Quy
ước trích dẫn kinh điển Nguyên thủy
Bình
Anson
Trong
nhiều năm qua, tác giả các sách báo Phật giáo thường dùng
các quy ước khác nhau để trích dẫn kinh điển Nguyên thủy
của tạng Pali làm người đọc có nhiều bỡ ngỡ, đôi khi
có nhiều nhầm lẫn, không biết đích xác nguồn gốc của
những đoạn kinh điển trích dẫn đó. Vấn đề nầy thường
gặp nhất trong các trích dẫn từ Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya)
và Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya). Thí dụ có tác giả trích
dẫn một đoạn kinh trích từ "S.i.100", có tác giả ghi
là "S III:iii.5", có người ghi là "S 3:25", và người
khác lại ghi là "SN III.25". Trong các bài viết tiếng
Việt, có tác giả ghi theo tên kinh Pali, nhưng cũng có người
ghi theo bản dịch Việt như "Tư, q.1, t.223", làm người
đọc cảm thấy rối ren, không biết rằng thật ra các tác
giả nầy đều trích dẫn từ cùng một bài kinh (Pabbatopama
Sutta, Kinh Dụ Hòn Núi).
Trong
bài nầy, người viết xin mạn phép được trình bày tóm tắt
các quy ước thường dùng để giúp quý độc giả có một
nhận định rõ ràng hơn về các phương cách trích dẫn kinh
điển Pali.
I.
Quy ước PTS
Hội
Kinh Ðiển Pali (The Pali Text Society, PTS) có hai cách viết tắt
tên kinh: cách xưa trong quyển từ điển Pali Text Society Dictionary,
và cách mới trong quyển Critical Pali Dictionary. Trong hơn
100 năm qua, Hội PTS lần lượt xuất bản các kinh điển Pali
được ghi lại bằng mẫu tự La-tinh và các bản dịch Anh
ngữ. Cách đánh số, kể cả các bản Anh ngữ, đều được
quy chiếu vào bản Pali và số trang ghi trong bản Pali, và các
nhà Phật học ngày nay cũng thường căn cứ theo cách đánh
số nầy.
1.
Luật Tạng (Vinaya Pitaka, Vin)
Có
5 quyển Luật, được trích dẫn qua tên: "Vin quyển (số
La-mã) số trang". Thí dụ: "Vin III 59" là đoạn
văn trong quyển III của Luật tạng, tương ứng với trang 59
của bản Pali. Cần ghi nhận ở đây là mặc dù đoạn văn
đó có thể được trích từ bản dịch Anh, Pháp, Ðức, Việt,
v.v., đoạn văn đó luôn luôn được quy chiếu về bản gốc
Pali trong trang 59.
2.
Kinh Tạng (Sutta Pitaka)
Kinh
tạng gồm có năm bộ chính:
2.1.
Trường Bộ (Digha Nikaya, DN hoặc D): Hội PTS xuất bản 3 quyển,
gồm 34 bài kinh. Quy ước trích dẫn: "DN số quyển (số
La-mã) số trang". Thí dụ "DN III 33" là đoạn văn
trong quyển III của Trường Bộ, tương ứng với trang 33 của
bản Pali. Có nhiều tác giả không trích số quyển mà chỉ
trích số bài kinh, thí dụ: "DN 12", nghĩa là bài kinh
số 12 của Trường Bộ. Tuy nhiên, vì các bài kinh trong bộ
nầy là các bài kinh dài, trích dẫn như thế thường không
được chính xác, và cần phải ghi thêm số đoạn kinh của
bài kinh đó
2.2.
Trung Bộ (Majjhima Nikaya, MN hoặc M): Gồm 152 bài kinh, xuất
bản thành 3 quyển: quyển I gồm 50 bài, quyển II gồm 50 bài,
và quyển III gồm 52 bài còn lại. Quy ước trích dẫn: "MN
số quyển (số La-mã) số trang". Thí dụ: "MN I 350"
là đoạn kinh trong quyển I, tương ứng với trang 350 của bản
Pali. Có tác giả chỉ trích số bài kinh và số đoạn, thí
dụ: "MN 52.3" tương ứng đoạn kinh trên, nhưng được
hiểu là đoạn 3 trong bài kinh số 52.
2.3.
Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya, SN hoặc S): gồm 7762 bài kinh,
kết nhóm lại theo chủ đề trong 56 phẩm, và được xuất
bản thành 5 quyển. Quy ước trích dẫn: "SN số quyển
(số La-mã) số trang". Thí dụ: "SN III 79" là đoạn
kinh trong quyển III, tương ứng với trang 79 của bản Pali.
Vì đây là đa số các bài kinh nầy rất ngắn, có người
trích dẫn chi tiết hơn, với số phẩm và số đoạn, như
"SN II.XV.I.2", nghĩa là đoạn kinh tương ứng với trang
2 của bản Pali, quyển II, phẩm XV, đoạn I.
Gần
đây, có khuynh hướng chỉ trích dẫn số phẩm và số bài
kinh mà thôi, theo quy ước: "SN số phẩm (số La-mã) số
bài kinh". Thí dụ: "SN III.25" hoặc "SN 3:25",
nghĩa là kinh số 25 trong phẩm III của Tương Ưng.
2.4.
Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya, AN hoặc A): gồm 9557 bài kinh, kết
nhóm theo số đề mục (pháp số) liệt kê trong bài kinh thành
11 chương, từ chương 1 (Một Pháp) đến chương 11 (Mười
Một Pháp), và được hội PTS xuất bản thành 5 quyển. Quy
ước trích dẫn: "AN số quyển (số La-mã) số trang".
Thí dụ: "AN IV 93" để chỉ đoạn kinh tương ứng với
trang 93 của bản Pali, trong quyển IV. Có người trích dẫn
số chương (nipata) và số phẩm (vagga), chẳng hạn "AN VI.VI.63"
nghĩa là đoạn kinh tương ứng với trang 63 của bản Pali,
trong phẩm VI của chương VI.
Gần
đây, có khuynh hướng chỉ trích dẫn: "số chương và số
kinh trong chương". Thí dụ: "AN VI:78" hoặc "AN 6:78",
nghĩa là đoạn văn trong kinh số 78 của chương pháp số VI.
Cũng có tác giả trích dẫn: "số chương, số phẩm, số bài
kinh trong phẩm".
2.5.
Tiểu Bộ (Khuddaka Nikaya, KN hoặc K):
Ðây
là tập hợp 15 tập kinh, có nhiều bài kệ, trong đó có những
bài ghi lại trong thời nguyên khai, và cũng có bài được ghi
lại về sau nầy trước khi được đúc kết và viết xuống
giấy.
(a)
Tiểu bộ tập (Khuddakapatha, Khp hoặc Kh): Gồm 9 bài kinh ngắn
gồm nhiều câu kệ, thường được trích dẫn như: "Khp
số bài kinh (số câu kệ)". Thí dụ: "Khp IX" là
bài kinh Từ Bi (Metta Sutta), kinh số 9.
(b)
Pháp cú (Dhammapada, Dhp hoặc Dh): gồm 423 câu kệ, trích dẫn
bằng số câu kệ: "Dhp số câu kệ". Thí dụ: "Dhp
100" là câu kệ 100 trong kinh Pháp Cú.
(c)
Phật tự thuyết (Udana, Ud): gồm 80 bài kinh, trích dẫn như:
"Ud số bài kinh (số La-mã) số câu kệ". Thí dụ:
"Ud III 4" là câu kệ số 4 của bài kinh số 3 trong kinh
Phật tự thuyết. Ðôi khi cũng được trích dẫn theo số trang
trong bản Pali.
(d)
Phật thuyết như vậy (Itivuttaka, It): gồm 112 bài kinh ngắn,
trong 4 chương. Trích dẫn như: "It số chương (số La-mã)
số bài kinh", hoặc "It số trang Pali". Thí
dụ: "It IV 102" là bài kinh 102 trong chương 4.
(e)
Kinh tập (Suttanipata, Sn): gồm 71 bài kinh kệ trong 5 chương,
có những bài kệ được xem là xưa cổ nhất (chương IV, phẩm
Tám). Trích dẫn theo quy ước: "Sn số câu kệ",
hoặc "Sn số chương số bài kinh số câu kệ".
Thí dụ: Kinh Một sừng tê ngưu (Sn I 3) là bài kinh số 3, chương
I, của Kinh tập.
(f)
Thiên cung sự (Vimanavatthu, Vv): gồm 85 chuyện trên các cung
trời, trong 7 chương. Trích dẫn như: "Vv số chương (số
La-mã) số bài kinh số bài kệ".
(g)
Ngạ quỷ sự (Petavatthu, Pv): gồm 51 bài kinh về chuyện ngạ
quỷ, trong 4 chương. Trích dẫn như: "Pv số chương (số
La-mã) số bài kinh số bài kệ".
(h)
Trưởng lão tăng kệ (Theragatha, Th hoặc Thag): gồm 207 bài
kinh chứa các câu kệ của 264 vị trưởng lão đệ tử của
Ðức Phật. Quy ước trích dẫn: "Th số câu kệ".
(i)
Trưởng lão ni kệ (Therigatha, Thi hoặc Thig): gồm 73 bài kinh
chứa các câu kệ của 73 vị trưởng lão ni đệ tử của
Ðức Phật. Quy ước trích dẫn: "Thi số câu kệ".
(j)
Bổn sanh (Jataka, J): Ðây là tập hợp 547 câu chuyện tiền
thân của Ðức Phật. Hội PTS xuất bản chung với phần chú
giải (Jataka-Atthavannana, JA) thành một bộ 6 quyển. Quy ước
trích dẫn: "J số truyện", hoặc "J số quyển
(số La-mã) số trang Pali".
(k)
Nghĩa thích (Niddesa, Nd), gồm Ðại nghĩa thích (Mahaniddesa, NiddI
hoặc Nd1) và Tiểu nghĩa thích (Culaniddesa, NiddII hoặc Nd2) chứa
các bài luận giải của ngài Xá-lợi-phất. Quy ước trích
dẫn: "NiddI (hoặc NiddII) số trang Pali".
(l)
Vô Ngại Giải Ðạo (Patisambhida, Patis hoặc Ps): chia làm 3 phẩm,
mỗi phẩm chứa 10 đề mục, gồm các bài luận giải của
ngài Xá-lợi-phất. Hội PTS xuất bản thành 2 quyển. Quy ước
trích dẫn: "Patis số quyển (số La-mã) số trang Pali".
(m)
Thí Dụ (Apadana, Ap): gồm các chuyện, thể kệ, về cuộc đời
và tiền thân của 41 vị Phật Ðộc Giác, 550 vị tỳ khưu
A-la-hán và 40 vị tỳ khưu ni A-la-hán, được xuất bản thành
2 quyển. Quy ước trích dẫn: "Ap số quyển (số La-mã)
số trang Pali".
(n)
Phật Sử (Buddhavamsa, Bv): Gồm 29 đoạn với các bài kệ về
cuộc đời của Phật Thích Ca và 24 vị Phật trong quá khứ.
Quy ước trích dẫn: "Bv số đoạn (số La-mã) số câu
kệ".
(o)
Sở Hạnh Tạng (Cariya Pitaka, Cp): nói về 35 kiếp sống chót
của ngài Bồ Tát trước khi thành Phật Thích Ca, ghi lại 7
trong số 10 đức hạnh ba-la-mật của Bồ Tát. Quy ước trích
dẫn: "Cp số đoạn (số La-mã) số câu kệ".
3.
Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka)
Gồm
7 bộ:
3.1.
Pháp Tụ (Dhammasangani, Dhs): tóm tắt các pháp với định nghĩa
của mỗi pháp. Quy ước trích dẫn: "Dhs số trang Pali",
hoặc "Dhs số đề mục".
3.2.
Phân Tích (Vibhanga, Vibh hoặc Vbh): gồm 18 chương. Quy ước
trích dẫn: "Vibh số trang Pali".
3.3.
Chất Ngữ (Dhatukatha, Dhatuk hoặc Dhtk): luận giải về các
uẩn, xứ và giới. Quy ước trích dẫn: "Dhatuk số trang
Pali".
3.4.
Nhân Chế Ðịnh (Puggalapannatti, Pp hoặc Pug): về phân loại
các hạng người, gồm 10 chương. Quy ước trích dẫn: "Pp
số trang Pali" hoặc "Pp số chương số đoạn".
3.5.
Ngữ Tông (Kathavatthu, Kv hoặc Kvu): chi tiết về các tranh luận
để làm sáng tỏ các điểm trọng yếu trong đạo Phật, do
ngài Moggaliputta Tissa (Mộc-kiền-liên Tu-đế) đề xướng trong
Ðại hội Kết tập Kinh điển lần thứ 3 trong thời đại
vua A-dục (Asoka). Gồm 23 chương. Quy ước trích dẫn: "Kv
số trang Pali" hoặc "Kv số chương số đoạn".
3.6.
Song Ðối (Yamaka, Yam): Xuất bản thành 2 quyển, gồm 10 chương,
bao gồm các đề tài đặt ra dưới hình thức vấn đáp từng
đôi, theo chiều xuôi và chiều ngược. Quy ước trích dẫn:
"Yam số trang Pali".
3.7.
Vị Trí (Patthana, Patth hoặc Pt): Ðây là bộ lớn nhất, luận
giải chi tiết về nhân duyên và tương quan giữa các pháp,
gồm 4 đại phẩm. Mỗi đại phẩm lại chia làm 6 tiểu phẩm.
Quy ước trích dẫn: "Patth số trang Pali".
II.
Ðại tạng kinh Việt Nam
Trong
10 năm qua, Hội đồng Phiên dịch Ðại tạng kinh Việt Nam
đã lần lượt ấn hành các bộ kinh Việt ngữ dịch từ tạng
Pali (kinh Nikaya) và tạng Hán (kinh A-hàm). Ðến nay (1999), 27
quyển đã được ấn hành: Trường bộ (quyển 1-2), Trường
A-hàm (quyển 3-4), Trung bộ (quyển 5-7), Trung A-hàm (quyển 8-11),
Tương ưng bộ (quyển 12-16), Tạp A-hàm (quyển 17-20), Tăng
chi bộ (quyển 21-24), Tăng nhất A-hàm (quyển 25-27). Ngoài việc
đánh số thứ tự theo tiến trình in ấn, mỗi quyển kinh còn
có mã số: "A" là Kinh, "B" là Luật, "C" là
Luận, kế đó "p" là dịch từ bản gốc Pali và "a"
là dịch từ bản gốc Hán. Số cuối cùng là số thứ tự
trong Tam tạng kinh điển. Thí dụ: Tương ưng bộ có mã số
là "Ap3", nghĩa là Kinh (A) dịch từ tạng Pali (p),
và là bộ thứ 3 trong Kinh tạng Nguyên thủy.
Tuy
nhiên, vấn đề trích dẫn kinh điển trong các tài liệu, sách
báo Phật giáo hình như cũng chưa nhất quán, có khi dùng theo
các quy ước của hội PTS, có khi ghi lại tựa đề Việt ngữ,
có khi ghi số trang theo kinh điển bộ mới, cũng có khi ghi
theo số trang của bộ cũ, v.v. Mong rằng vấn đề nầy sẽ
được quý học giả Tăng Ni lưu tâm cứu xét để thiết lập
một quy ước chung và thống nhất trong việc trích dẫn kinh
điển bằng tiếng Việt.
Bình
Anson,
tháng
9-2000