Duyên
khởi Kinh
Thường
khi Phật thuyết pháp, thời phải có người thưa hỏi, ngoài
trừ kinh A Di Đà ra, thời tất cả kinh điển khác đều như
vậy. Tại sao chúng ta có được bộ kinh này, do nhân duyên
gì mà Phật nói ra bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ đây?
Tuy
nhân duyên phát khởi để Phật thuyết ra bộ kinh này không
được toàn thiện lắm, nhưng phải nên biết, Phật Pháp bao
la trùm khắp hư không, không có chỗ nào mà Phật Pháp không
hiện đến, ngoài trừ là cọng nghiệp của chúng sanh quá
nặng nên không thể nào nghe được từ Phật Pháp.
Phật
Pháp đến nơi nào thời cũng làm lợi ích cho chúng sanh, làm
cho chúng sanh được vui vẻ và được an vui, cho nên người
Phật Tử cần phải suy xét những gì mình đã làm cho mọi
người, có làm cho người khác được an vui không? Hay là gây
phiền muộn cho họ, qua những lời nói, hành động, cử chỉ
của mình mà khiến họ muốn tránh xa. Cho nên phải suy nghĩ
lại những gì mình đã làm, sửa lại cho được toàn thiện
hơn, hợp với Phật Pháp, như vậy mới thật là đáng để
tự hào mình là người Phật Tử. Đã là Phật Tử thời
phải biết việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Đừng
sống trong bóng của Phật mà làm toàn là việc ma, thì tôi
tin chắc rằng quí vị, uổng công phí sức, làm như vậy để
làm gì?
Thời
của đức Phật, ở nước Ma Kiệt Đà thủ đô là Vương
Xá, có vị thái tử tên là Thiện Kiến, vì nghe lời xúi giục
của bậc ác hữu. bắt vua cha nhốt vào trong nhà ngục. để
xoá ngôi, và bắt mẹ là bà Vi Đề Hy giam vào thâm cung.
Do
câu chuyện bi ai này mà nay chúng ta có được bộ kinh quí
giá Quán Vô Luợng Thọ. Cho nên chúng ta cần phải gìn giữ
cho kỷ, thật tâm thọ trì những gì chỉ dạy trong kinh để
mong có thể đền đáp được Tứ ân.
Do
có duyên khổ, nên nay Phật phải nói ra nhân rốt ráo để
đạt được quả vị an vui cùng là sự giải thoát chơn chánh.
Quí
vị nghĩ xem, Phật thật là bực toàn giác toàn trí, toàn năng,
biết có khổ, vui không chơn thật nên tìm ra đường chơn
thật và hạnh phúc cho chúng sanh. Khác với phàm phu chúng ta,
biết khổ thì là khổ, không để ý gì đến chuyện tìm ra
lối thoát. Biết là khổ nhưng họ cứ vẫn đi sâu vào để
tìm những thứ mà xưa nay bản tánh của chúng ta vốn không
có. Cơm là cơm, gạo thời là gạo, với tâm phân biệt không
đủ tuệ căn, nên chúng phải chịu khổ trong lục đạo này.
Trước
khi giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ này, cũng cần nói rõ năm
thứ huyền nghĩa để phân định bộ kinh này. Năm thứ huyền
nghĩa này là những gì? Chính là: Danh, Thể, Tông, Dụng, Giáo
1.
Thích Danh
Tên
của bộ Kinh này là "Phật thuyết Quán Cực Lạc Quốc Ðộ,
Vô Lượng Thọ Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí
Bồ Tát Kinh".
Phật
là bậc đại giác, giác ngộ tất cả pháp không còn mê lầm.
Phật có đủ ba giác ngộ nên là bậc đại giác. Ba giác ngộ
là:
Bản
giác: Vốn đã là giác ngộ. Thỉ giác: Vừa giác ngộ. Cứu
cánh giác: Giác ngộ đến tột đỉnh.
Tự
giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn, gọi là tam giác viên mãn
vậy.
Lại
nữa, Phật thì có Ba Thân, Bốn Trí, Ngũ Nhãn và Lục Thông.
Chúng ta là chúng sanh, dù có Phật tánh, đều có thể thành
Phật, nhưng chúng ta thì chưa khai mở được màn vô minh
để thành Phật, còn chư Phật thì đã vén màn vô minh ấy
lên và làm chủ được nó, cho nên thành Phật, còn chúng ta
thì vẫn chưa, vẫn phải tu học, nếu chúng ta thành tâm tu
đạo theo phương pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy
thì chúng ta cũng sẽ được thành Phật như Ngài. Do chúng
ta chưa chứng được quả vị Phật, nên không có Tam thân,
tứ trí, ngũ nhãn, lục thông. Phật cũng là phàm
phu như chúng ta tu hành mà chứng được quả vị Phật. Tất
cả chúng sanh đều có thể thành Phật, nếu như mọi người
đều tu hành đúng như vậy, Phải có đủ tam thân, tứ trí,
ngũ nhãn và lục thông thì mới là Phật. Chớ đừng vừa
có chút thần thông thì cho mình đã thành Phật. Hãy cẩn thận
nhé!!!
Ba
Thân là:
Hóa
thân
Pháp
thân
Báo
thân
Bốn
Trí là:
Đại
viên cảnh trí (đạo huệ trí)
Diệu
quan sát trí (đạo huệ chủng trí)
Nhứt
thiết trí (viên mãn tánh trí)
Nhứt
thiết chủng trí (bình đẳng tánh trí)
Sáu
thông là:
1.
Thiên nhãn thông
2.
Thiên nhĩ thông
3.
Tha tâm thông
4.
Túc mạng thông
5.
Thần túc thông:
6.
Lậu tận thông
Phật
có đủ Ba Thân, Bốn Trí , Năm Nhãn, sáu thông; nếu nói mình
là Phật thì phải hội đủ những thứ trên mới có thể
nói là thành Phật được. Người tu đạo cần phải chân
thật., không nên lừa dối người khác.
Phật
Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ của thế giới Ta Bà. Thế giới
Cực Lạc mà Ngài chỉ cho chúng ta quán tưởng thì có Phật
A Di Đà làm Giáo Chủ. Cõi nước ấy rất trang nghiêm, mặt
đất làm bằng bảy báu.
"Thuyết"
chữ thuyết này tạm dịch là nói, tại sao tôi dùng chữ tạm
dịch? Vì nếu dịch chữ thuyết này thành chữ nói, thời
không diễn được ý nghĩa của nó cho lắm. Có ba chữ để
nói lên ý nghĩa của chữ thuyết này. vậy ba chữ đó là
gì?
Đó
chính là "Duyệt sở hoài".
Duyệt
không phải là vui vẻ sao?
Lành
thay!
Tại
sao lời nói của đức Phật lại có chữ duyệt này? Quí vị
có hiểu tại sao không? oh! tôi cũng không rõ lắm!
Có
người bảo với một người nọ rằng:"hôm nay giải thưởng
của Lô tô lên đến 28 triệu Úc kim, người kia nghe xong, họ
vui vẻ và bảo:" Thật vậy sao, vậy chúng ta đến đó để
ghi vài ô, thử vận may xem coi chúng ta có cơ may trúng độc
đặc hay không?
Như
vậy, quí vị nghĩ đây có phải là duyệt không?
Không
như thế đâu! Tuy là lời nói làm cho người kia vui vẻ, nhưng
kết quả thì sao? Chính là sự ngu si, mất hết vài đồng
rồi đấy, như vậy thì không thể gọi là duyệt rồi. Chữ
thuyết này, dùng ba chữ duyệt sở hoài để nói lên ý nghĩa
mầu nhiệm của nó. Nói lên đều gì đây nè? Chính là nói
lên những gì mình muốn nói, vậy tức là đức Phật muốn
nói những gì mà Ngài cảm thấy vui vẻ khi nói ra, khi nói
ra mọi người khác cũng đều vui vẻ, lợi ích là không có
phiền muộn nên gọi là duyệt.
Duyệt
Sở Hoài chính là nói những gì mà mình muốn nói. Rốt cuộc
là nói những gì? Chính là nói mười sáu pháp quán trong Kinh
Quán Vô Lượng Thọ này.
Duyệt
đọc trong giống như chữ diệt. vậy chữ diệt này như thế
nào? Chắc có người vừa nghe chữ diệt này thời cảm thấy
buồn phiền và muốn đứng dậy ra về. Vì cho nó không được
tốt lành, bi quan quán, không có sự enjoy. Chữ diệt này tôi
mượn nó để dịch thành chữ chết. Có người sẽ bảo,"
Pháp Sư, ngài đang giảng cái gì vậy, tại sao đang nói đến
chữ duyệt là vui vẻ, mà lại thêm chữ chết vào đây?".
Mọi
người vừa nghe đến chữ chết của tôi, thời sanh tâm lo
sợ rồi, chỉ chữ chết mà quí vị sợ như vậy, mà dám
xưng mình là người Phật Tử sao? Thử nghĩ, sống trên cõi
đời này, có ai mà thoát khỏi được sự chết mà phải sợ.
Chết không đáng sợ đâu quí Phật Tử, mà có rất nhiều
việc còn đáng sợ hơn là chết đấy. Là người Phật Tử
thời nên biết, có sanh thời có diệt. Cho nên không cần phải
sợ. Có rất nhiều sự đáng sợ hơn là sự chết, tuy nhiên
có ba thứ mà mọi người Phật Tử đều biết đến, nhưng
lại không hề sợ gì đến bọn chúng?
Đã
nói chữ duyệt là vui vẻ, thời chữ diệt này của tôi cũng
là vui vẻ, mọi người chớ sanh tâm lo sợ. Phật đã nói
ra những gì mà Ngài cảm thấy vui vẻ, người nghe cũng sanh
tâm hoan hỷ mà nhận lấy, nhận lấy rồi phải diệt. Vậy
diệt cái đây? Chính là diệt tham, sân, si. Vì vui vẻ mà nói
ra, nếu người nghe không hiểu, hoặc chỉ thoáng qua tai, thời
cũng không có lợi ích gì, thì đâu phải là duyệt nữa. Cho
nên, không phải chỉ thấy được cơm mà bảo mình hết đói,
nghe người khác bảo có đủ loại cơm, nhưng chỉ được
nghe đến chữ cơm mà muốn hết đói sao? Thấy cơm thời phải
ăn, như vậy mới gọi là duyệt được. Cũng vậy, Phật vui
vẻ nói ra, người nghe cũng sanh tâm hoan hỷ, nhưng vui mừng
thì một chuyện, mà có làm theo hay không là chuyện khác, chớ
không phải chỉ được sự vui vẻ mà bảo mình no. (lành bịnh)
Phật
nói ra những phương thuốc để trị lành căn bịnh của mọi
người, vì giúp mọi người trị lành bịnh, nên Phật vui
vẻ mà nói, mà người có được toa thuốc ấy cũng vui mừng
vì có được toa thuốc tối diệu như vậy, có thể diệt
được căn bịnh trầm trọng tham sân si. Quí vị nghĩ xem,
kết quả có tốt hay không?
Rất
là tốt, ai ai cũng được lợi ích, cho nên tôi nói chữ diệt
này là sự vui vẻ chớ không phải là bi quan.
Lại
nữa, chữ thuyết này không phải đọc trông giống với chữ
thiết hay sao?
A!
chữ thuyết tức là vui vẻ mà nói, vậy thì thiết này như
thế nào? Thiết chính là tha thiết, tha thiết những gì đây
nè? Chính là tha thiết nói ra lời chân thật, để cho người
nghe không bị choáng tai. Vậy Phật tha thiết nói ra những
gì với chúng sanh trong thời kỳ của Ngài, cũng như chúng
ta hôm nay? Chính là tha thiết nói ra những gì mà bạn xem là
thật, chấp chặt không buông bỏ, lấy giả làm thật, lấy
thật làm giả, nói rằng bạn đang bị bịnh trầm trọng mà
không hay biết. Người khi nghe được những lời như
vậy sanh tâm vui vẻ, phát tâm chánh tín, tha thiết mông cầu
được lành bịnh, Vì sao? Vì xưa nay, không có vị lương y
nào chuẩn ra căn bịnh trầm trọng của họ, nay lại được
vị đại y vương này chuẩn ra căn bịnh đó, nên sanh tâm
vui mừng không xiết. Rồi phát tâm cầu đại Dược Vương
cho toa để hốt thuốc, sau khi uống ai ai cũng đều lành bịnh,
như vậy không là vui vẻ sao?
Nói
tóm lại, chữ thuyết nghĩa là nói ra những lời chơn thật,
lợi ích cho mọi người, người thuyết đã vui vẻ, người
nghe cũng vui mừng, cả hai đều được lợi ích, nên gọi
là thuyết.
Những
gì chúng ta nói, không thể gọi là thuyết được!
"Quán"
nghĩa là suy tưởng, buộc niệm về một việc thì gọi là
quán. Kinh này gọi là quán Vô Lượng Thọ tức là buộc niệm
về một chỗ để nghĩ tưởng đến Phật Vô Lượng Thọ
vậy, trong bộ kinh này Đức Thích Ca dạy cho chúng ta đến
mười sáu pháp quán, cũng chính là mười sáu cái chìa khóa
để mở mười sáu cái cửa châu báu của quí vị.
Tựa
đề của bộ kinh này là Quán Cực Lạc Quốc Độ, Vô Lượng
Thọ Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát.
Khi
tôi nghe thoảng qua tai mình, tựa đề của bộ kinh này, tôi
vui mừng không thể nói được, liền đảnh lễ Đức đại
Từ bi bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Quí vị có biết tại
sao không? Tôi cũng không biết, nhưng tôi chỉ biết rằng,
sức oai thần của chư Phật, mà chúng ta không thể nào hiểu
được dù giới hạng như vi trần. Không có lời nói nào để
xưng tán đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Ngài vì chúng sanh ngu
muội ở cõi ô trược này, mà hiện đủ sức thần thông
vi diệu, không thể nghĩ bàn. Quí Phật Tử, khi nghe Phật Pháp
điều cần thiết là phải chuyên nhứt, định tâm vào một
niệm, nghe cho kỷ những gì mà Phật đã vì chúng ta giảng
nói trong mười hai đại tạng kinh, tuy mỗi mỗi điều khác
tướng nhưng tất cả đều chuyên nhứt. Thật đức Phật
tròn đầy trí tuệ, không thể nào diễn tả cho hết, đây
không phải là lời khen suông, không phải vì là một tín ngưỡng
của Ngài mà khen ngợi, mà thật sự Phật là như vậy.
Khi
nghe kinh, tâm quí vị không chuyên nhứt, không chơn thành, ý
chạy đông tây, phân biệt các Pháp, nên không nhận ra đó
thôi. Nếu là ngươì đủ thiện căn, chỉ cần nghe tên đề
của Kinh này, thơì sẽ ngộ được những gì mà đức Từ
Phụ Thích Ca trong suốt 49 năm dài mệt nhọc, mang thân tứ
đại để cùng ở với những người tà tri tà kiến như chúng
ta, mà nói ra diệu Pháp như thế, Tâm Ngài vẫn như lưu ly,
trong ngoài sáng sạch, không dính mắc vào cửa ngõ nào. Thật
là mầu nhiệm thay.
Quí
Phật Tử, đừng để tâm phân biệt, là mình đang tu theo pháp
môn nào, mà hãy y theo lời dạy của Phật, sửa tâm hư vọng
của mình, nguyện không làm việc ác. Vì Phật nói ra không
biết là bao nhiêu phương tiện, nhưng tất cả đều hòa đồng
với nhau, không có hai thì làm sao lại có ba được. Vì tâm
của chúng ta quá phân biệt, nên trên đường tu học, không
thể ngộ được đạo, chính là như vậy.
Có
người sẽ bảo, "Kinh Quán Vô Lượng Thọ này, chỉ dành cho
người tu theo Pháp môn tịnh Độ, còn chúng tôi là người
tu thiền, nên không muốn tìm hiểu những gì ở trong Kinh".
Quí
Phật Tử, dù cho quí vị tu theo pháp môn nào đi nữa, mà mỗi
mỗi đều được chuyên nhứt, thời mỗi mỗi Pháp đều là
một, không có hai cũng không có ba. Nếu thật sự bực tu thiền
liễu đạo, khi nghe qua tựa đề của bộ kinh này, thời có
thể chứng được đạo đấy, tôi thật sự không dối quí
vị đâu. "Quán Cực Lạc Quốc Độ, Vô Lượng Thọ Phật,
Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát", không phải
là vô ngôn sao? cho nên tôi nói, tất cả pháp đều có liên
hệ nối kết với nhau, như là hạt chuỗi Phật vậy, ngươì
tu đạo, đừng sanh tâm phân biệt, thơì đều liễu cả, liễu
thời liễu hết, mê thời đồng mê chính là đạo lý này.
"Quán
Cực Lạc Quốc Độ, Vô Lượng Thọ Phật, Quán Thế Âm Bồ
Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát". Tựa đề của Bộ kinh không
phải là thiền sao? Nếu có ai bảo là không, thời không nên
nói là mình đã liễu được.
Giống
như khi tôi chưa tin học Phật Pháp, có một vị Bồ Tát
bảo rằng: "Khi con nghe được tên của người có thể độ
con, thơì con sẽ xuất gia". Qua lời nói này, tôi thật sự
không tin chút nào. Vì sao vậy? Thứ nhứt, gia đình tôi không
tin Phật Pháp. Thứ hai, tôi không đi chùa, không gặp được
thiện tri thức, thời làm sao có thể xuất gia tu theo Phật
được?
Cho
nên, lúc đó tôi không quan tâm gì đến lời nói ấy.
Nhưng
kỳ lạ thay! Khi tôi vừa tròn mười hai tuổi, có lần nghe
được hai chữ từ vị cư sĩ Trần Thị Hiểu tức là cư
sĩ Diệu Lâm. Khi nghe được hai chữ từ vị thiện tri thức
này, đã làm cho tôi phải hốt hoảng, ngày đêm không thể
ngủ, mà cứ nghĩ tưởng đến hai chữ này. Đó là hai chữ
gì? Chính là hai chữ "Tuyên Hoá" vậy. Chính là vị tôn sư
đáng kính của tôi, Ngài là bực mà chúng ta cần phải học
và noi gương theo.
Như
vậy, quí vị có hiểu chưa. Ý tôi muốn nói gì, người có
hiểu chăng? A Di Đà Phật!!! Đều trong đây.
Cho
nên, trong khi tu đạo là cần phải chuyên nhứt, thật lòng
mà tu thời quí vị sẽ được bực thiện nhân, hộ niệm
cho quí vị đạo tâm được kiên cố và qua được mọi thử
thách.
"Cực
Lạc" Ấn Ðộ đọc là Sumati Trung Hoa dịch là Cực Lạc, hay
là An Dưỡng cũng có tên là Diệu Ý là tên của một Phật
độ ở Phương Tây cách thế giới ta Bà của chúng ta mười
muôn ức cõi Phật. Cực Lạc là Y báo trang nghiêm có giáo
chủ là Phật A Di Đà hiện đang thuyết Pháp. Không giống
như thế giới ta bà của chúng ta, là y báo không được trang
nghiêm, hội đủ mọi thứ khổ, có ba đường ác, lục đạo
luân hồi,Phật lại nhập diệt.
Còn
Cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà thì trang nghiêm vi diệu,
không có ba đường dữ, toàn quốc độ đều làm bằng bảy
báo. Lại có Phật hiệu là Vô Lượng Thọ vì chúng sanh mà
thuyết Pháp.
Tại
sao cõi nước này gọi là Cực Lạc?
Kinh
Phật Thuyết A Di Đà có dạy:" Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao
tên là Cực lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những
sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên
là Cực Lạc. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy
từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều
bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước
đó tên là Cực Lạc".
Tóm
lại, có nghĩa là một cõi nước an vui, không có sự khổ
nên gọi là Cực Lạc. Đây là phần Y Báo trang nghiêm, Người
là Chánh Báo, mà chánh báo ở cõi nước này lại càng trang
nghiêm vi diệu không thể nghĩ bàn, mà trong Kinh này đức Phật
đã dạy cho chúng ta mười sáu pháp quán, và lấy Y nhị Chánh
Báo trang nghiêm của cõi này, làm nhan đề cho bộ Kinh, là
Quán Cực Lạc Quốc Độ, Vô Lượng Thọ Phật, Quán Thế
Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Mà chúng ta thường gọi
tắt là Kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Cực
Lạc là thắng cảnh (chánh cảnh) của bộ kinh Quán Vô Lượng
Thọ, Vô Lượng Thọ (chánh nhân) là quả cũa bô kinh này,
cũng là trạm dừng nghĩ cho tất cả mọi loài chúng sanh. Thời
bây giờ, phương tiện giao thông rất tốt, có đủ thứ Phương
tiện như; xe hơi, xe bus (xe buýt) xe điện, xe lửa v.v... tùy
mọi người thích đi xe nào cũng được. Cũng vậy, Phật pháp
có đủ mọi phương tiện giao thông để cho Phật Tử chọn
lựa, phương tiện nào thích hợp với mình hơn, giúp mình
dễ đi hơn thời chọn cho mình một phương tiện. Dầu là
đi bằng phương tiện gì đi nữa, bến đậu cũng chỉ có
một mà thôi, cho nên khi tu đạo, không nên sanh tâm phân biệt
để làm gì? Mà hãy xem mình có đi hay là không, chớ không
phải là việc mình dùng phương tiện nào để đi. Tuỳ mọi
người thích, đi xe thì chậm hơn một chút, đi bằng máy bay
thì đến nhanh hơn một chút. Chậm hay nhanh chung qui cũng là
về một chỗ.
Điều
cần thiết, trên con đường tu tập của mình, chính là có
thành tâm chơn tín để mà đi hay không, chớ không phải là
nên dùng phương tiện nào để mà đi. Đừng đi được một
trạm rồi không đi nữa, thời chuyện này mới là quan trọng
với người Phật Tử như chúng ta.
Khi
đi trên đường nguy hiểm, mưa to gió lớn, người trên phương
tiện thời phải biết mình phải làm gì để không bị tai
nạn trong sương mù dầy đặt vây quanh mới là chuyện cần
chú ý. Đừng đi với tâm niệm tham sân si, thời đi bằng
phương tiện nào cũng vậy, không có khác gì cả, chỉ có
khác là khác thể tướng của phương tiện chúng ta đang dùng
mà thôi. Đừng nghĩ rằng, đi máy bay là an toàn nhứt, nhanh
thì nhanh thiệt, tuy nhiên nó cũng bị rớt vì sự trụt trặc
nào đó. Cho nên, điều mà cần phải quan tâm chính là mình
có thật muốn đi hay không, Niệm Phật là diệu dược, tuy
nhiên quí vị có thật tâm tin tưởng để uống hay không là
một vấn đề, chớ không phải nhìn thấy được diệu dược
mà hết bịnh, không uống mà mong mình được trị khỏi, thời
đạo lý nầy vốn không có trong những bộ đại từ điển
của Như Lai.
Nay
để mọi người dễ hiểu, tôi xin đem ra một thí vụ nhé.
Giống như có người ở Sunshine muốn đi Gardenvale thời phải
bắt chuyết xe bus 220. Muốn đi Gardenvale thời chuyến xe này
là tốt nhứt, vì nó vốn là đi Gardenvale mà. Tuy nhiên, chuyến
xe này chạy trên con đường thật nguy hiểm đó quí vị. Nguy
hiểm như thế nào, thời chút nữa quí vị sẽ hiểu rõ. Khi
xe ra đến Thành Phố lớn của Melbourne chạy vào đường Queen
(Queen Street) thời quí vị nghĩ xem, đường nguy hiểm ở trên
là gì rồi. A! Thì ra chính là Cung Điện của Thiên Ma ở trước,
cung điện của nó tên gọi là Crow, với chiêu đề là
" ENTERTAINMENT FOR PEOPLE" (giải trí cho người). Quí vị nghĩ
xem, dự định đi Gardenvale nhưng xe bus vừa tới đầu đường
của King Street, người đang ngồi trên chuyến xe 220 này, liền
khởi tâm động, mà mình đã trong coi trong một khoảng đường
dài, từ shine đến thành phố, do tâm bị động nên không
thể nào qua đoạn đường nguy hiểm của ma vương vì tâm
tham chưa dứt, liền đứng dậy bấm chuông để xuống trạm
kế, có người không bấm chuông và nói:" next stop please". Kết
cuộc như thế nào? Quí vị thử nghĩ xem.
Người
nghe ba chữ entertainment for people, thì làm sao bỏ qua đoạn
đường này, nếu bỏ qua người khác sẽ bảo:" Bạn không
biết hưởng thụ". Khi bước vào thời tươi cười hớn hở,
vui vẻ với mọi người. Vài tiếng sau, bước ra với vẻ
mặt buồn với nét nhăm trên má, yếu đuối không còn sức
lực nữa, lúc này có người hỏi họ, bạn sau buồn vậy?
Người này sẽ bảo:" Tôi bị hai chữ đánh bị trọng thương,
nên không còn sức lực gì cả". Người kia bảo:" hai chữ
gì mà lại lợi hại như thế?"
"Thì
là hai chữ tham và si. Hôm qua ông xã của tôi, đưa tiền đóng
bill nước, điện thoại cùng là tiền đi chợ cho tuần này,
vì muốn thử vận may, nên tôi đã cho ngân hàng tập thể
vay mượn, bây giờ không biết làm gì đây, tôi không dám
về nhà".
A!
câu lạc bộ này thật có ý nghĩa đó quí vị. Không những
nó giúp người giải trí, mà nó còn hút máu của người nữa.
Đây chính là ngôi mồ tập thể, không biết đã vùi chôn
biết bao người ở trong đó. Nhưng người bị chúng hại đâu
có sợ gì đến bộ mặt thật của chúng. Vì đã có chiêu
bài là entertaintment treo trên bộ mặt của chúng rồi
thì làm sao bị người khác vạch ra. Chỉ có cách là đến
đó thử ra sao.
A!
Tôi đã nếm được mùi vị của nó rồi, thật là chua chát,
đi hết hai căn nhà, nay mất nợ tứ phương chỉ có cách tự
tử để giải quyết vấn đề mà thôi.
Thôi
rồi! Cá đã dính câu, thời làm sao thoát khỏi cái chết đây?
Cung
điện của Ma Vương thật sáng chói, chúng không quan tâm vì
đến những người khác, mà chúng chỉ biết trang hoàng cung
điện của mình cho thật đẹp để người khác thấy được
vẻ đẹp bên ngoài của chúng, sanh tâm mến thích càng nhiều
càng tốt.
Nầy
bạn! Đừng bước vào nhé! Đó chính là ngôi mộ tập thể
đấy. Họ sẽ bảo:" Bạn biết gì chứ? Làm cả tuần mệt
mõi, phải giải trí thôi'.
Kết
cuộc thì sao? Là đem tiền lương trong năm ngày làm việc vất
vã, tặng chúng xài chơi. Người trong cuộc dùng danh từ còn
đáng sợ hơn, nếu có người hỏi họ, họ sẽ bảo:" Tôi
vừa đi cúng chùa về". Thật là tội nghiệp, đã làm việc
sai, nay lại gieo thêm khẩu nghiệp nữa.
Cho
nên người Phật Tử, muốn thoát khỏi đường sanh tử thời
phải dụng công chơn chánh, không luận là quí vị tu theo Pháp
môn nào, nhưng cần phải chơn thật, thời mạt pháp này cũng
giống như sự vụ Entertainment ở trên vậy, cho nên Phải cẩn
thật, nên mới bảo, pháp môn niệm phật thật là vi diệu
trong thơì bấy giờ, vì lòng từ bi của Phật nên phát ra
những đại nguyện cứu độ chúng sanh, để hưởng được
sự giải thoát chơn chánh, qua sự thành tâm sửa lỗi và muốn
thoát được vòng vô minh, nên Phật có đủ phương tiện để
làm lợi ích cho mọi người. Cho nên nói, Cực Lạc chính là
chỗ cho thuyền bè, xe cộ v.v...dừng nghĩ ở đó. Mọi người
đến bằng nhiều phương tiện khác nhau, nhưng không có gì
khác biệt. khi cặp bến rồi mọi người sẽ hiểu, không
cần phải nói nữa, vì tôi không biết cách nói để cho quí
vị hiểu, nên phần còn lại, Quí Phật Tử hãy điền vào.
Có
lần đức tôn sư dạy rằng:" Đường đi là con chọn, thời
phải biết mình đi đâu, đừng đợi đến nơi rồi mới biết
là mình đã đi lầm đường thời là nguy".
Cho
nên, tôi thành thật nói với quí vị rằng, đường đi vốn
không có gì phải sợ, mà chính tự quí vị, mang đá vào mình
mà thôi. Ai bảo mình đi chưa vững, lại so tài với người
khác, thời làm sao có thể qua được cạm bẫy, do người
đời gài đặt. Kinh Thủ Lăng Nghiêm , là bộ Kinh Quí giá
nhứt trên đường tu đạo, mọi gian nguy, hung hiểm như thế
nào, đều được ghi trọn trong bộ đại từ điển này,Vì
quí vị không để ý đó thôi. Đa số mọi người không thích
đọc và tìm hiểu đạo lý của Kinh Thủ Lăng Nghiêm, vì trong
đây Phật đã dạy rõ ràng về những chướng ngại trên đường
tu đạo, mà đa số trong chúng ta đều vấp phải, cho nên xem
thường bộ kinh này, hoặc có người lại cho rằng bộ này
không phải do Phật nói ra.
Hòa
Thượng Tuyên Hóa, đã từng dạy rằng:" nếu như không có
người trì tụng chú lăng nghiêm, hay đọc giảng bộ kinh này,
thời Phật Pháp khó mà hưng thịnh, lợi ích chúng sanh, vì
không có lăng nghiêm thời ma vương sẽ xuất thế".
Lời
dạy của tôn sư, thật là như vậy, Quí vị hãy nghĩ xem,
thời bây giờ có rất người tự cho mình chứng đắc, họ
sữa đổi những gì mà đức Phật đã từng dạy, do không
có đường rẻ nên họ không biết là mình đi quá xa với
Phật Pháp, còn trái lại có người trì tụng Thủ Lăng Nghiêm
Lăng Nghiêm Kinh, đọc Thủ Lăng Nghiêm thời sẽ biết rõ là
mình gặp những ma sự như thế nào? Chứng đắc ra sao? Đều
được đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta dạy
rõ trong kinh. Vì do sự chướng ngại giúp họ xưng bá, và
được tôn kính nên đành gác qua những lời dạy của Thế
Tôn qua một bên, rồi ném bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm ra ngoài
đại thiên thế giới, vì nếu Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn thị
hiện trên cõi đời này, chính là việc cản trở họ làm
giàu phát huy tiền đồ danh vọng.
Cho
nên, người Phật Tử chúng ta là người tu đạo, muốn được
thoát sự luân hồi thời phải biết, mình đang làm gì, và
sẽ đi đâu, thời phải biết rõ, nếu có đi sai thời phải
dừng lại, và đổi hướng đi, vậy thì sẽ không bị sa lầy
lún sâu thêm.
Cho
nên, tôi từng nói với quí vị, trên đường tu đạo cần
phải bỏ đi tánh tăng thượng mạng, mà mọi người phải
trao dồi với nhau, học hỏi lẫn nhau. Pháp môn niệm Phật
là pháp tối diệu, nhưng quí vị không tương ưng với nó
thời cũng là vô ích, chẳng giúp ích được gì cho quí vị.
Làm
thế nào mới được tương ưng với pháp môn này? Chính là
làm theo những lời dạy trong kinh, ngày ngày lau chùi cho sạch,
những thứ tâm tham lam ,sân hận, tà kiến, ích kỷ, mưu cầu
,tự lợi, nói dối, như vậy còn lo gì đến chuyện không
được vãng sanh. Không sợ rằng đức Từ Phụ A Di Đà quên
rước mình hay bỏ sót lại, mà sợ rằng chánh niệm mình
sao lãng, ý chí không vững, không thật lòng sửa tánh hư tật
xấu mà thôi.
Niệm
Phật thời phải có Phật, đừng niệm Phật mà tâm lại có
ma, thời việc này không bảo đảm được.
"Vô
Lượng Thọ" là dịch từ Phạn ngữ A Di Đà, có nghĩa là:
mạng sống của vị Phật này không thể lường biết được
là tuổi thọ của Ngài bao nhiêu. TrưỚc tiên chúng ta cần
phải rõ ba A Di Đà này, vì đây chìa Khóa mở hết cõi hư
không khắp pháp giới, là đại định cảnh giới của Thiền
mà người tu thiền như chúng tu để đạt đến, là đệ nhứt
nghĩa của Thiên Thai, là đệ nhứ giới hạnh của Luật Tông,
là pháp tổng trì đệ nhứt của Mật tông, là chỗ vô lượng
Nghĩa (Quang) của người tu tịnh, và là đệ nhứt viên Giác
viên mãn của chư Phật vậy.
A là
vô, Di Đà là Lượng nghĩa là vô lượng, tức là không thể
lường được, không những là không lượng được tuổi của
Ngài bao nhiêu, mà tất việc viên mãn của Ngài cũng không
thể nào biết cho hết. Đây cũng chính hạnh nguyện sâu xa
của chư Phật mười Phương ba đời. Vị Phật này chính là
vị Phật thay thế mười phương chư Phật, vì chúng sanh nhiều
vọng tưởng, nên chư Phật phải hiện đủ thứ tướng mới
có thể độ được họ. nói cách dễ hiểu hơn, tức là mười
phương chư Phật đều là hóa thân của Vô Lượng Thọ Phật.
Vô Lượng Thọ Phật chính là Pháp Thân thường trụ của
mười Phương chư Phật.
Mười
Phương có bao nhiêu quốc độ, thời có bấy nhiêu vị Phật
để giáo hóa chúng sanh. Tuy nhiên thể tướng thì vô lượng,
chung quy thì chỉ có một tánh mà thôi, đó chính là tánh Giác
viên mãn cứu cánh, nên Phật thành Phật mà có hai hay sao?
Vốn không có. Giống như nước, tánh của nước là chất
ướt, nước thời đâu cũng có. Nếu như quí vị từ Úc Đại
Lợi đem khối nước về Việtnam rồi chỗ trộn vào nước
của quê nhà, thì thử hỏi, nước nó có bị trở ngại gì
không? Hay là nó đều hòa cùng nước ở địa phương, vì
nước không có thể tướng, nó chỉ có tánh nước mà tánh
của nước là chất ướt, cho nên nó không làm trở ngại
vì cả, mà đều hòa chung một tánh, chính là tánh ướt.
Chư
Phật cũng vậy, thể tưởng khắp mười phương, tuy nhiên,
chư Phật đồng một tánh, đó là tánh Giác. Cho nên, mười
phương chư Phật giảng nói pháp gì đi nữa, cũng không rời
pháp môn niệm Phật này, vì là đồng một tánh. Một là tất
cả, tất cả là một, cho nên không có việc gì nằm
ngoài thế giới Cực Lạc, cũng không có việc gì mà có thể
ra khỏi sự cai quản của đức Phật Vô Lượng Thọ.
Diện
mạo của mọi người có sự sai khác, nhưng vốn là con một
nhà.
Có
tài sản, vàng bạc báu châu mà không có thọ thời cũng không
giúp được gì? Cho nên nói Đức Vô Lượng Thọ chính
là vị Phật được tượng trưng cho mười Phương Chư Phật
ba đời, hạnh nguyện tròn đầy, viên mãn cứu cánh, Chư Phật
mười Phương ba đời cũng đồng hiệu như nhau, đó chính
Vô Lượng Thọ. Nhưng Chúng sanh thì có sự khác biệt nên
phải dùng phương tiện, hiện đủ thứ tướng, đủ thứ
tên để giáo hoá họ. Nói đến đây, quí vị có hiểu tôi
nói gì không? Hãy suy nghĩ kỷ những gì tôi đã nói.
Chư
Phật có đủ trọn vẹn hạnh nguyện, viên mãn cứu cánh như
vậy, tuy nhiên Đức Như Lai, chỉ đặc biệt dùng hai ý nghĩa
là Vô Lượng Thọ, và Vô Lượng Quang để đặt tên cho mình.
Vậy, Vô Lượng Thọ như thế nào? Nếu có quốc độ chơn
thật, đầy đủ viên mãn hạnh nguyện siệu Việt, nếu thọ
mạng còn có hạng lượng thời thì chưa viên mãn, cho nên
thứ nhứt là lấy ý nghĩa này làm tên gọi. Thứ hai, chính
Vô Lượng Quang, quang tức ánh sáng, mà ánh sáng tức là trí
tuệ, nên nói vị Phật này Trí tuệ tròn đầy, không gì mà
không thấu hiểu, vì có thọ mạng dài, nên cần phải có
đại tuệ viên mãn, nếu không thơì có vô lượng thọ cũng
có chẳng có ý nghĩa gì, vô lượng thọ thơì phải có Vô
Lượng Quang.
Không
phải như chúng ta, ai ai cũng muốn mình được trường thọ,
tuy nhiên việc làm thì không có trí tuệ, ngày qua ngày chỉ
diễn lại ba thứ độc tham, sân, si, làm việc hồ đồ, tổn
hại đến người khác, sát sanh hại vật, tội còn dầy hơn
là nuí Tu Di, không biết rằng việc sống đó thật là vô
ích, chẳng có ý nghĩa gì, mà lại mông được trường thọ.
Phật
là Giác Giả tức là người đã giác ngộ viên mãn cứu cánh.
Vậy bốn chữ A Di Đà Phật nghĩa là Vô Lượng Giác. Đã
có trí tuệ viên mãn, thọ mạng vô lượng, lại là bực giác
ngộ. Cho nên tướng thị hiện chính là tướng giác ngộ,
do tâm không còn vướng mắc, nên hiện trí huệ, vì có thị
hiện nên phải là vô lượng thọ.
Vì
đâỳ đủ trí tuệ, thọ mạng vô lượng, nên phải thị
hiện quốc độ trang nghiêm. Cho nên chúng ta cần phải biết,
Đức Phật A Di Đà thật sự là tròn đầy viên mãn. Tánh
đức viên mãn của chư Phật là như vậy, nên mươì chư Phật
đồng xưng tán, cho nên ngươì học Phật cần phải biết
là:" Chư Phật, Phật đạo đồng, vốn không sai biệt chút
nào, tất cả cũng chỉ là bến Cực Lạc mà thôi. Không có
đâu nữa, mười phương cũng vậy, đều phải sanh về Cực
Lạc để diện kiến đức Phật Di Đà, mới có thể thành
Phật. Người học Y, phải học với người biết về y, nếu
không thì học không được trọn vẹn, cũng vậy, đã nói
Đức Vô lượng thọ Phật, tượng trưng cho hết thảy mười
phương ba đơì chư Phật, thời Bồ Tát muốn thành Phật thời
phải học với Phật.
Đức
Phật không phải chỉ có phước đức vô lượng, mà thần
thông biện tài, tướng hảo, đạo tâm tất cả đều vô lượng;
nói vô lượng tức là không có bờ không có mé để tính
được. Nói vô lượng tức là vô biên, tức là không ở chỗ
nào mà chỗ nào cũng có. Vô lượng là từ "một" mà có, nên
nói "Một là vô lượng, vô lượng là một, nhứt thiết
tức là nhứt, nhứt tức là nhứt thiết vậy".
Thọ
mạng, công đức, trí huệ, pháp lực của Phật A Di Đà đều
vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn được. Phước đức,
trí huệ của Phật A Di Đà đều vô lượng nên gọi là Phật
A Di Đà. Tóm lại, Đức Từ Phụ A Di Đà cùng Phật Thích
Ca Mâu Ni đều là từ con người tu hành mà thành Phật chớ
không phải là từ trên trời rơi xuống hoặc từ dưới đất
vọt lên. Cho nên chúng ta phải dụng công chơn chánh, thì trong
tương lai cũng có đủ tánh đức tròn đầy vô lượng như
Phật không hai không khác.
Vì
sao mà vị Phật này lại có danh hiệu đặc biệt như vậy?
Việc này phải trở về hằng sa số kiếp về thưở trước,
có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tạng Vương Như Lai, có
một đại kiếp tên là Thiện Trì, ở cõi Tản Đề Lam có
vua Chuyển luân Vương, tên là Vô Tránh Niệm, đầy lòng từ
thiện, tiếng thơm đồn bốn phương.
Vị
vua này đem những đồ quí báu, ngon đẹp mà cúng dường cho
đức Phật Bảo Tạng Như Lai, và Tăng đoàn của Ngài trong
ba tháng. Và đem những công đức đã làm trong ba tháng như
vậy đều hồi hướng về Vô Thượng Bồ Đề, cầu được
cõi Phật thanh tịnh trang nghiêm, vị vua này ở trước đức
Phật Bảo Tạng mà phát nguyện rằng:
"Nay
con nguyện khi con thành Phật, làm sao đặng một thế giới
đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là
sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ
và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy
chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường
dữ, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân
tốt đẹp.
Con
nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành
đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn
bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa.
Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai
trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng
lâu dài, không kể xiết đặng.
Con
nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp,
không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm
mùi bay các hướng.
Con
nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng
ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút
dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường
và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.
Con
nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng
tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ
hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm
tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như
trong cõi nhơn gian vậy.
Con
nguyện cầu được cõi Phật như vậy, đặng từ rày về
sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự
hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng
đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác,
phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem
thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của con.
Con
nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế
giới khác, đã có tu tập thiện căn, hể nghe danh hiệu con
mà muốn sanh về cõi con, đến khi lâm chung đặng vãng sanh,
chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai
các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.
Con
nguyện khi con thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế
giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về
cõi
con, thì đến khi mạng chung, tcon và hàng đệ tử đều hiện
thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.
Con
nguyện khi con nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những
người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu con mà
chăm lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành
Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không
khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.
Bạch
Đức Thế Tôn! Con nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng
sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì
con mới chịu thành Phật".
Do
những lực này, nên nay mới có cõi Cực lạc trang nghiêm như
vậy.
Khi
vua Vô Tránh Niệm ở trước đức Phật Bảo Tạng phát lời
nguyện trên xong. Đức Phật liền khen vua rằng:"Hay thay! Hay
thay! Đại vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh.
Đại vương hãy xem qua hướng Tây, cách đây trăm ngàn muôn
ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu,
giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay
đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy Pháp Đại thừa,
giáo hóa các người Thượng căn, chứ không diễn thuyết mấy
Pháp quyền tiểu.
Trong
cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng
không có một người nữ nhân. Nhưng y báo và chánh báo của
Phật Tôn Âm Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất
xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì
Đại vương có thệ nguyện muốn cõi thanh tịnh, nên nay Ta
đổi hiệu Đại vương là Vô Lượng Thanh Tịnh. Khi Vô Lượng
Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn Âm Vương
Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười
trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp,
thì cõi Tôn Thiện Vô Cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh
có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương
Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau khi Đức
Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng sa kiếp
và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di lâu Quang Minh đổi
tên lại là: An lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh Tịnh
chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là: A Di Đà
Như Lai, sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh
trong thế giới mười phương về đó, rồi giáo hóa cho thành
Phật đạo tất cả". (Bi Hoa Kinh)
Cho
nên cõi nước Cực Lạc là do Đức Phật A Di Đà, trong khi
tu nhân đã phát nguyên được thế giới thanh tịnh và trang
nghiêm mà có được. Ngài cũng như chúng ta tu đạo mà thành
chớ không phải từ đâu đến. Ngài có đại trí đại tuệ,
biết cảnh đời là giả tạm chẳng có thật, cho nên đời
đời ngài đều tu theo giáo pháp mà chư Phật đã dạy cho
Ngài. cũng như chúng ta là chúng sanh đầy nghiệp chướng,
nhưng nếu thành tâm sửa đổi, theo giáo Pháp của Phật mà
tu hành thời cũng sẽ được thành Phật trong tương lai.
Cho
nên khi tu đạo là cần phải chuyên nhứt, hành động và lời
nói phải khế hợp với nhau, phải thật tâm tu hành thì ai
ai cũng có thể thành Phật cả.
Vua
Vô Tránh Niệm, khi đã phát nguyện trước Đức Phật Bảo
Tạng như thế xong, ngài trải qua vô số kiếp, để tu hành
để đạt được cõi nước thanh tịnh trang nghiêm, mà không
thối thất. Lại có kiếp nọ, khi ấy có đức Phật ra đời
hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai. Nước tên là diệu hỷ,
có vua tên là Nguyệt Thượng Luân Vương, hoàng hậu tên là
Thù Thắng Diệu Nhan, vua và hoàng hậu sanh ra ba người con,
là Nhật Nguyệt Minh, người con thứ hai tên là Kiều Thi La
và người con thứ ba tên là Nhật Đế Chúng.
Lúc
đó, vương tử Kiều Thi La, bỏ ngôi vương tử của mình,
theo Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai xuất gia, làm Tỳ Kheo,
Pháp Hiệu là Pháp Tạng. Khi Đó, pháp Tạng Tỳ Kheo ở trước
đức Phật Thế Tự Tại Vương mà phát ra 48 đại nguyện
rộng lớn, nguyện khi thành Phật làm lợi ích, độ khắp
tất cả chúng sanh trong mười Phương, nếu như có một nguyện
nào không được viên thành, thời Tỳ Kheo Pháp Tạng nguyện
không thành Phật. Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, quả
đất rúng động, giữa không trung có tiếng khen rằng:
"Pháp
Tạng quyết định sẽ thành Phật hiệu là A Di Ðà".
Cho
nên, Ngài đã trải qua vô số kiếp tinh tấn tu hành, để
trang nghiêm cõi nước của mình mà không mệt mỏi. Và những
lời nguyện của Ngài đã được viên mãn thành Phật hiệu
là A Di Đà đã được mười kiếp rồi (Kinh Phật thuyết
A Di Đà).
Cũng
trong kinh Phật Thuyết A Di Đà đức Thích Ca Mâu Ni có dạy:
" vì thọ mạng của vị Phật này không thể lường được
là bao nhiêu nên hiệu là A Di Đà. Lại nữa, hào quang của
vị Phật này, chiếu thấu đến khắp mười phương không
gì làm trở ngại được nên hiệu là A Di Đà".
"Quán
Thế Âm Bồ Tát" Quán tức là quán tưởngt, buộc niệm
lại. "Thế" có phải là thế gian không? Chính là thế gian
. "Âm" là Âm Thanh vậy.
Đã
nói Quán là quán xét, buộc niệm, nhưng ở đây tôi xin giải
chữ Quán thành hai nghĩa, nghĩa thứ nhứt là suy xét và nghĩa
thứ hai là niệm.
Quán
Thế Âm Bồ Tát là một vị Bồ Tát cứu khổ, chuyên quán
xét tâm nguyện của chúng sanh mà đến, Ngài là một vị Bồ
Tát hành hạnh từ bi. Hễ có chúng sanh thọ khổ mà còn nhớ
đến danh hiệu Ngài, nghĩ tưởng đến Ngài thời mọi thứ
khổ đều được tiêu diệt, mọi việc cũng không sanh.
Vậy,
Quán Thế Âm chính là quán âm thanh của loài hữu tình mà
đến. Danh hiệu của Ngài là như vậy. Tại sao chúng ta phải
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát? Bởi vì đối với chúng sanh ở
cõi Ta-bà Ngài có nhân duyên rất lớn. Ngài là vị Bồ-tát
tầm thanh cứu khổ và cứu nạn.
Chúng
ta niệm câu Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, thì trước hết chúng
ta phải hiểu ý nghĩa câu này. Nam mô là tiếng Phạn, có nghĩa
là quy mạng, Quán là quán tưởng, lấy diệu tưởng để quán
tưởng. Ngài Quán Thế Âm, vì Ngài có loại trí huệ
chơn chánh, cho nên đối với hết thảy mọi âm thanh của
thế gian Ngài đều hay, đều thấy, không hề bị lầm lẫn.
Chữ Thế là chỉ thế gian. Âm là âm thanh. Ngài Quán Thế
Âm Bồ Tát tu pháp môn phản văn văn tự tánh, cho nên Ngài
dùng tâm để quán sát tiếng kêu cứu của các chúng sanh trong
thế gian. Một khi Bồ Tát nghe được sẽ tức khắc phân thân
đến nơi để cứu độ nạn nhân ra khỏi bể khổ, thoát
đượcmọi phiền muộn của chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế Âm
giống như mẹ hiền của chúng ta, con cái muốn được những
gì, thời mẹ đều cho cả.,
Như
nếu muốn được Ngài cứu giúp thì chúng ta phải thực lòngmà
niệm, vì do có đủ tâm chơn tín, chí tah2nh như vậy, thời
tác dụng của sự cảm ứng ấy mới đưc phát sanh. Lúc đó
Bồ Tát nhĩ căn thanh tịnh của mình, mà nghe âm thanh của
quí vị, là những tiếng cầu cứu tha thiết, nên Ngài phân
thân của mình mà đến cứu giúp quí vị. Nhưng trái lại,
qúi vị niệm Ngài mà không lòng chơn tín, niệm với tâm không
thành khẩn, với những ý nguyện cầu danh lợi, thời không
thể nào mà có sự cản ứng được.
"Bồ-tát"
là tiếng Phạn, nói cho đủ là Bồ đề tát đỏa dịch
là Giác hữu tình. Giác là giác ngộ, hữu tình chỉ chúng
sanh. Giác-hữu-tình tức là một chúng sanh trong số người
giác ngộ, hoặc là người giác ngộ trong số chúng sanh
Những
sự việc mà vị Bồ Tát này, làm lợi ích cho người không
thể nói cho hết được, Vị Bồ tát này có đủ diệu dụng
để thỏa mãn nguyện vọng của loài hữu tình. Trong Kinh Diệu
Pháp Liên Phẩm Phổ Môn, Đức Thế Tôn đã nói rất rõ về
hạnh nguyện của vị Bồ Tát này.
Tuy
nhiên, nay ở đây chúng ta đang học về cách trị lành bịnh
sanh tử. Cho nên cũng phải cần học y với vị Bồ Tát này
nữa, không phải Ngài chỉ có oai thần cứu khổ ban vui mà
thôi . trái lại Ngài còn có đủ thần dược để trị lành
bịnh cho chúng ta. Như hôm nay chúng ta học cách để thành
Phật, nếu không giới thiệu vị Dược Vương này với
quí vị, thời là chưa được trọn vẹn, nên nay cũng cần
phải nói ra. Vì sao? Vì không nói quí vị sẽ không biết,
mà chỉ biết là vị Bồ Tát này chỉ có oai thần cứu khổ
mà thôi, chỉ thấy được cơm thời không thể hết đói,
đói thời phải ăn cơm, cho nên cần phải nói, để mọi người
đều được no.
"Quán
Thế Âm" Quán chính là niệm, vậy là niệm cái gì? Tức là
cái niệm Phật tánh, Phật tánh thời ai cũng có, nên vị Bồ
tát này có thể biết hết tâm niệm của chúng sanh, mà không
sai khác, cho nên ngài mới có thể cứu độ họ, nếu không
thời không thể độ được họ. Có thể nói tất cả đều
sống trong thể của Ngài, nên mỗi mỗi một tâm niệm gì
mà chúng sanh khởi, Ngài đều biết rõ.
Mà
muốn quán biết được tâm niệm của tất cả mọi chúng
sanh, nên Ngài phải Quán cái tâm của mình trước, nghĩa là
phải lau chùi tấm gương trong sáng của tự tánh, vì một
khi nó được trong sáng thời có thể chiếu thấy hết cảnh
vật xung quanh. Vị Bồ Tát này ở nhân là siêng năng tinh tấn
lau chùi tự tánh, nên quả là Ngài có thể biết hết mọi
tâm niệm của chúng sanh.
Tên
của Bồ Tát này là Quán Thế Âm, như vậy có nghĩa là quán
âm thanh của tự tánh ở bên trong, "Thế" chính là tâm niệm
của chúng sanh cũng chính là tự tánh của, chớ không nhứt
thiết là thế gian, mà hiểu như thế nào đi nữa thời đều
đồng thể đại bi mà thôi. Quán Thế Âm cũng chính là quán
cái âm thanh thanh tịnh Phật tánh của mỗi chúng sanh đều
có, nghĩa là sao? Nghĩa là quán những âm thanh chơn thật, chơn
thật của tự tánh, mà chơn thật của tự tánh cũng chính
là không có một âm thanh nào, vì nó vốn là vô ngôn, đã
là vô ngôn nên không còn có một âm thanh, mùi vị nào, cho
nên mới được gọi là Quán Thế Âm.
Cho
nên khi quí vị niệm Bồ Tát Quán Thế Âm , thời cần phải
quán cái tâm thông của Ngài, nghĩa là cần phải thành tâm
mà niệm, chí thành mà niệm, như vậy mới đúng lời Phật
dạy, " người niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, dù vào lửa, lửa
cũng chẳng đốt đặng". Khi niệm cần phải nhứt tâm, đem
ba độc an trú vào danh hiệu Ngài, thời muốn được gì, Ngài
cũng toại cho quí vị. Vì là cùng một thể, cho nên có gì
để cho, cái gì của anh, cái gì không phải là của tôi, đều
không có. Cần phải hiểu rõ, như vậy mới thật sự là niệm
Quán thế Âm Bồ Tát vậy.
"Đại
Thế Chí Bồ Tát" Ðại Thế Chí Bồ Tát là một trong Tam Thánh
ở thế giới Cực Lạc Tây Phương mà đức giáo chủ là Phật
A Di Ðà. Ðức Quán Thế Âm và Ðức Ðại Thế Chí cùng đến
giúp Ngài tiếp dẫn chúng sanh về cõi Cực Lạc. Mà chúng
đang tìm hiểu qua bộ Kinh văn này.
Đại
là lớn, Thế là thế gian, Chí là oai lực vậy. Nghĩa là vị
Bồ Tát này có oai thần không thể nghĩ bàn được. Cũng còn
có nghĩa là , vị Bồ Tát này có oai lực thắng được cái
tâm của Ngài ở nhân địa, nên quả là Đại Thế Chí, Ngài
đã thắng được 84.000 thứ phiền não, cho nên quả được
tự tại không thể nghĩ bàn. Đại Thế Chí Bồ Tát là một
Bồ Tát có uy lực lớn. Làm cho Thiên Ma nghe đến tên của
Ngài thời chúng đều an phận của mình.Cho nên trong kinh Phật
dạy:" Lúc Ðại Thế Chí Bồ Tát đi, thập phương thế giới
tất cả đều chấn động".
Nên
biết được oai thần của vị Bồ Tát này thật là bất khả
thuyết.Vị Đại Bồ Tát không những có oai lực thù thắng,
mà Ngài còn có tên là Vô Biên Quang, là vị Bồ Tát có hào
quang chiếu khắp mười Phương Phật độ. Cho nên biết Ngài
không những chỉ có oai lực không thể nghĩ bàn, mà trí tuệ
của vị Bồ tát này cũng chẳng thể nghĩ bàn.
"Kinh"
là Khế kinh. Sao gọi là Khế kinh? "Khế" có nghĩa là hợp.
"Thượng hợp chư Phật chi lý, hạ hợp chúng sanh chi cơ" tức
là trên thì khế hợp với giaó lý nhiệm mầu của chư Phật,
dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sanh, nên gọi là
Kinh.
Kinh
cũng gọi là thường, vì những đạo lý trong kinh không thể
thêm cũng không thể bớt, đó là đạo lý chơn như ba đời
tuân theo cho nên gọi là thường.
2.
Biện Thể
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ này lấy thật tướng làm thể, thật
tướng cũng tức là không tướng, không tướng nhưng chỗ
nào cũng có tướng, Phật Pháp thật kỳ diệu, cho nên chúng
ta phải dùng ba nghiệp thanh tịnh mà suy gẫm cái đạo lý
tuyệt diệu trong đó.
3.
Minh Tông
Kinh
này lấy Quán Phật tam muội hay trì danh Phật làm tông. Trì
danh niệm Phật là một pháp môn rất trọng yếu trong thời
nay. Trong bộ kinh này phần nhiều thì lấy sự quán tưởng
làm tông, nhưng cũng có phần dạy phải niệm danh hiệu Phật.
Tông
chỉ của bộ kinh này là Độ sanh, chúng sanh nào tu theo cách
quán tưởng trong kinh đã dạy thì nhứt định sẽ được
an vui trong mùi vị giải thoát mà không sanh vào đường ác
nữa, diệt được vô lượng tội trong vòng sanh tử. Cho nên
nói bộ kinh này thật là không thể nào nghĩ bàn. Phải phát
tâm tinh tấn lên để cùng cặp bến bờ giải thoát.
4.
Luận Dụng
Bộ
kinh này có năng lực gì? Đó là bất thối, là vãng sanh; Một
khi được vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì còn lo lắng
những gì nữa chứ? cho nên được vãng sanh chính là đạt
được quả vị bất thối chuyển. Pháp môn tịnh độ là
vua trong các pháp môn trong đời hiện tại đấy. Trong thời
bây giờ mà tu các pháp môn khác thì thật không được an
toàn trọn vẹn lắm, trái lại nếu tu theo pháp môn tịnh độ,
nương tha lực của đức Phật A Di Đà thì được an toàn
hơn, vì chúng ta đã mua bảo hiểm cho chính mình rồi, bằng
sáu chữ đại hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật. Muốn đăng ký
để mua bảo hiểm này, quí vị chỉ cần có Tín Hạnh Nguyện,
thì sẽ được. Muốn chứng được quả vị bất thối chuyển
thật không phải là chuyện dễ. Nhưng đối với những ai
thành tâm chuyên nhứt tham quán sáu chữ đại hồng danh này,
thì sẽ được mà không có gì nghi ngờ. Có được bốn thứ
bất thối, thời cần phải trải qua không biết bao nhiêu đời
tu tập mà có được, nhưng đối với pháp môn này, một khi
vãng sanh thì quí vị sẽ không còn bị thối chuyển nữa.
Bốn thứ bất thối là: 1. Vị Bất Thối, 2. Hạnh Bất Thối,
3. Niệm Bất Bất Thối và Cứu cánh Bất Thối.
Cho
nên bộ kinh Quán Vô Lượng Thọ lấy "Vãng sanh bất thối"
làm lực dụng của kinh này.
5.
Nhiếp Giáo
Kinh
Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng được gọi là Tam Tạng.Vậy
trong ba Tạng, Kinh này thuộc về Tạng nào? Kinh này thuộc
về Kinh Tạng và Luật Tạng vì trong đó cũng có nói về Giới
Luật. Kinh Tạng thì thuộc về Ðịnh Học, Luật Tạng thuộc
về Giới Học, và Luận Tạng thì thuộc về Huệ Học. "Thừa"
ở đây là Ba Thừa: Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ
Tát Thừa. Kinh này thuộc về Bồ-tát thừa, cơ duyên được
độ đều là Bồ-tát có đủ căn tánh Đại thừa.
Truyền
Dịch Sử Giả:
Đời
Tống Văn Đế, niên hiệu Nguyên Gia, ngài Cương Lương Gia
Xá, đến Dương Châu dịch từ Phạn ngữ ra Hán văn.
Trước
khi vào kinh văn chúng ta cũng làm như thường lệ, là để
ba nghiệp thanh tịnh mà đảnh lễ Tam Bảo ba đời. Và niệm
người được nói trong kinh, niệm người nói ra bộ kinh này.
Nam
Mô Thập Phương Thường Trú Tam Thế Nhứt Thiết Phật.
Nam
Mô Thập Phương Thường Trú Tam Thế Nhứt Thiết Tôn Pháp.
Nam
Mô Thập Phương Thường Trú Tam Thế Nhứt Thiết Hiền Thánh
Chúng.
Nam
Mô A Di Đà Phật.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam
Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam
Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam
Mô A Nan Đà Tôn Giả.
Nam
Mô Liên Trì Hội Thượng Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát,
Nam
Mô Bổn Sư Hòa Thượng Tuyên Hóa, Tỳ Kheo Bồ Tát, tác đại
chứng minh.
Xem
Thêm Kinh Văn:
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ - Ngài Cương-Lương Gia-Xá dịch -
Việt dịch : Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật, HT. Thích Trí Tịnh Việt Dịch