Ngũ
Giới Thập Thiện Tiêu Tai Nạn
Vì chúng
sanh tạo nghiệp nên trên thế giới mới thấy xuất hiện
bao nhiêu là tai nạn. Có câu nói: "Khởi hoặc, tạo nghiệp,
thọ báo," ba thứ này liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu không
khởi hoặc thì sẽ không tạo nghiệp, và từ đó không có
quả báo.
Khởi hoặc
là khởi lên sự mê lầm, do thiếu trí huệ chân chánh nên
không sáng suốt khi đối diện với sự lý, nghĩa là tâm điên
đảo. Nói rõ hơn, đây là trường hợp không biết phân biệt
rõ ràng các điều thị phi, thiện ác, ngay đến trắng đen
cũng không phân định, chánh tà cũng không biết. Tóm lại,
tất cả đều do sự thiếu xét đoán minh bạch mà nguồn gốc
chính là sự tác quái của vô minh.
Tạo nghiệp
thì phải kể cả tạo thiện nghiệp và tạo bất thiện nghiệp.
Tạo thiện nghiệp sẽ được quả sanh ở trên thiên, tạo
ác nghiệp thì bị đọa địa ngục. Bởi không phân biệt
rõ nên mới tạo ra nào nghiệp trộm cắp, nghiệp tà dâm,
nghiệp nói dối, nghiệp uống rượu v.v.. nhưng trong các nghiệp
này thì cũng có sự khác biệt về mức độ nặng nhẹ.
Sát sanh:
Như hành động giết những con muỗi, con kiến chẳng hạn,
đó gọi là sát sanh. Giết bò giết heo là sát sanh. Nhưng trong
trường hợp này nghiệp báo không nặng lắm, bởi súc sanh
là loài ngu si, nhất thời không kiếm ra được kẻ giết mình,
mà có kiếm ra thì cũng không biết phương cách gì để báo
thù. Thế nhưng, trong thế gian, luật nhân quả rất là công
bình. Trong sự mông lung của đời sống, chẳng biết từ đâu
và do đâu, ta sẽ thấy nhân quả kiếm tới, có thể ta sẽ
mắc phải một quái tật, hay sẽ bị bệnh hành hạ, đó là
một thí dụ về sự báo cừu có tính cách tiêu cực. Như
ngày nay những người mắc bệnh ung thư, phần đông là do
kiếp trước hay kiếp này đã tạo ra các nghiệp trọng về
sát sanh, nên mới gặp loại bệnh không có thuốc chữa này.
Trong các
nghiệp sát sanh thì nghiệp sát nhân là nghiêm trọng nhất.
Nạn nhân bị giết biến thành oan hồn, tức khắc theo dõi
anh, oan cừu chẳng báo, chẳng cam tâm, nên nhất định sẽ
chờ, có cơ hội là báo oán xưa. Kẻ sát nhân ắt bị pháp
luật trừng trị, hoặc giả tâm thần không an ổn, đứng
ngồi không yên, luôn luôn ở trong một hoàn cảnh bị đe dọa,
chẳng chóng thì chầy tinh thần sút kém, nếu chẳng chết
thì cũng bị điên loạn.
Trộm cướp:
Phàm là kẻ trộm cướp, tâm thường phập phồng sợ hãi.
Người ta thường nói: "Tặc nhân đởm hư," kẻ trộm thì
gan mật suy yếu. Nếu chẳng có hành vi trộm cắp thì ngửng
lên chẳng hổ, cúi xuống chẳng thẹn, có gì đâu mà hãi
sợ? Việc ta làm, ta tạo tác, rất là đường hoàng quang minh,
còn sợ gì nữa?
Tà dâm: Hành
dâm là điều cấm tuyệt đối với người xuất gia, còn đối
với các đệ tử Phật tại gia thì việc tà dâm chỉ cấm
nếu không phải là giữa vợ chồng. Ngoài ra, tư tưởng dâm
dục cũng phải giới, không thể nào cứ từ sáng đến tối
hồ tư loạn tưởng, suốt ngày để cho tư tưởng dâm dục
ám ảnh cho đến bạc cả tóc, rụng cả răng! Có biết đâu,
tới kiếp sau những tư tưởng đó vẫn còn theo đuổi, rồi
kiếp kế tiếp mãi mãi không thôi, đúng là "vì dâm dục mà
sanh, vì dâm dục mà tử."
Nói dối:
Người nói dối, không bao giờ tin vào lời nói của bất cứ
ai. Bởi chính mình không nói lời chân thực nên cứ nghĩ rằng
người khác cũng không nói thực. Có câu nói: "Lấy cái tâm
tiểu nhân, đo lòng người quân tử." Chính mình chuyên nói
dối để gạt người khác do đó mới cho rằng người khác
cũng nói lời dối gạt như mình.
Uống rượu:
Phàm người uống rượu dễ bị mất lý trí. Ðương lúc hăng
say không kịp nghĩ tới hậu quả nên dễ tạo ra những việc
thương luân bại lý. Lý do là "tửu hậu vô đức" lý trí
lúc bấy giờ không kềm hãm được tình cảm nữa.
Nguyên nhân
các tai nạn trên thế giới đều do con người không giữ ngũ
giới, không biết tu thập thiện. Trong thời kỳ Chuyển Luân
Thánh Vương trị thế, mọi người đều giữ Ngũ-giới, tu
Thập-thiện, cho nên hồi đó trên thế gian không có mảy may
tai nạn, đúng là thời kỳ "Gió thuận mưa hòa, quốc thái
dân an". Nay thì ai nấy đều không giữ Ngũ-giới, không tu
Thập-thiện, cho nên mới có nhiều tai nạn như vậy, điều
căn bản chính là ở chỗ đó.
Ðầy
Rẫy Sát Khí Trên Thế Giới
Người nào
cũng mang trong mình một đầu đạn nguyên tử (phiền não),
chỉ chờ cơ hội bùng nổ. Sức mạnh của phiền não còn
ghê gớm hơn sức mạnh của đạn nguyên tử nữa. Các vị
thử coi! Ngày nay loài người trên thế giới rất dễ nóng
giận. Không kể nhân dân nước nào đó chẳng có công phu
tu dưỡng, mà đầu óc còn đầy rẫy những tư tưởng A-tu-la,
họ giống như là những chuyên gia về đấu tranh, từ sáng
đến tối chỉ nhằm tìm phương cách làm sao đấu tranh cho
thắng lợi. Trong tình huống như vậy, làm cho sát khí bốc
lên, tràn ngập tam thiên đại thiên thế giới. Trên không
trung đặc một bầu khí độc, khiến trong đời sống của
nhân loại phát sinh những chứng bệnh kỳ quặc.
Hậu quả
nặng nề nhất của nghiệp sát sanh là các thiên tai gây tai
họa cho loài người, hoặc đó là nạn động đất, hoặc
nạn sóng cồn [tidal waves], hoặc nạn lạnh, nạn nóng quá
dữ dội, cho đến các cảnh mưa không đều, gió không thuận,
dân chẳng an, nước chẳng thịnh, tức là những hiện tượng
bất thường xẩy ra. Còn những người mù, điếc, câm ngọng
đều do những kiếp trước tạo nghiệp sát sanh nặng nề,
khiến sau khi chết bị đọa địa ngục thọ quả khổ, rồi
chuyển sang làm quỷ đói, làm súc sinh, lên làm người. Tuy
kiếp hiện tại được làm người, nhưng vì quả báo nên
sáu căn không được đầy đủ.
Những người
có lục căn không đầy đủ, không có cơ may được thấy
Phật, được nghe Pháp, được gặp Tăng, vì sự chướng ngại
đó mà thành vô duyên với Tam Bảo; tóm lại cứ phải luân
hồi trong vòng lục đạo, chuyển lên chuyển xuống, tìm không
ra cánh cửa giải thoát.
Những ai
làm việc thiện, có thể sanh lên ba nẻo đường thiện, cảnh
trời, cảnh người, cảnh A-tu-la. Những ai tạo nghiệp ác
thì sẽ sanh vào ba nẻo ác (tam ác đạo), tức địa ngục,
quỷ đói, súc sanh. Người xưa có câu: "Xuất mã phúc, nhập
lư thai, Diêm Vương diện tiền kỷ độ hồi. Cương tòng Ðế
Thích điện tiền quá, hựu đáo Diêm quân oa lý lai." Người
ta chẳng phải nhất định cứ giữ thân người mãi, có lúc
làm ngựa, có lúc làm lừa, thường thường là khách viếng
điện Diêm Vương, bồi hồi chẳng đi, chẳng biết đã bao
nhiêu lần rồi. Vừa mới đi ngang qua trước điện Linh Tiêu
ở trên cung vua Ðế Thích (Ngọc Hoàng Ðại Ðế), tức vừa
ở trên tầng trời, nhưng thời gian ở đây chẳng được
lâu, nay đã phải tới chầu Diêm Vương, lọt vào cái vạc
dầu sôi nóng bỏng.
Chẳng ai
có thể tự mình bảo đảm kiếp nào cũng làm được công
đức, tạo nghiệp thiện. Cũng có khi vì đầu óc hồ đồ,
không phân biệt rõ ràng, do hoàn cảnh sai khiến mà tạo nên
nghiệp tội, phạm vào các nghiệp sát sanh, trộm cướp, tà
dâm, nói dối, uống rượu, năm giới cấm.
Chẳng phạm
ngũ giới mà tu thập thiện thì có thể sanh lên các tầng
trời, hưởng thọ phước trời và khoái lạc. Phước báo
ở trên cõi trời so với phước báo ở thế gian thì gấp
vạn lần. Cho nên lên tới cảnh trời rồi thì chẳng ai còn
muốn xuống thế gian. Khi phước báo cõi trời đã hưởng
hết, phải trở về thế gian thì cũng là hạng đại phú đại
quý, chẳng phải hạng tầm thường trong xã hội.
Làm kiếp
A-tu-la là do nhân duyên có tâm đấu tranh kiên cố. Họ chỉ
có thiên phước mà không có thiên quyền và thiên đức. Tên
của họ có nghĩa là "vô tửu." Bởi không có rượu uống
nên họ phải đi ăn cướp. Họ tuy ở tầng trời, nhưng không
có rượu uống, do đó thường hay tranh đoạt với trời Ðế
Thích, với mục đích chiếm ngôi báu. A-tu-la chính là một
loại thổ phỉ ở trên tầng trời. Số thổ phỉ trên thế
gian chính là hóa thân của A-tu-la vậy. Nói tóm lại, A-tu-la
chính là hạng ưa đấu tranh.
Ngày
Nguyên Ðán Nói Giáo Lý Phật
Hôm nay là
ngày xuân tiết, nhằm năm Nhâm Tuất của vòng sáu mươi hoa
giáp, thuộc năm con chó. Có người bị thương nặng vì chó
cắn, có người thì được chó bảo vệ an toàn. Chó bảo
vệ người lành mà cắn người ác. Người ác tuy ác, nhưng
tạm thời được vô sự, cái đó là lý do gì? Người xưa
thường nói: "Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo. Thiện
ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ hữu lai tảo dữ lai trì,"
nghĩa là thiện thì có quả thiện báo, ác có quả ác báo;
thiện ác đến cùng đều có báo ứng, chỉ có báo sớm và
báo muộn mà thôi, tơ hào không hề sai sót. Nhân quả là một
định luật không thay đổi từ ngàn xưa.
Gieo trồng
nhân lành sẽ kết thành quả lành, nhân ác sẽ kết quả ác.
Những điều chúng ta gặp đều do nghiệp xưa đã được tạo
tác, thế tất phải thọ lãnh quả. Khi thọ lãnh quả, chúng
ta không nên trách trời oán người mà phải coi như chuyện
đương nhiên, giữ tâm bình thản mà thọ lãnh. Vận mệnh
cũng không phải là cái gì nhất định vì tất cả đều do
chính chúng ta tạo tác. Làm nhiều việc thiện, vận xấu biến
thành tốt, làm nhiều điều ác, vận tốt biến thành xấu
cho nên vận mạng cũng là nằm trong tay chúng ta. Người xưa
thường nói: "Mệnh do ngã lập, phúc tự kỷ cầu. Họa phúc
vô môn duy nhân tự chiêu," nghĩa là mạng do ta lập ra, phước
do chính ta cầu; họa phước đều không có cửa, do người
tự chuốc lấy. Nói về sự an bài của vận mạng, thì người
bình thường có số mạng còn đối với những bậc đại
thiện nhân vận mạng của họ vượt ra ngoài khuôn khổ của
số mạng. Kẻ đại ác cũng thế, không hạn định trong vòng
số mạng. Như vậy là nghĩa gì? Lấy thí dụ, cá nhân này
sanh ra đời không thể làm ác, nhưng người đó đã gây ra
tội ác, như vậy tức đã vượt ra ngoài vòng số mạng. Cũng
như thế, người kia ra đời không thể làm việc thiện, vậy
mà đã làm được việc thiện, tức cũng đã vượt ra ngoài
vòng số mạng. Nếu vượt ra ngoài số mạng thì vận mạng
cũng có thể cải biến.
Người làm
việc thiện sẽ có các vị thiện thần hộ pháp tới ủng
hộ, người làm việc ác cũng có thần ác đi theo, cho nên
người ta nói: "Sự báo ứng của thiện ác như bóng đi theo
hình." Nói tóm lại, làm việc thiện thì được sống lâu,
làm việc ác thì bị giảm thọ, thọ mạng chính là do mình
vậy. Nếu muốn cải tạo vận mạng của mình, quý vị hãy
đọc "Liễu Phàm Tứ Huấn," trong sách đó có nói rất tường
tận, ở đây khỏi nói thêm.
Hôm nay là
ngày đầu tiên của năm kể theo nông lịch. Có câu: "Nhất
nguyên phục thủy, vạn tượng cánh tân," nghĩa là ngày đầu
thì trở về bắt đầu lại, muôn sự đều đổi mới, vậy
chúng ta nên bắt đầu từ hôm nay, canh tân trong việc tu hành,
nhất định làm cho hay, kẻo uổng phí thời gian, không giống
như năm vừa qua không thực hiện được gì. Năm nay, quyết
phải khai ngộ. Trước hết ta hãy phát điều nguyện này,
chắc chắn có chí thì nên!
Mọi người
tu đạo trong cái kho băng lạnh [ice box] này cần phải hết
sức dũng mãnh và tinh tấn, nếu không sẽ bị đông cứng
thì quả là không đáng, uổng phí một phen tâm huyết, cô
phụ cái quyết chí của chúng ta lúc ban đầu. Kim Sơn Thánh
Tự là cái tủ tuyết, Vạn Phật Thánh Thành là cái kho băng.
Cho nên đa số đến thành Vạn Phật, không chịu nổi lạnh,
phải bỏ đi nơi khác, chỉ có một vài người ngu si không
sợ lạnh, không sợ cóng mới ở lại kho băng để dụng công
tu đạo. Nhưng cũng có người cắn răng cố gắng chiến đấu
với lạnh, đáng khen ở cái chí, ở cái tinh thần không chịu
khuất phục, nhưng lại đáng tiếc ở chỗ ưa ngủ nghỉ mà
không muốn tu. Nếu đã muốn ngủ, sao không đến chỗ ấm
áp để ngủ, mà phải tới cái kho băng này để ngủ? Như
vậy đâu có thoải mái.
Tại sao chúng
ta phải khổ tu như vậy? Chính là muốn sanh đạo tâm. Nếu
ở tại đạo tràng này, thì ngày ngày phải tu đạo, chớ
không phải để vui đùa, ngày ngày ngủ cho đã, để lãng
phí thời giờ quý báu. Ở trong cảnh ngộ khổ, mới biết
phát tâm đạo, mới phát tâm Bồ-đề, không tham hưởng thọ,
không mưu cầu an lạc. Tuy trong hoàn cảnh khổ mà tâm vẫn
an nhiên, không bị cảnh ngộ chuyển đổi, mà ngược lại
có khả năng chuyển đổi cảnh ngộ.
Người ta
bảo: "Nghịch cảnh tạo anh hùng." Chúng ta ở trong hoàn cảnh
gian nan khốn khổ, phát tâm Bồ-đề rộng lớn, coi tất cả
thế gian là không, coi:
Phú
quý ngũ canh xuân mộng
Công danh
nhất phiến phù vân
Nhãn tiền
cốt nhục dĩ phi chân
Ân ái phản
thành cừu hận
Mạc bả
kim già sáo cảnh
Hưu tương
ngọc tỏa triền thân
Thanh tâm
quả dục thoát hồng trần
Khoái lạc
phong quang bổn phận
Dịch nghĩa
là:
Cảnh
phú quý một trường xuân mộng
Bả công
danh một đám phù vân
Thân này
xương thịt chẳng chân
Tình ân ái
sẽ đổi thành cừu hận
Gông vàng
đeo cổ chi thêm quẩn
Ngọc quý
đừng mang bận tấm thân
Thanh tâm
bớt dục thoát trần
Hưởng thú
phong quang làm bổn phận.
Chúng ta nên
theo như vậy mà tỉnh ngộ, ngay trong hoàn cảnh khó khăn chúng
ta hãy dụng công tu đạo.
Nhân dịp
năm con chó, có bài kệ tụng như sau:
Cựu
niên qua khứ hựu nghinh tân
Kê minh cẩu
đạo khởi củ phân
Khẩn thủ
môn hộ phòng thất thiết
Tự lợi
lợi tha tận duy tâm.
Giải thích
sơ lược như sau: Năm ngoái đã qua rồi, nay lại nghênh tiếp
năm mới. Năm cũ là năm con gà, năm nay là năm con chó, tức
không phải thời kỳ tốt, cho nên chúng ta phải cẩn thận
giữ gìn cửa ngõ, kẻo của quý bị mất. Của quý này chính
là bổn tính chân thực của mình, cũng là cái trí huệ sẵn
có của mình, chớ để nó mất tiêu, do đó sáu cửa là sáu
căn phải được canh giữ, kẻo của quý vô giá bị thất
thoát. Tự lợi lợi tha là hành đạo Bồ-tát, chỉ có do tâm
mà thấy được, chớ không phải do bên ngoài. Tôi mong mọi
người biết tiếc thời giờ, không giống như năm ngoái để
ngày tháng qua đi suông, rất uổng. Năm nay quyết cố gắng
nhiều lên, dụng công thiền quán, phát nguyện khai ngộ. Chúc
các vị, xuân tiết an lạc, vạn sự như ý!
Bắt
Chước Tinh Thần Bồ Tát Ðịa Tạng
Thế nào
gọi là Bồ Tát Ðịa Tạng? Vị Bồ-tát này cũng như đại
địa, chứa hết vạn vật. Hết thảy vạn vật do đất mà
sanh ra, nương đất mà lớn lên. Bất kể chúng sanh hữu tình
hay vô tình, không thể rời khỏi đại địa mà tồn tại
được, từ đó mà suy ra con người chúng ta mỗi một lần
thở ra, thở vào, một cử một động, một lời nói một
hành động, từng giờ từng khắc, đều sinh hoạt ở trên
pháp thân của Bồ Tát Ðịa Tạng, chẳng qua chính chúng ta
không hay biết đó mà thôi.
Như con kiến
càng bò trên con thuyền, nó không biết tới con thuyền. Con
thuyền trôi nổi trên biển, ghé khắp mọi nơi, nhưng con kiến
càng đâu có biết thuyền là cái gì? Thuyền đi tới đâu?
Hoàn toàn không biết gì cả. Lý do tại sao vậy? Bởi thuyền
thì quá lớn, kiến thì quá nhỏ. Chúng ta sinh tồn trên pháp
thân của Bồ Tát Ðịa Tạng cũng cùng một ý nghĩa như vậy.
Chúng ta sống
trên quả địa cầu, không nương vào một chỗ nào trong không
gian cả. Ðịa cầu do phong luân nhiếp trì, theo quy luật tự
nhiên mà vận hành bất tuyệt trong quỹ đạo. Trong hư không,
địa cầu phiêu diêu xoay chuyển, rồi cuối cùng nó đi tới
đâu? Sự hiểu biết của các nhà Thiên văn học bất quá
chỉ là danh từ mà thôi, rốt cuộc như thế nào họ cũng
chẳng biết.
Chuyện huyền
bí của trời đất chẳng ai hiểu rõ một cách chân chánh.
Biết được thực sự bí mật của vũ trụ họa chăng chỉ
có các bậc thánh nhân đã chứng quả. Chúng ta là kẻ phàm
phu tục tử không thể hiểu hết, ý nghĩa của nó là chẳng
thể nghĩ bàn. Chúng ta đều là hạng hồ đồ ăn uống tạp
loạn.
Chúng ta sinh
ra đời, từ thiếu niên lên tráng niên, từ tráng niên đến
tuổi già, từ tuổi già đến chết, đó là con đường mà
người đời trải qua, không ai có thể thoát ra ngoài định
luật này. Trong cuộc sống như vậy, có người thì gặp rất
nhiều khổ nạn - nghiệp chướng nặng - lãnh tận cùng sự
khổ đau, rồi từ đó nhận thấy thân tâm tính mạng tựa
hư ảo, sanh ra những tư tưởng yếm thế, coi cuộc đời chẳng
còn hứng thú gì nữa. Có người xuất thân trong gia đình
giầu sang - nghiệp chướng nhẹ - các thứ ăn mặc nơi ở
đều thuộc giới thượng lưu, đời sống đầy đủ, được
toại lòng xứng ý. Như người ta thường nói: "muốn gió có
gió, muốn mưa có mưa," thậm chí muốn cả mặt trăng, cha
mẹ cũng chiều lòng tìm cách đưa trăng xuống cho con. Ðời
sống như vậy, trông vào thì tuồng như rất vui sướng, rất
mỹ mãn. Kỳ thực, chẳng phải như vậy, mà chính là một
đời hồ đồ chẳng điều gì được minh bạch, có thể nói
là "túy sinh mộng tử," sống say chết mê. Không có được
sự hiểu biết chân chánh, tỷ dụ như vì sao ta đến thế
giới này? Ðến để làm gì? Ðến để ăn uống chăng? Ðể
mặc áo quần chăng? Hoặc giả đến để lừa gạt người?
Ðến để hưởng thụ? Ðó là những điều mà thế gian mê
mờ, không ai có thể phá được sự chấp mê đó.
Chẳng riêng
gì số người tại gia không phá được cái cửa mê này, mà
đối với giới xuất gia cũng còn bị hãm trong vòng mê hoặc.
Danh không buông được, lợi không bỏ được, chỗ nào cũng
chạy theo duyên, chỗ nào cũng vướng mắc, thật là đáng
thương vô cùng. Những người xuất gia phải nên có ý nghĩ,
tại sao ta xuất gia? Bởi vì ta đã coi nhẹ hết thảy mọi
thứ trên thế gian này, chẳng chấp các pháp thế gian, do đó
mới xuất gia tu đạo đặng giải quyết vấn đề sanh tử.
Người xuất
gia phải tha thiết với vấn đề sanh tử, phát tâm Bồ-đề,
chớ không thể hồ đồ chờ chết, như người ta nói: "Một
ngày làm sư, một ngày đánh chuông." Với một tâm lý đó
xuất gia, đối với vấn đề sanh tử quả là không nắm vững
được tí nào.
Chúng ta vào
thất Ðịa Tạng, nên học hỏi tinh thần cứu độ chúng sanh
của Bồ Tát Ðịa Tạng. Trong thời quá khứ, Bồ-tát từng
phát mười tám lời nguyện lớn, nguyện chúng sanh thoát ly
biển khổ, tới bờ an lạc. Ngài nói rằng: "Ðịa ngục chưa
trống, nguyện chẳng thành Phật," và "Ðộ hết chúng sanh,
mới chứng Bồ-đề." Ngài lại nói: "Ta không vào địa ngục
thì ai vào địa ngục." Thật là những lời nguyện vĩ đại!
Các vị phải nên bắt chước pháp của Bồ-tát, học hỏi
tinh thần cứu người quên mình. Bồ Tát Ðịa Tạng nay vẫn
còn trong địa ngục chịu khổ để thuyết pháp cho các chúng
sanh.
Chúng ta cùng
ở trong pháp thân của Ngài Ðịa Tạng, lại cùng là người
xuất gia, cùng với Ngài vốn là đồng chí đồng đạo trong
việc quảng độ chúng sanh. "Ðặt mình trong chốn nước sôi
lửa bỏng, cứu chúng sanh tới bờ mát mẻ" chính là bổn
phận của người xuất gia. Ðược như vậy không uổng một
đời xuất gia, hy vọng tất cả cố gắng!
Người xuất
gia không thể có tâm tham, phải quét trừ cho sạch tâm này,
nếu không sẽ không đủ tư cách làm người xuất gia. Nếu
còn tham cái này, tham cái kia, cái gì cũng tham, càng nhiều
càng tốt, thậm chí vơ vào hết mọi thứ rác rưởi để
tích trữ lại, như vậy quả là đáng thương đến cực điểm
vậy!
Niệm danh
hiệu của Bồ Tát Ðịa Tạng thì chúng ta phải niệm cho thật
rõ ràng, để Bồ-tát hiểu rõ tâm ý của chúng ta. Tại sao
chúng ta niệm Bồ Tát Ðịa Tạng? Mục đích của chúng ta
là khiến Bồ-tát sau khi nghe tiếng chúng ta niệm, Ngài biết
rõ ý muốn của chúng ta để phát tâm từ bi, cho chúng ta được
thỏa mãn tâm ý.
Năm nay chính
là năm đầu của thời kỳ "Cửu tinh liên châu," tượng trưng
cho sự hung hiểm. Chúng ta không cần biết có hung hiểm hay
không hung hiểm, chỉ biết là chúng ta một tâm kiền thành
niệm "Nam-mô Ðịa Tạng Vương Bồ-tát," nguyện cầu tai họa
lớn của thế giới đổi thành tai họa nhỏ, nếu là tai họa
nhỏ thì biến thành tiêu tan. Bởi vậy chúng ta chỉ một lòng
khẩn thiết, vì toàn thể nhân loại trên thế giới nguyện
cầu hòa bình, hạnh phúc, đó chính là mục đích chúng ta
vào thất Ðịa Tạng.
Ðây chính
là quảng đại tâm, vô lượng tâm mà kẻ xuất gia ai cũng
phải ghi tạc trong lòng, coi chúng sanh như người thân của
mình, giống như câu người ta nói: "Người chết đuối, ta
chết đuối, người đói ta đói," phải phát tâm Bồ-tát,
tự lợi lợi tha,tự giác giác tha, tự độ độ tha. Bởi
vậy trong thời gian vào thất của pháp hội Bồ Tát Ðịa
Tạng, chúng ta thành tâm chừng nào thì sẽ tốt chừng ấy,
chúng ta đem hết thành tâm ấy niệm "Nam mô Ðịa Tạng Vương
Bồ-tát."
Miệng chúng
ta hết sức thành kính niệm Bồ Tát Ðịa Tạng, vậy là bánh
xe của sáu nẻo luân hồi ngừng xoay. Không biết bao nhiêu
là chúng sanh nhờ cơ hội này mà có thể ra khỏi cảnh luân
hồi thoát ly khổ ách. Có thể nói rằng niệm danh hiệu Bồ
Tát Ðịa Tạng là một công việc thần diệu, một công đức
chẳng thể nghĩ bàn, do đó chúng ta không nên niệm trong sự
mưu đồ, trong sự đặt giá, không phải vì sự trả ơn của
chúng sanh mà niệm, tóm lại chúng ta niệm vì lòng tình nguyện.
Bởi các lý do trên đạo tràng của chúng ta đột nhiên cử
hành thất Ðịa Tạng, chẳng báo trước gì, cũng không tuyên
bố gì. Trong số trú tại Vạn Phật Thánh Thành mà cũng có
người không hay biết. Cái đó chính vì cơ duyên, cơ duyên
hội đủ nên mới cử hành thất Ðịa Tạng.
Thất Ðịa
Tạng kết thúc thì tiếp theo là thất Quán Âm (ngày 19 tháng
2 âm lịch), để cầu cho hòa bình thế giới, xin tất cả
mọi người cố gắng đến niệm "Nam-mô Quán Thế Âm Bồ
Tát."
Có câu "chúng
chí thành thành," tức là góp ý chí - của số đông - sẽ
tạo thành thành trì, tất cả cùng một lòng niệm, gắng sức
niệm, hết sức thực tâm niệm, tức có cảm ứng, như câu
"cảm ứng đạo giao" vậy. Cử hành thất Ðịa Tạng hay Quán
Âm, chúng ta chỉ cần không có lòng riêng tư, tự lợi, không
tranh, không tham, không cầu, mà thực sự chỉ vì hạnh phúc
của chúng sanh trên thế giới.
Tại
Vạn Phật Bảo Ðiện của Vạn Phật Thánh Thành,
từ ngày
7 đến ngày 12 tháng 3 năm 1982
Không
Nên Làm Ô Nhiễm Hư Không
Chúng ta cùng
với hư không là một, chúng ta có những vọng tưởng gì,
tự nhiên chúng ta sẽ phát ra những ý vị cùng loại, làm
đầy ắp hư không. Hư không đã bị ô nhiễm, chúng ta lại
hấp thụ khí ô nhiễm vào mình, bèn sanh ra tật bệnh, nhẹ
thì thân thể không thơ thới, nặng thì ôi thôi!
Những vọng
tưởng về tà tri tà kiến của chúng ta, như các tâm sát sanh,
trộm cướp, tà dâm, nói dối, sân hận, ghen ghét, những loại
tâm chướng ngại, đều chứa đựng độc tố ở bên trong,
nên khi chúng phát ra sẽ làm cho không gian bị ô nhiễm. Bởi
không gian chứa nhiều độc tố, thành thử hấp thụ chúng
vào cơ thể, cơ thể sẽ trúng độc, các tế bào sẽ biến
thể, nạn nhân nếu không mắc chứng ung thư thì cũng là một
loại bệnh nặng, không vượt qua được. Bởi lý do đó, chúng
ta phải làm sao cho tư tưởng và hành vi lúc nào cũng chánh
đại quang minh kẻo trời đất bị nhiễm thêm độc khí. Vũ
trụ mà bị tràn ngập độc khí, thì chúng sanh toàn thế giới
phải trúng độc mà tử vong,.
Vọng tưởng
của chúng ta mang tính cách bất thiện, độc khí trong hư không
sẽ tăng thêm một chút ít; vọng tưởng của chúng ta mà thiện
thì cái ý vị tốt lành trong hư không cũng sẽ tăng thêm.
Ðộc khí nếu đầy ắp hư không sẽ vạn lần tàn khốc hơn
bom đạn nguyên tử.
Trong con người
của chúng ta, cũng có đạn nguyên tử, đạn khinh khí, đạn
hạch tâm. Nếu trong tâm không có thứ này thứ kia, thì trên
thế giới cũng không có hiện tượng này, hiện tượng kia.
Cái đó nghĩa là, bên trong có cái gì thì bên ngoài cũng hiện
ra cái đó, nếu trong không có gì, ngoài cũng không thấy có
gì biểu hiện, như câu nói: "Vạn pháp duy tâm tạo."
Người xưa
có câu: "Thiên hạ bổn vô sự, dung nhân tự nhiễu chi," nghĩa
là thiên hạ tự nó chẳng có chuyện gì, có chuyện là do
người gây rắc rối. Ðây là ám chỉ những kẻ ngu si, nhận
thấy cái nầy thật, cái kia thật, thật này thật kia, rồi
chết cũng thật, mà chính mình chẳng hiểu chết ra sao, đáng
thương quá!
Kẻ ngu si,
sống trong thế gian, nào điên đảo, nào phiền não, nào tranh
cãi, chẳng bao giờ thôi. Ở ngoài không có, ở trong thì có
; ở trong không có, trong giấc ngủ thì có. Có cái gì? Có
vọng tưởng. Vọng tưởng rối bời, tâm không thanh tịnh.
Phải nhớ rằng vọng tưởng chính là hòn đá buộc chân người
tu đạo, trở ngại cho chúng ta khó thành tựu đạo nghiệp.
Các vị coi!
Người ta đúng là một quái vật, chính mình lại không nhận
ra mình là quái vật, còn coi tấm thân này là quý giá phải
yêu thương bảo vệ, lúc nào cũng nghĩ tới nó. Phải uống
viên thuốc bổ vitamin đi! Sống thêm vài năm nữa! Bất cứ
ai, linh mục, mục sư, hòa thượng, phần đông cứ mỗi ngày
phải uống những viên vitamin, coi như đó là nguồn sinh lực,
nguồn khang kiện, một phương cách duy trì sinh mạng, trường
sanh bất tử.
Bây giờ
tôi nói cho quý vị nghe! Hãy bớt vọng tưởng đi, cái đó
còn hữu dụng hơn bất cứ thứ thuốc bổ nào. Không tin sự
thật đó thì quả là quá si mê. Ðó là đạo lý chân chánh,
không thể không tin, nếu như không tin tức là không có trí
huệ. Người không có trí huệ thì không biết tin vào chân
lý.
Thế nào
là chân lý? Chân lý là đạo lý chân chánh. Lấy một thí
dụ, người có nhiều lòng dục, thì dùng thuốc bổ gì cũng
vô hiệu. Lý do là ở tính chất của chữ "lậu," lậu tức
là thấm ra, thoát ra ngoài.
Người đó
không hiểu rõ ý nghĩa của phép dưỡng sanh chân chánh: thanh
tâm quả dục, giữ tâm trong sạch, ít dục vọng. Chúng ta
là kẻ tu hành, đầu tiên là bỏ ái trừ dục, một quy tắc
căn bản, nếu không, dù có tu đến tám vạn đại kiếp cũng
chẳng thành tựu được gì.
Tôi từ San
Francisco đến Vạn Phật Thánh Thành giảng kinh, lẽ dĩ nhiên
tôi phải nói đúng sự thật, khiến quý vị hiểu rõ thực
tánh của việc tu đạo. Nếu tôi không nói thật cho quý vị
hay thì trời lạnh như thế này, tất cả đều ngồi ở trong
giảng đường sẽ bị gió lạnh xâm nhập, nếu như không
đạt được chân lý, thì công chịu lạnh chẳng được ích
gì, cứu vãn không lại.
Ðiều tôi
nói ngày hôm nay là sự thật, tôi mong quý vị nghe xong thì
tự liệu lý lấy ba độc tham, sân, si của mình, đừng phóng
độc khí lên không gian, ngỏ hầu giúp cho hết thẩy chúng
sanh được hít thở chút không khí tươi mát, thì công đức
của quý vị thật là vô lượng, giống như gián tiếp làm
cuộc phóng sanh vậy. Tôi hy vọng thêm rằng tất cả chúng
ta hãy cố tiêu diệt vọng tưởng. Nếu không có vọng tưởng
thì hoàn toàn được tự tại, rất quý. Như vậy, có chịu
lạnh cũng không uổng công.
Mùa đông
tại Vạn Phật Thánh Thành chính là để khảo nghiệm định
lực của các vị tu hành, để huấn luyện thân tâm của các
vị. Tới mùa hè, Vạn Phật Thánh Thành cũng là một trường
khảo nghiệm.
Hết
thẩy là khảo nghiệm,
Coi thử mình
ra sao,
Ðối cảnh
như không biết,
Phải luyện
lại từ đầu.
Các vị phải
ghi nhớ mấy câu này.
Sau đây mấy
ngày chúng ta sẽ tổ chức Phật-thất và Thiền-thất (một
Phật-thất, ba Thiền-thất, hạn kỳ là 28 ngày). Theo nghĩa
câu "Ðông thiền, Hạ học," thì trong mùa Ðông, khí hậu lạnh
lẽo, người ta nên tu tập tham thiền. Trong những ngày hè
vì trời nóng bức, tốt hơn là nghe giảng kinh và thuyết pháp.
Tại sao? Nếu như tham thiền trong bầu không khí oi ả, ngồi
như vậy sẽ đổ mồ hôi, trong tâm sinh phiền muộn và ngồi
lâu không nổi. Trời Ðông, lạnh ngăn ngắt, khi ngồi xuống
tựa như ôm một khối băng trong lòng phải cắn răng chịu
đựng. Lúc đó trong mình sẽ có một luồng hơi ấm bốc lên,
xua đuổi khí lạnh không cho nó len lỏi vào cơ thể, và như
vậy sẽ an tâm tĩnh tọa, dễ có cơ duyên vào định. Nếu
như không phát động được luồng hơi ấm trong thân, hành
giả sẽ cảm thấy lạnh xâm nhập. Ôi chao! Trời lạnh quá!
Lạnh chết người à! Quý vị không dụng công, cố nhiên cảm
thấy lạnh; nếu dụng công thì chẳng thấy lạnh.
Nay có công
án này, nói ra để tham khảo. Trước đây có một vị thiện
tri thức dẫn một nhóm đệ tử đi ra ngoài hành cước tham
vấn đạo. Tất cả đều là dân miền Nam, nay đi lên phương
Bắc lại gặp lúc mùa đông giá lạnh, trời băng đất tuyết
khiến các loại côn trùng đều bị chết lạnh. Nhóm đệ
tử chịu không nổi lạnh mới đốt lửa lên để sưởi ấm.
Vị thiện tri thức thấy vậy bèn quở cho một phen: "Người
tu đạo nếu không ráng chịu được đói rét thì còn tu tập
gì được," nói rồi ông tính lấy nước để dập tắt lửa
đồng thời dạy rằng: "Các ngươi không biết phát động
lò lửa bên trong của mình, lại chạy ra ngoài kiếm lửa cho
ấm, thật là chẳng có chút chí khí nào, chẳng có chút quyết
tâm nào!" Các đệ tử thấy sư phụ giận, đều im tiếng
không dám nói một câu, dập tắt hết lửa, thấy lửa bên
trong mình nhen nhúm lên, bèn ngồi luôn xuống đất tĩnh tọa
và không còn cảm thấy lạnh nữa. Từ đó thấy rằng, chúng
ta không thể nhờ cậy vào duyên bên ngoài, mà phải biết
tự cường, dùng nghị lực của chính mình để khắc phục
mọi hoàn cảnh bất như ý.
Ðạo,
Quý ở Hành
Học Phật
pháp thì càng học càng phải thông minh mới có được cơ
hội khai ngộ. Chẳng thể càng học càng ngu si, học lâu mà
trí huệ không tăng trưởng, lại còn hồ đồ thêm, chẳng
hiểu như thế nào là chánh pháp với tà pháp. Tại sao có
tình trạng đó? Lý do vì không chịu nghiên cứu đến tận
cùng. Nghe xong Phật pháp thì chúng ta phải thi hành một cách
thực tiễn, y giáo phụng hành, y pháp tu hành. Chẳng phải
nghe xong kinh thì mang kinh cất trên kệ sách, rồi chẳng kể
đến kinh nữa. Ðạo lý nghe xong, phải nên tha thiết tự hỏi
chính mình, có noi theo được đạo lý đó không. Học Phật
pháp như vậy mới không uổng công phu, mới không lãng phí
thời gian quý báu.
Người xưa
nói: "Lời nói là pháp, việc làm là đạo." Còn nói rằng:
"Nói cho tốt, nói cho hay, chẳng thực hành, chẳng phải đạo,"
lại có câu: "Ðạo là hành, chẳng hành, đạo chẳng có dụng
ích; Ðức là lập thành, chẳng lập đâu còn đức." Trời
giá lạnh như thế này, đến để giảng Phật pháp, để nghe
Phật pháp, thế tất phải thực hành một cách thực tiễn,
mới gọi là biết nghe pháp. Nếu không, nghe được bao nhiêu
kinh, bao nhiêu pháp, đều thành vô dụng. Về điểm này, mong
quý vị phải hiểu một cách sâu xa.
Tu đạo!
Tu đạo! Tu đạo! Phải tu đạo! Như thế nào là tu đạo?
Ăn cơm là tu đạo, mặc áo là tu đạo, ngủ là tu đạo. Khi
ăn ta phải ăn cho hết sạch, chớ không phải chỉ ăn nửa
chén cơm còn nửa kia thì đổ vào thùng rác, vậy là tiêu
hết phước báo. Khi mặc thì quần áo phải cho sạch sẽ,
không thể mặc dơ dáy, nếu không sẽ mất vẻ oai nghi. Khi
ngủ cũng phải giữ sạch như vậy, chăn gối phải cho chỉnh
tề tinh khiết, chớ không sống luộm thuộm, để người ngoài
trông vào thì hết cả vẻ trang nhã. Hơn nữa, đối với người
xuất gia thì bốn oai nghi lớn là đi, đứng, nằm, ngồi càng
phải được chú trọng.
Vạn Phật
Thánh Thành trong lúc còn mới mẻ, thì chỗ nào cũng phải
có quy củ, hết thẩy mọi thứ phải làm cho tốt đẹp. Trước
tiên hãy bắt đầu từ chỗ nhỏ, mỗi ngườì dọn dẹp sạch
sẽ nơi căn phòng của mình, một tờ giấy, một cây bút,
cũng phải xếp vào nơi chốn của chúng; một cái kim, một
sợi chỉ cũng không vứt bừa bãi. Phải nuôi dưỡng các thói
quen tốt, để ngày sau đi ra ngoài tham vấn, hoặc tá túc (quải
đơn) tại một đạo tràng nào còn giữ được cung cách tề
chỉnh, không sai sót, tránh trường hợp "thiên đơn" (phải
đi nơi khác). Ðiểm này, xin đặc biệt chú ý.
Giữ
Miệng Phòng Tâm
Cổ đức
có câu: "Thiện ác lưỡng điều đạo, tu đích tu, tạo đích
tạo" (thiện ác hai con đường, đường tu và đường tạo).
Ðiều này nói ra hoàn toàn xác đáng. Tu cái gì? Tu đường
thiện. Tạo cái gì? Tạo nghiệp ác. Thiện tri thức cảnh
giác chúng ta mà không bao giờ chán, có điều chúng ta ngu si,
không biết lãnh giáo những điều ngay, cứ việc ta ta làm,
chỉ biết lợi cho mình mà không nghĩ lợi cho người khác
và, nói cách khác là chỉ biết tạo nghiệp ác, không tu thiện,
cho nên không thể nào ra khỏi sáu nẻo trong vòng luân hồi.
Ý nghĩ của
chúng ta kể ra thì vô lượng, vô biên, vô cùng tận. Niệm
thì chạy lên thiên đàng, niệm thì xuống địa ngục. Vọng
tưởng về thiện tức thuộc phạm vị thiên đàng, vọng tưởng
về ác thì thuộc về địa ngục, do đó, chúng ta nhất cử
nhất động, một lời nói một công việc làm, lúc nào cũng
phải thận trọng, từng giờ từng khắc lưu tâm, đâu đâu
cũng phải chú ý, trong ngoài như một.
Trông bề
ngoài thì hành động rất tốt, nhưng bên trong thì đầy vọng
tưởng, cái đó cũng không mang lại kết quả. Phải làm sao
cho trong ngoài như một, không chạy theo vọng tưởng mới được.
Có những người trong tâm thì đầy vọng tưởng, nghĩ rằng
người ngoài không ai biết, rồi cứ như vậy ngày ngày vọng
tưởng, cho đến khi xuống địa ngục cũng mang theo, mà chính
mình thì không biết tại sao đọa địa ngục. Những hạng
người như vậy thật đáng thương!
Chúng ta là
người tu học, ở chung phải giữ miệng. Ðại chúng ở chung
một nơi, phải đề phòng chuyện thị phi. Có câu nói rất
chí lý: "Họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập." Nghĩa
là họa do bởi lời từ miệng thốt ra, bệnh cũng do từ miệng
mang vào. Chúng ta không nên bạ đâu nói đấy, cố tránh chuyện
phiền phức, giữ miệng cho kín là tốt hơn cả. Lại có câu:
"Thị phi chỉ vì hay mở miệng, phiền não đều do cưỡng
xuất đầu." Ðộc tọa phòng tâm, nghĩa là khi ngồi một mình
chúng ta phải cẩn thận đề phòng tâm ý, chớ theo vọng tưởng,
nhất là các tư tưởng về dâm dục. Người xuất gia càng
phải đặc biệt chú ý, quản lý kỹ càng cái tâm, không cho
những tư tưởng vô ích đến quấy nhiễu.
Vọng tưởng
thì ai ai cũng có, nhưng khi đã khởi vọng tưởng thì ta phải
vận dụng các phương cách để khống chế, không cho vọng
tưởng làm mưa làm gió. Những phương cách đó là hoặc ta
niệm Phật, hoặc ta trì chú, hoặc giả ngồi thiền, bái sám,
tóm lại kiếm một cái gì khác để làm, sao cho tinh thần
tập trung lại thì sẽ không có vọng tưởng.
Người tu
đạo, thứ nhất phải phá được cánh cửa sắc dục. Nếu
không phá được nó thì không có hy vọng tu tập thành công.
Cả ngày mà đầu óc hồ đồ, tâm điên đảo, cũng không
thành công. Cho nên tôi thực thà nhắn quý vị là chúng ta
phải hàng phục cái tâm này. Hàng phục tâm chính là dứt
cái niệm dâm dục. Nếu không đoạn trừ được nó thì dù
tu cho đến tám vạn đại kiếp cũng chẳng khác gì nấu cát
để hòng có cơm ăn, xưa nay chẳng có chuyện đó bao giờ.
Các vị có
muốn tu thành quả thánh vô lậu không? Ðoạn dục cắt ái,
thanh tâm quả dục, thì còn có chút hy vọng, nếu không, không
hy vọng gì, tốt hơn là mau mau hoàn tục kẻo lãng phí thời
gian!
Bất kể
là phái nam hay phái nữ, hoặc giả là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, là người già hay trẻ nít, ai nói đạo
lý chánh đáng thì ta nghe, ai nói không chánh đáng thì đừng
có tin, chúng ta nhất định phải có con mắt chọn pháp (trạch
pháp nhãn). Hợp đạo lý thì đi tới, không hợp đạo lý
thì rút lui; chọn điều thiện mà theo, bất thiện thì sửa
đổi, đó là quan điểm hết sức cơ bản của người tu.
Có người
biết rõ lỗi của mình mà không sửa đổi, biết mà vẫn
làm quấy. Những hạng người này rất khó giáo hóa, họ chẳng
kham nổi Phật pháp, chẳng thể học gì thêm. Người ta nói:
"Gỗ mục khó đẽo gọt, tường bằng phân khó trét," nếu
chính mình không tự giúp cho mình, tự mình coi thường mình,
thì ai còn coi trọng mình, ai còn giúp đỡ mình nữa? Ðó là
điều cần phải tự xét cho kỹ.
Giòi
Bọ Trên Thân Mình
Kinh Hoa Nghiêm
nói: Trên vô số báo thân của chư Phật hiện ra vô số các
lỗ chân lông. Tại mỗi lỗ chân lông lại hiện ra các cõi
của chư Phật, hiện ra cả bông sen quý to lớn và vô số
các lá sen. Mỗi lá lại phóng hào quang, mỗi tia hào quang lại
phóng quang nữa, hiện ra bao nhiêu sắc tướng, vô cùng vô
tận. Trong hào quang hiện ra mặt trăng, trong mặt trăng lại
có mặt trăng. Những loại cảnh giới đó là do chư Phật
biến hiện ra.
Trên thân
thể của chúng ta cũng có sự hiện xuất. Hiện ra cái gì?
Hiện ra các con trùng. Trên thân thể của chúng ta có vô số
các con trùng, các con trùng này còn hôi thối hơn các con giòi
bọ ở cầu tiêu nữa. Trên mình các con trùng này cũng có
vô số các con vi khuẩn, mà mắt thường của chúng ta không
thể thấy được, ngoại trừ những ai đã chứng được thiên
nhãn thông mới có thể thấy chúng (các kính hiển vi tối
tân hiện nay cũng chưa soi được các loại này). Các vi khuẩn
đều vô cùng dơ bẩn, chẳng qua chúng ta không biết đó mà
thôi. Hãy xem cái con trùng lớn này (thân thể con người),
người ta trân quý nó biết bao, nó quan trọng như thế nào,
lại sợ nó bị đói bị khát, còn sợ nó bị lạnh, bị nóng,
nghĩ hết mọi cách để bảo vệ nó! Tại làm sao lại thương
mến nó như vậy? Nguyên do là bởi ba độc. Có tâm tham tức
sẽ sanh ra con trùng tham dục. Có tâm sân bèn sanh ra con trùng
sân. Có tâm si tức sẽ có con trùng ngu si, nói tóm lại, có
tư tưởng gì thì sẽ có con trùng cùng loại.
Tư tưởng
của chúng ta còn dơ dáy hơn gấp bội các con giòi bọ trong
cầu tiêu, nó chứa đựng toàn là những thứ tà tri tà kiến,
chẳng có chút nào chánh tri chánh kiến. Tư tưởng càng dơ
bẩn, thì càng nghĩ tới những điều dơ bẩn, thậm chí tạo
thành một thế giới dơ bẩn, đầy sự nhiễm ô, cho nên mới
biến thành ngũ trược ác thế (thế giới ác có năm thứ
không trong sạch.)
Ngũ trược
ác thế là do chúng ta có những tư tưởng không thanh tịnh
mà tạo thành. Thế giới Ta-bà này, nguyên nó không ô trược,
chính do chúng ta làm cho nó thành ô trược. Ngũ trược gồm
kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược,
mạng trược, năm thứ không trong sạch, đáng sợ biết chừng
nào !
Trong tâm
chúng ta có những niệm không chánh đáng, đại khái như có
niệm tật đố chẳng hạn, cùng niệm chướng ngại, thường
thường nổi lên mà chúng ta không thừa nhận, lại đem dấu
bên trong, cho là không ai biết. Kỳ thực hành vi đó còn mười
phần xấu xa hơn của bọn yêu ma quỷ quái. Nói trắng ra,
nó xấu xa đến độ có thể sánh với hành động phóng ra
uế khí và mùi xú uế xông tới tận tầng trời ba mươi ba
khiến Ngọc Hoàng Ðại Ðế phải bịt mũi mà chạy. Các vị
nghĩ coi! Mùi xú uế đó lợi hại hay không lợi hại? Mùi
hôi thối không thể nào chịu được.
Tư tưởng
và hành vi của mình cũng hôi thối như vậy, mà mình không
tự biết, còn tự cho mình là thanh cao, có biết đâu rằng
ta đã làm ô nhiễm cái thế giới này. Bởi đó mà có ngũ
trược ác thế.
Các vị nên
biết, chúng ta có một niệm chánh tức chúng ta đã giúp vào
cái chánh khí của trời đất; một niệm tà tức là phát
ra mùi xú uế, uế khí xông lên, trời đất không chịu nổi.
Ðây không phải là lời nói chơi, một câu chuyện đùa, chính
ra là nó như thế.
Tại sao trời
làm hạn hán mà không có mưa? Vì người ta phóng ra uế khí,
xông lên tận hư không, khiến cho loài rồng chuyên làm mưa
không chịu nổi mùi uế khí, phải chạy đi nơi khác nên không
hoàn thành được nhiệm vụ của nó.
Thái
Thượng Lão Quân Thanh Tịnh Kinh
Chúng ta học
Phật pháp là để tu đạo, tu đạo là để thành Phật; muốn
thành Phật, ắt phải học Phật pháp; học Phật pháp nhất
định phải tu đạo, có tu mới thành Phật, đây là đạo
lý bất di bất dịch. Trong thời gian tu đạo thì mọi hành
động mọi tạo tác đều vượt ra ngoài phạm vi tư tưởng
cùng hành vi của thế gian. Người đời thì còn dính mắc
với sanh hoạt của gia đình, còn ham khoái lạc sung sướng,
ham thụ hưởng. Người xuất gia thì sống ngược hẳn lại,
xả bỏ khoái lạc, xả bỏ an vui, xả bỏ hưởng thụ. Người
ta nói: "Xả bất liễu tử, hoán bất liễu sanh; xả bất liễu
giả, thành bất liễu chân." Tức là: Không xả được cái
chết, không đổi được sự sống; không xả được cái giả,
không thành được cái chân. Buông bỏ cái giả xuống thì
lượm cái chân lên. Học Phật pháp, phải tu đạo. Ðạo thực
ra là gì? Ðạo không có hình tướng gì cả, bởi vậy Lão
tử nói rằng:
Ðại đạo
vô hình, sinh dục thiên địa. Ðại đạo vô tình, vận hành
nhật nguyệt. Ðại đạo vô danh, trưởng dưỡng vạn vật.
Ngô bất tri kỳ danh, cưỡng danh vị đạo. Phù đạo giả,
hữu thanh hữu trược, hữu động hữu tĩnh, thiên thanh địa
trược, thiên động địa tĩnh. Nam thanh nữ trược, nam động
nữ tĩnh, giáng bổn lưu mạt, nhi sanh vạn vật.
Trên đây
là một đoạn kinh văn trong Thanh Tịnh Kinh của Lão tử. Lão
tử phân tích nghĩa "đạo" một cách rõ ràng, có thể dùng
để tham khảo.
Truyền thuyết
trong Phật giáo thì ghi rằng Lão tử chính là hóa thân của
tôn giả Ðại Ca-diếp, bởi Tôn giả ưa thích già lão, dù
già nhưng chí không già, khi đã luống tuổi rồi vẫn còn
tinh cần tu hạnh đầu-đà, thường ăn những thứ người
ta không ăn được, mặc những đồ người ta không thèm mặc,
trú ngụ tại những nơi người ta không trú được, đây chỉ
là mấy điều trong mười hai điều khổ hạnh của Tôn giả
mà người đời sau thường lấy đó làm mực thước.
Theo truyền
thuyết thì Lão tử ở trong bụng mẹ tám mươi mốt năm trước
khi ra đời. Tại sao như vậy? Bởi trong một kiếp trước
Lão tử từng học kinh Dịch nên ít nhiều có sự tâm đắc,
và đối với Bát-tự về thời điểm sanh, ông nghiên cứu
kỹ để chọn lựa thời gian nào ra đời tốt đẹp nhất,
căn cứ theo sự phối hợp của năm, tháng, ngày, giờ (bốn
yếu tố thời gian này tính theo cả can và chi, nên gọi là
Bát-tự [tám chữ]), lúc đó ông mới ra đời. Có điều, gặp
được năm tốt thì tháng lại không tốt, gặp được tháng
tốt thì ngày lại không tốt v.v.. cứ như thế ông chờ tới
tám mươi mốt năm mà không kiếm ra được một thời điểm
cát tường. Khi ông ra đời, đầu tóc đã bạc, râu đã bạc,
nhưng tinh thần lại trẻ, đúng là "hạc phát đồng nhan" (tóc
trắng như hạc, dung nhan thì trẻ), không có vẻ gì là già
lọm khọm. Bởi vậy, người đời gọi ông là Lão tử.
Lão tử sanh
vào thời Ðông Châu, đồng thời với Khổng tử. Sử ký chép
rằng: "Khổng tử hỏi Lão Ðam (Lão tử) về lễ, khi về có
cái cảm thán (người đó) cũng giống như rồng." Triều đại
nhà Châu, Lão tử có làm chức Thủ-tạng-lại (người coi
thư viện), về sau ông cỡi trâu xanh, khi đi qua cửa quan Hàm
Cốc, bị quan Lệnh doãn Hỷ nhận ra, ông này đến cầu mà
học được đạo. Lão tử nói hai thiên Ðạo Ðức Kinh, thiên
trên nói về đạo, thiên dưới nói về đức, tổng cộng
hơn năm ngàn lời. Về sau không ai biết tung tích gì nữa.
Lão tử nghiên
cứu thiên văn học, lại nghiên cứu địa lý học, đối với
nhân văn ông cũng nghiên cứu, do đó ông viết ra bộ kinh gọi
là Thanh Tịnh Kinh. Kinh văn như sau :
Ðại đạo
vô hình, sinh dục thiên địa: Vũ trụ lớn rộng như vậy,
nhưng lại do đạo mà sanh ra. Nếu không có đạo, thì trời
đất, trăng sao v.v.. đều không có, tất cả chỉ là một
cái thể hỗn độn. Bởi có đạo nên mới có trời, đất,
vạn vật, rồi có tiên, Phật, thánh nhân.
Rốt cuộc
đạo là cái gì? Ðạo không có hình tướng, nhưng có tác
dụng "sinh sinh bất tức, hóa hóa vô cùng." Ðạo cũng là cái
O (vòng tròn), vậy mới có thể sanh trời, sanh đất, sanh vạn
vật, sanh tiên, Phật, thánh nhân. Cái đó đều do từ tính
chất của cái O mà ra.
Ðại đạo
vô tình, vận hành nhật nguyệt: Ðại đạo thì không có tình
cảm, đối trước vạn vật thì bình đẳng; không giống như
con người, hành động trong tình cảm, có nhân tình, có ái
tình. Người xuất gia cũng có đạo tình - quý vị thấy đó!
Tu đạo phải nên dứt tình, phải vô tình, một chút cảm
tình cũng nên bỏ, tức là "quét hết thẩy tình, đoạn hết
thẩy dục." Có người nói: "Như vậy là giống như cây cỏ
bất nhân hay sao?" Không phải vậy. Ðó là hiện tượng vượt
pháp thế gian.
Mặt trời
là tinh hoa của yếu tố dương, mặt trăng là tinh hoa của
âm, cả hai đều vận hành bất tuyệt trong quỹ đạo, do đó
mới có bốn mùa là xuân, hạ, thu, đông, chi tiết hơn thì
phân ra thành hai mươi bốn tiết, bẩy mươi hai hậu. Tiết
và hậu đều phát sinh từ sự vận hành của mặt trăng và
mặt trời vậy.
Ðại đạo
vô danh, trưởng dưỡng vạn vật: Ðại đạo không có tên,
nhưng hết thẩy vạn vật đều từ trong đại đạo mà sanh
ra và lớn lên. Cảnh giới này, càng nghiên cứu càng thấy
nó ảo diệu vô cùng.
Khi tôi mới
mười sáu tuổi, tôi đã từng làm bài kệ sau đây: "Vạn
vật nhân đạo sanh, đắc giả tự thông linh, ngộ triệt cá
trung lý, Bồ-đề bất giảm tăng," đại ý như thế này: Hết
thẩy mọi thứ đều do đạo mà sanh ra. Ai muốn thì sẽ có
trí huệ, sẽ thông đạt mọi thứ không trở ngại, và hết
thẩy đều sáng tỏ. Có tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông.
Tại sao Phật lại được như thế? Bởi vì Phật đắc đạo,
đã được khai ngộ, đã chứng Phật quả. Chúng ta tại làm
sao không được như thế? Bởi vì chúng ta bị tập khí ràng
buộc một cách kiên cố, khiến cho thủy chung không hề có
sự canh cải để đổi mới, nên không biết phân biệt rõ
ràng. Nếu như có trí huệ, tự nhiên sẽ có nhận định phân
minh về các diệu lý, biết đạo giác ngộ là không tăng cũng
không giảm, vì tới đây là đã đạt được quả vị vô
học.
Ngô bất
tri danh, cưỡng danh vị đạo: Lão tử nói rằng: "Ta không
biết tên của nó là gì, ấy là ta miễn cưỡng đặt cho nó
một cái tên, gọi là 'Ðạo' mà thôi!" Tiếp theo Lão tử giải
thích như sau:
Phù đạo
giả! hữu thanh hữu trược, hữu động hữu tĩnh: Cái đạo
này, có thanh, cũng có trược. Thanh tịnh đến cực điểm
thì hóa ra trược, trược đến cực điểm thì hóa ra thanh.
Cái đạo này, tánh chất của nó là tự nhiên, giống như
hơi điện vậy nó có động có tĩnh, động là dương và tĩnh
là âm, cho nên có câu: "nhất dương nhất âm chi vị đạo,"
một dương với một âm là đạo.
Thiên thanh
địa trược, thiên động địa tĩnh: Trời thì thanh, khí thanh
bốc lên tạo thành bầu trời; đất thì trược, khí trược
chìm xuống thành ra đất. Trời thì động, có mặt trăng mặt
trời vận hành, các sao di động, đều là động cả. Ðất
thì tĩnh, núi sông, đất rộng, và nhà cửa đều ở trạng
thái tĩnh.
Nam thanh nữ
trược, nam động nữ tĩnh: Phái nam thì thuộc về thể thanh
tịnh, phái nữ thì thuộc thể ô trược. Nam thì động, chủ
về phía ngoài, gây dựng sự nghiệp, đi bôn ba khắp nơi.
Nữ thì tĩnh, chủ về bên trong, giúp chồng dạy con, quản
lý gia đình. Vợ chồng phân công hợp tác, tạo nên gia đình
tốt đẹp. Nay thì nam nữ bình quyền, kinh tế bình đẳng,
thậm chí đi đến chỗ đồng tính luyến ái, cái đó chính
là phản lại luật âm dương của trời đất, tạo thành tai
vạ, ắt đọa địa ngục.
Giáng bổn
lưu mạt, nhi sanh vạn vật: Từ gốc đi tới ngọn, vào trong
luân hồi lục đạo, sanh ra làm người hay chẳng phải người,
đó là các loại động vật hữu tình, rồi trăm ngàn thứ
kỳ lạ, cái gì cũng có cả. Nói về con người chẳng hạn,
ta thấy biết bao nhiêu loại chủng tộc, mầu da không giống
nhau, tướng mạo và thân hình cao lớn khác nhau, tính tình
cũng chẳng giống nhau nữa, tóm lại, có rất nhiều tướng
trạng khác biệt. Các loài động vật khác, thì cứ suy ra
khắc biết, cũng nhiều điều dị biệt. Vạn vật là nói
chung, bao gồm cả chúng sanh hữu tình và vô tình. Hữu tình
là các loài động vật, chúng sanh vô tình là các loài thực
vật và khoáng vật.
Các vị hãy
nghĩ lại cho kỹ, nếu như chúng ta không tu đạo một cách
đàng hoàng thì chi bằng chúng ta đừng xuất gia. Sống tại
gia, chúng ta còn có thể ăn uống, vui chơi, tùy hứng, không
bị bó buộc, không gặp trở ngại. Khi đã xuất gia, lại
không chịu tu hành, thì xuất gia như vậy rốt cuộc là để
làm gì? Há chẳng phải là ngu si lắm sao? Nói cho đúng ra thì
quả là đáng thương lắm! Xuất gia thì chỉ một việc tu
hành, mới không uổng công, không lãng phí thời giờ, mới
không phụ cái tâm nguyện lúc bắt đầu. Hãy hiểu cho thấu
mục đích xuất gia của mình, đó là sự khai ngộ, là thành
Phật. Nếu nửa đường lùi bước, sanh tâm thoái chuyển,
thì như vậy, ở trên sẽ có lỗi với chư Phật, cha mẹ,
các vị thầy tổ đã kỳ vọng nơi mình, ở dưới sẽ đắc
tội với chúng sanh đã có lòng gởi gắm. Chúng sanh đương
hy vọng chúng ta sẽ cứu độ họ thoát khỏi biển khổ, nhưng
nếu như trong trường hợp vừa nói, chúng ta đã làm cho họ
hoàn toàn thất vọng rồi !
Ðạo
Tràng Của Chánh Pháp Trụ Thế
Vạn Phật
Thánh Thành là đạo tràng của chánh pháp trụ thế, là nguồn
phát tích của Phật giáo thế giới và cũng là nơi Phật giáo
thế giới trở về nguồn. Vạn Phật Thánh Thành có cơ có
sở, thì thiên ma ngoại đạo phải bàng hoàng hãi sợ, đến
độ dựng đứng lông tóc. Bàng môn tả đạo cũng sẽ khẩn
trương, chúng run sợ, ngủ không an giấc, ăn không biết mùi
vị, nên chúng phải nghĩ hết mưu kế, tìm mọi biện pháp
để phá hoại, để tiêu diệt Vạn Phật Thánh Thành, sao cho
Vạn Phật Thánh Thành bị thất bại, đi đến chỗ tiêu vong,
không tồn tại được. Chúng nghĩ như thế có khác gì kẻ
si nói trong mơ, một chuyện không thể nào làm được.
Vạn Phật
Thánh Thành là một đạo tràng được mười phương chư Phật
hộ trì. Ðó là "từ đất vọt lên, hiện thành tháp Bảo
Vương," cho nên Vạn Phật Thánh Thành kiên cố như kim cương,
không ai có thể phá nổi, không ai tiêu diệt nổi. Nói cách
khác, Vạn Phật Thánh Thành chính là một "đài ánh sáng" -
đăng đài - chiếu ánh sáng thanh tịnh vào những nơi u tối
trong tâm của chúng sanh, dẫn dắt chúng sanh trên con đường
giác ngộ Bồ-đề.
Hễ người
nào trú ngụ tại Vạn Phật Thánh Thành là đều có sẵn thiện
căn lớn, có đức hạnh lớn. Nếu không vậy, họ đã không
tới nơi đây. Những người có đức hạnh đến Vạn Phật
Thánh Thành cũng giống như đi vào tòa Bảo sơn, gặt hái được
những của quý vô giá - minh tâm kiến tánh. Người không có
đức hạnh, đến đây thì chẳng khác gì ngồi trên thảm
đinh, không cảm thấy an ổn.
Trên quả
đất này Vạn Phật Thánh Thành là đạo tràng khởi thủy
việc hoằng dương chánh pháp, cho nên đối với các chúng
trú ngụ ở đây, mỗi hành vi, mỗi cử động, mỗi lời nói
đều giữ đúng quy củ của Phật chế ra. Chỉ có trong con
mắt của bọn yêu ma quỷ quái thì chúng mới thấy khác, mà
cho là sai quấy. Vạn Phật Thánh Thành có lệ ăn mỗi ngày
một bữa (nhật trung nhất thực), dạ bất đảo đơn, đêm
không ngả lưng xuống giường (hiếp bất trước tịch), đắp
y thường xuyên (ca-sa bất ly thân), trai gái không nói chuyện
(hỗ bất giảng thoại). Người ngoài cho như vậy là lạc
hậu, không hợp trào lưu, vì sao? Bởi Vạn Phật Thánh Thành
đề xướng chánh pháp còn người ta thì ưa sống trong thời
kỳ mạt pháp, sống buông thả không muốn bị hạn chế. Bởi
vậy, Vạn Phật Thánh Thành có làm ra chuyện gì, có hành động
gì thì bị coi như sai quấy, và họ phải tận lực công kích,
phá hoại và tiêu diệt.
Có nhiều
người đến Vạn Phật Thánh Thành cảm thấy trong người
không được tự tại. Cái đó là do họ còn nhiều tập quán
hỗn tạp của thế gian, nên khi đến nơi họ gặp ngay sự
trở ngại, khiến tâm không hoan hỷ với các thanh quy của
Vạn Phật Thánh Thành. Họ thấy các vị xuất gia khổ tu thì
cho rằng như vậy là trái với tự nhiên. Họ không hiểu rằng:
"Chịu khổ thì hết khổ, hưởng phước thì hết phước."
Ðây chính là lời dạy quý giá. Chỉ vì muốn hưởng an lạc
nhất thời, mà gieo nghiệp báo cho kiếp sau.
Vạn Phật
Thánh Thành không a dua theo các tệ đoan, người của Vạn Phật
Thánh Thành cũng vậy, tất cả đều phát tâm Bồ-đề, nỗ
lực dụng công tu đạo. Cho nên ở đây khi có thất Ðịa
Tạng, hoặc thất Quán Âm, hoặc Phật thất hay Thiền thất,
bất kể lúc nào, mọi người đều ráng chịu cực khổ, không
lúc nào nghỉ ngơi. Muốn xuất gia tu đạo, lại không muốn
chịu khổ, lại muốn được an vui, muốn hưởng thụ, rồi
muốn khai ngộ, muốn thành Phật, thì thật chưa có cái đạo
lý nào như vậy.
Trên đời
không bao giờ có chuyện chẳng làm mà được ăn. Cứ nghĩ
chiếm riêng phần tiện nghi cho mình chỉ là một vọng tưởng
của kẻ ngu si. Người xưa có nói: "Một phần cày bừa là
một phần thâu hoạch," một câu hết sức chí lý. Các chúng
trú ngụ tại Vạn Phật Thánh Thành đều hiểu rõ nguyên tắc
này, cho nên ai ai cũng cố gắng, ai ai cũng nghiêm chỉnh tu
hành, dụng công và làm việc đạo, phát tâm Bồ-đề. Mỗi
ngày từ sáng đến tối một mực tinh tấn, không còn thời
giờ dành cho vọng tưởng nữa. Ðiều cốt yếu là không chạy
theo duyên, không lân la quan hệ với bất cứ ai. Ai đến Vạn
Phật Thánh Thành phải nên nhận thức rõ rệt như vậy.
Ngoại đạo
không thể phá hoại được một cây, một cọng cỏ trong Vạn
Phật Thánh Thành. Tại sao? Vì tà không thể thắng được
chánh. Vạn Phật Thánh Thành là đạo tràng của chánh pháp
trụ thế, là nơi mà chư Phật và chư Bồ-tát hộ trì, nên
trước sau Vạn Phật Thánh Thành vẫn dành được phần thắng,
sóng gió gì cũng qua, cũng tồn tại. Ai có lòng khác chỉ uổng
phí tâm cơ mà thôi.
