm lành
Tôi
tích tụ từ lâu
Nay
xin nguyện hồi hướng
Cứu
khổ mọi sinh linh.
7.
Với chúng sinh đau bệnh
Nguyện
hoá làm thuốc hay
Vừa
làm thầy thuốc giỏi
Vừa
làm kẻ điều dưỡng.
8.
Thời tai ương đói khát
Nguyện
làm thức uống ăn
Nguyện
như mưa cam lồ
Dập
tắt lửa đói khát.
9.
Đối với kẻ bần hàn
Nguyện
thành kho vô tận
Nguyện
thành nhu yếu phẩm
Đáp
ứng mọi nhu cầu.
Tự
hiến thân mình
10.
Vì an vui chúng sinh
Nguyện
dâng hiến tất cả
Tài
sản và thân mạng
Làm
thiện suốt ba đời.
11.
Buông hết tất thoát khổ
Tâm
tất được thanh tịnh
Trước
sau phải bỏ hết
Sao
bằng bố thí ngay.
12-13.
Tôi nguyện đem thân này
Bố
thí cho chúng sinh
Họ
tha hồ mắng chửi
Đánh
đập hay giết hại.
Hoặc
đem ra mua vui
Tâm
tôi vẫn vắng lặng
Vì
quyết xả thân này
Nên
không hề nuối tiếc.
14.
Trong khi hành hạ tôi
Dù
lòng họ sướng vui
Tôi
cũng xin khấn nguyện
Họ
không bị ác báo .
15-16.
Việc gì lợi chúng sinh
Tôi
khiến thân này làm.
Nguyện
ai gặp gỡ tôi
Đều
có nhiều lợi lộc.
Nguyện
ai giận, ghét tôi
Hay
vu khống, não hại
Đều
nhân đấy phát tâm
Hướng
về đường Giác Ngộ.
17-18.
Tôi xin nguyện bảo hộ
Cho
những người cô đơn
Khách
bộ hành cần giúp
Tôi
làm kẻ chỉ đường
Nguyện
làm cầu, làm thuyền
Cho
kẻ muốn sang sông
Tôi
nguyện làm hòn đảo
Cho
người mong cập bến
Cho
ai cần ánh sáng
Tôi
nguyện hóa đuốc đèn
Tôi
nguyện thành nhà cửa
Cho
người cần nghỉ ngơi
Tôi
nguyện làm tôi tớ
Cho
kẻ cần người sai.
19.
Nguyện hoá làm bò quý
Thành
bình ngọc như ý
Thành
thuốc tiên, bùa linh
Nguyện
thành cây như ý
Đáp
nguyện ước chúng sinh.
20.
Nguyện hóa thành nhu yếu
Căn
bản cho sự sống
Của
vô số hữu tình
Như
đất, nước, lửa, khí.
21.
Nguyện làm nhân duy trì
Sinh
mạng của chúng sinh
Đến
lúc không còn ai
Chưa
chứng quả Niết Bàn.
Phát
tâm bồ đề
22-23.
Như chư Phật quá khứ
Khi
phát tâm bồ đề
Đều
lần lượt tu học
Giới
hạnh của Bồ tát.
Phần
thưởng của sự phát tâm
24.
Nay vì lợi chúng sinh
Tôi
phát tâm bồ đề
Siêng
tu học giới hạnh
Mà
Bồ tát hành trì.
25.
Sau khi các bậc trí
Đã
phát tâm bồ đề
Rồi
khiến nó tăng trưởng
Nên
ca ngợi như sau:
26.
Thật phúc thay cho tôi
Nay
được mang thân người
Sinh
vào gia đình Phật
Được
làm con của Phật .
27.
Vậy từ nay trở đi
Phải
cư xử, hành động
Đúng
truyền thống nhà Phật
Quyết
không làm ô danh
Giòng
giống thanh tịnh này.
28.
Như người mù may mắn
Nhặt
được viên trân châu
Tôi
phát tâm bồ đề
Cũng
may mắn như vậy.
29-31.
Tâm Bồ đề cam lộ
Mang
lại sự bất tử
Là
kho tàng vô tận
Trừ
khử cảnh nghèo cùng.
Là
linh dược tuyệt vời
Chữa
mọi bệnh chúng sinh
Là
bóng mát nghỉ ngơi
Cho
lữ khách mệt mỏi.
Là
cầu đưa chúng sinh
Vượt
khỏi đường nguy hiểm
Là
vầng trăng dịu soi
Xoa
tan bao nóng bức.
Là
mặt trời chói lọi
Xua
đuổi bóng vô minh
Tâm
bồ đề này đây
Ví
như chất đề hồ
Rút
từ sữa Diệu Pháp.
Với
người khách phiêu bạt
Là
lữ quán nghỉ ngơi
Với
người tìm an vui
Là
cội nguồn hạnh phúc.
32.
Nguyện chư Phật chứng giám
Tôi
mời khách thập phương
Đến
đây để tận hưởng
Niềm
vui được thành Phật
Mong
chư Thiên, mọi người
Tất
cả đều hoan hỷ .
CHƯƠNG
BỐN
THỰC
HÀNH TÂM BỒ ĐỀ
Trách
nhiệm của Bồ tát
1.
Đã phát tâm bồ đề
Con
Phật phải tinh tấn
Tu
tập không biếng nhác
Không
lìa hạnh Bồ tát.
2.
Với công việc ngẫu hứng
Ta
có thể nghĩ lại
Rằng
nên làm hay không
Mặc
dù ta đã hứa
3.
Nhưng không thể buông bỏ
Điều
Phật và Bồ tát
Đã
quán chiếu chiêm nghiệm
Mà
tôi đã thọ lãnh.
4.
Tôi đã thề làm lợi
Cho
tất cả chúng sinh
Mà
không làm như hứa
Như
vậy tôi lừa dối
Phận
tôi sẽ ra sao?
5.
Kinh đã dạy rõ rằng
Ai
định cho kẻ khác
Một
vật dù nhỏ nhoi
Song
rồi lại không cho
Sẽ
đọa làm quỷ đói.
6.
Tôi đã mời chúng sinh
Dự
tiệc đại an lạc
Rồi
tôi lại dối gạt
Đời
tôi sẽ bi đát!
7.
Người bỏ tâm bồ đề
Mà
được quả giải thoát
Là
điều khó nghĩ bàn
Chỉ
chư Phật biết rõ.
8.
Trong giới hạnh Bồ tát
Ai
bỏ tâm Bồ đề
Làm
chúng sinh bất lợi
Sẽ
gặt quả báo ác.
9.
Ai trong một sát-na
Cản
trở người làm thiện
Khiến
hữu tình bị hại
Sẽ
gặp quả báo ác
Thật
vô cùng khủng khiếp.
10.
Phá an lạc một người
Ta
phải bị khốn khổ
Huống
chi phá an lạc
Của
vô số hữu tình
Ác
báo không cùng tận.
11.
Người phát tâm bồ đề
Nhưng
hành động ngược lại
Sẽ
trôi trong luân hồi
Khó
trở thành Bồ tát.
12.
Phải cung kính thực hành
Những
gì đã thệ nguyện
Nếu
tôi không tinh tấn
Sẽ
đọa chốn thấp hèn.
Giá
trị của cuộc sống
13.
Vô số Phật ra đời
Mang
lợi đến chúng sinh
Nhưng
tôi vì tội xưa
Nên
không được ân phước.
14.
Nếu tái phạm nghiệp cũ
Chắc
chắn không thoát khỏi
Số
phận thật hẩm hiu
Bệnh
đau và tật nguyền
Lăn
lóc trong nẻo ác.
15.
Bao giờ gặp cơ hội
Gặp
được Phật xuất thế
Đem
lòng tin Phật pháp
Được
thuận duyên tu hành?
16.
Mặc dù được khỏe mạnh
Đủ
ăn, không tổn thương
Nhưng
thân này tạm bợ
Nó
chỉ là ảo ảnh.
17.
Với cuộc sống hiện nay
Khó
tái sinh thành người
Mà
không được thân người
Làm
sao làm việc thiện?
18.
Có cơ hội làm thiện
Mà
bỏ qua không làm
Liệu
tôi làm được gì
Khi
thống khổ bức bách?
19.
Nếu không làm việc thiện
Chỉ
toàn làm việc ác
Dù
trải qua muôn kiếp
Vẫn
không biết cõi lành.
20.
Đức Thế tôn dạy rằng
Thân
người khó được thay
Như
rùa mù dưới biển
Cổ
ngoi lên trúng ngay
Vào
lỗ ván phiêu bồng.
21.
Phạm tội nặng chốc lát
Đã
phải bị đọa đày
Vào
địa ngục vô gián
Vậy
với tội muôn kiếp
Làm
sao sinh cõi lành?
22.
Chờ trả xong ác báo
Cũng
khó thoát địa n