Nhiều
người trí thức khi đến với đạo Phật thường dành nhiều
thì giờ để tìm hiểu, bàn luận về các vấn đề trừu
tượng, tâm lý, triết lý xa vời, mà quên rằng đạo Phật
là một lối sống, một con đường để ta áp dụng tu tập
trong đời sống hằng ngày. Tam tạng kinh điển nguyên thủy
có ghi rất nhiều lời khuyên quý báu và thực tế của Đức
Phật, để hướng dẫn chúng ta có được một lối sống
trong sạch, thiện lành, tạo một nền tảng vững chắc, một
môi trường thích hợp để phát triển trí tuệ. Các trích
dẫn sau đây được dựa vào các bài Phật Pháp Phổ Thông
đăng trong ấn bản điện tử của báo Daily News, Sri Lanka trong
tháng 4, 2005 (www.dailynews.lk).
*
1. Không
nên nói lời giả dối
Những
lời nói giả dối là một hiện tượng rất thông thường
và quen thuộc trong xã hội hiện đại, cho đến nỗi có nhiều
người tin rằng không thể nào có được một thế giới hoàn
toàn trống vắng các lời giả dối này. Có lẽ chúng ta cũng
nên suy gẫm những lời Đức Phật dạy cho ngài Sa-di La-hầu-la,
con trai của Đức Bồ-tát, về đức hạnh không nói dối,
về những tai hại của sự nói dối, và nhấn mạnh tầm quan
trọng của sự thường xuyên tư duy về những hành động
của mình, như đã ghi lại trong bài kinh "Giáo giới La-hầu-la
ở rừng Am-ba-la", Trung Bộ 61, mà chúng tôi xin trích lược
dưới đây.
Một
thời, Đức Thế Tôn trú ở khu vườn Trúc, thành Vương-xá.
Lúc bấy giờ, Sa-di La-hầu-la, bảy tuổi, trú ở khu rừng
Am-ba-la kế cạnh. Vào một buổi chiều, Thế Tôn đi đến
thăm Sa-di La-hầu-la. Tôn giả La-hầu-la thấy Thế Tôn từ
xa đi đến, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân.
Khi Sa-di La-hầu-la bưng chậu nước đến cho Đức Phật rửa
chân, Ngài đã dùng ví dụ chậu nước để dạy Sa-di.
Trước
hết Ngài chừa lại một ít nước trong chậu, chỉ cho La-hầu-la
và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối mà không biết hổ
thẹn cũng ít oi như vậy."
Đức
Phật đổ hắt chút nước đó và nói: "Hạnh tu của kẻ cố
ý nói dối mà không biết hổ thẹn cũng đáng đổ đi như
vậy."
Rồi
Ngài lật úp chậu, và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối
mà không biết hổ thẹn cũng bị lật úp như vậy."
Cuối
cùng, Ngài lật ngửa chậu, chỉ cho La-hầu-la thấy chậu trống
rỗng và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối mà không biết
hổ thẹn cũng trống rỗng như vậy."
Ngài
nói tiếp:
"Như
con voi của hoàng gia lúc lâm trận, khi nó liều lĩnh thí mạng,
không còn biết quý trọng bảo vệ cặp ngà và cái vòi của
nó, thì không có gì mà nó không dám làm. Cũng vậy, kẻ nào
cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn thì không có điều
ác nào mà kẻ ấy không dám làm. Do vậy, Sư cần phải luôn
tự nhắc nhở: Tôi sẽ không nói dối, dù chỉ nói để đùa
chơi."
Sau
đó, Đức Phật dùng ví dụ tấm gương để dạy Sa-di La-hầu-la
không những phải biết giữ gìn lời nói, mà còn phải biết
giữ gìn các hành động và tư tưởng. Ngài dạy:
"Cũng
như tấm gương dùng để phản chiếu, người tu hành cũng
phải luôn luôn phản tỉnh trong mọi hành động nơi thân,
mọi lời nói nơi miệng, mọi ý nghĩ trong tâm.
"Khi
Sư sắp sửa làm điều gì, phải biết tự phản tỉnh: điều
này có hại mình, hại người, hại cả hai? Nếu có, thì tránh,
không làm điều đó. Nếu điều đó đưa đến lợi lạc cho
mình, cho người, cho cả hai, thì tiến hành.
"Khi
Sư đang làm điều gì, phải biết tự phản tỉnh: điều này
có hại mình, hại người, hại cả hai? Nếu có, thì ngưng
làm điều đó. Nếu điều đó đưa đến lợi lạc cho mình,
cho người, cho cả hai, thì tiếp tục.
"Khi
Sư đã làm điều gì, phải biết tự phản tỉnh: điều này
có hại mình, hại người, hại cả hai? Nếu có, thì Sư cần
phải thưa lên, cần phải trình bày trước các vị đạo sư,
hay trước các vị đồng phạm hạnh. Sau khi đã tỏ lộ, trình
bày, Sư cần phải sám hối và phòng hộ trong tương lai. Nếu
điều đó đưa đến lợi lạc cho mình, cho người, cho cả
hai, Sư phải an trú trong niềm hoan hỷ, và tiếp tục tu học
trong các thiện pháp.
"Cũng
vậy cho các lời nói và ý nghĩ. Nếu chúng đưa đến các
hậu quả tai hại thì Sư phải biết tránh, không thực hiện.
Nếu đã lỡ thực hiện rồi thì phải biết sám hối để
chừa bỏ. Nhưng nếu chúng đưa đến kết quả lợi lạc thiện
lành thì hãy hoan hỷ tiếp tục thực hiện và tăng trưởng
các điều ấy.
"Ðó
là đường lối phản tỉnh, phương cách huân tập của mọi
người tu trong thời quá khứ cũng như trong hiện tại và tương
lai, để làm thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý."
Sau
khi nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, tôn giả La-hầu-la
rất hoan hỷ, thành tâm ghi nhận lời dạy của Ngài.
*
2. Không
nên sân hận, căm thù
Lẽ
dĩ nhiên là lòng sân hận căm thù không thể nào đưa đến
sự giác ngộ giải thoát. Thêm vào đó, Đức Phật dạy cho
chúng ta biết rằng sân hận sẽ làm cho ta thêm đau khổ ngay
trong hiện tại và có thể có quả xấu trong tương lai, như
đoạn kinh sau đây, trích lược tóm tắt từ Chương Bảy Pháp,
Tăng Chi Bộ:
1)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình trở thành xấu xí, không có dung sắc. Tuy nhiên người
nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn
nộ chi phối, dù cho người ấy khéo tắm rửa, khéo chải
chuốt, tóc râu khéo sửa soạn, nhưng rồi người ấy cũng
trở thành xấu xí, vì bị phẫn nộ chinh phục.
2)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình ngủ một cách khổ sở. Tuy nhiên người nào có
lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi
phối, dù có nằm trên ghế dài, nệm trải bằng len, chăn
len trắng, chăn len thêu, nệm bằng da mềm, tấm khảm với
lọng che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ, nhưng
rồi người ấy vẫn ngủ một cách khổ sở, vì bị phẫn
nộ chinh phục.
3)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình làm ăn, thâu hoạch không có lời. Tuy nhiên người
nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn
nộ chi phối, tâm trí người ấy trở nên rối ren, dù làm
ăn có lời lại nghĩ rằng không lời, làm ăn không lời lại
nghĩ rằng có lời, vì thế lúc nào cũng khổ sở lo lắng.
4)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình không có tài sản. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn
nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù người
ấy đã thu hoạch nhiều tài sản lúc trước do siêng năng
làm ăn, nhưng rồi vì tâm trí không còn sáng suốt, người
ấy có thể có những hành động sai lầm đưa đến tù tội,
phạt vạ, làm tiêu tán tài sản.
5)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình không có danh tiếng. Tuy nhiên người nào có lòng
phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối,
dù người ấy đã thu hoạch nhiều danh tiếng lúc trước,
nhưng rồi vì tâm trí không còn sáng suốt, người ấy có
thể có những hành động sai lầm làm tiêu hoại mọi danh
tiếng đã có.
6)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình không có bạn bè. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn
nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù người
ấy có những bạn bè thân hữu, bà con huyết thống gì, nhưng
rồi họ cũng sẽ xa lánh, từ bỏ người ấy, vì người ấy
có tính tình nóng nảy, bị phẫn nộ chinh phục.
7)
Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch
của mình sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh vào cõi dữ,
ác thú, đọa xứ, địa ngục. Tuy nhiên người nào có lòng
phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối,
người ấy làm ác hạnh với thân, người ấy nói lời ác
hạnh với lời, người đó nghĩ đến điều ác hạnh với
ý, cho nên, khi thân hoại mạng chung, chính người ấy sẽ
sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
*
3. Chăm
sóc người bệnh
Chung
sống trong một tập thể, chúng ta cần phải có lòng từ mẫn
và thông cảm để chăm sóc cho nhau, nhất là khi có người
bị bệnh. Người bệnh nào cũng cần được chăm sóc, giúp
đỡ, cho dù người ấy không được người khác yêu mến
khi còn khỏe mạnh. Trong bài giảng sau đây, Đức Phật dạy
chúng ta phải biết chăm sóc những người cần được giúp
đỡ, và Ngài tuyên bố: "Ai sẵn sàng chăm sóc Ta, vị ấy
nên chăm sóc những người bệnh". Ngoài ra, Ngài cũng dạy
thế nào là một bệnh nhân tốt và thế nào là một người
chăm sóc tốt. Bài kinh nầy được hiệu đính, dựa theo bản
Việt ngữ của Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên trong bộ Đại
Phẩm VIII.166, Luật Tạng.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị
ấy đã bị té vào đống phân và nước tiểu của chính mình.
Khi ấy, Đức Thế Tôn cùng với đại đức Ānanda, thị giả
của Ngài, đang đi bộ dạo quanh và đi ngang qua trú xá của
vị tỳ-khưu ấy. Đức Thế Tôn nhìn thấy vị tỳ-khưu té
và đang nằm trên đống phân và nước tiểu của chính mình.
Thấy vậy, Ngài đi đến gần vị tỳ-khưu ấy, và hỏi:
- Này
tỳ-khưu, thầy bị bệnh gì?
- Bạch
Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.
- Này
tỳ-khưu, thầy không có ai chăm sóc?
- Bạch
Thế Tôn, không có.
- Vì
sao các vị tỳ-khưu khác lại không chăm sóc thầy?
- Bạch
Ngài, con là người đã không có giúp gì cho các vị tỳ-khưu,
do đó, các vị tỳ-khưu không chăm sóc con.
Nghe
vậy, Đức Thế Tôn bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này
Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm rửa cho
vị tỳ-khưu này.
- Bạch
Ngài, xin vâng.
Đại
đức Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn mang nước đến. Ngài
xối nước và đại đức Ānanda tắm rửa cho vị tỳ-khưu.
Ngài đỡ phần đầu còn đại đức Ānanda nâng lên ở phần
chân, và đặt vị tỳ-khưu lên giường. Sau đó, Đức Thế
Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy, cho triệu tập các
vị tỳ-khưu, rồi hỏi các vị ấy rằng:
- Này
quý thầy, có phải có vị tỳ-khưu trong trú xá kia đang bị
bệnh?
- Bạch
Thế Tôn, đúng như thế.
- Này
các tỳ-khưu, vị ấy bị bệnh gì?
- Bạch
Ngài, đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ.
- Này
các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy có người chăm sóc không?
- Bạch
Thế Tôn, không có.
- Vì
sao các thầy lại không chăm sóc vị ấy?
- Bạch
Ngài, vị tỳ-khưu ấy là người đã không có giúp gì cho
các vị khác, do đó, các vị tỳ-khưu khác không chăm sóc
vị ấy.
- Này
các tỳ-khưu, quý thầy không có mẹ, không có cha là những
người có thể chăm sóc quý thầy. Này các tỳ-khưu, nếu
quý thầy không chăm sóc lẫn nhau thì khi ấy lấy ai sẽ chăm
sóc đây? Này các tỳ-khưu, vị nào sẵn sàng chăm sóc Ta,
vị ấy nên chăm sóc những người bệnh.
- Nếu
có thầy tế độ, thầy tế độ nên chăm sóc đến hết đời
hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu
có thầy dạy học, thầy dạy học nên chăm sóc đến hết
đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu
có đệ tử, người đệ tử nên chăm sóc đến hết đời
hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu
có học trò, người học trò nên chăm sóc đến hết đời
hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu
có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên
chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được
hồi phục.
- Nếu
có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên
chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được
hồi phục.
- Nếu
không có thầy tế độ, thầy dạy học, đệ tử, học trò,
vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy dạy học, hội
chúng nên chăm sóc.
Nếu
không chăm sóc thì phạm tội Tác ác (dukkata).
a)
Này các tỳ-khưu, vị bị bệnh là khó chăm sóc khi hội
đủ năm điều:
- là
vị không làm việc cần làm để chữa bệnh;
- là
vị không biết sự vừa phải trong việc cần làm để chữa
bệnh;
- là
vị không quen dùng dược phẩm;
- là
vị không giải thích cho người chăm sóc mình một cách rõ
ràng về triệu chứng bệnh của mình, không nói rõ ràng là
bệnh đã tăng thêm, đã giảm bớt, hay vẫn như trước.
- là
loại người không chịu đựng được các cảm thọ khổ,
khốc liệt, sắc bén, gay gắt, khó chịu, đe dọa đến mạng
sống.
Này
các tỳ-khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là khó
chăm sóc.
b)
Này các tỳ-khưu, vị bị bệnh là dễ chăm sóc khi hội
đủ năm điều:
- là
vị làm việc cần làm để chữa bệnh;
-
là vị biết sự vừa phải trong việc cần làm để chữa
bệnh;
-
là vị quen dùng dược phẩm;
- là
vị giải thích cho người chăm sóc mình một cách rõ
ràng về triệu chứng bệnh của mình, nói rõ ràng là bệnh
đã tăng thêm, đã giảm bớt, hay vẫn như trước.
- là
loại người chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc
liệt, sắc bén, gay gắt, khó chịu, đe dọa đến mạng sống.
Này
các tỳ-khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là dễ
chăm sóc.
c)
Này các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân không thích
hợp để chăm sóc người bệnh là vị hội đủ năm điều:
- là
vị không có khả năng để pha chế thuốc men;
- không
biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, không
làm điều cần thiết trong việc điều trị bệnh;
- chăm
sóc người bệnh vì mục đích tài vật, không phải vì tâm
từ;
- ghê
tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn
mửa;
- không
có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và
tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng các bài Pháp thoại
lúc này lúc khác.
Này
các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân hội đủ năm điều
này là không thích hợp để chăm sóc người bệnh.
d)
Này các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân thích hợp để
chăm sóc người bệnh là vị hội đủ năm điều:
- là
vị có khả năng biết pha chế thuốc men;
- biết
điều gì cần làm và điều gì không cần làm, chỉ làm điều
cần thiết trong việc điều trị bệnh;
- chăm
sóc người bệnh vì tâm từ, không phải vì mục đích tài
vật;
- không
ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật
nôn mửa;
- có
khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo
niềm phấn khởi cho người bệnh bằng các bài Pháp thoại
lúc này lúc khác.
Này
các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân hội đủ năm điều
này là thích hợp để chăm sóc người bệnh.
Bình
Anson
Tây
Úc, tháng 4-2005