Tứ
Niệm Xứ:
Bốn
nền tảng của Chánh Niệm
Tỳ
khưu Brahmavamso
Các
vị thiền sư Phật Giáo đã nói rất nhiều về cách hành
trì Pháp Tứ Niệm Xứ (Satipattana), ngoại trừ người
tu sĩ nầy. Cho nên, trong bài pháp ngắn hôm nay, tôi cũng xin
theo xu hướng đó để trình bày một vài điều quan sát thực
tế về pháp hành thiền nầy, vốn là một pháp giảng của
Ðức Phật mà có lẽ đã có nhiều ngộ nhận trong hàng thiền
sinh Phật Tử.
Các
bạn nào đã từng tham gia sinh hoạt tại các trung tâm Phật
Giáo thì chắc đã nghe nhiều vị thầy tuyên bố rằng Pháp
Tứ Niệm Xứ là "một con đường duy nhất" để tiến
đến Giác Ngộ. Mặc dù lời tuyên bố nầy có vẻ khẳng
định và hấp dẫn, nhưng thật ra, đó không phải là lời
phiên dịch chính xác của kinh điển Nguyên thủy và cũng không
nhất quán với những lời Phật dạy trong các bài kinh khác.
Cụm từ Pali "Ekayana Magga" trong bài kinh số 10 (kinh Tứ
Niệm Xứ) trong Trung Bộ thường được dịch là "Con đường
duy nhất" cũng được dùng trong bài kinh số 12 (đại kinh
Sư Tử Hống) và có ý nghĩa rõ ràng là "một con đường
với một mục đích duy nhất". Có nhiều con đường khác
nhau nhưng cùng chung một mục đích.
Thật
ra, "Con đường duy nhất" đã được Ðức Thế Tôn đề
cập đến, không phải là Tứ Niệm Xứ, mà là Con Ðường
Tám Chánh (Bát Chánh Ðạo), như trong kinh Pháp Cú:
"Trong
tất cả các con đường,
Con
Ðường Tám Chánh là thù thắng nhất (...).
Ðây
là con đường duy nhất,
Không
có con đường nào khác,
Để
đi đến tri kiến thanh tịnh"(...)
(Pháp
Cú, 273-274, giản lược)
Như thế,
"Con
đường duy nhất" đến Giác Ngộ, như mọi Phật Tử đều
đã biết rõ, là Bát Chánh Ðạo. Bốn nền tảng của
Chánh Niệm (Tứ Niệm Xứ) chỉ là một phần của con đường
đó. Ðó là chi phần thứ 7 (Chánh Niệm). Ngoài ra, còn có
Chánh Ðịnh là chi thứ 8, và cũng còn có Chánh Kiến, Chánh
Tư Duy, Chánh Tinh Tấn, và 3 chi của Chánh Giới (Chánh Ngữ,
Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng). Mỗi chi phần nầy đều cần
thiết như nhau để đạt Giác Ngộ. Nếu có chi phần nào mà
không cần thiết thì ắt hẳn Ðức Phật đã dạy về Ðạo
Bảy Chánh, Ðạo Sáu Chánh, v.v. Thế nhưng, trong kinh điển,
lúc nào Ngài cũng đề cập đến Ðạo Tám Chánh (Bát Chánh
Ðạo). Cho nên, trong công tác tu học và hành trì của mình,
các bạn cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng tất cả tám chi
phần của Bát Chánh Ðạo cần phải được tu dưỡng đồng
đều và trọn vẹn, như là "một con đường duy nhất"
.
Hành
trì pháp Tứ Niệm Xứ như lời Phật dạy là một công phu
rất cao cấp. Cao cấp đến nỗi mà Ðức Thế Tôn dạy rằng
nếu người nào có thể hành trì nghiêm túc bốn niệm xứ
đó theo phương cách mà Ngài đã đưa ra thì chỉ trong bảy
ngày, người đó có thể đạt Giác Ngộ hay đắc quả Bất
Lai (kinh Tứ Niệm Xứ). Nhiều thiền sinh đã từng tham dự
các khóa thiền 7 ngày, 10 ngày, hay nhiều hơn mà vẫn chưa
đạt được một kết quả cao quý nào như Ðức Phật đã
hứa hẹn. Tại sao thế? Tôi nghĩ rằng đó là vì họ đã
không thực hành nghiêm túc đúng theo những lời Phật dạy.
Nếu
bạn muốn thực hành pháp Tứ Niệm Xứ theo phương cách mà
Ðức Phật nói có kết quả nhanh chóng tiến đến Giác Ngộ,
thì có nhiều việc mà bạn cần phải hoàn tất trước khi
bạn bắt đầu quán niệm. Các công việc sửa soạn nầy có
thể tóm tắt như sau: - Bạn cần phải hành trì trọn vẹn
bảy chi phần kia của Bát Chánh Ðạo.
Hay
nói một cách khác, như Ðức Phật đã giảng trong Tăng Chi
Bộ (Chương Chín Pháp - Phẩm Niệm Xứ, kinh số 63 và 64),
bạn phải tuân giữ chặt chẽ 5 Giới luật, đoạn tận 5
Triền cái (tham lam, sân hận, hôn trầm, trạo hối, nghi ngờ),
rồi mới hành thiền Quán Niệm.
Các
điều kiện tiên quyết tối quan trọng nầy thật ra đã được
Ðức Phật giảng trong hai bài kinh về Tứ Niệm Xứ (trong
Trung Bộ và Trường Bộ) trong câu Pali: "Loke Abhijjha-Domanassam".
Câu nầy thường được dịch là: "sau khi nhiếp phục tham
lam và ưu sầu trên đời" hay tương tự như thế. Lời
dịch như vậy thường không được các thiền sinh hiểu rõ,
và có lẽ họ xem thường lời dạy đó của Ðức Phật, và
vì thế, họ đã không đạt được kết quả nào cả!
Vào
thời Ðức Phật còn tại thế, các vị tỳ khưu, tỳ khưu
ni, và cư sĩ ắt hẳn đã hiểu ngay câu nói đó có nghĩa là
"sau
khi đã đoạn tận năm Triền cái". Các bản chú giải chính
thống về hai bài kinh Tứ Niệm Xứ đều giải thích rõ ràng
rằng cụm từ Abhijjha-Domanassam là dùng để chỉ năm
Triền cái. Trong các bài kinh giảng khác của Ðức Phật, Abhijjha
là đồng nghĩa với Triền cái thứ nhất, Domanassam là
đồng nghĩa với Triền cái thứ nhì, và nếu dùng chung lại
với nhau - trong thành ngữ Pali - đó là cách viết tắt cho
nhóm năm Triền cái. Ðiều nầy có nghĩa là cả năm Triền
cái phải được đoạn tận trước khi bắt đầu hành trì
pháp Quán Niệm. Cho nên, theo ý kiến của tôi, chính vì các
thiền sinh cố hành thiền Quán Niệm trong khi vẫn còn vướng
mắc vào các Triền cái mà họ đã không đạt được kết
quả tốt, hay lâu dài.
Chức
năng của việc đem tâm an trú vào các tầng thiền-na (Jhana)
- chi phần Chánh Ðịnh của Bát Chánh Ðạo - là để đoạn
tận tất cả năm Triền cái để giúp triển khai tuệ Minh
sát. Trong bài kinh số 68 của Trung Bộ (kinh Nalakapana),
Ðức Phật dạy rằng khi hành giả chưa đạt các tầng thiền-na,
năm Triền cái cùng với bất lạc và giải đãi sẽ xâm chiếm
tâm và trú tại đó. Chỉ khi nào hành giả đạt vào các tầng
thiền-na thì năm Triền cái cùng với bất lạc và giải đãi
mới không xâm chiếm tâm và không trú tại đó. Ðức Phật
đã dạy rõ ràng như thế.
Thiền
sinh nào đã trực nghiệm được các tầng thiền-na mạnh mẽ
nầy thì ắt đã biết được, qua kinh nghiệm bản thân, bản
chất thật sự của tâm sau khi các Triền cái đã đoạn tận.
Thiền sinh nào chưa biết các tầng thiền-na thì chưa hiểu
rõ các dạng vi tế của các Triền cái. Họ tưởng rằng các
Triền cái đã đoạn tận, nhưng thật ra, họ đã không nhận
thức được chúng, và vì thế, đã không đạt kết quả tốt
trong khi hành thiền.
Do
đó, pháp hành Thiền An Chỉ (Samatha) để nuôi dưỡng
các tầng thiền-na là một phần của pháp Quán Niệm, và vì
thế nếu cho rằng pháp Quán Niệm (Satipattana) là một
pháp "Thiền Minh Sát thuần túy" (Vipassana) thì điều
nầy không được chính xác cho lắm. Vị thầy của tôi, ngài
thiền sư Ajahn Chah, đã nói đi nói lại nhiều lần rằng Samatha
và Vipassana - An Ðịnh và Minh Sát; Chỉ và Quán - phải
đi đôi với nhau, không thể tách rời được, như thể hai
mặt của một đồng tiền.
Sau
khi đã kiên trì hoàn tất các công tác sửa soạn cần thiết,
thiền sinh giờ đây có thể an trú chánh niệm vào một trong
bốn đề mục: thân thể của mình, các cảm thọ đau đớn
hay hỷ lạc, tâm thức, và đối tượng của tâm (thân, thọ,
tâm, pháp). Khi các Triền cái đã tàn lụi và thiền sinh có
thể duy trì định lực vững mạnh để chú niệm vào các
đề mục nầy, thì lúc đó thiền sinh mới có thể quán chiếu
được phần sâu thẳm trong tâm thức, sâu hơn cả các nhận
thức thông thường, về tính chất vô thường của cái gọi
là Tự Ngã mà chúng ta thường bám víu vào đó.
Chúng
ta thường cho rằng thân thể nầy là tôi, là của tôi, rằng
các cảm thọ sướng hay khổ là có liên quan với cái tôi,
rằng cái tâm đang quán sát chính là linh hồn của tôi, rằng
các đối tượng của tâm như là ý nghĩ và hành thức (tác
nhân "chọn lựa") là Tự Ngã, là tôi, là của tôi. Mục
đích của Tứ Niệm Xứ là để hướng dẫn thiền sinh phải
làm gì sau khi đã thoát ra các tầng thiền-na, để khám phá
ra cái ảo tưởng đã được ngụy trang khéo léo của cái
gọi là Tự Ngã, và từ đó thấy được điều mà Ðức Phật
đã khám phá, đó là Chân Lý của Vô Ngã.
Ðây
không phải là điều dễ làm, không phải bất cứ người
nào cũng làm được trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, đó
là điều khả thi, có thể hoàn tất được trong bảy ngày,
với điều kiện là thiền sinh phải hành trì trọn vẹn
và nghiêm chỉnh theo những lời Ðức Phật dạy mà
không đi theo một ngõ tắt nào khác.
Bình
Anson lược dịch,
tháng
8-1997