Bạch
Vũ Trụ
Băng thiên
tuyết địa, vô số điều tế trùng, đống tệ thả chập
miên, tĩnh lý quan sát, động trung thẩm đế, long tranh hổ
đấu thường du hý, quỷ khốc thần hào ảo hóa kỳ, chân
thực nghĩa tuyệt ngôn, bất tư nghị, đương tiến xu, đại
tiểu mẫn, nội ngoại phi, vi trần biến, pháp giới châu,
hốt luân cá viên dung, hỗ tương vô ngại, song quyền đả
phá hư không cái, nhất khẩu thôn tận sát hải nguyên, đại
từ bi phổ độ, lưu huyết hãn, bất hưu tức.
Hôm nay tôi
muốn cùng quý vị giảng bài Vũ Trụ Bạch. Tại sao gọi là
Vũ trụ Bạch? "Vũ" tượng trưng cho bốn phương và hai hướng
thượng và hạ. "Trụ" là bao quát từ cổ chí kim, vũ trụ
hợp lại chính là thế giới, gọi bằng một tên khác. Bài
này cùng với bài "Mãn Giang Hồng" của Nhạc Phi cũng na ná
tương ưng với nhau. Năm xưa Nhạc Phi cùng với quân Kim đại
chiến, máu nhuộm Trường-giang, do đó ông làm bài "Mãn Giang
Hồng," còn truyền lại đến ngày nay. Còn bài "Vũ Trụ Bạch"
được làm tại chùa Kim Sơn ở San Francisco. Cái vũ trụ trắng
này chẳng phải chỉ riêng có giang bạch, sông trắng, mà toàn
thể vũ trụ đều là trắng cả. Sao lại nói là vũ trụ trắng
vậy? Số là Kim Sơn Thánh Tự cũng giống như một cái hộp
tuyết lớn, băng giá. Trong phạm vi nhỏ thì cả chùa là một
tòa nhà lạnh lẽo, còn trong phạm vi lớn thì có thể nói
rằng cả cái thế giới biến thành mầu trắng, không có một
mầu đen nào, và từ đó có đề của bài này.
Năm 1972,
chùa Kim Sơn từng cử hành pháp hội lần đầu, tụng Lục
Ðại Minh chú. Pháp hội kéo dài liền bảy ngày đêm, có chừng
hơn sáu mươi người tham gia, ngày đêm 24 giờ thay nhau niệm
sáu chữ "Án ma ni bát di hồng." Mục đích để làm gì? Cầu
nguyện cho hòa bình thế giới, hóa giải bớt hoặc miễn trừ
tai nạn cho thế giới. Số là thời đó có tiếng đồn loan
truyền rằng San Francisco sẽ bị tai nạn động đất lớn,
cho nên mọi người rất là thành tâm trì tụng Lục Ðại
Minh chú, cầu cho không xảy ra tai nạn, cho nên ngày đêm liên
tục luân phiên niệm tụng, quyết cùng thiên ma ngoại đạo
giao đấu một phen không lơ là. Tất cả đều tinh tấn vô
cùng, tôi tuy không tham gia, chỉ ở đàng sau đôn đốc mọi
người, nhưng tôi cảm thấy hết sức vừa lòng. Ai ai cũng
tu trì một cách nghiêm túc, không biết mỏi mệt, tinh thần
thì phấn khởi khiến cho tôi vô cùng thỏa mãn. Ðối với
tôi, điều vui nhất là tất cả đều tu và điều làm tôi
không hài lòng hơn cả là các đệ tử của tôi, nhất là
giới xuất gia, không chịu dụng công, cốt làm hư dối để
che mắt. Ðây là điều tôi khinh tởm nhất, điều tôi không
bao giờ tha thứ.
Bởi vậy
khi kỳ pháp hội bảy ngày hoàn tất, tôi viết bài "Vũ Trụ
Bạch" để làm kỷ niệm, nay tôi xin mang ra giảng để quý
vị nghe. Hay hoặc dở, tôi không quan tâm, mà tôi cũng không
rõ, tôi chỉ biết là tôi đã viết ra, vậy thôi. Câu thứ
nhất là :
Băng thiên
tuyết địa -Trời băng đất tuyết: Kim Sơn Thánh Tự, tuy
chẳng có tiếng tăm trên thế giới, nhưng ở đất Mỹ ai
cũng biết. Kim Sơn Thánh Tự là một tòa tuyết, đất tuyết
trời băng, lạnh lẽo băng giá; chẳng những chùa lạnh, người
cũng lạnh. Mọi người đến chùa đều than: "-! Người ở
chùa Kim Sơn quá lạnh nhạt, chẳng thấy có chút gì ấm áp
cả." Cho nên, đến Kim Sơn Thánh Tự ai cũng đều thất vọng,
và quả là không có gì để người ta hy vọng, bởi ở đây
tất cả đều lạnh lùng băng giá. Côn trùng cũng chết vì
lạnh. Cho nên dùng chữ "băng" tức là lạnh. "Tuyết địa,"
bởi tuyết tượng trưng cho cái lạnh nhất.
Vô số điều
tế trùng đống tệ -vô số con trùng nhỏ bị chết lạnh:
Không biết là có bao nhiêu những con trùng nhỏ bị lạnh mà
chết. Trùng nhỏ là kể cả các vi khuẩn trong cơ thể chúng
ta, chúng sống nhờ vào các sinh tố A, B, C, nhưng tại nơi
này, người ta không những không có sinh tố A, B, C mà còn
phải dụng công trong không khí lạnh lẽo, sao không làm cho
chúng chết lạnh? Tuy nhiên, chúng không bị tận diệt, vậy
mới có câu: "Thả chập miên," vừa ẩn náu ngủ. Mùa đông
trời lạnh, các loại côn trùng tạm thời ẩn náu nằm yên
dưới lòng đất, ngủ trong mùa đông gọi là chập miên.
Tĩnh lý quan
sát -trong tĩnh lặng quan sát: Chính trong thời gian mà mọi
thứ đều lặng lẽ, đầu óc cũng tĩnh lặng, không có thất
tình lục dục quấy động, chỉ nhất tâm chuyên chú niệm
Án-ma-ni bát di hồng, Án-ma-ni bát di hồng... xả thân niệm,
thì trong khoảnh khắc, bừng giác ngộ, quan sát, quan sát.
Ðộng trung
thẩm đế -trong động xét kỹ: Niệm chú thì có lúc đi niệm,
có lúc ngồi niệm. Trong lúc niệm không dứt, gặp động thì
tâm rành rọt thẩm định một cách kỹ càng ý nghĩa Phật
pháp. Cảnh giới lúc đó nó sẽ hiện. -! Rồng đã đến,
hổ cũng đã đến!
Long tranh
hổ đấu thường du hý -rồng tranh hổ đấu thường vui đùa:
Rồng thì bay lượn trên mây, hổ thì xuyên rừng băng núi.
Tới được những chỗ này mà du hí thì thật là vui. Những
cảnh giới như thế mà hiện ra trước mắt có thể làm cho
hoa mắt chúng ta, bởi vậy mới nói "long tranh hổ đấu thường
du hí." Ðây chính là cảnh giới hiện ra trong sự tĩnh lặng.
Quỷ khốc
thần hào ảo hóa kỳ -Quỷ khóc thần gào ảo hóa kỳ diệu:
Có quỷ khóc ở đấy, khóc rằng: "A! Tôi chết một cách oan
uổng lắm! Mau niệm Phật cho tôi đi! Siêu độ, siêu độ
cho tôi đi! Xin từ bi! Ðừng nổi nóng với tôi!" Quỷ khóc
như vậy đó. "Thần hào," nghĩa là ở đấy thần cũng gào
thét, thét rằng: "Mặc kệ nó, Nó mang tội nhiều lắm đó!"
Ôi! Hãy coi đó! Hai bên đấu pháp như vậy, biết bên nào
nói phải, bên nào nói trái, khiến chúng ta cũng phải hồ
đồ. Có điều, quỷ khóc, thần gào, lạ kỳ như vậy chỉ
là ảo hóa, hư dối, không thực, cho nên nói "ảo hóa kỳ."
Vậy thì, cái gì là chân thực đây?
Chân thực
nghĩa tuyệt ngôn -nghĩa chân thực lời nói hết: Cái nghĩa
chân thực thì chẳng có gì có thể nói ra được. Như câu:
"Bổn lai không một vật, lấy gì bám bụi trần." Ðây chính
là nghĩa chân thực, cho nên nói "tuyệt ngôn."
Bất tư nghị
-chẳng nghĩ bàn: Chẳng thể tưởng tượng được, tâm chẳng
thể nghĩ ra, lời chẳng thể bàn tới.
Ðương tiến
xu -phải bước tới: Tuy nhiên, quý vị vẫn phải tiến bước
một cách dũng mãnh để tinh tấn tu hành. Quý vị chẳng thể
dừng bước, lạc vào chỗ "ngoan không," bảo rằng cái gì
cũng chẳng có, thành ra chẳng còn nghĩ suy, coi như vậy là
xong rồi! Buồn ngủ thì cứ ngủ, đói thì cứ ăn, rồi tới
khi lâm chung mới ôi thôi! than ôi! Ðó là sự lầm lẫn, để
cho ngày tháng qua một cách phí hoài. Còn phải tiến bước,
dũng mãnh đi tới nữa.
Ðại tiểu
mẫn -lớn nhỏ diệt: Lớn nhỏ, tất cả đều tiêu tan, cái
gì cũng chẳng còn.
Nội ngoại
phi-trong ngoài không phải: Chẳng trong chẳng ngoài, cũng chẳng
phải ở giữa, đó là nghĩa chân thực.
Pháp giới
châu-pháp giới trọn vẹn: Ta thử coi, pháp giới to lớn như
vậy, mà không có thứ gì mà không biểu hiện sự chân thực.
Pháp giới châu nghĩa là pháp giới trọn vẹn.
Hốt luân
cá viên dung-cái viên dung nguyên lành: Hốt luân là nguyên lành,
cái thể nguyên lành thì không chỗ nào thiếu; viên dung là
viên dung vô ngại, hoàn chỉnh không hư xấu.
Hỗ tương
vô ngại-hai bên không ngại: không chướng ngại với nhau,
cái nghĩa chân thực đó là một, cũng là vô lượng, vô lượng
là một, một là vô lượng, một và số nhiều, hai bên không
chướng ngại với nhau.
Song quyền
đả phá hư không cái-hai nắm tay phá màn hư không trùm: Dùng
hai nắm tay đấm thủng màn hư không che trùm. Quý vị nghĩ
hư không cũng có màn che ư? Dù hư không không che phủ, nhưng
hãy phá cho hư không tan vụn, cả hư không cũng chẳng còn.
Hư không chẳng còn thì đâu có màn che? Sao còn nói lấy song
quyền phá thủng màn hư không che phủ? Ðây cũng là ý nghĩa
trong câu vừa nói trên "bổn lai không một vật, lấy gì bám
bụi trần."
Nhất khẩu
thôn tận sát hải nguyên-Một hớp nuốt tận sát hải: Há
miệng nuốt trọn tất cả thế giới nhiều như số vi trần
trong sát hải, thế giới này thế giới kia, quốc độ này,
quốc độ kia, vô lượng các quốc độ. Vậy là biến thành
yêu quái rồi sao? Nếu yêu quái mà làm được thế, thì quá
hay rồi, chỉ sợ không làm nổi. Ý nghĩa câu này là nói khả
năng buông bỏ bất cứ mọi thứ, giải thoát hẳn, không còn
gì trở ngại, nuốt trọn cả thế giới, cho nên mới nói
"song quyền đả phá hư không cái, nhất khẩu thôn tận sát
hải nguyên."
Ðại từ
bi phổ độ-lòng từ bi rộng lớn độ khắp: Cho niềm vui
là từ, gỡ cái khổ cho người là bi. Làm dậy tâm từ một
cách vô điều kiện, vận dụng tâm bi trong tinh thần đồng
thể-cái tinh thần ta và người là một thể (hưng vô duyên
chi từ, vận đồng thể chi bi), cho nên mới nói "đại từ
bi." Bây giờ lấy tâm đại từ bi đó độ khắp các chúng
sanh, chẳng phải độ riêng một cá nhân, cũng chẳng phải
độ riêng những người có duyên với ta. Ðối với kẻ vô
duyên, tối tăm ương ngạnh, cũng dấy lòng từ bi dùng mọi
phương pháp giáo hóa, mang hết chân thành, vận dụng tinh thần
đồng thể và tâm thương xót để hóa độ, bố thí rộng
rãi sự yêu thương, chừng nào chưa độ được thì chưa ngưng
nghỉ, vậy mới nói câu: "Ðại từ bi phổ độ."
Lưu huyết
hãn-chảy máu, mồ hôi: Ðem hết tâm huyết giáo hóa chúng
sanh.
Bất hưu
tức-chẳng nghỉ ngơi: Nghĩa là không kể ngày đêm, tận tâm
kiệt lực, không có lúc nào nghỉ ngơi. Chẳng sợ khổ, chẳng
sợ khó, chỉ biết dấn thân bước tới, không biết lùi.
Trên đây
là những lời bình giảng bài Vũ Trụ Bạch.
Ngày
7 tháng 2 năm 1982 tại Kim Luân Thánh Tự, Los Angeles
Mất
Thân Người, Vạn Kiếp Chẳng được Lại
Hôm nay nói
chuyện về ý nghĩa Sám hối trong đạo Phật. Chư Phật và
chư vị Bồ-tát không nhìn vào lỗi của chúng sanh, chúng sanh
nếu có lỗi và tự làm ngơ đi, Phật cũng chẳng để ý tới.
Nhưng tự mình đã tạo nên nghiệp tội thì tới lúc nghiệp
chín, tự mình sẽ lãnh đủ quả báo. Chúng sanh giác ngộ
thì ít mà mê mờ thì nhiều; sáng suốt thì ít, ngu si thì
nhiều. Cho nên chúng sinh nào sáng suốt, giữ phép tắc, sẽ
không làm những chuyện điên đảo. Những chúng sanh chân chánh
giác ngộ cũng không có tà tri tà kiến, nghĩa là hiểu biết
và nhận thức sai lầm. Trong chốn biển khổ mênh mông, không
biết đâu là bờ bến, chúng sanh ra đời rồi chết, chết
rồi lại sanh, quẩn quanh luân chuyển trong vòng lục đạo,
cũng giống như ngày nay nói về các công xưởng hóa học:
một linh tánh lớn có thể bị phân chia biến thành những
linh tánh nhỏ và ngược lại, linh tánh nhỏ lại có thể kết
hợp hóa thành linh tánh lớn.
Bởi lý do
trên, khi một cá nhân đầu thai thành kiếp thú, chẳng phải
chỉ làm một loại thú vật mà còn có thể phân thành, ngựa,
trâu, dê, gà, chó, heo, những loại thú tương đối có thân
hình không nhỏ, và linh tánh của chúng cũng có chút điểm
thông minh. Một cá nhân có thể biến thành bảy loại thú,
thì trong quá trình chia cắt về thân thể sẽ có hiện tượng
"phân linh," mà đã phân linh thì linh tánh càng giảm bớt, càng
phân ra càng giảm đi. Thí dụ ngựa đầu thai biến thành gà
vịt, rồi lại biến ra nhỏ hơn nữa. Một con ngựa lại có
thể biến ra bảy con vịt và bảy con gà v.v.. Linh tánh bớt
đi chừng nào thì càng ngu thêm chừng ấy, trăm ngàn vạn kiếp
chưa dễ khôi phục lại. Bởi cớ gì? Bởi vì đã có sự
phân khai, như trong quá trình phân tích được thực hiện trong
phòng thí nghiệm hóa học, có sự phân ra từng bộ phận,
từng thành phần. Một cá nhân đầu thai thành loài muỗi bởi
nguyên do tâm địa quá độc ác, lòng tham không đáy, chỉ
muốn hút máu của người khác. Tâm tưởng đó còn tồn tại
nên mới biến thành loài muỗi, để chuyên việc hút máu.
Tuy linh tánh đã bị hóa, nhưng vẫn còn lại chút ít, có như
vậy chúng mới biết theo người mà hút máu, ngoài ra không
biết gì khác nữa. Muỗi hành động bởi tâm tham, lấy cái
đó duy trì sanh mạng, đó là nhân duyên của loài muỗi.
Loài kiến
càng thì sao? Loại này bẩm sanh ham ăn. Một cá nhân nếu biến
thành thân kiến thì phải hóa ra tới tám vạn bốn ngàn con.
Quý vị đã thấy loài muỗi, hàng đàn, hàng đàn như vậy.
Kiếng càng thì từng ổ, từng ổ, đông không kể xiết. Theo
nguyên tắc "tánh hóa linh tàn," nên thân phận loài kiến rất
là nhỏ nhoi, sức vóc chẳng có bao nhiêu.
Lại nói
tới loài ong mật, chúng rất giỏi lấy trộm, tội ăn cắp
của chúng nhiều lắm, nguyên do vì kiếp trước chúng có lỗi
không giữ giới cấm về trộm cướp. Ðối với loài muỗi,
loài kiến, kiếp trước của chúng cũng vậy, không trì giới
trộm cướp. Tuy nhiên loài ong còn nặng hơn cho nên chúng rất
giỏi nghề ăn trộm mật. Mật của người ta, nếu không trông
coi, không có ong thợ hay ong mật ở đấy canh gác, thì hết
đàn ong mật nọ đến đàn ong mật kia kéo đến hút cho kỳ
hết mật. Ong thích các đồ ngọt, cho nên ong lấy mật về,
làm tổ, tích trữ mật tại ngân hàng của chúng. Tổ ong chính
là ngân hàng của loài ong đó.
Bởi vì ong
chỉ biết rằng loài ong sinh sống bằng mật, đường, cho
nên chúng phải xây tổ để trữ mật, tựa như người ta
phải để dành tiền vậy. Tuy nhiên, chúng cứ việc tích trữ
mật, tích trữ cho nó nhiều, rồi cuối cùng mật bị người
ta lấy mất. Vì lý do gì? Bởi chúng phạm giới cấm về tội
đạo tặc, của lấy về bất thiện thì của đi ra cũng vậy,
cái gì mà lúc lấy về không được quang minh chánh đại,
thì rốt cuộc cái đó sẽ mất tiêu.
Ðem các thí
dụ về ba loại động vật tí hon này để nghiên cứu, tức
là các loài muỗi, ong và kiến, chúng ta mới thấy rõ là không
nên phạm các giới cấm sát sanh, đạo tặc, tà dâm, nói dối.
Giới cấm uống rượu cũng vậy. Số là uống rượu vào thường
hay tạo nên những hành động hồ đồ. Hồ đồ như thế
nào? Nguyên có một vị đã thọ ngũ giới, và y giữ giới
rất cẩn thận, nhưng có một hôm y nẩy ra ý muốn uống rượu.
Y tự bảo mình rằng: "Trong năm giới thì sát sanh, đạo tặc,
tà dâm, nói dối đều là trọng yếu, còn như giới về rượu
thì quá bình thường, giữ giới này mà làm gì? Giới này
là thừa. Thôi! Từ nay không giữ giới về uống rượu nữa.
Ta đi uống chút rượu chơi." Nói rồi, y đi mua một bình rượu
về, rót ra uống một mình. Y cảm thấy uống như vậy mà
không có đồ nhắm thì cũng vô vị, bèn đi ra kiếm một cái
gì để làm mồi rượu. Ðúng lúc đó y thấy một con gà của
hàng xóm chạy qua, y có ý nghĩ như sau: "Ðây có lẽ là Bồ-tát
giúp cho ta món đồ nhắm này!"
Quý vị thấy!
Ý nghĩ của y quả là xằng bậy, tà tri tà kiến! Y bắt lấy
con gà đó, giết đi để ăn thịt, tức là y đã phạm giới
sát sanh và đạo tặc. Sau đó người hàng xóm kiếm gà đi
ngang qua thì y đã uống say, lại còn trả lời một cách lung
tung: "Chẳng thấy gà nào hết!" Vậy là y đã phạm giới cấm
về nói dối. Y thấy người phụ nữ này khá xinh đẹp, y
phạm thêm tội cưỡng dâm.
Các vị hãy
lưu ý! Nguyên do chỉ vì uống chút rượu mà đến nỗi phạm
cả năm giới như vậy. Hãy xem mấy đứa nhỏ retarded (si ngốc),
chúng đều từ các nẻo thú vừa đầu thai lên làm người,
nên chúng không có trí huệ. Tuy từ linh tánh nhỏ biến ra
linh tánh lớn, khôi phục lại kiếp người, nhưng vì ở trong
cảnh giới thú vật quá lâu, nên trí huệ bị lu mờ, cho nên
kiếp này không những không biết nói, cũng không biết nghe,
thì nói gì tới vấn đề giữ quy tắc.
Bởi các
lý do đó mọi người phải nhận cho rõ ngũ giới là điều
thiết yếu. Mỗi một giới có năm vị thiện thần ủng hộ,
nếu không giữ giới, các vị thần sẽ bỏ đi, nhường chỗ
cho năm ác ma. Phạm giới thì ác ma tới, không phạm giới
ác ma không tới. Tại sao ma không tới? Bởi vì đã có các
thiện thần hộ trì, do đó chúng ta nên đặc biệt giữ giới
cho cẩn thận. Chẳng giữ giới tức chẳng tu hành, biết giữ
giới tức có thể y giáo phụng hành, tức khiến chúng ta có
được trí huệ chân chánh, không bao giờ điên đảo, không
bao giờ xẩy ra chuyện ăn mặn và phá giới. Cho nên người
tu đạo phải tự khắc phục được mình trong từng giờ từng
khắc, khéo mà khống chế bổn thân, căn cứ trên sáu căn
mà hạ công phu. Như khi mắt đối diện với sắc thì bị
sắc trần chuyển - tức bị lung lạc, tai nghe âm thanh bị
thanh trần chuyển, lưỡi nếm vị bị vị trần chuyển, mũi
ngửi hương bị hương trần chuyển, thân thể bị xúc trần
chuyển, ý thì bị pháp trần chuyển - có nghĩa là bị sáu
tên giặc ở sáu cửa lôi đi, làm cho linh khí ở bên trong
chúng ta bị cướp mất. Nếu quý vị không bị chuyển, linh
tánh không bị mất, cái đó người ta nói là trí huệ.
Bài kệ nói
rằng:
Nguyện
tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc
trí huệ chân minh liễu
Phổ nguyện
tội chướng tất tiêu trừ
Thế thế
thường hành Bồ-tát đạo.
Tam chướng
tức là nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng. Nghiệp
chướng gồm những nghiệp thiện ác mà chúng ta đã tạo tác
từ kiếp trước, nay hiện thành những chướng ngại mà chúng
ta gặp trong kiếp này; các sự việc không xứng ý đến với
chúng ta đều phát sanh từ các loại nghiệp chướng đó. Báo
chướng là các loại khổ báo gồm cảnh địa ngục, quỷ
đói, súc sanh. Có câu: "Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp gây
ra chẳng mất, khi nhân duyên hội ngộ, lại lãnh đủ quả
báo," bất cứ mình tạo nghiệp gì, thì sẽ lãnh quả báo
về nghiệp ấy, không có cách gì thoát được nghiệp đó.
Cho nên lại có câu: "Mọi thứ mang không được, duy nghiệp
được tùy thân." Kiếp trước ta làm sai nhân quả, kiếp này
ta lãnh quả, như vậy gọi là báo chướng. Phiền não chướng
gồm tham dục, sân khuể (tức giận) và ngu si. Mỗi cá nhân
đều có phiền não riêng của từng người, người có ít,
người có nhiều. Như không có phiền não, tức không có tham
sân si, vậy đáng là bậc thánh nhân. Nếu như chưa dứt hết
vô minh, gốc phiền não vẫn còn tồn tại, nó sẽ tùy lúc,
tùy cảnh ngộ mà phát khởi, lúc đó cái gì cũng quên, khiến
người ta có thể làm những chuyện thương luân bại lý trái
lương tâm. Phiền não mà không trừ bỏ sẽ làm chướng ngại
căn Bồ-đề, do đó có câu: "Ngọn lửa lăn tăn, thiêu rụi
rừng Bồ-đề," bất luận tu hành đến đâu mà phiền não
không đoạn trừ, thì cái gì cũng là giả tạm. Bởi đó,
tại ngay cửa sáu căn, ta đừng để cho ngoại cảnh chuyển
đổi, mà chính ta phải chuyển đổi ngoại cảnh, phải biến
phiền não thành Bồ-đề, biến sanh tử thành Niết-bàn. Ta
phải ý thức rõ cái "túi da hôi thối" này, cái nhục thể
kết hợp với thần thức mà ta coi cuộc hôn phối sẽ mãi
mãi bền vững; nhưng, đến phút chót nó cũng sẽ bỏ ta, cùng
ta ly khai luôn. Mình cũng không biết sẽ đi về đâu. Tu đạo
là để làm gì? Chính là để chuẩn bị lúc nhục thể sắp
sửa phân ly, chúng ta biết chúng ta sẽ đi đâu, mà không bị
cái túi da hôi này khống chế, chúng ta đi về trong sự tự
do. Vì cái đó mà ta tu đạo. Muốn cho thành tựu đạo nghiệp,
chúng ta phải thâu nhiếp thân tâm một cách thường xuyên,
từng bước y theo quy củ phép tắc, không để cho ngoại cảnh
tại các cửa lục căn lôi kéo. Lúc đó, quý vị đã có định
lực rồi. Có định tức có thể phát huy trí huệ. Tuy nhiên
quý vị phải nhớ rằng định là do sức mạnh của giới
mà sanh ra, mà giới lại là "chư ác mạc tác, chúng thiện
phụng hành," hy sinh tiểu ngã và hoàn thành công đức tu tập
tinh thần đại ngã, đó là Phật pháp chân chánh, là tông
chỉ của tôi. Các vị hãy thử theo tôi học tập.
Bổn
Phận của Một Tín đồ Phật-giáo
Chúng ta không
gặp may mắn, sanh vào thời mạt pháp, cách xa với thời đức
Phật. Nay lại xuất gia, nếu chỉ khoác áo theo Phật, ăn nhờ
cửa Phật, lấy Phật làm chiêu bài, ca theo Phật điệu, thâu
đồ đệ, nhận đồ cúng dường, rồi bầy ra dưới trướng
nào hàng xuất gia, nào cư sĩ tại gia, nêu cao danh là đệ
tử của Phật, thực ra đó chỉ là những kẻ ham danh háo
lợi, để lụy cho Phật giáo, làm bại hoại Phật giáo, là
tội đồ của Phật giáo đó!
Tại làm
sao Phật pháp bị suy đồi? Bởi chúng ta không chịu tu, không
nghiêm chỉnh giữ giới luật, không thực lòng tu tập cho thân
tâm thanh tịnh. Pháp vốn là một thứ không hình, không tướng,
không thể, tất cả là do hành vi của con người mà biểu
hiện ra mọi thứ thiện ác, xấu đẹp. Tâm của chúng sanh
nếu hướng thiện, mọi người nếu giữ năm giới, tu thập
thiện, bộ mặt của thế giới sẽ trở nên hiền hòa, tươi
tốt, đó mới là chánh pháp chân thực. Còn như tâm chúng
sanh hướng tới điều ác, cả một bầu tham sân si sẽ làm
ô nhiễm hư không, khiến chánh pháp bị hãm trong mầu hắc
ám, như vậy thì còn pháp gì để nói nữa. Bổn thân của
pháp không có thủy, hay mạt, chỉ vì hành vi chánh tà của
con người, nên mới nói có thủy có mạt. Trạng huống này
há chỉ lấy cái tâm hổ thẹn mà có thể cứu vãn được
chăng? Phải chấn chỉnh cái nguy cơ. Chúng ta vô luận là người
xuất gia hay tại gia, nếu đã là đệ tử của Phật thì phải
đem thân mình làm gương, không chịu ở phía sau mọi người,
hết sức cố gắng cứu nguy Phật pháp. Tất cả chúng ta phải
đồng tâm hiệp lực, làm cho Phật giáo xán lạn, hưng thịnh,
thức tỉnh thế giới khiến cho nhân loại hiểu thấu Phật
pháp, tin theo Phật giáo và sùng kính Phật giáo.
Các vị thiện
tín! Năm xưa đức Phật được cả người và trời cung kính
cúng dường, trông thấy như vậy, chúng ta phải tự lấy làm
hổ thẹn. Ngày nay, có một số, kể cả các cư sĩ tại gia,
không coi các tăng sĩ ra gì cả, họ coi người xuất gia như
hạng "quỷ thần, kính nhi viễn chi," đó cũng là một hiện
tượng của thời nay. Cho đến một số nhân sĩ trong xã hội,
tương đối có hiểu biết, hay nói tới số trí thức, số
học giả, họ lại càng coi thường người xuất gia. Họ nhận
thấy rằng tăng sĩ không nắm vững giáo lý Phật pháp, không
có trí huệ chân chánh, nói lời vu vơ, gạt gẫm. Nay chúng
ta lấy đó để cảnh giác, phát thành nguyện lớn, lập chí
vững, dốc một lòng nghiên cứu giáo lý, giữ nghiêm chỉnh
giới luật, gắng gỏi tu hành, biến cải thời mạt pháp thành
thời chánh pháp. Chỉ cần chúng ta đi những bước chắc chắn
trên con đường tu tập và hành đạo, thì có lo gì chúng ta
không chứng quả! Chứng quả rồi, thì ở đâu chúng ta cũng
có thể dựng cờ pháp, thổi còi hiệu pháp, nổi hồi trống
pháp, rồi có thể hoằng dương Phật giáo ngay tại những
nơi chưa có pháp, đủ khiến cho người ta khởi lòng tin Phật.
Bởi vậy cho nên chúng ta phải tinh cần, quyết tu tập giới
định huệ, diệt tắt tham sân si, và chứng ngộ Phật quả
là mục tiêu của tất cả chúng ta.
Chứng quả
là chứng nghiệm cái gì đây? Người đã chứng quả thì không
có tâm tham, cũng không có tâm sân, cũng không có tâm si. Ba
độc là tham sân si đều bị tiêu diệt. Tại bất cứ lúc
nào, vô luận nghịch cảnh nào, hoặc bị phỉ báng, hoặc
được tán dương vinh hiển, họ vẫn giữ một vẻ an nhiên
tự tại, tựa như không bị các duyên bên ngoài lôi kéo, tư
thái như như, hồn nhiên sinh hoạt trong niềm thanh tịnh của
giới hạnh. Ðối với họ, mọi giới luật đều chẳng còn
mang vẻ gò ép, bởi lẽ hành động của họ đã từng hòa
đồng với tịnh giới. Người đã chứng quả có định lực
chân chánh, do đó hư danh lợi lộc chẳng hấp dẫn họ, cho
dù người khác có đánh chửi cũng không làm cho tâm họ kích
động, phát ra những lời nói bất thiện. Cũng đừng mong
nghe được những giọng quát tháo hung ác của họ, bởi ba
con rắn độc tác quái (tham, sân, si) không còn nữa. Người
đã chứng quả có trí huệ chân chánh, sự tình gì họ nghe
qua cũng hiểu hết, vấn đề gì đến tay họ, họ cũng trực
diện giải quyết. Ai đến với họ, nhìn ngay họ đã biết
rõ căn cơ, muốn gạt họ quý vị cũng chẳng lọt được
cặp mắt thông tuệ của họ. Người đã khai ngộ chứng quả
rồi, có thể ví như mặt trời ban mai giữa bầu không trung
tinh khiết, có thể ví như vừng trăng trong vắt lơ lửng giữa
trời bát ngát không gợn mây, như làn nước trong mặt hồ
xuân, như những bông sen xanh biếc trong sương sớm. Trong tâm
của họ, trong khóe mắt, trong lời nói, không bao giờ chứa
đựng cái gì là ác nhân, ác sự, ác ngữ; chỉ cần gặp
họ, thân cận họ, chẳng cần nói năng, kẻ lành cũng trở
thành bực thánh, kẻ ác thành người lành. Người đã chứng
quả, họ có sẵn oai lực chiêu cảm như vậy, mà họ lại
chẳng khác gì chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày.
Chúng ta mang
danh là đệ tử của Phật, không thể thoái thác trách nhiệm
mà phải đứng ra gánh vác để phục hưng giáo pháp. Ðừng
có lấy cớ là thời mạt pháp mà chẳng chịu tu hành! Vậy
chớ tại sao chúng ta lại theo đạo Phật? Lại còn cắt ái
ly gia nữa? Cái đó chẳng phải tự dối mình sao? Tự mình
coi thường chính mình sao? Ðây mới chính là một sự hồ
đồ, điên đảo, một hạng bại hoại trong Phật giáo, một
tội đồ! Tôi đã từng phát nguyện như sau: Tôi đến địa
phương nào thì tại nơi đó chánh pháp phải trụ thế, chớ
không thể là mạt pháp. Tuy hồi đó Phật đã từng cảm khái
than rằng trong tương lai sẽ tới thời mạt pháp, nhưng nguyên
nhân là do người tạo tác mới sanh ra mạt pháp, vậy thì
đương nhiên cũng có thể lấy sức người, để chuyển mạt
pháp thành chánh pháp. Nếu quả thực, mỗi đệ tử của Phật,
tại gia cũng như xuất gia, nương theo lời dạy mà phụng hành,
siêng tu các thứ pháp môn, sinh hoạt trong giới luật mà Phật
đã chế ra, y chiếu các kinh điển của Phật mà hành trì,
hiểu rõ minh bạch ý nghĩa lời Phật dạy, thực hành những
lời mà chư Tổ đã xiển dương, nhất loạt noi theo ba tạng
Kinh, Luật, Luận đã chỉ thị, thì lấy đâu ra mạt pháp
nữa? Làm gì có cái lý là không thể khai ngộ chứng quả?
Giả thiết như mình không làm theo các điều vừa kể, đi
ngược với đạo chẳng hạn, lười biếng, bạ đâu thì theo
đó, ham danh ham lợi, làm chùa lớn để hưởng thụ, như vậy
chẳng biến ra mạt pháp thì cũng là điều lạ.
Chúng ta dám
bỏ sanh mạng mà cầu đạo vô thượng, hy sinh sanh mạng để
làm rạng rỡ Phật giáo, cải tiến Phật giáo. Phật giáo
đã từng trải qua biết bao thời đại trào lưu, khó tránh
được tình trạng không thích ứng với chúng sanh ở một
nơi nào đó, vậy cho nên chúng ta phải khéo léo dùng phương
tiện mà châm chước, mà cải thiện, mỗi đệ tử Phật phải
tích cực bắt tay vào, nhất là đối với các vị xuất gia
phải hiểu rõ không thể coi thường.
Nói đến
đây, tôi nghĩ rằng nhất định sẽ có người đặt nghi vấn,
tại sao người nào không tham sân si là người đã chứng quả.
Nay đề cập tới sự trọng yếu của tham sân si, tôi hãy
lấy những hình ảnh rất là thông tục nhưng dễ hiểu, nói
ra cho quý vị nghe. Tham tâm đó chính là dục niệm, cái tâm
dâm dục. Không có tham tâm, tức là dứt khỏi dục niệm;
không có dục niệm, tức là không có tâm dâm dục nữa. Nam
nữ gặp nhau tiếp xúc với nhau, lúc đó vọng tưởng sẽ
không nổi lên, không những dục niệm không sanh, luôn cả
các phản ứng sinh lý cũng không phát sinh nữa, căn tính trai
gái không giao động, lúc đó mới gọi là dứt được thực
sự dục niệm, và tâm tham không còn nữa.
Quý vị chớ
có lấy làm kinh ngạc khi thấy tôi nói hết ra một cách trắng
trợn như vậy, bởi vì thiên kinh vạn quyển, ba tạng mười
hai phần kinh, đến tận cùng thì cũng chỉ nói tới vấn đề
này thôi. Nếu chẳng có vấn đề "dục," thì kinh điển gì
cũng chẳng cần thiết, mọi thứ pháp đều "không," mọi thứ
pháp đều "như." Bởi vì có vấn đề đó, chúng ta mới phải
tu. Nếu quý vị chẳng thể nào bỏ ái và đoạn dục, thì
dù có xuất gia tu đến tám vạn đại kiếp, cũng uổng phí
công phu, hoài ngày tháng, ở trong chốn đạo ăn cơm chùa mà
tạo nghiệp. Nếu chấm dứt ái dục, trừ dâm tâm, mới thực
sự hết tâm tham, không có tham ắt không có phiền não. Vậy
tới khi nào thì bỏ được tâm tham đây? Tất nhiên phải
phá được vô minh, mới đoạn trừ tâm tham được. Lý do
các vị Bồ-tát tu hành dũng mãnh và tinh tấn, chính là để
phá trừ một phần vô minh, chứng được một phần pháp thân,
tới khi chứng được quả vị Ðẳng giác thì mới đem hết
vô minh diệt trừ để chứng quả vị Phật. Tâm tham là một
trong ba độc rất khó đoạn trừ. Chúng ta lúc mới phát tâm
tu hành, thì cái làm chướng ngại sự dụng công của chúng
ta chính là tâm tham dâm, nam thì ham nữ, nữ thì ham nam, một
vấn đề căn bản. Kinh Lăng-nghiêm nói rất rõ: "Tâm dâm không
trừ, trần ai chẳng ra khỏi," như chẳng muốn trừ tâm tham
dâm mà lại mong thành Phật đạo, thì chẳng khác gì lấy
cát nấu lên để làm cơm ăn, một chuyện không thể xẩy
ra được.
Bây giờ
tôi lại nói về tâm sân. Tâm sân cũng là phiền não, không
có tâm sân chẳng phải là không có phiền não, nhưng lấy
công phu tu hành, cải biến phiền não thành tâm Bồ-đề, lấy
lửa vô minh biến thành nước trí huệ, dùng nước trí huệ
tưới tẩm mầm non Bồ-đề, thì tương lại sẽ có Phật
quả Bồ-đề. Nếu lửa vô minh không diệt được, nước
trí huệ sẽ không sinh ra, thì không kết được quả Bồ-đề.
Quý vị! Hy vọng tất cả mọi người đặc biệt chú ý lắng
nghe, ghi nhớ vào thửa ruộng a-lại-da thức của mình để
tùy thời thọ dụng. Quý vị cũng đồng thời quay về xét
lại khoảng thời gian bao năm học Phật pháp, nghe kinh, lạy
Phật, tụng chú, ngồi thiền, ngày ngày tinh tấn, vậy tại
sao chưa đạt được công phu đoạn dục? Nếu chưa đạt được,
thì phải gấp rút siêng tu giới định huệ. Nếu đã đạt
được trình độ đoạn dục, cũng còn phải tu giới định
huệ. Quý vị đã nghe kinh Hoa Nghiêm, trên mỗi phẩm đều
có nói tới các vị Bồ-tát trong hư không khắp pháp giới
chuyên hành Bồ-tát đạo, mà không quên tu giới định huệ,
ba món vô lậu học này. Các vị Bồ-tát, chẳng tiếc sanh
mạng mình, đi khắp nơi giáo hóa chúng sanh, không biết mỏi
mệt, không nghỉ ngơi, cũng không thoái chuyển. Chúng ta mới
xuất gia được ít ngày, đã nghĩ tới chuyện hưởng thụ,
đúng là một việc đáng thương xót, một sự điên đảo,
hạt giống của mạt pháp vậy. Phàm là đệ tử Phật, phải
lấy sự hưng suy của Phật giáo làm trách nhiệm của mình,
nhất là các vị xuất gia phải đứng ra đảm đương việc
lớn. Ai ai cũng nghĩ như thế, lo gì Phật pháp chẳng được
hoằng dương lớn rộng! Chẳng qua vì người nọ đẩy cho
người kia, rồi riêng mình thì đóng cửa lại khuếch trương,
phát triển riêng thế lực của mình, tất cả chuyện hưng
suy của Phật giáo gác ra ngoài, nói lời vô trách nhiệm, anh
trông vào tôi, tôi trông vào anh. Ðây là một tình huống chuyện
chung không ai lo, anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, hoặc là, chẳng
phải chuyện của tôi, cứ ném ra tức khắc có người lo.
Ai ai cũng nghĩ chuyện lùi bước, làm cho Phật giáo chìm đắm
trong bầu tử khí, bảo sao Phật giáo chẳng tới lúc mạt?
Kỳ thực nguyên nhân là ai nấy đều vị kỷ, trong lòng đầy
tự tư tự lợi. Nếu chẳng tu hành, trên thì không cầu Phật
pháp, dưới không độ chúng sanh, không hạ công phu làm Phật
sự, mà còn lười biếng, thoái lui, cái đó mới khiến cho
Phật pháp tới chỗ mạt thời mà tiêu vong. Các vị thiện
tín! Chúng ta đã rõ câu chuyện như vậy nên tôi mong rằng
tất cả chúng ta vì Phật sự mà tận tâm tận lực hộ trì.
Ðể tự cứu tự độ chúng ta phải dũng mãnh tinh tấn học
tập Phật pháp. Tất cả chúng ta đồng tâm hiệp lực làm
cho Phật giáo mỗi ngày một hưng thịnh, lớn mạnh rực rỡ,
khiến chánh pháp còn trụ mãi với thế gian, rạng rỡ như
khi Phật còn tại thế vậy.
Nói tới
tu hành, tôi nhận thấy đối với người xuất gia, điểm
thứ nhất là không nên lân la nơi quyền quý giầu sang. Ðiểm
thứ nhì là không nên luôn luôn hướng ra ngoài để hóa duyên.
Thứ ba là mọi sự việc không nên cầu duyên ở người. Tại
Kim Sơn Thánh Tự có câu đối như sau:
Ðống
tử bất phan duyên,
Ngạ tử
bất hóa duyên,
Cùng tử
bất cầu duyên.
Tùy duyên
bất biến,
Bất biến
tùy duyên.
Dịch nghĩa:
Chết
lạnh không phan duyên,
Chết đói
không hóa duyên,
Chết nghèo
không cầu duyên.
Tùy duyên
chẳng đổi,
Chẳng đổi
tùy duyên.
Ðó là ba tông
chỉ của chúng ta, và tôi hy vọng tất cả các đệ tử xuất
gia cũng tán đồng tông chỉ ấy, và cùng khuyến khích nhau
nhất định làm theo cho đúng. Thêm nữa, chúng ta lại cùng
nhau lập ba đại nguyện:
1. Xả
mạng vi Phật sự-Vì Phật sự quên thân mình: đã là tín
đồ Phật giáo lại là thành phần xuất gia, chúng ta không
thể đứng yên mà nhìn Phật pháp suy đồi và để người
ta khinh thị. Thà mang sanh mạng này để trùng quang Phật giáo,
lấy chánh pháp cứu nguy cho thế giới trong lúc tàn khốc này,
khiến tất cả chúng sanh được sống trong sự hòa bình an
lạc.
2. Tạo
mạng vi bổn sự-Tạo mạng là bổn phận : chúng ta vốn
là phàm phu tục tử, nhưng chúng ta có thể biến cải gốc
phàm phu để thành kẻ thánh nhân. Cổ nhân nói: "Người quân
tử có cái học tạo mạng, mạng do ta lập ra, phước do ta
cầu, họa phước không có cửa, chỉ do người chiêu lấy,"
đó là lời của Lão-tử, nếu nhận thấy câu ấy có lý,
chúng ta có thể lấy để tham khảo. Nếu lời nói ra không
hợp đạo lý thì chúng ta chẳng chấp người đã nói ra.
3. Chánh
mạng vi Tăng sự. Ðại sư Thái-Hư nói: "Chánh mạng là
việc của tăng sĩ;" gọi là chánh mạng, chẳng phải là nói
về cái tính mạng, như khi người ta đổ máu hy sinh, mà ý
nghĩa ở đây là sự cải cách. Truyền thống các tùng lâm
còn để lại tất cả thanh quy. Cái gì hay, cố nhiên chúng
ta phải bảo tồn, nhưng cũng có những quy tắc hủ lậu, hoặc
không còn thích ứng với thế giới ngày nay thì chúng ta có
thể tùy theo nhu cầu thực tế mà mạnh dạn sửa đổi. Pháp
là cái chết cứng, con người là cái sống động, hà tất
chúng ta phải tử thủ không cho nó biến đổi? Thấy cái gì
sai trong quá khứ, cái gì cần trừ bỏ, chúng ta đều phải
bỏ đi, lý luận nào thiếu chính xác, chúng ta đều phải
sửa lại. Tóm lại, những gì liên quan tới sự hưng thịnh
của Phật giáo, thì phải làm tới chớ không thể cẩu thả,
do dự không quyết.
Tức
sự minh lý,
Minh lý
tức sự.
Nghĩa là gặp
sự thì hiểu lý, hiểu lý gì thì thực hiện lý ấy, lấy
cái đó làm nguyên tắc, để
Truyền
thừa mạch huyết tâm truyền của các Tổ sư.
Ai nấy đều
thiết thực bắt tay vào, chỉ nên nói hai phần mà hành động
cụ thể thì tới ba phần, nếu như mình có thể tin được
mình thì người khác nhất định sẽ bắt chước theo. Kẻ
xuất gia nếu làm hết bổn phận của mình như vậy, Phật
giáo từ đó mà chấn hưng, mạt pháp sẽ chuyển ra chánh pháp.
Tôi muốn khẳng định rằng: "Kim Sơn Thánh Tự còn một ngày,
thì cũng còn một ngày chánh pháp ở với thế gian." Hiện
nay, Phật giáo mới tới các nước Tây phương, thì điều
cần thiết là phải có chánh pháp, phải có thánh nhân, do
đó chúng ta phải mau mau tạo điều kiện để có sự chứng
quả của thánh nhân. Phàm là đệ tử của Phật, không cứ
tại gia hay xuất gia, tất cả đều nên lập chí tu, làm nên
bậc thánh.
Thời gian
mới tới nước Mỹ, tôi đã từng mang những tâm nguyện lớn:
Tôi tự hỏi tôi đến Tây phương để làm gì? Tôi muốn đến
đây làm người thợ nặn tượng, tôi muốn nặn thành Phật
sống, thành Bồ-tát sống, thành Tổ sư sống. Trong quá khứ
đã không làm nên chuyện gì, nay tôi muốn làm việc tế thế,
cứu nhân. Tôi còn muốn đem hết mọi chúng sanh trên thế
giới này biến thành Phật sống, thành Bồ-tát sống, thành
Tổ-sư sống. Có người bảo tôi làm không nổi, phát tâm
nguyện như vậy là quá ngông cuồng, tôi cho rằng nhất định
tôi làm được. Nếu không biến cải được hết các chúng
sanh trên thế giới này thành Phật sống, Bồ-tát sống,Tổ
sư sống, tôi nguyện sẽ vĩnh viễn không thành Phật. Chính
hiện nay tôi đương tích cực làm công tác đó. Quý vị tin
cũng vậy mà không tin cũng vậy, đó vẫn là mục tiêu của
tôi. Quý vị không thấy tôi đã độ không ít các thanh niên
nam nữ Tây phương vào cửa Phật sao? Khó độ là các giới
trẻ nam nữ người Mỹ, quý vị không thấy họ đã cạo râu
cắt tóc xuất gia hay sao? Ðây chỉ là bước đầu, chưa có
gì là lạ. Rồi tất cả chúng sanh đều nối bước nhau đến
với Phật, vào nhà của Phật.
Tôi nghĩ
nhất định phải có người hoài nghi: Không có phiền não
thì thành thánh nhân sao? Ðúng như thế. Nhưng, phiền não không
dễ gì đoạn trừ, cho nên Bồ Tát Phổ Hiền đã từng nói
qua: ". . . Cho đến vì phiền não không thể cùng tận, đại
nguyện của tôi cũng không cùng tận." Tuy nhiên, chúng ta có
thể phát nguyện: "Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,"
chúng sanh vô tận, hư không vô tận, phiền não vô tận, nhưng
nguyện lực của chúng ta cũng có thể vô tận. Mục đích
chúng ta tu hành là cầu nhất thiết chủng trí, nhất thiết
trí, như trí huệ nhiệm mầu của đức Phật, lấy trí huệ
bát-nhã phá vô minh, tức ba độc, chuyển phiền não thành
Bồ-đề, thành đại trí huệ, lúc đó thì thật không còn
phiền não nữa và thành bậc thánh.
Lửa vô minh
rút cuộc là gì? Nói một cách rất đơn giản, rất gọn gàng
thì nó chính là tâm dâm dục của tình tham ái nam nữ. Loại
tâm niệm đó mà khởi động, thì không ai nói giỏi được,
không có pháp nào mà chế ngự nó. Cho nên biết bao nhiêu người
bị vướng trong cảnh hồ đồ, tạo ra những việc hồ đồ,
có thể nói rằng một lần sai sẩy, tức thành cái hận thiên
thu, không phương cách nào cứu vãn. Khi hai phái nam nữ đương
trong thời kỳ luyến ái, nếu như ai có hỏi họ, tại sao
lại thương anh ấy? Tại sao thương chị ấy, chắc chắn họ
sẽ hồi đáp: "không biết tại sao." Ðó là tại vô minh. Rất
mong các vị xuất gia đều có thể dứt được ái, trừ được
dục, tu trì thì dụng công, xin cố gắng!
Hưng
Khởi Vạn Phật Thánh Thành
Các vị thiện
tín! Bồ-tát tinh tấn tu hành, ngày đêm không lười biếng,
tích lũy công đức về ba nghiệp thanh tịnh, trang nghiêm thân
tâm, cho nên lúc nào cũng chăm chỉ không biết mỏi, nguyện
chúng sanh siêng tu ba nghiệp, thanh tịnh thân, khẩu, ý, mới
có công đức thanh tịnh thiện căn, và thân tướng được
trang nghiêm viên mãn. Chúng ta là người học Phật tu đạo,
bất cứ thời khắc nào cũng không thể buông lung, nhất là
phải chú trọng đặc biệt tới ba nghiệp để cầu cải tiến,
rồi từ đó tích lũy dần dần các công đức thiện, trồng
đại thiện căn không kể thời kiếp, cứ tinh tấn như thế
tự nhiên đạo nghiệp thành tựu, tướng trang nghiêm cũng
được viên mãn. Nói về tướng: tuy là do tu, nhưng nếu ta
bẩm sinh ra đời với một hình tướng xấu xí, ai trông thấy
cũng không khởi tâm hoan hỷ mà tìm cách tránh xa, như vậy
cũng là khó cho ta đi giáo hóa chúng sanh. Hồi Tổ sư Ðạt-ma
đến Trung quốc, người Trung quốc trông thấy Tổ mặt đầy
râu ria, mắt to, lông mày rậm, tướng dễ sợ. Cho nên Tổ
Ðạt-ma phải diện bích, đối diện với bức tường trên
mười năm, chỉ giáo hóa được rất ít chúng sanh, may mắn
trong đó có một vị là Nhị Tổ Thần Quang, người đến
cầu pháp, quỳ suốt chín năm, lại chặt một cánh tay, mới
được Tổ Ðạt-ma lấy tâm truyền tâm, từ đó mới có tông
Thiền, truyền cho đến nay. Nay tôi đến Tây phương hoằng
pháp, dìu dắt các vị tu học Phật pháp, cùng chỉ vẽ cho
quý vị phải tu công đức phước thiện, để trang nghiêm
thân tướng của chính mình.
Thế nào
là tu công đức phước thiện? Tới đâu để tu? Ðúng vậy,
tu hành làm việc đạo cũng cần phải có một chỗ an thân.
Cơ hội này cũng là do nhân duyên đã thành thục nên bây giờ
mới ở tại Vạn Phật Thánh Thành. Ở đây cần cả vạn
vị Phật đến trang nghiêm thành này. Nói là vạn Phật, chẳng
phải đã thành được vạn Phật, mà đương thành vạn Phật,
là đã phát tâm Bồ-đề, hiện phát tâm Bồ-đề, đương
phát tâm Bồ-đề của các đệ tử Phật.
Vạn
Phật Thánh Thành,
Vạn Phật
Thánh Thành,
Vạn Phật
đều thành!
Công trình tại
Kim Sơn Thánh Tự trong mấy năm nay chính là đãi cát tìm vàng,
rất may là đã gạn lọc ra được rất nhiều Phật vàng.
Hết thẩy thất chúng đến Kim Sơn Thánh Tự không sanh lòng
thối chí, do có một phần của Vạn Phật Thánh Thành. Cho
nên chúng ta phải trân quý túc duyên đó mà đồng tâm hiệp
lực, phát nguyện rộng lớn:
1. Nguyện
lấy Vạn Phật Thánh Thành làm cộng đồng sanh mạng của
chúng ta; để sanh mạng chúng ta được duy trì, Vạn Phật
Thánh Thành phải là nơi an toàn, không có hiểm nghèo, để
sanh mạng đó có đủ sức sống và phát triển.
2. Nguyện
coi Vạn Phật Thánh Thành là cái đầu não của chúng ta, do
đó chúng ta phải bảo hộ cái đầu để Vạn Phật Thánh
Thành sẽ vĩnh viễn lãnh đạo chúng sanh dưới ánh hào quang
của Phật, và chúng sanh sẽ được tận hưởng an lạc trong
đời sống.
3. Nguyện
lấy Vạn Phật Thánh Thành là cặp mắt của chúng ta, và như
cặp mắt được gìn giữ, chúng sẽ có thể quan sát mọi
nhân duyên của chúng sanh một cách tường tận, vĩnh viễn
không xa cách chúng sanh. Chúng ta tất cả, xin hãy một lòng
tha thiết gắn bó với lời thệ nguyện phát triển Vạn Phật
Thánh Thành, nhất định thành tựu cho được lời nguyện
vạn Phật tới trang nghiêm thành này, lấy sự hưng thịnh
của toàn Thành làm trách nhiệm và thiên chức của chính mình.
Hy vọng mọi người không coi nhẹ trách nhiệm, bỏ bê phận
sự của mình.
Sự việc
trong thế gian, luôn luôn theo chiều hướng lên xuống, cái
này lên thì cái kia xuống, không có cái gì là vĩnh viễn hưng
hay vĩnh viễn suy. Hiện nay Phật giáo tại châu Á suy vi, thì
Phật giáo tại Mỹ lại hưng khởi. Lịch sử của một dân
tộc hay một quốc gia cũng giống như thế. Nước này suy,
nước kia thịnh, như vừng thái dương lúc buổi sáng mọc
lên ở phương Ðông, chiều đến xuống dần và lặn ở phương
Tây. Nói lặn nhưng chẳng phải là mất hẳn, lặn nơi này
mà mọc ở nơi khác. Tại Mỹ khi chúng ta ngắm mặt trời
lặn, thì cũng là lúc rạng đông ở Trung Hoa. Nhất thiết
các sự tướng đều bầy ra như vậy. Phật giáo đến với
xã hội Tây phương thì Vạn Phật Thánh Thành của chúng ta
là nơi phát nguyên - cái cơ sở gốc vậy. Năm ngoái lão Pháp
sư Ðông Sơ qua Mỹ, có đến Vạn Phật Thánh Thành. Ngài nói
rằng Vạn Phật Thánh Thành có thể ví như núi Linh Thứu tại
Ấn-độ, và cũng có thể nói rằng Vạn Phật Thánh Thành
là Phật Giáo Mỹ Quốc Thánh Thành. Ðất này cũng có Diệu
Giác sơn, đúng là Linh Sơn Thánh Thành. Ðịa hình của Diệu
Giác sơn như tượng một người nằm, vừa trong giấc ngủ
tỉnh giấc, không riêng tự giác ngộ mà còn chiếu cố các
chúng sanh khắp mười phương, cho nên mới có tên là Diệu
Giác; do đó, Vạn Phật Thánh Thành có thể gọi là Giác Sơn
Thánh Thành, Bồ Ðề Thánh Thành, hay Diệu Giác Sơn Thánh Thành
cũng được.
Lão Pháp
sư Ðạo Nguyên lúc đến đây, Ngài lấy mấy chữ tên của
Ngài "Ðạo Nguyên" (nguồn đạo), ghép lại mà rằng: "Nguồn
đạo, nguồn đạo, nguồn của đạo, nguồn của tu đạo,
Vạn Phật Thánh Thành chính là nguồn hành đạo của chư Phật
tại Tây phương." Tại Trung quốc ở tỉnh Quảng Châu có "Tây
lai sơ địa," để ghi nhớ nơi Tổ sư Ðạt-ma lần đầu tiên
đặt chân tới Trung Hoa. Vạn Phật Thánh Thành của chúng ta
cũng có thể kêu là "Ðông lai sơ địa," nhưng đó chẳng phải
là ám chỉ tôi "sơ lai"-mới đến. Ðây là nói lão Pháp sư
Ðông Sơ ghé qua nơi này, chẳng phải là nói sư phụ của
quý vị từ Ðông phương mới đặt chân tới. Từ nay về
sau, bất cứ lúc nào, và ở chỗ nào, không nên đề cập
đến tên tôi là tốt hơn cả. Tại sao? Tôi không muốn giống
mọi người trong thế tục. Các ông coi Tổ sư Bồ-đề Ðạt-ma,
người đến cũng không, người ra đi cũng không, cái gì cũng
không có. Tuy nói Tổ ngồi tại Hùng Nhĩ sơn trong chín năm,
nơi mà Tổ ngồi vẫn còn ở đấy, nhưng người thì không.
Vậy cứu cánh thì Tổ ở đâu vậy? Không ai biết. Bởi vậy
lúc sinh thời tôi không muốn dùng tên tôi, trong tương lai
không còn ở tại thế gian này, cũng không cần đến tên tôi
nữa. Tôi thường nói với quý vị rằng, cái tên của tôi
là giả, cái tên khác cũng chẳng phải là chân. Nay mỗi cá
nhân chúng ta phải phát nguyện làm một phần tử của Vạn
Phật Thánh Thành, tức không còn là kẻ chỉ đứng ngoài bàng
quan không mó tay tới việc gì; chúng ta có sức thì góp sức,
có tiền thì xuất tiền, cống hiến tận tình công sức của
chúng ta, đưa kế hoạch mục tiêu để phát triển Vạn Phật
Thánh Thành, tận lực hộ vệ Vạn Phật Thánh Thành, hộ trì
nơi phát nguyên ra Phật Giáo Tây phương, nơi đất thánh này,
như thế mới hết cái nghĩa chúng ta coi trọng Vạn Phật Thánh
Thành. Công trình của chúng ta chẳng phải có ý nghĩa tạm
thời. Trong tương lai, khi ghi lại lịch sử phát triển của
Phật giáo Tây phương, đây là một điểm phải đặc biệt
chú trọng, chẳng phải chúng ta hy vọng có cái danh trong sử
này, chỉ là muốn người chép sử của Phật giáo Tây phương
ghi ra những điều trung thực. Việc trước mắt là chúng ta
bất tất lo những chuyện này, mà nhớ rằng chúng ta đã là
đệ tử Phật tại Vạn Phật Thánh Thành thì phải đem hết
chân tâm và năng lực, đổ mồ hôi nước mắt chịu khổ,
chịu nạn cho công trình này, chẳng hãi sợ, chẳng lui bước,
coi như sự đương nhiên, nếu không thì chẳng đúng là dân
của Vạn Phật Thánh Thành. Còn nhớ năm 1972, tôi đã từng
viết bài "Vũ Trụ Bạch," sau chót có hai câu: "Lưu huyết hãn,
bất hưu tức," nghĩa là đổ mồ hôi, đổ tâm huyết, cũng
chẳng thôi, cũng chẳng tạm nghỉ, quyết mang huyết hãn để
thực hiện cho được lý tưởng và mục đích của chúng ta.
Kiền
Thành Niệm Cát Tường Thần Chú
Năm nay, kể
từ ngày Nguyên-đán, chúng ta cùng thành tâm niệm thần chú
Tiêu Tai Cát Tường:
"Nam mô.Tam
mãn đa. Mẫu đà nẫm. A bát la để. Hạ đa xá. Sa nẵng nẫm.
Ðát điệt tha. Án. Khư khư. Khư hê. Khư hê. Hồng hông. Nhập
phạ ra. Nhập phạ ra. Bát ra nhập phạ ra. Bát ra nhập phạ
ra. Ðể sắt xá. Ðể sắt xá. Sắt trí rị. Sắt chí rị.
Sa phấn trá. Sa phấn trá. Phiến để ca. Thất lí duệ Sa bà
ha."
Nếu như
quý vị chuyên tâm trì niệm, chắn chắn sẽ có cảm ứng
chẳng thể nghĩ bàn và tới được cảnh giới như trong câu
nói: "Cảm ứng đạo giao."
Tại sao chúng
ta cần phải niệm Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường? Ðể cầu
cho toàn thế giới, toàn thể nhân loại tai qua nạn khỏi,
đến chỗ cát tường. Ðó là lý do thúc đẩy Vạn Phật Thánh
Thành cử hành Pháp-hội Tiêu Tai Cát Tường. Tóm lại, chính
là giúp chúng sanh thoát ly khổ hải, chớ không có mục đích
gì khác.
Một số
các chùa, bất luận mở pháp hội nào đều nhằm vào các
thí chủ công đức (người xuất tiền của để làm công
đức). Vạn Phật Thành không giống như vậy, chẳng có pháp
hội nào mà chúng ta nhằm vào các công đức chủ, chúng ta
chỉ có chủ công đức mà thôi. Thế nào gọi là chủ công
đức? Nghĩa là Vạn Phật Thánh Thành chủ trì công đức và
hồi hướng tất cả công đức cho toàn thể nhân loại trên
thế giới này.
Tại đây
chúng ta mang hết thành tâm và thành ý niệm thần chú Tiêu
Tai Cát Tường, vì lợi ích của toàn thể nhân loại chớ
không phải chỉ riêng lợi ích của mấy người ở tại Vạn
Phật Thành. Pháp hội này lớn rộng, đại nhi vô ngoại, nghĩa
là to lớn đến độ bao trùm hết các chúng sanh, không một
chúng sanh nào ở ngoài cả. Bất cứ ai, không kể người tin
Phật hay không tin Phật, kẻ thiện người ác, chúng ta đều
mang công đức hồi hướng cho tất cả, làm cho mọi người
thoát ly khổ ách và được hưởng an vui.
Thực hiện
những pháp hội này, chúng ta không hề đặt giá, chỉ lo châu
toàn bổn phận, hết một lòng với thiên chức, lẽ đương
nhiên cầu an lạc là phải cầu cho hết mọi chúng sanh. Nếu
không nhận thức cho rõ, chúng ta sẽ làm mất hết ý nghĩa
của pháp hội. Bởi vậy chúng ta phải niệm với một sự
chí thành, một sự tha thiết, để có thể cảm động tới
lòng từ bi của Phật và Bồ-tát, khiến các Ngài rủ lòng
thương xót giúp giảm nhẹ tai nạn cho chúng sanh, tai nạn lớn
biến thành nạn nhỏ, tai nạn nhỏ thì được hóa giải luôn.
Ở đây chúng ta hết lòng cầu nguyện cho toàn thể nhân loại,
được tiêu tai cát tường. Ðó là cái đáng giá!
Chúng ta nhờ
vào vị thế ưu việt của đạo tràng Vạn Phật Thành mà
làm tiêu được tai nạn cho toàn thể nhân loại trên thế
giới, thì thật là một điều hết sức lý tưởng. Nếu không
có địa điểm đó, thì không nơi nào có thể giúp chúng ta
làm được công đức này. Cho nên tại Vạn Phật Thánh Thành,
có quy định làm "sái tịnh," tức dọn dẹp sạch sẽ, vào
đêm trừ tịch của âm lịch, để sáng ngày mồng một Nguyên-đán
bắt đầu niệm thần chú Tiêu Tai Cát Tường. Vạn Phật Thánh
Thành làm chủ công đức, nghĩa là chủ trì việc làm công
đức để hồi hướng đến các chúng sanh trên toàn thế giới.
Quý vị!
Tham gia các loại pháp hội này là một vinh dự! Một vận
may! Quý vị hãy phấn chấn tinh thần, thành tâm mà niệm,
chớ có bôi bác bề ngoài che đậy tâm lười biếng. Mọi
người phải cùng nhau một lòng vì cứu độ chúng sanh mà
niệm. Hãy niệm! Niệm! Niệm! Niệm!
