Lợi
ích của thiền hành
Hòa
thượng U Silananda
Trong
các khóa thiền tập của chúng ta, các thiền sinh phải tập
chú niệm trong cả bốn tư thế đi, đứng, ngồi, nằm. Họ
phải duy trì chánh niệm trong mọi thời khắc, ở mọi tư
thế của họ. Tuy nhiên, tư thế chính trong khi thực tập quán
niệm là tư thế ngồi với chân xếp chéo. Bởi vì thân thể
con người không thể nào chịu đựng được cách ngồi nầy
trong nhiều giờ, nên chúng ta xen kẽ các suất ngồi thiền
với các suất đi kinh hành. Vì pháp Thiền Hành, hay đi kinh
hành, là một pháp thiền quan trọng, tôi muốn thảo luận
ở đây về bản thể, tầm quan trọng, và các lợi ích của
pháp thiền nầy.
Việc
thực hành thiền quán niệm có thể ví như việc đun nước.
Khi đun nước, ta đổ nước vào nồi, đặt nồi lên bếp,
rồi vặn lửa lên. Nếu ta tắt lửa dù chỉ một thời gian
ngắn, nước sẽ không bao giờ sôi, cho dù sau đó ta lại vặn
lửa lên nữa. Nếu ta cứ tắt và vặn lửa nhiều lần như
thế, nước sẽ không bao giờ sôi. Cũng như thế, nếu có
những khoảng hở giữa các thời khắc chánh niệm thì ta sẽ
không thể tạo được một xung lực và sẽ không đạt được
Chánh Ðịnh.
Vì
vậy, trong các khóa thiền, hành giả được hướng dẫn thực
tập chánh niệm liên tục khi họ tỉnh thức, từ lúc mở
mắt thức giấc vào buổi sáng cho đến khi bắt đầu ngủ
vào ban đêm. Từ đó, pháp thiền hành được dung hợp vào
công phu phát triển chánh niệm liên tục của mỗi hành giả.
Một
điều đáng buồn mà tôi thường nghe người ta chỉ trích
pháp thiền đi kinh hành, cho rằng qua pháp thiền nầy, hành
giả không thể thu lợi ích hoặc thành quả tốt đẹp nào.
Tuy nhiên, chính Ðức Phật là người đầu tiên dạy pháp
thiền hành. Trong kinh Ðại Tứ Niệm Xứ, Ðức Phật đã dạy
về pháp đi kinh hành hai lần. Trong đoạn "Các Oai nghi", Ngài
giảng rằng vị tỳ khưu phải biết "Tôi đang đi" khi người
ấy đi, phải biết "Tôi đang đứng" khi người ấy đứng,
phải biết "Tôi đang ngồi" khi người ấy ngồi, và phải
biết "Tôi đang nằm" khi người ấy nằm.
Trong
đoạn "Tỉnh giác", Ðức Phật dạy, "Vị tỳ khưu phải
biết áp dụng tỉnh giác khi đi tới và khi đi lui". Tỉnh
giác ở đây có nghĩa là thông hiểu chính xác những
gì ta đang quán sát. Ðể hiểu đúng những gì đang quán sát,
hành giả phải đạt chánh định, và muốn có chánh định,
hành giả phải biết quán niệm. Vì vậy, khi Ðức Phật nói,
"Nầy
các tỳ khưu, hãy áp dụng tỉnh giác," thì ta phải hiểu
rằng không phải chỉ áp dụng tỉnh giác, mà còn phải áp
dụng quán niệm và chánh định.
Như
thế, Ðức Phật đã dạy các thiền sinh áp dụng chánh niệm,
chánh định, và tỉnh giác khi bước đi, khi "đi tới và đi
lui." Do đó, đi kinh hành là một phần quan trọng trong tiến
trình thực tập thiền định.
1.
Ði kinh hành như thế nào?
Mặc
dù kinh Ðại Niệm Xứ không có ghi lại các chỉ dẫn chi tiết
của Ðức Phật về pháp thiền hành, chúng tôi tin rằng Ngài
đã dạy cho các vị đệ tử thực hành pháp nầy khi Ngài
còn tại thế. Các hướng dẫn đó hẳn đã được các môn
đệ của Ngài học, hành và truyền lại từ đời nầy sang
đời khác. Hơn nữa, các thiền sư thời xưa hẳn phải thiết
lập các công thức giảng dạy dựa vào sự thực tập của
các ngài ấy. Ngày nay, chúng ta đã được thừa hưởng một
bộ các lời chỉ dẫn chi tiết về phương cách thực tập
pháp thiền kinh hành.
Bây
giờ, ta hãy nói chi tiết về cách thực tập đi kinh hành.
Nếu bạn hoàn toàn là người mới bắt đầu, vị thiền sư
sẽ dạy cho bạn sự chánh niệm về một điều duy nhất khi
đi kinh hành: phải chánh niệm về động tác bước chân bằng
cách ghi nhận thầm lặng trong tâm là "bước, bước, bước",
hoặc là "trái, phải, trái, phải". Trong lúc thực tập nầy,
có thể là bạn sẽ bước chậm hơn thường ngày.
Sau
vài giờ thực tập, hoặc sau một hay hai ngày thiền tập,
bạn sẽ được chỉ dẫn đặt chú niệm vào hai động tác:
(i) bước, và (ii) đặt chân xuống, cùng lúc ấy ghi nhận
trong tâm là "bước đi, đặt xuống", hoặc "bước, đạp".
Bạn phải gắng chú tâm vào hai giai đoạn của một bước:
"bước đi, đặt xuống; bước đi, đặt xuống". Sau đó, bạn
sẽ được dạy đặt chú niệm vào ba giai đoạn: (i) dở chân
lên; (ii) đưa chân đến trước; và (iii) đặt chân xuống.
Sau đó nữa, bạn sẽ được dạy chú niệm vào bốn giai đoạn:
(i) dở chân lên; (ii) đưa chân đến trước; (iii) đặt chân
xuống; và (iv) chạm hoặc ấn bàn chân xuống đất (hay đạp
xuống). Lúc đó, bạn sẽ được chỉ dẫn là phải ghi nhận
trong tâm về bốn giai đoạn của động tác chân: "dở
lên, bước tới, đặt xuống, ấn xuống đất."
Ban
đầu, thiền sinh sẽ cảm thấy khó bước chậm lại. Tuy nhiên,
sau khi họ được hướng dẫn để tâm theo dõi vào mọi cử
động của chân, và khi họ thực sự chú tâm theo dõi chặt
chẽ, thì tự nhiên họ sẽ bước chậm lại. Họ không cần
phải cố gắng bước chậm, nhưng khi họ chú tâm thật kỹ,
các cử động chậm rãi sẽ tự động đến với họ. Khi
ta lái xe trên đường cao tốc, ta có thể phóng với tốc độ
100 km/giờ. Với tốc độ như thế, ta không thể nào quán
sát được tất cả các dấu hiệu bên đường. Nếu ta muốn
đọc được các dấu hiệu đó thì ta phải lái xe chậm lại.
Không cần phải có ai ra lệnh, "Chạy xe chậm lại!", người
tài xế sẽ tự động lái chậm lại nếu người ấy muốn
đọc các dấu hiệu bên đường. Cũng như thế, khi thiền
sinh theo dõi bám sát các cử động dở chân lên, đưa chân
ra trước, đặt xuống, và ấn chân xuống đất, họ sẽ tự
động bước chậm lại. Khi bước chậm lại, họ mới có
thể có chánh niệm và hoàn toàn nhận thức được các động
tác nầy.
Mặc
dù thiền sinh theo dõi bám sát và bước chậm lại, có thể
họ cũng vẫn chưa thấy rõ tất cả các động tác và các
giai đoạn của bước đi. Các giai đoạn nầy có thể chưa
được minh định trong tâm, và họ tưởng như là chúng kết
tạo thành một động tác liên tục. Khi sự định tâm gia
tăng mạnh hơn, thiền sinh sẽ dần dần thấy rõ hơn về các
giai đoạn khác nhau của một bước đi; và sẽ phân biệt
được bốn giai đoạn của động tác đó. Thiền sinh sẽ
nhận biết rõ ràng rằng cử động dở chân không trộn lẫn
với cử động đưa chân ra phía trước, và họ sẽ biết
rõ là cử động đưa chân ra trước không có lẫn lộn với
cử động đặt chân xuống hoặc cử động ấn bàn chân xuống
đất. Họ sẽ nhận biết rõ ràng và phân biệt được các
cử động nầy. Những gì họ quán niệm và tỉnh thức theo
dõi sẽ trở nên rõ ràng trong tâm thức của họ.
2.
Nhận thức được tứ đại
Khi
thiền sinh tiếp tục hành trì pháp kinh hành, họ sẽ quán
sát được nhiều sự kiện hơn. Khi họ dở chân lên, họ
thực nghiệm tánh thể nhẹ nhàng của bước chân. Khi đưa
chân ra trước, họ thực nghiệm được sự chuyển động
từ nơi nầy sang nơi khác. Khi đặt chân xuống, họ thực
nghiệm được tánh thể nặng nề của bàn chân, bởi vì bàn
chân sẽ trở nên nặng nề hơn khi nó từ từ đưa hạ xuống
đất. Khi bàn chân chạm đất, họ cảm nhận được sự chạm
xúc của gót chân với mặt đất. Do đó, cùng lúc với quán
sát sự dở chân, đưa ra trước, đặt xuống, và ấn xuống
đất, thiền sinh cũng sẽ cảm nhận được tánh thể nhẹ
nhàng của bàn chân đưa lên, chuyển động của chân, tánh
thể nặng nề khi hạ chân xuống, và sự chạm xúc của bàn
chân, sự cứng mềm của bàn chân trên nền đất.
Khi
thiền sinh cảm nhận được các tiến trình nầy, là họ đang
cảm nhận được bốn yếu tố cơ bản (tứ đại, dhatu).
Bốn yếu tố cơ bản đó là: đất, nước, lửa, gió.
Bằng cách thật sự theo dõi bốn giai đoạn của bước đi
kinh hành, bản chất của bốn yếu tố nầy được cảm nhận,
không phải chỉ là các khái niệm, mà là các tiến trình thật
sự, như là các thực tại tối hậu (chân đế).
Bây
giờ, chúng ta hãy đi vào chi tiết hơn về đặc tính của
các yếu tố nầy khi đi kinh hành. Trong động tác thứ nhất,
khi dở bước chân lên, thiền sinh cảm nhận được sự nhẹ
nhàng; và khi họ cảm nhận được sự nhẹ nhàng, họ hầu
như cảm nhận được yếu tố lửa. Một đặc tính của yếu
tố lửa là làm cho sự vật nhẹ nhàng hơn, vì khi nhẹ nhàng
hơn thì chúng sẽ bay lên. Trong khi cảm nhận được sự nhẹ
nhàng của động tác đưa lên, thiền sinh cảm nhận được
bản chất của yếu tố lửa. Tuy nhiên, ngoài sự nhẹ nhàng
cũng còn có sự chuyển động khi dở chân lên. Chuyển động
là một đặc tính của yếu tố gió. Tuy nhiên, sự nhẹ nhàng
của yếu tố lửa thì bao trùm hơn. Cho nên ta có thể nói
rằng trong giai đoạn dở chân lên, yếu tố lửa là chánh
và yếu tố gió là phụ. Hai yếu tố nầy được thiền sinh
cảm nhận khi họ chú tâm theo dõi động tác dở chân lên.
Giai
đoạn kế tiếp là đưa chân ra trước. Khi di chuyển bàn chân
ra trước, yếu tố bao trùm là yếu tố gió, bởi vì chuyển
động là một trong các đặc tính chủ yếu của yếu tố
gió. Vì vậy, khi thiền sinh chú tâm vào sự chuyển động
đưa chân ra trước trong khi đi kinh hành, họ hầu như sẽ
cảm nhận được bản chất của yếu tố gió.
Giai
đoạn tiếp theo là sự chuyển động đặt chân xuống. Khi
thiền sinh đặt chân xuống, có một sự nặng nề nơi bàn
chân. Tính nặng nề là một đặc tính của yếu tố nước,
như thể đang nhỏ giọt và sền sệt. Khi một chất lỏng
có tính nặng nề, nó trở nên sền sệt, dính nhờn. Như thế,
khi thiền sinh cảm nhận tính nặng nề của bàn chân, họ
hầu như cảm nhận được thể tính của yếu tố nước.
Khi
ấn bàn chân xuống đất, thiền sinh cảm nhận được tính
chất cứng hoặc mềm của bàn chân trên mặt đất. Ðiều
nầy đưa đến thể tính của yếu tố đất. Bằng cách chú
tâm vào sự đè ấn của bàn chân xuống đất, thiền sinh
hầu như cảm nhận được thể tính của yếu tố đất.
Như
vậy, chỉ trong một bước đi, thiền sinh nhận thức được
nhiều tiến trình. Họ cảm nhận được bốn yếu tố đất,
nước, lửa, gió và thể tính của chúng. Chỉ có những thiền
sinh nào chịu khó thực tập như thế mới có hy vọng nhận
thấy được các điều nầy.
3.
Tuệ Danh-Sắc
Khi
thiền sinh tiếp tục hành trì pháp thiền kinh hành, họ sẽ
nhận thức được rằng cùng với mỗi cử động, sẽ có
một tâm ghi nhận, một sự tỉnh giác về cử động đó.
Có một chuyển động dở bước chân lên và cũng có một
cái tâm để nhận thức sự dở bước đó. Trong thời khắc
kế tiếp, có một chuyển động đưa chân ra trước và cũng
có một cái tâm nhận thức sự chuyển động. Hơn nữa, thiền
sinh sẽ thấy rằng cả sự chuyển động và sự nhận thức
cùng sinh khởi và hủy diệt trong thời khắc đó. Qua giai đoạn
kế tiếp, có một chuyển động đưa chân xuống và cũng có
một tâm nhận thức sự chuyển động; và cả hai cùng sinh
khởi và hoại diệt ngay khi đặt chân xuống đất. Một tiến
trình tương tự xẩy ra khi ấn chân xuống đất: có sự đè
ấn và sự nhận thức về đè ấn. Bằng cách nầy, thiền
sinh hiểu rằng song song với sự chuyển động của chân là
có các thời khắc của sự nhận thức.
Sự
nhận thức trong các lúc như thế gọi là Danh (nama)
hay Tâm, và sự chuyển động của chân gọi là Sắc
(rupa) hay Vật chất. Như thế, thiền sinh sẽ cảm nhận
được tâm và vật chất khởi sinh và hoại diệt trong mỗi
thời khắc. Thời khắc nầy có sự dở bước chân và sự
nhận thức về dở chân lên, và thời khắc kế là có sự
chuyển động đưa chân ra trước và sự nhận thức về chuyển
động đó, và cứ tiếp tục như thế. Ðiều nầy được
cảm nhận như là một cặp, danh và sắc, khởi sinh và hoại
diệt trong từng thời khắc. Như thế, nếu thiền sinh theo
dõi chặt chẽ, họ sẽ tiến đến sự cảm nhận về sự
hiện diện của cặp danh-sắc, tâm và vật chất, trong mỗi
lúc quán sát.
Một
điều khác nữa mà thiền sinh sẽ khám phá ra là vai trò của
ý định, chi phối từng động tác. Họ sẽ trực nhận được
rằng họ dở chân lên là vì họ muốn như thế, họ đưa
chân ra trước là vì họ muốn như thế, họ đặt chân xuống
là vì họ muốn như thế, họ ấn bàn chân xuống đất là
vì họ muốn như thế. Có nghĩa là họ sẽ trực nhận rằng
có một ý định xẩy ra trước mỗi động tác. Sau khi có
ý định dở chân, là dở chân xẩy ra. Từ đó, họ thông
hiểu được tính "duyên sinh" của mọi sự kiện - các động
tác nầy không thể tự xẩy ra nếu không có những điều
kiện. Các động tác nầy không tạo ra bởi thần linh hay một
quyền lực nào, và các động tác nầy không bao giờ xẩy
ra nếu không có nguyên nhân. Có một nguyên nhân hay một điều
kiện cho mỗi động tác, và điều kiện đó chính là ý định
tiên khởi xẩy ra trước mỗi động tác. Ðây là điều mà
thiền sinh sẽ khám phá được khi họ chuyên chú quán sát.
Khi
thiền sinh thông hiểu được tính duyên sinh của mọi động
tác, và các động tác nầy không do thần linh hay quyền lực
nào tạo ra, họ sẽ thông hiểu được rằng các động tác
đó là do ý định. Họ thông hiểu được rằng ý định là
điều kiện để động tác được xẩy ra.
Từ
đó, sự liên hệ giữa cái tạo điều kiện và cái bị điều
kiện, giữa nguyên nhân và hậu quả, được hiểu rõ. Trên
cơ sở của sự hiểu biết nầy, thiền sinh sẽ gỡ bỏ các
nghi ngờ về Danh và Sắc qua sự nhận thức rằng danh và sắc
không thể khởi sinh nếu không có điều kiện. Với sự thông
hiểu rõ ràng về tính duyên sinh của vạn vật, và với sự
vượt thoát các nghi ngờ về danh và sắc, người thiền sinh
được xem như là đã đạt đến giai đoạn của một vị
"cận
Tu Ðà Hoàn" (tiểu Tu Ðà Hoàn, cula-sotapanna).
Tu
Ðà Hoàn là người "nhập dòng" (dự lưu), người đã đạt
được quả vị đầu tiên của sự giác ngộ. Vị "cận Tu
Ðà Hoàn" không phải là một người "dự lưu" thực thụ,
nhưng được xem như là sẽ được tái sinh trong các cõi tương
đối an nhàn sung sướng, như là cõi người và cõi tiên. Người
"cận Tu Ðà Hoàn" không thể tái sinh trong bốn cõi đau đớn
như là địa ngục, thú, cõi a-tu-la, ngạ quỉ.
Mức
độ "cận Tu Ðà Hoàn" nầy có thể đạt được bằng cách
hành trì pháp thiền kinh hành, luôn luôn chú tâm vào các động
tác của bước đi. Ðây là lợi ích lớn nhất của pháp thiền
kinh hành. Tầng giác ngộ nầy cũng không phải dễ đạt được,
nhưng một khi thiền sinh đã đạt đến đó, họ biết chắc
rằng họ sẽ được tái sinh trong một cõi sung sướng, trừ
phi họ lại tạo nghiệp ác mà sa đọa.
4.
Tam pháp ấn
Khi
thiền sinh thông hiểu danh và sắc được sinh khởi và hủy
diệt trong mỗi thời khắc, họ sẽ thông hiểu được sự
vô thường của các tiến trình bước đi, và họ cũng thông
hiểu được sự vô thường của nhận thức về bước đi
đó. Sự hiện hữu của hoại diệt tiếp theo sinh khởi là
dấu hiệu hoặc đặc tính của một sự vật gì đó mà ta
biết rằng nó không thường tồn. Nếu ta muốn xác định
một vật gì đó là thường tồn hay vô thường, ta phải cố
gắng xem xét - qua năng lực của thiền định - rằng vật
đó có phải là đối tượng của một tiến trình sinh khởi
rồi hoại diệt hay không. Nếu khả năng thiền định của
ta có đủ năng lực giúp ta thấy được sự sinh diệt của
hiện tượng, thì lúc đó ta mới có thể quyết định hiện
tượng được quán sát đó là vô thường. Bằng cách đó,
thiền sinh quán sát được sự hiện hữu của chuyển động
dở chân và sự nhận thức của chuyển động đó, rồi chúng
lại biến mất đi, nhường chỗ cho chuyển động đưa chân
ra trước và nhận thức về chuyển động đưa chân ra trước.
Các động tác nầy sinh rồi diệt, sinh rồi diệt, và thiền
sinh tự mình thông hiểu được tiến trình nầy - họ không
cần phải chấp nhận hay tin tưởng điều nầy qua một quyền
lực ngoại vi nào, mà cũng không cần phải dựa vào báo cáo
của một người nào khác.
Khi
thiền sinh thông hiểu danh và sắc khởi sinh rồi hoại diệt,
họ thông hiểu danh và sắc là vô thường. Khi họ thấy chúng
là vô thường thì tiếp theo là họ sẽ thấy chúng là những
gì bất toại ý bởi vì chúng luôn luôn bị trạng thái sinh
diệt áp bức và đè nén. Sau khi thông hiểu tính vô thường
và bất toại ý của vạn vật, thiền sinh thấy rằng họ
không thể làm chủ được chúng; có nghĩa là họ trực nhận
rằng không có một bản ngã hay linh hồn nào bên trong để
ra lệnh cho chúng được thường tồn. Sự vật chỉ sinh khởi
rồi hoại diệt theo luật thiên nhiên. Nhờ thấu hiểu như
thế, thiền sinh thấu hiểu được đặc tính thứ ba của
các hiện tượng hữu vi - tùy thuộc điều kiện, đặc tính
của vô ngã, một đặc tính của mọi vật vốn
không có bản ngã. Một ý nghĩa khác của vô ngã là không
có chủ nhân - nghĩa là không có một thực thể nào, một
linh hồn nào, một quyền lực nào có thể làm chủ được
bản thể của vạn vật. Như thế, đến lúc đó, thiền sinh
đã thông hiểu được ba đặc tính của mọi hiện tượng
hữu vi, hay Tam Pháp Ấn: vô thường (anicca), khổ
(dukkha), và vô ngã (anatta).
Thiền
sinh có thể thông hiểu được ba đặc tính nầy qua cách theo
dõi bám sát các động tác bước đi và các nhận thức của
động tác. Khi chuyên tâm chú niệm vào các chuyển động nầy,
họ sẽ thấy vạn vật khởi sinh và hoại diệt, và từ đó,
họ sẽ tự mình nhận thức được tính vô thường, khổ,
và vô ngã của tất cả mọi hiện tượng hữu vi.
5.
Tâm Xả Ly
Bây
giờ chúng ta hãy khảo sát chi tiết về các động tác của
đi kinh hành. Giả sử ta quay phim, thu hình các bước chân dở
lên. Giả sử thêm rằng khi dở chân lên thì mất một giây
đồng hồ, và giả sử rằng máy quay phim có thể chụp được
36 ảnh trong mỗi giây. Sau khi quay phim, ta nhìn lại từng tấm
ảnh trong cuộn phim. Ta sẽ thấy rằng mặc dù dở bước chân
lên có vẻ chỉ là một động tác, nhưng thực ra là 36 sự
chuyển động. Mỗi tấm ảnh cho ta thấy các cử động khác
nhau, mặc dù sự khác biệt nầy rất nhỏ mà ta thường không
để ý đến. Nếu máy quay phim đó có thể chụp được một
ngàn tấm ảnh trong một giây thì sao? Lúc đó, ta lại sẽ
thấy có một ngàn động tác trong một chuyển động dở bước
chân, cho dù các động tác nầy hầu như khó mà phân biệt
được. Nếu máy quay phim có thể chụp một triệu tấm ảnh
trong một giây - điều nầy chưa xẩy ra, nhưng một ngày nào
đó sẽ có như thế - thì lúc đó, ta sẽ thấy có một triệu
động tác trong một hiện tượng mà ta cho rằng chỉ có một
chuyển động duy nhất.
Nỗ
lực trong pháp thiền kinh hành là để thấy các chuyển động
của ta như là máy quay phim, từng tấm ảnh một. Ta cũng muốn
quán sát sự nhận thức và ý định trước mỗi chuyển động.
Như thế, ta mới khâm phục quyền lực trí tuệ minh sát của
Ðức Phật, qua đó Ngài đã thấy được tất cả mọi chuyển
động. Khi chúng ta dùng chữ "thấy" hay "quán sát" trong tình
huống của chúng ta thì chỉ có nghĩa là ta có thể thấy một
phần qua lối trực tiếp và một phần qua lối suy diễn; ta
không thể nào thấy trực tiếp cả triệu chuyển động như
Ðức Phật đã thấy.
Trước
khi thiền sinh thực tập pháp đi kinh hành, họ tưởng rằng
một bước đi chỉ là một động tác. Sau khi thiền quán về
động tác đó, họ thấy có ít nhất là bốn động tác. Nếu
họ quán sát sâu xa hơn, họ sẽ hiểu rằng mỗi một động
tác nầy lại bao gồm cả triệu động tác nhỏ khác. Như
thế họ thấy Danh và Sắc, tâm và vật chất, khởi sinh rồi
hoại diệt, như là vô thường. Bằng cảm nhận thông thường,
chúng ta không thể thấy tính vô thường của vạn vật vì
tính vô thường đó bị che phủ bởi một ảo tưởng của
sự liên tục. Ta tưởng rằng ta chỉ thấy có một động
tác liên tục, nhưng nếu ta nhìn kỹ hơn, ta sẽ thấy rằng
cái ảo tưởng về sự liên tục đó có thể bị phá vỡ.
Ảo tưởng đó bị phá vỡ bằng cách quán sát trực tiếp
các hiện tượng vật lý, từng phần, từng chút, khi chúng
khởi sinh và hoại diệt. Giá trị của thiền quán là ở khả
năng của ta để gỡ bỏ màn liên tục và khám phá thực chất
của vô thường. Thiền sinh có thể khám phá trực tiếp bản
chất của vô thường nầy qua nỗ lực của chính họ.
Sau
khi trực nhận rằng, mọi vật được cấu tạo bởi các phần
nhỏ, rằng chúng xẩy ra rời rạc, và sau khi quán sát từng
mảnh vụn một, thiền sinh sẽ trực nhận được rằng không
có gì trên đời để họ tham thủ, để họ thèm muốn. Nếu
ta thấy vật gì mà ta đã tưởng là đẹp nhưng lại có nhiều
lỗ trống, đang bị băng hoại và hủy diệt thì ta không còn
chú ý đến nó nữa. Thí dụ như khi ta xem một bức tranh sơn
dầu thật đẹp. Ta nghĩ rằng nước sơn và tấm vải dường
như là một thực thể rắn chắc, đồng nhất. Nhưng nếu
ta đưa bức tranh qua một kính hiển vi cực mạnh, ta sẽ thấy
bức tranh có nhiều lỗ hổng và khoảng trống. Sau khi thấy
bức tranh được cấu tạo bởi các khoảng trống, ta không
còn chú ý đến nó và không còn tham luyến nó nữa. Các nhà
vật lý học hiện đại biết rất rõ ý tưởng nầy. Họ
đã quan sát, với các dụng cụ cực mạnh, để thấy rằng
vật chất chỉ là sự giao động của các hạt tử và năng
lượng thay đổi luôn - không có một bản thể nào trong đó
cả. Bằng cách trực nhận sự vô thường bất tận đó, thiền
sinh thông hiểu rằng không có gì đáng để thèm muốn, không
có gì đáng để chấp thủ trong thế giới hiện tượng nầy.
6.
Kết luận
Giờ
đây, chúng ta đã hiểu được các lý do của pháp thiền kinh
hành. Ta hành trì thiền quán vì ta muốn gỡ bỏ mọi chấp
thủ và luyến ái vào sự vật. Qua sự thông hiểu ba đặc
tính của hiện hữu - vô thường, khổ, và vô ngã của vạn
vật - ta gỡ bỏ được sự luyến ái. Ta bỏ luyến ái vì
ta không muốn phiền não. Khi nào còn chấp thủ và luyến ái,
thì luôn luôn còn sự hoạn khổ. Nếu ta không muốn hoạn
khổ thì ta phải loại trừ chấp thủ và luyến ái. Ta phải
thông hiểu rằng mọi vật đều chỉ là danh và sắc khởi
sinh rồi hoại diệt, và chúng đều không có tự thể. Khi
ta thực chứng được điều nầy, ta sẽ có thể từ bỏ được
lòng chấp thủ vào mọi vật. Nếu ta không thực chứng được
như thế - cho dù chúng ta đọc nhiều sách, đi nghe nhiều buổi
thuyết giảng hoặc bàn luận về sự từ bỏ tham thủ - ta
sẽ không thể nào thoát khỏi được lòng chấp thủ. Ðiều
cần thiết là chính ta phải có một kinh nghiệm trực tiếp
để thật sự thấy rằng vạn vật hữu vi đều mang dấu
hiệu của vô thường, khổ và vô ngã.
Vì
thế, ta phải chú tâm quán niệm khi ta đi, cũng như khi ta ngồi
hoặc khi nằm xuống. Tôi không có chủ tâm cho rằng chỉ có
thiền kinh hành là đưa đến thực chứng tối hậu và khả
năng hoàn toàn từ bỏ lòng tham thủ. Tuy nhiên, pháp đi kinh
hành là một pháp thiền có giá trị như là pháp tọa thiền
và các pháp thiền minh sát (vipassana) khác. Ði kinh
hành khuyến khích phát triển tâm ý. Pháp nầy có nhiều sức
mạnh như là pháp quán niệm hơi thở hoặc pháp quán niệm
sự phồng xẹp của bụng. Ðây là một dụng cụ hữu hiệu
để giúp ta loại bỏ các tâm bất thiện. Ði kinh hành giúp
ta được minh triết để thấy thực chất của vạn vật,
và ta phải nỗ lực hành trì pháp nầy cũng như ta hành trì
pháp tọa thiền và các pháp thiền khác.
Qua
sự hành trì pháp thiền minh sát trong mọi tư thế, kể cả
trong lúc bước đi, tôi cầu mong bạn và tất cả các thiền
sinh đạt được sự thanh tịnh viên mãn ngay trong kiếp sống
nầy.
Bình
Anson lược dịch,
tháng
3-1997