Kinh
Văn:
Tôi
nghe như vầy, một thưở nọ đức Phật ở tại thành Vương
Xá trong núi Kỳ Ðà Quật, cùng chúng đại Tỳ kheo, một ngàn
hai trăm năm mươi người câu hội. Chúng Bồ tát có ba vạn
hai ngàn, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử đại Bồ tát làm
thượng thủ.
Lược
giảng:
"Như
vầy" hay "như thị", là từ chỉ cho pháp; từ chỉ cho
pháp như vậy thì tin được. Pháp xưa nay không biến đổi,
ba đời đều tuân theo tức là như. Tại sao gọi là thị?
ý nói những gì sẽ nói ra đây đều là những Pháp chơn thật
hợp với cơ duyên của tất cả chúng sinh.
" Tôi
nghe" là do Tôn Giả A Nan nghe từ kim khẩu của Đức Như
Lai, nay diễn lại những gì mà Tôn Giả đã nghe, nên gọi
là Tôi nghe.
"Tôi
nghe như vầy" chính là một trong bốn câu trả lời của
Ðức Phật mà Đức A Nan đã hỏi Phật trước khi Phật
nhập Niết Bàn.
Mỗi
bộ Kinh Phật, đều có hội đủ sáu điểm thành tựu,(lục
chủng thành tựu) để cho chúng ta biết đó là những Pháp
đáng tin cậy. Vậy "Tôi Nghe" chính là một trong sáu điểm
thành tựu tức là, văn thành tựu. "Như thị" là tín thành
tựu, do Pháp như thị nên gọi tín thành tựu, nếu pháp không
như thị thì Pháp không đáng tin. "một thưở nọ" là thời
thành tựu. "Phật" là chủ thành tựu, " Vương Xá ..Kỳ Xà
Quật" là xứ thành tựu, "1.250 tỳ kheo...." chúng thành tựu.
Khi Phật thuyết Pháp phải hội đủ sáu điểm thành tựu
này, nếu không hội đủ sáu điểm thành tựu thì Pháp không
như thị, đã là không như thị thì Pháp không đáng tin.
Phật
nói đủ là Phật Đà Da, nghĩa là Giác Giả. Tự Giác, Giác
Tha, và Giác Hạnh viên mãn thì gọi là Phật.
"Kỳ
Xà Quật" Trung Quốc dịch là Linh Thứu, vì ngọn núi
này nhìn từ xa xuống trông giống như con ó cho nên gọi là
Linh Thứu.
"Ma
ha Tỳ Kheo" Tỳ kheo (Bhiksu) có ba nghĩa là: khất sĩ, bố ma
và phá ác. "ma ha" cũng có ba nghĩa là; lớn, nhiều và hơn
hết. Ở đây nói là Ma Ha Tỳ Kheo nghĩa là bực Tu Sĩ này
đều có những Đạo hạnh lớn, thân tâm thanh tịnh, không
còn tâm dâm dục.
"Bồ
Tát" nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa (Bodhisattva) dịch là Giác
Hữu Tình tức là người làm cho chúng hữu tình được giác
ngộ như mình.
1 vạn
là 10 ngàn, như vậy thì có 32,000 vị Bồ Tát dự Pháp hội
này.
"Văn
Thù Sư Lợi" Trung Hoa dịch là Diệu Đức hay Diệu Cát Tường.
"Pháp Vương" là người nói ra Pháp một cách không bị
chướng ngại, tức chỉ cho Phật, "Tử" là con, ý nói vị
này sẽ kế thừa sản nghiệp của Chư Phật. Giống như ở
thế gian, con của vua, người được lập ra để nối ngôi
thì gọi là Thái Tử vậy.
" Ma
ha Bồ Tát" ma ha đã nói ở trên, tức đại Bồ Tát trong hàng
Bồ Tát. "thượng thủ" có thể nói vị Bồ Tát này đại
điện cho 32 ngàn vị Bồ Tát tham dự pháp hội.
Kinh
Văn:
Lúc
bấy giờ ở thành Vương Xá có một Thái Tử tên là A Xà
Thế, vì thuận theo lời chỉ bảo của ác hữu Ðiều Ðạt,
bắt Vua cha Tần Bà Sa La nhốt trong nhà ngục tối bảy từng
cửa, ra lệnh cấm các quan trong triều không được ra vào.
Lược
giảng:
Thành
Vương Xá là một Thủ Đô của một nước trong những nước
lớn ở Ấn Độ trong thời bấy giờ có tên là Ma Kiệt Đà,
đâu như là tiểu bang Bihar của Án Độ ngày nay, dưới sự
lãnh đạo của vua Tần Bà Sa La. Thời bấy giờ Nước Ma Kiệt
Đà rất là thịnh vượng.
Thân
tướng của vị vua này rất là đoan nghiêm nên gọi là Tần
Bà Sa La, Tần Bà Sa La Trung Hoa dịch là Kiên Ảnh. Khi Đức
Thế Tôn chưa thành đạo, Ngài đến nơi này được vua tiếp
đón rất trọng Nể, và thỉnh Phật khi nào thành đạo, đến
nơi này để độ cho ông; khi đức Như Lai thành đạo, nhớ
đến lời thỉnh cầu của ông, nên trở lại nơi này truyền
đạo và thuyết Pháp cho vị vua này. Ông ta rất ngưỡng đạo,
Vườn Trúc Lâm là chính do vị vua này cúng dường cho Phật
và Tăng Đoàn.
" A
Xà Thế" là vị thái tử con của vua Tần Bà Sa La có
tên là Thiện Kiến. A Xà Thế là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch
là Vị oán sanh, tại sao vị thái tử này có danh hiệu quái
vị vậy? Chớ hiểu lầm chữ vị này của tôi, vị chớ không
phải là dị, vị tức là mùi vị chớ không phải dị là
xấu nhé.
Vào
đời trước, vua Tần Bà Sa La là vị vua chỉ biết lo ăn chơi
hưởng thụ, đi săn bắn thú rừng sát hại chúng sanh, một
hôm ông ta đi đến núi để săn bắn, nhưng ông ta không được
toại ý, vì hôm đó ông ta không săn được một con thú rừng
nào. Trên núi có một vị tiên nhân đang tu hành ở đó, vị
tiên nhân này đang tọa Thiền, khi vua thấy liền sanh lòng
sân hận và nói " Chắc cũng tại người này tọa thiền ở
đây, nên thú rừng đều sợ mà trốn hết đi, làm cho ta hôm
nay không săn được con thú rừng nào" và ra lịnh giết chết
vị tiên nhân đó, lúc sắp chết vị tiên nhân này sanh tâm
oán hận, nên phát lời như vầy:" ta vốn không có tội gì,
mà nay ngươi sanh tâm ác, dùng khẩu lịnh của ngươi mà giết
ta, ta nguyện đời sau cũng sẽ dùng cách này mà giết chết
ngươi".
Quí
vị nghĩ xem, chữ "vị" của tôi ở trên có hay không? Thật
là mùi vị sân hận mà gây ra.
Vào
thời của Phật, vị vua ác tâm thưở trước cũng sanh vào
cõi này và làm vua ở nước Ma Kiệt Đà tên là Tần Bà Sa
La, vua và bà Vi Đề Hy sanh ra được một vị thái tử, nhưng
khi sanh ra đứa trẻ này, có vị tiên sư nói với nhà
vua rằng " đứa trẻ này có sức thù oán với vua rất
lớn , khi lớn lên sẽ giết hại vua" nghe như vậy vua
Tần Bà Sa La ra lịnh giết chết đứa bé này bằng cách là
cho nó rớt xuống từ trên cao, tuy nhiên, đứa bé này không
những không chết mà còn khỏe mạnh, chỉ trừ bị thương
ở ngón tay, thấy vậy vua không sát hại nữa. Đặt tên cho
đứa bé này là Thiện Kiến với vy họng rằng đứa trẻ
này đi trên con đường thiện mà quên đi sự ân oán thưở
xa xưa.
Nhân
duyên đã đến, Quả đã chín mùi, cho nên đương thời có
Đề Bà Đạt Đa cũng muốn hại Phật, đến bảo với thái
tử Thiện Kiến là ngài vốn không phải tên là Thiện Kiến
mà tên là A Xà Thế, nghĩa là người có tâm thù oán trước
khi sanh, cho nên khi sanh người, mẹ của người sợ thái tử
lớn lên giết hại vua, nên cho thái tử rơi xuống từ trên
cao, nhưng người không chết, ở trong thành này không ai mà
không biết, chỉ có Thái tử mới không biết việc này thôi.
nghe như vầy thái tử A Xà Thế sanh tâm trả thù, thái tử
này vốn là người lương thiện nhưng bị ác hữu Đề Bà
Đạt Đa súi giục nên sanh lòng oán ghét, lập mưu để xóa
ngôi và bắt vua nhốt vào trong ngục.
Đề
Bà Đạt Đa là em chú bác với Phật , anh của Ngài A Nan Đà
Tôn giả, cũng là đệ tử của Đức Thế Tôn, nhưng trong
tám năm trước khi Đức Phật nhập diệt thì ngài lại trở
mặt với Tăng Đoàn, và tìm đủ mọi cách để hại Phật.
Chúng
ta thấy, đó là những thứ nhân duyên kết tạo lâu đời,
đợi khi nào nhân duyên chín mùi thì chúng sẽ đến với những
ai đã tạo trong quá khứ, cho nên người tu đạo phải vè
vặt những thứ nhân ác này, không nên sanh tâm sân hận mà
phát ra những lời ác. mà phải nên sanh tâm hổ thẹn và sanh
tâm hoan hỷ cho mọi người.
Kinh
Văn:
Quốc
Thái phu nhơn tên là Vi Ðề Hy vì cung kính Ðại Vương, tắm
gội sạch sẽ, rồi dùng bánh sửa, mật ong, trộn với bột
chín đem bôi xoa trên đầu tóc thân mình, còn trong những hột
chuỗi ngọc đeo mà đựng những nước bồ đào, rồi lén
đem đến dâng cho vua.
Lược
giảng:
" Vi
Đề Hy" (vaidehi) là mẹ của thái tử A Xà thế tức vợ của
vua Tần Bà Sa La. Tên của bà có nghĩa là Tư Duy. Cũng có tên
gọi là Thắng Diệu Thân, tôi cũng không biết tại sao gọi
là Thắng Diệu Thân, có lẽ hình dáng bà ta rất xinh đẹp.
Kinh
Văn:
Vua
Tần Bà Sa La nhờ ăn những thứ bột, sửa và mật ong và
uống nước trái bồ đào trong những hột chuỗi ngọc anh
lạc, súc miệng. Súc miệng xong, vua chắp tay cung kính chấp
tay hướng về núi Kỳ Xà Quật và lễ lạy Thế Tôn mà bạch
rằng: " Ngài Ðại Mục Kiền Liên là thân hữu của tôi, nguyện
vì lòng từ bi mà đến truyền tám phần trai giới cho
tôi".
Lược
giảng:
Vua
Tần Bà Sa La, nhờ ăn được những thứ do bà Vi Đề Hy đem
đến mà sống, tuy ở trong nhà ngục mà vẫn nhớ đến Phật,
nên từ nhà ngục hướng vế núi Kỳ Xà Quật mà đảnh lễ
đức Như Lai, và nói "Ngài Mục Liên là người bạn chí
thân, xin vì lòng từ bi mà đến đây truyền tám phần trai
giới cho tôi."
Tuy
là bị giam trong nhà ngục nhưng vua không hề thấy đó là
chướng ngại, không những không thối thất tâm Bồ Đề,
mà trái lại còn tinh tấn phát tu hành trong khi đang thọ khổ
trong nhà lau. Thân của người có thể giới hạn, vua A xà
thế có thể nhốt được thân ngài nhưng không làm sao có
thể nhốt được cái tâm của vua Tần Bà Sa La. Sống trong
nhà ngục nhưng Người không cảm thấy đó lá khổ, mà phát
sanh tâm thanh tịnh nghĩ tưởng đến đức Thế Tôn.
"Thế
Tôn" là một trong mười danh hiệu của Phật, nghĩa là người
được Tôn Quí nhứt trong hàng thế gian và xuất thế gian.
" Đại
Mục Kiền Liên" Mục Kiền Liên trung Hoa dịch là Thái Thúc
Thị. "Đại" đã nói ở trên, như vậy Đại Mục Kiền
Liên là đại Thanh Văn trong hàng Thanh Văn.
Ngài
Mục Kiền Liên là người có thần thông bực nhứt. Ngài đều
chứng được sáu phép thần thông. Sáu phép thần thông đó
là:
1.
Thiên nhãn thông
2.
Thiên nhĩ thông
3.
Tha tâm thông
4.
Túc mạng thông
5.
Thần túc thông
6.
Lậu tận thông
"Tám
Phần trai giới" mới nghe qua quí vị chắc có người
cảm thấy lạ, nhưng kỳ thật tám phần trai giới này nó
không lạ chút nào đối với 8 phần mười trong quí vị. Ta
thường gọi là Bát Quan Trai, là tám thứ giới mà quí vị
thọ bát quan trai trong những ngày cuối tuần vào mỗi hai tuần
trong một tháng đó. Tám phần giới thì gọi là giới, không
ăn quá ngọ thì gọi là trai.
Kinh
Văn:
Liền
trong lúc đó Tôn Giả Ðại Mục Kiền Liên,dùng thần thông
như chim ưng, bay mau đến chỗ Vua, truyền giới Bát Quan Trai
cho Vua. Ngày ngày đều như vậy, đến truyền giới cho Vua.
Ðức Thế Tôn cũng bảo Tôn giả Phú Lâu Na đến vì Vua mà
thuyết pháp.
Lược
giảng:
Liền
trong lúc đó tức là vào lúc mà Vua hướng về núi Kỳ Xà
Quật mà thưa "Ngài Mục Kiền Liên là bạn thân của tôi,
xin từ bi mà đến nơi này cho tôi thọ tám phần trai giới"
lúc đó Tôn Giả Mục Liên chứng biết tâm niệm của
vua, nên vội dùng thần thông đi đến chỗ vua bị giam, trong
nháy mắt, như chim ưng, ý nói là vị Tôn Giả này khi
chứng biết thì liền đến để truyền giới cho vua trong thời
gian đó rất nhanh. kế đó Phật bảo với Tôn Giả Phú Lâu
Na rằng hãy đến chỗ của vua Tần Bà Sa La vì ông ấy mà
thuyết pháp cho ông ta.
"Phú
Lâu Na" Trung Hoa dịch là Mãn Từ Tử. Phú Lâu Na xuất thân
từ giòng Bà La Môn. Tôn Giả vốn là sanh cùng ngày với Phật,
Tôn Giả rất là thông minh. Khi Phật xuất gia thì Tôn Giả
cùng với những người bạn khác cũng xuất gia tu theo giáo
pháp của Ba Lê Bà Già Ca ở núi Himalaya. Khi đức Thế Tôn
thành Đạo thì ông ta cũng chứng được tứ thiền và năm
thứ thần thông. Ông dùng Thiên Nhãn thấy đức Thế Tôn đang
chuyển Pháp Luân ở Vườn Lộc Uyển nên đến đó quy y xin
theo Phật, và chẳng bao lâu ông chứng được quả A La Hán.
Phật
ấn chứng cho Tôn Giả này là thuyết pháp bực nhứt trong
hàng đệ tử Thanh Văn, không những Ngài là bực thuyết Pháp
bực nhứt trong thời kỳ Phật Thích Ca, mà Ngài trong đời
quá khứ trải qua chín mươi ức kiếp đức Phật quá khứ
cũng là bực thuyết Pháp đệ nhứt, và trong tương lai cũng
như vậy, khi Phật thành Phật thì ngài cũng thị hiện mà
thuyết pháp. Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Tôn Giả được
thọ ký sẽ được thành Phật hiệu là Pháp Minh Như Lai, thế
gìới tên là Thiện Tịnh, đều làm bằng thất bảo.
Kinh
Văn:
Thời
gian như vậy trải qua hai mươi mốt ngày, vua nhờ ăn bột
chín trộn với mật,, uống nước nho, lại được thọ giới
Bát Quan Trai, được nghe thuyết pháp nên nhan sắc Vua hòa vui.
A
Xà Thế hỏi người giữ cửa ngục rằng:" Hôm nay Phụ Vương
ta vẫn còn sống ư ? ".
Người
giữ cửa ngục tâu rằng:" Tâu Ðại Vương! Quốc Thái phu
nhơn trên thân trét mì mật, trong chuỗi ngọc đựng nước
nho, đem dâng lên Vua. Còn có Sa môn Ðại Mục Kiền Liên và
Phú Lâu Na đi từ trên hư không đến vì Vua thuyết pháp, chúng
tôi không thể nào cấm ngăn được".
A
Xà Thế nghe lời ấy giận Mẹ mình rằng:" Mẹ ta là giặc
làm bạn với giặc. Sa Môn ác nhơn huyễn hoặc chú thuật
khiến ác vương ấy nhiều ngày mà chẳng chết". A Xà Thế
liền cầm gươm bén muốn giết mẹ.
Lược
giảng:
"Sa
Môn" có nghĩa là Cần giả và Tức Giả, Cần tu giới,
định, tuệ, Tức là dừng nghĩ, nghĩa là diệt tham, sân, si
vậy.
Kinh
Văn:
Lúc
ấy có một đại thần tên là Nguyệt Quang, người thật thông
minh và cơ trí, cùng với Kỳ Bà đến lễ Vua A Xà Thế mà
tâu rằng:" Tâu Ðại Vương! Chúng Thần nghe Tỳ Ðà Luận
kinh nói từ kiếp sơ đến nay có các ác vương, vì tham ngôi
Vua mà giết hại cha mình, đến số một vạn tám ngàn. Chưa
từng nghe nói có kẻ vô đạo hại mẹ. Nay Ðại Vương làm
sự sát nghịch này làm ô uế dòng Sát Ðế Lợi. Chúng thần
chẳng nở nghe. Ðây là Chiên Ðà La. Chúng tôi chẳng nên còn
ở lại nơi đây". Hai vị thần tâu rồi lấy tay vỗ lên gươm
đi lui mà ra.
Lược
giảng:
Tại
sao gọi người này là Nguyệt Quang, kinh văn đã nói là vị
này thật thông minh, ý nói người này có trí huệ sáng suốt
trong sạch như mặt trăng vậy.
"Kỳ
Bà" là tiếng phạn, Trung Hoa dịch: Cố Hoạt. Kỳ Bà cũng
là con của vua Tần Bà Sa La. Mẹ ông là bà Yên Lai Tử.
"Tỳ
Đà" là kinh điển của phái Vệ Đà.
"Sát
Đế Lợi" là giòng vua chúa. "Chiên Đà La" là giai cấp hạ
tiện.
Kinh
Văn:
A
Xà Thế kinh sợ, hãi hùng bảo Kỳ Bà rằng:" Còn anh cũng
chẳng vì ta chăng?". Kỳ Bà tâu rằng:" Ðại Vương cẩn thận
chớ có hại mẹ".A Xà Thế nghe lời ấy, sám hối cầu cứu,
liền bỏ gươm, thôi không hại mẹ, truyền lịnh cho nội
quan đem giam mẹ ta vào thâm cung chẳng cho ra nữa.
Lược
giảng:
Sám-ma,
trung hoa dịch là hối quá, tức sanh tâm hổ thện với những
việc mà mình đã tạo. Lấy sám từ Phạn ngữ và lấy hối
từ chữ Hán, gọi là sám hối.
"Sám
Hối" Sám là sự phát khởi ở bên trong làm cho mình sanh tâm
hổ thẹn, Hối là hối quá nghĩa là tự mình cảm thấy hối
hận về việc mình đã làm nên sanh tâm hổ thẹn, là từ
chỉ ở bên ngoài.
Kinh
Văn:
Vi
Ðề Hy bị giam nhốt rồi, sầu lo tiều tụy, bà hướng về
núi Kỳ Xà Quật lạy Phật mà nói lời như vầy:" Ðức
Như Lai Thế Tôn! ở những lúc trước kia, thường hay sai
Tôn giả A Nan đến thăm và an ủi con. Nay con đang lo buồn
đau khổ, không biết làm sao được thấy tướng uy nghiêm
của đức Thế Tôn . Xin Phật thương cho Tôn giả Ðại Mục
Kiền Liên và A Nan đến cho con được thấy. Nói xong, Vi
Ðề Hy buồn khóc, lệ rơi như mưa, hướng về đức Phật
mà lạy.
Lược
giảng:
Bà
Vi Đề Hy bị giam trong ngục, bà lo buồn và tự nghĩ,
mình bị giam ở đây, thì làm sao đem đồ ăn cho vua được?
nên sanh tâm buồn bã. Bà đang ở thọ sự khổ nhưng tâm bà
vẫn sáng suốt nghĩ tưởng đến Thế Tôn, để nói lên sự
đau buồn vô hạn của cõi đời này, bà thành tâm hướng
về núi Kỳ Xà Quật, mà thưa rằng: "Ðức Như Lai Thế Tôn!
ở những lúc trước kia, thường hay sai Tôn giả
A Nan đến thăm và an ủi con. Nay con đang lo buồn đau khổ,
không biết làm sao được thấy tướng uy nghiêm của đức
Thế Tôn . Xin Phật thương cho Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên
và A Nan đến cho con được thấy" nói xong những lời
như vậy tâm bà càng buồn bã nên mắt nước của bà chảy
ra như mưa, lúc này có thể nói bà Vy đề Hy quên đi tất
cả chuyện của thế gian, bà xem nó như là một vở bi kịch
của cõi đời này nên bà thành tâm đến nỗi nước
mắt bà chảy như thế. tại sao nói không biết làm cách nào
có thể thấy được tướng mạo đoan nghiêm của đức Phật
và xin phật thương mà bảo hai Tôn Giả Mục Liên và
A Nan đến cho bà được trong thấy. Khi nghe qua, chắc có người
cảm thấy thật đơn giản vì bà đang thọ khổ nên muốn
thấy Phật và Hai vị Tôn Giả, nhưng kỳ thật, nó không đơn
giản như quí vị nghĩ đâu, theo như Kinh Văn thì như vậy,
nhưng chúng ta cần phải hiểu ý của Kinh văn.
Bà
Vi Đề Hy có thể nói là biểu thị cho tất cả chúng sanh,
đang sống trong cảnh mịt mù đen tối của màn đêm, tuy chúng
sanh sống nhờ vào ánh sáng của mặt trời, như họ không
hề để tâm đến tướng mạo tồn tại của nó. Phật tượng
trưng cho ánh sáng này. Khi chúng sanh thọ khổ vây quanh bởi
bốn phía đều là màn đêm tâm tối, liền tưởng đến ánh
sáng của mặt trời, nên tự nghĩ rằng " lúc trước ta sống
trong sự vui vẻ được che chở bởi ánh sáng kia, nhưng ta
không hề quan tâm gì đến tướng mạo của ánh sáng kia, nên
sanh lòng hối hận từ đáy lòng phát ra lời chân thật, nguyện
ta có thể thấy lại sự sáng đó.
Bà
Vi Đề Hy nguyện được thấy tướng đoan nghiêm của đức
Thế Tôn chính là muốn thấy được chân tướng của
mình. Thân tướng của chúng ta xưa nay thanh tịnh đoan nghiêm
đẹp đẽ, xa rời sự khổ, nhưng chính bản thân mình đã
làm những việc gì? Ồ! Không biết, nên hôm nay thọ
sự khổ, thọ khổ mà không biết khổ từ đâu đến, sanh
tâm buồn bã nhớ tưởng lại chân tâm thật tướng của mình.
Tại sao chúng sanh khi thọ khổ, thì mới nhớ lại được
bản thân thanh tịnh vốn có của mình? Vì chúng ta đi tìm
sự vui sướng ở bên ngoài quá nhiều, khi đang hưởng phước
thì cho đó là chân, nên càng hưởng phước thì càng đi xa
với chân tâm vậy.
Khi
thọ khổ chúng sanh liền nghĩ tưởng đến Phật cũng chính
là chân tâm của chúng ta. Khi nghĩ tưởng như vậy, liền sanh
tâm thanh tịnh tuy vẫn còn thọ khổ nhưng tâm không còn sợ
nữa, bây giờ thì chân tâm có thể bước ra, và nói, "Này
bạn, tại sao bạn phải khóc? Bạn đừng buồn nữa, đây
là quả mà bạn đã trồng, đến mùa thì phải hái. Nay ta
chỉ cho bạn con đường gặt hái nó được không?" Khi
nghe những lời hiền hòa xoa diệu như vậy chúng sanh này liền
phát tâm thanh tịnh và quay về an trú trong tâm của mình. (phật
tánh)
"Như
Lai" cũng là một trong mười danh hiệu của Chư Phật, "Như"
là không đến "Lai" là không về. Không đến nơi nào mà nơi
nào cũng có, đó chính là ý nghĩa của Như Lai.
"A
Nan" nói đủ là A Nan Đà, Tôn Giả là em chú bác với
đức Phật. Ngày Phật thành đạo, cũng là vào lúc A Nan sanh
ra. Tên của Ngài Trung Hoa dịch là Khánh Hỷ. Khi Phật còn
tại thế thì vị Tôn Giả này làm thị Giả cho Đức Phật
Thích Ca. Ngài A Nan cũng được Đức Phật thọ ký trên hội
Pháp Hoa là sẽ được thành Phật hiệu là Sơn Hải Tuệ Tự
Tại Thông Vương Như Lai, là một vị Phật có trí tuệ không
thể nghĩ bàn, cao như núi sâu như biển.
Kinh
Văn:
Trong
khoảng thời gian chưa cất đầu lên. Ðức Thế Tôn ở núi
Kỳ Xà Quật biết tâm niệm của Vi Ðề Hy, liền bảo Ðại
Mục Kiền Liên và A Nan đi từ trên hư không mà đến. Còn
Ðức Phật từ núi Kỳ Xà Quật mà ẩn mất, rồi hiện ra
nơi cung vua.
Lược
giảng:
Phật
tuy ở trên núi Kỳ Xà Quật, nhưng Ngài biết được tâm niệm
của bà Hy Đề Hy có lòng thành như vậy, nên bảo Tôn Giả
Mục Liên và Tôn Giả A Nan đi từ trên hư không mà đến,
còn Phật từ núi mà ẩn mất.
Đi
từ trên hư không mà đến, đây cũng có ý nghĩa là dùng
tâm thanh tịnh vô uý mà đến, vì sao? Vì bà Vy Đề Hy vốn
là đang bị giam ở thâm cung được canh gác chặt chẽ thì
làm sao đến đó được? Cho nên nói là đi từ trên hư không
mà đến, ý nói là đem tâm vô uý mà đến. Còn Phật thì
ở núi mà ẩn đi. tại sao Phật ẩn mất. Vì tâm của bà
bà Vy Đề Hy bị nhiễu loạn, muốn làm tâm bà được thanh
tịnh, Phật bảo hai Tôn Giả đến chính là muốn làm cho bà
được thanh tịnh. Trong tâm bị đục thời thấy Phật ẩn
mất từ núi Kỳ Xà Quật, nhưng Phật vốn không ẩn mất
nhưng nói là ẩn mất chín trong tâm niệm bất tịnh nên thấy
Ngài ẩn mất từ núi Kỳ Xa Quật. Ẩn mất rồi lại hiện
ra nơi cung Vua.
Qua
một niệm vô uý, tâm được lắng dịu mà trở nên trông
suốt nên lúc này Phật lại hiện ra ở cung vua, để đáp
lời thỉnh cầu của bà Vy Đề Hy. Giống như lu nước bị
cặn bã làm cho nó bị đục đi, rồi bỏ phèn vào để cho
nó lắng xuống, thì mọi cảnh trong lu đều thấy rõ. Cũng
vậy, tâm người bị xáo trộn thì không thể nào thấy được
cái chân tâm của mình, nhưng khi tâm đã buộc vào một niệm
đó là chuyên nhứt về một tưởng, nên Phật tánh lại hiện
ra. Đối với Phật thì đó không có hiện hay mất, nhưng chúng
sanh lại thấy có hiện và mất, tâm đã thanh tịnh không còn
sợ sệt, thì thấy rõ được chân tâm. Một khi chân tâm đã
hiện thì phải nói pháp chân chánh. Chính là nói ra những
lời chân thật để diệt những thứ khổ của bà Vy Đề
Hy. Cũng chính là nói ra những lời chân tâm mà chúng sanh muốn
được nghe, để cho chúng sanh nghe học được một môn học
kỳ diệu, đó chính là học cách để gặt hái và tiếp nhận
những quả đã chín một cách an vui mà không sanh tâm oán ghét.
Kinh
Văn:
Lúc
bấy giờ bà Vi Ðề Hiy lạy rồi ngước đầu lên, thấy Thế
Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, thân sắc vàng đỏ thắm , ngồi
trên hoa sen trăm tthứ báu, Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên hầu
bên trái, Tôn giả A Nan hầu bên phải. Trong hư không hàng
Phạm Vương, Ðế Thích, Hộ Thế Tứ Thiên Vương rưới khắp
những thứ bông thơm để cúng dường đức Phật.
Lược
giảng:
Lúc
đó là lúc mà bà Vy Đề Hy lạy Phật xong rồi đang cất đầu
nhìn lên , liền thấy được sắc thân vàng của đức Thế
Tôn, đang ngự trên tòa hoa sen trăm thứ báu.
"Phạm
Vương" tức là vị Đại Phạm Thiên Vương là một chúa trời
Đại Phạm ở cõi sắc giới, thuộc về sơ thiền thiên, trong
sơ thiền thiền lại chia thành ba tầng trời, mỗi tầng trời
lại có sáu cõi, cho nên có mười tám cõi trời ở sơ thiền
thiên. vị trời này đều cai quản 18 cõi trời này. Ba cõi
ở sơ thiền thiên là: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên
và Đại Phạm Thiên. Sao gọi là Phạm? Phạm nghĩa là thanh
tịnh vì những người ở đây không còn sự dâm dục nữa,
nên gọi là Phạm.
"Đế
Thích" nói cho đủ là Đế Thích Đề Hoàn Nhân, Trung Hoa dịch
là Năng Thiên Chủ, ông ta là vị chúa trời Đao Lợi thuộc
về Dục Giới. Đao Lợi Thiên dịch là tam thập tam thiên tức
là cõi trời thứ ba mươi ba. Vị Đế Thích này là chúa trời
của những tầng trời này, không những ông ta cai quản những
cõi trời như thế, mà còn cai quản luôn cõi nhân gian. Người
đời thường cho là vị thiên đế có vạn năng, phải! Ông
ta chính là vạn năng, nhưng vị chúa trời này với chúng ta
chẳng có khác biệt gì . Chỉ có khác là ông ta biết tu phước
hơn chúng ta nên nay thì được phước là sanh làm vị chúa
trời này, ông ta cũng ăn uống cũng có dâm dục, cũng nằm
trong vòng luân hồi như mọi chúng sanh khác. Giữa ông và chúng
ta không có khác biệt gì.Tuy mọi người cho vị chúa trời
này là vạn năng nhưng trong Phật Giáo thì ngài chỉ là một
vị hộ pháp mà thôi. Cũng là một trong hàng chúng sanh đang
bị vòng vô minh vây quanh và đang hưởng phước như mọi chúng
sanh đang hưởng phước trên đời này, khi phước đức hết
thời cũng phải theo luật nhân quả mà tái sanh. Giống trong
nhân gian, chúng ta và vua vốn không có khác biệt gì, khác
là ở phước đức mà thôi, khi đang hưởng phước thì có
quyền thế, kêu mây gọi gió, khi hết phước rồi thì
cũng phải đối mặt với những gì mà chính mình đã tạo.
Giống như diễn viên đang nhập vai diễn trên sâu khấu, khi
diễn xong rồi mới nhận ra rằng đó chỉ là sự giả tạm
chẳng phải là thật.
Trên
sân khấu thì như vậy, nhưng khi rời khỏi sân khấu, quí
vị thử nghĩ xem họ như thế nào? họ cũng là một trong những
chúng sanh đáng thương . Người học Phật mục tiêu chính
là giải thoát, không nên quá hâm mộ những gì được diễn
trên sân khấu, phải có con pháp nhãn để nhận ra những gì
đang diễn trong tuồng mà quí vị đang xem đó.
Chúng
ta cũng là một trong những diễn viên đó,đang nhập vai, và
vai diễn của chúng ta là phải làm cách nào để diễn mà
không làm cho người khác bị tổn hại, nói cách khác là làm
sao làm cho người xem không bị đấm nhiễm, đó mới thật
là một diễn viên xuất sắc nhứt. Cứ thụ diễn hoài những
thứ tham lam, sân hận, tà kiến, thì thật là quá chán đi,
cứ diễn đi diễn lại những tập khí thô cằng của ba độc
thì chúng ta không phải là một diễn viên xuất sắc, sau khi
tốt nghiệp trường đại học Phật Giáo. Nếu chúng ta không
cố tâm để học giáo lý một cách chí thành, mà thụ diễn
những bi kịch của ma vương, quả là chúng ta đang làm trò
cười cho thiên hạ, không những sự giải thoát không được
đến gần, mà trái lại càng diễn thì càng xa Bồ Đề vậy.
Tôi
xin phép hỏi quí vị ở đây rằng:, quí vị đến đây để
làm gì? Có phải để học làm sao diễn tham sân si, hay là
học cách diễn để trừ diệt tham, sân, si. Nếu như quí vị
đến nơi này học diễn tham sân si thì tôi thành thật xin
lỗi, nơi này không có dạy môn học này. Còn những ai đến
đây để học làm sao diệt tham sân si thì người đó đã
tìm đúng chỗ rồi đấy.
Người
Phật Tử, đã chọn môn học này rồi thì phải siêng năng
rèn luyện đức tính của mình, ngày đêm trao dồi giới luật,
hãy bỏ đi những thứ tánh tăng thượng mạng, ích kỷ, tham
lam, hơn thua, mưu cầu, tự lợi và dối trá. Phải dùng tâm
từ bi, hỷ xã mà đối đãi với tha nhân, Khi nói ra lời gì
cần phải chân thật. Ai làm như vậy, tức là đã tốt nghiệp
bằng cử nhân về môn đạo đức rồi đấy. Sau khi đã tốt
nghiệp bằng cử nhân, chúng ta cũng cần phải học tiếp,
để lấy luôn bằng thạc sĩ về môn học này. Môn học này
có lẻ không bao giờ học hết được, hễ sự hiểu biết
của quí vị học đến đâu thì nó sẽ rộng đến đó.
Cho
nên chúng ta hôm nay ở nơi này để nghe Phật thích Ca, giảng
về cách làm sao học để hòa chung với nó, hễ nó rộng lớn
bao nhiêu thì sự hiểu biết của chúng ta cũng rộng lớn đến
đó, mà không cần phải tham gia một khóa huấn luyện nào.
Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta học về mười sáu môn học
trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ này, cũng chính học cách làm
sao để làm chìa khóa mở cửa cổng ngôi biệt thự của mình.
Cho
nên những ai muốn được tốt nghiệp bằng cử nhân, thì
phải dụng công và làm theo những gì mà Phật đã chỉ cho
chúng ta. Trong khi học, điều cần thiết nhứt chính là sự
chân thật, và hãy quên đi mình là ai, để hòa chung nhịp
thở, sống cùng một thể, hòa đồng với mọi người để
chúng ta chia sẽ cho nhau, những gì mà người khác lãnh ngộ.
Bỏ đi những thứ tăng thượng mạng, mà phải học hỏi với
mọi người, vì mọi người chính là thầy giáo cho nhau.
Những
ai tu học một cách thành tâm, chân thật như vậy, thì quí
vị sẽ học được làm sao để mở cửa ngôi biệt thự của
mình. Thời nay, tuy là thời mạt pháp khó tu hành, nhưng đây
cũng chính là lý do cho những ai không chí thành để học đạo,
mượn hai chữ mạt pháp để tự do sửa đổi những thứ
qui cũ mà chính do Đức Thế Tôn đã đặt ra, với lòng
từ bi vô hạng, để cho chúng sanh nhờ vào đó mà có được
sự giải thoát chân chánh. Những người đời nay sẽ bảo,
Phật Pháp đối với thời của đức Phật thì còn hòa đồng
được, đối với thời bây giờ, mọi thứ điều thay đổi
cho nên chúng ta cần phải sửa lại những thứ qui cũ này
để cho nó hợp với thời mạt pháp chứ. Họ nói năng rất
hợp lý, tuy nhiên rõ ràng là đi sai với đạo. Tôi rất ngu
si nên nương vào những gì mà Phật đã chế ra khi ngài còn
tại thế, có người nói sao ngu vậy. Đúng vậy, tôi muốn
như vậy mà. Hy vọng rằng người trong khi học Phật Pháp
cũng phải biết giới hạng trí thông minh của mình, Vì sao?
vì người ở thế gian bây giờ quá thông minh. Người học
Phật trong thời mạt Pháp này mà không giới hạng sự thông
minh của mình, thì khó mà ngộ đạo, nếu không thì tốt hơn
là không nên ở lại già lam mà thọ sự cúng dường của
hàng tín thí.
Sống
trong thời kỳ mạt Pháp này, người học Phật cần phải
thông minh bội phần hơn người ở xã hội này. Đối với
tôi không có hội đủ trí thông minh này, nên phải chịu an
phận với sức trí thông minh của mình. Quí vị ở đây đều
là người trí thức cho nên những hành vi cử chỉ cần phải
chuyên nhất, nhứt là khi nói phải là lời chân thật; như
vậy quí vị mới thật là người đáng kính và trí thức
trong hàng trí thức. Phật Pháp xưa nay không sanh cũng không
diệt, thì có lý do gì mà theo thời gian ô trược này mà sanh
diệt chứ? Có chăng đi nữa cũng tại ở chúng ta mà thôi.
Hoàn cảnh xoay chuyển, xã hội biến đổi, tâm quí vị động
cho nên mới có Chánh Pháp và mạt pháp.
Cho
nên trước tiên cần phải khóa lại sáu căn của mình bằng
sáu cái chìa khóa Nam Mô A Di Đà Phật. Tôi thành thật cho
quí vị biết, một khi quí vị dùng sáu cái chìa khóa này
để khóa lại sáu cánh cửa làm duyên tiếp xúc với lục
trần, thì đừng nói là có người sẽ mở được. Dù đó
là bực Bồ Tát đi chăng nữa, cũng phải tuân thủ và sống
trong sáu chữ này. Cho nên chúng ta hãy phát lòng chân tín đối
với Pháp môn này. Thì không bao lâu quí vị sẽ về được
với ngôi biệt thự của mình, mà không cần phải khởi tâm
mông đợi. Không trông mong mà lại được, được rồi thuận
duyên cũng chẳng không, đây mới thật là kết quả chân thật
mà chúng ta đã bỏ công lao bồi đắp hôm nay, cho nên hãy
cố gắng lên, hãy đối diện với hiện tại, đừng truy tìm
quá khứ, quá khứ đã từng làm những gì? thì cũng chỉ là
sao đớm mà thôi, phải cố ngượng lên và đi cho vững, cố
gắng làm sao cho mình không bị dấp ngã nữa thời quí vị
mới là người Phật Tử chân thật vậy. Quá khứ đã không,
thời vị lai cũng như bọt nước.
"Tứ
Thiên vương" là bốn vị vua trời ở tầng trời Tứ Thiên
Vương, cũng là tầng trời thứ nhất trong Dục Giới. Bốn
vị Thiên Vương này, mỗi một vị trông coi một phương, bốn
vị này thường lai vãng trông xem chúng sanh ở cõi này nên
gọi là hộ thế vậy. Phía Nam là Tăng Trưởng Thiên Vương,
Phương Bắc là Đa Văn Thiên Vương, Phía Đông là Trì Quốc
Thiên Vương và Phương Tây là Quảng Mục Thiên Vương.
Những
thiên chúng như vậy rải những thứ bông thơm xuống để
cúng dường cho Đức Phật, đây là biểu hiện tấm lòng cung
kính trước khi được nghe Phật thuyết Pháp Môn này.
Kinh
Văn:
Vi
Ðề Hy thấy Phật Thế Tôn, liền tự dứt bỏ hết những
chuỗi ngọc đang đeo trên người, rồi cả thân mình gieo xuống
đất kêu khóc hướng Phật mà bạch rằng:" Bạch đức Thế
Tôn! Không biết đời trước con đã gieo những nhân ác gì,
mà đời này sanh đứa con nghịch như thế? Ðức Thế Tôn
lại có nhơn duyên gì mà cùng làm quyến thuộc với Ðề Bà
Ðạt Ða.
Lược
giảng:
Khi
thấy Phật, bà Vy Đề Vy liền tự tay mình cởi xuống hết
những chuỗi ngọc mà bà đang đeo, hướng về đức Phật
rồi thân bà cuối xuống than khóc mà thưa hỏi Phật
rằng: "Thưa Thế Tôn không biết là trông đời quá khứ con
đã tạo những thứ nhân ác gì, mà hôm nay con lại sanh ra
đứa nghịch tử như vậy, sát hại vua cha, và đem con nhốt
vào thâm cung như thế này, còn đức Thế Tôn là bực thiện
nhơn, thì nhơn duyên mà lại làm quyến thuộc củ Điều Bạt".
Bà
Vy Đề Hy tượng trưng cho tất cả chúng sanh giai cấp cao quý,
trí tuệ, nhưng đối trước Như lai bà cảm thấy mình không
còn là bực cao quý, sáng suốt nữa, mình chỉ là một chúng
sanh ngu muội, đầy tội lỗi, không phải là bậc được thần
dân tôn trọng; nên bà cởi chuỗi ngọc xuống, đây chính
là sự biểu hiện cung kính và thành tâm của bà đối với
đức Thế Tôn. Bà Vy Đề Hy hỏi những thứ nhân mà bà đã
trồng trong đời quá khứ, thì lại nối tiếp liền hỏi Phật
về con đường diệt khổ như sau.
Kinh
Văn:
Cúi
xin đức Thế Tôn vì con mà nói rộng những quốc độ nào
không có điều đau khổ, lo buồn,để con cầu xin về cõi
đó, chớ con không muốn ở cõi Diêm Phù Đề này là đời
đầy trược ác vậy. Ở trong cõi ngũ trược ác thế như
vầy, nào là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh thường đầy
dẫy, phần nhiều. Phần nhiều là chứa nhóm những việc dữ;
con nguyện qua đời sau, không nghe những từ ác, không thấy
người ác,nay con hướng về Đức Thế Tôn, năm vóc gieo xuống
đất, cầu xin sám hối đối trước đức Thế Tôn. Cúi xin
đức Phật, soi ánh sánh huệ nhựt chỉ dạy cho con phép quán
để sanh về chỗ thanh tịnh nghiệp.
Lược
giảng:
"Diêm
Phù Đề" dịch là Thắng Kim, vì dưới đáy biển phía bắc
của Nam thiệm Bộ Châu có vàng chói lên làm cho nước biển
và cây phát ra ánh ra sắc vàng nên gọi là Thắng Kim.
"ác
thế" là chúng sanh sống trong cõi đời đầy hay làm những
việc ác. Trược chính là vết nhơ. Ngũ Trược tức là năm
thứ trược;
1.
Kiếp Trược là kiếp không trong sạch
2.
Kiến Trược là những kiến thức không trong sạch, những
kiến giải không chơn thật
3.
Phiền não Trược, là chúng sanh đều có mọi thứ phiền não,
cũng không trong sạch.
4.
Chúng sanh trược, con người và chúng hữu tình đều ô trược
5.
Mạng trược là mạng sống không trong sạch
"Ngũ
vóc" là đầu, hai tay và hai chân gieo xuống gọi là vóc, bà
Vi Đề Hy gieo năm vóc xuống đất mà lạy Phật, đây cũng
chính biểu lộ sự cung kính với Phật.
"huệ
nhựt" ý nói trí tuệ sáng suốt soi thấu khắp nơi hiểu
biết một cách chân thật, chính xác mà chỉ dạy cho bà, để
bà có thể làm theo để cầu sanh về thế giới thanh tịnh
không có sự ác như cõi Ta Bà của chúng ta đây. Cũng chính
là muốn cởi bỏ đi lớp người mang đầy tội lỗi, cởi
bỏ đi những thứ mà chúng ta mặc vào để diễn kịch trên
sân khấu.
Kinh
Văn:
Bấy
giờ ở giữa chặn mày của đức Thế Tôn, phóng ra hào quang
sắc vàng, chiếu khắp mười phương vô lượng thế giới,
trở về trụ tại đỉnh đầu Phật, hóa làm đài vàng
lớn như núi Tu Di, bao nhiêu quốc độ thanh tịnh vi diệu của
mười phương chư Phật đều hiện rõ trong đài vàng ấy.
Lược
giảng:
"Bạch
Hào" là một trong ba mươi hai tướng tốt, nằm ở giữa đôi
mày của Phật. Hảo tướng này trắng như tuyết. Đây cũng
gọi là Đại nhân tướng. ánh sáng giữa chặn mày phóng ra
cũng là muốn tiêu biểu cho trung đạo, cũng tượng trưng cho
hàng Đại Thừa tức là hàng Bồ Tát học. Phật phóng ra ánh
sáng này, chiếu khắp mười Phương thu nhiếp hết tất cả
cõi nước trang nghiêm của chư Phật vào trong ánh sáng này.
Sau khi thu nhiếp các cõi trang nghiêm của chư Phật , thì ánh
sáng này lại trở về và trụ trên đảnh của Thế Tôn.
"Tu
Di Sơn" dịch là Diệu Cao, núi này thuần làm bằng bốn thứ
báu,vàng, bạc, lưu ly và pha lê, rất xinh đẹp và vững chắc
nên gọi là Diệu, núi này cao hơn hết tất cả núi khác gọi
là Cao. Tóm lại nó rất cao và vững chắc không bị lay động
nên gọi là Tu Di sơn. Trong Kinh Phật thuyết Dược Sư Lưu
Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, sau khi Phật nói về
những hạnh nguyện thanh tịnh trang nghiêm của Phật Dược
Sư, rồi hỏi Ngài A Nan có tin không? Lúc đó, Tôn Giả A Nan
bạch Phật:"Bạch đức Thế Tôn, đối với khế kinh của
Như Lai nói không bao giờ con sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì
những nghiệp thân, khẩu, ý của các đức Như Lai đều thanh
tịnh. Bạch đức Thế Tôn, mặt trời mặt trăng có thể rơi
xuống, núi Tu Di có thể lay động, nhưng những lời nói của
chư Phật nói ra không bao giờ sai được" Cho nên chúng ta có
thể biết Núi này thật là vững chắc.
Phật
độ mười phương được Phật thu nhiếp vào ánh sáng của
Ngài phóng ra, khi trở về trụ trên đỉnh của ngài rồi hóa
làm ra Đài vàng lớn như núi Tu Di, rồi các cõi đó đều
hiện rõ trong đài vàng.
Kinh
Văn:
Hoặc
có quốc độ thất bửu hiệp thành. Hoặc có quốc độ thuần
là liên hoa. Lại có quốc độ như tự tại Thiên cung. Lại
có quốc độ như gương pha lê. Có vô lượng quốc độ chư
Phật như vậy trang nghiêm xinh đẹp, khiến Vi Ðề Hy được
thấy.
Lược
giảng:
Những
quốc độ đó, hoặc có quốc độ làm bằng thất thảo."thất
bảo" là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, pha lê và mã
não.Hoặc có cõi thuần là hoa sen tượng trưng cho sự trong
sạch và thanh khiết. Đại Tự Tại Thiên là một trong những
cõi trời ở tứ thiền, thuộc về sắc giới, ở đây nói
là có quốc độ như cung Đại Tự Tự Tại Thiên cũng là
để diễn tả sự vui vẻ của người ở quốc độ đó. "Lại
có quốc độ như gương pha lê cũng tượng trưng cho sự thanh
tịnh sáng suốt như pha lê. Tất cả quốc độ trang nghiêm
ở mười phương đều hiện rõ ở trong đài vàng của đức
Phật phóng ra, mỗi mỗi đều trang nghiêm và xinh đẹp, làm
cho bà Vi Đề Hy được thấy rõ ràng.
Kinh
Văn:
Bấy
giờ bà Vi Ðề Hy bạch Phật rằng:" Bạch đức Thế Tôn!
Những cõi nước của chư Phật như thế trang nghiêm thanh tịnh
và đều có hào quang sáng suốt, nhưng con nay muốn cầu được
vãng sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Xin Phật từ bi dạy cho con cách quán tưởng và dạy con chánh
thọ?
Lược
giảng:
Có
người muốn làm giàu nhưng không biết phải bắt đầu từ
nơi nào để làm, đến hỏi một người bạn có đại trí
huệ rằng:" Đời sống tôi quá cực khổ, chịu đói chịu
khát, nay tôi muốn làm giàu để thoát khỏi những thứ khổ
này, nhưng trí tuệ của tôi quá kém không biết phải làm
sao, xin thương chỉ cách cho tôi để tôi có thể y theo đó
mà làm? Để thoát khỏi cảnh nghèo đói như vậy.
Cũng
giống như vậy, bà Vi Đề Hy và chúng sanh trong lục đạo
chính là những chúng sanh nghèo đói, bị ba giặc vây quanh
và chịu mọi thứ phiền não, trôi lăn trong sáu đường. Bà
xin Phật thương chỉ cách quán tưởng để làm nhân cho lộ
trình của bà được thành tựu cũng chính là muốn thoát khỏi
vòng vô minh, sau khi trải qua một thời gian quán tưởng được
thành tựu trong thấy được cõi nước thanh tịnh Cực Lạc
của Phật A Di Đà tức là Chánh thọ. Khi thành tựu được
những gì mà mình mong muốn, tuy thân người còn ở thế giới
này, nhưng đã được phần vãng sanh về thế giới kia. Nói
cách đơn giản hơn, là quán tưởng chính là nhân và Chánh
thọ chính là quả cũng là những gì mình ra công bồi đắp
mà có được. Giống như người ở trên hỏi bạn mình cách
thức làm ăn như thế nào, rồi trải qua một thời gian
làm lụn vất vả mà dành dùm được số tiền để chuẩn
bị cho mình trước khi về hưu vậy.
Kinh
Văn:
Lúc
đó Ðức Thế Tôn liền mĩm cười, từ trong miệng Phật phóng
ra hào quang ngũ sắc, mỗi một đạo hào quang Phật phóng ra
đều chiếu vào đỉnh đầu của vua Tần Bà Sa La. Dầu bị
giam cầm ngục tối, tâm nhãn vua không chướng ngại xa thấy
đức Thế Tôn, vua đầu mặt lạy Phật, tự nhiên tăng tiến
đạo lực thành bực A Na Hàm.
Lược
giảng:
"Lúc
đó" là lúc mà bà Vi Đề Hy thưa thỉnh như trên, Phật liền
mỉm cười, trong miệng phóng ra hào quang năm sắc(ngũ sắc
quang). Tại sao Phật lại mỉm cười? Phật mỉm cười là
sự biểu hiện cho sự vui vẻ, vì không biết sẽ có bao nhiêu
chúng sanh nhờ vào câu hỏi của bà, mà được vãng sanh về
thế giới Cực Lạc, chúng sanh một khi về thế giới kia thì
còn lo sợ chuyện gì nữa? Cho nên Phật mỉm cười, cũng là
biểu hiện lời khen ngợi của Phật đối với bà Vi Đề
Hy, là một chúng sanh đang thọ ác khổ mà có thể phát ra
lời thưa hỏi như thế, câu hỏi này rất hợp với ý của
chư Phật, nên phải mỉm cười, không phải là cười to mà
là cười mỉm .
Do
nơi Phật mỉm cười nên phóng ra hào quang ngũ sắc, thanh,
hoàng, xích, bạch và hắc. Xanh là Định, niệm là vàng, tinh
tấn không lùi là đỏ, tín là trắng và tuệ là đen. Giác
thì không mê, mê thì không giác, có tuệ thì màn vô minh cũng
phải nhập niết bàn, không thể chóng cự được, cho nên
màu đen chính là trí tuệ. Hào quang phóng ra từ nơi miệng
là làm lợi ích cho chúng nhị thừa cũng chính là lợi ích
cho hàng thanh Văn, Duyên Giác và thu về trên đảnh của đức
Như Lai là lợi ích cho hàng Bồ Tát Đại Thừa. Mỗi một
ánh sáng đều chiếu vào đỉnh đầu của vua Tần Bà Sa La.
Lúc
đó, vua Tần Bà Sa La tuy bị giam trong nhà ngục, nhưng một
lòng hướng về đức Phật, và nhờ oai thần của đức Thế
Tôn làm ông thấy được thân vàng của Ngài, nên sanh tâm
hoan hỷ, vui mừng đảnh lễ đức Như Lai. Do tâm thành kính
như thế, nên từ trong tâm sanh ra định lực (chánh định)
và lòng tin bất hữu nên an nhiên tự tại trước cảnh trần
ô trược này nên đạo tâm tăng trưởng liền chứng bậc
A Na Hàm.
"A
Na Hàm" dịch là Bất Hoàn hay bất lai, là quả thứ ba
của hàng Thanh Văn, vị này không còn sanh vào cõi nhân gian
nữa nên gọi là bất lai, sau khi trả thân thì sanh vào cõi
trời Tịnh Cư của Tứ Thiền Thiên.
Kinh
Văn:
Ðức
Phật bảo Vi Ðề Hy rằng:" Nay người có biết không? Đức
Phật A Di Đà cách cõi Ta Bà này không xa, người phải buộc
tâm lại một chỗ mà nên chánh niệm quán quán kỹ cõi
nước ấy thì tịnh nghiệp được thành. Nay ta sẽ vì người
mà nói rộng các pháp quán, cùng khiến đời vị lai tất cả
hàng phàm phu, những người muốn tu tịnh nghiệp được thọ
sanh Tây Phương Cực Lạc quốc độ .
Lược
giảng:
Phật
cho bà Vi Đề Hy và chúng ta ngày nay biết là Đức Phật A
Di Đà ở cách đây không xa, vậy Ngài ở cách chúng ta bao
nhiêu cây số? Có người sẽ nói Không thể tính biết được,
nhưng tôi nói cho quí vị biết, Ngài không những ở không
xa, mà rất gần với chúng ta. gần hay xa đều tùy vào ở
nơi quí vị,. Tại sao? Vì đối với mọi người đều sai
biệt khác nhau, vốn là một nhưng chúng sanh có quá nhiều
vọng tưởng và mỗi mỗi vọng tưởng đều sai biệt, nên
mới có sự sai khác này. Chúng sanh ít vọng tưởng thì gần
một chút, chúng sanh vọng tưởng nhiều, thì xa một chút,
cho nên không thể nói được. Đối với người kia, thì xa
vạn dặm, còn theo người nọ thì cận kế bên.
Một
khi hoa đã nở thì trong một niệm trong duỗi tay thì người
kia đã đến thế giới của Phật A Di Đà, vậy phải nói
xa bao nhiêu và gần thì ở nơi nào? Ồ! tôi Không biết!
gần hay xa đều tùy vào quí vị. Xa hay gần không phải là
câu hỏi để chúng ta phí thời gian mà suy gẫm và biện luận,
mà phải phát tâm tinh tấn, buộc niệm về chỗ, thực hành
đúng pháp, đi, đứng, nằm, ngồi không rời sáu chữ. Thành
tâm tu học như vậy, thì chắc chắn sẽ cạnh bên Ngài, vậy
quí vị có thành tâm không? Có chánh tín không? Đây mới là
câu hỏi của quí vị cần phải trả lời.
Ví
như có người bảo, từ Úc Châu đi Âu Châu rất xa, rồi họ
đem đề tài này ra mà tranh luận. Họ tranh luận những gì?
Họ tranh luận, xa hay gần, gần hay xa. Trải qua một đời
người dài như vậy họ cứ tranh luận đến khi bỏ xác thân
này. Quí vị nghĩ xem, họ có đáng thương không?
Thật
đáng thương thay! Cho nên chúng ta cũng vậy, đìều mà chúng
ta cần làm là phải thực nghiệm, chớ không phải đứng yên
một chỗ, mà tranh luận xa hay gần, tốt hay xấu v.v.... Muốn
biết được gần hay xa, thì quí vị cần phải chính thân
mình thực nghiệm. Hôm nay tôi nói cho quí vị biết là đường
về Cực Lạc vốn là không xa. Xa là do ba thứ tâm điên đảo
của chúng sanh che mất nên không thể thấy, chớ Cực Lạc
vốn là không xa với mọi người.
Đường
về Cực Lạc rất gần. Sao tôi biết nè? Người muốn đi
từ úc Châu đi Âu Châu, mà đi bằng máy bay thì không lâu
lắm, còn nếu đi bằng thuyền thời phải cần có thời gian.
Tôi nói đường về Cực Lạc vốn không xa, vì chúng ta đi
bằng ba thứ tâm, ba thứ tâm gì? chính là tâm không tham, tâm
không sân và tâm không tà kiến vậy. Đi bằng ba thứ tâm
này thì rất nhanh vì đi bằng ánh sáng của đức Như
Lai (Phật Quang), chúng sanh chỉ cần có chánh niệm thì có
thể đi trong ánh sáng của Ngài. Quí vị nghĩ xem, bang ngày
mặt Trời có sáng không? Vậy quí vị có hiểu tôi muốn nói
gì không?
Chỉ
cần quí vị mua vé, thì có thể lên máy bay mà về với quê
hương của mình. Muốn mua vé này, quí vị không cần tốn
một đồng tiền của nào, mà chỉ cần tham quán và an trú
trong sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, thì có thể lên máy bay
mà về với quê hương của quí vị.
Mặt
trời vốn không biến đổi, nhưng tùy ở mỗi quốc gia lại
có sáng và tối, đây đều là do địa cầu xoay chuyển, vậy
ai có thể nói rằng lỗi ở mặt trời. Phật bảo bà Vi Đề
Hy hay chúng ta trong đời này, phải buộc tâm lại quán cho
kỹ càng cõi nước ấy, như vậy thì tịnh nghiệp sẽ được
viên thành tức là được sanh về cõi ấy.
Chúng
sanh hướng ngoài tìm sự an lạc, nhưng tìm mãi vẫn không
sao tìm được. Vì sao vậy?
Thí
vụ như có người nghèo khổ, có người bạn lại giàu sang
tiền tài dư giả, chuyện làm ăn thì bận rộn đi đây mai
đó, không có thời gian để trông coi nhà cửa, nên ngõ ý
nhờ người bạn nghèo đến trông coi dùm một thời gian, khi
về thì trả lại. Cũng như vậy, chúng ta là người bạn nghèo
khổ kia, sống trong cảnh bị nghiệp chi phối mang thân tứ
đại mà cho là thật, nên không quan tâm gì đến chuyện sanh
tử.
Có
người nói sống phải hưởng thụ chứ? Nếu không thì sẽ
uổng kiếp này.
Quí
vị nghĩ xem, lấy giả làm thật mà cho là mình đang hưởng
thụ, thật là đáng thương thay.
Khi
tôi còn ở bực Trung Học, có người bảo tôi như vầy
" sống mà không biết hưởng thụ, mặc chiếc áo thô sơ,
ăn thì rau cải, làm gì cũng phải theo quy cũ, không có tự
do chút nào, như vậy có phải là đang đày thân xác của mình?".
Quí
vị nghĩ xem tôi sẽ trả lời như thế nào? Thật không biết
trả lời thế nào để cho người bạn này hiểu, vì tôi không
có trí tuệ, nên không hiểu rõ là tại sao mình làm như vậy,
hơn nữa, người hỏi này rất là thông minh, có thể biện
luận một cách khiến cho tôi phải căm phục, nên tôi trả
lời sao thì họ cũng có cách để biện minh cho họ.
Khi
nghe câu hỏi như thế, tôi không trả lời mà hỏi lại rằng:
" Bạn muốn chọn ngành gì sau khi bạn thi xong VCE (thi tú tài)?
Người này nói tôi muốn vào học ngành Nha Sĩ, nhưng Enter
để vào ngành này rất cao (điểm thi lớp 12 để vào Đại
học). Tôi hỏi chắc bạn phải siêng học để đạt được
điểm này? Người ấy bảo, phải rất là bận, ngoài việc
ngủ ra, tôi đều chú tâm vào việc học, nhứt là vào những
ngày có Test (Thi trắc Nghiệm) thì càng bận hơn. Vậy tôi
chúc bạn được toại nguyện nhé. Người bạn này bảo tôi,
"bạn vẫn chưa trả lời tôi". Tôi nói, tôi đã trả
lời rồi.
Quí
vị nghĩ xem, qua những lời đối thoại trên, tôi có trả
lời bạn ấy chưa?
Cho
nên tôi hy vọng, người Phật Tử những ai mong cầu sự giải
thoát thì phải thành tâm mà sửa đổi lỗi lầm của mình,
chớ đừng chỉ biết nói ở ngoài miệng thôi, hãy quên đi
mình là ai. Người đào giếng cố tâm để đào không sợ
gian nan thì chắc chắn là sẽ tìm được mạch nước cam lồ.
Cũng
giống như vậy, Phật bảo bà Vi Đề Hy rằng, phải buộc
niệm lại một chỗ mà quán kỹ cho rõ ràng thì tịnh nghiệp
sẽ thành. Tại sao phải buộc niệm? Chúng sanh có quá nhiều
vọng tưởng, những thứ vọng tưởng này đã làm cho chúng
sanh trôi lăn trong ba đường sáu nẻo, không làm sao có thể
rời khỏi bến mê, Vì sao vậy? Vì chúng sanh này đã bị một
thứ keo dáng chặt, không thể nào rời khỏi được phạm
vi của nó. Để ra khỏi phạm vi đó chỉ có một cách là
chúng sanh đó phải tự mình tháo gở cho sạch những thứ
keo mà chính họ đã từng tự tay mình dáng vào. Gỡ bằng
cách nào đây? Chính là bằng mười sáu pháp quán tưởng của
đức Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta ở trong kinh này.
Phật
đã nói, là vì bà Vi Đề Hy và chúng sanh trong đời vị lai,
mà nói rộng những Pháp quán tưởng chân thật để cho những
ai muốn tu tịnh nghiệp, đều được sanh về thế giới Cực
Lạc. Chúng sanh trong đời vị lai chính là chúng ta đây và
cũng là những chúng sanh sau này.
Danh
Phật để niệm Phật
Pháp
môn thật tuyệt diệu
Mười
Phương đồng ca tụng
Ba
đời đều tán dương
Công
đức Bồ Tát Pháp Tạng
Nay
con cũng như vậy
Xưng
tụng đại công ơn
Chúng
sanh được giải thoát
Nam
Mô Vô Lượng Thọ Phật
Đã
là Người Phật Tử
Có
nên tinh tấn không?
Đối
với pháp môn này!
Niệm
niệm tưởng Di Đà
Cùng
đến bờ giải thoát
Thật
Pháp môn vi diệu
Có
ai biết hay không?
Chúng
sanh không thấu rõ
Vô
minh che lắp dần
Hỏi
Phật sao không tỏ?
Không
sợ Phật chẳng tỏ
Chỉ
sợ niệm không thành.
Chúng
con thành tâm niệm
Nguyện
Phật chứng minh cho,
Phật
Pháp là tuệ nhựt
Niệm
Phật vua các pháp
Bao
trùm khắp mười phương
Vạn
Pháp đều quy nhứt
Nằm
trọn trong sáu chữ
Nam
Mô Vô Lượng Giác Giả.
Nguyện
đời đời cận học
Tham
quán đối thoại này
Nguyện
con và đại chúng
An
trú trong pháp này.
Kinh
Văn:
Nầy
Vi Ðề Hy! Người muốn sanh về nước Cực Lạc ấy phải
tu ba điều phước. Một là hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ
bực Sư Trưởng, có tâm nhơn từ chẳng giết hại và tu tập
mười nghiệp lành. Hai là thọ trì Tam Quy y, đầy đủ các
cấm giới và chẳng phạm oai nghi. Ba là phát tâm Bồ Ðề,
tin sâu nhơn quả, đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa và khuyên
tấn người tu hành. Ba điều như vậy gọi là tịnh nghiệp.
Lược
giảng:
Phật
bảo bà Vi Đề Hy rằng: những ai muốn sanh về thế giới
kia, thì cần phải tu ba điều phước thiện.
Thứ
nhứ: "Hiêú dưỡng Cha Mẹ" "Hiếu" là hiếu thuận, "Dưỡng"
là dưỡng nuôi. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ bực
sư trưởng và tâm từ không sát hại, chính là tượng trưng
cho tam bảo, nhưng tam bảo này khác với tam quy. Tam bảo này
chúng ta đã bỏ quên quá lâu nên nay Phật nhắc lại cho chúng
ta biết. Cha Mẹ tiêu biểu cho chư Phật, Sư Trưởng tượng
trưng cho Pháp và Tâm từ không sát hại tượng trưng cho Tăng
Chúng. Vạn hạnh hiếu vi tiên, hiếu là nguồn cội gốc của
chúng sanh, muốn thành thánh nhân cần phải hiếu. Cho nên đây
là việc làm căn bản mà người học Phật cần phải có,
cha mẹ chính là chư Phật.(Phật tử đối với Chư Phật).
"Sư
Trưởng" là bực tu hành để giải thoát, chính là những lời
nói cử chỉ đều phải chân thật, vì pháp vốn là chân kiến.
Sư Trưởng là người nối ngôi truyền Chánh Giáo không
để bị diệt vong để làm lợi ích chúng sanh. Cho nên chúng
ta phải kính thờ người xưng Pháp, cũng chính là chúng ta
phụng theo chánh Pháp mà tu hành vậy(Pháp).
"Tâm
từ không sát hại" tượng trưng cho chư Tăng, ý nói hãy sống
hòa thuận với mọi người (chúng sanh), không nên sát hại
tranh cải những điều vô ích. Mà phải dùng tâm Từ Bi Hỷ
Xả mà đối đãi với mọi người. Đây chính là tam bảo
của nội tâm.
Thứ
hai: "Tam Quy" là quy y Phật, quy y Pháp quy y Tăng, đã nói ba
thứ quý của nội tâm vốn đã có, nay phải nói ba thứ quý
của thế gian và xuất thế gian, vì tuy chúng sanh đều có
Phật tánh thanh tịnh trong suốt, nhưng tự mình bôi trét lên
những thứ bất tịnh không trong sạch, cho nên cần phải có
gương để xem cho rõ chúng sanh đã trét lên những thứ gì.
Phật là bậc giác ngộ(giác giả), Pháp là chánh kiến(chánh
ngữ), Tăng là hòa thuận (chánh nhân). Ba tấm gương này có
thể giúp chúng sanh nhận ra bộ mặt thực vốn có xưa nay
của mình(bổn lai diện mục). Quí vị nghĩ xem ba tấm gương
này có đáng gìn giữ và học theo không? Cho nên cần phải
nương theo, và phải để bên mình để xem mặt thật của
chúng ta mỗi khi bị bụi cát bám vào do cơn gió thổi qua vậy.
Phàm
đã thọ giới thì cần phải gìn giữ cho được thanh tịnh,
không nên phạm các thứ giới mà mình đã thọ. "Đừng phạm
oai nghi" là trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, động
tĩnh, mọi hành vi cử chỉ phải giữ cho được nghiêm trang
và đoan chánh.
Thứ
ba: "Phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh đại
thừa, và khuyên người tu học" đã có gương giác ngộ
của đức Phật phản chiếu cho chúng ta thấy rõ bộ mặt
của chính mình, thì cũng phải nên phát chân tâm đáp ơn sâu
đó, là phải nên làm ra một thứ gương như thế, để cho
nhiều người được xem bằng cách là cầu quả vị Phật
độ cho chính mình và hết thảy chúng sanh, nói cách khác chính
là phát tâm giác ngộ, không làm việc hồ đồ để làm gương
cho chúng sanh vậy.
Tinh
Tấn tu hành theo chánh pháp, làm những điều thiện như trên
mà không sanh lòng nghi hoặc thì đã tin sâu nhân quả rồi.
Đọc tụng kinh điển đại thừa, và đừng quên rằng mình
là người tu đạo, phải làm gương cho người khác để khuyến
tấn họ phát tâm lành đối tam bảo cho họ được sự lợi
ích của mùi vị giải thoát, thì đây gọi là khuyến tấn
người khác tu hành. Ai làm được những việc như trên thì
gọi là tịnh nghiệp.
Kinh
Văn:
Nầy
Vi Ðề Hy! Nay ngươi có biết chăng? Ba tịnh nghiệp ấy là
chánh nhơn tịnh nghiệp của tam thế chư Phật quá khứ, vị
lai, hiện tại.
Lược
giảng:
Phật
cho bà Vi Đề Hy biết là ba thứ phước thiện đó cũng là
chính chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời.
Chánh nhân chính là nguyên nhân khởi giúp cho chư Phật được
thanh tịnh giác ngộ như ngày nay. Ý nghĩa thật đơn giản,
chính là Phật muốn nhắc nhở chúng ta muốn được giải
thoát(sanh về thế giới Cực Lạc) thì phải làm theo như vậy.
Kinh
Văn:
Ðức
Phật bảo A Nan và Vi Ðề Hy rằng:" Lắng nghe, lắng nghe, khéo
suy nghĩ nhớ kỹ. Nay Như Lai vì tất cả chúng sanh đời vị
lai, những kẽ bị giặc phiền não nhiễu hại mà nói nghiệp
thanh tịnh. Lành thay cho Vi Ðề Hy khéo hỏi được việc ấy.
Lược
giảng:
Khi
nói lời như trên thì Phật gọi Tôn Giả A Nan và bà Vi Đề
Hy mà bảo, lắng nghe lắng nghe cho chín chắn, và hãy nhớ
những gì mà Như Lai sẽ vì chúng sanh ở đời sau bị quân
giặc phiền não kia làm hại, những pháp đây đều là nghiệp
thanh tịnh có công năng đoạn trừ hết mọi thứ khổ của
chúng sanh.
Kinh
Văn:
Nầy
A Nan ! Em nên thọ trì rộng vì đại chúng mà tuyên nói lời
Phật.
Lược
giảng:
Phật
bảo Tôn Giả A Nan nên thọ trì pháp tu này cũng chính là gìn
giữ pháp môn này và vì mọi người mà nói lại lời của
Phật giảng ở đây.
Xem
Thêm Kinh Văn:
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ - Ngài Cương-Lương Gia-Xá dịch -
Việt dịch : Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật, HT. Thích Trí Tịnh Việt Dịch