Nơi
Chánh Pháp Trụ Thế
Nước sông
Ni-la vẫn chảy hàng ngày; Vạn Phật Thánh Thành vẫn hàng
ngày giảng pháp. Bởi nguyện cho chánh pháp trụ thế, nguyện
chuyển thời mạt phát trở thành chánh pháp cho nên ngày ngày
phải giảng kinh thuyết pháp không có lúc nào là ngưng nghỉ.
Ðể tiếp tục huệ mạng Phật, để hoằng dương Phật giáo
cho huy hoàng, để cho pháp âm truyền bá khắp thế giới, khiến
cho đông đảo chúng sanh được nhiều lợi lạc, mà Vạn Phật
Thánh Thành phải đứng ra làm Phật sự, nhận lãnh trách nhiệm
này. Do đó Vạn Phật Thánh Thành là đạo tràng của chánh
pháp trụ thế.
Phàm những
ai trú tại Vạn Phật Thánh Thành đều phải có thiện căn
thâm hậu, nếu không sẽ không trú được chỗ này. Có được
hoàn cảnh tốt đẹp như vậy, ắt chúng ta phải cố gắng
tu đạo, dụng công làm việc đạo. Phải ráng chịu khổ,
chịu cực, phải có tâm khí không lay chuyển, phải có ý chí
sắt đá, mới đủ khả năng gánh vác việc đạo, và hoằng
dương chánh pháp tại các nới, cải thiện lòng người, đó
là sứ mạng của Phật giáo đồ vậy.
Có người
do đức hạnh chưa đủ, thiện căn còn mỏng, nên sau khi đến
Vạn Phật Thánh Thành thì ngày ngày chất đầy vọng tưởng,
thấy ở đây quá khổ sở, mỗi ngày ăn một bữa, cơm nước
đạm bạc, công khóa nặng nề, quy củ nghiêm ngặt, tự cảm
thấy không chịu nổi và cuối cùng không qua được thử thách,
bèn đổi ý không ở nữa, phải bỏ nơi thanh tịnh này.
Vạn Phật
Thánh Thành là đạo tràng chuyển bánh xe chánh pháp tại Tây
phương, không có ngày nào mà ở đây không dụng công. Mưa
to gió lớn cũng vẫn dụng công làm việc đạo, không bao giờ
gián đoạn. Người có đạo tâm, đến đây thì cảm thấy
đúng là chỗ họ phải tới, còn người không có đạo tâm
đến Vạn Phật Thánh Thành như cảm thấy như ngồi trên tấm
thảm đinh, không lúc nào an ổn. Cùng một nơi mà hai cảnh
giới, chẳng qua vì thiện căn khác biệt, có nông có sâu.
Người ở
Vạn Phật Thánh Thành đều có khả năng chịu khổ chịu cực,
ai ai cũng phát Bồ-đề tâm, vì đều là những Phật giáo
đồ chân chánh. Ngày ngày họ chiến đấu với gian khổ, vì
pháp quên mình. Người chuyên về phiên dịch thì suốt ngày
cặm cụi, chẳng vì danh hay vì lợi. Nay đương thời pháp
hội Hoa Nghiêm, buổi tối nào cũng có khóa giảng Ðại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (pháp sư Hằng Thật chủ giảng),
chưa có lúc nào ngưng nghỉ. Ðó chính là hiện tượng chánh
pháp trụ thế.
Có người
đến Vạn Phật Thánh Thành bèn có cảm tưởng quen thuộc
như khi trở về nhà của mình, không muốn bỏ đi nới khác.
Ấy cũng vì Vạn Phật Thánh Thành là đạo tràng của chánh
pháp, là nơi pháp hỷ sung mãn. Vị thân sinh của một vị
tu ở đây (Liêu cư sĩ) đã từng nói như sau: "Người đến
Vạn Phật Thánh Thành này, xấu đến đâu cũng thành tốt.
Muốn xấu lại cũng không được nữa." Phải là người đã
từng trải trong xã hội, mới có những nhận định như vậy,
thật là đáng quý!
Từ
ngày 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1982, tại Ðiện Vạn Phật
Niệm
Khởi Tức Giác, Giác Rồi Tức Không
Người nào
trụ tại Vạn Phật Thánh Thành nhất định phải thật lòng
tu đạo, từng thời từng khắc phải hồi quang phản chiếu,
kiểm thảo thân tâm mình, coi có phạm vào năm giới cơ bản
là sát, đạo, dâm, vọng, tửu chăng? Phải cẩn thận giữ
giới, từng giờ từng khắc, phải khẩn thiết tu và lấy
chuyện của hai vị hành giả tam bộ nhất bái, ba bước một
lạy, để làm gương học hỏi. Từng thời từng khắc quý
vị này tự xét về mình, không để vọng tưởng dấy lên.
Cũng có lúc vọng tưởng đến, nhưng họ tỉnh ngộ tức thì,
biết là sai, bèn thâu hồi ngay vọng tưởng. "Niệm khởi tức
giác, giác rồi tức không," khi đã giác, đã biết, thì chẳng
có gì nữa.
Tại sao có
vọng tưởng? Bởi chưa phá được cánh cửa của cảnh giới
sáu trần, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Do đó
mắt bị sắc trần ô nhiễm, tai bị thanh trần mê hoặc, mũi
bị hương trần dụ, lưỡi bị vị trần sai khiến, thân bị
xúc trần làm say đắm, ý bị pháp trần động, tất cả đều
bị điên đảo bởi sáu trần. Nếu như tâm giác ngộ thì
có thể lấy ra được gốc rễ của vọng tưởng. Nếu tâm
không bị sáu trần làm cho rối loạn thì chứng được sơ
quả A-la-hán.
Người chứng
được sơ quả, mắt thấy sắc nhưng chuyển được sắc trần,
tai nghe âm thanh nhưng chuyển được thanh trần, và cũng như
vậy đối với các căn khác. Câu nói "bất nhập thanh hương
vị xúc pháp" là nghĩa không hề bị một trần nào dao động.
Lúc đó, danh không lay chuyển được, lợi không lay chuyển
được; đối với hết thẩy mọi thứ, lòng không bị động,
cũng như ý nghĩa câu: "Nhãn quan hình sắc nội vô hữu, nhĩ
thính trần sự tâm bất tri," tức là mắt nhìn hình sắc nhưng
bên trong không có gì, tai nghe chuyện mà tâm không hay biết.
Có câu: Na-già thường tại định, vô hữu bất định thời,
không có lúc nào mà ngoại vật làm cho tâm dao động, không
có khắc nào bị mê hoặc trước ngoại cảnh.
Khi nào đạt
được cảnh giới này vẫn phải nỗ lực dụng công, không
thể giải đãi. Nếu có chút lười biếng, căn bệnh cũ lại
tái phát, cho nên người tu đạo, phải tiếp tục gắng gỏi,
dũng mãnh tinh tấn, chỉ biết tu hành, không sanh vọng tưởng,
đó mới là cách dụng công chân chánh.
Có người
ở đây không dụng công tu hành, chỉ làm theo người khác.
Ðó chỉ là sự a-dua. Thấy người ta niệm Phật mình cũng
niệm Phật. Tại sao phải niệm Phật? Không biết. Thấy người
ta lạy Phật, mình cũng lạy Phật, rồi cũng không biết vì
sao mà lạy. Cho đến tụng kinh, trì chú, ngồi thiền, đại
khái không hiểu nghĩa lý gì hết. Hồ đồ như vậy, đúng
là "thực bất tri kỳ vị," quả là uổng phí thời gian. Tu
đạo như vậy, thật đáng thương!
Tội
Ngập Trời, Sám Hối Thì Tiêu
Sám hối
là cơ hội để kẻ phạm giới biết hối lỗi và sửa đổi.
Có câu:
Tội
tòng tâm khởi tương tâm sám.
Tâm nhược
diệt thời tội diệc vô.
Tâm vong tội
diệt lưỡng câu không.
Thị tắc
danh vi chân sám hối.
Dịch nghĩa:
Tội từ tâm khởi, lấy tâm sám hối. Tâm mà diệt thì tội
cũng không. Tâm quên, tội diệt, hai thứ đều không. Ðó gọi
là chân sám hối.
Sám hối
xong, thì vĩnh viễn không tái phạm. Nếu sám hối rồi cứ
phạm tội, lại sám hối lại phạm tội, thì chỉ là trò
đùa của con nít, chẳng có ích lợi gì. Sám hối phải cho
trịnh trọng, không phải cứ nói hai chữ sám hối trước
mặt mọi người rồi tức khắc nghệp tội sẽ tiêu ma. Không
phải đơn giản như vậy, chỉ có kẻ si ngốc mới nghĩ lầm
lẫn theo lối đó. Sau khi sám hối phải lập lời thệ nguyện:
"Mọi sự từ trước coi như đã chết theo với ngày hôm qua,
từ nay về sau mọi sự coi như đổi mới," và sau này tuyệt
đối không tái phạm, phải như vậy tội nghiệp mới có thể
tiêu được.
Nếu sám
hối mà không có thành tâm và thiện ý, thì tội không hết
mà còn nặng thêm nữa. Tại sao? Biết giới mà phạm giới,
tội thêm một bậc. Nếu tội gia tăng đến cực điểm, tức
bị đọa vào địa ngục vô gián để chịu vô lượng thứ
khổ, muôn đời không chuyển được thân, rất là nguy hiểm.
Quý vị! Phải thành thật nhận lỗi của mình, và hết lòng
sửa đổi. Mau mau hối cải những điều lỗi xưa, chớ không
phải làm cho qua loa như trò chơi của con trẻ. Tôi ở đây
không phải để họa theo quý vị để đùa rỡn đâu! Phải
hiểu rõ như vậy!
Nơi
Quy Y Của Các Tín Ðồ Tôn Giáo Thế Giới
Vạn Phật
Thánh Thành là nơi phát tích của Phật giáo thế giới, và
cũng là nơi Phật giáo thế giới trở về nguồn. Kinh Hoa Nghiêm
có nói: "Không có cái gì mà không phải từ Pháp giới này
lưu xuất, không có cái gì mà không trở về với Pháp giới."
Một gốc tỏa ra hàng vạn ngọn ngành, vạn ngọn ngành lại
trở về gốc, nên Vạn Phật Thánh Thành là nơi trở về của
các tín đồ Phật giáo trên toàn thế giới. Chẳng kể họ
thuộc Phật giáo, hay Thiên Chúa giáo, Cơ Ðốc giáo, Hồi giáo,
Do Thái giáo, ai đến chẳng ngăn, ai đi chẳng giữ, ai muốn
đến cứ việc đến, ai muốn đi thì cứ đi, Vạn Phật Thánh
Thành vĩnh viễn để cửa ngõ rộng mở.
Chữ "Vạn"
của Vạn Phật Thánh Thành, nói lên ý nghĩa nhiều vô lượng.
Vạn Phật Thánh Thành không sợ người đông, cũng không sợ
người ít. Nay thì đã có vạn vị Phật quang lâm nơi Bảo
Ðiện, trong tương lai các nhân sĩ tôn giáo thế giới cũng
sẽ quang lâm Vạn Phật Thánh Thành, cho nên đã có sự trù
liệu cho trai đường chứa tới cả ngàn người. Hiện nay
trai đường chỉ đủ chỗ cho năm trăm người cùng thọ trai
một lúc, do đó khi có pháp hội lớn thường xẩy ra hiện
tượng không có chỗ để thọ trai (bởi quá ngọ không ăn).
Bởi vậy, cần phải xây cất trai đường để có thể chứa
khoảng hai ngàn người.
Công trình
kể trên vẫn còn là nhỏ, tiếp theo sẽ có một công trình
lớn. Trong chương trình thiết kế đương có dự tính xây
cất Hoa Nghiêm Chánh Pháp đường, có thể chứa cả mười
ngàn người nghe pháp, làm nơi tu đạo của vạn người. Lại
có dự định kiến tạo Ðại Hùng Bảo Ðiện cùng ngôi Bảo
Tháp, với một cái hồ lớn để phóng sanh. Công trình của
Vạn Phật Thánh Thành là vô cùng vô tận. Vạn Phật Thánh
Thành khai sơn tịch địa, làm nơi trở về nương tựa cho
tất cả đồ chúng của tôn giáo thế giới.
Có người
bảo: "Thưa pháp sư! Mở rộng theo cách ấy, thì kinh phí lớn
lắm à! Có phải như vậy sẽ nhằm vào bọn cư sĩ chúng tôi
để hóa duyên không?" Quý vị yên tâm! Từ trước tới nay
tôi chưa hề hóa duyên ai, quý vị đừng sợ. Nếu không tin,
cứ tùy tiện, kẻo sau này lại trách cứ. Ai không sợ lập
công đức thì cứ ủng hộ Vạn Phật Thánh Thành. Tôi xin
nói thẳng với các vị, tôi nói tôi làm chuyện gì thì tôi
sẽ làm chuyện đó, tuyệt đối không nói suông. Ai sợ bị
hóa duyên, thì xin rời khỏi Vạn Phật Thánh Thành sớm một
chút, còn tôi, thì tôi nhất định kiến tạo một nơi cho
đồ chúng của tôn giáo thế giới trở về nương tựa.
Nhất
Niệm Vô Minh Tức Ðọa Luân Hồi
Người trên
thế gian đều ở trong cảnh sống mê chết mộng, không có
lúc nào tỉnh ngộ để tìm ra lối thoát khỏi luân hồi. Từ
thời vô thủy đến nay, chúng sanh bị vô minh đưa đẩy, đi
trong sáu nẻo luân hồi, sống rồi chết, chết rồi sống,
quẩn quanh lên xuống không có hạn kỳ.
Cuộc đời
như một vở tuồng. Trong tuồng, khi thì đóng vai vua, vui thú
với vinh hoa, phú quý; khi thì đóng vai ăn mày, chịu đủ thứ
khổ nạn. Khi làm hoàng đế thì không biết cái lúc khổ làm
thân ăn mày; làm ăn mày không biết cái vui khi làm vua. Những
cảnh bi hoan ly hợp thoáng qua như trong nháy mắt, chẳng khác
gì một giấc mơ xuân.
Nghiệp chướng
của mình, tăng nhiều hay ít? Không hay biết. Ðức hạnh của
mình gieo trồng được bao nhiêu? Không hay biết. Không hay biết
tức là vô minh, vô minh là gốc rễ của sanh tử. Nếu không
vô minh thì đâu có còn bị khổ trong cảnh luân hồi. Mục
đích của chúng ta tu đạo là phá vô minh, chuyển thức thành
trí, chuyển thức a-lại-da thành trí Ðại Viên Kính.
Người có
vô minh của người, thú vật có vô minh của thú vật, cho
đến quỷ đói, chúng sanh địa ngục, mỗi loài đều có vô
minh riêng. Trong chỗ vô minh, các chúng sanh tìm lối ra (ra khỏi
tam giới), nhưng càng tìm càng hồ đồ, tìm không ra lối,
vẫn chịu khổ sở trong luân hồi. Tại sao? Bởi vì vọng
tâm tác quái, và không biết dùng chân tâm (trí huệ) để
kiếm lối ra.
Vô minh tức
không có trí huệ. Người không có trí huệ thì bất luận
làm việc gì cũng làm trong sự điên đảo, lấy trái cho là
phải và ngược lại. Biết rõ điều sai quấy mà vẫn làm,
ấy chỉ vì vô minh che lấp khiến ta phải lầm đường. "Chọn
đường gai góc mà đi," thì vĩnh viễn không kiếm ra đường
chánh.
Kẻ học
Phật pháp, cần phải phá vô minh này, cho pháp tánh hiển lộ.
Bởi có vô minh, nên vui vẻ mà làm chuyện hồ đồ. Có các
loại tà tri tà kiến này nên tâm tự tư, ích kỷ mới nổi
lên tác quái, mất hết cả sự công bằng và vô tư. Từ đó,
mỗi kiếp sanh ra là mỗi lần đi xuống, cho đến tận cùng
là kiếp súc sanh, hoặc làm thân con kiến, hoặc làm thân con
muỗi, lúc đó chỉ còn chút xíu tri giác mà thôi. Vậy mà
vẫn tham, tham không biết chán, vẫn hành động trong hồ đồ.
Quý vị coi! Các loại động vật đều có tánh cả. Các chúng
sanh vốn sẵn có Phật tánh, nhưng không hoàn toàn, ấy bởi
lý do "tánh hóa linh tàn," cho nên chúng ngu si, thường xuyên
sống trong vô minh.
Con người
tuy gọi là vạn vật chi linh, có trí huệ, nhưng lại tạo
ra nghiệp ác, cũng vì lý do vô minh che khuất trí huệ, nên
mới lấy vọng tâm mà hành động. Có câu kệ tụng nói về
tác dụng của cái 'tâm'( ), nay tôi lược giải ra như sau:
Tam
điểm như tinh bố
Loan câu tự
nguyệt nha
Phi mao tòng
thử khởi
Tác Phật
dã do tha.
Dịch nghĩa:
Ba
chấm như sao bầy
Móc cong như
trăng mới
Mang lông
từ đây ra
Thành Phật
cũng từ đấy.
Tam điểm như
tinh bố: Trên đầu của chữ "tâm" là ba chấm, giống như
mấy ngôi sao trên trời xếp thành một hàng.
Loan câu tự
nguyệt nha: Ở dưới chữ "tâm" là một cái móc cong, giống
như vầng trăng mới vào các ngày mồng ba hay mồng bốn âm
lịch, nằm cong cong trên bầu trời.
Phi mao tòng
thử khởi: Phi mao, đái giác, là mang lông đội sừng, chỉ
các loài súc sanh. Tất cả đều do ảnh hưởng tâm lý mà
tạo thành. Làm thân chó, thì có quả báo của loài chó, làm
nhân mèo có quả báo của mèo, cho đến thân ngựa, trâu, dê,
rồi gà, vịt, ngỗng cũng như vậy.
Tác Phật
dã do tha: Thành Phật, làm Tổ sư, cũng do tâm mà nên, cho nên
nói "nhất thiết do tâm tạo." Chịu khổ ở địa ngục, hưởng
phước ở thiên đàng, tất cả đều từ cái niệm trong tâm
mà tạo ra cả.
Nếu khởi
lên một niệm thiện, thần cát tường sẽ hộ trì ta. Khởi
lên niệm ác tức thì hung thần ác quỷ cũng sẽ bám sát ta.
Người xưa nói: "Một lần lỡ bước hận thiên thu," cũng
như nói: "Một niệm sai là thiên cổ hận." Thiện hay ác chỉ
cách nhau một niệm. Nghĩ thiện thì đi lên, nghĩ ác sẽ đi
xuống. Tâm người như hạt bụi, bay lơ lửng trong không, bỗng
chốc lên thiên đường, bỗng chốc xuống địa ngục, bỗng
chốc là thú vật, bỗng chốc là quỷ đói, chẳng bao giờ
ngưng tạo nghiệp rồi chịu quả, chịu quả rồi tạo nghiệp,
cứ vậy mà tuần hoàn luân chuyển.
Tới khi nào
thì hiểu được "biển khổ vô bờ, quay đầu là bến?" Biết
được biển nghiệp là mênh mông, không bờ không bến, mau
quay đầu lại thì đến được bến bờ. Học Phật pháp là
học điều này, ngoài ra chẳng có điều gì huyền diệu cả.
Nói giản dị hơn, phá bỏ các tập khí, phá bỏ tâm tự tư,
tự lợi, sống không tranh, không tham, không cầu, tức là nắm
được yếu nghĩa của Phật pháp.
Ngày ngày
nghe pháp, phải hiểu yếu nghĩa của pháp. Ðâu là chỗ khẩn
yếu nhất của pháp? Chính là các điểm không tranh, không
tham, không cầu, không tự tư, không tự lợi, không nói dối.
Sáu tiêu chuẩn này chính là mực thước dẫn dắt chúng ta
hàng ngày trong mọi hành động. Nếu có gì không đúng với
tiêu chuẩn chúng ta biết ngay để sửa đổi. Sửa làm sao
để không còn sai nữa thì toàn là công đức, lúc đó mới
đúng là tín đồ Phật giáo. Ðây cũng là sáu tôn chỉ của
Vạn Phật Thánh Thành, hy vọng mọi người chúng ta đều tuân
theo, mọi người đều giác ngộ, mọi người đều thành Phật.
Cuộc
Ðời Như Mộng, Như Ảnh
Có một bài
kệ tụng, rất hợp đạo lý, nay xin đọc ra để tham khảo:
Bất
cầu đại đạo xuất mê đồ
Túng phụ
hiền tài khởi trượng phu
Bách tuế
quang âm thạch hỏa chước
Nhất sinh
thân tự thủy bào phù
Thê tài phao
hạ phi quân hữu
Tội nghiệt
tương hình nan tự khi
Thí vấn
đôi kim đẳng sơn nhạc
Vô thường
mãi đắc bất lai hồ.
Bất cầu đại
đạo xuất mê đồ (Chẳng cầu đại đạo để ra khỏi đường
mê): Cuộc đời của chúng ta như mộng ảo, như bọt nước,
như làn sương, như điện chớp, phải quán nó là như vậy.
Mạng sống con người là vô thường, sự nghiệp vô thường,
phú quý vô thường, cho nên "niềm vui là nhân của khổ." Tất
cả khoái lạc trong thế giới này cũng đều hàm chứa cái
khổ. Muốn lìa khổ để an vui, tất phải lo tu đạo. Tu đạo
thì trước hết phải trừ tập khí. Trừ như thế nào? Bên
trong thì khắc kỷ phục lễ, bên ngoài thì đoạn dục khử
ái, cả hai đàng cùng dụng công, ắt sẽ thành công.
Con người
sanh ra bởi sắc dục, chết bởi sắc dục, đó là lẽ thường
của thế tục, và thuận theo thế tục thì cứ sống đi chết
lại không ngừng. Kẻ xuất gia thì đi ngược lại, có đi
ngược mới thành thánh, nên cái gì hay với thế gian thì lại
không hay với người xuất gia; người thế gian tham, chúng
ta không tham; cái gì người thế gian yêu thích, chúng ta không
yêu thích; cái gì người thế gian mê, chúng ta không mê. Muốn
cầu đại đạo ắt phải ra khỏi đường mê.
Thế nào
là đường mê? Chính vì vô minh tác quái nên bất cứ đi hướng
nào cũng là hồ đồ, rút cuộc chẳng biết làm sao. Mê cũng
là nghĩa mất phương hướng, con đường phải đi lại không
nhận ra, mà đi lạc vào chỗ khác. Phải biết rằng chẳng
cầu đạo thì chẳng ra khỏi đường mê. Muốn ra khỏi đường
mê tất phải tu đạo.
Tu đạo cần
phải có thiện tri thức chỉ điểm cho sáng mắt. Thiện tri
thức biết cách thức dạy ta tu sao cho được dứt đường
sanh tử, giúp ta không trở lại với cảnh luân hồi. Cái thấy
và cái biết của thiện tri thức là chính xác, trong đó không
có chút nào gọi là tà tri tà kiến.
Túng phụ
hiền tài khởi trượng phu? (Ðể phụ cái tài trí thì đâu
phải trượng phu?): Nếu chúng ta không cầu đạo, không ra
khỏi đường mê, ắt là ta phụ cái hiền tài của ta, hiền
tài cũng là cái trí huệ đức tướng của ta. Phật đã từng
nói: "Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của
Như-lai." Nếu quả chúng ta không tu hành, ắt ta chẳng thành
tựu được gì. Như vậy chúng ta đã cô phụ cái trí hiền
tài, tức đâu còn là kẻ trượng phu nữa?
Bách tuế
quang âm thạch hỏa chước (Quang âm của trăm năm qua đi như
lửa lóe ra - từ đá đánh lửa): Tỷ dụ có thể sống tới
trăm năm thì ngày tháng cũng qua nhanh như tia lửa chớp, trong
thoáng qua đã tắt.
Nhất sinh
thân tự thủy bào phù (Một đời, thân xác giống như bọt
nước): Từ lúc sanh ra cho đến lúc chết, gọi là một đời
người. Thân thể này giống như một cái bọt trên mặt nước,
nổi trôi bồng bềnh, thật là hư vọng chẳng có gì là thực
chất, chỉ trong một sát-na đã thấy nó biến mất. Vậy thì
lưu luyến nó làm gì? Hà tất chấp trước vào nó?
Thê tài phao
hạ phi quân hữu (Tài sản và vợ bỏ lại, anh chẳng có gì):
Tới khi lâm chung, dù anh có bao nhiêu tiền cũng không đổi
được cái chết. Hết thảy nào vàng bạc, châu báu, anh đều
bỏ lại, một đồng cũng không mang đi. Lúc đó, vợ và tài
sản đều không còn là của anh, anh chỉ còn hai tay buông xuôi
về chầu Diêm vương.
Tội nghiệt
tương hình nan tự khi (Tội vạ đi theo như hình, không thể
tự dối): Bất cứ loại nghiệp nào, sát sanh, trộm cướp,
tà dâm, nói dối, uống rượu, đều theo ta như hình với bóng,
như câu nói: "Mọi thứ mang chẳng được, chỉ có nghiệp
tùy thân." Nghiệp tội thì không thể dối gạt được, bởi
chính ta tạo ra thì nhất định ta phải lãnh quả báo, chẳng
ai có thể thay ta lãnh giùm.
Thí vấn
đôi kim đẳng sơn nhạc (Thử hỏi vàng chất lên thành núi):
Chất đầy vàng bạc, cao như núi, thành vua kim tiền, giầu
bậc nhất thiên hạ, thử hỏi khi chết những thứ đó có
ích gì? Ðể lại cho con cháu, thì con cháu nào hay, chúng chẳng
cần tới, con cháu nào xấu thì lấy tiền tạo nghiệp xấu,
còn nặng tội hơn.
Vô thường
mãi đắc bất lai hồ (Liệu có mua được luật vô thường
chăng?): Tuy vàng bạc chất lên cao bằng núi, nhưng liệu chúng
ta có mua nổi quỷ vô thường không? Không thể mua được.
Quỷ vô thường rất là công bình, không thiên lệch, không
nói chuyện ân tình, cũng không nhận quà cáp.
Cảnh ngộ
của người ta tại thế gian là như vậy. Chúng ta là người
xuất gia, chính là vượt qua thói tục, không chịu để thói
tục giam hãm. Nay lại không tu hành nghiêm chỉnh thì còn chờ
tới lúc nào nữa? Phải nhớ rằng mục tiêu của kẻ xuất
gia là dứt đường sanh tử, vượt qua luân hồi, chớ không
thể sống như thế tục. Quý vị! "Tướng quân bất hạ mã,
các tự bôn tiền trình," quý vị hãy ráng sức tu hành!
Rốt
Cuộc Ðạo Là Thế Nào ?
Ðạo, rải
ra thì trùm lục hợp, cuốn lại thì nó ẩn tàng. Ðạo lớn,
không có gì ở ngoài nó và nhỏ thì không gì ở trong nó.
Không có cá nhân nào mà không nằm trong đạo, không chúng
sanh nào có thể chạy ra ngoài đạo. Ðạo chính là tánh mà
tánh là bổn thể của chúng sanh. Phật nói: "Hết thảy chúng
sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật." Chẳng
kể loại gì, thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh, chim, cá,
động vật, thực vật, trong bốn loài sanh trên hay trong chín
pháp giới chúng sanh (tứ sanh cửu hữu), tất cả đều có
đầy đủ đạo này.
Ðạo Ðức
Kinh nói: "Thượng sĩ văn đạo, động nhi hành chi. Trung sĩ
văn đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn đạo, đại
tiếu chi. Bất tiếu bất túc dĩ vi đạo." Lão tử nói về
nghĩa đạo như vậy, nghiên cứu thấy nó thật là đến lý.
Giải thích sơ lược như sau:
Thượng sĩ
văn đạo, động nhi hành chi (Hàng thượng sĩ nghe đạo, cảm
thấy và làm theo): Thượng sĩ là hạng người có trí huệ,
hàng có thiện căn sâu dầy, hạng người thượng đẳng. Nghe
đạo chính là nghe cách thức để tu hành đạo. Ðức Khổng-tử
đã nói: "Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ," sớm nghe đạo,
tối chết cũng được rồi, chẳng hận gì nữa. Tại sao?
Bởi nghe đạo mà khai ngộ, mà thấu hiểu được đạo này,
ai ai cũng có nó, không ai không có, không bao giờ lìa đạo.
Chẳng qua, chúng ta quay lưng với đạo mà chạy, càng chạy
càng xa đạo. Ðạo này là gì vậy? Chính là quy củ. Theo đúng
quy củ mà đi, nghĩa là tu đạo. Không theo quy củ mà đi tức
không phải tu đạo. Quy củ là gì? Ðó là giới luật. Y theo
giới luật tu hành, chính là tu đạo.
Nói từ gốc
rễ thì đạo là con đường dẫn tới liễu sanh thoát tử.
Tu đạo là khép cánh cửa sanh tử. Cửa sanh tử là gì? Chính
là dục niệm. Mang tâm dâm dục là mở cửa sanh tử, đoạn
trừ tâm dâm dục là khép cửa sanh tử. Hạng người thượng
đẳng khi nghe qua đạo này bèn nghĩ rằng: "?! Vốn nó là như
vậy!" Do đó cảm thấy mà làm theo, để trở về nguồn cội,
quay chiếu lại mình, xoay lưng với trần cảnh mà hướng về
giác ngộ (bội trần hiệp giác), và dụng công tu đạo. Từ
sáng đến tối ở đó tu hành, như tình trạng gà ấp trứng,
như rồng nuôi ngọc, như mèo rình chuột, tập trung tinh thần
để dụng công. Chỉ một lòng tu đạo, không còn vọng niệm
gì khác.
Trung sĩ văn
đạo, nhược tồn nhược vong (Hạng trung sĩ nghe đạo, lúc
còn lúc mất): Ðây là bậc trung đẳng, cũng là hạng người
bình thường. Ðầu óc loại này thì một nửa trí huệ, một
nửa ngu si. Nghe xong đạo này thì tựa hồ nhớ được chút
ít, cũng tựa hồ quên chút ít, tóm lại vừa đúng vừa sai,
chẳng có gì là chắc chắn. Có khi họ chấp không, có khi
chấp có, không dứt khoát.
Hạ sĩ văn
đạo, đại tiếu chi. Bất tiếu bất túc dĩ vi đạo (Hạng
hạ sĩ nghe đạo, bật cười lớn. Chẳng cười chẳng gọi
là đạo): Hạ sĩ để chỉ hạng ngu si. Nếu chúng ta bảo
họ trừ dục cắt ái là tu đạo, hay giữ quy củ là tu đạo,
thì họ sẽ trả lời ngay: "Ấy! Vậy là ngốc quá! Các người
tu hành đúng là ngu si hết mức, cớ gì mà không ham tiền
tài, sắc đẹp, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ? Ðó là khoái
lạc về ngũ dục, thú biết mấy!" Bởi vậy, nghe đạo thì
họ bật cười, cho rằng tu đạo là ngu ngốc. Nếu họ không
cười như vậy, thì không phải là đạo.
Hàng ngày
tôi giảng kinh thuyết pháp cho các quý vị, điều khẩn yếu
vẫn phải nhấn mạnh về đoạn trừ các niệm dâm. Kinh Lăng
Nghiêm nói: "Lòng dâm không trừ, thì không ra khỏi cõi trần."
Nhất định phải trừ các niệm về dâm dục, mới mong lìa
khỏi cảnh hồng trần, cho nên có câu: "Lòng dâm không đoạn,
nấu cát ra cơm, chẳng thể có việc này." Quý vị! Người
tu hành không giống người trong thế tục. Cái gì người đời
tham, ái, mê, thích thì chúng ta cần phải diệt trừ. Có câu
nói: "Thoát trần ly tục," nghĩa là hết thảy các thứ từ
lời nói đến tư tưởng, người tu và người tục không giống
nhau. Ðiểm này quý vị phải chú ý, không thể bị nhiễm
ô theo giòng thế tục.
Phàm những
ai trú tại Vạn Phật Thánh Thành, quyết phải tu hành, phải
giữ quy củ, phải trì giới luật. Người xuất gia không giữ
quy củ và giới luật thì còn ý nghĩa gì nữa? Xuất gia và
tại gia không giống nhau. Như đã xuất gia lại còn giữ tập
quán của thế tục, thì xuất gia làm gì? Về điểm này cũng
phải hiểu cho rõ.
Tại sao có
thời mạt pháp? Bởi phước báo của người mỏng, nên không
có thánh nhân ra đời, không có chánh pháp trụ thế. Tôi vốn
không tự lượng sức mình, quyết một lòng giữ chánh pháp
trụ thế, kiên trì không đổi, không chịu đầu hàng trước
mọi hoàn cảnh. Kiên trì như vậy tốn hao công sức, nhưng
đó là lòng quyết tâm của tôi. Bất kể gặp gian nan ra sao,
tôi vẫn phải hoàn thành sứ mạng.
Quý vị!
Quý vị đều là đệ tử theo tôi học đạo, nên hiểu rằng
thời đại này là thời đại gì? Phải cố gắng thành người
xuất gia gương mẫu, là người lãnh đạo siêu quần, không
thể bị nhiễm ô theo thông tục, nếu không, kẻ xuất gia
không thể ngóc đầu lên được.
Thượng
Ðức Bất Ðức, Hạ Ðức Chấp Ðức
Cổ đức
nói: "Thượng đức bất đức, hạ đức chấp đức, chấp
trước chi đức, bất minh đạo đức." Nay xin giải nghĩa như
sau:
Thượng đức
bất đức: Thực hành đạo Bồ-tát, nhưng không chấp vào
hình tích gì, làm việc thiện nhưng không ghi lại hình tích
của hành động thiện. "Vi thiện tu đức," là chuyện tự
nhiên, là bổn phận của mình, do đó không có gì làm cho mình
thêm kiêu ngạo, thêm tự mãn. Không nên nói rằng: "Tôi làm
điều phước đức, tôi làm điều thiện, tôi làm những việc
hay," và ngay những ý nghĩ như vậy cũng không nên có nữa.
Người ta
nói: "Thiện, mà muốn cho người ta thấy thì chẳng phải là
chân thiện; ác mà muốn cho người ta không biết, là điều
đại ác." Kẻ chân chánh thực hành Bồ-tát đạo thì làm
việc gì cũng như không làm, hết thẩy mọi thứ đều không
chấp trước. Bất cứ làm công đức gì, không có tâm chấp,
không thừa nhận một công đức nào và đối với mọi người
không hề có tâm kiêu ngạo hay tự mãn. Ðó là nghĩa của
"thượng đức bất đức."
Người có
trí huệ chân chánh, không nhận mình là người có trí huệ.
Người có đạo đức chân chánh không thừa nhận mình có
đạo đức. Người có học vấn chân chánh, không có tâm kiêu
ngạo, không coi thường kẻ khác. Người tu trì một cách chân
chánh, không sanh tâm tự mãn, tự mình tuyên truyền cho mình.
Hạ đức
chấp đức: Một số phàm phu tục tử, làm được chút ích
công đức đã cho là nhiều, đi đâu cũng quảng cáo việc
mình làm, nào tôi làm điều thiện này, tôi làm công đức
kia, đi đâu cũng nêu ra để lừa dối người, hy vọng người
khác sẽ quý trọng mình.
Kẻ thượng
đức, tuy làm công đức nhưng không chấp trước công đức.
Kẻ hạ đức, tuy làm chút ít công đức lại chấp vào công
đức, tới đâu cũng thừa dịp để tuyên truyền, nào tôi
tạo nên cái chùa này, nào xây cái tháp kia, in kinh này, thuyết
pháp như thế kia, tóm lại, nói hoài không hết công đức.
Ðó là tác phong của kẻ hạ đức chấp đức.
Chấp trước
chi đức: Nghĩa là chấp trước những việc, đại khái như:
tôi bắc cái cầu trên sông này, tôi lát con đường kia v.v.
Bất minh
đạo đức: Như trên là không có công đức. Người nào có
những ý nghĩ như vậy tức là không thấu hiểu nghĩa thật
của đạo đức.
Tự mình
tuyên truyền cho mình, tự mình mừng cho mình, đây chính là
vọng tâm tác quái. Có câu nói: "Chúng sanh không có chân tâm,
vì có vọng tâm," vọng tâm chính là vọng tưởng. Một niệm
động, thí dụ như niệm về sát sanh nổi lên, hay có một
ý nghĩ về trộm cướp chẳng hạn, tức là vọng tưởng.
Ðộng một niệm về dâm, về nói dối, về uống rượu, đều
là vọng tưởng cả. Nói chung động niệm nổi lên là vọng
tưởng. Vọng tưởng là chướng ngại đối với kẻ tu hành.
Làm sao để vọng tưởng không nổi lên? Phải tham thiền,
tụng kinh trì chú, tinh thần tập trung, trong tâm không có hai
niệm, đó chính là cách canh giữ vọng niệm.
Bởi
Ðâu Không Tương Ưng Với Ðạo ?
Tu hành lâu
rồi mà vẫn không tương ưng với đạo là do nguyên nhân gì
vậy? Là vì vọng tưởng tác quái. Nếu tâm còn vọng tưởng
thì nó sẽ phá hoại giới, phá hoại định, phái hoại huệ.
Tâm có vọng tưởng thì trì giới không kiên cố, tu định
cũng không kiên cố, còn nói gì tới huệ. Vọng tưởng nổi
lên thì tâm chạy ngay theo duyên, nhân đó mà chuyển theo với
vạn vật. Sắc trần do mắt tiếp nhận, thanh âm do tai nghe
được, hương do mũi nhận ra, vị do lưỡi nếm, xúc do thân
đụng chạm, và pháp do ý nhận thức, tất cả những thứ
này hợp lại tạo thành vạn vật. Nếu cứ trụ vào các cảnh
giới của các thứ trên tức là chạy theo vạn vật, nên từ
đó mà tâm tham cầu sẽ nổi lên.
Trước một
sự việc gì mà chúng ta cảm thấy hoan hỷ trong tâm, thì lòng
tham cầu sẽ phát sanh. Một khi có tham, tức sẽ nghĩ ra cách
chiếm lấy. Chiếm được rồi vẫn chưa biết đủ, nên lòng
tham vẫn còn nguyên. Lòng tham không có đáy, chẳng bao giờ
chất đầy lòng tham, cho nên nói: "Dục vọng không có chỗ
ngừng." Người tham tiền, khi đã có tiền rồi thì lại tham
danh, có danh rồi, đến tham các thứ khác, tham nhà, tham xe
hơi, tham máy bay, tham thuyền máy v.v.. tất cả đều do sự
tham cầu. Cầu mà không được toại nguyện thì phiền não
phát sanh.
Khi có phiền
não thì bao nhiêu vọng tưởng ùn ùn kéo đến. Có vọng tưởng
tức có sự ưu sầu, làm cho thân khổ, tâm khổ, bầy ra trước
mắt nào những thứ tạp nhạp, những ý tưởng không thanh
tịnh. Những quan hệ vừa kể dẫn tới tình trạng không hợp
với đạo, không đưa tới sự dứt đường sanh tử, nên cứ
quẩn quanh trong sáu nẻo luân hồi mà không nghĩ ra lối thoát.
Càng luân chuyển nhiều thì càng đi xa hơn, lạc sâu vào biển
khổ không rút chân ra được.
Bổn thể
của tự tánh là đạo chân thường. Thế nào gọi là đạo
chân thường? Nó là vô hình vô tướng, không hình tích cụ
thể. Hiểu được như vậy thì có thể tới được đạo
đó. Không hiểu như vậy thì mỗi ngày một đi xuống. Nếu
lại giác ngộ đạo này thì trí huệ luôn luôn hiện tiền,
tánh diệu chân như cũng hiện tiền, lúc đó gọi là tương
ưng với đạo.
Thần
Thông Của Người Tại Sao Không Hiển Hiện ?
Thần thông
là gì? Có câu nói: "Diệu dụng khó lường là thần, tự tại
vô ngại là thông." Thần thông là một lực tự tại, không
bị ngăn ngại, không thể lường được, nó là cảnh giới
thiên biến vạn hóa, chẳng thể nghĩ bàn. Thần thông từ
đâu mà sanh ra? Nói đơn giản là người tu pháp tiểu thừa,
chuyên tu tứ đế và quán thập nhị nhân duyên, khi đạt tới
mức độ viên mãn thì lúc đó chứng được thần thông.
Thần thông
của hàng La-hán và của hàng Bồ-tát có chỗ không giống
nhau. Thần thông của La-hán có hạn định, chỉ biết được
nhân duyên trong phạm vi tám vạn đại kiếp trở lại. Hơn
nữa họ phải chú tâm quán sát mới thấy được. Thần thông
của Bồ-tát thì không có giới hạn, có thể thấy được
cả quốc độ của vi trần, vi trần trong quốc độ, các chư
Phật trong vô lượng quốc độ (nhiều như vi trần) có thể
nghe chư Phật ở khắp các quốc độ trùng trùng đang diễn
nói pháp mầu; có thể biết hết thảy ý nghĩ của các chúng
sanh trong vô số quốc độ nhiều như vi trần; có thể biết
các nhân duyên ngoài phạm vị tám vạn đại kiếp, khỏi cần
vào trong định, chỉ cần tâm khởi lên ý tưởng quan sát
là đủ.
Quý vị Bồ-tát
thực hành Bồ-tát đạo, khi nào công đức viên mãn sẽ có
các loại thần thông trên. Nếu chúng ta phát Bồ-đề tâm,
thực hành Bồ-tát đạo cũng có thể đạt được mức thần
thông này. Chỉ cần tu đến chỗ viên mãn, chẳng cần phải
mong cầu, vẫn có thần thông.
Khi có thần
thông rồi, có phải Bồ-tát không nên hiển lộng thần thông
chăng? Không phải vậy. Nếu Bồ-tát có thần thông, mà lại
không hiển lộng thì thần thông đó dùng làm gì? Có khác
gì một người có hạt châu quý, lại mang dấu nó đi trong
áo, không biết nó là một của quý vô giá. Cam phận nghèo
khổ, không có cơm ăn, không có áo mặc, không có chỗ trú,
mà vẫn không biết đổi hạt châu đi lấy tiền độ nhật.
Nếu có thần thông mà không xử dụng thì cũng giống như
vậy đó.
Không có
thần thông mà muốn xử dụng thần thông thì không được
rồi. Cái đó có khác gì leo cây mà bắt cá, chỉ là mộng
tưởng của kẻ si ngốc mà thôi. Tuy nhiên, nếu có thần thông
thì phải tận dụng thần thông. Giáo hóa chúng sanh, lấy thần
thông ra hiển lộng, làm tăng gia tin tưởng của chúng sanh,
như vậy hiệu quả tăng gấp bội. Cái đó cũng gọi là dùng
phương tiện thiện xảo. Quý vị nên chú ý điểm này! Ma
cũng có thần thông, có thể khiến cho những ai ham cầu thần
thông mà chưa đủ đạo lực, lạc vào tròng của chúng, để
đến nỗi tiêu ma đạo nghiệp của mình rồi làm quyến thuộc
cho ma vương. Về điểm này, xin quý vị đặc biệt lưu ý
và không thể không cẩn thận.
Hiện nay
có một số người thiếu hiểu biết, tín đồ của Phật
giáo mà không am hiểu gì, thấy người ta nói làm sao thì nói
theo làm vậy. Về yếu lý của Phật pháp thì họ tựa hồ
biết mà chẳng biết, không biết đến ngọn nguồn, hễ chứng
kiến thấy có người thị hiện thần thông liền kêu lên
kinh ngạc rằng: "Vào thời mạt pháp, người ta không thể
có thần thông như vậy!" Nói như vậy thì thật là quá ấu
trĩ! Nói thẳng ra đó là cái nhân đọa địa ngục, đối
với Phật pháp chẳng hiểu một tí gì. Quý vị hãy chú ý!
Ðối với bất cứ sự việc gì hễ ta chưa biết cho rõ ngành
ngọn, ta không nên phê phán bậy bạ, không thể tùy tiện
quyết đoán nọ kia. Ði sai nhân quả thì phải đọa địa
ngục.
Phật giáo
có đạo lý chân chánh, có định luật bất biến từ ngàn
xưa, có ngàn vạn lời vàng ngọc do chính đức Phật nói ra,
phát xuất từ chính kinh nghiệm của Ngài, chớ không phải
là thứ đạo lý dối mình dối người. Giáo lý do Phật nói
ra là Kinh tạng, giáo lý do thân Ngài biểu hiện là Luật tạng,
phần do các đệ tử của Phật chú giải là Luận tạng. Ba
tạng và mười hai phần kinh là giáo lý của chân lý, ý nghĩa
toàn là chân thực không ngoa.
Chân lý ở
đâu thì mười phương chư Phật đều tới đó ủng hộ. Chân
lý ở đâu thì mười phương chư Bồ-tát đến đó ủng hộ.
Chân lý ở đâu thì thiên long bát bộ cũng đều tới để
ủng hộ. Hiểu thấu chân lý mới là Phật giáo đồ chân
chánh, không hiểu chân lý thì đó là Phật giáo đồ lầm
lạc. Quý vị phải nhận cho rõ chân lý, phải phân biện cho
rõ phải trái, chớ khá hồ đồ, ai nói ra sao thì tin làm vậy,
điều đó không thể chấp nhận được.
Bồ-tát có
các loại thần thông, và các Ngài dùng như thế nào? Nói chung,
lấy thần thông làm phương tiện thiện xảo giáo hóa chúng
sanh, khiến họ phát Bồ-đề tâm để không bị nhiễm ô theo
giòng thế tục. Như nghe nói sao thì nói làm vậy, đó là kẻ
hồ đồ, không những không nghiên cứu chân lý, mà còn chạy
theo đường tà, nghe theo pháp tà, phỉ báng chánh pháp, những
loại Phật giáo đồ đó thật đáng thương.
Hiện nay
là thời mạt pháp, có rất nhiều pháp thân đại sĩ, dạo
trên thuyền từ bi, tới thế giới Ta-bà để giáo hóa chúng
sanh, khiến chúng sanh thức tỉnh, xa lìa tà tri tà kiến, và
gần gũi với chánh tri chánh kiến. Phật nói pháp là chánh
pháp, ma nói pháp là tà pháp. Y theo lời dạy để phụng hành,
y theo pháp để tu hành, nghiêm trì giới luật, thực hành giới
luật, đó là chánh pháp, còn ngược lại là tà pháp. Hễ
điều gì đi ngược lại giới luật thì không làm; hợp với
giới luật thì hết sức thi hành, đó là con đường của
các Bồ-tát.
Tâm của
Bồ-tát thì tuyệt đối không tự tư tự lợi, tuyệt đối
không màng tới danh vọng. Bồ-tát với tâm bi tha thiết, ngọt
ngào dỗ dành giáo hóa chúng sanh lìa khổ tới chỗ an vui.
Bồ-tát lấy lợi ích chúng sanh làm khởi điểm, chớ không
phải vì ý nghĩ lợi ích của riêng mình. Ðó là tinh thần
Bồ-tát đạo. Bồ-tát hành đạo chẳng phải xuất phát từ
cảm tình riêng mà do lòng từ bi, từ của Bồ-tát là vô duyên
từ, bi là đồng thể đại bi, trong lòng tuyệt đối không
có sự phân biệt. Bồ-tát độ hết thảy mọi chúng sanh,
không ngại khó nhọc, không kể ngày đêm, ra tay cứu vớt
chúng sanh ra khỏi biển khổ để được an vui. Bồ-tát coi
việc độ chúng sanh là việc phải làm, thành ra Bồ-tát có
thần thông.
Bồ-tát có
thần thông, có thể hiển lộng, vậy cớ sao người ta không
thể hiển lộng thần thông được? Ðây là một sự ngộ
nhận. Người nào chỉ trích như vậy, trong lòng phải có một
dụng tâm khác. Người ta muốn cho chánh pháp chẳng tồn tại,
chẳng muốn cho quý vị siêu phàm trong hàng tín đồ Phật
giáo tồn tại.
Hiện nay
có một số tín đồ Phật giáo không có trí huệ, đi đến
đâu cũng nói rằng thời mạt pháp này không nên hiển lộng
thần thông, mà cũng không ai có thần thông mà hiển lộng.
Vì cớ gì họ lại tuyên truyền như vậy? Bởi họ ngu si,
không chịu dụng công tu hành, lại thường có tâm đố kỵ.
Họ chẳng có thần thông, bèn cho rằng người khác cũng không
có thần thông. Chẳng những vậy, gặp những người có thần
thông họ cũng không nhận ra. Bồ-tát nếu gặp tín đồ nào
có chánh tri chánh kiến, lại đương dụng công tu hành, lúc
đó mới hiển thần thông, để cho tín đồ thêm tín tâm,
khiến cho họ nỗ lực tu đạo tới chỗ giải thoát.
Quý vị thiện
tri thức! Có vị nào có thần thông, chẳng cứ ai, nếu hiển
lộng được thần thông thì tôi rất hoan nghênh. Nếu quả
nói như vậy là có tội, tôi xin một mình chịu tội, có bị
đọa địa ngục tôi cũng cam lòng, một mình tôi chịu không
dính dáng gì tới quý vị cả, quý vị khỏi lo. Chỉ ngại
là quý vị chẳng có thần thông, không hiển lộng được.
Còn như có thể biểu diễn thần thông ra, tôi xin hết lòng
ủng hộ.
Thời mạt
pháp rất cần có quý vị thật tâm tu đạo, rất cần quý
vị khai ngộ, rất cần những người chứng quả. Sau khi chứng
quả lại trở về dẫn dắt các bạn hữu duyên, hướng dẫn
họ ra khỏi tam giới để tới cõi tinh độ Thường Tịch
Quang, đó là kỳ vọng của tôi đặt vào các vị.
Kinh
Lăng Nghiêm: Biểu Tượng Của Chánh Pháp
Các kinh điển
của Phật giáo đều là trọng yếu cả. Kinh Lăng Nghiêm lại
càng đặc biệt. Nơi nào có kinh Lăng Nghiêm tức nơi đó có
chánh pháp. Kinh Lăng Nghiêm mà không còn thì lúc đó là mạt
pháp. Tín đồ Phật giáo chúng ta phải mang hết tâm trí, và
mồ hôi nước mắt để ủng hộ bộ kinh này.
Kinh Pháp
Diệt Tận có nói: "Tới lúc mạt pháp, kinh Lăng Nghiêm diệt
đầu tiên, sau đến các kinh khác." Nếu quả kinh Lăng Nghiêm
không bị diệt, thì chánh pháp hiện tiền, cho nên Phật giáo
đồ chúng ta quyết lấy mạng sống ra để hộ trì, lấy mồ
hôi nước mắt để hộ trì, lấy chí nguyện để hộ trì
kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng nghiêm mà tồn tại mãi với thế
gian, được phát huy rộng lớn, lưu thông tới tận từng hạt
bụi vi trần, phổ biến khắp mọi nơi trên thế giới, và
tới tận cùng hư không khắp các pháp giới, nếu được như
vậy thì chánh pháp quả là sáng sủa rực rỡ.
Tại sao lại
nói rằng kinh Lăng Nghiệm diệt đầu tiên? Bởi kinh này giảng
đạo lý rất là chân thật. Thiên ma ngoại đạo chịu không
nổi mới tìm đủ mọi cách để phá hoại kinh, tiêu diệt
cho được kinh này. Trước hết, chúng rêu rao rằng Kinh Lăng
Nghiêm không phải do chính kim ngôn của đức Phật nói ra,
mà do người đời sau ngụy tạo, như vậy kinh Lăng Nghiêm
là kinh giả, là ngụy kinh. Ðó là những thủ đoạn xấu xa
của bọn ngoại đạo, cốt dùng cưỡng từ đoạt lý để
phá hoại kinh Lăng Nghiêm.
Kinh Lăng
Nghiêm là thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu
của Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm có bốn loại giáo huấn thanh
tịnh, có hai mươi lăm vị thánh thuật lại kinh nghiệm viên
thông và có nói tới năm mươi cảnh giới ấm ma. Những pháp
này có thể ví như cái kính chiếu yêu, khiến cho bàng môn
ngoại đạo phải lộ hết nguyên hình, yêu ma quỷ quái hết
chổ ẩn náu, do đó để tự vệ chúng phải rêu rao rằng
kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy tạo, không nên tin theo.
Một số
người khác, chẳng hiểu biết gì, không đủ trí huệ để
phân biệt thật giả, ai nói sao thì nói theo làm vậy, cũng
phụ họa với chúng mà bảo rằng Lăng Nghiêm không phải do
Phật nói. Kinh Lăng Nghiêm nói về đạo nghĩa thì thật là
chính xác, thật là hợp lý, nên yêu ma quỷ quái, cũng như
hạng bàng môn tả đạo không còn chỗ ẩn náu, chúng phải
dùng những thủ đoạn xấu xa như vậy để hòng phá hoại
kinh. Làm như vậy ắt phải đọa địa ngục.
Gần đây,
một số học giả thiếu hiểu biết, rồi một số Phật giáo
đồ ngu si, không nhận thức đúng về Phật giáo, không hiểu
minh bạch về Phật học, tóm lại là biết nửa mùa, đem lời
của thánh nhân ra để phê phán, rồi phát biểu một cách
càn dỡ.
Người học
Phật pháp nên hiểu thấu đáo nghĩa lý kinh Lăng Nghiêm, để
có thể đề xướng kinh này ở khắp mọi nơi, tuyên dương,
giải thích và hộ trì kinh này, ngỏ hầu giữ cho chánh pháp
trụ thế, cho tà pháp bị tiêu diệt. Ðó chính là trách nhiệm
của tất cả Phật giáo đồ.
Ngày hôm
nay tôi xin bảo đảm với tất cả quý vị rằng kinh Lăng
Nghiêm là kinh chân chánh. Nếu quả không phải như vậy, tôi
xin nguyện xuống địa ngục, bởi lý do tôi không có nhận
định đúng về Phật pháp, lấy giả cho là thật, tôi xin
cam lòng chịu quả báo đó. Như Lăng Nghiêm là kinh thật, tôi
còn phát nguyện rằng đời đời kiếp kiếp tôi sẽ hoằng
dương pháp Lăng nghiêm, và tuyên giảng chân lý trong Lăng nghiêm.
Quý vị thử nghĩ coi, nếu kinh này không phải do Phật nói
ra, thì ai có thể nói được một loại pháp chánh xác như
vậy? Tôi hy vọng người nào đó phê phán kinh Lăng Nghiêm
và bảo nó là kinh giả thì hãy mau mau sám hối, sửa lại
sự sai trái của mình. Nếu không, ắt bị đọa địa ngục
rút lưỡi. Tôi mong cầu những ai niệm kinh Lăng Nghiêm, giảng
kinh Lăng Nghiêm, tuyên dương kinh Lăng Nghiêm, lưu thông kinh
Lăng nghiêm, tất cả đều sớm thành Phật đạo.
Tu
Ðạo Phải Ðoạn Dục Khử Ái
Tại sao chúng
ta có phiền não? Bởi lòng tự tư (ích kỷ). Tại sao có tự
tư? Bởi có dục tâm, mới tìm hết cách để giữ lấy nó,
sợ nó đi mất. Nếu nó bị thương tổn thì sẽ phát ra nóng
giận. Tại sao nóng giận? Chính là do vô minh và tình ái tác
quái. Giả thử, không có vô minh, không có tình ái, thì tâm
nóng giận sẽ chạy xa cả mười vạn tám ngàn dặm, muốn
kiếm nó cũng kiếm không được.
Nếu có tình
ái tất có tự tư. Có tâm tự tư rồi thì chẳng còn từ
một thủ đoạn nào để tiến tới mục đích, thậm chí có
thể hy sanh cả mạng sống mà không tiếc thân. Truy ra tận
gốc là vì dục niệm. Nếu quả không có dục niệm, tất
không có tâm tự tư. Không có tự tư thì không có phiền não.
Có phiền
não, tất có sanh tử; nếu không có phiền não, thì không có
sanh tử. Ý nghĩa này, ai ai cũng biết, có điều không thực
hành mà thôi. Phải biết rằng, không có dục thì không có
vô minh. Phá được vô minh thì pháp tánh hiển hiện. Chúng
ta học Phật, đầu tiên là trừ vô minh, đoạn phiền não.
Dụng công tới chỗ viên mãn thì chứng được giải thoát.
Tại sao chúng
ta không có trí huệ? Bởi vì vô minh. Vô minh sanh ra dục, dục
sanh ra tự tư, tự tư sanh ra phiền não. Tham cầu mà không
được thì có phiền não, người đối với ta không tốt cũng
là nguyên nhân của phiền não. Tại sao có phiền não ? Bởi
có cái Ngã. Nếu quả là vô ngã, thì không có phiền não.
Nếu có thể tới được chỗ không có vô minh, không có tự
tư, thì phiền não sẽ biến mất. Quý vị tin hay không tin,
cái lý nó là như vậy. Thiên kinh vạn điển, nói tới nói
lui cũng chỉ có thế. Cho cái ngã không còn, phá cái vô minh,
tiêu diệt cái dục, thì sẽ không có tự tư, không có phiền
não, kiếm phiền não cũng không kiếm ra được. Tại sao? Bởi
gốc gác của vấn đề đã được giải quyết.
Quý vị phải
chú ý! Năm thứ dục, tài, sắc, danh, thực, thụy (ngủ), đều
do vô minh và tình ái mang đến. Nếu như không có tình dục,
ta sẽ thấy không có gì là trọng yếu. Bởi có tình dục
nên mới cảm thấy cái này không tốt, cái kia cũng không tốt,
cái gì cũng không đúng, đó chính là con quỷ tình dục nó
tác quái. Nếu chúng ta hàng phục được quỷ tình dục này,
thì chúng ta vào nhà của Như Lai một cách mau chóng, lên tòa
Như Lai, mặc áo Như Lai và thuyết pháp Như Lai.
