Thiền
Thất Khai Thị
Thế nào
là tự tại ?
"Quán-Tự-Tại
Bồ-tát, hành thâm bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến
ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách."
Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa đã giảng xong ngày thứ ba vừa qua. Hôm nay, nhân
dịp khai mạc khóa Thiền thất mùa đông, tôi xin giảng cho
đại chúng nghe câu mở đầu của Tâm kinh, mà cũng là tinh
yếu của kinh này.
Bồ Tát Quán
Tự Tại chính là Ngài Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngài chứng được
nhĩ căn viên thông. Ngài chứng như thế nào? Ngài vốn tu pháp
"phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo." Nguyên
do bởi Ngài biết cách lắng nghe trở lại cái tự tánh nên
Ngài mới được tự tại.
Gọi là tự
tại khi nào người ta tới được cảnh giới không người,
không ta, không chúng sanh, và không thọ giả. Cảnh giới đó
ở đâu? Nơi nào thì có tự tại? Nơi nào thì không có?
Ở địa
vị các bậc thánh thì có tự tại, còn ở địa vị phàm
phu thì không có tự tại. Tại sao vậy? Tại vì các vị thánh
không còn vướng vào bốn tướng, tướng nhân, tướng ngã,
tướng chúng sanh, tướng thọ giả, nên các vị thánh được
tự tại. Phàm phu thì hãy còn vướng vào các tướng này,
do đó mới không có tự tại.
Chúng ta là
kẻ tu hành, như nếu không thực hiện được bốn không đối
với các tướng đó, thì chẳng bao giờ có thể chứng được
sự tự tại, và dứt khoát chúng ta phải quét trừ ba tâm
và bốn tướng. Ba tâm là nói về tâm quá khứ, tâm hiện
tại và tâm vị lai. Cả ba tâm đều bất khả đắc. Tâm quá
khứ bất khả đắc! Tại sao lại chẳng thể nắm bắt được?
Tại vì nó đã qua rồi, đâu còn nữa mà nắm bắt? Tâm hiện
tại, thì khi ta vừa nói xong về cái tâm đó, nó đã trở
thành quá khứ rồi, chẳng thể nắm bắt được nữa. Còn
tâm vị lai, thì vì nó chưa tới, nên nó chưa hiện hữu, vậy
làm sao nắm bắt được nó? Vậy là cả ba tâm đều chẳng
thể nắm bắt. Rồi đối với bốn tướng, quý vị cũng thực
hiện được bốn không, tức quý vị đã có thể quán tự
tại.
Thiền thất
cốt để làm gì? Ðể quán tự tại! Ai ai cũng phải quán
tự tại. Ai có thể tự tại thì người đó quán tự tại.
Ai chẳng tự tại thì người đó chẳng phải quán tự tại.
Quán tự tại chẳng phải là của riêng của Bồ-tát Quán
Thế Âm, hết thẩy mọi chúng sanh đều có thể là Quán Tự
Tại.
Chúng ta ngồi
thiền là để quán sát mình có thể tự tại hay không. Nếu
là tự tại quý vị sẽ soi thấu năm uẩn (sắc, thọ, tưởng,
hành, thức) đều không, tức là thực hành sâu xa bát-nhã
ba-la-mật. Một khi thực hành sâu xa bát-nhã ba-la-mật, quý
vị mới có thể soi thấu năm uẩn đều không. Có như vậy
quý vị mới vượt qua được mọi khổ ách. Mọi khổ ách
đã vượt qua, lúc đó mới chứng đắc tự tại.
Nhân
khóa Thiền thất 98 ngày tại Phật Giáo Giảng Ðường,
San Francisco
(tiền thân của Kim-sơn Thánh Tự),
từ ngày
15 tháng 11 năm 1970 tới ngày 23 tháng 2 năm 1971.
Hãy
Trở Về Quê Hương Của Chúng Ta
Chẳng riêng
ngài Quán Thế Âm với chúng ta là cùng một thể, mà cả chư
Phật mười phương và chư vị Bồ-tát trong mười phương
với chúng ta là cùng một thể. Tuy nhiên, chúng ta với chư
Phật chẳng phải là một thể. Tại sao như vậy? Nghĩa này
giống như đoạn sau đây trong kinh Pháp-Hoa:
"Có một
anh chàng hết sức nghèo khó. Cha anh thì lại là một trưởng
giả giầu có vô cùng. Nhưng anh đã bỏ nhà đi lưu lạc tha
phương, và không nhận ra lối trở về quê quán, do đó, có
một ngày, anh gặp cha anh mà không nhận ra đó là cha mình.
Tại sao vậy? Bởi vì anh đã xa cha anh một thời gian quá lậu
rồi đến nỗi khi gặp lại anh không biết đó là cha mình."
Lý do chúng
ta không hợp cùng một thể với chư Phật và chư Bồ-tát
cũng giống như trường hợp anh chàng nghèo khổ không nhận
ra cha của mình, như vừa kể. Chúng ta tu đạo, thay vì phải
xa lìa mộng tưởng điên đảo, hướng tới Niết-bàn rốt
ráo, chúng ta lại xa lìa pháp thân là cha mẹ chúng ta, rồi
hướng ra ngoài lang thang ăn xin, để không tìm ra được lối
trở về quê, thật là đáng thương biết bao!
Phải nhớ
rằng chúng ta với Phật và Bồ-tát là người trong nhà, cho
nên Phật mới nói: "Hết thảy chúng sanh, đều có Phật tánh,
đều có thể thành Phật." Nay chúng ta ra ngoài cam làm người
nghèo khổ, quên cha mẹ, quên quê nhà, cha mẹ chúng ta là pháp
thân, chính là Phật và Bồ-tát. Họ đều mong mỏi chúng ta
mau sớm trở về quê nhà - nơi cõi tịnh độ Thường Tịch
Quang.
Bây giờ
chúng ta ngồi thiền - thiền cái gì? Chính là tìm lại cha
mẹ pháp thân. Gọi là: "Bể khổ vô biên, hồi đầu thị
ngạn," nghĩa là chỉ cần quay đầu lại là có thể trở về
quê hương gốc cũ. Bởi ý nghĩa trở về quê quán nên mới
có khóa thiền mùa đông 98 ngày này vậy.
Một
Trăm Ngày Thiền Thất
Một khóa
thiền kéo dài 98 ngày, ở một nước phương Tây này, tuy trong
tương lai chưa hẳn là vô song, nhưng tính đến nay phải nói
là chưa từng có. Chính là: chứng kiến một chuyện chưa từng
thấy, nghe một chuyện chưa từng nghe! Mấy ngàn năm nay thực
sự chưa hề có một cuộc tu tập nào khổ công như vậy!
Sáng sớm, từ hai giờ đã bắt đầu ngồi thiền, xen vào
giữa là một giờ nghỉ, cho đến đêm 12 giờ mới ngủ. Vậy
là mỗi ngày dụng công trọn 21 tiếng đồng hồ. Bởi vậy
mới nói là một khóa thiền chưa từng có.
Quý vị tham
dự khóa thiền này, tất phải khảo nghiệm, cố gắng chịu
đựng, để từ đầu thông suốt cho tới cuối, chớ không
thể nửa chừng bỏ dở. Nếu không thì công phu bỏ ra sẽ
thành uổng phí hết, chẳng được chút gì, lại cô phụ bao
nhiêu tâm nguyện của mình lúc khởi thủy. Có câu nói: "Nếm
mùi cực khổ trong cái khổ, mới trở thành kẻ thượng nhân."
Có như thế mới là kẻ siêu việt trong hàng Phật tử chân
chánh.
Khóa thiền
thất này lại khiến cho tôi vui mừng vì có mấy vị Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo-ni phát tâm "dạ bất đảo đơn," nghĩa là tới
giờ ngủ, họ không trở về phòng mà ngồi luôn tại ghế
thiền nghỉ. Cách thức tu trì như thế thực quả tại Tây-phương
chưa từng có. (Sách kỷ lục có ghi: Bây giờ tất cả các
pháp sư tại Vạn Phật Thành đều phát nguyện giữ đúng
"mỗi ngày một bữa (ăn), đêm không ngã lưng" (nhật trung
nhất thực, dạ bất đảo đơn). Tinh thần như vậy thật
đáng ngưỡng mộ.
Khi ở Hương-cảng,
tôi đã từng tham dự mười tuần thiền thất. Trong khóa tu,
có cả một vị trưởng lão mang râu - Hòa-thượng Minh Quán,
cũng có dự nữa. Ðó là một vị lão tu hành, còn tôi thì
không. Chúng tôi cùng nhau ngồi đủ bẩy mươi ngày, kết quả
giữa chúng tôi không ai hơn ai kém.
Giữ
Ðúng Quy Củ Thiền Ðường
98 ngày Thiền
thất sắp sửa bắt đầu. Trong số các vị xuất gia, mỗi
ngày sẽ có một vị Duy-na, phụ trách các công tác khai tĩnh,
chỉ tĩnh; lại có thêm một vị đương trị để lo cung cấp
nước trà. Mỗi ngày ba lần dùng trà, hay bốn lần cũng được,
tùy tiện theo tình hình, không nhất định, "vô định pháp"
mà! Bởi mọi người tận lực dụng công thiền định, nên
khí hỏa bốc lên, do đó uống trà nhiều có thể hạ hỏa
xuống. Tuy nhiên, phải chú ý! Chớ có làm bể ly trà. Quý
vị phải biết rằng Hòa-thượng Hư Vân khi xưa đánh rớt
chén trà, nghe tiếng chén bể mà khai ngộ, đó chỉ là một
việc không cố ý. Còn người nào cố ý làm bể ly trà thì
vĩnh viễn không bao giờ có thể khai ngộ được, vì chính
quý vị đã cố ý như thế. Cho nên nói: "hữu tâm thị vọng
tưởng, vô tâm thị cảm ứng." Quý vị không có lòng nghĩ
làm bể mà hóa ra làm bể, vậy mới hay đó!
Trong lúc
ngồi thiền, không người nào được nói chuyện. Mỗi người
tự mình chiếu cố thoại đầu của mình, tự mình dụng công.
Trông thấy bất cứ ai, cũng mặc kệ. Tại sao? Bởi không
người, không ta mà! Ai tới thì tới, ai đi thì đi, chỉ chuyên
tâm chuyên chí tham câu "niệm Phật là ai?" trong thời gian 98
ngày ắt có kết quả.
Trong kỳ
thiền thất mùa đông này, những ai chưa khai ngộ sẽ bị
phạt một trăm ngày quỳ hương trước ban thờ Phật. Còn
đối với vị nào khai ngộ, tôi xin thiết một đại tiệc
khai ngộ, muốn ăn thức gì sẽ có thức ấy, bảo đảm cả
trăm vị đầy đủ. Có câu nói: "Thiên trù diệu cúng, thiền
duyệt tô-đà." Lúc ấy được coi là giờ phút quang vinh nhất
trong đạo Phật. Quý vị nhớ! Muốn khai ngộ, ta phải giữ
quy củ đó! Như không muốn khai ngộ, thì xin cứ tùy tiện,
không ai bó buộc quý vị.
Bỏ
Hết Lòng Ðố Kỵ Và Kiêu Mạn
Bây giờ
thiền thất bắt đầu. Bao nhiêu thứ gọi là đố kỵ, kiêu
mạn, quý vị phải bỏ xuống hết. Bây giờ tôi khảo nghiệm
thử xem quý vị có thực lòng buông bỏ các thứ đó hay không.
Khảo bằng cách nào? Ðầu tiên là đánh bằng hương bản.
Bị đánh mà không biết đau, thì cho là được, là đủ tư
cách tham gia ban thiền thất mùa đông này.
Thế nhưng,
không biết đau thì trơ trơ như cái bàn, không có tri giác;
còn biết đau tức là không buông bỏ được. Vậy tại chỗ
này, chúng ta hãy tham xem - làm cách nào đây?
Bây giờ
kẻ bị đánh không bỏ chạy mới là kẻ đại trượng phu.
Ðã là đại trượng phu, thế tất phải có khí độ anh hùng,
không sợ khốn khổ, không sợ gian nan, đầy tinh thần chịu
đựng khắc khổ, trong thời gian 98 ngày, không thối chuyển,
từ đầu thông suốt tới cuối. Phải có một niềm quyết
tâm, coi chết nhẹ như không, như vậy mới thành công được.
Trước khi
vào thiền, tôi có bài kệ nầy:
Ðại
địa xuân hồi bách vật sinh
Phấn toái
hư không tự tại ông
Tòng thử
bất lạc nhân ngã tướng
Pháp giới
tuy đại tận bao dung.
Ðại địa
xuân hồi bách vật sinh: Kỳ thiền thất này chính là khí
tượng của xuân về. Trăm loài hân hoan nẩy sinh tươi tốt.
Mọi người đều gặp cơ hội khai ngộ và ánh sáng tự tánh
cùng xuất hiện.
Phấn toái
hư không tự tại ông: Hư không vốn là vô hình, nếu quả
hư không mà tan vụn (phấn toái) thì hư không cũng không có
nữa. 'Tự tại ông' lúc đó, mới thật là đúng tư cách!
Tòng thử
bất lạc nhân ngã tướng: Từ đó trở về sau sẽ chẳng
còn vướng vào nhân tướng, chẳng vướng vào ngã tướng.
Nhân không, pháp cũng không. Nhân pháp đều không, thế là
tự tại, cũng không còn chấp ngã, chấp pháp. Không chấp
trước, chính là giải thoát.
Pháp giới
tuy đại tận bao dung: Tuy pháp giới là không bờ không bến,
nhưng ta vẫn có thể ôm trọn pháp giới vào trong, nói cách
khác, so với pháp giới ta còn to lớn hơn nữa. Thế mới là
khả năng của kẻ đại trượng phu.
Tự mình
phải dụng công của mình. Công phu gì? Ðó là tham câu: "Niệm
Phật là ai?" hay tham: "Trước khi cha mẹ sanh ra thì bổn lai
diện mục ta là gì?" hoặc câu: "Thế nào là chẳng thể không
có!" Nỗ lực dụng công, nhất định sẽ có tin hay (khai ngộ).
Bây giờ bắt đầu vào thất! Vào! Vào! Vào! Thiền thất chính
thức bắt đầu, cấm nói chuyện!
Các
Vị Ðều Là Thiện Tri Thức
Các vị thiện
tri thức! Tại sao lại xưng hô quý vị là thiện tri thức?
Nếu chẳng phải là thiện tri thức thì quý vị chẳng khi
nào đến Bát-nhã đường (thiền đường). Phàm đến Bát-nhã
đường để tu hành thì tất cả đều là thiện tri thức,
do đó mới xưng hô quý vị là thiện tri thức.
Bát-nhã là
tiếng Phạn (Prajna), dịch nghĩa thành trí huệ. Quý vị đều
là bậc đại trí huệ mới đến Bát-nhã đường. Tại sao
là đại trí huệ? Bởi trong các kiếp quá khứ quý vị đã
từng gieo nhiều căn lành, nhiều hạt giống Bồ-đề. Cũng
chính là trong quá khứ, quý vị đã đời đời kiếp kiếp
cúng dường Phật, cúng dường Pháp, cúng dường Tăng. Ðã
tích lũy những công đức như thế, thì ngày nay nhân duyên
thành tựu, mới tham dự khóa thiền. Ðây chẳng phải là nhân
duyên nhỏ, mà là nhân duyên to lớn, cũng là nhân duyên của
việc liễu sinh thoát tử, mà cũng có thể nói là nhân duyên
thành Phật. Bởi các lý do trên nên mới xưng hô quý vị là
thiện tri thức.
Thiện tri
thức chính là biết con đường thiện, không biết con đường
ác. Nếu biết đường ác thì phải kêu là ác tri thức. Thế
nào là thiện tri thức? Thiện tri thức là chánh tri chánh kiến,
hành động hợp với Phật pháp, tu tập chiếu theo Phật pháp,
từng hành động cử chỉ đều tương ứng với Phật pháp.
Thế nào là ác tri thức? Ác tri thức thì tà tri, tà kiến,
chuyện gì cũng đi ngược với Phật pháp, tức như câu nói
"bội đạo nhi trì," quay lưng với đạo mà đi.
Nay quý vị
tụ hội tại Bát-nhã đường, nhất tâm thiền định để
cầu khai ngộ và đại trí huệ. Nếu thực sự sáng suốt,
chân chánh giác ngộ, quý vị sẽ tuyệt đối không làm chuyện
điên đảo nữa. Giác ngộ và sáng suốt như vậy nhất loạt
đều do công phu tu hành mà thành tựu. Bởi vậy kẻ tu hành
không nên sợ khổ, sợ khó khăn. Khi đã ngồi thiền thì chân
đau cũng mặc, lưng mỏi cũng không quan tâm, phải giữ vững
tinh thần đại vô úy, sống chết với thiền, sống chết
với tu, tuyệt đối không thể vì đau mỏi mà đầu hàng,
phải làm kẻ đại trượng phu, đại anh hùng.
Kẻ tu hành
cần phải có một sự kiên nhẫn không lay chuyển, một ý
chí không lùi bước, trước mọi nghịch cảnh tuyệt đối
không cúi đầu, tuyệt đối không bị khuất phục. Chân đau
lại
càng cố chịu đựng, lưng mỏi càng cố gắng. Buồn ngủ
ư? Mở to hai mắt, thách thức ma ngủ. Càng buồn ngủ càng
tốt, đàng nào cũng tham, tham cho tới lúc dương khí đầy
đủ trở lại, thì ma ngủ phải bỏ chạy. Nếu như chúng
ta không chiến đấu với ma ngủ, thì ta sẽ muôn đời làm
nô lệ cho nó, nghe theo mệnh lệnh của nó và sẽ chịu nó
sai khiến.
Nhận
Ra Bổn Lai Diện Mục
Mục đích
chúng ta tham gia thiền thất là cầu khai mở trí huệ, trở
về tận cùng gốc gác của mình, tuyệt đối phải nhận ra
bổn lai diện mục.
Bổn lai diện
mục của chúng ta ra sao? Cùng với chư Phật là một, chẳng
sai khác. Có điều chúng ta là chúng sanh không có trí huệ
nên không nhận ra nó, và cũng từ nguyên nhân đó mà trở
thành điên đảo, quay đầu lộn đuôi, sanh tử trong cảnh
mơ mộng hỗn độn, thậm chí còn biến hiện thêm, khiến
cho đã mê càng thêm mê, đã ở trong mộng còn thêm mộng,
trong chỗ điên đảo còn thêm điên đảo. Vì sao đến nỗi
như vậy? Bởi vì không được gặp thiện tri thức, không
được ai mách bảo lối về quê hương, tức con đường tìm
bổn lai diện mục. Nay rất đông thiện tri thức tụ hội
tại đây, cùng nhau hướng tới con đường rộng lớn, quang
minh để tìm vể bổn lai diện mục. Ðúng là:
Thập
phương đồng tụ hội
Giai kỳ học
vô vi
Thử thị
tuyển Phật trường
Tâm không
cập đệ quy.
Nghĩa là:
Mười
phương cùng tụ hội
Ai nấy học
vô vi
Ðây là trường
tuyển Phật
Tâm không
đậu vinh quy.
Quý vị thiện
tri thức từ mười phương, tới Bát-nhã đường này cùng
nhau học tập pháp vô vi. Bát-nhã đường chính là trường
tuyển Phật. Ai tới được chỗ vô nhân vô ngã thì người
đó được chấm đậu. Ai không buông bỏ nổi, kẻ đó bị
đánh rớt. Ai được tâm không đây? Người đó được đỗ
Trạng nguyên. Lúc đó, áo gấm về làng, rạng rỡ tổ tông.
Như muốn
làm kẻ đại trượng phu, đại anh hùng, vậy phải ngồi xuống
tham thiền, mới có thể đạt mục đích. Ðại anh hùng chính
là bậc đại giác, đại giác chính là Phật. Ngồi thiền
mà đạt tới cảnh giới vô ngã, thì chân có đau cũng không
hay, lưng có mỏi cũng không biết. Trong, không cảm thấy thân
tâm, ngoài, không biết có thế giới, tới lúc đó, trong khoảnh
khắc, bừng lên đại ngộ: vốn là như thế!
Nếu rõ ràng
có ngã, thì có "cái ngã" ở chỗ này. Quý vị ở tại chỗ
này, ai không ở tại chỗ này? Không ở tại chỗ này cũng
là ai đó? Không ai ở tại đây, cũng chẳng ai không ở tại
đây, cho nên gọi là vô ngã.
Nguyên do
vì không có tại, nên mới không có ngã. Nếu còn có tại
thì còn có ngã tại. Có tại thì đúng ra phải là tự tại,
chớ không phải ngã tại. Tự tại không thể có ngã, nếu
có ngã thì không phải tự tại. Có ngã nên mới sanh lắm
chuyện phiền phức, kể ra không thể hết được. Nào, ngủ
chẳng đủ, tinh thần không khoan khái. Ăn chẳng đủ, bụng
không dễ chịu. Mặc không đủ, thân thể ớn lạnh. Bởi
đâu mà có những hiện tượng đó? Bởi chưng có cái ngã.
Muốn không có ngã, chỉ còn một biện pháp, đó là đến
thiền đường mà ngồi thiền, thiền tới thiền lui, thiền
cho tới lúc đạt được vô ngã, đạt được cảnh giới
gọi là: "Vô nhân vô ngã Quán tự tại, phi không phi sắc kiến
Như-lai." Tới lúc đó thì tự tại vô cùng, tự khắc sẽ
biết bổn lai diện mục là như thế nào. Tuy nhiên, tới được
cảnh giới đó chẳng phải dễ dàng. Bởi vậy mới cần phải
gắng sức nhẫn chịu, chịu đựng mọi thống khổ, mọi sự
gian nan. Như quả qua được cửa ải này thì sẽ gặp một
sự thống khoái: chính là ăn bằng niềm vui thiền duyệt,
và sống trong pháp hỷ.
Bất luận
làm một công việc gì, buổi đầu tương đối khó khăn. Lâu
dần, sẽ thành quen, không cảm thấy khó nữa. Ngồi thiền
cũng như vậy. Trong thiền đường, cố gắng chịu đựng,
khi đã chịu đựng được rồi thì không còn cảnh giới nào
làm cho giao động. Vậy là đã có chút ít định lực. Có
một chút định lực tức sẽ có chút huệ lực. Tích tiểu
thành đại, khi huệ lực đầy đủ thì tự khắc khai ngộ.
Tham
Thiền Chính Là Trì Giới
Chúng ta ngồi
thiền, nhất tâm tham, tham "niệm phật là ai?" và giữ vững
câu thoại đầu này, liên miên không nghỉ, mật thiết không
hở. Vậy trong thời gian tham "niệm Phật là ai?" chúng ta có
thể gây được nghiệp xấu chăng? Như là sát sanh, ăn trộm,
tà dâm hoặc nói dối, uống rượu, được chăng? Tuyệt đối
không thể có những chuyện đó. Vậy là trì giới. Có câu
nói: "Bất trì chi trì," chẳng dụng ý trì giới mà tự nhiên
trì giới. Trì giới sẽ sanh định lực, do định mà sanh ra
huệ. Còn như trong thời gian không tham thiền, đầu óc nổi
lên nhiều vọng tưởng, xui khiến người ta có thể sát sanh,
ăn trộm, tà dâm, nói dối, uống rượu, thậm chí có thể
vọng động đủ thứ chẳng kể việc gì. Một niệm sai lầm,
có thể nẩy sanh biết bao nghiệp tội. Ngồi thiền ở đây,
chẳng còn vấn đề gì nữa, mọi thứ đều được giải
quyết, đó là ý nghĩa chẳng dụng ý trì giới mà tự nhiên
trì giới.
Ngồi thiền
ở đây tức là chăm tu giới định huệ. Tu giới định huệ
tức là diệt trừ tham sân si. Cho nên tham thiền bao gồm đầy
đủ các pháp tu, hết mọi pháp đều nằm trọn trong tham thiền.
Chúng ta tham, nhưng phải tham hoạt thiền, càng tham càng có
trí huệ. Chớ có tham tử thiền, càng tham càng ngu si, lấy
mặt trời cho là mặt trăng, há chẳng phải là điên đảo
sao?
Luyện
Thành Thân Kim Cương Bất Hoại
Chúng ta tham
thiền để khai mở trí huệ. Khi chưa tới lúc trí huệ khai
mở, chúng ta nhất định phải gặp khổ. Thí dụ khi ta dùng
lửa lớn để luyện hoàng kim, đốt lên ta sẽ biết thật
hay giả. Người ta nói: "Chân kim bất phạ hỏa luyện," vàng
thật chẳng sợ lửa của lò. Vô luận luyện cách nào, trọng
lượng vẫn không giảm thiểu, mầu sắc lại càng thêm sáng.
Thiền đường chính là một lò luyện lớn. Quý vị đều
là vàng thật, tại nơi đây luyện thành thân kim cương bất
hoại.
Muốn thành
thân kim cương bất hoại, lúc đầu phải chịu khổ đã. Khổ
tận cam lai, sau đó mới có thể đạt được cảnh giới như
vừa kể. Mọi người ráng sức tham đi! Tham đi! Tham cho thấu
suốt, ắt thành thân kim cương bất hoại.
Có người
nói:
- Cái khổ
này, thiệt là chịu không nổi.
Ai biết nó
khổ, ai biết nó đau. Lại có người bảo:
- Tôi biết
khổ, tôi biết đau.
Quý vị là
ai đó? Lại có người bảo:
- Tôi là
chính cái thân thể của tôi.
Thân thể
của quý vị là quý vị, vậy giả sử quý vị chết rồi
thì thân thể của quý vị vẫn còn ở đây chớ? Cớ sao đánh
nó, nó lại không biết đau; chửi nó, nó vẫn nhẫn chịu?
Lại có người bảo:
- Bởi vì
chết rồi nên không còn vấn đề gì nữa!
Vậy thì,
ở đây ta coi như chết rồi vậy, cho nên có câu: "Dục yêu
nhân bất tử, tiên tác hoạt tử nhân," nghĩa là muốn thành
kẻ bất tử, trước hết hãy sống như người chết.
Nay tự ta
hãy làm thành người chết, tức là ta sẽ không có tham, không
có sân và si. Tại sao có tham sân si? Bởi vì quý vị chưa
coi cái thân thể quý vị như một cái thây chết. Nếu đã
chết thì còn tham gì nữa? còn sân gì nữa? Còn si gì nữa?
Bây giờ, tuy quý vị chưa chết, nhưng hãy cứ làm như chết.
Vậy là còn tham cho ai? Sân cho ai? Si cho ai nữa? Cái chết của
tham thiền chẳng phải là chết thiệt. Muốn được khai ngộ,
tất phải chết một lần, sau đó mới luyện thành thân kim
cương bất hoại.
Thiền
Ðường Là Nơi Tạo Thánh Nhân
Hồi đức
Phật Thích Ca tu ở Tuyết-sơn, chỉ ăn một hạt mè, một
hạt mì để duy trì sanh mạng. Vì câu chuyện này mà ai ai
cũng biết tới Tuyết-sơn. Về sau, Phật đến gốc cây bồ-đề
ngồi tĩnh tọa suốt 49 ngày thì Ngài ngộ đạo, chứng được
quả Phật, nên nơi này đã trở thành thánh địa, đúng như
câu nói: "nhân kiệt địa linh." Ðược gọi là thánh địa
cũng là nhờ danh tiếng của thánh nhân. Phàm thánh nhân ở
chỗ nào thì chỗ đó biến thành thánh địa. Kẻ phàm phu
ở chỗ nào, muốn chỗ đó là thánh địa cũng không thể
thành thánh địa được.
Người xưa
có câu: "Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không
bằng nhân hòa." Ở thiền đường chúng ta cùng tu hành với
nhau, đó chính là nhân hòa. Chẳng làm phiền lòng bất cứ
ai, gọi là như pháp. Ðạo tràng như pháp mới được như
vậy. Có đạo tràng mới có chỗ để mà tĩnh tu, và có tĩnh
tu mới được trí huệ. Nếu không có đạo tràng thì dù có
muốn tĩnh tu cũng đành chịu. Bây giờ, may mắn chúng ta có
được đạo tràng, chúng ta phải nghiêm cẩn tu hành mới đúng.
Thánh địa
của chúng ta chính là Bát-nhã đường, nơi chuyên tạo các
thánh nhân - chẳng phải người thường, mà là thánh hiền
cả, hoặc a-la-hán, hoặc Bồ-đề-tát-đõa. Ai là thánh nhân
đều chẳng sợ khổ, chẳng sợ khó. Ai còn sợ khổ, sợ
khó, bây giờ tuy chẳng phải là thánh nhân, tương lai cũng
là thánh nhân. Nói vậy nghĩa là sao? Vốn là, tôi đã từng
có lời phát nguyện: "Phàm các đệ tử đã quy y với tôi,
nhất định sẽ thành Phật. Nếu không thành Phật, ắt là
tôi sẽ chờ họ tới lúc họ thành Phật." Tôi biết chắc
tương lai rồi họ cũng thành Phật, cho nên mới nói sau này
họ sẽ là thánh nhân.
Ðối với
các quý vị, tôi hết sức kỳ vọng, mong quý vị nỗ lực
dụng công, chớ có trễ nải, chớ có phóng dật, giữ gìn
quy củ, y pháp tu tập, để quyết tâm thành kẻ thánh nhân.
Tôi hy vọng trong 98 ngày quý vị thành tựu được quả thánh
nhân kim cương bất hoại.
Ngài Lục
tổ có nói:
Phật
pháp tại thế gian
Bất ly thế
gian giác
Ly giác mịch
bồ đề
Cáp như cầu
thố giác.
Dịch nghĩa:
Phật
pháp ở thế gian
Chẳng (có)
giác (giác ngộ) ngoài thế gian
Tìm Bồ-đề
ngoài thế gian
Chẳng khác
kiếm sừng thỏ.
Căn cứ bốn
câu trên trong kinh văn để phân tích, người tu hành phải
có, mà người hộ pháp cũng phải có. Quý vị! Ðã nguyện
ý xuất gia thì tu pháp, đã nguyện ý tại gia thì hộ pháp.
Ai ai cũng làm hết trách nhiệm của mình, làm tròn phận sự
của mình. Người xuất gia thì thực lòng tu tập, người tại
gia thì thành tâm hộ pháp, mỗi người theo đúng công việc
của mình mà làm!
Hết mọi
pháp đều là pháp Phật, có cái gì để vui mừng hay không
vui mừng? Tham thiền thì ở tại chỗ này dụng công, không
nên mang tâm yêu ghét, mà phải dụng công với tâm bình thường.
Ví dụ như, mặt nước hồ trong tiết xuân, không gợn sóng,
nên các thứ hỗn tạp tự nhiên lắng xuống, làm cho mặt
nước lặng và trong. Tham nhiền cũng giống như vậy, chẳng
có vọng tưởng, thì pháp thân xuất hiện. Mấy câu pháp trên
rất là quan trọng, mong quý vị y theo ý nghĩa đó tu hành,
tức trí huệ sẽ chóng khai mở. Có câu rằng: "Thuyết đích
thị pháp, hành đích thị đạo," nghĩa là, nói ra là pháp,
làm ra là đạo. Nay, biết pháp mà không hành đạo, thì chẳng
đúng chút nào.
Cày
được Phần Nào, Thâu Hoạch Ðược Phần Ðó
Nhân dịp
cử hành khóa thiền này, rất nhiều người không tin có một
nơi nào người ta lại dụng công tu hành như vậy. Có người
thì cho rằng chúng ta nói chơi, có người bảo chúng ta khùng.
Nếu không, sao lại không ngủ, lại ăn ít, mỗi ngày công
phu 21 tiếng đồng hồ? Không thể có chuyện đó, tuyệt đối
không làm được đâu! Ở ngoài người ta phê bình như vậy.
Tuy nhiên đối với chúng ta, nhất định chúng ta sẽ thực
hiện viên mãn, làm cho họ thất kinh một phen và phải thốt
lên rằng: ?! Thật sự tu hành!
Mỗi ngày
một dũng mãnh tinh tấn, tuyệt đối không thụt lùi, để
cho mọi người nhận thấy chúng ta thật sự tu, còn họ thì
bị bỏ lại, làm kẻ lạc hậu. Chúng ta phải tiến lên trước
họ, để thành những người lãnh đạo của họ, đặng dẫn
họ vào con đường tu hành. Muốn thành người lãnh đạo tất
nhiên phải tu hành chân chánh. Trong thời gian tu tập, một
phút cũng không bỏ uổng, từng giờ từng khắc, từng niệm
không quên "niệm Phật là ai?" Ðiều tối kỵ trong việc tu
hành là sự lười biếng. Nếu quả có lười biếng thì không
tới được chỗ đó. Chỗ đó là ở đâu? Là ở chỗ hết
sức mầu nhiệm không thể nói ra được. Cảnh giới đó không
thể nghĩ bàn, như người uống nước, nóng hay lạnh người
đó tự khắc biết, người ngoài không biết được, chỉ
có thể tự mình thể hội mà thôi.
Nếu có cơ
hội gặp khóa thiền, ta phải tham dự cho kỳ được. Dự
một lần, thâu hoạch được một lần. Không ăn, có thể
chịu đói, nhưng không tham gia thiền thất thì không được;
không có áo có thể chịu lạnh, nhưng không tham gia thiền
thất thì không được. Bởi các chư Phật mười phương đều
phải đi qua con đường ấy mới thành Phật quả.
Có người
sợ khổ, không dám tham gia thiền thất, đó là một quan niệm
sai lầm. Trong quá khứ, chúng ta chưa từng gặp những khóa
thiền thất như thế này, thế cho nên chúng ta cứ sanh tử
mãi trong vòng luân hồi. Nếu quả đã từng tham gia thiền
thất, thì chắc chắn chúng ta không vọng tưởng, chắc chắn
không điên đảo; đối với ngũ dục tài, sắc, danh, thực,
thùy, tuyệt đối không tham luyến; coi ngũ dục như năm con
đường dẫn tới địa ngục vậy.
Ngồi tĩnh
tọa tham thiền, khi hỏa hầu tới mức, thì sẽ có một loại
định lực kim cương, khiến cho chúng ta không bị ngũ dục
lay chuyển. Khi đó, tài chẳng ham, sắc chẳng ham, danh chẳng
ham, ăn chẳng ham, ngủ chẳng ham, ngay trong mộng cũng không
còn một ý niệm tham dục, trong mộng mà tâm cũng thanh tịnh,
đó mới là cảnh giới sẽ đạt tới. Rồi kế đó lại dấn
bước thêm tu hành, hành giả sẽ đạt cảnh giới không mộng
để thành tựu quả thánh.
Người ta
trong lúc tỉnh còn làm chủ được mình. Ngoại cảnh có thể
đến dụ, nhưng lý trí kiên cường, định lực sung túc thì
ngoại cảnh cũng không thể lay chuyển. Tuy nhiên ở trong mộng
thì không làm chủ được. Thấy quỷ thì sợ quỷ, thấy hổ
sợ hổ, thấy tiền tài ham tiền tài, thấy sắc ham sắc,
tức là bị ngoại cảnh mê hoặc. Thản hoặc, trong mộng có
thể làm chủ được, nhưng trong bệnh tật thì lại không
được. Hoặc trong khi bệnh tật làm chủ được, đến khi
chết lại làm chủ chẳng được. Muốn làm chủ khi sống
cũng như khi chết, tất phải tham thiền. Dụng công như vậy,
một phần công phu sẽ mang lại một phần thâu hoạch, mười
phần công phu sẽ có mười phần thâu hoạch. Có câu nói:
"Ông tu ông chứng, bà tu bà chứng," ai tu người ấy chứng,
chẳng tu thì chẳng chứng. Giá trị tu hành phải dựa vào
chính công phu chân thật của mình, có như vậy thì mới đi
lại tự do, tâm thể thanh thản, bởi vì trong thế gian không
hề có chuyện không công lao mà được thâu hoạch.
Chịu
Khổ Là Nền Tảng Tu Phật
Ðức Phật
Thích Ca đã thành Phật từ vô lượng kiếp trong quá khứ.
Tuy nhiên, do tâm đại từ đại bi của Ngài muốn cứu độ
các chúng sinh, đặc biệt những ai chưa có tâm trường viễn,
không đủ tâm kiên cố và thành khẩn, do đó Ngài thị hiện
thành Phật để dẫn dắt họ.
Ðể nêu
ra cái yếu tố căn bản, trong sáu năm Ngài tu khổ hạnh tại
Tuyết-sơn. Tại sao phải khổ tu? Bởi khổ tu là nền tảng
để thành Phật. Thí dụ chúng ta xây nhà lầu thì công việc
đầu tiên là làm nền móng cho kiên cố, sau đó mới xây lên
thành lầu cao. Nền móng không chắc thì không thể được,
chẳng khác gì xây nhà trên bãi cát vậy.
Chúng ta ngồi
thiền tại thiền đường này, so với ở Tuyết sơn thì tốt
hơn nhiều lắm. Tuy ăn không ngon, nhưng không đến nỗi đói
ăn, ốm nhom như que củi. So với đức Phật Thích Ca ở Tuyết-sơn
thì dễ chịu hơn biết bao! Nay, chúng ta đã có đủ cơ hội
như thế này, có đạo tràng tổ chức thiền tập như vậy,
chúng ta nhất định phải phấn chấn tinh thần mà ráng sức
tham thiền. Chúng ta phải bắt chước tác phong của Bồ-tát
Vi-đà, oai nghi lẫm liệt, cầm chày kim cương để hàng phục
ma ngủ, chớ không phải để đầu hàng nó. Ðầu gục xuống
trước bụng là không phải tư thế đúng đắn của người
tham thiền. Cũng chớ có học thói con rùa đen, rụt đầu rút
cổ lại, đó cũng chẳng phải oai nghi của người tu thiền.
Dụng công
tham thiền cũng không nên làm quá dữ, hay quá yếu ớt, một
đàng thì thái quá, một đàng bất cập. Tu hành là phải giữ
trung đạo, tránh sự thiên lệch, cho nên có câu nói: "khẩn
liễu băng, mạn liễu tùng, bất khẩn bất mạn tài thành
công," nghĩa là: gấp thì căng, nới thì trùng, chẳng gấp
chẳng nới mới thành công. Cứ như vậy, ngày ngày dụng công,
từng giờ dụng công, không gấp, không nới, dần dà tới
lúc thành công và thành công tức là đạt tới cảnh giới
chẳng thể nghĩ bàn. Ðạt tới cảnh giới đó không quá vui
mừng, mà không đạt được cũng không quá bi ai. Như nếu
quá hoan hỷ, thì ma hoan hỷ lại tới quấy nhiễu làm ta mất
định lực, khiến cho từ sáng tới tối cứ khúc khích cười,
không còn vẻ tự nhiên nữa. Có ai hỏi cười cái gì? Không
biết. Chẳng hiểu tại sao mà cười, như kẻ phát cuồng,
đó chính là ma cuồng ám. Nếu để lòng bi ai quá độ, thì
ma bi ai sẽ tới quấy nhiễu, làm ta mất định lực, khiến
cho từ sáng đến tối cứ thút thít khóc, một cách bất bình
thường. Hỏi tại sao khóc? Nói: "Chúng sanh quá khổ a! Ðáng
thương quá! Tôi muốn cứu độ chúng sanh." Chính mình chẳng
độ được mình, thì làm sao độ được chúng sanh? Ðó chính
là hiện tượng ma bị ai đến ám.
Tại thiền
đường chúng ta chuyên tâm tham thiền, chân có đau cũng ráng
nhẫn. Nhẫn đến cực điểm thì sẽ hết đau. Tại sao? Vì
khổ tận cam lai, sau đó là tốt đẹp, cho nên nói cái khổ
chính là nền tảng thành đạo. Mấy câu sau đây diễn tả
ý nghĩa của cái khổ này:
Bất
kinh nhất phiên hàn triệt cốt
Chẩm đắc
mai hoa phác tỵ hương.
Dịch nghĩa:
Chửa
nếm một phen lạnh thấu xương
Ðâu được
thưởng thức hương hoa mai.
Thế
Nào Gọi Là Kim Cương Bồ Ðề Hải
Thế nào
là kim cương? Kim cương mang ý nghĩa của sự bất hoại. Thế
nào gọi là bồ đề hải? Ðó là nghĩa của biển đại giác.
Thật ra ý nghĩa này so với biển còn sâu hơn, còn xa rộng
hơn nữa. Biển giác này thật là mênh mông không bờ bến,
tóm lại không thể nghĩ bàn. Chúng ta tu pháp kim cương, tu
sao cho tự tánh trong sáng như kim cương, cho tâm thể kiên cố
như kim cương, và cho thân thể cũng bất hoại như kim cương.
Chúng ta tham
thiền tại Bát-nhã đường, chính là tu đại pháp kim cương,
tức là dùng lửa bát-nhã tam-muội thiêu rụi hết các tập
khí, đốt cháy ba độc tham, sân, si luyện thành giới định
huệ. Cách thức thiêu ra sao? Tức là dùng kiên - kiên cường,
dùng thành - thành khẩn, dùng hằng - lâu bền để thiêu. Tu
không ngừng, ngày ngày tháng tháng, sẽ tới lúc tự tánh sáng
suốt xuất hiện. Ý nghĩa đó cũng giống như ánh nắng mặt
trời làm tan tuyết, mỗi ngày tan một ít, lâu dần tuyết
sẽ tan biến.
Tọa thiền
tại thiền đường là làm tan tuyết trong tự tánh. Tuyết
này tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp, nay chúng ta dùng
trí huệ để làm tan nó. Tuyết đó là vô minh phiền não,
nó đương làm vật chướng ngại khiến tâm người tu hành
mất sự thanh tịnh, cho nên nếu không làm tiêu tan nó thì
không xong. Còn có nó, còn nhiều phiền não, như cảm thấy
khổ, cảm thấy đau, cảm thấy không thoải mái chẳng hạn.
Nếu tham thiền mà dụng công, tất có định lực, lúc đó
chân sẽ không thấy đau, lưng không thấy mỏi, đầu không
thấy nhức. Như mọi thứ khổ không còn cảm thấy, vậy là
đánh phá được cửa ải sanh tử, chính là đạt được kim
cương bồ đề hải.
Tới được
biển bồ đề kim cương này, là cùng với pháp giới hợp
làm một. Pháp giới to rộng ra sao? Nói ra không hết, tâm tưởng
cũng không tới được, to lớn như vậy. Kinh Lăng Nghiêm nói
rằng: "Hư không sanh từ trong đại giác, như một cái bọt
ở biển" (Không sinh đại giác trung, như hải nhất âu phát).
Hư không này rốt ráo to rộng ra sao? Thực là không bờ không
bến, không ai biết nổi. Ngày nay tuy các nhà khoa học đã
trình bầy rõ rệt, nhưng vẫn chẳng có thước nào đo được
hư không. Cái rộng lớn của hư không thực là không thể
ước, không thể lường được. Vậy mà đối với biển đại
giác, nó chỉ là một cái bọt mà thôi. Hư không sanh từ biển
đại giác cho nên nói biển đại giác là mẹ của hư không.
Chúng ta phải
trở về nguồn, quay về gốc, cho tới tận biển bồ đề.
Bởi vậy mới có tạp chí do chúng ta xuất bản với tên là
"Kim Cương Bồ Ðề Hải." Thiền đường của chúng ta gọi
là "Kim Cương Bồ Ðề Hải Thiền Ðường," chúng ta thì lấy
tên là Kim Cương Bồ Ðề Hải Nhân. Sau này thành a-la-hán,
sẽ có tên là Kim Cương Bồ Ðề Hải A-la-hán; khi thành Bồ-tát
thì sẽ gọi là Kim Cương Bồ Ðề Hải Bồ Tát, rồi tới
khi thành Phật thì sẽ là Kim Cương Bồ Ðề Hải Phật. Nói
tóm lại, năm chữ Kim Cương Bồ Ðề Hải chính là nhãn hiệu
của chúng ta.
Chúng ta tham
thiền chính là trở về với bồ đề hải. Ngay bây giờ mười
phương chư Phật cùng các vị Bồ-tát, a-la-hán đương ở
nơi đó chờ đợi chúng ta. Chúng ta phải cố gắng dụng công,
tinh tấn dũng mãnh, sao cho chóng đạt tới đích - nơi biển
đại giác, chớ để chư Phật và chư vị Bồ-tát phải thất
vọng.
Các chúng
sanh đều có gốc tích ở biển đại giác, nhưng vì vô minh
mà thành mê hoặc, rồi vì mê hoặc mà tạo ra biết bao nhiêu
nghiệp cho nên mới chịu quả báo luân hồi. Tình cảnh giống
như một hạt bụi nhỏ lơ lửng ở không trung, lúc ở trên,
lúc ở dưới, lúc bên đông, lúc bên tây, phất phơ vô định.
Chúng ta cũng giống như hạt bụi nhỏ đó, chìm nổi trong
luân hồi, bỗng chốc lên tầng trời, bỗng chốc đọa địa
ngục, bỗng chốc làm thân người, bỗng chốc làm kiếp a-tu-la,
bỗng chốc súc sanh, bỗng chốc quỷ đói. Khi mê, không giác
ngộ thì chìm nổi trong sáu nẻo luân hồi. Nếu giác ngộ,
hết mê, thì đó là con đường liễu sinh thoát tử.
Tại sao chúng
ta lại mê mà không giác? Bởi vì chúng ta bị trúng độc nặng,
tức ba độc tham, sân, si nên không thể giác ngộ. Nếu muốn
giác ngộ thì phải tham thiền. Tọa thiền chẳng mê, đó là
con đường dẫn ta ra khỏi tam giới.
Lúc chưa
giác ngộ, thấy thứ gì đều cho là thiệt, nhất là đối
với tài sắc danh thực thùy (tiền tài, sắc dục, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghỉ), thứ gì cũng tham luyến, không xả bỏ
được. Nếu là giác ngộ, thì mọi thứ sẽ thành hư ngụy,
như hình bông hoa trong gương, bóng mặt trăng dưới nước,
tất cả đều là ảo ảnh, chẳng phải chân thiệt.
Tự tánh
của chúng ta cũng vốn thanh tịnh, có thể ví như nước trong,
không vẩn đục, trông xuống thấy suốt tới đáy nước.
Tuy nhiên, từ một niệm vô minh mà phiền não dấy lên, giống
như nước trong mà biến thành vẩn đục. Nước chẳng trong,
mặt trăng chẳng hiện, giống như khi ngu si, ánh sáng trí huệ
không hiển lộ.
Vô minh khởi
lên có thể ví như khí trời lạnh lẽo làm cho nước kết
thành băng. Chẳng hạn lấy một bát nước tạt vào mặt ai,
người đó không bị hề hấn gì. Nhưng nếu nước đó kết
thành băng, nhất định là người ấy sẽ bị thương đầu
chảy máu, có khi nguy hiểm đến cả tính mạng. Cùng một
vật thể mà sanh ra hai loại tác dụng, cho nên có câu: "Phiền
não tức Bồ-đề." Băng dụ cho phiền não, nước dụ cho Bồ-đề.
Làm cho băng tan thành nước sẽ có lợi cho muôn loài.
Một
Niệm Chẳng Sanh Toàn Thể Hiện
Nguyệt đáo
thiên tâm xứ
Phong lai thủy
bất thức
Nhất cổ
thanh dị vị
Lược đắc
thiểu nhân tri
Cảnh giới
nói trên chính là hình ảnh dụng công của người tu. Công
phu tới độ có thể ví như mặt trăng chiếu giữa bầu trời,
gió thổi ngay trên mặt nước, mà một chút sóng gợn cũng
không có. Ðúng là một cảnh tượng vừa thanh tịnh vừa nhu
hòa, một ý vị lạ, không mấy ai biết tới.
Dụng công
mà tới được chỗ không ta, không người, không chúng sanh,
không thọ giả, trong thì không cảm thấy thân tâm, ngoài không
hay có thế giới, lúc đó mới lãnh hội được cái ý vị
mầu nhiệm này. Có điều rất ít người biết, vì phải qua
kinh nghiệm thể hội của chính mình mới biết được.
Tu đạo là
tự mình tu cho mình, tự mình dụng công cho mình. Không phải
tu cho người khác, không phải dụng công giùm người khác.
Có câu rằng: "Việc sanh tử của chính mình, do chính mình
giải quyết; tự mình ăn thì tự mình no." Quý vị tu hành
thì quý vị có thể liễu thoát sanh tử, bằng chẳng dụng
công thì dĩ nhiên quý vị chẳng thể giải thoát sanh tử.
Chúng ta tu
tập phải làm sao thành kẻ vô tâm, tức là trong không thân
tâm, ngoài không thế giới, với hư không là cùng một thể.
Ðó là lúc mà chấp nhân cũng không, và chấp pháp cũng không.
Làm thế nào chứng được cảnh giới đó? Phải tu thiền.
Tham thiền thì phải một dạ đinh ninh, tập trung tư tưởng,
đầu óc không nghĩ lung tung, giống như mèo rình chuột, như
gà ấp trứng, như rồng nuôi hạt châu, hết lòng giữ gìn,
chú ý, chuyên tâm mới tới được đích.
Chúng ta tham
câu: "Niệm Phật là ai?" Chữ "ai" chính là con chuột và chỗ
ngồi tham này cũng chính là miệng lỗ chuột, do đó từng
giây từng phút không được chểnh mảng. Nếu sơ hở để
chuột chạy mất thì bắt làm sao được "ai?" Bởi vậy mới
có câu nói: "Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện, sáu căn
vừa động bị mây che." Khi một niệm chẳng sanh thì toàn
thể cái "đại dụng" hiện bầy, cái gốc trí huệ hiển lộ,
nhưng một khi sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, dấy
động thì chẳng khác gì trời đương quang đãng mà có mây
kéo đến, che lấp mặt trời.
Khi một niệm
chẳng sanh thì bên trong không thân tâm, bên ngoài không thế
giới. Ngồi thiền trong cảnh giới này sẽ không còn hô hấp
nữa tuy chẳng phải là đã chết. Ở bên ngoài không hô hấp
nữa, nhưng bên trong, hô hấp vẫn còn hoạt động. Nếu khởi
lên ý nghĩ rằng: "A! ta đã hết thở rồi!" thì tự nhiện
sự hô hấp tiếp tục trở lại. Một niệm chẳng sanh, hô
hấp ngừng lại, đó chính là chuyển pháp luân vô hình, hát
khúc ca vô sanh vậy!
Tu
Ðạo Không Thể Sanh Tâm Sân
Trước đây
có một vị tu định gọi là phi phi tưởng xứ định, ý muốn
sanh lên tầng trời phi phi tưởng xứ. Ông ngồi tu bên bờ
biển. Lúc sắp vào định ông nghe có tiếng động từ dưới
nước phát lên. Ông ngó xuống thấy một con cá bơi lội dưới
nước. Ông bèn tiếp tục việc tu, không để ý gì tới con
cá. Tuy nhiên, dưới nước lại phát ra tiếng động ồn ào,
liên miên không dứt. Ông mở mắt ra trông xuống, hóa ra lại
vẫn con cá đó bơi đi bơi lại trước mặt ông. Một niệm
bực tức nẩy sinh trong lòng, ông bèn nói với con cá: "Mày
còn phá không cho ta nhập định, ta sẽ ăn thịt mày, nuốt
trửng mày vào bụng đó!" Con cá nghe nói vậy, bèn bơi đi
không dám trở lại nữa.
Vị tu hành
nói trên vào trong định phi phi tưởng, và ngày sau sanh lên
tầng trời phi phi tưởng xứ, hưởng phước dài trong tám
vạn đại kiếp. Khi hết phước, vị này đọa xuống kiếp
súc sanh, làm thân chim biển (ngư ưng), ngày ngày bắt cá ăn
để sống, thỏa được nguyện của mình. Tới lúc Ðức Phật
Thích Ca thành đạo, nhân Ngài giảng pháp độ cho loài chim
biển, vị đó mới được giải thoát. Ðời sau, vị này làm
người, theo Phật xuất gia và chứng quả A-la-hán. Chiếu theo
công án này, chúng ta thấy phàm người tu đạo phải tuyệt
đối tránh tâm sân hận. Nếu không thận trọng, để tâm
sân hận khởi lên, thì tương lai sẽ lãnh hậu quả. Chúng
ta nên ghi nhớ để cảnh giác.
