Cảnh
Giới Của Thời Ðại Chánh Pháp
Vào thời
chánh pháp thì các thánh nhân đều thị hiện tại thế gian
để hỗ trợ cho Phật hoằng dương chánh pháp. Lúc đó, các
đệ tử đã xuất gia với Phật từ vô lượng kiếp đều
theo Phật tu hành. Các thánh nhân đã chứng quả đó đều
phát nguyện: theo Phật đi khắp nơi để chuyển pháp luân
và độ chúng sanh. Có câu rằng: "Một vị Phật hoằng hóa,
một ngàn vị Phật hộ trì." Sau khi Phật nhập Niết-bàn,
các vị thánh nhân đó cũng thay nhau đi vào cõi Tịnh độ
Thường Tịch Quang.
Năm trăm
năm sau khi đức Phật nhập diệt, căn cơ của người tu hành
không còn được sắc bén như trước, căn lành không đủ
dầy, cho nên mới biến thành thời tượng pháp - nghĩa là
thờ phượng tượng đức Phật mà thôi. Ðó là thời kỳ
người ta xây chùa, tạo tháp, đúc tượng Phật, nhưng lại
quên mất sự kiến tạo huệ mạng và pháp thân, cho nên mỗi
ngày người tu càng xa lìa thời chánh pháp và chuyển sang tượng
pháp.
Thời đại
tượng pháp kéo dài một ngàn năm, nay cũng đã qua rồi và
chúng ta đương ở thời mạt pháp. Trong thời tượng pháp,
người ta vẫn tu theo chánh pháp, không ai phỉ báng hay công
kích pháp, người ta xử sự trong hòa bình, không có sự tranh
cãi. Chẳng phải theo lối "tăng báng tăng, Phật pháp diệt"
mà "tăng tán tăng, Phật pháp hưng." Thời chánh pháp thì không
có sự tán thán, nhưng cũng không có phỉ báng. Thời tượng
pháp thì có tán thán, không có phỉ báng, nhưng đến lúc mạt
pháp thì chỉ có phỉ báng mà không có tán thán.
Trong thời
mạt pháp ai ai cũng nói Phật giáo là mê tín, là chuyên sùng
bái các tượng hình, cho đến ngay cả tín đồ Phật giáo
cũng theo đuôi mọi người, ai nói sao thì nói vậy, không hiểu
cái gì cho rõ rệt, không minh bạch chân lý. Ðó là điều
chứng minh Phật giáo đã tới lúc mạt pháp, lúc mà không
ai còn hiểu thấu Phật pháp nữa.
Bởi ai ai
cũng không rõ Phật pháp cho nên có một số người chuyên
bới lông tìm vết phê bình Phật giáo những điều không hay,
còn những cái gì hay họ chẳng biết tới, khiến cho chân
lý trong Phật giáo bị tiêu ma. Người tại gia không hiểu
chân lý, đến kẻ xuất gia cũng không minh bạch, nhất loạt
hồ đồ, ai nói sao thì nói vậy và kẻ mù dẫn dắt người
mù.
Bài kệ tụng
sau đây hay vô cùng, xin nói ra đây để chúng ta cùng tham khảo:
Nguyện
tiêu tam chướng chư phiền não,
Nguyện đắc
trí
huệ chân minh liễu
Phổ nguyện
tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế
thường hành Bồ-tát đạo.
Tôi xin sơ lược
giải thích như sau:
Nguyện
tiêu tam chướng chư phiền não: Tam chướng là nghiệp chướng,
báo chướng, phiền não chướng, ba chướng này ta phải tiêu
trừ cho sạch, chớ không phải chúng ta chỉ nói ở cửa miệng:
Phải tiêu trừ! Phải tiêu trừ! Mà kỳ thực chẳng muốn
tiêu trừ. Tóm lại là che dấu khuyết điểm của mình, nuôi
dưỡng khuyết điểm đó, không dám đưa chúng ra ánh sáng
một cách đàng hoàng, rút cuộc nghiệp chướng mỗi ngày một
sâu, mỗi ngày một nặng, phiền não chướng mỗi ngày một
gia tăng.
Nguyện
đắc trí huệ chân minh liễu: Nếu ba chướng không bị
tiêu trừ cho sạch, thì không thể có trí huệ chân chánh.
Nếu có trí huệ thật thì không bao giờ làm chuyện điên
đảo. Dùng trí huệ chớ không phải dùng vô minh để xử
lý mọi việc, lúc đó mới gọi là sáng tỏ một cách chân
chánh, còn như biết một mà hiểu chỉ một nửa thì chẳng
phải là sáng tỏ thật.
Phổ nguyện
tội chướng tất tiêu trừ: Tôi nguyện diệt trừ ba chướng,
chẳng phải chỉ riêng cho tôi mà còn cho chúng sanh nữa. Ðó
là bổn nguyện của tôi, và thường xuyên tôi lấy đó làm
nguyện lực để hành sự.
Thế thế
thường hành Bồ-tát đạo: Tuy tôi chẳng phải là Bồ-tát,
nhưng tôi nguyện đời đời kiếp kiếp làm những gì mà các
Bồ-tát thường làm trong đạo Bồ-tát. Tôi học tập Bồ-tát
nên tu pháp môn này. Bồ-tát chẳng phải tu một ngày mà thành,
mà là từng ngày một tu thành. Ðức Phật Thích-ca, Ngài tu
phước huệ trong ba tăng kỳ, tu tướng tốt trong trăm kiếp,
trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp, một thời gian dài như vậy,
công đức của Ngài mới viên mãn, phước huệ mới đầy
đủ, nghĩa là "tam giác viên, vạn đức bị," Ngài mới thành
bậc Lưỡng Túc Tôn.
Phát nguyện
rồi thì phải tuân thủ ngay, chẳng thể có tâm tự tư, tự
lợi, tâm tranh luận, tâm tham dục, tâm mưu cầu, tâm nói dối.
Không có sáu loại tâm này là có ngay chánh pháp, đổi mạt
pháp ra chánh pháp. Nếu ngược lại, thì chính là mạt pháp,
chuyển chánh pháp thành mạt pháp. Nếu như lấy sáu tông chỉ
trên để xử lý mọi việc thì tức thời có công bình, có
sự vô tư, mọi sự chánh đại quang minh. Tu đạo thì nhất
định tới chỗ thành tựu, cả mười phương chư Phật thường
xuyên ủng hộ chúng ta. Xin quý vị lưu ý! Chính là pháp này
đó, ngoài ra không có pháp nào khác. Các vị hãy chiếu theo
nó mà dụng công là không sai.
Chúng ta tu
đạo phải biết chịu khổ, chịu khó nhọc. Chớ ham tiện
nghi, chớ nên tinh khôn giả dối, mà phải thực thà tiến
bước. Nhớ kỹ điều này! Chớ ham ăn ngon, chớ ham mặc đồ
quý, chớ tham nhà đẹp, hết thẩy mọi thứ đều không tham
lam, càng không ham hưởng thụ. Ðược như vậy thì thời chánh
pháp sẽ trụ tại thế gian.
Thời chánh
pháp, ai ai cũng tu hành. Thời mạt pháp, chẳng ai tu hành. Nếu
mọi người chịu tu hành thì mạt pháp đổi thành chánh pháp.
Trong lúc tu, không thể để các dục niệm quấy nhiễu, nếu
có dục niệm thì lại rơi vào mạt pháp. Cho nên, vấn đề
hết sức khẩn yếu ở đây là không thể có các tâm tranh,
tâm tham, tâm cầu, tâm ích kỷ, tâm tự lợi và tâm nói dối.
Giải
Thích Về Cấu Tạo Của Chữ 'Ðạo'
Chữ 'Ðạo'
gồm vạn hữu bao la, nhiệm mầu không thể nói được. Ðúng
là: "Vạn vật nhân đạo sanh, đắc giả tự thông linh, ngộ
triệt cá trung lý, Bồ-đề bất giảm tăng." Hôm qua giảng
ý nghĩa của "Ðạo," hôm nay giảng đến sự cấu tạo của
chữ "Ðạo."
Sự cấu
tạo của văn tự Trung quốc thật là mỹ lệ vô cùng, mỗi
chữ là một họa đồ. Sự cấu tạo dựa theo sáu phương
cách, đó là tượng hình, chỉ sự, hội ý, hài thanh, chuyển
chú và giả tá.
Giải thích
một cách giản lược thì chữ Ðạo thuộc về lối tượng
hình và hội ý. Chữ Ðạo này do chữ "tẩu" và "thủ" ghép
lại. Tẩu nghĩa là hành - đi - cũng là tu hành. Không tu hành
thì làm sao đạt đạo được? Thủ là cái đầu, cũng có
nghĩa là bậc nhất. Tu hành là một điều khẩn yếu bậc
nhất, nếu chẳng tu hành thì không thoát được vòng sanh tử.
Giải thích
một cách tường tận, thì có thể nói như sau: Trên đầu
của chữ Ðạo có hai cái chấm (`'), hai chấm này biểu thị
pháp, chấm bên trái là dương, chấm bên phải là âm. Dương
tượng trưng trời, âm tượng trưng đất. Dương là càn, âm
là khôn, trời đất là càn khôn. Dương thuộc nam, âm thuộc
nữ. Tuy nhiên, trong dương có âm, trong âm có dương, cho nên
đàn ông không phải đời nào cũng là nam, có lúc cũng sanh
làm thân người nữ. Ðàn bà không phải lúc nào cũng mang
thân nữ, cũng có lúc làm thân nam. Vậy là thiên biến vạn
hóa, nhiệm mầu không thể nói hết.
Hai chấm
vừa nói là tượng trưng cho trời đất, cho mặt trăng mặt
trời, cho hai khí âm dương. Thân người có điện âm và điện
dương, huyết là âm, khí là dương. Khí là vô hình, huyết
thì hữu hình. Hai chấm đó ảo diệu vô cùng, kể ra không
hết được.
Hai chấm
này có thể nói chính là vô cực và thái cực. Vô cực là
chân không, thái cực là diệu hữu. Do vô cực mà sanh thái
cực, thái cực động sanh ra dương, thái cực tĩnh sanh ra âm.
Ðộng mà tới cực điểm thì thành tĩnh, tĩnh tới cực điểm
thì thành động, đây là quy tắc tự nhiên.
Dưới hai
chấm là chữ nhất (- ); nguyên nó chẳng phải là chữ nhất
(- ), nó vốn là một cái vòng vô cực ( O ) - vì chưa phải
là cực điểm nên chỉ là một cái vòng ( O ). Nếu tu thành
công thì vòng vô cực này sẽ là Ðại viên kính trí, nếu
không thành công thì nó là vô minh.
Chữ nhất
(-) nguyên là chữ ( O ). Ðến thời điểm thì cái ( O ) mở
ra, làm thành chữ nhất (-). Khi biến thành chữ nhất, là lúc
bắt đầu có số mục. Khi còn là cái ( O ), thì chưa có số
mục, về điểm này quý vị hãy đặc biệt lưu ý: Số mục
chưa có là chữ ( O ), khi đã có số mục thì biến thành chữ
nhất.
Chữ nhất
này, sanh ra trời, sanh ra đất, sanh ra muôn vật, sanh ra tiên,
Phật, thánh nhân. Hết thẩy mọi thứ đều do chữ nhất mà
sanh ra. Chữ ( O ) thì chẳng có gì hết, đó là chân không.
Chữ nhất sinh ra tức biến thành Diệu hữu, lúc đó cái gì
cũng có hết. Cái nhiệm mầu từ không ra có thành diệu hữu,
từ có ra không thành chân không. Lẽ đạo về chân không và
diệu hữu thật là nhiệm mầu vô cùng.
Vậy, chúng
ta phải kiếm ở đâu để có cái đạo nhiệm mầu không thể
nói hết đó? Xin trả lời: Ðó là chữ "tự." Do đó dưới
chữ nhất, nói ở trên, là chữ "tự," hàm ý rằng cầu đạo
chẳng thể hướng ở ngoài để tìm kiếm, vì hướng ngoại
thì chẳng kiếm ra chánh đạo, mà phải chiếu soi ngược lại
- hồi quang phản chiếu - tự cầu ở nơi mình.
Ðối với
cảnh giới [nhiệm mầu] đó thì trong nhà Nho có câu: "Duy tinh
duy nhất, doãn chấp quyết trung." Theo Ðạo-học thì đó là
"Bảo nguyên thủ nhất," còn Phật-giáo thì nói: "Vạn pháp
quy nhất." Có câu: "Vạn pháp quy nhất, nhất quy hợp," chữ
"hợp" ( ) gồm chữ nhân ( ), chữ nhất ( ) và chữ khẩu (
), hàm ý rằng chẳng có gì có thể nói ra được, cũng là
ý nghĩa ngậm ( ) miệng lại.
Ðó là lúc
lìa lời nói, lìa văn tự, lìa tâm suy nghĩ, là cảnh giới
"ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt," tức là nơi dứt
đường ngôn ngữ, nơi tắt đường tâm tưởng, vậy là chẳng
còn gì hết. Có người cho rằng: "Như vậy chẳng hóa ra là
người gỗ sao?" Chẳng phải vậy. Người gỗ thì chẳng có
tâm, ở đây thì có tâm, nhưng là tâm vô vi, "vô vi nhi vô
bất vi" - chẳng làm gì mà cái gì cũng làm. Ðạo lý này chẳng
thể kiếm thấy ở bên ngoài, mà phải chiếu soi ngược lại
mình , cầu nơi chính mình, lúc đó mới tới được Ðạo.
Thiền tông
có câu kệ như sau:
Vạn
pháp quy nhất, nhất quy hợp
Thần Quang
bất minh cản Ðạt-ma
Hùng Nhĩ
sơn tiền quỵ cửu tải
Chỉ cầu
nhất điểm đóa Diêm-la
Dịch nghĩa
là: Vạn pháp quy về một, một thì về chỗ hợp - góp lại.
Thần Quang không hiểu rõ đuổi theo Ðạt-ma. Trước núi Hùng
Nhĩ quỳ chín năm, chỉ cầu một điều là trốn được Diêm
Vương.
Hôm nay tôi
giảng công án này để chứng minh rằng cầu pháp chẳng phải
là chuyện dễ dàng. Người ta phải có tâm dám xả bỏ thân
này mới mong tìm được chánh đạo.
Tổ Bồ-đề
Ðạt-ma đến Quảng Châu, rồi lên bộ (Người từ Ấn-độ
đáp thuyền đi tới Trung-hoa). Khi ghé Kim Lăng (Nam Kinh), Tổ
đi ngang qua chỗ của Pháp sư Thần Quang, lúc Pháp sư đương
giảng kinh.
Tổ bước
ra hỏi: "Ông làm gì ở đây?"
Thần Quang
đáp: "Tôi đương giảng kinh."
Tổ hỏi:
"Giảng kinh để làm gì?"
Ðáp: "Ðể
thoát sanh tử."
Tổ nói:
"Pháp vốn không thể nói, không có pháp để nói. Cái ông
giảng thì đen là chữ, trắng là giấy, vậy làm sao thoát
được sanh tử?"
Thần Quang
nghe xong, giận lắm, nói: "Cái tên Ma Vương này! Ngươi dám
đến đây báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, há có lý nào?"
Nói xong Sư
cầm chuỗi hạt bằng sắt ném mạnh vào mặt Tổ. Bồ-đề
Ðạt-ma không kịp đề phòng nên bị chuỗi hạt ném trúng,
gẫy mất hai cái răng cửa. Tổ có ý nghĩ rằng: "Nếu ta nhổ
răng xuống đất, thì địa phương này sẽ bị hạn hán trong
suốt ba năm (số là nếu răng của một vị thánh mà rớt
xuống đất, chư thiên sẽ bắt tội, và phạt không cho mưa
rơi xuống vùng đó). Tổ thấy bất nhẫn, không nỡ để cho
dân chịu cảnh khổ vì hạn hán, nên Ngài nuốt luôn hai cái
răng vào bụng. Sau này trong điển cố thấy có ghi lại câu:
"Gẫy răng cửa nuốt luôn với máu" (đả lạc môn nha hòa
huyết thôn).
Vốn tu hạnh
nhẫn nhục ba-la-mật, Tổ không nói gì hết, ra khỏi giảng
đường của Ngài Thần Quang, qua sông Trường-giang rồi đi
về hướng núi Tung-sơn thuộc Hà Nam. Lúc bấy giờ, Diêm Vương
sai quỷ vô thường đi mời Pháp sư Thần Quang tham gia tiệc
yến.
Quỷ vô thường
nói với Sư: "Ông có phải là Thần Quang không?"
Ðáp: "Phải!"
Quỷ vô thường
nói: "Vua Diêm-la mời ông đi uống trà."
Thần Quang
nghe xong bèn nói rằng: "Trong lúc ta giảng kinh, hoa trời rơi
xuống, đất mọc sen vàng, ta phải chết sao?"
Quỷ vô thường
đáp: "Dĩ nhiên là ông phải chết!"
Thần Quang
hỏi: "Ai có thể không chết?"
Quỷ bèn
cho biết như sau: "Chỉ có cái ông hòa thượng da đen vừa
bị ông đánh gẫy răng cửa, mới là người không chết mà
thôi."
Lúc đó Thần
Quang liền năn nỉ quỷ vô thường: "Cư sĩ Vô Thường, xin
ông từ bi, phương tiện gia ân cho tôi, để tôi được chạy
theo vị hòa thượng da đen kia học pháp bất tử, có thể
được chăng?"
Quỷ vô thường
chấp nhận lời yêu cầu này, và Thần Quang liền ngày đêm
hướng về phía Bắc đuổi theo Ðạt-ma. Cuối cùng, Thần
Quang tới núi Hùng Nhĩ, thấy Tổ ở trong hang núi quay mặt
vào vách đá nhập định, Sư hướng tới Tổ đảnh lễ sám
hối, quỳ chín năm, mới học được pháp bất tử. Ngày sau
thành Tổ thứ hai của Thiền tông.
Chữ "tự"
nói ở trên có nghĩa là tự cường không nản, phải tự mình
cố gắng, dụng công tu hành, mới có thể đạt được lẽ
thực. Cho nên, ở phía bên phải của nó có chữ "tẩu," biểu
thị ý nghĩa hành trì, có như vậy mới có cảm ứng, mới
có chỗ thành tựu. Nếu chẳng thực hành thì dù hiểu đạo
lý cũng thành vô dụng. Ðúng là: "Nói một trượng chẳng
bằng làm một thước."
Tôi thường
nói: "Ðạo thị hành đích, bất hành hà thành đạo. Ðức
thị lập đích, bất lập ná hữu đức," cũng cùng một nghĩa
như vậy.
Thất
Tình Lục Dục Làm Chướng Ngại Tâm Tu Ðạo
Chúng ta là
người tu hành quyết phải mang tất cả những vọng tưởng
thất tình lục dục quét cho sạch một phen, thanh toán chúng
cho hết. Chúng ta phải hiểu rằng thất tình là hòn đá tảng
buộc chân chúng ta. Các vọng tưởng về thất tình sẽ làm
ngăn cản sự chuyên tâm tu đạo của chúng ta, khiến cả ngày
bị vọng tưởng lăng xăng, gặp cảnh thì tâm động, có chút
định lực nào gom góp được thì bị tiêu hao mất, há chẳng
uổng bao nhiêu công phu lâu nay đã tham thiền tĩnh tọa hay
sao?
Bất cứ
nam hay nữ đều phải tận diệt Thất-tình. Thế nào gọi
là Thất-tình? Ðó là hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục - mừng,
giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham dục; được giới thiệu một
cách giản dị như sau:
Hỷ: Không
nên mừng, mừng thì tình sẽ động.
Nộ: Không
nên giận, giận thì tình sẽ động.
Ai: Không
nên bi ai, bi ai cũng động tình.
Cụ: Không
nên sợ hãi, sợ hãi cũng động tình.
Ái: Không
nên sanh tâm tham ái, bởi tham ái làm cho tình động.
Ố: Không
nên có lòng chán ghét, chán ghét làm cho tình động.
Dục: Không
nên có dục niệm, dục niệm sẽ làm cho tình động.
Nếu nặng
tình cảm về các loại Thất-tình nói trên, hành giả sẽ
bị hoàn cảnh chi phối. Nếu Thất-tình có thể lay chuyển
được mình, thì định lực sẽ bị tiêu ma, ta sẽ bị làn
gió của các loại hoàn cảnh làm cho phiêu bạt, tâm bị lay
động, không còn làm chủ được nữa và, khi không có chủ
tức thành điên đảo.
Chúng sanh
tại địa ngục làm bất cứ chuyện gì cũng là làm trong sự
điên đảo, bởi lý do quá si mê và thiếu trí huệ. Làm cái
gì cũng là sai quấy. Chúng ta ở thế gian nếu làm sai quấy
thì cũng chẳng khác gì chúng sanh trong địa ngục, nghĩa là
làm những gì không đúng với pháp, có mục đích ích kỷ
tự lợi thì đó là địa ngục. Hoan hỷ điều này, hoan hỷ
cái kia, buồn giận vì điều này, buồn giận vì điều nọ.
Còn làm việc với những loại cảm tình đó là còn sống
trong cảnh địa ngục. Các vị hãy chú ý! Hãy nhớ kỹ! Phải
đoạn trừ Thất-tình và Lục-dục. Lục-dục tức là sáu
thứ dục do sáu căn mang lại. Sáu căn còn có tên là sáu tên
giặc, vì chúng chuyên ăn cướp tự tánh trân quý của chúng
ta. Bởi vậy chúng ta phải cẩn thận giữ gìn các cửa của
sáu căn kẻo đồ châu báu bị cướp mất.
Chín
Pháp Giới Chúng Sanh Ðều Ðiên Ðảo
Ðiên đảo
nghĩa là gì? Ðó là thấy khổ cho là vui, cho phải là trái,
cho vô thường là thường tồn. Còn có nghĩa như trường hợp
tâm tư bất định, trong đầu thì loạn tưởng, thấy việc
nghĩa chẳng làm, thấy lợi thì chạy theo. Nói tóm lại, không
phân biện trắng đen, không rõ điều chân giả, đều gọi
là điên đảo.
Câu nói:
"Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo" chính là định luật của
nhân quả. Ðầu tiên là sự mê hoặc, khởi tâm sai lầm rồi
theo đó tạo nghiệp. Tạo xong nghiệp thì nhận kết quả -
quả báo, đó là lẽ tự nhiên. Quả báo là chẳng thể nghĩ
bàn, mà chúng sanh tạo nghiệp cũng là điều chẳng thể nghĩ
bàn. Lúc đầu tiên sanh ra mê hoặc, cũng là điều chẳng thể
nghĩ bàn. Lý do là các loại sự vật, tất cả đều chẳng
thể nghĩ bàn, do đó khiến cho chúng sanh thảy đều quay cuồng,
bối rối, không biết đâu là đầu mối, như thế nào là
thích đáng.
Trong số
các chúng sanh tại chín pháp giới (tức pháp giới của hàng
Bồ-tát, của Duyên-giác, Thanh-văn, trời, a-tu-la, người, súc
sanh, quỷ đói, địa ngục), có chúng sanh thông minh và có
chúng sanh ngu si. Chỉ riêng Phật, vì có trí huệ đại viên
kính nên hoàn toàn là thông minh và không có ngu si vô minh.
Từ nhãn
quan của pháp giới Phật mà nhìn xuống thì các chúng sanh
trong pháp giới Bồ-tát rất điên đảo. Những hành động
mà hàng Bồ-tát làm và tự cho là đúng, cũng chỉ là điên
đảo dưới cặp mắt của Phật.
Từ pháp
giới của hàng Bồ-tát nhìn xuống pháp giới duyên giác thì
họ thấy giống như đám con trẻ, hành động gì cũng chẳng
chân chánh, cũng đều điên đảo cả. Nhìn lên thì Bồ-tát
lại chẳng biết gì trong pháp giới Phật, họ chỉ biết tường
tận về pháp giới Duyên-giác, cho nên mới có câu nói: "Sơ
địa không biết nhị địa, thập địa không biết đẳng
giác," nghĩa là không biết được tầng pháp giới cao hơn
mình. Gọi là biết nhưng chỉ là hiểu tình hình một cách
sơ lược, tường tận thì không biết nổi.
Tại pháp
giới Duyên-giác mà nhìn vào tầng Thanh-văn, thì chúng sanh
ở đây là điên đảo. Nhưng nhìn lên các tầng Phật và Bồ-tát
thì họ lại không biết rõ. Tại sao? Bởi họ chưa đủ định
lực. Ðịnh lực của Duyên-giác chỉ đủ để quan sát được
các nhân duyên trong phạm vi của tám vạn đại kiếp trở
về, còn nhân duyên ngoài tám vạn đại kiếp thì họ không
thể nào quan sát tới.
Tại pháp
giới Thanh-văn mà nhìn về chư thiên thì ở đây là điên
đảo. Chư thiên được hưởng phước trời nhưng đối với
nhãn quan ở bậc trên thì họ vẫn hành sự một cách điên
đảo.
Tại pháp
giới trời nhìn cảnh a-tu-la thì a-tu-la điên đảo, chúng sanh
ở đây không tu tập đức hạnh, chỉ biết đấu tranh. Ðấu
tranh là chẳng phải điên đảo thì còn là gì nữa?
Từ pháp
giới của a-tu-la mà nhìn về chư thiên thì họ không hiểu
biết gì nhiều, nhưng nhìn về thế gian nhân loại thì họ
biết một cách tường tận. A-tu-la thấy loài người điên
đảo, trôi nổi trong sanh tử mà không biết khổ, lấy khổ
làm vui, tham luyến không muốn bỏ, trông thật đáng thương.
Tại pháp
giới của loài người, thì không ai biết được cảnh giới
của a-tu-la ra sao, cũng không biết gì về đời sống của
chư thiên, hay pháp giới của các bậc thuộc hàng Tứ thánh,
nhưng đối với pháp giới của loài thú thì lại biết rõ
rệt. Họ thấy súc sanh quá hồ đồ, điên đảo, không biết
sự việc gì khác ngoài các vọng tưởng về ăn và dục.
Súc sanh nhìn
về quỷ đói thì nhận thấy quỷ đói điên đảo, chúng vì
miếng ăn mà khổ não, nhưng tới khi ăn thì đồ ăn là lửa,
chúng không nuốt được.
Tại pháp
giới quỷ đói nhìn sang pháp giới địa ngục thì thấy chúng
sanh ở địa ngục điên đảo. Chúng sanh ở đây đã tạo
ác nghiệp phải thọ ác báo, mà lại không biết sửa đổi,
cải ác ra thiện.
Tại pháp
giới địa ngục thì chúng sanh hoàn toàn không hiểu biết
gì, sống trong mê, chết cũng trong mê, chỉ biết riêng lấy
mình, không biết tới ai khác. Ðịa ngục là biển khổ mênh
mông, không còn có đường nào sáng sủa.
Tất cả
chúng sanh trong chín pháp giới thảy đều điên đảo. Chỉ
có Phật là đi đến rốt ráo, thành tựu Phật quả, nên không
còn điên đảo nữa. Bởi các lý do này, chúng ta tu học Phật
pháp là cốt chứng được trí huệ chân chánh, để khỏi
phải lên xuống trong phạm vi chín pháp giới nói trên, và
để vượt lên trên nữa, tới cõi Tịnh độ Thường Tịch
Quang, để được cùng trú chung một nơi với chư Phật.
Tại pháp
giới địa ngục, mỗi ngày có hàng vạn chúng sanh được
sanh ra rồi chết đi, trăm ngàn sự điên đảo, khổ sở không
thể nói hết. Tại sao vậy? Ở đây ác nghiệp ngập trời
nên chúng sanh phải đền tội. Trong cảnh vạn phần điên
đảo không có được nửa phần không điên đảo, do đó lìa
khỏi được pháp giới này thật là khó khăn vô kể.
So với cảnh
quỷ đói thì tuy quỷ đói ăn không đủ no, lúc nào cũng đói,
nhưng địa ngục còn khổ hơn nhiều. Trong vạn phần điên
đảo của quỷ đói, hoặc có thể có nửa phần, hay một
phần không điên đảo (các con số này đưa ra để so sánh,
chớ không có nghĩa tuyệt đối).
Tại pháp
giới của loài súc sanh thì trong vạn phần điên đảo có
một phần hay một phần rưỡi không điên đảo, tỷ như loài
dê còn biết chút tình quỳ xuống khi bú, loài quạ còn có
cái nghĩa bú mớm cho con, súc sanh mà biết hiếu đạo. Loài
thú nào được mười phần không điên đảo, có thể gặp
cơ hội đi lên theo nẻo đường thiện. Hơn nữa như loài
chó biết giữ nhà, gà gáy sáng, con tằm nhả tơ, ong gây mật,
ngựa kéo xe, trâu kéo cầy, cũng là giúp ích cho nhân loại,
có chút ít công lao, thì tương lai có thể thoát khỏi được
kiếp thú.
Tại pháp
giới của loài người trong vạn phần điên đảo, thản hoặc
có mười phần hay năm mươi phần, tối đa không quá một
trăm phần, là không điên đảo. Trong lúc không điên đảo,
người ta làm việc công đức, hoặc lạy Phật, hoặc niệm
Phật. Khi điên đảo thì vọng tưởng lăng xăng, ham danh đoạt
lợi, đấu tranh kiên cố. Tại sao trong vạn phần điên đảo
lại chỉ có trăm phần không điên đảo? Ðại khái như khi
lạy Phật chẳng hạn, lúc đó không điên đảo. Nhưng có
những lúc thân đương lạy Bồ-tát mà tâm lại cầu Bồ-tát
gia hộ, mong Bồ-tát ban cho trúng số, phù hộ cho được bình
an; thậm chí, có kẻ chẳng chịu học hành mà cũng cầu Quán
Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho đỗ trạng nguyên, đó chính là
điên đảo.
Tại pháp
giới của a-tu-la, chúng sanh cũng có khoảng trăm phần không
điên đảo, có thể trên dưới số đó chút đỉnh, bởi vì
a-tu-la tuy được hưởng phước trời, nhưng lại tự cho là
chưa đủ, và vì tâm tham nên thường đấu tranh phương hại
tự do của kẻ khác.
Tại pháp
giới chư thiên, thì ở dây có thể có một ngàn phần không
điên đảo. Họ có công phu thiền định, một đường hướng
đi lên, nghĩ tới ăn là có đồ ăn, nghĩ tới mặc là có
quần áo mặc, tâm tưởng tới cái gì là có cái đó, do đó
ít có sự điên đảo.
Tại pháp
giới Thanh-văn, trong vạn phần điên đảo thì có khoảng hai
ngàn phần không điên đảo, nhân vì các bậc này tu Tứ-đế
- khổ, tập, diệt, đạo - họ hiểu thấu các lý vô thường,
không, vô ngã, do đó ở đây ít điên đảo hơn.
Tại pháp
giới Duyên-giác, trong vạn phần điên đảo có thể có tới
ba ngàn phần không điên đảo. Ở đây các vị Duyên giác
vì quán thập nhị nhân duyên mà ngộ đạo, hiểu hết thảy
mọi thứ là như huyễn, cho nên các vị này hoàn toàn không
chấp trước vào một thứ gì.
Tại pháp
giới Bồ-tát, trong vạn phần điên đảo, có thể có năm
ngàn phần không điên đảo, do đó vẫn còn năm ngàn phần
kia điên đảo. Bồ-tát chuyên tu lục độ vạn hạnh, nhưng
vẫn còn một phần vô minh nên chưa tới độ rốt ráo.
Tại pháp
giới chư Phật, cả vạn phần điên đảo đều không có,
bởi Phật đã viên mãn ba giác ngộ, vạn đức tròn đầy;
chẳng có vọng tưởng, không có điên đảo, Phật là vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Quý vị phải
nghiên cứu kỹ đi! Tại sao chúng ta ở thế giới này chưa
thanh toán được phiền não, mà vẫn còn ở nơi hỗn tạp
đợi chết? Kẻ xuất gia không ra vẻ người xuất gia, tại
gia thì không chịu tu hành! Còn chờ đợi tới thời điểm
nào nữa mới chịu tu? Ðời này là ngũ trược ác thế, lưu
luyến sanh tử có ích lợi gì?
Quý vị!
Hãy tha thiết vấn đề sanh tử, hãy mau phát tâm Bồ-đề,
đừng tạo thêm những chuyện điên đảo nữa. Quay đầu lại
đi! Ráng lên, "biển khổ không bờ, quay đầu là bến."
Học
Thần Thông Ðể Báo Thù ?
Milarepa là
người Tây Tạng. Ðộng cơ khiến y tu đạo chẳng phải để
cứu độ chúng sanh mà để báo thù cho cha mẹ. Cũng vì lúc
khởi đầu mục tiêu không chánh đáng nên y mới lạc vào
đường trắc trở, khiến cho tư tưởng và hành vi chẳng khác
gì a-tu-la. Ý muốn thường xuyên của y là tiêu diệt người
ta, trừ mình y ra, đó là điều trái hẳn với đạo. Người
tu đạo không thể mang tâm sân hận, nuôi chí báo thù, nếu
không sẽ biến thành quyến thuộc của Ma vương.
Về sau, do
công tu mang lại chút ít thành tựu, y dùng mật chú và thần
thông để báo thù rửa hận. Kết quả thì thù đã trả xong,
hận đã được rửa sạch. Có điều những hành vi của y
không những làm trở ngại việc tu đạo, mà còn phản lại
tinh thần từ bi của người tu. Phàm là người tu đạo, phải
lấy từ bi làm gốc, mà tùy nghi hành động. Y thì trái ngược
hẳn lại, trong tâm chỉ có sự cống cao ngã mạn, không coi
ai ra gì, chẳng riêng đối với người tại gia mà còn khinh
thị đối với hạng xuất gia nữa. Cái đó là do y chỉ biết
một mình y, ngoài ra không biết tới ai khác. Y đã có những
loại ý tưởng đó thì chẳng ai nói gì cho y hiểu được.
Dụng công
tu đạo bằng tâm oán hận thì dù tu trong bao lâu cũng vẫn
còn tư tưởng thù hận. Y dùng mật chú và thần thông để
làm công việc báo cừu và rửa hận, nhưng có biết đâu như
vậy là đã sai lầm nhân quả, tương lai sẽ phải chịu quả
báo. Hành động như vậy là do quan niệm sai lầm, và tôi nghĩ
rằng y cũng biết điều đó. Tuy nhiên, biết thì có biết,
mà tâm tưởng đã bị sân hận chi phối rồi, đâu còn tự
mình làm chủ được nữa, do đó mới hành động điên đảo,
và kết quả đã đưa y vào cảnh giới ma vương, thật là
nguy hiểm.
Ai ai cũng
biết làm việc thiện là đúng, nhưng không ai muốn làm. Tại
sao? Bởi làm việc thiện thì chẳng thấy gì hay. Như giữ
giới chẳng hạn, là một điều tốt, nhưng không ai giữ giới
cả. Theo đúng quy củ là tốt, nhưng mọi người không theo.Tất
cả đều biết rõ không giữ giới, không giữ quy củ là không
đúng, nhưng cứ phạm lỗi hoài, hết thẩy mọi thứ đều
như vậy, suy ra khắc biết. Chẳng qua cái đó là do căn cơ
hạ liệt và lười biếng mà phát sanh ra. Cái đó, nói cho
ngay, không có gì là cao thượng là đạo đức cả. Có câu
nói: "Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt," hạng người
nói trên không muốn đi lên, mà chỉ muốn đi xuống (hạ đạt),
đúng là không có thuốc chữa.
Tôi thường
nói:
Tu
đạo như đăng bách xích can
Hạ lai dung
dị thượng khứ nan.
Nghĩa là: Tu
đạo cũng giống như leo lên cây sào cao trăm thước, leo xuống
thì dễ, leo lên thì khó. Hôm nay tôi nêu ra tà tri tà kiến
của Milarepa để chúng ta cảnh giác. Nói tóm lại, tu đạo
phải có lòng "vô duyên từ," có tư tưởng "đại bi đồng
thể," học hỏi tinh thần của Tiên Nhẫn-nhục (một trong
những tiền thân của đức Phật), khoan thứ mọi người mới
xứng đáng là đệ tử Phật.
Bốn
Kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không của Thế Giới
Thế giới
nhiều vô kể, vô lượng, vô biên. Mỗi thế giới (tinh cầu)
đều trải qua bốn kiếp là thành, trụ, hoại, không. Chẳng
qua, trí huệ của chúng ta hạn hẹp, chưa tới trình độ để
biết tận cõi hư không, cùng khắp pháp giới, chúng ta chỉ
biết thế giới này mà không biết tới vô số các thế giới
khác nữa.
Hiện nay,
tuy khoa học có nhiều sự tiến bộ, đã đưa người lên được
mặt trăng, một thế giới khác, nhưng cũng không thấu hiểu
hết tình huống của nó. Cái thế giới nguyệt cầu với thế
giới địa cầu của chúng ta không giống nhau. Thế giới của
chúng ta trải qua bốn tướng là thành, trụ, hoại, không và
các thế giới khác cũng có bốn tướng như vậy, chỉ có
khác là bốn tướng đó không phát sanh đồng thời với nhau.
Tại thế giới này thì tướng hiện tại là thành, thì thế
giới kia đương có tướng trụ, thế giới kia nữa là tướng
hoại, hoặc là tướng không; do đó, không cùng chung một tướng,
nên chúng ta không biết rõ tình huống của các thế giới
khác.
Không những
không biết rõ các thế giới khác ra sao mà ngay thế giới
này, chúng ta cũng không có sự hiểu biết minh bạch. Khi ông
Kha-luân-bố chưa phát hiện ra "Tân thế giới," nghĩa là chưa
ai biết tới Tây bán cầu này chẳng hạn, người ta chỉ nghĩ
rằng trời thì tròn, đất thì vuông. Sau khi khám phá ra Tân
thế giới, người ta mới chứng minh được quả đất là
tròn, do đó người ta mới gọi nó là địa cầu.
Bây giờ,
ai ngồi trong phi thuyền không gian mà ngắm cảnh địa cầu,
thấy nó cũng giống như trái banh lơ lửng giữa không trung,
xem cũng lý thú!
Gọi là "Tân
thế giới" nhưng nó chẳng phải "tân" (mới)mà là "cựu" (cũ).
Chưa phát hiện ra thì tưởng nó không có, khi phát hiện rồi
thì gọi là tân, đó chẳng qua bởi sự chấp trước vào tâm
phân biệt của mọi người mà thôi. Con người ta, trong tư
tưởng, trong nhãn quan có sự phận biệt mới cũ, kỳ thực
mọi sự đều nằm trong sự biến hóa của bốn tướng thành,
trụ, hoại, không.
Thế giới
có thành, trụ, hoại, không, thì con người cũng có thành,
trụ, hoại, không, đủ cả bốn tướng. Từ lúc sanh ra có
mặt với đời, đến khi đi học, đó là thời kỳ thành.
Học hỏi xong thì thực hành theo chí hướng, đó là thời
kỳ trụ. Về sau thì già yếu, đó là thời kỳ hoại. Hết
già là chết, chết tức là thời kỳ không. Thành, trụ, hoại,
không tức là sanh, bệnh, lão, tử.
Sau thời
kỳ sanh thì đến thời kỳ bệnh. Ai cũng có bệnh của người
ấy. Có người bảo: "Pháp sư ơi! Không thể nói chung chung
như vậy được. Có người thân thể không được khoẻ mạnh,
họ có bệnh, nhưng có người thân thể khang kiện, họ đâu
có bệnh gì?" Quí vị thấy thân thể họ không có bệnh, nhưng
trong tâm họ có bệnh, nói tóm lại không có ai mà thân tâm
lại không có bệnh. Cứ cho rằng thân và tâm cả hai đều
không bệnh, nhưng đâu phải vĩnh viễn như vậy. Về phương
diện sinh lý có thể chắc là không bệnh, nhưng tâm lý thì
có chắc hay không? Ít nhiều cũng phải có, chẳng có bệnh
nhỏ thì cũng là loại bệnh do tập khí, do chấp trước mà
sanh ra, những thứ không nhận ra chúng, không xả bỏ chúng
được, như vậy là bệnh rồi. Nhận không ra, buông xả không
được tức chẳng thể giải thoát.
Ði về không
tự chủ, sanh tử không tự do, tức là có bệnh. Không làm
chủ được mình, không giữ cho mình được trẻ mãi không
già, không bao giờ chết, đó cũng là bệnh. Nếu mà làm chủ
được chính mình, nghĩa là có thể bảo thân này phải luôn
luôn trẻ trung khỏe mạnh, không bao giờ mắt bị hoa, tai bị
điếc, tóc bị bạc, răng bị long. Quý vị có làm được
vậy không? Nếu không làm được là có bệnh.
Có người
nói: "Ngày nào tôi cũng vận động, thân thể rất khỏe mạnh,
tay chân nhanh nhẹn, đi mau lẹ như bay, chẳng đau bệnh gì."
Vậy anh có dám bảo đảm sẽ trẻ mãi, sẽ sống mãi không
già? Sợ rằng không giữ được như vậy đâu! Vì sao? Vì
trong tâm anh có bệnh. Bệnh gì? Bệnh tham, bệnh sân, bệnh
si. Tham không biết chán, càng nhiều càng tốt. Tham cầu mà
không được bèn nổi nóng, lúc đó trí huệ không lấn át
được tâm tình, đầu óc thành hồ đồ. Những vụ giết
người, đốt nhà cửa cũng từ chỗ đó mà ra, như vậy chẳng
phải bệnh là gì?
Thời gian
niên thiếu báo hiệu một sự bắt đầu của già nua. Cũng
như thế, bệnh chính là khởi thủy cho sự chết. Nói chung,
con người là một tiểu thiên địa, nên cũng có bốn tướng.
Hiểu thấu được ý nghĩa này thì không còn chấp trước
vào cái túi da hôi này, không âu yếm nó như một thứ quý
giá. Nếu thật tình không chấp vào thân thể này thì đó
là vô ngã chân chánh, vậy là thiên hạ thái bình, chẳng còn
chuyện gì phiền phức.
Con người
ở trên thế gian này, chỉ biết có cái thế giới nhỏ nhoi
này mà thôi, cho nên muốn tìm hiểu cho đến tận cùng nó
như thế nào. Nhưng, nghiên cứu đi nghiên cứu lại, rồi cũng
thế, khi đến thì hồ đồ, ra đi cũng hồ đồ. Vừa hiểu
được minh bạch thì đã ôi thôi! Ra đi! Chờ kiếp sau vậy!
Tới kiếp sau lại tiếp tục nghiên cứu, nhưng nghiên cứu
thêm chẳng được bao nhiêu thì quỷ vô thường đã tới,
lại mời đi gặp Diêm Vương. Kiếp này mà việc sanh tử không
lo nghiên cứu cho xong thì thử hỏi còn chờ đến bao giờ
nữa? Tôi hy vọng quý vị coi trọng vấn đề này để dụng
công nghiên cứu một phen, chớ để nó trôi qua uổng phí,
phải nhớ rằng:
Nhân
thân nan đắc kim dĩ đắc
Phật pháp
nan văn kim dĩ văn
Thử thân
bất hướng kim sanh độ
Cánh hướng
hà sanh độ thử thân?
Dịch nghĩa
là: Thân người khó được nay đã được, Phật pháp khó
được nghe nay đã được nghe, kiếp này nếu chẳng độ được
thân này, thì đến kiếp nào mới độ được?
Chúng ta phải
coi đó là điều cảnh giác, thường xuyên lấy đó làm cái
gương soi lại chính mình.
Nói xa xôi
hơn thì có vô lượng thế giới mà chúng ta không thể biết
được rõ ràng, điều này chẳng cần phải nhắc lại. Riêng
giữa người với người, còn biết bao nhiêu vấn đề mà
chúng ta cũng chẳng hiểu thấu. Tại sao vậy? Vì vọng tưởng
quá nhiều. Lý do gì mà vọng tưởng lại nhiều như vậy?
Vọng tưởng từ đâu mà tới? Không ai biết. Thậm chí sự
nóng giận, tham sân si, cũng ở đâu mà tới vậy? Nói chung
không thể biết. Tự chúng ta có vấn đề gì, có nhiều hay
ít? Hiểu thấu tới đâu? Tất cả đều không biết.
Những điều
nói trên chẳng phải dễ gì mà biết cho tường tận, mà chính
chúng ta cũng chẳng muốn biết chúng cho tường tận. Vì cớ
gì ? Bởi vì cả ngày chúng ta chỉ biết tranh danh đoạt lợi,
nên chẳng có thời giờ nào nghiên cứu các vấn đề đó.
Thản hoặc có người tỉnh ngộ muốn nghiên cứu mình ở
đâu mà đến, chết rồi đi về đâu, nhưng do không gặp được
thiện tri thức hướng dẫn, chỉ biết tu trong sự mù quáng,
không nắm được yếu lý của sự tu hành, nên cuối cùng
đã uổng phí công phu, tệ hơn còn bị tẩu hỏa nhập ma nữa.
Cho nên tu đạo chẳng phải là một chuyện dễ dàng.
Chẳng cần
nói qua phạm vi các thế giới khác, chỉ riêng thế giới này,
giữa người với người mà cũng toàn là những vấn đề
chúng ta không nắm vững. Vấn đề của bổn thân chúng ta,
chúng ta cũng chưa nghiên cứu rõ thì làm sao nghiên cứu được
vấn đề của người khác? Vấn đề của ta và của người
chưa minh bạch thì vấn đề về các thế giới làm sao cho
minh bạch? Làm sao mà giải quyết được? Vậy thì chẳng giải
quyết nữa ư? Không phải vậy! Nhất định là phải giải
quyết! Nếu không, thế giới sẽ bị hủy diệt. Giải quyết
cách nào? Cách duy nhất là chuyên tâm tu đạo, chứng quả
ngũ nhãn, lục thông, thì tự nhiên sẽ hiểu hết những điều
bí ẩn của vũ trụ, thông suốt luôn một lần. Khi đã biết
rõ nội tình, thì có thể cải thiện nhân tâm, trừ bỏ ba
độc tham, sân, si. Lúc đó mọi vấn đề đều được giải
quyết trực tiếp, thế giới sẽ hòa bình, vĩnh viễn không
còn tranh chấp, thế giới sẽ không bị hủy diệt. Nếu ai
không tin, xin hãy nhắm mắt lại rồi nghiền ngẫm. Nếu chiến
tranh thứ ba trên thế giới mà bùng nổ, thử hỏi hậu quả
sẽ ra sao? Mọi người ắt hiểu rằng kết quả là tình trạng
"đồng quy ư tận," cùng về chỗ tận diệt. Lúc đó chính
là thời kỳ không kiếp.
Xuất
Gia - Bố Thí Một Cách Triệt Ðể
Trong hàng
Bồ-tát có Ðại Bồ-tát, giầu có sang trọng, có nhà cửa
trang hoàng lộng lẫy, với đủ các loại vật dụng tinh mỹ
phục vụ cho đời sống. Giầu sang như vậy, nhưng nếu có
ai muốn đến cầu xin thứ gì, Ðại Bồ-tát bèn cho ngay không
chút ngần ngại. Bồ-tát tu pháp môn bố thí thì hoàn toàn
không để ý gì đến gia đình của mình, vì trong tâm đã
sớm lìa hẳn quan niệm về gia tộc. Bồ-tát đã hiểu thấu
ý niệm không về gia đình, vì gia đình chẳng qua là do nhân
duyên hòa hợp mà có, duyên hết thì lại phân ly, có gì đâu
mà phải chấp trước? Bồ-tát vốn đã nhàm chán tất cả
của cải trong nhà, từ động sản đến bất động sản,
cùng những thứ vật dụng hàng ngày. Trong sự sanh hoạt thường
ngày, vốn đã không ham thỏa mãn ngũ dục, không mặc đồ
đẹp, ăn đồ ngon, cho nên trong tâm không bị ràng buộc về
các nhu cầu vật chất. Vốn hiểu rằng gia đình cũng sẽ
tới lúc phân tán, chớ không thể tồn tại mãi, do đó Ðại
Bồ-tát thường tỏ ra lạnh nhạt trong tình cảm đối với
gia đình, chỉ muốn ly khai hẳn với cuộc đời thế tục,
để xuất gia tu đạo, cầu giải thoát khỏi vòng tam giới.
Ðến người thân trong gia đình, như vợ thì coi như cái gông
đeo cổ, con là cái xích buộc chân. Tình nhi nữ chính là cái
còng, một khi tay bị khóa thì còn nhúc nhích gì được? Thân
thể mỗi cá nhân đều bị trói buộc như vậy, ngay cả hít
thở cũng không tự do, còn nói gì đến ước mong được tự
tại? Tình huống như vậy có cái gì để chúng ta luyến tiếc
nữa?
Bồ-tát khám
phá ra điều đó, bèn buông bỏ hết, và để thoát ra khỏi
cảnh bức bách của gia đình nên mới xa lánh cuộc đời thế
tục và tu học hạnh Bồ-tát. Tám vạn bốn ngàn pháp môn
mà đức Phật dạy cho thế gian để tu tập là con đường
dẫn tới đạo quả Bồ-đề, và để trang nghiêm tự thân.
Vứt bỏ những vật ngoại thân như tiền tài mà chẳng hối
tiếc. Những tác phong như vậy của Bồ-tát đều được mười
phương chư Phật tuyên dương và tán thán như sau: "Hay lắm!
Hay lắm! Thiện nam tử! Ông thật là tinh tấn, phát tâm Bồ-đề
rộng lớn như vậy, làm những việc người ta không làm được,
vứt bỏ gia tài nhà cửa, những cái người đời không vứt
bỏ được, hết thảy mọi thứ mình có đều mang bố thí
cho người mà không hối hận, không luyến tiếc, không chấp
trước, những việc thật khó làm." Bồ-tát thấy có người
đến cầu xin mình thì cảm thấy trong lòng hoan hỷ vô cùng,
cho là mình hết sức may mắn mà gặp được cơ hội để
thực hiện đại bố thí.
Xuất gia
là một việc khó. Xá kể chi việc cắt tóc cạo râu, đắp
áo cà-sa, nói vài câu "cơ phong," mở miệng ra nói về Phật
về Pháp, nói đạo lý trong kinh sách, hoặc ngồi yên nhắm
mắt tham thiền. Những hành vi đó có thể gọi là mặc áo
Phật, ăn cơm Phật, biểu diễn vai trò của kẻ xuất gia.
Nếu quả như lời nói đi đôi với việc làm, một lòng tha
thiết từ bi đối đãi với người với vật, trước mặt
sau lưng lúc nào cũng vậy không sai trái đạo, được như
vậy mới đúng là kẻ xuất gia.
Xuất gia
có ba loại:
Thân
xuất gia, tâm không xuất gia.
Tâm xuất
gia, thân chưa xuất gia.
Thân tâm
đều xuất gia.
Trong số xuất
gia cũng ba loại trình độ, tùy theo công phu tu trì mà đoán
định.
Xuất thế
tục: Ðây là nói chung về các đệ tử xuất gia; các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni.
Xuất phiền
não vô minh: Ðây là nói về cảnh giới tu trì của quý vị
đã xuất gia, tự mình tu tự mình biết chứng tới đâu, có
điều xuyên qua tác phong nói, nín, động, tĩnh của mình, người
ngoài cũng có thể biết được. Một cá nhân xuất gia tu tập
thì mỗi ngày tập khí càng giảm thiểu, sự biểu hiện của
tham, sân, si cũng bớt dần, như lời cổ đức nói: "Từng
phần phá vô minh, từng phần pháp thân chứng." Quý vị này
đều tỏ ra cố gắng xông ra khỏi vô minh phiền não và hướng
tới con đường Bồ-đề.
Xuất khỏi
tam giới: Ðây là mục tiêu tối hậu của người xuất gia
và cũng là của hết thảy bẩy chúng trên đường tu học
Phật đạo. Mục tiêu đạt được chính là thời điểm đoạn
trừ sanh tử một cách vĩnh viễn, rồi sau đó do nguyện lực
của mình mà tự do đi về trong chín pháp giới để độ hóa
chúng sanh, đạt được cái an lạc đệ nhất của người
xuất gia.
Bồ-tát còn
phát nguyện rằng tất cả chúng sanh có thể thoát ra ngoài
sự trói buộc của gia đình, để nhập vào gia đình của
chư Phật, tu học các pháp môn do Phật chỉ dạy, và siêng
năng tu phạm hạnh. Bồ-tát lại nguyện rằng hết thảy chúng
sanh từ bỏ hết tâm tham lam keo bẩn, biến thành tâm hoan hỷ
ưa hỷ xả bố thí, lấy sự ban bố tài vật làm niềm vui,
vĩnh viễn không sanh tâm thối chuyển. Lại nguyện cho hết
thảy chúng sanh lìa những quan niệm về gia đình thế tục,
không màng tới những gì gọi là thăng quan tiến chức, dương
danh hiển thân, cùng những pháp thế gian về nối dõi tông
đường, lại càng không tham đồ bất nghĩa, tích trữ đầy
nhà, của quý đầy kho, những thứ đó đều là mầm mống
sanh ra tai ương ác nghiệp. Người xưa nói: "Ða tàng tất hậu
vong." Chứa cho nhiều, mất càng thảm. Lại có câu: "Thân biên
vô ái vật, tự vô phiền não sanh," bên mình không có vật
quý, phiền não vốn chẳng sanh. Người xưa nói quả là không
sai, cuối cùng lúc ra đi cũng chỉ hai bàn tay không. Bồ-tát
dạy cho chúng sanh nên bớt dục vọng, sống cho hồn nhiên
trung thực, tự nhiên niềm vui sẽ phát sanh.
Bồ-tát lại
nguyện hết thảy chúng sanh mau mau vượt ra ngoài phiền não
do đời sống thế tục trói buộc, học Phật pháp tu hạnh
thanh tịnh, để mai sau được hội nhập trong nhà của Phật,
cùng ở với Phật một nơi. Lại nguyện hết thảy chúng sanh
học được pháp cứu cánh viên dung vô ngại, loại trừ hết
sự chướng ngại của các pháp ô nhiễm, và được thanh tịnh
tự tại. Lại nguyện hết thảy chúng sanh, lìa khỏi tình
cảm yêu thương của gia đình, tuy thân còn tại gia, nhưng
lòng không còn chấp vào tình cảm quyến thuộc. Lại nguyện
hết thảy chúng sanh, biết khéo léo khuyên răn và hướng dẫn
những ai còn đắm đuối trong tình cảm gia đình, khiến họ
hiểu được gia đình chỉ là một tổ hợp giả tạm do nhân
duyên tạo nên để lòng họ bớt sự chấp trước. Bồ-tát
nêu lên đạo lý về nhân sanh mà Phật đã giảng dạy để
chỉ dẫn cho số người mê lầm không ra khỏi được các
pháp thế tục về gia đình, khiến họ tin theo Phật pháp,
tu học Phật pháp, minh bạch Phật pháp, không còn vướng mắc
sự trói buộc của gia đình. Lại nguyện hết thảy chúng
sanh, tuy thân còn gởi lại với gia đình, nhưng tâm thường
tùy thuận theo trí huệ của chư Phật, thực hành làm việc
đạo, an trú trong bất động. Lại nguyện hết thảy chúng
sanh, tuy nay chưa xuất gia, còn sống đời cư sĩ, nhưng tâm
nguyện của họ đã đặt vào nơi chư Phật, và có thể phổ
cập tới vô lượng vô biên chúng sanh, để tất cả đều
phát tâm hoan hỷ, phát tâm Bồ-đề rộng lớn. Ðó là đại
Bồ-tát trong hàng Bồ-tát, khi bố thí nhà cửa đã vì chúng
sanh mà thực hiện hồi hướng thiện căn. Chính là mong cho
chúng sanh thành tựu được những điều trong các đại nguyện
của Bồ-tát, cùng với các loại thần thông và trí huệ.
Lược
trích từ Hoa Nghiêm Kinh Ðệ Lục Hồi Hướng Giảng Từ
Lòng
Bồ Tát Như Lòng Mẹ Thương Con
Quý vị thiện
tín! Quý vị thử nghĩ xem làm Bồ-tát khó hay không khó? Bồ-tát
sống trong cảnh giới thần thông, xả thân mình, lấy da thịt
xương tủy của mình để làm của nội tài bố thí, cùng
lấy thành trì, vợ con, các đồ bẩy báu để làm ngoại tài
bố thí, thì như vậy chẳng phải là việc dễ làm. Không
nói rằng người đời coi chuyện chia xẻ tiền của cũng khó
khăn chẳng khác cắt da thịt của mình, đàng này Bồ-tát
lại còn tự nguyện xả thân mình cam tâm làm nô bộc cho người
khác, cái đó mới thật là khó. Nếu bất cứ ở đâu chúng
ta cũng không chiếm phần lợi về cho mình, mọi hành vi cử
chỉ đều phát ra từ lòng từ bi, không phải từ các tâm
tham, sân, si mà hoàn toàn vì lợi ích của người khác, thì
đó là việc làm của các Bồ-tát sống. Cái này chẳng phải
là dễ dàng hay sao? Nhưng, việc dễ như vậy mà có một số
không muốn làm, việc khó càng không muốn làm. Quý vị nghĩ
xem, Bồ-tát có đáng thương hay không? Các Ngài phát trăm ngàn
vạn lời nguyện lớn, xả hết các căn lành đầu, mắt, não
tủy, để hoàn toàn hồi hướng cho các chúng sanh, từng ngày
từng khắc đều mong mỏi chúng ta nhận được lợi ích hồi
hướng đó để thành Phật thành thánh. Vậy mà chúng ta vẫn
còn thản nhiên vui hưởng trong nhà lửa tam giới, trong biển
khổ thế gian, vậy thì quý vị thấy Bồ-tát có đáng thương
hay không? Tuy nhiên, Bồ-tát vẫn quyết tâm, không thoái chí,
vẫn làm việc cứu độ chúng sanh, giáo hóa chúng sanh, đem
sanh mạng và tài sản bố thí cho chúng sanh, mang công đức
căn lành để hồi hướng đến chúng sanh, với hy vọng chúng
sanh được thành Phật, thành Thánh, thành Tổ.
Quý vị!
Nếu quý vị đã từng làm mẹ, thì có thể thể hội được
lòng dạ của Bồ-tát, cũng giống như sự ân cần, tha thiết,
và tế nhị của các bà mẹ khi chiều lòng con cái. Ai làm
mẹ cũng chẳng quản thân mình yếu ớt; khi phải lo cho con
cái vẫn hết lòng hết sức, quyết dấn thân vì lợi ích
của con mình. Trong thời kỳ thai nghén, người mẹ đã bắt
đầu tính toán, xây mộng về đứa con tương lai với mọi
điều tốt đẹp, nào là nó sẽ được đủ vẻ thông minh
tài trí hơn người, nào là nó sẽ làm cho vẻ vang giòng họ,
tổ tiên, vượt lên trên cả trăm vạn người khác. Ðến
khi đứa bé ra chào đời, nghe thấy tiếng khóc oe oe đầu
tiên của nó, rồi thấy được mặt mũi nó bé nhỏ, đỏ
hỏn, thì ngay trong cái sát-na đau đớn phải chống trả trước
sự hiểm nghèo thập tử nhất sinh, chỉ một tiếng khóc đó
đã có thể xóa hết biết bao nhiêu hình ảnh gian khổ của
người mẹ trong khoảng thời gian mười tháng mang thai. Sau
đó, ngày tháng đắp đổi, ba năm bú mớm, bồng bế chăm
chút, sợ con khó nuôi, mới cầu thần bái Phật, đốt hương
thỉnh nguyện, cầu cho nó không nạn không đau, mong nó sớm
thành người. Tới lúc con trưởng thành, đứa con nào không
phụ lòng cha mẹ thì một nhà hoan hỷ. Tuy nhiên cũng có đứa
ngỗ nghịch bất hiếu, phạm thượng, hành hung tôn trưởng,
gian tà, phạm pháp, để lụy cho cha mẹ. Ấy vậy mà, làm
mẹ thì lúc nào cũng thương con, không thất vọng vì con, vẫn
cứ coi con mình là hay, không thua con nhà khác. Quý vị! Lòng
người mẹ như vậy đó! Lòng thương của Bồ-tát đối với
chúng sanh cũng giống như vậy. Phật nói ơn cha mẹ khó đền
đáp, vậy ơn của Bồ-tát đối với chúng ta làm sao có thể
báo đáp trong muôn một? Mỗi người trong chúng ta cũng phải
từng giờ từng khắc ghi nhớ hai tầng ân đức này. Bất
cứ kẻ tại gia hay xuất gia phải biết học tập từ bi làm
đầu, và đối xử với người bằng tâm khoan hậu. Nếu các
điều căn bản này mà không làm được, thì sợ rằng trên
đạo lộ Bồ-đề, không ai thấy vết chân của quý vị.
Lược trích
từ Hoa Nghiêm Kinh Ðệ Thập Hồi Hướng Giảng Từ
