Thần
Chú Ðại Bi, Nhiệm Mầu Không Thể Nghĩ Bàn
Hôm nay bắt
đầu vào thất Ðại Bi. Buổi tối sau lễ sái tịnh sẽ tụng
Ðại Bi Thần Chú. Trong quá khứ, số chư Phật nói chú này
nhiều bằng chín mươi chín ức số cát sông Hằng và Ngài
Quán Thế Âm Bồ Tát vì thương hết thảy mọi loài chúng
sanh, nên phát tâm đại bi, cưỡi thuyền từ bi trở về cõi
Ta-bà để cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi cảnh khổ
ách. Có câu: "Bể khổ không bờ, quay đầu là bến," chỉ
cần chúng ta kiền thành trì tụng Ðại-bi Chú ắt sẽ thấy
ứng nghiệm, không thể nghĩ bàn.
Trước đây
trong vô lượng kiếp, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát được Thiên
Quang Vương Tĩnh Trú Như-lai diễn pháp Ðại-bi Thần Chú cho
nghe, lấy bàn tay sắc vàng xoa đầu, khiến Ngài, khi nghe xong
liền chứng được quả vị Bồ-tát bậc Bát-địa. Ngài liền
sanh tâm đại hoan hỷ rồi lập tức phát nguyện lớn như
sau: "Nếu tôi có thể làm lợi ích hết thảy chúng sanh, thì
xin cho tôi có ngay ngàn tay và ngàn mắt." Phát nguyện xong,
hốt nhiên trái đất chấn động, hào quang phát ra từ chư
Phật mười phương chiếu sáng thân Ngài, rồi ngàn tay và
ngàn mắt tức khắc trang nghiêm thân tướng của Ngài. Tay
thì có thể nâng đỡ, mắt thì có khả năng chiếu soi. Ngàn
tay và ngàn mắt tượng trưng cho vô số thần thông và trí
huệ.
Ý nghĩa của
đại bi: Căn cứ câu: "Bi năng bạt khổ," bất cứ ai gặp
phải mọi cảnh khổ nạn, nếu thành tâm tụng Chú Ðại-bi
đều có thể được bình an, chuyển hung thành cát. Ngài Quán
Thế Âm bạch Phật rằng: "Nếu như chúng sanh trì tụng Ðại-bi
Chú mà không được mãn nguyện, thì xin thề không thành chánh
giác, trừ phi nguyện ước của họ bất thiện hay không thành
tâm trì tụng."
Trì tụng
Ðại-bi Chú không những được tự tại, mà các điều cầu
mong còn được thành tựu; có thể tránh được khổ ách tai
nạn và được vui sướng an lạc; vượt qua mọi hiểm nghèo,
tới chỗ bình an vô sự. Làm sao có thể xa lìa khổ ách? Phải
tụng Ðại-bi Chú. Làm sao thoát khỏi hiểm nghèo? Phải trì
tụng Ðại-bi Chú. Chớ có coi Ðại-bi Chú là tầm thường
hay đơn giản. Tôi xin nói với quý vị rằng nếu quả trong
đời quá khứ và hiện tại quý vị không có căn duyên tốt
lành thì ngay đến cả cái tên của Chú Ðại-bi cũng chưa
được nghe, đừng nói tới việc trì tụng. Nay không những
quý vị được nghe biết tên của Chú lại còn được trì
tụng Chú với một lòng chí thành như vậy, thật là một
cơ hội trăm ngàn vạn kiếp mới có một lần, rồi lại được
thiện tri thức chỉ dẫn, cách thức đọc tụng, thọ trì,
tu trì nữa. Thật đáng cho quý vị coi trọng! Tóm lại, Ðại-bi
Chú có những lợi ích không thể nghĩ hết được.
Trong thời
gian bẩy ngày này, chúng ta nên thành tâm thành ý, rất mực
cung cung kính kính trì tụng Chú Ðại-bi, tụng cho tới độ
tâm không vọng tưởng. Lúc đó, lòng lắng trong, hoặc giả
có người thấy hào quang, có người thấy hoa xuất hiện,
có người được Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát rờ đầu, giúp
cho khai mở trí huệ. Hoặc giả có khi ngửi thấy mùi hương
lạ, cũng có người dù đã tha thiết chí thành trì tụng,
nhưng cũng chẳng thấy một hiện tượng gì khác lạ. Dầu
có hay không cũng chớ có nản lòng, cứ hết sức dốc một
lòng trì tụng. Khi nào thời khắc tới, sẽ nhất định chứng
kiến cảnh giới "cảm ứng đạo giao," xuất hiện ngay trước
mắt.
Bất luận
thấy cảnh giới nào, hay chẳng thấy gì hết, việc chánh
vẫn là tinh tấn trì tụng. Kẻ thấy điềm lành chẳng nên
chấp vào tướng lành đó. Kẻ không thấy điềm gì cũng đừng
sanh lòng tự ti mà tự bảo rằng: "A ! Vậy là ta chẳng có
thiện căn, sao ta chẳng thấy Bồ-tát?" Thiện căn có khi sớm
kết thành quả, có khi thì muộn. Nếu như có cảm giác thiện
căn của mình chưa đến lúc thành thục, thì ta phải tiếp
tục bồi đắp, làm thêm nhiều công đức nữa mới được.
Người ta nói: "Chưa trồng căn lành, phải trồng căn lành;
đã trồng căn lành, khiến nó tăng trưởng; đã tăng trưởng
rồi, khiến nó thành thục; đã thành thục rồi, khiến tới
giải thoát."
Quý vị lần
đầu tới Kim Sơn Thánh Tự, nghiên cứu Phật pháp, tu tập
Phật pháp, phải dốc lòng thành học tập, không ngại khổ,
không ngại khó. Ở đây trong vòng bảy ngày, nên dũng mãnh
tinh tấn, xa lìa vọng tưởng. Nếu lại vừa học tập, vừa
nghĩ ngợi lung tung, công phu không thể chuyên nhất được.
Tâm không chuyên nhất thì khó lòng sanh cảm ứng. Ðó là một
điều, quý vị phải đặc biệt chú ý!
Những lợi
ích của công phu trì tụng Ðại-bi Chú, nói ra không thể hết
được. Phàm ai đã trì tụng Ðại-bi Chú thì tuyệt đối
chẳng bị đọa vào ba đường ác. Nếu bị đọa vào các
đường ác đó thì Ngài Quán Thế Âm nguyện chẳng bao giờ
thành Phật. Phàm ai ngu si mà trì tụng Ðại-bi Chú, nếu chẳng
biến thành kẻ trí huệ, Ngài Quán Thế Âm cũng nguyện chẳng
thành Phật. Thần Chú Ðại-bi lại có thể trị tám vạn bốn
ngàn loại tật bệnh của thế gian. Ai bị bệnh nan y, cho đến
các y sĩ, Tây y hay Ðông y phải bó tay, nhưng nếu thành tâm
trì tụng Ðại-bi Chú cũng nhất định chẳng uống thuốc
mà được khỏi bệnh. Thần hiệu của Ðại-bi Chú thật không
thể nghĩ bàn!
Tại Kim Sơn
Thánh Tự có người đã từng được sự ứng nghiệm như
vậy. Chữa trị chứng ung thư chẳng phải là chuyện dễ dàng,
vậy mà trì tụng Ðại-bi Chú khiến cho bệnh tiêu tan. Thần
lực của Chú Ðại-bi thật mầu nhiệm không thể nghĩ bàn.
Chỉ cần xem công phu của quý vị trong bảy ngày ra sao, ai
thành tâm, người đó sẽ thấy ứng nghiệm, được lợi ích.
Ai có bệnh, bệnh sẽ lui. Ai không bệnh, thì trí huệ được
khai mở. Cầu chuyện gì được chuyện đó, cho nên Ðại-bi
Chú gọi là bất khả tư nghì quảng đại linh cảm, vô ngại
đại bi tâm đà-la-ni. Chữ đà-la-ni (Dharani) dịch nghĩa là
tổng trì, tổng nhất thiết pháp, trì vô lượng nghĩa, cũng
gọi là chú, hoặc gọi là chân ngôn. Tóm lại đó là những
chữ mật.
Mật chú
gồm có bốn ý nghĩa sau:
Trong bài
chú có tên vua các loài quỷ thần, nên phàm tiểu quỷ nghe
đến tên này thì không dám làm bậy và phải tôn trọng phép
tắc,
Chú được
coi như khẩu lệnh trong quân đội, nếu vi phạm ắt sẽ bị
trừng trị,
Chú có thể
âm thầm tiêu trừ nghiệp tội mà chính mình không hay biết,
Chú là ngôn
ngữ bí mật của chư Phật, chỉ có chư Phật mới hiểu được
mà thôi.
Quý vị lần
này tới tham dự pháp hội Ðại-bi, đều có sẵn căn lành
cả, đức hạnh đầy đủ lại được nhân duyên thành thục
nên mới tới Chùa Kim Sơn Tự. Hy vọng rằng một khi đã vào
tới "bảo sơn" rồi thì không đến nỗi tay không trở về,
tất phải được bảo vật để dùng cho mình. Bảo vật gì?
Chính là Chú Ðại-bi. Ðại-bi Chú có thể trị bệnh, có thể
hàng phục loài ma, có thể khai mở trí huệ, có thể mang lại
sự bình an, hay nói cách khác, cầu việc gì được việc ấy,
nhất định toại lòng xứng ý.
Kỳ pháp
hội Ðại-bi này còn đặc biệt hơn nữa là tại Trung-quốc
rất hiếm có khóa tụng Ðại-bi có tính cách kỷ lục, kéo
dài cả bẩy ngày luôn như vậy. Tại các nước khác người
ta có niệm Chú Ðại-bi trong bẩy ngày không, điều này tôi
không biết, nhưng tại Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là lần đầu
tiên. Mong tất cả quý vị hết sức chân thành trì tụng Ðại-bi
Chú, công đức vô lượng!
Ngày 9 tháng
4 năm 1976, tại Kim Sơn Thánh Tự
Nam
Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Ngày hôm
nay, quý vị tập họp tại đây, dự Quán Âm thất, để cùng
nhau niệm thánh hiệu: Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Ðây là
một dịp quý báu, hy hữu, chớ có uổng phí thời gian. Nếu
như có lòng coi thường thì sẽ chẳng ích lợi gì, như người
đã vào tới bảo sơn mà trở về tay không, rất là đáng
tiếc. Mong rằng quý vị buông bỏ hết mọi thứ để dũng
mãnh niệm với một lòng tinh tấn, nhất định quý vị sẽ
thấy cảm ứng, và có như vậy mới không cô phụ mục đích
tổ chức Quán Âm thất này.
Bình thường
khi vào thất Quán Âm, phần đông đều niệm Phật, niệm Bồ-tát,
sau đó nghỉ nửa giờ rồi mới tiếp tục công phu. Tại Hương-cảng
hay Ðài-loan, đại khái mọi người niệm theo cách thức đó.
Chúng ta ở Vạn Phật Thành này sẽ niệm một cách liên tục,
không ngưng nghỉ, luôn một mạch từ sáng sớm tới tối,
ở giữa không có thời gian nào nghỉ cả.
Quý vị nên
biết rằng, chẳng phải chúng ta không nghỉ ngơi mới đúng,
hay mọi người nghỉ ngơi là sai. Nói như vậy nghĩa là sao?
Bởi vì chúng ta từ trước tới nay chưa hề dụng công, cho
nên bây giờ phải hết sức tinh tấn, ráng hết sức để
mà tiến tới. Còn như người khác thì họ đã dụng công
từ lâu rồi, họ đã vào đạo, họ niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát hay không niệm cũng vậy thôi, họ đều không có vọng
tưởng, do đó họ nghỉ ngơi còn hơn chúng ta tinh tấn.
Giả sử
chúng ta lại sanh tâm ngã mạn nghĩ rằng: "A! Chúng ta ở Vạn
Phật Thành tu hành rất là dũng mãnh và tinh tấn, còn người
ta thì giải đãi, lười biếng." Nếu có ý nghĩ đó thì tất
cả công đức của chúng ta đều bị tiêu ma. Ðó chính là
tâm tự mãn, tâm kiêu ngạo. Chúng ta nên hiểu rằng họ đã
dụng công tu hành từ vô lượng kiếp, nay họ nghỉ ngơi chính
là chờ đợi số người của chúng ta đương lẽo đẽo theo
sau. Nghĩ được như thế thì đúng, và dụng công mới có
kết quả tốt, chớ không thể dụng công mà nẩy sanh tâm
chướng ngại. Tâm chướng ngại chính là lòng tự mãn, lòng
kiêu mạn, có thể phương hại tới hạt giống Bồ-đề. Chúng
ta dụng công phải ghi nhớ điểm này. Bất luận trong trường
hợp nào, phải tránh cho kỳ được tâm cống cao, ngã mạn,
và tránh có ý nghĩ ích kỷ tự lợi, mà phải theo đúng câu:
"Pháp là bình đẳng, không có cao thấp," đó chính là châm
ngôn của kẻ tu hành.
Khởi đầu
dụng công, chúng ta phải giữ tâm cho chánh đáng. Không chánh
đáng thì dù công phu ra sao cũng thành ma đạo. Tâm đã chánh
đáng, thì dụng công cách gì cũng có thể thành Phật. Con
đường dẫn tới Phật hay tới ma chỉ khác nhau ở một niệm.
Quý vị hãy đặc biệt chú ý.
Tại sao chúng
ta phải niệm: Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát? Bởi vì đối với
chúng sanh ở cõi Ta-bà Ngài đều có nhân duyên. Ngài là vị
Bồ-tát tầm thanh cứu khổ và cứu nạn. Có người nghĩ rằng:
"Khi nào chúng ta gặp khổ và gặp nạn chúng ta mới cần cầu
Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, bây giờ không gặp cảnh khổ cũng
không gặp cảnh nạn thì niệm danh hiệu của Ngài làm gì?"
Nói vậy hóa ra chúng ta chẳng khổ chút nào ư? Ðây là ngũ
trược ác thế -kiếp trược, kiến trược, phiền não trược,
chúng sanh trược, mệnh trược - các chúng sanh đều bị khổ
cả, khổ không thể nói hết. Rồi trong vòng luân hồi, các
chúng sanh lên lên xuống xuống, vậy mà không phải khổ sao?
Một ngày, từ sáng tới tối trong tâm toàn là vọng tưởng
thôi thúc, đấy chẳng phải là cảnh khổ ư? Rồi lo âu cho
riêng mình, muốn có lợi cho riêng mình, nhưng lo không được
thì ngủ không an; cầu chẳng được thì ăn không ngon. Vậy
mà nói là chẳng khổ ư? Ai dám đoan quyết rằng mình chẳng
khổ? Họ chẳng khổ vì điều này thì lại khổ vì điều
khác, tóm lại khổ bất ly thân. Trừ phi vạn sự đều buông
bỏ, chẳng cầu điều gì họa may mới không khổ.
Chúng ta niệm
câu Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, thì trước hết chúng ta phải
hiểu ý nghĩa câu này. Nam mô là tiếng Phạn, có nghĩa là
quy mạng, Quán là quán sát, lấy diệu quan sát trí để quán
sát. Ai có diệu quan sát trí? Ngài Quán Thế Âm, vì Ngài có
loại trí huệ đó, cho nên đối với hết thảy mọi âm thanh
của thế gian Ngài đều hay, đều thấy, không hề bị lầm
lẫn. Chữ Thế là chỉ thế gian. Âm là âm thanh. Ngài Quán
Thế Âm Bồ Tát tu pháp môn phản văn văn tự tánh, cho nên
Ngài dùng tâm để quán sát tiếng kêu cứu của các chúng
sanh trong thế gian. Khi Ngài nghe được sẽ tức khắc phân
thân đến nơi để cứu độ nạn nhân ra khỏi bể khổ, thoát
được khổ và được vui sướng, cho nên có câu kệ rằng:
Thiên
xứ kỳ cầu thiên xứ ứng,
Khổ hải
thường tác độ nhân chu.
Nghĩa là:
Ngàn
nơi cầu, ngàn nơi ứng,
Ngài là thuyền
vớt người trong bể khổ.
Bồ Tát Quán
Thế Âm cũng giống như các bậc mẹ hiền, con cái cầu mẹ
thì sẽ được mẹ cứu, không dến nỗi bị thất vọng bao
giờ. Cho nên Ngài có danh hiệu là Ðại Từ Ðại Bi Quảng
Ðại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.
Chữ "Bồ-tát"
có một nửa là tiếng Phạn, nói cho đủ là Bồ-đề-tát-đỏa
[Bodhisattva], dịch nghĩa thành Giác-hữu-tình hay Hữu-tình-giác,
cũng nghĩa tương tự. Giác là giác ngộ, hữu tình chỉ chúng
sanh. Giác-hữu-tình tức là một chúng sanh trong số người
giác ngộ, hoặc kẻ giác ngộ trong số chúng sanh. Bồ-tát
thuộc hàng thánh tự giác giác tha - tự mình giác ngộ và
giúp người khác giác ngộ - không tự tư tự lợi, một lòng
chỉ nghĩ tới hạnh phúc của chúng sanh, mà quên lợi ích
của riêng mình. Ðó chính là tinh thần vô ngã.
Như chúng
ta muốn cầu Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát giúp đỡ và phù hộ
cho mình thì chúng ta phải thực lòng niệm: Nam-mô Quán Thế
Âm Bồ Tát, lúc đó trong lòng mới thành khẩn và tác dụng
cảm ứng mới phát sanh ra được, lúc đó Quán Thế Âm Bồ
Tát sẽ nghe tiếng kêu cầu và tới nơi để cứu độ chúng
ta ra khỏi bể khổ. Ngược lại nếu sự kêu cầu không thành
tâm, hay lẫn lộn với những ý tưởng cầu danh cầu lợi,
thì chẳng thể có cảm ứng.
Nay chúng
ta niệm thánh hiệu: Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, ta nên giữ
lòng thanh tịnh, niệm một cách khẩn thiết và chí thành,
không vì lợi ích riêng tư mà niệm, mà chính vì lợi ích
cho tất cả chúng sanh trong cõi ngũ trược ác thế này. Chúng
ta cầu Ngài rủ lòng từ bi tế độ, khiến cho toàn thể nhân
loại trên thế giới khỏi ách nạn, tội diệt phước sanh,
tất cả đều được lợi ích.
Tất cả
mọi người cùng niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát và cùng
hướng theo một tôn chỉ như vậy, ắt sức mạnh cảm ứng
chẳng thể nghĩ bàn. Nào! Quý vị hãy đem mọi công đức
niệm thánh hiệu hồi hướng tới khắp chúng sanh trong pháp
giới! Chính là:
Nguyện đem
công đức này,
Hướng về
khắp tất cả,
Ðệ tử
và chúng sanh,
Ðều trọn
thành Phật đạo.
Khai thị
nhân khóa Quán Âm thất tại Ðiện Quán Âm,
Vạn Phật
Thánh Thành, từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 10 năm 1981
Niệm
Quán Âm Trong Tự Tánh
Nay chúng
ta chuyên tâm một lòng niệm Ngài Quán Âm Bồ Tát, vậy ta
cũng phải niệm Ngài Quán Âm trong tự tánh của chúng ta. Chúng
ta phải nghĩ rằng ở bên ngoài có cái gì, bên trong cũng có
cái đó, như ở bên ngoài có Quán Thế Âm Bồ Tát thì bên
trong cũng có Quán Thế Âm Bồ Tát. Bởi vậy, khi niệm Ngài
Quán Âm thì ta phải làm sao niệm cho trong và ngoài là một,
không phải hai.
Trong tự
tánh của chúng ta, đã gồm đủ mọi đức tánh của vô lượng
chư Phật đông như số cát sông Hằng, cho nên khi miệng niệm
danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì trong lòng cũng phải chí
thành tha thiết, mọi tạp niệm đều chẳng sanh, mọi vọng
niệm đều dứt bặt, và chỉ nhất tâm chuyên chú vào niệm.
Không mong ước điều gì, không tham một sự gì, cũng chớ
nên có ý nghĩ: "Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để làm gì?" Phải
coi việc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát chính là một tự tánh
bổn phận.
Chúng ta niệm
đến trình độ "niệm mà chẳng niệm, chẳng niệm mà niệm,"
đó là cảnh giới tự tánh Quán Thế Âm hiện tiền, kết
thành một khối, quên người quên mình, như vậy còn chỗ
nào là phiền não nữa? Còn chỗ nào là vô minh? Ðến cảnh
giới vô ngại tự tại thì đại viên kính trí sẽ hiển lộ,
bình đẳng tánh trí sẽ hiện tiền, rồi diệu quan sát trí
cũng như thành sở tác trí đều đầy đủ. Có đủ bốn trí,
nhưng chỉ mới tới giai đoạn đầu, bởi trong bốn trí còn
trăm ngàn vạn loại khác nhau tùy theo từng giai đoạn. Chẳng
phải mới thấy các trí xuất hiện mà cho rằng chúng cùng
với bốn trí của chư Phật là giống nhau. Bất luận ở giai
đoạn nào, tới được quả vị nào, thứ bậc không phải
nhất loạt ngang nhau.
Người tu
hành phải hiểu rõ ý nghĩa "sai một ly đi một dặm," phải
tự nhắc mình dụng công đi đúng hướng, tránh rẽ ngang,
khỏi đi vào bàng môn ngoại đạo, và lầm vào tình trạng
tà tri tà kiến. Phải luôn luôn giữ chánh tri chánh kiến,
tức chánh niệm mới hiện tiền.
Chúng ta niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát tức là niệm Quán Thế Âm Bồ Tát của
chúng ta chớ không phải niệm Quán Thế Âm Bồ Tát của người
khác. Thế nào gọi là Quán Thế Âm Bồ Tát của ta? Chính
là ta với Quán Thế Âm Bồ Tát là cùng một thể, niệm như
vậy, nghĩa là ta cũng có đức từ bi, cũng có hỷ xả của
Quán Thế Âm Bồ Tát, và cũng đầy đủ "bẩy nạn, hai cầu,"
cũng ba mươi hai ứng thân như Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tu
Hành Phải Biết Hồi Quang Phản Chiếu
Người tu
hành phải thực tình, phải thật sự tu, phải bỏ công sức
ra chớ không thể nhởn nhơ. Có một số người nói họ hành
đạo Bồ-tát, nhưng đúng ra là họ cốt biểu diễn cho bà
con thấy. Mỗi một cử chỉ, mỗi một hành động, mỗi lời
nói ra, họ đều phô trương cho mọi người thấy, chớ không
phải cho chính họ thấy. Những người đó cần phải biết
hồi quang phản chiếu, còn như chờ người khác trông thấy
mới niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát - nếu quả có
tử tưởng đó thì phải mau mau sửa đổi lại.
Phàm kẻ
tu hành mà chỉ muốn người khác trông thấy mình tu, chính
là bỏ gốc cầu ngọn. Quên cái gốc rễ để chạy theo cái
ngọn là chuyện không được. Tu hành là để cho chính mình
thấy, trông thấy được mình tức là hồi quang phản chiếu.
Nhớ kỹ! Hồi quang phản chiếu, chớ không phải phóng quang
ngoại chiếu. Nếu phóng quang để chiếu ra ngoài, tức là
chỉ muốn cho người khác nhận thấy, để họ bảo rằng
mình là người thật sự tu. Phải biết rằng khi đã phóng
quang ra ngoài thì chẳng còn gì nữa, bởi hào quang của mình
chẳng có bao nhiêu, một khi phóng ra là hết. Mình chưa tu hành
đến độ viên mãn, quang độ yếu ớt, chờ khi nào tu đến
viên mãn, lúc đó phóng quang cũng chưa muộn. Bây giờ đang
trong giai đoạn tu hành, không nên phóng quang.
Việc tu hành
cũng giống như việc học. Mới đầu học tiểu học, tiếp
theo là trung học, sau lên đại học, rồi sau nữa mới có
bằng tiến sĩ. Tu hành cũng như vậy, cứ từng bước một
mà tiến lên dần dần, chớ không thể đi theo lối tắt. Có
người bảo: Thiền tông đề xướng đốn ngộ, khai ngộ một
cách chớp nhoáng. Chúng ta nên hiểu rằng đốn ngộ là nói
về lý - cái lý về ngộ ngay tức khắc, nhưng về sự thì
phải tu tập dần dần. Ðốn ngộ là nói về cá nhân đốn
ngộ, chớ không phải nói về thời hạn đốn ngộ, một khi
tu là ngộ ngay. Trước đây từ vô lượng kiếp, người ta
đã tu rồi, đã từng gieo trồng hạt giống Bồ-đề rồi,
lại nỗ lực canh tác, mỗi ngày một ít tích lũy lại, cho
tới ngày nào đó công phu mới trổ thành quả chín. Không
khi nào có trường hợp chẳng tu mà được khai ngộ. Câu nói:
"Lý là đốn ngộ, sự là tiệm tu" chính là nghĩa này.
Tại nơi
này chúng ta tham dự thất Quán Âm, chúng ta phải mang hết
tinh thần trì niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, chớ không thể lười
biếng cầu an, kiếm cớ để trễ nải. Nếu như để cho tâm
hồn phóng dật, tức là để thời gian qua đi một cách uổng
phí, lỡ mất cơ hội khai ngộ, đáng tiếc biết bao! Thất
Quán Âm này, xin quý vị hết mình dụng công, pháp hội này
chính là một cơ hội hiếm có. Mong quý vị hãy trân quý từng
thời khắc, nỗ lực dụng công trì niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát, nhất định sẽ có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn.
Tại
Sao Chúng Ta Phải Vào Thất Quán Âm
Chúng ta cần
niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ-tát một cách thường
xuyên. Kỳ thực đối với người tu hành, thì ngày nào cũng
coi như ở trong thất. Còn đối với chúng ta, vì chưa từng
dụng công nên mới cần phải định ra một thời gian, để
tất cả mọi người tu hội lại, rồi cùng nhau cử hành nhập
thất, cái đó gọi là khắc kỳ thủ chứng. Trong vòng bảy
ngày này, mọi duyên bên ngoài đều buông bỏ, một niệm chẳng
sanh, chuyên tâm nhất chí, trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm
Bồ Tát. Niệm danh hiệu của Ngài sẽ có thể lìa mọi tà
tri tà kiến đồng thời tăng trưởng chánh tri chánh kiến.
Trong lúc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, thì tâm bình hòa, hơi
thở đều đặn, tinh thần tập trung. Không nên có ý ganh đua,
có tâm cạnh tranh. Ganh đua và cạnh tranh là hành vi của người
thế tục. Tu hành là không đua với người đời, không ganh
với ai, mọi người đều cùng nhau dụng công. Người nào
ráng sức dụng công cũng vậy, cũng coi như chính ta dụng công.
Có tư tưởng đó thì hết tranh đua hơn kém. Người tu hành
cũng không nên buông lung và sợ vất vả, phải thường xuyên
tinh tấn, luôn luôn tinh tấn, tinh tấn từng giờ, từng khắc,
từng phút, từng giây. Một phút tinh tấn là một phút cảm
ứng; mười phút tinh tấn là mười phút cảm ứng.
Chúng ta niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát, trong lòng có chân thành chăng? Ngài Quán
Thế Âm Bồ Tát ở trên trông thấy rất rõ. Ai niệm Ngài
với một lòng chân thành, người đó sẽ được Ngài gia hộ
cho trí huệ sáng suốt, căn lành tăng trưởng, tội ác tiêu
diệt, ba chướng diệt trừ - tức nghiệp chướng, báo chướng,
phiền não chướng, tóm lại hết thảy ác nghiệp đều được
tiêu diệt. Bởi vậy, phàm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, ta phải
niệm hết sức chân thành. Ai niệm chân thành, kẻ đó được
lợi ích; ai niệm không chân thành, tuyệt đối không gặp
cảm ứng.
Trong thất
Quán Âm, có người niệm một cách chân thành, nhưng cũng có
người niệm một cách tùy hỷ, mà chưa phải là thật lòng.
Thấy mọi người niệm, mình cũng niệm; thấy mọi người
chạy, mình cũng chạy; thấy mọi người ngồi, mình cũng ngồi,
trước sau chân tâm vẫn không nẩy sanh (chân tâm nghĩa là
không có vọng tưởng). Khi niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, không
thấy tâm tham, cũng không có tâm cầu, tức là có chân tâm.
Không tranh, không ích kỷ, tự lợi, cái đó cũng thuộc về
chân tâm. Dụng công với chân tâm, mọi nghiệp chướng đều
được tiêu trừ. Tâm không chân, nghiệp chướng vẫn bám
riết theo. Cho nên, trong thời gian nhập thất Quán Âm, hay nhất
là: "bớt một câu nói, thêm một tiếng niệm." Có câu rằng:
Ðả đắc niệm đầu tử, hứa nhữ pháp thân hoạt, nghĩa
là làm chết tạp niệm thì pháp thân sẽ hiển hiện (sống).
Người tu
hành, vì chuyện dứt sanh tử, vì mục đích cứu độ chúng
sanh mà dụng công tu tập, chẳng phải vì cầu được cảm
ứng. Có câu rằng: Tư y y chí, tư thực thực chí; nghĩ tới
áo thì có áo - áo đến - nghĩ tới ăn thì có ăn, nghĩ chuyện
gì thì có chuyện đó, đây là cảnh giới của chư thiên,
nhưng tới lúc phước trời hưởng hết thì lại trở về
luân hồi chịu khổ. Người tu đạo nên hướng tới pháp
rốt ráo là giải thoát, mới mong ra khỏi được tam giới,
mới dứt được phần đoạn sanh tử.
Niệm
Quán Âm Cứu Kẻ Lâm Nạn
Phật tử
Quả-Khiêm (Hằng Nhượng) vừa rồi đã kể lại kinh nghiệm
chạy nạn từ Việt-Nam, gặp đủ mọi cảnh ngộ hiểm nghèo,
tóm lại là thập tử nhất sanh. Chỉ vì nữ Phật tử Quả
Khiêm thành tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát nên được Ngài
từ bi gia hộ, khiến cho mọi sự bình an, thoát khỏi nơi hang
hùm và cuối cùng tới được Vạn Phật Thành để tu hành.
Những người chạy nạn từ Việt Nam ở Vạn Phật Thành này
đều được nghe nói về chuyện này. Hy vọng họ cũng nói
hết những điều bản thân họ đã gặp, công bố cho cả
thế giới hay. Ngày sau xuất bản thành sách sẽ lấy tên là
"Nạn Dân Thiệp Hiểm Ký."
Hiện nay
chúng ta ở nước Mỹ, bình an vô sự, chẳng biết thế nào
là khổ là nạn, cái đó phải là người đã từng gặp nạn
thì mới thể hội hết cảnh thống khổ ra sao. Bởi vậy mong
rằng quý vị chớ nên theo lối "lúc bình thường chẳng chịu
đốt hương, khi lâm nạn mới ôm chân Phật," lúc ấy chẳng
kịp nữa đâu. Chúng ta phải có sẵn tinh thần: "chưa mưa
đã chuẩn bị, chưa khát đã đào giếng," nghi vị vũ nhi trù
mâu, vô lâm khát nhi quật tỉnh. Tại nơi đây chúng ta niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát, chính là cầu nguyện cho các nạn nhân
trên thế giới, mong sao cho họ lìa khổ và an vui, thoát ly
cảnh khổ ách. Mục tiêu nhập thất của chúng ta nhằm việc
cứu vớt các nạn nhân, kéo họ ra khỏi bể khổ, tức là
quan thiết tới sanh mạng và sự an toàn của nhân loại vậy.
Sứ mạng này lớn lao như vậy nên chúng ta phải dốc lòng
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Càng thành tâm bao nhiêu càng giúp
được nhiều người bấy nhiêu. Tấm lòng trắc ẩn, ai ai
cũng có. Lại nữa, quan điểm của Phật-giáo là phải cứu
độ khắp chúng sanh, do đó chúng ta phải xả thân mạng niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tông chỉ
của Vạn Phật Thành vốn là cứu độ chúng sanh trên khắp
thế giới. Vì sự khổ não của chúng sanh mà hàng ngày chúng
ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu Ngài với ngàn mắt chiếu
soi, ngàn tai nghe vọng, ngàn tay cứu vớt, độ khắp chúng
sanh. Chúng ta nay, trong thất Quán-Âm, phải tận lực niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu là lười biếng, tức không có
lòng từ bi, và người nào như vậy thì không có tâm đạo
đức, sẽ không có công đức và trong tương lai, quả vị
thành tựu được rất là hạn hẹp. Chúng ta tu theo pháp đại
thừa, phải có tinh thần xả kỷ cứu nhân, cầu hạnh phúc
cho chúng sanh, cầu hòa bình cho chúng sanh; chúng ta niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát, chẳng phải là niệm cho chúng ta, mà là niệm
cho các nạn nhân, vì cảnh khổ của họ mà chúng ta niệm.
Với tông chỉ như vậy, thì công phu niệm của chúng ta nhất
định sẽ mang lại cảm ứng rất lớn lao.
Quý vị!
Nghe xong câu chuyện của Phật tử Quả Khiêm, mới hay rằng
Ngài Quán Âm không phải chỉ là tầm thanh cứu khổ, mà còn
bảo hộ cho chúng sanh được an toàn nữa. Ngài chính là chỗ
chúng sanh có thể nương tựa. Trong thời gian dự Quán Âm Thất
này, quý vị phải thành tâm mà niệm. Thêm một người niệm
là thêm một phần kết quả; thêm một phần kết quả là
được thêm một địa phương hòa bình, công đức ấy thật
là trọng yếu. Chúng ta chẳng cầu cho chúng ta, cho lòng tham
của chúng ta, mà cầu hòa bình, cầu an ninh cho toàn thể nhân
loại. Ai là Phật tử chân chánh thì nên hành động như vậy,
nên trang bị tư tưởng như vậy, nhất định sẽ có Phật
và chư Bồ-tát gia hộ.
Chuyện
Người Ðá Cầu Pháp
Hôm nay tôi
xin kể một câu chuyện có thực. Cách nay khoảng mười năm,
có một gã hình dung cổ quái, chẳng phải trắng, chẳng phải
đen. Ăn mặc thì lôi thôi, quần áo lam lũ, thân cao khoảng
năm feet, người khẳng khiu như que củi, sắc mặt không đổi
thay. Ngày đó gã tới cổng lớn của chùa Kim Sơn, rồi ở
đấy, gã ngồi tựa lưng vào tường. Gặp phải lúc trời
mưa lớn, gã vẫn ngồi yên bất động. Có người bảo gã
đi nơi khác, gã vẫn nín thinh không thèm để ý tới. Chừng
ba ngày sau, tôi ra cổng chùa coi thử. Gã không hề nói chuyện
với một ai, vậy mà gã lại bắt chuyện với tôi. Tôi hỏi
gã họ gì, gã đáp: "Họ Thạch." Tên gì, gã đáp: "Tên Nhân"
(nguyên văn viết chữ 'nhân' là người). Lại hỏi ở đâu
tới thì đáp: "Ở trên núi xuống." Khi hỏi đến để làm
gì thì đáp rằng: "Ðến để cầu pháp." Tôi mới bảo: "Ở
đây chúng tôi chẳng có pháp nào để cầu cả, anh đến như
vậy sẽ thất vọng." Gã trả lời: "Tôi chẳng bị thất vọng
đâu."
Hỏi han như
vậy xong, gã theo tôi vào chùa Kim-Sơn, rồi cùng theo đại
chúng, khi ngồi thiền, khi ngủ nghỉ, nhưng tuyệt đối gã
không ăn, không uống, không cả việc tiểu tiện hay đại
tiện, thật là một gã kỳ quái. Ngày ngày gã ngồi yên tọa
thiền, không nói năng, không cử động, trông gã tựa hồ
như kẻ bị ngộ độc, cũng giống như kẻ đến để ngồi
rỡn chơi. Gã dấu trong mình một khúc than củi, hỏi đến
thì gã nói dùng khúc than đó để giữ hơi ấm. Gã ở tại
chùa trong mấy hôm, hoạt động chung với đại chúng. Mọi
người ở thiền đường dụng công, gã cũng dụng công, khi
tất cả lên lầu ngủ, gã cũng lên lầu ngủ. Mọi người
sợ gã ăn cắp đồ đạc, nên cho người bố trí canh gác
gã, và trong lúc gã ngủ trong nhà thì người gác cũng nghỉ
ở ngoài cửa, phòng khi gã mở cửa đi ra thì người gác có
thể phát giác ngay được.
Bỗng một
hôm, không ai thấy gã "người đá" đâu cả. Người gác rất
lấy làm lạ, không biết gã dùng cách gì mà đi khỏi chùa,
không ai hay biết. Câu chuyện này chúng ta phải giảng ra sao
đây? Người đá còn biết tới Kim Sơn Thánh Tự để cầu
pháp, huống chi chúng ta, vốn là vạn vật chi linh mà không
cố gắng học pháp, chẳng là đáng tiếc hay sao?
Di
Cư Ðến Thế Giới Cực Lạc
Tại Trung
Hoa, người ta thường nghe nói câu: "Nhà nhà Quán Thế Âm,
nhà nhà Di đà Phật" (gia gia Quán Thế Âm, hộ hộ Di đà Phật).
Ngài Quán Thế Âm thật là đặc biệt có duyên với chúng
ta, Ngài sẵn sàng rước chúng ta về cư ngụ vĩnh viễn nơi
đất Cực Lạc, chẳng phải qua một thủ tục di dân nào.
Chỉ cần chúng ta tỏ ra chân thành, một niệm thỉnh cầu,
là có thể tới được, tuyệt đối không có gì là phiền
phức. Chỉ khi nào không có bằng chứng về "một niệm chân
tâm" thì chúng ta không thể tới thế giới Cực Lạc.
Làm thế
nào để có bằng chứng về "một niệm chân tâm?" Thật quá
dễ dàng, đơn giản vô cùng! Chúng ta chỉ cần chân thành
mang hết tâm ý ra niệm: "Nam mô A-di-đà Phật," hay "Nam-mô
Quán Thế Âm Bồ-tát" hay "Nam-mô Ðại Thế Chí Bồ-tát" là
đủ, bởi vì Phật A-di-đà là giáo chủ của thế giới Cực
Lạc, còn Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Ðại Thế Chí là
những vị phụ tá đứng hai bên. Quý vị đó được gọi
là Tây phương Tam Thánh. Bất cứ chúng ta niệm danh hiệu của
vị nào, niệm sao cho đến nhất tâm bất loạn, nhất trần
bất nhiễm, thì ắt được đái nghiệp vãng sanh, nghĩa là
sanh về nước Cực Lạc dầu ta còn mang nghiệp, từ trong hoa
nở ra thấy Phật hay thấy các vị Bồ-tát.
Nếu chẳng
muốn di cư đến thế giới Cực Lạc, thì khỏi cần niệm
danh hiệu Tam Thánh, nhưng còn muốn về Cực Lạc thì phải
niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, khi còn sống sẽ được
miễn ba tai bẩy nạn, khi chết thì được vãng sanh cõi Tịnh-độ,
nhất cử lưỡng tiện, còn gì hay cho bằng.
Chúng ta niệm
Quán Thế Âm Bồ-tát, niệm làm sao cho chúng ta cùng Ngài là
một, tách nửa cũng chẳng rời ra, như vậy tới lúc lâm chung,
dầu không muốn cũng phải sanh về Cực Lạc. Tại sao vậy?
Bởi vì một khi gốc rễ đã vững chắc, thì tương lai ắt
phải sanh cành sanh lá, nở hoa và kết trái vậy.
Vạn
Phật Thánh Thành Tẩy Rửa Thân Tâm
Niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát tại đạo tràng thì rất dễ có cảm ứng.
Niệm với một lòng kiền thành, niệm mà không loạn tưởng,
niệm đến trình độ niệm Phật tam muội thì gió thổi chẳng
lọt, mưa rơi chẳng thấu, mọi nguyện vọng sẽ được mãn
túc. Khi niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, ta phải hết lòng cung
kính, phải chú tâm không có vọng tưởng, nhất định sẽ
có cảm ứng. Bất kể chúng ta có vọng tưởng gì, Ngài Quán
Thế Âm cũng biết. Chúng sanh có các loại tâm nào, Quán Thế
Âm Bồ Tát đều biết hết, đều thấy hết. Niệm Quán Thế
Âm Bồ Tát với lòng chí thành hết mực ắt có cảm ứng.
Không thành tâm sẽ không có cảm ứng.
Những người
ở Vạn Phật Thành, ai nấy đều phải thanh tịnh thân tâm,
không cho sanh khởi tâm vô minh, tâm phiền não, không được
tức giận, lúc nào cũng phải giữ một thái độ hòa nhã,
hướng tới lòng từ bi, không đối xử thô lỗ với bất
cứ ai, không xen vào bất cứ một chuyện gì. Giữ được
như vậy mới là thực lòng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và
thực lòng thờ lạy Ngài.
Những ai
đến Vạn Phật Thành, lạy Phật, không thể sanh tâm phiền
não. Nếu có phiền não thì chẳng những cầu chẳng được
phước, mà còn thêm khổ não. Dầu trong bất cứ trạng huống
nào, cũng phải tập nhẫn nhục ba-la-mật. Vạn Phật Thành
là đạo tràng để tẩy rửa thân tâm. Khi có phiền não, đến
Vạn Phật Thành thì thân tâm liền được thanh tịnh. Tại
sao vậy? Bởi vì được Ngài Quán Âm gia hộ, khiến cho mọi
phiền não của chúng ta đều nhất loạt tan biến.
Ai đến Vạn
Phật Thành phải học tập theo tinh thần từ bi hỷ xả của
Quán Thế Âm Bồ Tát, phải trang bị tư tưởng xả kỷ lợi
nhân, cho lòng rộng mở, bao dung mọi sự dù bất như ý. Có
duyên mới gặp gỡ nhau, hà tất cãi vã với nhau, chẳng có
gì là hay ho cả! Ai như vậy thì cố mà sửa đổi, ai không
thì hãy cố gắng!
Vạn Phật
Thánh Thành là nơi tẩy rửa tập khí của chúng sanh. Ðến
đây rồi, vị nào hút thuốc sẽ không hút thuốc, ai uống
rượu sẽ không uống rượu, ai đánh bạc sẽ không đánh
bạc, ma túy cũng không, các đồ độc hại đều nhất loạt
bỏ lại. Chẳng phải chỉ tại Vạn Phật Thành mới có được
như vậy, mà đi tới đâu cũng sẽ giữ giới, cái đó là
do tới Vạn Phật Thành, thân tâm được tẩy rửa tinh khiết,
thân được khang kiện, tâm được khang kiện, con người hoàn
toàn đổi mới. Khi các tập khí phiền não tiêu trừ , lúc
đó mới thực là niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, mới thực không
uổng tâm nguyện nhập thất Quán Âm.
Mọi người
đều không sanh phiền não, là có được vật báu. Có câu
nói như sau :
Chẳng
sanh phiền não, chẳng tâm nghi,
Chỉ lo việc
ta chẳng việc người,
Nhẫn điều
không phải, bớt tranh cãi,
An nhiên thanh
tịnh trí huệ sanh,
Minh tâm chuyện
khó không trở ngại,
Kiến tánh
còn đâu gặp ưu sầu,
Ưu tư oán
hận tâm mờ tối,
Phật quang
chẳng phải chẳng chiếu khắp.
Nếu theo được
như mấy câu trên, nhất định sẽ đặc biệt có cảm ứng.
Càng
Niệm Quán Âm Càng Bớt Vọng Tưởng
Niệm thánh
hiệu của ngài Quán Thế Âm Bồ Tát có tác dụng tẩy rửa
rác rưởi trong tâm của chúng ta. Niệm một câu là bớt đi
một vọng tưởng, niệm hai câu sẽ bớt đi hai vọng tưởng.
Niệm tới vạn lần Quán Thế Âm Bồ Tát tức là cả vạn
vọng tưởng được tẩy rửa. Có người bảo: "Pháp sư nói
không đúng rồi! Ðệ tử vừa niệm Quán Thế Âm Bồ Tát
lại vừa thấy có vọng tưởng, số vọng tưởng nổi lên
còn nhiều hơn số niệm thánh hiệu nữa." Nói như vậy thì
quả là bản lãnh quá cao cường, không thể nghĩ bàn! Một
đàng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, một đàng nổi lên vọng
tưởng! Kỳ thực người nào nói đó chẳng hề niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát, đây chỉ là trạng thái tâm bất tại, nhìn
mà chẳng thấy, lắng mà chẳng nghe. Tuy rằng anh ta có theo
mọi người niệm Quán Âm, nhưng chính anh chẳng hề chú ý
tới Ngài. Bởi anh ta không chú ý tới Ngài nên vọng tưởng
của anh mới sanh ra. Vọng tưởng đến rồi, thì miệng niệm
mà tâm thì tạp loạn. Trong lúc có vọng tưởng, miệng cũng
quên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Quên niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát, vọng niệm lại nổi lên. Cái đó chính là thiếu nghiêm
túc, không thực lòng. Anh ta đến đây, chẳng phải là để
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, mà chỉ là a-dua theo mọi người,
do đó, niệm không đúng cách, thanh âm không mạnh mẽ, khí
lực không đầy đủ.
Trong lúc
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, mắt nhìn Quán Thế Âm Bồ-tát,
tâm tưởng hướng về Quán Thế Âm Bồ Tát, nhận ra Quán
Thế Âm Bồ Tát trước mắt mình, ngàn mắt chiếu soi mình,
ngàn tay nâng đỡ mình. Âm thanh do chính mình niệm cũng do
tai của mình nghe một cách rõ ràng. Rồi thanh âm do chúng ta
niệm bèn rót thẳng vào tâm, ta lại đón nhận âm thanh đó
như đón nhận chính Bồ-tát tới ngự trị trong tâm của ta.
Trong tâm đã có Quán Thế Âm Bồ Tát rồi thì còn đâu vọng
tưởng nữa. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát chính là liều thuốc
mầu nhiệm để trị bệnh vọng tưởng, cho tới khi tâm được
thanh tịnh thì lúc đó có sự tự tại.
Niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát Với Ðủ Sáu Căn
Niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát chẳng phải chỉ riêng miệng niệm cho rõ
ràng, mà trong tâm cũng phải ghi nhận cho thật rõ ràng. Cả
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đủ sáu căn, tất cả đều
cùng niệm. Mắt niệm, tai niệm, mũi niệm, lưỡi niệm, thân
thể niệm, ý thức cũng niệm, tóm lại mọi căn cùng một
lúc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Cái đó gọi là thâu nhiếp
sáu căn, một cửa thâm nhập.
Tại chương
Ðại Thế Chí Viên Thông, kinh có nói: "Nhiếp cả sáu căn,
tịnh niệm tương tục, chứng Tam-ma-địa, ấy là đệ nhất."
Ðại ý câu này có thể giải thích như sau: nói nhiếp cả
sáu căn tức là bảo chúng ta gom sáu căn đó lại, không cho
chúng tán loạn, bảo chúng phải nghe lời và phụng hành nghiêm
chỉnh; phải làm sao khiến cho sáu tên giặc - tức sáu căn
- biến thành sáu vị hộ pháp. Nhiếp sáu căn tức là ra lệnh
cho chúng phải giữ phép tắc, không để chúng tác quái; huấn
luyện chúng đến chỗ thuần thục, ngoan ngoãn nghe lời. Không
chuyên tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, cái đó là bởi lý
do gì? Chính là bởi không thâu nhiếp lục căn, khống chế
ngự sáu tên giặc là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Vì
đó mà chúng mặc sức tung hoành, làm mưa làm gió, dẫn tới
tình trạng vọng tưởng lăng xăng, không an phận thủ thường,
tới đâu cũng gặp điều rắc rối.
Nếu như
sáu căn đều được thâu nhiếp, thì lúc đó tịnh niệm nối
tiếp với nhau. Các niệm thanh tịnh cũng giống như làn sóng
trên mặt nước, cái này nối tiếp cái kia không dứt. Niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát với tâm thanh tịnh thì cũng như vậy.
Niệm niệm không gián đoạn, niệm niệm không ngưng nghỉ,
niệm tới một lúc nào đó liền chứng được tam-ma-địa.
Tam-ma-địa dịch nghĩa là chánh định, chánh thọ, đó là
pháp môn viên thông đệ nhất. Tới được cảnh giới này
thì cả sáu căn cùng một lúc niệm thánh hiệu của Ngài Quán
Thế Âm Bồ Tát.
Có vào được
cảnh giới tam-ma-địa chúng ta mới có thể chứng được
pháp "Niệm Quán Âm tam-muội," và mới có thể gọi là người
đã vào thất Quán Âm. Chưa chứng pháp này thì chưa có thể
coi như đã vào thất Quán Âm. Tỷ như trong cảnh giới tam-ma-địa,
một mạch bắt đầu từ sáng sớm cho đến tối mới được
nghỉ ngơi. Trong khoảng đó, miệng chỉ biết niệm Quán Âm
mà không còn biết gì khác nữa, mọi ý niệm thời gian không
còn, chẳng biết đâu là quá khứ, hay hiện tại, hay vị lai,
cả ba đều coi như không cả, đó chính là cảnh giới tam-ma-địa.
Ðạt được
cảnh giới này thì niệm Quán Âm là niệm trong trạng thái
tinh thần tập trung, quên mọi phiền não. Ta chưa ăn cơm hay
đã ăn rồi, cũng không còn nhớ nữa. Tại sao? Bởi vì chúng
ta dốc lòng niệm Quán Âm mà. Quần áo mặc vào hay không mặc
vào? Cũng chẳng nhớ. Tại sao? Bởi chúng ta chuyên tâm niệm
Quán Âm mà. Ðã được ngủ nghỉ chưa? Cũng không biết. Tại
sao? Bởi chúng ta chuyên tâm niệm Quán Âm mà. Nếu thực tình
ba thứ ăn, mặc, ngủ nghỉ mà cũng quên, đó chính là cảnh
giới tam muội. Trong tâm không có vô minh, không có phiền não,
không có vọng tưởng. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, niệm thật
rõ ràng, hoan hoan hỷ hỷ, không còn gì an nhiên tự tại hơn,
sảng khoái hơn. Có bệnh chăng? Bệnh cũng hết. Ðau chăng?
Cũng hết đau. Không ăn cũng không đói, không ngủ cũng không
buồn ngủ, đó chính là cảnh giới của người niệm Quán
Âm tam-muội.
Tự
Xét Sai Lầm Của Mình
Như bảo
rằng: "Tôi có thể nghe được tiếng nói ở không trung," đây
tức là cảnh giới ma, không phải là cảnh giới của người
vào định. Người tu đạo không thể nói như vậy mà phải
theo được các câu sau :
Tự tánh
chúng sanh thệ nguyện độ.
Tự tánh
phiền não thệ nguyện đoạn.
Tự tánh
pháp môn thệ nguyện học.
Tự tánh
Phật đạo thệ nguyện thành.
Người tu
học phải luôn luôn quay lại chiếu soi mình, chớ không phải
hướng ra ngoài tìm cầu, bởi ở bên ngoài không có cái gì
để kiếm được. Ngay trong tự tánh của mình, mọi thứ đều
có sẵn, đều hoàn bị. Chúng ta hãy tự hỏi mình có tu hay
không tu? Có hạ công phu không? Ðừng hỏi gì khác, chỉ hỏi
ta có tham không? Có tham, tức là không tu hành. Không tham, tức
là có tu hành. Cái đó mới là quan trọng nhất.
Lại tự
hỏi mình, có tâm sân không? Bỗng dưng người ta đánh mình,
mình có nổi nóng không? Nếu quý vị nổi nóng tức là quý
vị chưa có công phu. Nếu quý vị thực không nổi nóng, quý
vị cũng không nên tự cho là mình hết chấp ngã, cái đó
chỉ là giảm phần nào tâm chấp ngã đó thôi. Chúng ta phải
theo cho được các câu sau: "Ðánh ta, coi như không thấy; mắng
ta, lấy lẽ đối xử" - Ðả ngã, một khán kiến; mạ ngã,
bả lý phục - Hy vọng quý vị ở đây theo đó dụng công
phu.
Nếu nổi
nóng, tức chưa có tu hành, chưa buông xả. Buông xả được
thì ai là người phiền não? Ai là kẻ trêu chọc? Nếu không
phiền não, cũng sẽ không nổi nóng, đây là bổn phận của
người tu. Cũng không thể nói là ta tu hay, cái đó chỉ là
tiến được một bước. Không thể có lòng cống cao ngã mạn,
tự coi mình giỏi. Như nói: "Này! Các người đến đây coi
chúng tôi tu, số một thế giới đấy!" Ðấy chính là đại
ngã mạn! Ðại ma vương! Ngàn vạn lần quý vị không nên
có những ý nghĩ như vậy, bởi nói cách đó chính là tà tri
tà kiến.
Soi lại chính
mình, thử xét mình có ngu si không? Có điều gì không được
hiểu rõ, còn bị chướng ngại? Một điều thông, mọi thứ
đều thông, và đây cũng chỉ là bước đầu của việc tu
tập. Không thể nói rằng ta biết đã đủ rồi, tất cả
đều viên mãn, nói như vậy là tính cuồng mạn. Có câu nói:
"Chân không vô nhân ngã, đại đạo vô hình tướng." Ðã là
chân không thì cái gì là người? Cái gì là ta? Làm sao còn
vọng tưởng? Như chứng được tam-ma-địa thì tự nhiên nước
cam-lồ hiện tiền, đâu cần phải chạy đi đâu tìm kiếm,
tất cả đã ở trong tự tánh rồi.
Người tu
đạo không thể mang bộ mặt giả dối, mang cái nhãn hiệu
tu mà sự thực chẳng tu, cái đó người ta nói là: "Treo đầu
dê, bán thịt chó," làm những việc không đúng pháp làm sao
chứng được tam-ma-địa! Kẻ tu hành chân chánh mà chuyên
tâm niệm Quán Âm thì sẽ chứng tam-muội. Cảnh giới tam-muội
thì gặp trời lạnh không cảm thấy lạnh, trời nóng không
thấy nóng, thiếu nước không biết khát, thiếu ăn không thấy
đói, diệu dụng như vậy, nhiệm mầu không thể nói hết.
Người tu
đạo phải thực lòng mà tu hành, cốt lấy cái thực chớ
không tham cái danh giả. Tu hành là nói tới cái công phu thực
sự, đem ra mà khảo nghiệm. Không thể tự mình đánh trống
thổi kèn, rêu rao rằng ta là người đạo hạnh. Giả hay thực,
nhìn qua là biết. Người tu không thể dối người khác, dối
người là tội đọa địa ngục. Lại cũng không thể tu được
chút ít mà đã tự coi là đầy đủ, giống như cái bánh vẽ
không thể làm cho no bụng được. Tuy có câu nói rằng "thấy
trái mơ thì hết khát nước," nhưng cảm giác này chỉ là
tạm thời, chớ không làm cho hết khát thực sự. Phải noi
theo cho đúng phép tắc thì mới là con đường chánh để tu
hành.
Niệm
Quán Âm Khi Khẩn Cấp
Hôm nay tôi
xin truyền cho quý vị một yếu quyết. Ðó là yếu quyết
để áp dụng trong giờ phút thật khẩn cấp. Gặp những trường
hợp đó chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng hốt hoảng, chuyện
sống chết hãy tạm gác một bên, một lòng niệm Quán Thế
Âm Bồ Tát thì chắc chắn sự hiểm nguy sẽ hóa thành tốt
lành, thoát khỏi ách nạn.
Trong giây
phút khẩn trương, chúng ta hãy nghĩ rằng: "Ðàng nào cũng
chết, vậy trước khi chết ta hãy dốc lòng niệm Ngài Quán
Thế Âm Bồ Tát, biết đâu đó là niềm hy vọng." Hành động
như thế, tức là từ hiểm nguy mà gặp may mắn.
Khi đi máy
bay, gặp lúc trên không máy bay gặp nạn, sắp bị rớt. Ngay
lúc đó chúng ta hãy niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì rằng Ngài
Quán Thế Âm là một vị Bồ-tát chuyên cứu khổ cứu nạn,
một vị Bồ-tát có cầu có ứng, nếu chẳng niệm danh hiệu
Ngài, thì sanh mạng của chúng ta vô cùng nguy hiểm, không còn
hy vọng gì nữa. Lúc đó chúng ta đem hết lòng thành niệm,
cảm ứng tới đức từ bi của Ngài, thì toàn thể sanh mạng
trên máy bay được cứu vớt. Vào thất Quán Âm chúng ta cũng
phải khởi lên những ý tưởng như vậy để hạ công phu
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát.
Chúng ta lại
tưởng tượng khi đi xe lửa, và giả thử ngay khi biết xe
lửa trật đường rầy, tức là trong khoảng thời gian đường
tơ kẽ tóc đó, nếu chúng ta không niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát, toàn thể hành khách trên chuyến xe đó đều gặp nạn
tử vong. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát có nghĩa là phát ra lời
kêu cứu, Bồ-tát nghe được tiếng kêu thì dầu có cách xa
cả vạn ngàn sông núi, Ngài cũng tới ngay, tiếp cứu chúng
ta ra khỏi khổ nạn, linh nghiệm vô cùng.
Lại tưởng
tượng chúng ta đi tàu trên biển, chẳng may gặp cảnh tàu
sắp đắm, cái nguy cơ gửi thân trong bụng cá. Trong phút nguy
cấp ta niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, tới phút chót cũng niệm,
tới giây chót cũng niệm. Nếu được như vậy, nhất định
là hung hóa cát.
Lại giả
thử ta ngồi trên xe hơi đang chạy nhanh trên đường, hốt
nhiên xe không thể làm chủ được nữa, bay qua lề đường
bên bờ vực sâu, vách dựng thẳng đứng. Xe hơi mà rớt xuống
đáy vực thì là hết đời, xương tan thịt nát. Ngay lúc đó
nếu niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, với tất cả lòng thành khẩn,
xe hơi sẽ đáp xuống an toàn, kinh hoàng nhưng không nguy hiểm.
Ðây chính là sự cảm ứng của pháp niệm Quán Âm.
Trong giờ
phút khẩn cấp hiểm nghèo, niệm được một câu Quán Thế
Âm Bồ Tát thì bằng cả trăm vạn câu niệm trong lúc bình
thường. Tại sao vậy? Bởi trong lúc không có gì nguy hiểm,
lời mình niệm chưa đủ tha thiết, lòng mình chưa đủ thành
khẩn. Cho nên, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, ta phải hết lòng
kiền thành, hết lòng chân thực, thì cảm ứng đó mới thật
là không thể nghĩ bàn.
Vừa rồi
tôi có nói với Quả Khiêm rằng: "Ngày nay ở tại Vạn Phật
Thành này con có niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, thì hãy tưởng
tượng như khi ở trên thuyền mà thành tâm khẩn niệm, tất
sẽ có cảm ứng. Hồi đó, trong lúc sóng to gió lớn, nguy
hiểm vạn phần như vậy, nếu không niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát, thì đâu còn hy vọng có ngày nay. Có niệm Quán Âm mới
có phần hy vọng, hoặc giả được cứu vớt, cho nên đã
hết lòng khẩn niệm thì cuối cùng tai nạn sẽ vượt qua,
gió im sóng lặng, đến được bến bờ. Bây giờ con niệm
Quán Âm còn để thì giờ để nghỉ ngơi, ấy là vì nay không
còn ở trong cảnh ngộ nguy hiểm như trước." Sự thực thì:
Một
ngày qua đi, mạng cũng giảm dần,
Như cá thiếu
nước, có gì mà vui!
Ðại chúng!
Phải lo tinh
tấn, cứu lấy cho mình.
Nghĩ tới
vô thường, chớ đừng phóng dật!"
Niệm Quán Thế
Âm Bồ Tát, tùy nơi tùy lúc mà niệm, nói một cách khác,
đi, đứng, nằm, ngồi, đều niệm được cả. Miệng niệm
hay tâm niệm, công đức cũng ngang nhau, đừng khởi tâm phân
biệt, lúc nào cũng tùy duyên. Phải nhớ rằng chờ tới lúc
mạng chung mới niệm thì đã quá muộn, không còn cơ hội
nữa. Vì vậy mới có câu: "Nghĩ tới vô thường, chớ đừng
phóng dật."
