THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
 Bodhicaryàvatàra
NHẬP HẠNH BỒ TÁT
 Sàntideva (Tôn giả Tịch Thiên) - Việt dịch: Nguyên Hiển-Hiệu đính: Lê Triều Phương
  Hội Phật Học Phổ Minh - Xuân 2007
MỤC LỤC 

Lời nói đầu
Lời thưa về việc hiệu đính
Tiểu sử Tôn giả Sàntideva
Chương 1: Lợi ích của Tâm Bồ Đề
Chương 2: Sám hối tội nghiệp 
Chương 3:  Phát Tâm Bồ Đề
Chương 4: Thực hành Tâm Bồ Đề
Chương 5:  Chánh niệm, Tỉnh giác 
Chương 6: Nhẫn nhục 
Chương 7: Tinh tấn
Chương 8: Thiền quán
Chương 9: Trí tuệ 
Chương 10: Hồi hướng 

LỜI NÓI ĐẦU

Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời. 

Dịch giả đã tham cứu các bản dịch dưới đây:

- Bản Hán dịch của Trần Ngọc Giao
- bản Pháp dịch của Georges Driessens
- bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton
- bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải .

Luận này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo lối tu Đại thừa ở Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. Vì dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, vì vậy không thể tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức cùng qúy Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn. 

Xin chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đã giúp phần hiệu đính và hoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi khổ não, viên thành Phật đạo. 

California, Mùa Phật Đản 2459-2005
Nguyên Hiển 

Lời thưa về việc hiệu đính

Tập Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát,“ của Tôn giả Santideva, do cư sĩ Nguyên Hiển dịch sang Việt ngữ năm 2005, theo thể kệ, đã đến tay tôi trong một hoàn cảnh đầy kỷ niệm. Năm 2005, chúng tôi bị một bệnh nặng hành hạ suốt nửa năm dài. Hàng ngày đau nhức vô cùng. Chúng tôi chưa đồng ý để bác sĩ mổ và kham nhẫn chịu đựng. Hàng ngày niệm Phật và thỉnh thoảng đọc phẩm Phổ Môn.

Một ngày nọ, năm người bạn từ phương xa đến thăm vì muốn „tiếp sức“ cho chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đang nằm ở bệnh viện trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Các bạn phải trò chuyện cùng nhau nơi hành lang của bệnh viện. Cuối cùng chúng tôi gặp mặt nhau khoảng 15 phút rồi chia tay. Riêng đạo hữu Nguyên Định có đem theo để tặng  và khuyên chúng tôi nên đọc tập Luận nói trên. Chúng tôi đọc lướt qua và thấy nội dung vô cùng ý nghĩa.

Một buổi tối, sau bữa ăn chiều, chúng tôi đọc lại tập Luận kỹ hơn. Bỗng dưng trong đầu chúng tôi vang lên âm thanh như dòng nhạc của những câu kệ trong phẩm Phổ Môn, ví dụ như 

„Bi thế giới lôi chấn,
Từ ý diệu đại vân,
Chú cam lồ pháp vũ 
Diệt trừ phiền não diệm“ hoặc 
„Diệu âm, Quán thế âm,
Phạm âm, hải triều âm,
Thắng bỉ thế gian âm, 
Thị cố tu thường niệm“. 

Lòng chúng tôi bỗng nổi lên cảm hứng chỉnh sửa ngay lại một số câu trong bản dịch của cư sĩ Nguyên Hiển, với ước muốn mình có riêng một bản Luận đọc nghe êm nhẹ hơn, dù không bằng những câu ví dụ trong phẩm Phổ Môn. 

Chúng tôi vừa đọc vừa ghi chép cho đến khi cảm thấy buồn ngủ. Kim đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc: Tại sao mình đã mất cảm giác đau nhức và mệt mỏi suốt 6 tiếng đồng hồ? Có gì linh thiêng và huyền nhiệm tỏa ra từ những dòng kệ „Nhập Hạnh Bồ Tát“chăng? Chúng tôi đi ra hành lang bệnh viện để kiểm lại thì giờ. Đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya.

Hôm sau, đạo hữu Nguyên Châu, trong nhóm những người đã đến thăm chúng tôi, gọi điện thoại hỏi về bệnh tình. Chúng tôi thuật lại chuyện kỳ diệu đã trải qua trong đêm. Đạo hữu liền kể ngay cho tôi biết lược sử của Tôn giả Santideva và cho biết Phật tử Tây Tạng rất sùng kính Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát“ như Phật tử châu Á sùng kính phẩm Phô Môn. Nhiều Phật tử đã cảm nhận được sức mạnh thiêng liêng toát ra từ tập Luận. Cuối cùng anh bạn đã khuyên chúng tôi nên cố gắng „đánh bóng“ công trình việt dịch của cư sĩ Nguyên Hiển vì điều này vừa giúp cho bản thân chúng tôi giảm được sự đau khổ của thân xác trong lúc đau bệnh và biết đâu bạn bè nhờ đó mà có được một bản dịch dễ tụng hơn. Chúng tôi đã hứa sẽ theo đuổi việc „đánh bóng“ ấy. Động cơ quan trọng nhất đã thúc đẩy việc làm của chúng tôi là đạo hữu Nguyên Hiển đã cho phép chúng tôi hiệu đính lại bản dịch của anh.

Những ngày hôm sau chúng tôi lần lượt nhận được 5 bản dịch khác do bạn bè gởi đến với lời khuyến khích làm công việc hiệu đính. Đó là bản Đức ngữ „Eintritt in das Leben zur Erleuchtung“ do G.S. Ernst Steinkellner chuyển ngữ năm 1981, ba bản Việt ngữ gồm có: „Bồ Tát Hạnh, do Thượng Tọa Thích Trí Siêu dịch năm 1990, „Nhập Bồ Tát Hạnh“ do Ni Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998 và „Một tia chớp sáng trong đêm tối“ do đức Dalai Lama giảng giải và do Đoàn Phụng Mệnh dịch năm 1999 và bản Anh ngữ „Engaging in Bodhisattva Behavior“ do ông Alexander Berzin dịch năm 2005. Sáu bản dịch rất công phu với những chú giải rõ ràng mà chúng tôi đọc được, đã soi sáng cho chúng tôi thấy được nội dung và ý nghĩa của con đường đi của các bậc Bồ Tát.  Nơi đây, chúng tôi chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc của chúng tôi đến tất các vị dịch giả và giảng giải.

Hôm nay, sau gần một năm rưởi, chúng tôi hoàn thành bản hiệu đính với tâm trạng khinh an, mặc dù vẫn còn nhiều khuyết điểm. Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh và cầu mong cho tất cả đều đạt được mục đích giác ngộ và giải thoát.

Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn sâu sắc đến hiền nội và bằng hữu đã khuyến khích và hỗ trợ việc hiệu đính, hỗ trợ tìm tài liệu, đánh vi tính và sửa lỗi chính tả.

Göttingen, ngày 14.01.2007
Lê Triều Phương 
 
 

TIỂU SỬ
TÔN GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA) 
Thích Trí Siêu  (Pháp)

Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.

Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy đây.”

Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời: ”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội củaVăn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”. 

Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát. 
Sau đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách gièm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: ”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đòi xem. 

Cuối cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù. 
Sau đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra. 

Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến:  Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được. 

Sau khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. Vì muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…... thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya (Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).

CHƯƠNG MỘT 
LỢI ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ

Đối tượng và mục đích
 
1. Con trân trọng cúi đầu
Đảnh lễ các đức Phật (1)
Cùng các vị Thừa Kế (2)
Và những bậc đáng kính. 
Con nương lời Phật dạy
Xin nêu lên ngắn gọn 
Lối vào hạnh Bồ Tát 
 
2. Luận này nghĩa chẳng mới 
Vần điệu cũng không hay 
Chẳng dám vì lợi tha 
Viết ra để nhắc nhở
Và thấm nhuần tâm mình. 
 
3. Nhờ sự nhắc nhở này 
Mà tín tâm tăng trưởng 
Ai cùng một tin tưởng 
Cũng được lợi ích nhiều.
 

Lợi ích của tâm bồ đề
 
4. Hạnh phúc thay gặp duyên
Sinh ra thân con người
Nay không nhân cơ hội
Để tu hành giải thoát 
Sau này tìm đâu ra. 
 
5. Như đêm mây dày dặc 
Được lằn chớp chiếu soi 
Nhờ thần lực chư Phật
Tâm lành thoảng khởi lên. 

6. Đức hạnh rất yếu ớt
Trước sức mạnh điều xấu 
Chỉ có tâm Bồ đề 
Mới cưỡng lại, đứng vững. 
 
7. Trải nhiều kiếp tư duy 
Phật thấy tâm Bồ đề
Có công đức vô lượng 
Cứu vô số chúng sinh
Thoát ra ngoài biển khổ. 
 
8. Muốn thoát khổ của đời 
Trừ tai họa muôn loài 
Muốn được chân hạnh phúc 
Chớ rời tâm bồ đề 
 
9. Người người trong sanh tử 
Phát được tâm bồ đề 
Được gọi là con Phật 
Xứng đáng được tôn kính 
 
10. Nước phép tâm bồ đề 
Sẽ biến thân ô trược 
Thành thân Phật vô giá 
Hãy giữ Bồ đề tâm 
 

11. Đấng Đạo sư thấy rõ 
Tâm Bồ đề qúi báu 
Muốn vượt thoát ba cõi 
Phải giữ vững tâm này.
 
12. Làm lành như cây chuối 
Quả hết rồi héo khô 
Tâm Bồ đề to lớn
Như đại thụ xum xuê 
Luôn sinh quả tươi tốt.

13. Người đời phạm tội nặng 
Nhờ thế lực che chở 
Biết sự nghiệp đã tạo 
Sao chẳng tìm chỗ nương? 
 
14. Đức Di Lặc đã giảng
cho Thiện tài biết rằng
Tâm Bồ đề kỳ diệu
Như lửa thời hoại kiếp
Đốt tan bao tội nặng
Chỉ trong một sát na. 
 

Hai loại tâm bồ đề
 
15. Tâm bồ đề bao gồm
Hai nguyện để tu tập: 
Trước là nguyện phát tâm 
Sau thực hành tâm ấy. 
 
16. Ai cũng đều biết rằng
“Muốn đi“ khác với “đi“ 
Người trí nên biết rõ 
Sự khác biệt như vậy. 
 
17. Nguyện phát tâm bồ đề 
Tuy sinh kết quả lớn 
Song không thể sánh bằng 
Nguyện thực hiện tâm này. 
 

Ca ngợi tâm bồ đề 
 
18-19. Những ai đã quyết tâm
Cứu độ mọi chúng sinh
Thì không thể ngừng nghỉ
Thực hiện tâm bồ đề. 
Từ lúc ấy trở đi 
ngay trong khi ngủ nghỉ 
Phước đức vẫn liên tục 
Tăng lớn như hư không 
 
20. Để người tin Tiểu thừa
Không ngừng bước tiến lên 
Trong Kinh Vấn Diệu Lý 
Đấng Như Lai đã dạy 
Công đức tâm bồ đề
Thật rộng lớn vô biên. 
 
21-22. Chỉ nghĩ cách chữa lành 
Đầu mọi người khỏi nhức
Là sự phát tâm quý 
Đem cho ta phước đức. 
 
Phước đức càng lớn hơn
Khi cứu giúp chúng sinh 
Thoát ưu phiền thống khổ 
Đạt được cõi an lành. 
 
23. Có cha nào, mẹ nào 
Đã phát tâm như vậy? 
Tiên, chư Thiên, Phạm Thiên 
Đã có chưa tâm ấy? 
 
24. Xưa nay dù trong mơ
Chưa ai nguyện như thế
Dù vì lợi cho mình
Nói chi đến phát nguyện
Cứu độ cho người khác.

25. Làm sao có thể tìm 
Được một vị Bồ Tát
[Một viên ngọc hy hữu]
Giữa chúng sinh ích kỷ
Chẳng biết làm điều lành
Vì lợi ích chúng sinh!

26. Tâm bồ đề trân quý 
Là mầm mống an vui 
Là linh dược diệt khổ 
Tạo phước đức vô lường. 
 
27. Ý nghĩ làm lợi người 
Đã hơn phước cúng Phật 
Huống chi luôn nỗ lực 
Làm lợi lạc chúng sinh. 
 
28. Có biết bao chúng sinh 
Tuy cầu mong an vui
Song hủy diệt nguồn cội
Sản sinh ra hạnh phúc
Như tận diệt kẻ thù. 
 
29. Chúng sinh thiếu niềm vui 
Lại chịu nhiều đau khổ 
Tâm nguyện Bồ đề này 
Đem vui và diệt khổ. 
 
30. Tâm Bồ đề có thể 
Trừ diệt sự ngu si 
Có bạn lành nào sánh 
Còn phước nào lớn hơn? 
 
31. Ta khen kẻ đáp ơn 
Khi thọ ân bố thí 
Bồ tát luôn ban ơn 
Dầu chưa được cậy nhờ
Với tâm hạnh như vậy 
Đáng ca ngợi xiết bao! 
 
32. Kẻ bố thí thức ăn 
Giúp chúng sinh đỡ đói 
Dù họ no nửa ngày 
Đã là người đáng trọng 

33. Bồ tát thường ban cho 
Niềm vui của chánh giác 
Làm thỏa mãn tất cả 
Nguyện vọng mọi hữu tình . 
 
34. Đức Phật đã dạy rằng 
Bồ tát cứu muôn loài 
Nên đáng được tôn quý 
Ai phỉ báng Bồ tát 
Sẽ sa đại địa ngục 
 
35. Ngược lại, ai tín thành
Cung kính chư Bồ tát 
Sẽ hưởng phước đức lớn 
Bồ Tát dù gian nan 
Việc ác vẫn không làm 
Càng hăng làm việc thiện. 
 
36. Tôi kính xin đãnh lễ
Người phát tâm bồ đề 
Đem vui cho chúng sinh 
Cho cả kẻ hại mình.
Tôi cúi đầu kính lạy 
Và xin được quy y
Nơi chư vị Bồ tát 
Cội nguồn chân hạnh phúc. 

CHƯƠNG HAI
SÁM HỐI TỘI NGHIỆP

Nghi lễ Bồ Tát

Ca ngợi
 
1. Để con nắm giữ được
Tâm nguyện quí giá này 
Con cúng dường chư Phật 
Và Pháp Bảo thiêng liêng 
Con cúng dường Bồ tát 
Đầy phẩm tính tốt lành. 
 

Cúng dường
 
2. Cúng dường hoa quả tươi 
Thức ăn ngon quý nhất 
Nước uống thật tinh khiết 
Vật quý báu trên đời 

3. Cúng dường núi châu báu 
Rừng thanh tịnh ngát hương 
Hoa cõi trời diễm tuyệt 
Trái quý buông trĩu cành 
 
4. Cúng dường những hương thơm
Ngào ngạt cõi trời đất
Cúng dường trang sức quý 
Cúng dường cây như ý 
Thành tựu mọi ước mơ
Cúng dường mọi ngũ cốc
Tự sinh không người trồng. 

5. Cúng dường ao sen đẹp 
Thiên nga hót dịu êm 
Và mọi vật vô chủ 
Đầy dẫy khắp bầu trời. 
 
6. Con giữ chúng trong tâm
Dâng lên đấng Thế Tôn
Và chư vị Bồ tát 
Thỉnh cầu đức Thế Tôn 
Từ bi nghĩ đến con
Mà nhận vật cúng dường. 
 
7. Con vô phước bần cùng 
Không một chút tài sản 
Kính xin đức Phật thương 
Nhận lễ vật tâm con. 
 
8.  Con nguyện đem thân tâm 
Để làm kẻ nô bộc 
Phụng sự Phật, Bồ tát 
Mong quí ngài xót thương 
Thâu nhận lễ vật này. 
 
9.  Được các ngài thâu nhận
Thân tâm con siêu thoát 
Con nguyện sống lợi tha 
Diệt trừ các ác nghiệp. 
 
10-11. Đây nhà tắm tráng lệ 
Nền thủy tinh long lanh 
Cột trụ khảm trân châu 
Lọng dù bằng ngà ngọc 
 
Trần thiết lộc bình quý 
Đầy nước thơm thích ý 
Ngân vang muôn diệu âm 
Thỉnh Phật, Bồ tát tắm 
 
12. Đây khăn tắm sạch thơm
Lau khô thân các ngài 
Đây y phục cõi trời
Với màu sắc mỹ lệ 
Lan tỏa hương dịu thơm. 
 
13. Đây y phục mềm mại 
Và trăm trang sức quý 
Dâng lên Đức Phổ Hiền, 
Văn Thù, Quán Thế Âm. 
 
14. Hương liệu thơm vũ trụ 
Xin thoa ngọc thể Ngài 
Tỏa hào quang thanh tịnh 
Óng ánh sắc vàng ròng. 
 
15. Xin cúng dường chư Phật 
Các tràng hoa đẹp đẽ 
Kết từ hoa tươi thơm 
Như hoa sen, hoa lài 
Hay hoa mạn đà la. 
 
16. Con xin dâng chư Phật 
Vầng mây hương ngây ngất
Dâng thực phẩm cõi trời 
Thức ăn uống đẹp ngon. 
 
17. Con dâng đèn hoa ngọc 
Chân chạm đá sen vàng 
Nền nhà dịu mát hương 
Rải đầy hoa đẹp ý. 
 
18. Xin cúng dường chư Phật 
Những lâu đài tráng lệ 
Rèm buông ngọc lung linh 
Du dương ngân tiếng hát. 
 
19. Xin dâng hiến chư Phật 
Lọng che bằng châu ngọc 
Cán đúc toàn vàng ròng 
Viền thêu hoa mỹ lệ. 
 
20. Cúng phẩm nhiều như mây 
Nhạc du dương hoà tấu
Khổ đau được dịu xoa
Mong sao chúng mãi còn. 
 
21. Mưa hoa, mưa ngọc ngà 
Mong luôn luôn buông rơi 
Trên thân Phật, tháp Phật
Trên giáo pháp diệu kỳ. 
 
22. Như Ngài Diệu Cát Tường 
Xưa kia cúng dường Phật 
Nay con xin cúng dường 
Phật, Bồ tát như vậy. 
 
23. Dùng âm vang hải triều 
Tán dương công đức Phật 
Nguyện tiếng tán dương này 
Luôn vang đến các Ngài. 
 
24. Nguyện hoá thân như bụi 
Lễ lạy Phật ba đời 
Lễ lạy Pháp và Tăng 
Cùng khắp cả pháp giới. 
 
25. Con lễ lạy tháp Phật 
Các nơi Bồ tát ở (3)
Lễ bậc trì giới nhất 
Kính lễ hàng thánh tăng. 

Quy y 
 
26. Từ nay cho đến khi
Đạt Vô thượng Bồ đề 
Con nguyện quy y Phật, 
Pháp và chư Bồ Tát.

Sám hối 
 
27. Trước chư Phật, Bồ Tát
Ở cùng khắp mười phương 
Thánh chúng bi trí huệ 
Con xin chấp hai tay 
Thành khẩn nguyện như vầy: 
 
28-29. Từ vô thỉ đến nay 
Trôi lăn trong sinh tử 
Với tội ác không lường
Do tự mình gây ra
Hay xúi giục người làm
Vì vô minh che lấp 
Nay con biết lỗi lầm 
Thành tâm xin sám hối. 
 
30-31. Lỗi lầm con đã phạm 
Qua nghiệp thân, khẩu, ý 
Đã gây bao tổn hại
Cho Tam bảo (4), mẹ cha 
Cũng như cho Thầy Tổ
Và cho bao kẻ khác 
Nay trước đức Thế Tôn 
Con thành tâm sám hối 
Mọi tội lỗi gây ra. 
 
32. Nếu sám hối chưa trọn 
Con lỡ chết thì sao? 
Vậy xin Ngài mau cứu 
Trước khi thần chết đến. 
 
33. Thần chết thật lừa lọc
Nó không biết đợi chờ 
Tội rửa sạch hay chưa 
Dù đang bệnh hay khỏe
Con không thể nào tin 
Vào mạng sống mong manh 
Lập loè như lửa đóm. 
 
34. Con đã không ý thức 
Chết là bỏ tất cả 
Nên con đã quanh quẩn
Với bè bạn, kẻ thù
Nên đã tự gây ra
Biết bao điều xấu ác.
 
35. Đời người như mộng ảo 
Điều gì đã trải nghiệm 
Cũng chỉ là ký ức
Tất cả đều trôi qua 
Không bao giờ trở lại. 
 
36. Kẻ thù thành hư vô 
Người thân như mây khói
Thân ta rồi phải chết 
Tất cả trở về không. 
 
37. Trong đời ngắn ngủi này 
Kẻ thân, thù đã chết 
Duy nghiệp ác đã gây 
Còn lại đe dọa ta. 
 
38. Tôi đã không ý thức 
Rồi cũng chết như họ 
Nên cứ tham sân si 
Tạo ra bao lầm lỗi. 
 
39. Mạng sống giảm từng ngày 
Chẳng bao giờ ngừng nghỉ 
Không thể nào tăng lên 
Làm sao ta thoát chết? 
 
40. Đến lúc sắp lâm chung
Dù thân thuộc vây quanh 
Thống khổ lúc hấp hối
Tôi gánh chịu riêng mình. 
 
41. Khi Diêm Vương đến bắt 
Thân bằng có ích gì? 
Chỉ phước đức mới cứu 
Tôi lại chưa tu tập! 
 
42. Do buông lung không biết
Hậu quả xấu mai sau 
Bám víu đời mong manh 
Ta tạo bao nghiệp xấu. 

43. Như kẻ ra pháp trường 
Kinh hãi, miệng khô đắng 
Mắt trợn trắng, thất thần 
Hình sắc cũng đổi khác. 
 
44. Huống chi khi thấy bóng 
Ma vương đến bắt ta 
Kinh hoàng sao kể xiết 
Khổ đau dâng tột cùng. 
 
45. Ai cứu tôi ra khỏi 
Cơn sợ hãi lớn này 
Tôi tròn xoay đôi mắt 
Nhìn bốn phương van cầu. 
 
46. Bốn phương không thấy ai
Sợ hãi lại càng tăng
Không nơi nào che chở 
Tôi phải làm sao đây? 
 
47. Con xin quy y Phật
Ngài là đấng Từ Bi 
Bảo vệ, đem lợi ích 
Cho tất cả muôn loài 
Có năng lực giải cứu
Tiêu trừ bao hãi sợ. 
 
48. Con xin quy y Pháp 
Mà chư Phật chứng ngộ
Có thể đưa chúng sinh
Sang đến bờ giải thoát
Và con xin quy y
Nơi chư vị Bồ Tát. 
 
49. Trong cơn sợ bấn loạn
Con xin dâng thân mạng 
Lên Bồ tát Phổ Hiền 
Và Bồ tát Văn Thù.

50. Với tiếng kêu khẩn thiết 
Con cầu Đức Quan Âm 
Với tấm lòng đại bi
Cứu con, kẻ mê lầm. 

51. Con cầu cứu các Ngài 
Hư Không Tạng Bồ Tát 
Địa Tạng Vương Bồ Tát 
Chư Bồ Tát đại bi. 
 
52. Con cũng xin nương tựa 
Kim Cương Trí Bồ Tát 
Ngài mà các sứ giả 
Của Diêm vương khiếp vía . 
 
53. Xưa trái lời Phật dạy
Nay gặp nạn hãi hùng 
Con xin quy y Phật
Mau cứu độ cho con. 

54-56. Với bệnh nhẹ tầm thường
Đã tuân lời thầy thuốc
Huống chi trăm thứ bệnh
Sinh từ tham sân si! 
 
Một trong trăm bệnh này
Đã đủ làm tiêu hủy
Mọi loài Nam Diêm phù
Nay chạy khắp mọi nơi
Tìm không ra thuốc chữa. 
 
Phật là đại y vương
Dạy giáo lý thoát bệnh
Những ai không làm theo
Thực ngu si đáng trách. 
 
57. Bên hố sâu vài trượng 
Tôi đi phải đề phòng 
Cạnh địa ngục sâu thẳm
Sao đời đời nhởn nhơ? 
 
58. Nghĩ rằng tôi chưa chết
Nhởn nhơ sống phóng dật
Quả thật là dại khờ
Bởi vì sớm hay muộn
Cái chết phải đến thôi. 
 
59. Tôi không thể có được
Cái cảm giác dễ chịu
Rằng trong ngày hôm nay
Thần chết sẽ không đến. 
Chắc chắn nó xuất hiện
Làm sao yên hưởng nhàn?

59. Ai cho sự không sợ
Ai chỉ tôi lối thoát 
Làm sao thoát hãi kinh 
Của sự chết phải đến 
Sao có thể nhởn nhơ? 
 
60. Khoái lạc đã trải qua 
Chỉ còn là hoài niệm 
Bám víu mà làm chi 
Để trái lời Phật dạy? 
 
61. Chết là lìa bỏ hết 
Người thân và bạn bè 
Đi vào cõi vô định 
Bạn hay thù ích chi? 
 
62. Tôi nên hằng ngày đêm 
Tỉnh thức với tư duy
Rằng gieo ác, gặt ác
Làm sao ta tránh khỏi
Sự gieo xấu ác đây? 
 
63-64. Vì ngu đần, vô minh
Phạm giới do Phật chế
Gây biết bao tội lỗi
Lòng run sợ ác báo. 
Nay đối diện chư Phật
Con chấp tay đãnh lễ
Chư Phật và Bồ tát
Xin thành tâm sám hối. 
 
65. Mong các Ngài tha thứ
Bao tội lỗi từ xưa 
Và con xin thệ nguyện 
Vĩnh viễn không tái phạm
Những hành vi độc ác.

CHƯƠNG BA 
PHÁT TÂM BỒ ĐỀ 

Vui theo hạnh lành
 
1. Tôi xin vui sướng theo
Công đức và hạnh lành
Mà chúng sinh thực hiện. 
Tôi cầu họ an vui. 
 
2. Tôi vui mừng ca ngợi
Chúng sinh thoát khổ ải 
Và thoát vòng luân hồi
Thành Bồ tát, thành Phật. 
 
3.  Tôi xin vui sướng theo
Tâm nguyện như biển cả
Của chư Phật, Bồ tát
Giúp mọi loài đang sống
Được hạnh phúc an vui.
 

Thỉnh cầu chánh Pháp
 
4. Tôi chấp tay thỉnh cầu
Chư Phật khắp mười phương 
Đốt lên đuốc chánh pháp 
Soi đường kẻ lầm mê
Đang rơi vào thống khổ. 
 

Thỉnh cầu bậc Chiến Thắng ở lại thế gian
 
5. Tôi chắp tay thỉnh cầu
Xin các bậc Chiến Thắng
Đang muốn nhập Niết Bàn
Hãy ở lại thế gian
Suốt hằng hà sa kiếp
Để cứu độ chúng sinh
Thoát khỏi vòng tăm tối.
 

Hồi hướng công đức
 
6.  Với công đức làm lành
Tôi tích tụ từ lâu
Nay xin nguyện hồi hướng
Cứu khổ mọi sinh linh. 
 
7.  Với chúng sinh đau bệnh 
Nguyện hoá làm thuốc hay 
Vừa làm thầy thuốc giỏi 
Vừa làm kẻ điều dưỡng.
 
8.  Thời tai ương đói khát
Nguyện làm thức uống ăn
Nguyện như mưa cam lồ
Dập tắt lửa đói khát. 
 
9.  Đối với kẻ bần hàn
Nguyện thành kho vô tận
Nguyện thành nhu yếu phẩm
Đáp ứng mọi nhu cầu. 

Tự hiến thân mình
 
10. Vì an vui chúng sinh
Nguyện dâng hiến tất cả
Tài sản và thân mạng 
Làm thiện suốt ba đời.
 
11. Buông hết tất thoát khổ 
Tâm tất được thanh tịnh 
Trước sau phải bỏ hết 
Sao bằng bố thí ngay. 
 
12-13. Tôi nguyện đem thân này 
Bố thí cho chúng sinh 
Họ tha hồ mắng chửi 
Đánh đập hay giết hại.
 
Hoặc đem ra mua vui
Tâm tôi vẫn vắng lặng
Vì quyết xả thân này
Nên không hề nuối tiếc.
 
14. Trong khi hành hạ tôi
Dù lòng họ sướng vui
Tôi cũng xin khấn nguyện
Họ không bị ác báo .
 
15-16. Việc gì lợi chúng sinh 
Tôi khiến thân này làm. 
Nguyện ai gặp gỡ tôi
Đều có nhiều lợi lộc.

Nguyện ai giận, ghét tôi
Hay vu khống, não hại
Đều nhân đấy phát tâm
Hướng về đường Giác Ngộ.
 
17-18. Tôi xin nguyện bảo hộ
Cho những người cô đơn
Khách bộ hành cần giúp 
Tôi làm kẻ chỉ đường
Nguyện làm cầu, làm thuyền
Cho kẻ muốn sang sông 

Tôi nguyện làm hòn đảo
Cho người mong cập bến
Cho ai cần ánh sáng
Tôi nguyện hóa đuốc đèn
Tôi nguyện thành nhà cửa
Cho người cần nghỉ ngơi
Tôi nguyện làm tôi tớ
Cho kẻ cần người sai. 

19.  Nguyện hoá làm bò quý 
Thành bình ngọc như ý 
Thành thuốc tiên, bùa linh 
Nguyện thành cây như ý
Đáp nguyện ước chúng sinh.
 
20. Nguyện hóa thành nhu yếu 
Căn bản cho sự sống 
Của vô số hữu tình 
Như đất, nước, lửa, khí.
 
21. Nguyện làm nhân duy trì 
Sinh mạng của chúng sinh 
Đến lúc không còn ai
Chưa chứng quả Niết Bàn.

Phát tâm bồ đề
 
22-23. Như chư Phật quá khứ 
Khi phát tâm bồ đề 
Đều lần lượt tu học 
Giới hạnh của Bồ tát.

Phần thưởng của sự phát tâm
 
24. Nay vì lợi chúng sinh 
Tôi phát tâm bồ đề 
Siêng tu học giới hạnh 
Mà Bồ tát hành trì. 
 
25. Sau khi các bậc trí 
Đã phát tâm bồ đề
Rồi khiến nó tăng trưởng 
Nên ca ngợi như sau: 
 
26. Thật phúc thay cho tôi 
Nay được mang thân người 
Sinh vào gia đình Phật 
Được làm con của Phật .
 
27. Vậy từ nay trở đi
Phải cư xử, hành động
Đúng truyền thống nhà Phật
Quyết không làm ô danh
Giòng giống thanh tịnh này. 
 
28. Như người mù may mắn 
Nhặt được viên trân châu 
Tôi phát tâm bồ đề 
Cũng may mắn như vậy.
 
29-31. Tâm Bồ đề cam lộ 
Mang lại sự bất tử 
Là kho tàng vô tận 
Trừ khử cảnh nghèo cùng.
 
Là linh dược tuyệt vời
Chữa mọi bệnh chúng sinh
Là bóng mát nghỉ ngơi
Cho lữ khách mệt mỏi.

Là cầu đưa chúng sinh
Vượt khỏi đường nguy hiểm
Là vầng trăng dịu soi
Xoa tan bao nóng bức.

Là mặt trời chói lọi
Xua đuổi bóng vô minh
Tâm bồ đề này đây
Ví như chất đề hồ
Rút từ sữa Diệu Pháp.
 
Với người khách phiêu bạt 
Là lữ quán nghỉ ngơi
Với người tìm an vui 
Là cội nguồn hạnh phúc.

32. Nguyện chư Phật chứng giám 
Tôi mời khách thập phương 
Đến đây để tận hưởng 
Niềm vui được thành Phật 
Mong chư Thiên, mọi người
Tất cả đều hoan hỷ . 

CHƯƠNG BỐN
THỰC HÀNH TÂM BỒ ĐỀ

Trách nhiệm của Bồ tát

1.  Đã phát tâm bồ đề 
Con Phật phải tinh tấn 
Tu tập không biếng nhác 
Không lìa hạnh Bồ tát. 
 
2. Với công việc ngẫu hứng
Ta có thể nghĩ lại 
Rằng nên làm hay không
Mặc dù ta đã hứa 

3. Nhưng không thể buông bỏ
Điều Phật và Bồ tát 
Đã quán chiếu chiêm nghiệm 
Mà tôi đã thọ lãnh.
 
4. Tôi đã thề làm lợi 
Cho tất cả chúng sinh 
Mà không làm như hứa 
Như vậy tôi lừa dối 
Phận tôi sẽ ra sao? 
 
5. Kinh đã dạy rõ rằng
Ai định cho kẻ khác
Một vật dù nhỏ nhoi
Song rồi lại không cho
Sẽ đọa làm quỷ đói. 
 
6. Tôi đã mời chúng sinh 
Dự tiệc đại an lạc 
Rồi tôi lại dối gạt 
Đời tôi sẽ bi đát! 
 
7. Người bỏ tâm bồ đề 
Mà được quả giải thoát 
Là điều khó nghĩ bàn 
Chỉ chư Phật biết rõ.
 
8. Trong giới hạnh Bồ tát
Ai bỏ tâm Bồ đề
Làm chúng sinh bất lợi
Sẽ gặt quả báo ác. 
 
9. Ai trong một sát-na 
Cản trở người làm thiện 
Khiến hữu tình bị hại
Sẽ gặp quả báo ác
Thật vô cùng khủng khiếp. 
 
10. Phá an lạc một người 
Ta phải bị khốn khổ 
Huống chi phá an lạc 
Của vô số hữu tình
Ác báo không cùng tận.
 
11. Người phát tâm bồ đề 
Nhưng hành động ngược lại
Sẽ trôi trong luân hồi
Khó trở thành Bồ tát.
 
12. Phải cung kính thực hành 
Những gì đã thệ nguyện 
Nếu tôi không tinh tấn 
Sẽ đọa chốn thấp hèn.
 
Giá trị của cuộc sống

13. Vô số Phật ra đời 
Mang lợi đến chúng sinh 
Nhưng tôi vì tội xưa 
Nên không được ân phước. 
 
14. Nếu tái phạm nghiệp cũ 
Chắc chắn không thoát khỏi
Số phận thật hẩm hiu 
Bệnh đau và tật nguyền 
Lăn lóc trong nẻo ác.
 
15. Bao giờ gặp cơ hội
Gặp được Phật xuất thế 
Đem lòng tin Phật pháp 
Được thuận duyên tu hành? 
 
16. Mặc dù được khỏe mạnh 
Đủ ăn, không tổn thương 
Nhưng thân này tạm bợ
Nó chỉ là ảo ảnh.
 
17. Với cuộc sống hiện nay
Khó tái sinh thành người
Mà không được thân người 
Làm sao làm việc thiện? 
 
18. Có cơ hội làm thiện 
Mà bỏ qua không làm 
Liệu tôi làm được gì 
Khi thống khổ bức bách? 
 
19. Nếu không làm việc thiện 
Chỉ toàn làm việc ác 
Dù trải qua muôn kiếp 
Vẫn không biết cõi lành. 
 
20. Đức Thế tôn dạy rằng 
Thân người khó được thay 
Như rùa mù dưới biển 
Cổ ngoi lên trúng ngay
Vào lỗ ván phiêu bồng. 
 
21. Phạm tội nặng chốc lát 
Đã phải bị đọa đày
Vào địa ngục vô gián 
Vậy với tội muôn kiếp 
Làm sao sinh cõi lành? 
 
22. Chờ trả xong ác báo 
Cũng khó thoát địa n