Ðạt
Tới Cảnh Giới Bất Ðộng Tâm
Người học
Phật pháp, phải biết Phật pháp, phải tu trì Phật pháp.
Cũng có thể nói là ăn bằng Phật pháp, mặc áo Phật pháp,
ngủ trong Phật pháp, đi, đứng, nằm, ngồi thảy đều trong
Phật pháp. Người biết Phật pháp, luôn luôn vị tha, để
lợi ích của mọi người ở phía trước, tuyệt đối không
nghĩ cho quyền lợi của mình. Nói tóm lại, phải đả phá
bệnh "chấp ngã." Chỉ biết người, không biết mình, tới
được trình độ ấy mới gọi là người biết Phật pháp.
Người tu
trì Phật pháp thì bất cứ ở trong hoàn cảnh nào cũng không
bao giờ động tâm. Tại sao vậy? Bởi vì nếu công phu tu hành
tới mức thì ắt có đạo lực, và từ đó biết phân định
cảnh giới nào là chân thực, cảnh giới nào là hư dối.
Chẳng kể trước mắt là cảnh giới nào, chân thực cũng
tốt, hư dối cũng tốt, chẳng có gì làm cho tâm động. Cho
nên chúng ta thấy trong nhà Thiền thường có câu nói: "Phật
đến chém Phật, ma đến chém ma," ý nghĩa là không chấp trước
bất cứ thứ gì. Không chấp trước là giải thoát, giải
thoát là tự tại. Học Phật là cầu giải thoát, cầu tự
tại, tức là không còn bị ngũ dục trói buộc, vậy mới
ra khỏi được tam giới, đến được cõi tịnh độ Thường
Tịch Quang, gần gũi chư Phật và các vị Bồ-tát.
Thế nào
là cảnh giới thực? Khi nào trong tâm không khởi lên động
niệm thì mọi cảnh giới trước mắt đều là chân thực.
Một khi tâm ngu si vọng động, tâm tưởng thấy cái này cái
kia, thì cảnh giới lúc ấy phần nhiều là hư dối. Cảnh
giới của Ðại Viên Kính Trí là thực, nhưng cảnh giới hiện
lên trong tâm thức phân biệt là giả, cho nên có câu rằng:
"Có tâm tức thị vọng tưởng, vô tâm tức thị cảm ứng."
Ai học Phật pháp phải cố ghi nhớ! Tất cả mọi cảnh giới
đến với chúng ta, ta phải có con mắt trạch pháp (chọn lựa
pháp). Ta nhận thức cảnh giới mà không chấp vào nó. Bất
luận đó là thực hay giả, ta đều không chấp trước. Nếu
chấp thì cảnh giới chân cũng thành ra giả, nếu chẳng chấp
thì giả sẽ biến thành chân. Nghĩa lý như thế nào? Lấy
nước và băng chẳng hạn, băng vốn từ nước, nhưng nước
chẳng phải băng, tính chất vật lý của nước là như thế,
ai cũng biết. Như trong câu: "Phiền não tức Bồ-đề, Bồ-đề
chẳng phải phiền não," thì phiền não có thể dụ cho băng,
Bồ-đề là nước, còn vô minh là độ lạnh. Vì vô minh, nước
kết băng; không vô minh, băng hóa ra nước. Khi là băng thì
ở trong tam giới, chịu vòng sanh tử; khi là nước thì ra khỏi
tam giới chẳng sanh tử.
Xin quý vị
chú ý, quý vị phải dụng công ngay chỗ này. Lục Tổ đã
từng nói: "Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay lúc đó,
cái gì là bổn lai diện mục của thượng-tọa Minh." Nghĩa
lý như vậy đó. Nếu như chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác,
tức là không có niệm nào; vô niệm, vô trụ, nhất thiết
không, chẳng có cái gì hết. Tới lúc đó sẽ thấy được
bổn lai diện mục của mình, tức gốc gác của mình vậy.
Phải
Cứu Vãn Nguy Cơ của Thế Giới
Bây giờ
chúng ta hãy nghiên cứu một vấn đề lớn, nhưng vấn đề
gì cũng không ngoài phạm vi bốn chữ "thiện ác nhân quả."
Thiện sẽ thắng, ác sẽ bại, đó là luật nhân quả. Người
ta thường nói: "Trồng dưa được dưa, trồng đậu được
đậu." Cũng vì lẽ đó mà thế giới của chúng ta mới không
bị hủy diệt. Nếu quả có lý ngược lại, nghĩa là thiện
thì bại, ác thì thắng, thì chẳng còn thiên lý nữa, mà không
còn thiên lý, thì thế giới đã bị hủy diệt, tức là đã
có ngày tận thế.
Làm sao để
thế giới không bị hủy diệt? Phải cải thiện nhân tâm.
Lòng người hướng thiện thì ánh sáng sẽ chiếu khắp thế
giới. Ánh sáng là trí huệ, mà người có trí huệ, là người
có tâm chánh, mọi điều họ tạo tác, họ hành động đều
chánh đại quang minh, không có tư tâm vị kỷ. Tâm tưởng
đều nhất loạt hướng tới hạnh phúc của nhân loại, không
hề phân biệt, chủng tộc này, quốc gia kia, thiên hạ đều
gom lại một nhà của đại đồng thế giới. Nay thì lòng
người khác xưa, phần đông đều ích kỷ, tự lợi, chỉ
tranh đua quyền lợi cho riêng mình mà hy sinh hạnh phúc của
tập thể, cho nên thế giới mỗi ngày một đen tối, mỗi
ngày một ngu si, mỗi ngày một thêm nguy hiểm. Ngày hủy diệt
như đã gần kề, chỉ trong đường tơ kẽ tóc, mà nếu không
tìm biện pháp cứu vãn, thì tất cả đều chung một số phận,
chẳng ai còn một cơ may sống sót. Nhưng làm sao cứu vãn đây?
Kinh có dạy: "Các điều ác chẳng làm, các điều thiện phụng
hành." Ai ai cũng hướng thiện, không hướng tới ác, trên
từ vị nguyên thủ, dưới tới tận trăm họ, mọi người
đều lấy trí huệ làm ánh sáng để xua đuổi ngu si và hắc
ám. Nếu được như vậy thì bộ mặt thế giới sẽ đổi
từ âm qua dương, và chiến tranh sẽ biến thành hòa bình.
Nay chúng
ta đương sống trong cảnh đêm dài dằng dặc, sống và chết
trong cảnh mộng say. Bởi đêm dằng dặc mới thấy cần ánh
sáng; vì tối tăm nên lòng người ưu uất sầu muộn. Trong
bầu ánh sáng, nhân tâm sẽ hoan hỷ. Hắc ám và quang minh chỉ
tại lòng người thiện ác. Hủy diệt thế giới là ở nhân
tâm, mà sáng tạo thế giới cũng ở tại nhân tâm. Chúng ta
là người học pháp Phật, chính là trừ bỏ vọng tâm tìm
chân tâm, cho nên Phật pháp chính là lá bùa cứu vãn thế
giới, cái gương quý cải thiện nhân tâm.
Phàm chuyện
đời cái gì có lợi thì ắt có cái tệ hại. Tỷ dụ như
cái máy truyền hình, nó có thể cho ta biết chuyện lớn trong
nước và các diễn biến quốc tế. Một câu người ta hay
nói: "Tú tài bất xuất môn, tiện tri thiên hạ sự," tú tài
chẳng ra khỏi cửa mà biết hết cả chuyện thiên hạ. Ðây
là dụng ích tốt của máy truyền hình, nhưng nó cũng có khía
cạnh xấu. Con nít coi truyền hình thường bị ảnh hưởng
xấu, học lối gian dối, làm những hành vi trái đạo lý,
khiến mất hạnh phúc trong gia đình, gây hỗn loạn trong xã
hội, thành những thiếu niên bất hảo, đâu đâu cũng gây
chuyện thị phi. Nếu như vậy rồi mai sau những hạng đó
ra chấp chánh thì làm sao có hòa bình được? Ðó là một
trong cái hại của máy truyền hình. Như chúng ta lo cho thế
hệ sau, lo cho tương lai thế giới thì nên nghiêm cấm con nít
không cho xem truyền hình, hoặc giả tuyệt đối không mua máy
truyền hình, đó chính là biện pháp rốt ráo, chặn từ gốc
của cái họa tạo điều ác.
Thế giới
ngày nay đã đi tới giai đoạn mà sự trong sáng đã bị che
mờ thành mầu u ám. Vậy phải làm sao? Là một thành phần
của nhân loại, trước hết chúng ta hãy đem bổn thân mình
ra để cố gắng, bài trừ các tập khí của chúng ta, mang
hết tâm tham, tâm sân, tâm si ra gạn lọc, lấy bổn thân mình
để ảnh hưởng đến người khác. Tư tưởng cùng hành vi
của chính chúng ta phải thật là đúng mức thì sau đó mới
khuyên nhủ được mọi người hướng thiện, lấy đó làm
khuôn mẫu, nếu không thì chỉ là chuyện nói để chơi, chẳng
ích lợi gì.
(Kỷ yếu
ghi: Ðể cầu nguyện cho hòa bình thế giới, hai pháp sư Hằng
Thật và Hằng Triều mang bản thân nếu gương hành động,
ba bước một lạy, khuyên người hướng thiện, diệt trừ
ba độc, là các tâm tham sân si. Mọi người nếu không có
ba tâm độc ấy, thì thế giới hòa bình, và có hòa bình thì
nó sẽ không bị hủy diệt. Ngược lại, nếu có chiến tranh
nguyên tử, thế giới tức bị tiêu diệt.)
Phàm người
chịu gánh vác việc thiên hạ, đều có tư tưởng thương
xót nhân loại. Như đức Phật Thích-ca năm xưa, khi tu đạo
Bồ-tát, Ngài chịu khổ hạnh như vậy. Tại sao? Bởi muốn
tạo ảnh hưởng trong chúng sanh, khiến chúng sanh y pháp tu
hành, mới có thể lìa khỏi khổ được an vui. Tôi thường
nói: "Chịu khổ thì hết khổ, hưởng phước thì tiêu hao
phước."
Truy
Ðiệu Ông Sadat
Khi có tin
tức về ông Sadat, tổng thống Ai-cập, bị nạn, ai nấy ở
Vạn Phật Thành đều lấy làm thương tiếc, và thế giới
đã mất đi một vị lãnh tụ của phong trào hòa bình. Tuy
ông là tín đồ Hồi giáo nhưng với đầu óc cởi mở, không
câu nệ ranh giới tôn giáo, ông đảm nhiệm chức vụ hiệu
trưởng danh dự của trường Ðại-học Pháp Giới.
Với tôn
chỉ phục vụ cho hòa bình thế giới, ông Sadat đáng làm cho
mọi người khâm phục. Tại Trung Ðông, ông nỗ lực vận
động để giảm thiểu nguy cơ chiến tranh, đó chính là một
công tác phục vụ hòa bình thế giới vô cùng khó khăn.
Ông rất
hưởng ứng tôn chỉ của trường Ðại-học Pháp-giới Phật-giáo,
nguyện ý tán trợ và sau vui lòng đảm nhiệm chức vụ hiệu
trưởng danh dự của trường. Tuy ông bị ám sát, nhưng tinh
thần của ông vĩnh viễn ở lại với thế gian. Sanh tử vốn
là hư vọng, nhưng công nghiệp để lại cho thế gian mới
là chân thực. Ta lấy ví dụ như nhân vật Quan Vân Trường
tại Trung quốc, với đại nghĩa ngất trời, khí tiết vẫn
còn lại mãi. Tuy sau này, bị hại trong tay Ðông Ngô, nhưng
phương danh lưu lại thiên cổ, cho đến nay vẫn còn được
mọi người sùng bái.
Tôi nghĩ
rằng ông Sadat tuy không may bị hại, nhưng là người vì nước
quên
mình, cho nên tinh thần yêu chuộng hòa bình của ông sẽ là
muôn đời bất hủ.
Ðể tỏ
lòng tưởng niệm một vị lãnh tụ hòa bình, ngày mai (9 tháng
10 năm 1981) vào lúc 9 giờ sáng, chúng ta sẽ cử hành pháp
hội truy điệu Sadat tiên sinh. Chúng ta tụng kinh niệm chú
hồi hướng cho ông. Trong thế giới Hồi Giáo của ông, ông
hiểu được nguyên tắc bình đẳng của Phật-giáo, không
bị lệ thuộc vào mầu sắc tôn giáo, chắc chắn ông sẽ
rất vui lòng.
Tham
Sân Si Làm Chướng Ngại Ðường Tu
Nói về khoảng
thời gian chúng ta ở tại thế, nó qua nhanh chỉ trong nháy
mắt. Vậy mà không ai buông xả được, cứ ôm cứng lấy,
chấp đông chấp tây, coi thế giới này là chân thực, từ
đó mà ra công tranh danh đoạt lợi, quẩn quanh hoài trong vòng
lợi danh, vì lợi danh mà làm những hành vi điên đảo, trái
lương tâm. Kết quả tối hậu cũng chỉ là vì danh mà chết
với danh, vì lợi mà chết với lợi. Một đời, tôi tranh
anh đoạt, vì lợi danh mà quay cuồng điên đảo, nguyên nhân
là sao vậy? Bởi vì người ta chưa nhận thức được ba độc
là tham sân si. Loại độc này còn ghê gớm hơn bội phần
các thứ thuốc độc khác. Thuốc độc chỉ hại thân thể,
chớ không hại được cái tâm, còn tam độc thì vừa hại
thân vừa hại tâm, làm cho ta phải điên cuồng, nhẹ thì tiêu
hủy gia đình, nặng thì diệt quốc, thậm chí đến hủy diệt
thế giới, cho nên ba độc đó chính là kẻ thù của nhân
loại.
Tại sao trên
thế giới lại có những kẻ sát nhân, đốt nhà, gian dâm,
với những chuyện cướp bóc? Bởi vì người ta tham, sân,
si, và ba độc này được ưa chuộng, khiến cho người ta tham
mà không biết chán. Gặp chuyện cầu mong mà không được,
bèn nổi tâm sân hận, nhẹ thì nó ẩn núp bên trong, nặng
thì phát ra hành động, thành đấu tranh, có khi thành chiến
tranh. Bởi vậy nên thế giới không an ổn. Nếu quả mọi
người giữ lòng thanh tịnh, không bợn trong tâm, làm việc
với tâm từ bi, thì thế giới tự nhiên hòa bình không còn
chiến tranh nữa.
Nếu muốn
giải quyết tận gốc vấn đề của thế giới, thì phải
nhằm vào ba độc để hạ công phu, tìm cách làm sao cho mọi
người không tham, không sân, và không si. Làm được như vậy
chăng? Biện pháp duy nhất là tin theo Phật-pháp, theo tông chỉ
của Phật-giáo, tức là lấy giới, định, huệ để diệt
tham, sân, si. Ðó chính là biện pháp căn bản để giải quyết
vấn đề. Giữ vững được Năm Giới sẽ hết lòng tham; có
định lực sẽ không có sân; có trí huệ, tức là hết ngu
si. Tam độc là một bệnh truyền nhiễm, tam học - giới, định,
huệ - là thuốc hay dùng để chữa trị, gặp bệnh là có
công hiệu ngay, như dựng cây sào thì tức khắc nhìn thấy
bóng.
Người người
học Phật-pháp, người người không tham sân si, vậy là vấn
đề của thế giới sẽ được giải quyết. Tuy nhiên, tới
được chỗ đó chẳng phải là chuyện dễ dàng. Tại sao?
Bởi vì lòng người đã khác xưa, đạo đức đã suy đồi,
người thì dối người, và để đạt mục tiêu người ta
chẳng kể thủ đoạn. Người ta chỉ nói chuyện lợi lộc,
mà không nói chuyện đạo nghĩa, như kẻ gian thương kia bán
rượu pha nước, cốt vì lợi mà gạt khách hàng. Người ta
nói "treo đầu dê, bán thịt chó," đó chính là một hành vi
lừa bịp. Ngày xưa, làm nghề buôn bán, bán hàng thật, định
giá thật, nêu cao tiêu chuẩn chẳng dối trẻ già. Ngày nay
trong thương nghiệp, chẳng còn quan niệm gì về đạo đức
nữa, kẻ mua người bán lừa nhau, chẳng ai thành thật nữa.
Thực tâm mà buôn bán, đề bảng rõ bán đúng giá thì chẳng
ai còn gặp phiền phức. Tại sao lại phải lừa dối? Tóm
tắt một lời, đó là do lòng tham lợi cả.
Người nông
dân vốn là trung hậu, nay lây ảnh hưởng của giới buôn
bán, cũng không còn thật thà nữa. Họ trồng ngũ cốc và
rau trái thì dùng phân hóa học, họ nuôi bò, dê, heo, gà thì
trộn thực phẩm gia súc với chất hóa học để chúng mau
tăng trưởng, khiến cho giới tiêu thụ, ăn các thứ đó vào
lâu ngày sẽ trúng độc. Cái đó chính là tham tiền mà làm
hại sanh mạng của người khác, lẽ ra pháp luật phải có
biện pháp trừng trị, nhưng họ vẫn nhơn nhơn ngoài vòng
pháp luật, có khác chi cổ võ cho họ thêm nữa. Chẳng qua
vì họ muốn có lời nhiều, mà làm ngơ trước vấn đề sống
chết của kẻ khác, so với anh gian thương pha nước trong rượu
còn độc ác hơn gấp bội. Ngày nay bệnh ung thư mỗi ngày
một tăng gia, chính là do giới nông gia và thương gia nói trên
gây ra cả. Bởi thế cho nên, những người sáng suốt hết
sức hô hào dùng các loại thực phẩm từ thiên nhiên, mà
không dùng các loại đã biến chế gia công. Tuy nhiên, đối
với những người ham ăn, những điều này dầu có lọt vào
tai họ, họ cũng chẳng nghe, cứ ăn vào cho đầy một bụng,
có khác gì nuốt vào một cái ngòi nổ chậm, đúng thời hạn
nó sẽ phát tác làm cho huyết quản bị bể, nhẹ là triệu
chứng trúng phong (stroke), nặng thì chết người. Vậy mà,
dầu thấy tấm gương xe trước đã xa lầy, xe sau vẫn theo
đúng vết cũ.
Như vậy
đủ thấy cái hại của tham, sân, si, không cách nào kể xiết.
Chẳng phải chỉ riêng đối với người thường, ngay cả
các vị tu sĩ, nếu không thận trọng cũng rước lấy cái
độc hại kể trên. Công phu vừa mang lại chút ít định lực
liền bị lửa vô minh thiêu rụi hết. Làm sao để tránh ngọn
lửa vô minh đó? Phải tu pháp môn nhẫn nhục ba-la-mật, và
tuyệt đối không nổi nóng là một điều kiện tiên quyết.
Không nổi sân, tức có trí huệ. Có ánh sáng trí huệ thì
sự hắc ám của ngu si sẽ bị xua đuổi. Hết hắc ám, mọi
cử chỉ hành động thảy đều quang minh chính đại. Vậy
phải tu như thế nào? Trước hết giữ giới, giữ được
giới thì sẽ có định, có định tức có trí huệ. Giới,
định, huệ, tam học mà đầy đủ thì tham, sân, si, ba độc
sẽ tự tiêu hủy.
Linh
Cảm Quán Thế Âm
Quán Thế
Âm Bồ Tát từ bi và linh cảm ra sao, thật là không thể nghĩ
bàn. Nếu mọi người chúng ta thành tâm niệm Quán Thế Âm
Bồ Tát thì nhất định nghiệp chướng sẽ tiêu trừ, căn
lành sẽ tăng trưởng. Có rất nhiều sự tích nói về sự
linh cảm của Ngài, nay tôi xin kể một chuyện xẩy ra tại
đất Mỹ. Có một bà đến nhà thương để sanh con. Ðây là
một trường hợp đẻ khó, nên bác sĩ phải giải phẫu để
lấy đứa nhỏ ra, nhưng trong khi mổ người ta cắt phải ống
dẫn nước tiểu của sản phụ mà không hay biết. Sau khi mổ
và khâu lại, người sản phụ về nhà được mấy ngày mà
không hề đi tiểu tiện, trong khi đó thân thể sưng lên. Thấy
sự việc xảy ra bất thường, bà này bèn đến bác sĩ hỏi
bệnh nhưng bác sĩ cũng không hiểu là bệnh gì. Sau thấy toàn
thân phù thũng, bệnh nhân đành phải đi khám lại bệnh tình,
lúc đó huyết áp đã xuống thấp tới 18 độ, độc tố tích
lại cùng mình, không cách gì chữa trị, đành nằm chờ chết.
Một số thân hữu của nạn nhân gọi điện thoại tới Vạn
Phật Thành cầu cứu. Người ta báo cáo cho tôi hay, tôi bảo
họ hãy thành tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Họ rất thành
tâm niệm Ngài Quán Âm, và chỉ hai tiếng rưỡi đồng hồ
sau, phù thũng tiêu dần, huyết áp tăng lên, đường nước
tiểu thông trở lại, nạn nhân phục hồi sức khỏe rất
nhanh chóng rồi xuất viện. Các sự tích về trường hợp
từ cửa tử thần, hay từ bệnh nguy ngập mà hồi sanh, hay
các chuyện tiêu tai giải nạn, ở tại thành Vạn Phật, kể
ra không hết, nay tôi chỉ kể một câu chuyện đó mà thôi.
Truyền
Thọ Chú Khai Trí Huệ
Tâm Kinh Bát-nhã
Ba-la-mật, gọi tắt là Tâm Kinh, có thể khai mở trí huệ,
giúp cho xa lìa điên đảo, mộng tưởng.
Kinh nói:
Bồ-tát Quán
Tự Tại, khi quán chiếu thâm sâu bát-nhã ba-la-mật-đa, bèn
soi thấy năm uẩn đều không, độ hết mọi khổ ách. Này,
Xá-lợi-tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì
sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thọ tưởng hành
thức cũng đều như vậy cả. Này, Xá-lợi-tử, các pháp đều
là tướng không . . .
Nếu như
soi thấy được hết mọi pháp là hư ảo, là bồng bềnh,
thì có thể buông bỏ hết, đạt được giải thoát.
Trong chú
Thủ-lăng-nghiêm cũng có hai câu, có thể khai mở trí huệ,
tới tối ngày mai tôi sẽ truyền lại cho các vị. Muốn có
tiền không? Không muốn. Có câu nói: "Ngàn lượng vàng ròng
không bán Ðạo, tới ngả ba đường tiễn tri âm' (Thiên lượng
hoàng kim bất mại đạo, thập tự nhai đầu tống tri âm).
Nếu trí huệ được khai mở thì sẽ chứng sự tự tại,
hết mọi phiền não và Bồ-đề sẽ hiện ra trước mắt.
Sáu
Nẻo Luân Hồi
Tại sao chúng
ta điên đảo? Bởi vì không có trí huệ. Vì đâu mà bội
giác hiệp trần, hiệp với trần cảnh mà quay lưng với giác
ngộ? Cũng là do không có trí huệ. Vì đâu mà luân chuyển
trong sáu nẻo? Lại cũng là do không có trí huệ. Bởi vậy
cho nên, tu đạo phải lấy trí huệ làm đầu. Phật phải
tu phước và tu huệ, phước huệ cùng tu, Ngài mới chứng
bậc Vô thượng giác.
"Chớ cho
rằng điều thiện nhỏ mà không làm," tu phước là như thế
đó. "Chớ thấy điều ác nhỏ mà làm," đó là tu huệ. "Các
điều ác không làm," đây là tu huệ. "Các điều thiện đều
làm," vậy là tu phước. Cho nên người tu đạo chớ có ham
những tiện nghi nhỏ, lấy cái ít làm đầy đủ, và phải
nhớ rằng tất cả đều là mộng huyễn, như bọt như ảnh,
chẳng được lâu dài. Ðiều nhận thức cần thiết này phải
hiểu cho rõ, không để cho lợi danh chốn thế tục làm cho
mê mờ. Như câu: "Thấy sự tỉnh sự là xuất thế gian, thấy
sự mê sự là bị trầm luân" (kiến sự tỉnh sự xuất thế
gian, kiến sự mê sự đọa trầm luân), vậy nên chúng ta phải
hết mực nhanh chóng vượt khỏi sáu nẻo luân hồi.
Sáu nẻo
luân hồi là gì? Tức là trời, người, a-tu-la, súc sanh, quỷ
đói, địa ngục. Sáu nẻo tuy không giống nhau, nhưng cùng
nhau luân chuyển, tuần hoàn. Thân phận chúng ta cũng như một
hạt bụi trong không gian, phút chốc ở tầng trời, phút chốc
làm người, phút chốc làm súc sanh, làm quỷ đói, không có
gì là nhất định, không thể làm chủ được mình. Tu hành
là cốt để chấm dứt sanh tử, thoát khỏi sự trói buộc
của vòng luân hồi. Phước trời hưởng hết thì lại đi
xuống, bởi vậy có câu:
Lục
dục chư thiên cụ ngũ suy,
Tam thiền
thiên thượng hữu phong tai,
Nhiệm quân
tu đáo phi phi tưởng,
Bất như
Tây phương quy khứ lai.
Dịch nghĩa
là:
Các
tầng trời dục giới có ngũ suy.
Trên trời
tam thiền (của Sắc giới) có nạn gió bão.
Cho dù tu
lên được tầng trời phi phi tưởng (của vô sắc giới).
Chẳng bằng
đi về cõi Tây phương.
Tưởng đã
ra khỏi được luân hồi, hóa ra vẫn còn bị luân chuyển,
qua mấy câu châm biếm trên. Hãy tinh tấn tu hành.
Con người
ta chưa biết khổ, nên chưa biết tu, chớ nghĩ rằng thân phận
súc sanh thì rất xa với chúng ta, kỳ thực súc sanh cũng có
xương thịt như chúng ta, nếu chúng ta không chịu tu, thì chỉ
thoáng qua trong nháy mắt chúng ta lại bị đọa xuống làm
thú. Mỗi cá nhân có một địa ngục riêng của mình, có phiền
não tức có địa ngục. Bởi vậy quý vị nên mau mau tu đạo,
thoát khỏi sáu nẻo trong luân hồi thì mới giải thoát được.
Pháp-sư
Hằng Tại
Quý vị!
"Thân người khó được nay đã được, Phật pháp khó gặp
nay được nghe, Thiện tri thức khó gặp nay đã gặp," tôi
thực là may mắn có đủ cả ba điều kiện này. Nhân duyên
xuất gia của tôi là do được chứng kiến sự đau đớn của
mẹ tôi khi người mang bệnh, tôi cảm thấy chuyện đời vô
thường, chẳng biết hướng tới đâu. Tôi không biết kiếp
này làm người, rồi kiếp sau còn làm thân người nữa không?
Bởi vậy năm 1979, tôi tới với Thượng Nhơn, cầu Ngài cho
xuất gia. Thượng Nhơn hỏi: "Tại sao muốn xuất gia?" Tôi
đáp: "Nhân thấy mẹ tôi mang bệnh đau đớn, rồi bỗng chốc
ra đi, tôi cảm thấy cái khổ về sanh tử, nên phát tâm xuất
gia." Xuất gia tu đạo tức là muốn chấm dứt sanh tử, ra
khỏi tam giới, không còn bị vướng trong sáu nẻo của vòng
luân hồi nữa.
Pháp-sư
Hằng Ðoan
Lần ấy
là lần đầu tiên tôi đến Hương Cảng, một nơi có cái
tên rất đẹp là "hòn ngọc phương Ðông." Nhìn thấy quang
cảnh, nào người, nào xe cộ đông đảo, chen chúc, nhất định
là cuộc sanh hoạt trên đảo này rất là khẩn trương, không
giống như tại đất Mỹ rộng lớn, ở đó tương đối mọi
người sống nhàn tản và tự tại hơn. Nhưng, một khi đã
cư ngụ trên đảo này, và muốn cho tinh thần được thơ thới,
tâm tình an định thì có một biện pháp là niệm danh hiệu
các Bồ-tát, như niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát, hay Nam-mô
A-di-đà Phật. Nguyên do là niệm danh hiệu Phật, có thể tiêu
trừ nghiệp ác, trừ các bệnh hiểm nghèo, hoặc các sự việc
chẳng được xứng ý và tăng trưởng căn lành của chúng
ta. Cũng giống như trường hợp của tôi, năm 1978 lần đầu
tiên tôi đến Vạn Phật Thành để dự thất Quán Âm, Thượng
Nhơn bảo tôi thường xuyên niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát,
nên từ hồi đó, tôi tùy duyên tập cho mình niệm danh hiệu
của Ngài Quán Âm, lúc lái xe, lúc đi bộ, khi thì tôi tụng
chú Ðại-bi. Tôi tin rằng chỉ cần chúng ta thành tâm tha thiết
trì tụng, thì Phật và chư vị Bồ-tát sẽ thường xuyên
ở bên cạnh giúp đỡ chúng ta, để chúng ta gặp vạn sự
như ý, thân tâm thơ thới!
Bảy
Bồ Ðề Giác Tri
Bổn thân
người học Phật pháp phải có đủ chánh tri, chánh kiến.
Có chánh tri chánh kiến thì mới biết tu hành cách nào. Có
được pháp môn chánh xác mới có được pháp mạch chánh
xác, bởi vậy trước hết quý vị phải hiểu thế nào là
bẩy Bồ-đề giác tri.
Giác tri phần:
Giác tri tức là hiểu rõ đường lối tu hành như thế nào.
1. Trạch
pháp giác tri: Phải biết cái nào là chánh, cái nào là
tà, cái nào là tốt, cái nào là xấu, phải có con mắt chọn
lựa, mới không lạc vào đường rẽ. Nếu không biết chọn
lựa tất dễ bị dẫn tới những ngõ ngách quanh co, tìm không
ra lối, cho nên trạch pháp giác tri là quan trọng vô cùng.
Muốn biết cách chọn lựa sao cho chính xác, tất phải có
trí huệ, còn không thì cứ chọn đi chọn lại, mà vẫn còn
sai lầm. Sai lầm vì không có trí huệ, vì thiếu cái trí huệ
chọn pháp. Không biết chọn thì rất dễ đi vào đường rẽ.
2. Tinh
tấn giác tri: Nếu hiểu rõ Phật pháp mà lại gạt nó
qua một bên không chịu dụng công tu hành thì có khác chi suốt
ngày nói ăn mà chưa hề thực sự nếm mùi pháp vị. Giác
tri này nói về sự tinh tấn. Như quý vị đã biết chọn pháp,
nắm được pháp yếu một cách chính xác, lại tinh tấn tu
hành, ngày đêm sáu thời thân tâm dụng công, không lười
biếng; thân tinh tấn tức là niệm Phật, lạy Phật, tụng
kinh, lễ sám v.v.., tâm tinh tấn tức là thường xuyên niệm
niệm không quên, không khởi vọng tưởng.
Biết cách
chọn chánh pháp, mới tránh được tình trạng tu mù. Tu mù
mà không gặp thiện tri thức chỉ bảo, thì kết quả đường
Phật không đi mà đi về địa ngục, tưởng là theo đạo
Bồ-tát mà thành theo ma đạo. Tại sao mà nghiêm trọng đến
thế? Bởi tri kiến không chánh đáng, sai lầm nhân quả, nên
càng tu càng đi xa mục tiêu của mình đã vạch sẵn, nghĩa
là "sai một ly, đi một dặm," hoặc như người ta thường
nói:
Mông
đổng truyền mông đổng
Nhất truyển
lưỡng bất đổng
Sư phụ
hạ địa ngục
Ðồ đệ
vãng lý củng
Dịch nghĩa
là:
Hồ
đồ truyền kẻ hồ đồ,
Một truyền
hai chẳng hiểu,
Sư phụ xuống
địa ngục,
Ðồ đệ
cũng xuống hầu.
3. Hoan hỷ
giác tri: Có được con mắt chọn pháp, ắt phải có tâm
hoan hỷ gắng công tinh tấn tu hành. Chẳng phải ba hồi tinh
tấn, ba hồi lại bực bội với chính mình; không nên suốt
ngày phiền não, chau mày nhăn nhó, điều cần thiết là không
lười biếng, biết hoan hỷ và tinh tấn dụng công.
4. Trừ
giác tri: Tuy nhiên tâm hoan hỷ vẫn chưa phải là cứu cánh,
phải trở lại sự bình lặng trong tâm, gạt bỏ phiền não
vô minh, diệt trừ các tập khí xấu. Diệt trừ xong thì tự
cảm thấy nguồn pháp hỷ sung mãn.
5. Xả
giác tri: Khi tâm đã trở về bình lặng, ta lại cần phải
xả sự bình lặng đó, nghĩa là không chấp vào một thứ
gì hết. Phải "quét sạch mọi pháp, lìa hết mọi tướng,"
đạt tới cảnh giới trong thì không cảm thấy thân tâm, ngoài
thì không thế giới.
6. Chánh
định giác tri: Thực hiện được pháp xả xong thì mới
có định lực. Có chánh định rồi mới có chánh thọ. Chánh
định ở đây không phải là loại định hồ đồ, không phải
là vào định vô tâm, hay là định của trời vô tưởng, cái
đó không phải là rốt ráo.
7. Chánh
niệm giác tri: Vào được chánh định, tâm sẽ có chánh
niệm, nghĩa là niệm chánh xác. Khi có chánh niệm thì sẽ
không còn bị đọa lạc, sớm tối không còn khởi lên vọng
niệm, và lúc đó mới chứng được tam bất thoái: niệm bất
thoái, vị bất thoái, hành bất thoái.
Nói tới
định kẻ tu hành liền biết đó là thiền định, hay "thiền-na,"
một danh từ Phạn (dhyana) có nghĩa là "tĩnh lự," tức là
dừng lại mọi vọng tưởng, và còn gọi là "tư duy tu." Tư
duy hay là "tham," như tham thoại đầu, tham câu "niệm Phật
là ai?" hoặc tham "bổn lai diện mục từ lúc cha mẹ chưa sanh."
Nay, tôi xin
giảng về cảnh giới của tứ thiền.
1. Sơ thiền,
Ly sanh hỷ lạc: Hơi thở ngưng lại. Bên ngoài không thấy
có hô hấp, nhưng bên trong hô hấp còn hoạt động, đây là
cảnh giới không thể nghĩ bàn, chỉ người tu mới có, mới
biết, người ngoài không hiểu nổi. Loại thiền này lìa sự
hỷ lạc của thế gian nhưng lại được pháp hỷ sung mãn,
sống nhờ thiền duyệt (vui thiền) và cũng đạt được chút
ít cảnh giới minh tâm kiến tánh.
2. Nhị
thiền, định sanh hỷ lạc: Lạc ở đây về mức độ
thì cao hơn trong cảnh sơ thiền, thiền giả luôn luôn ở trong
cảnh hoan hỷ và sự hoan hỷ đó là từ ở định sanh ra.
Tu đến mức này thì ở trong người kinh mạch hết khua động.
3. Tam thiền,
Ly hỷ diệu lạc: Niệm trụ lại, chấm dứt niệm hoan
hỷ, bởi còn hoan hỷ tức còn chấp trước. Nay thì đem cả
niệm hoan hỷ trừ bỏ đi luôn.
4. Tứ
thiền, Xả niệm thanh tịnh: Xả toàn bộ các niệm, không
niệm gì nữa. Lúc đó trong tâm không còn gì ngăn ngại, nhưng
cũng chưa phải là đã ra ngoài tam giới. Ðây là một kết
quả tiến bộ của công tu định, chưa phải là một cảnh
giới cao, để đến độ không cần tu nữa, cho là mình đã
khai ngộ mà khởi tâm kiêu mạn. Tới chỗ này rất cần có
người khác chứng minh cho mình, tự mình không thể ấn chứng
cho mình được. Người tu đạo phải như thế, không thể
có lòng cống cao ngã mạn, nói lời hư dối, nếu không sẽ
bị đọa địa ngục. Phàm kẻ học Phật không thể tạo cái
nghiệp vừa thiện vừa bất thiện một cách hỗn tạp như
vậy, chẳng thể mang cái ý niệm vị kỷ như vậy.
Như nếu
có ai tự xưng là thiện tri thức, chúng ta hãy lấy sáu tiêu
chuẩn sau đây để phán xét xem họ có thực là thiện tri
thức hay không:
1.
Quán sát người đó có lòng tham không, có tham danh, lợi, tiền
tài, hay sắc dục không?
2. Thiện
tri thức vốn không cùng người tranh cãi, vậy xem người đó
có tâm tranh đua không?
3. Xem họ
có tham cầu không? Nói năng có chân thật không?
4. Xem họ
có ích kỷ không?
5. Xem họ
có phải tự lợi không?
6. Xem họ
có nói dối hay không?
Nếu xét các
tiêu chuẩn trên đều có đầy đủ thì người đó chẳng
phải là thiện tri thức mà là ác tri thức, hoặc giả là
thiên ma, ngoại đạo. Ngược lại nếu xét các điều trên
đều không có thì người đó thực là chẳng tham, chẳng tranh,
chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng tự lợi, chẳng nói dối,
ta có thể tin rằng người đó đúng là thiện tri thức và
ta yên tâm theo học mà chẳng ngại đi vào đường tà.
Buổi tối
ngày 11 tháng 12 năm 1981
Tại
Nước Mỹ, Phật-Pháp Mới Ở Bước Ðầu
Tại Mỹ,
Phật giáo rất mới mẻ. Tuy nhiên, Phật giáo tại Mỹ vốn
chẳng phải riêng của nước Mỹ mà là chung của thế giới.
Phật giáo chân chánh không hề hạn định thuộc quốc tịch
nào, thuộc địa phương nào, vấn đề ta và người chẳng
có sự phân biệt.
Tại Á-châu,
một số người thừa nhận nay là thời đại mạt pháp, nhưng
pháp vốn chẳng phân ra chánh pháp hay mạt pháp, chỉ có điều
khi người ta chẳng chịu tu thì đó đúng là thời mạt pháp.
Có câu nói: "Người truyền bá pháp, không phải pháp truyền
bá người." Ðừng hỏi lôi thôi, gắng mà tu hành, thì tự
nhiên chánh pháp sẽ ở mãi với thế gian. Người không tu
hành, thì pháp phải mạt. Tôi ở Hương Cảng trên mười năm,
có rất nhiều thanh thiếu niên theo tôi học Phật pháp, lý
do là tôi vốn ưa giới trẻ. Về sau, cơ duyên chín mùi, tôi
qua đất Mỹ. Từ năm 1961 đến năm 1968, tôi ở trong "mộ
địa," nên mới lấy hiệu là "Mộ trung tăng," một tăng sĩ
ở trong mộ, ngụ ý rằng tôi chẳng tranh đua với ai. Bảo
tôi đúng, tôi không cãi, bảo tôi sai, tôi cũng chẳng cãi.
Mới đầu tôi ở một căn hầm, rất là ẩm thấp, sau mới
dọn đến một chỗ tương đối khá hơn, trải qua mấy năm
chẳng thành tựu được gì. Tới năm 1968, có mấy vị sinh
viên ở Seattle đến tham gia trại hè, tôi giảng cho đại chúng
kinh Lăng-nghiêm, rồi dạy họ thiền tập, công phu khuya, chiều.
Hồi đó cái gì họ cũng không hiểu, thành ra một mình tôi
phải lo đủ, nào giảng kinh, thuyết pháp, đốt lò, lo nước,
rửa chén, nấu ăn, tất cả do một mình tôi lo liệu. Tôi
giảng xong bộ kinh Lăng-nghiêm thì số sinh viên này bèn bỏ
Seattle, dọn đến San Francisco cư ngụ. Năm 1969, có năm vị
xuất gia đi Ðài Loan thọ giới, và kể từ đó người xuất
gia mới thực sự có ở đất Mỹ. Sau đó, tôi giảng kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, rồi kinh Pháp Bảo Ðàn của Lục Tổ,
kinh Ðại Phương Quảng Hoa Nghiêm, riêng kinh Hoa Nghiêm giảng
trong chín năm rưỡi, bao nhiêu năm giảng kinh như vậy không
có ngày nào nghỉ. Mấy lần tôi có trở về Hương Cảng,
nhưng ít khi gặp gỡ dân Hương Cảng. Lần đó tôi mang theo
mười người về Hương Cảng. Tôi nhận thấy dân Hương Cảng
có duyên sâu đậm với Phật pháp, cho nên tôi muốn đem hết
cái nghĩa chân chánh của Phật pháp ra để thuyết giảng.
Vạn Phật Thành có mở đại học, trung học và tiểu học.
Như có đồng bào nào ở Hương Cảng muốn qua đây học, tôi
xin hết lòng hoan nghênh.
Trước đây
khá lâu, cư sĩ Tạ Quân Nhu ở Hương Cảng qua Mỹ kiếm Pháp-sư
Ðộ Luân. Khi còn ở tại Hương Cảng, pháp hiệu của tôi
là Ðộ Luân, tới khi qua đây tôi đổi thành Tuyên Hóa, nhưng
ông ta không nhận ra tôi. Khi thấy tôi ở giảng đường, ông
hỏi: "Pháp sư Ðộ Luân nay ở đâu?" Tôi đáp: "Ðộ Luân
tịch rồi." Nghe nói vậy, coi bộ ông ta rất lấy làm thương
cảm. Ông lại hỏi: "Người đã qua đời bao lâu rồi?" Tôi
nói: "Ông ấy qua đời đã lâu." Hỏi: "Vậy pháp sư đối
với ông ấy thì như thế nào?" Tôi nói: "Có thể nói rằng
tôi là đồ đệ của ông ấy, mà cũng là sư phụ của ông
ấy nữa, bởi tôi dạy cho ông tiếng Anh nên tôi là sư phụ,
còn ông ấy dạy cho tôi tiếng Trung Hoa nên tôi là đồ đệ."
Ngày hôm qua ông cư sĩ này lại đến thăm tôi nữa, tôi chợt
nhớ lại câu chuyện khá hứng thú này.
Chúng ta là
người học Phật pháp, quyết phải có con mắt chọn pháp
để nhận Phật pháp cho đúng. Phải có được cái biết sáng
tỏ, chớ không lờ mờ trong cảnh tu mù mà uổng phí mất
thời gian. Học Phật pháp phải có hướng đi lên, làm hay
hơn, chớ không thể khi thì học Phật, khi thì tạo nghiệp,
rồi đi xuống. Nhắm hướng đi lên tức là học Phật pháp.
Chúng ta nhất định phải nhận thức rõ điều thật giả,
không phụ họa nói theo người khác, rồi người ta nói sao
mình cũng nói như vậy. Có thế chúng ta mới đúng là người
tin Phật một cách chân chánh.
Buổi
tối ngày 12 tháng 12 năm 1981
Cảm
ứng của Phật Pháp
Ði tới chỗ
nào tôi cũng muốn dìu dắt kẻ hậu tiến, bởi vì trong giới
trẻ có cả một bầu nhiệt huyết mà ta cần phải hâm nóng
để cổ võ. Số là giới thanh niên thường có đầu óc mới
mẻ, thiên khoa học, chớ không cổ hủ như đầu óc chúng
ta. Hôm qua, rất nhiều người có những ý nghĩ sai lầm như:
"Chúng ta đến đây là để nghe lão pháp sư giảng kinh, hóa
ra toàn là gặp mấy vị pháp sư ít tuổi chiếm hết cả thời
gian, thật là uổng phí." Nghĩ như vậy là không đúng, các
vị pháp sư trẻ tuổi họ nói pháp không giống nhau, thì mọi
người mới được hưởng những pháp vị khác nhau, hiện
nay thỉnh các vị này khai thị, xin tất cả chú tâm nghe giảng.
Ở Vạn Phật
Thành này, loại người nào cũng có. Người thiện có, người
ác có, tốt xấu đều có cả. Tuy nhiên đến đây rồi thì
rồng hay cọp cũng vậy, rồng chẳng phải cứ tùy tiện làm
mưa, hổ chẳng phải luôn luôn gây gió bão.
Ngày 19 tháng
6 năm 1968 ở San Francisco có xảy ra vụ án đổ máu Kim Long.
Về sau băng đảng Hoa Thanh lại muốn gây thêm vụ đổ máu
thứ hai thậm chí tới vụ thứ ba nữa, nguyên nhân gây ra
từ sự tranh đoạt địa bàn hoạt động của hai băng đảng
Hoa Thanh và Tổ Phương, nhưng sau họ đều xin quy y Tam Bảo,
quy y tại Vạn Phật Thành, rồi họ mang hết cả vũ khí đổ
xuống biển. Từ đó họ cải tà quy chánh, nào đọc kinh,
nào làm công quả, không dám làm điều càn bậy nữa,
Hồi đó
có tám người xin quy y, và lúc bấy giờ chẳng ai biết lai
lịch họ ra sao. Trong khi quy y, tôi nói với họ: "Người nào
quy y với tôi, sẽ không được sát sanh, không được lấy
trộm, không được đốt nhà, không được nói dối." Cả
tám người nghe nói như vậy, đều đổ mồ hôi lạnh, trong
số đó còn có người mang theo một khẩu súng lục. Tôi lại
hỏi: "Trong số các ông đây ai là thủ lãnh? Hãy giơ tay lên!"
Người đứng đầu trong số này tức thời giơ tay lên tự
nhìn nhận.
Về các sự
tình này, tôi chẳng nói cho người ngoài biết. Bởi vì nếu
tôi loan tin này ra bên ngoài thì có khác gì tôi mời bà con
ở San Francisco tới để họ cảm ơn tôi. Tôi không cần ai
mang ơn tôi, tâm nguyện của tôi chỉ là đi đến đâu tôi
mong nơi đó được an ổn, thịnh vượng, đồng thời tôi
nguyện dùng sự cảm hóa đối xử, chớ không dùng thế lực
để ức chế ai.
Kế sau vụ
đổ máu Kim Long, phố Tàu ở San Francisco có một thời gian
trở thành một thành phố chết, nay thì thịnh vượng đã
được khôi phục lại như xưa.
Ngày
13 tháng 12 năm 1981
Bốn
Ðiều Ngài A-Nan Hỏi Phật
Tứ niệm
xứ (hay bốn lãnh vực quán niệm) nằm trong số ba mươi bảy
phẩm trợ đạo, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp. Khi Phật sắp
nhập Niết-bàn, Ngài A-nan đưa ra bốn điều này hỏi Phật:
1. Ðối với
tất cả kinh điển, nên dùng những chữ gì để mở đầu
kinh?
2. Khi Phật
ở tại thế, Phật là thầy của chúng con, khi Phật nhập
Niết-bàn rồi chúng con tôn ai là thầy?
3. Khi Phật
ở tại thế, chúng con ở cùng với Phật, khi Phật nhập Niết-bàn
rồi chúng con nên ở với ai?
4. Khi Phật
ở tại thế, các Tỳ-kheo xấu do Phật điều phục họ, khi
Phật nhập Niết-bàn rồi, chúng con làm cách nào điều phục
họ?
Số là khi
Phật sửa soạn nhập Niết-bàn, tuy đã chứng được sơ quả
A-la-hán, nhưng Tôn giả A-nan vẫn còn khóc lóc giống như một
đứa trẻ, vật vã tay chân. Tôn-giả A-nâu-lâu-đà mới khuyên
rằng: "Ông đừng khóc nữa, khóc cũng vô ích, ông phải mang
bốn điều ra thỉnh Phật." A-nan hỏi: "Bốn điều gì?" Tôn-giả
A-nâu-lâu-đà mới cho biết bốn điều vừa kể trên. Thấy
lời nói đúng, ông A-nan liền đến chỗ Phật thỉnh thị.
"Bạch Thế-tôn! Thế-tôn thuyết pháp bốn mươi chín năm,
giảng hơn ba trăm pháp hội, nhưng đến khi kết tập kinh điển,
chúng con phải lấy chữ gì để mở đầu kinh?" Bởi vì điển
tịch của ngoại đạo cũng có, họ bắt đầu bằng chử "A"
(không) hay "Ưu" (có). Phật đáp: "Ðối với những kinh điển
nào mà ta nói ra, thì lấy mấy chữ 'Tôi nghe như vầy' để
bắt đầu." Thời nay tôi thấy rất nhiều kẻ ngoại đạo
và học giả cứ tùy tiện lấy mấy chữ "Tôi nghe như vầy"
để bắt đầu bản văn của họ, có lúc chỗ nào cũng thấy
mấy chữ nầy. Thậm chí có những kẻ không hiểu biết gì
bảo kinh Lăng-nghiêm là giả. Thực ra, muốn cho Phật pháp
hưng thịnh, trước hết phải học Lăng-nghiêm. Lăng-nghiêm
là phá tà hiển chánh, bởi không còn gì là chân chánh hơn
kinh Lăng Nghiêm. Bởi vậy cho nên các hàng yêu ma quỷ quái,
bàng môn tả đạo mới tìm hết cách chống kinh Lăng-nghiêm.
Kinh này mà không còn ở trên thế giới thì Phật pháp phải
tiêu ma. Nếu trên thế gian không có ai biết trì tụng chú
Lăng-nghiêm thì yêu ma quỷ quái sẽ xuất hiện hãm hại nhân
loại, khiến mọi người đều biến thành quỷ quái yêu ma
và cùng một quyến thuộc với chúng. Ðây là một vấn đề
rất mực quan trọng. Nếu như biết thọ trì chú Lăng-nghiêm
thì tối thiểu trong bẩy đời có thể thành hạng đại phú,
tỷ dụ như ông vua dầu hỏa kia, hay ông vua xe hơi, có thể
kiếp trước đã từng trì tụng chú Lăng-nghiêm cho nên bây
giờ mới được vinh hoa phú quý như thế. Có điều họ vẫn
ở trong mê, chỉ hưởng thụ mà không biết tu đạo. Số là
ở những kiếp trước họ tạo nhân hỗn tạp cả thiện và
ác, nghiệp lành đã chín, họ được hưởng giầu có, nhân
ác thành thục bèn có nghiệp tội. Nghiệp mà không rõ ràng,
sẽ đi lạc lối, cho nên mỗi người chúng ta quyết không
thể coi nhẹ kinh và chú Lăng-nghiêm.
Phật nhập
Niết-bàn thì chúng ta phải lấy Ba-la-đề-mộc-xoa (Pratimoksha)
- tức là giới - để làm thầy chúng ta. Giới là "dừng cái
ác, phòng cái quấy," là "mọi điều ác chẳng làm, các điều
thiện phụng hành." Chúng ta phải phục vụ lợi ích cho nhân
loại, cống hiến cái của chúng ta cho xã hội, do đó người
xuất gia đừng có chờ đợi người khác cúng dường mình.
Tại nước Mỹ, người xuất gia nên đắp y, vì đắp y là
biểu thị tinh thần giữ giới, biểu trưng hiện tướng Tỳ-kheo,
chớ chẳng phải là cố tâm lập dị. Thế giới ngày nay,
người ta lấy giả làm thiệt, lấy thiệt làm giả, cho phải
là trái, cho trái là phải. Nay tôi xin kể một câu chuyện
thật làm tỷ dụ: Vào thời gian Trung Hoa Ðại Lục hỗn loạn,
có rất nhiều sinh viên bỏ chạy qua Ðài Loan. Trong lúc tình
thế cấp bách, phần đông quên không mang theo các bằng cấp
tốt nghiệp, số mang theo được giấy tờ thì chỉ có mấy
người. Lòng họ hãy còn trẻ trung, nên họ cho người khác
mượn bằng để mạo theo làm một số bằng giả. Trông mấy
cái bằng mới sạch sẽ tinh tường, quý vị khảo thí thông
qua dễ dàng, nhưng kết quả là mấy người có bằng thiệt
không được chấp nhận bởi vì các bằng cũ thì giấy xấu,
rách nát. Thì ra họ nhận cái thật làm cái giả.
Hồi Phật
giáo mới từ Ấn độ truyền qua Trung Hoa, các vị Tỳ-kheo
Trung Quốc cũng đắp y, với đầy đủ oai nghi. Áo cà-sa thời
đó cũng giống như loại cà-sa của các tăng thuộc hệ Nam-tông
hiện nay, tức không có vòng móc. Tuy nhiên, vì khí hậu Trung-quốc
lạnh lẽo, bên trong áo cà-sa người ta còn phải mặc thêm
áo khác nữa, cho nên nhiều khi áo ngoài bị tuột mất mà
không cảm thấy. Hồi đó, tu sĩ rất thành kính, có người
trì giới không giữ tiền bạc, vậy mất cà-sa rồi thì lấy
gì để thay thế? Trước tình trạng này, mọi người họp
lại để đưa vấn đề ra giải quyết. Một vị đề nghị
dùng cái vòng móc để giữ áo cà-sa thì cà-sa không bị tuột
ra nữa. Ðề nghị này đưa ra được mọi người tức khắc
vỗ tay tán thưởng và sau đó thông qua, từ đó áo cà-sa của
các tăng Trung quốc mới có vòng móc. Về sau các Tỳ-kheo Trung-hoa
thường hay ra ruộng trồng trọt, đắp y đi lại thật là
phiền phức nên bình thường thì không đắp y, trừ lúc thượng
đường hay quá đường mới đắp. Sau này mọi thứ đều
qua loa, thậm chí lên điện hay quá đường, cũng không đắp
y nữa. Người ta nói "quen rồi thì thành lệ," bây giờ người
ta coi không đắp y là bình thường, còn đắp y mới là kỳ
quặc.
Các tăng
sĩ thuộc Tổng-hội Phật-giáo Pháp-giới vẫn theo tác phong
cũ nên họ đắp y một cách thường xuyên như lúc xưa. Các
Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni chỉ trích chúng ta lập dị. Chúng tôi
không tranh biện với ai, quý vị bảo chúng tôi đúng, chúng
tôi vẫn đắp y mà bảo chúng tôi không đúng chúng tôi cũng
vẫn đắp y.
Ông A-nan
hỏi Phật câu: "Khi Phật ở tại thế, chúng con ở cùng với
Phật, khi Phật nhập Niết-bàn rồi chúng con phải ở với
ai?" Phật đáp: "Sau khi ta nhập diệt rồi, tất cả đệ tử
của ta phải trú tại tứ niệm xứ." Tứ niệm xứ là bốn
nơi: thân, thọ, tâm, pháp.
1. Quán
thân bất tịnh. Thân thể con người nếu để lâu chẳng
chịu tắm rửa, tất toát ra mùi hôi hám. Cho dù tắm rửa,
nhưng thân có chín lỗ, chuyên bài tiết những thứ chẳng
sạch, như mắt có ghèn, mũi có nước mũi, miệng có đờm
rãi, tai có dáy tai, rồi các thứ thuộc tiểu tiện và đại
tiện, nghĩa là thân thể chúng ta quả là vô cùng ô uế. Vậy
mà sao người ta lại coi như là một thứ quý giá, cho đeo
vào thân nào ngọc, nào vàng bạc, các thứ châu báu, hoặc
lấy nước hoa, phấn thơm bôi vào, há có khác gì đem hương
hoa, vật quý để trang hoàng cho cái nhà xí vậy! Quý vị nên
hiểu rằng, thân thể của mỗi người chúng ta là một cái
nhà xí, trong ruột toàn chứa những vật bài tiết thuộc về
đại tiểu tiện, có cái gì mà chúng ta phải luyến tiếc
nó quá đáng như vậy? Lúc tuổi trẻ thì cơ thể cùng các
bộ phận trong thân còn biết nghe lời ta, đến lúc già chúng
đều bãi công, đầu thì váng, mắt thì hoa, miệng lưỡi khó
khăn, tay chân lập cập, rồi trăm thứ bệnh phát sinh, như
vậy cái thân này còn đáng tiếc nữa sao? Bởi vậy chúng
ta nên nhận cho thật rõ cái thân này là bất tịnh, là chẳng
trường cửu, để đừng có điên đảo vì nó.
2. Quán
thọ là khổ. Thọ nghĩa là cảm thọ. Ðừng nên cho rằng
hưởng thọ là một sự khoái lạc, kỳ thực hưởng thọ
chẳng có gì là hay, "thọ khổ thì hết khổ, hưởng phước
thì tiêu hết phước," thà thọ cái khổ, đủ khổ rồi thì
hết khổ. Nếu quả mình đương hưởng phước, thì nên tiếc
cái phước mà chớ hưởng tận phước.
3. Quán
tâm vô thường. Tâm là niệm niệm vô thường, niệm niệm
dời đổi.
4. Quán
pháp vô ngã. Quán mọi pháp đều không có bản thể, không
có tự tánh, không có cái "ngã" trong đó.
Chúng ta y
theo tứ niệm xứ mà hành trì, ắt cái chấp ngã của chúng
ta sẽ dần dần bị phá, chấp pháp cũng không và dễ đi tới
sự khai ngộ. Tại sao chúng ta không thể chứng ngộ? Chẳng
qua là vì còn chấp trước, chưa buông bỏ, thấy cái gì cũng
có cái ta ở đấy, cái nhà lớn này là của ta, cái máy bay
kia, thuyền máy kia, ngân hàng kia cũng là của ta, từ sớm
đến tối cái gì cũng của ta, của ta, của ta . . . đến lúc
chết, hai tay buông xuôi, chẳng có gì mang theo được.
Nhân
sanh nhất trường mộng
Nhân tử
mộng nhất trường
Mộng lý
thân vinh quý
Mộng tỉnh
tại cùng hương
Triêu triêu
tại tác mộng
Bất giác
mộng hoàng lương
Mộng trung
nhược bất tỉnh
Uổng tác
mộng nhất trường.
Dịch nghĩa
là:
Khi
sống, một giấc mộng
Khi chết,
mộng một giấc
Trong mộng
thấy vinh hiển
Tỉnh mộng
ở xóm nghèo
Sớm sớm
lại nằm mộng
Chẳng hay
mộng kê vàng
Trong mộng
không tỉnh giấc,
Uổng thay
giấc mộng vàng.
Bởi vậy chúng
ta cũng đừng chấp trước một cách thái quá, phải mau mà
tu hành, học tập Phật pháp, tìm kiếm pháp môn liễu sanh
thoát tử. Có câu nói "bể khổ không bờ, quay đầu là bến,"
do đó không nên chìm nổi mãi trong bể khổ, biết tới ngày
nào mới được giải thoát.
Cuối cùng
Ngài A-nan hỏi Phật: "Khi Phật ở tại thế, các Tỳ-kheo xấu
do Phật điều phục họ, khi Phật nhập Niết-bàn rồi, chúng
con phải đối xử với họ như thế nào? Có giam họ và xử
phạt họ chăng?" Phật đáp: "Không cần! Sau khi ta nhập Niết-bàn
rồi, đối với các Tỳ-kheo xấu, các ông dùng pháp 'mặc
tẫn' để hoán cải họ. Sao gọi là mặc? Mặc là im lặng,
không có giảng giải gì thêm với họ. Tẩn là gì ? Nghĩa
là mọi người không được trao đổi, quan hệ gì với họ.
Hãy dùng sự "im lặng" của đại chúng để giải hóa họ.
Phàm gặp phải hạng Tỳ-kheo xấu, không biết đạo lý, lấy
chánh làm tà lấy tà làm chánh, hoặc không phân biện thị
phi đen trắng, không hiểu đúng Phật pháp, thì đừng giao
tiếp, đừng nói chuyện với họ, đừng để ý tới họ,
thì nên coi như họ không có, như vậy lâu dần họ sẽ tự
phản tỉnh, họ sẽ nhận ra rằng những điều họ hành động
lâu nay chẳng đúng với Phật pháp, và từ đó cải tà quy
chánh, y giáo phụng hành.
Khi Phật
tại thế cũng có Tỳ-kheo bất thiện, nay thời đại chúng
ta đã cách xa với ngày Phật nhập Niết-bàn rồi, vậy chẳng
hiểu số Tỳ-kheo bất thiện có nhiều hay không. Chúng ta không
nên cùng với số đó tranh luận, bởi họ không nói chuyện
đạo lý chuyện nhân quả, lại còn bài xích nhân quả. Ta
không thể cùng họ tranh mà phải dùng tâm nhẫn nại đối
phó, và nhẫn nại thì cứ để mặc họ, vậy là thực hành
đúng như ý nghĩa lời phó chúc thứ tư của Phật cho chúng
đệ tử.
Trước đây,
tôi cư ngụ tại Hương Cảng 12 năm (1948-1962), tới năm 1962
tôi mới đi Mỹ. Ở Hương Cảng khá lâu như vậy, nhưng tôi
chẳng làm được điều gì hữu ích. Nay từ bên Mỹ trở
về, tôi nguyện kết chút pháp duyên với các vị phụ lão
cùng các huynh đệ đồng bào tại Hương Cảng, do đó tôi
muốn thực sự cống hiến Phật pháp tới tận tâm khảm các
vị, có vậy tôi mới an lòng. Hơn nữa giới thanh niên trong
thời đại này, sống nay không biết mai, tinh thần rất khẩn
trương, bởi vậy họ phải lo sao cho chân đứng vững vàng,
chớ không phải cứ khôn lanh, tham cái tiện nghi nhỏ, khoái
lạc nhất thời mà phóng tâm buông thả. Ở chỗ nào chúng
ta cũng nên an phận và khép mình trong quy củ, không được
buông lung. Phải hiểu rõ nhân quả, không sai lầm nhân quả,
như người xưa đã nói: "gieo nhân lành gặp quả lành, gieo
nhân ác gặp quả ác," "giết cha của người thì người giết
cha mình, giết anh của người thì người giết anh mình," và
"trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu." Nghe qua
thì là đơn giản nhưng nhân quả là như vậy. Tôi hy vọng
thanh niên chúng ta nên ráng đi học, trong tương lai sẽ mưu
cầu hạnh phúc và an ninh cho xã hội chớ không nghe theo một
số điên cuồng, đầu óc hồ đồ, sống phiêu lưu không chủ
định. Phải trở thành một cá nhân tốt, nếu có một người
tốt thế giới lại thêm được một phần thanh tịnh. Bởi
đâu mà thế giới này vẫn chưa bị hủy diệt? Vì còn có
người tốt. Người tốt chính là ánh sáng, là chánh khí,
là sanh mạng, là nguồn năng lượng của thế giới. Bởi lý
do thế giới hiện nay đương ở vào một vị thế tối nguy
hiểm, nếu chúng ta không cải biến được cái tác phong điên
cuồng của chúng ta, thế giới càng ngày càng hư hoại, tư
tưởng nhân loại mỗi ngày một thiên lệch. Tôi mong mỏi
rằng tất cả thanh niên chúng ta có thể kiếm ra được kim
chỉ nam của đời mình chớ không hùa theo trào lưu mà phiêu
bạt để làm kẻ tội nhân của xã hội.
Trong thời
gian sáu ngày thuyết pháp, nếu tôi có nói điều gì không
đúng, hy vọng quý vị lượng tình cho. Tôi cũng hy vọng chư
vị trưởng lão ở Hương Cảng, các đại đức cao tăng chỉ
giáo cho. Nếu điều tôi nói là đúng, quý vị thử nghiệm
coi, nếu cho rằng tôi nói sai, quý vị cứ coi như không nghe
gì hết, bởi vì tôi là kẻ bất học vô thuật, những điều
nói ra đã từng đắc tội với người không ít, xin lượng
thứ cho. Tôi cũng mong vị cư sĩ mời tôi đến thuyết pháp,
được kiện khang, gặp mọi sự cát tường, vạn sự như
ý, bồ-đề tăng trưởng, sớm thành Phật đạo. Số là tôi
vốn nguyện rằng: "Những ai đến tham gia pháp hội, gia đình
sẽ được an lạc, họ hàng hòa mục, mọi sự hanh thông.
Người vô bệnh thì vĩnh viễn sẽ không bệnh, người có
bệnh nghe pháp xong thì bệnh sẽ tiêu trừ." Tôi hy vọng chư
Phật và chư Bồ-tát hoàn thành nguyện lực. Tôi cũng hy vọng
tất cả mọi người được mạnh khỏe, sớm thành Phật đạo.
Năm 1968,
tôi ở San Francisco. Lúc đó có một số các nhà khoa học,
địa chất học, các chuyên viên nghiên cứu về tương lai
v.v... họ đều tiên đoán rằng đến ngày 4 tháng 4 năm 1968
sẽ xảy ra một trận động đất lớn tại San Francisco, đất
sẽ chìm xuống biển, "ruộng dâu biến thành biển xanh," các
cư dân tại đây sẽ có dịp về chầu Long vương dưới biển.
Ðã có rất đông bà con dọn đi đến các tiểu bang khác.
Một số đệ tử của tôi đến hỏi tôi phải làm cách nào?
Hồi đó tôi nói với họ rằng: "Chỉ cần tôi ở San Francisco
một ngày, tôi cũng không chịu để nơi đây xảy ra động
đất." Bởi vậy từ 1968 đến nay, chưa thấy có trận động
đất nào. Bảo rằng có, nhưng chỉ là động đất nho nhỏ
mà thôi. Có điều tôi đã rời khỏi San Francisco, nên tôi
chẳng quản tới nữa, bởi lời nguyện của tôi là "tôi đến
địa phương nào, nhất định nơi đó được bình an vô sự."
Có một lần,
tôi đến Nữu-ước. Gặp đúng lúc mưa tuyết lớn, mà bắt
buộc chúng tôi phải đi đến chùa Ðại Thừa. Tôi bèn nói
với một người đệ tử như sau: 'Trên đường đi tôi không
cho phép tuyết rơi, nếu như có chuyện tuyết rơi, tôi phải
phạt anh quỳ trước Phật bốn mươi chín ngày, không cho ăn,
không cho uống, không cho cả đại tiểu tiện," làm cho vị
đệ tử này hết sức hãi sợ. Quả nhiên, trên khoảng đường
lộ chúng tôi đi qua, chu vi cỡ ba dặm không có tuyết rơi,
còn ngoài ba đặm đó tuyết vẫn rơi đều.
Riêng tôi,
đức không đủ để cảm phục người, đạo không đủ để
giáo hóa người, chẳng có tư cách làm sư phụ của các vị.
Nhưng nay quý vị đã quy y Tam Bảo, nhất định là phải phát
nguyện thành Phật. "Phàm ai đã quy y với tôi, nếu chẳng
thành Phật thì tôi cũng chẳng thành Phật," đó là lời nguyện
của tôi. Quý vị là đệ tử của Tam Bảo, thì ai đánh ta
ta phải nhẫn, ai mắng ta ta cũng nhẫn, sư phụ của quý vị
thì chẳng dám làm gì ngoài việc cúi đầu, đâu đâu cũng
chịu lép vế, chớ không chiếm tiện nghi đối với người
khác. Cho nên, đã là tín đồ Phật giáo, quý vị chớ có
gây sự phiền phức, để cho lụy dến sư phụ quý vị không
thành Phật được.
Hằng
Lai Pháp-sư
Phật giáo
tại Mỹ mới bắt đầu hưng khởi, nên tại Vạn Phật Thành
mỗi người trong chúng ta phải nghĩ tới trách nhiệm làm cho
Phật pháp hưng thịnh. Tôi thì chuyên phụ trách về vật liệu
xây cất. Có một hôm tôi lái chiếc xe chở hàng cũ đi hơn
160 dặm để mua dầu. Trên đường về, các thùng dầu chất
đầy trên xe, tính ra hơn 150 gallons (600 lít). Chở dầu thì
rất kỵ lửa, đụng lửa thì thiêu rụi hết, con đường
núi mà tôi chạy xe lại rất nhỏ hẹp, gập ghềnh khó đi.
Rủi lúc đó bình điện của chiếc xe hàng cũ kỹ đột nhiên
bắt lửa, lửa bắn tứ tung lên trên các thùng dầu, tiếng
nổ như lựu đạn truyền tới tai tôi. Tôi quay ra sau nhìn,
thì rõ là nguy hiểm vô cùng, nếu vô tình chạm mạnh thì
nổ tung cả người và xe. Tôi vội vàng cho xe ngừng lại bên
lề đường. Trong lúc đương nguy cấp, có một vị làm quản
lý công viên thấy vậy tức khắc đem cho tôi một bình chữa
lửa, dập được ngay chỗ cháy cho nên không dẫn tới sự
kinh hoàng. Sự tình xảy ra, từ đầu đến cuối, không quá
30 giây. Tôi cảm thấy đúng là Phật và Bồ-tát đã gia hộ
tránh cho tôi qua được tai nạn hiểm nghèo. Những sự tích
kỳ diệu này ghi lại rất nhiều tại Vạn Phật Thành, thật
là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn!
Mỗ
pháp-sư
Hôm nay chúng
tôi tới Hương Cảng mua sắm các thứ. Xe buýt mà chúng tôi
đi nhờ suýt nữa bị nạn đụng xe. Tại Vạn Phật Thành
có rất nhiều người bị tai nạn xe hơi, nhưng tất cả đều
may mắn, rủi hóa may. Cư sĩ Quả Châu (David Rounds) có một
lần bị đụng xe, xe nát mà người an toàn, nguyên nhân là
ông ta niệm chú Lăng Nghiêm.
Lại có một
lần cư sĩ Quả Tôn lái xe ở ngoại thành đụng phải một
con nai, lúc đó ông ấy cho rằng con nai chắc chắn phải chết,
và xe thì hư hại. Có dè đâu con nai ở dưới xe, liền đứng
dậy và bỏ chạy còn xe thì vẫn chạy tốt. Nguyên nhân là
đương lúc đó ông niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài là vị
cứu khổ cứu nạn. Tại Vạn Phật Thành, chúng ta chuyên thờ
phụng Quán Thế Âm Bồ Tát, tu pháp môn Ðại bi, và Vạn Phật
Thành cũng là đại bản doanh của Ngài nữa. Tuy nhiên, không
phải Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ cứu độ riêng cho một địa
phương nào, mà trong khắp hư không pháp giới Quán Thế Âm
Bồ Tát đều nghe tiếng kêu mà đến cứu độ.
Ngày
14 tháng 12 năm 1981
