Ðạo
và Quả
Ni
sư Ayya Khema
Tham
vọng dường như là một hiện tượng tự nhiên của con người.
Có người muốn giàu, có quyền thế hoặc danh vọng. Có người
muốn có nhiều kiến thức, có bằng cấp. Có người chỉ
muốn có một tổ ấm nhỏ và từ đó họ có thể ngắm nhìn
quang
cảnh giống nhau mỗi ngày. Có người muốn tìm một người
tình lý tưởng, hoặc càng gần lý tưởng càng tốt.
Ngay
khi chúng ta không sống trong thế gian, chỉ sống trong ni viện,
chúng ta cũng có nhiều tham vọng: muốn trở thành thiền giả
thượng hạng, muốn có an định toàn hảo, muốn cách sống
nầy tạo ra kết quả tốt. Lúc nào cũng có một điều gì
đó để ta hy vọng. Tại sao thế? Bởi vì đó là điều sẽ
xảy ra trong tương lai, không bao giờ có trong hiện tại.
Thay
vì chú tâm vào hiện tại, ta lại cầu mong điều tốt đẹp
hơn sẽ đến, có lẽ trong ngày mai. Thế nhưng khi ngày mai
đến, ta lại mong đến ngày kế, vì nó cũng chưa đủ toàn
hảo. Nếu ta thay đổi thói quen trong tư duy của mình và chú
tâm vào cái đang hiện hữu, chừng đó ta sẽ tìm được một
điều gì đó làm ta hài lòng. Nhưng khi ta chỉ tìm kiếm những
gì chưa hiện hữu, mong rằng có thể toàn hảo hơn, kỳ diệu
hơn, thỏa mãn hơn, ta sẽ không thể tìm được gì cả, bởi
vì ta chỉ tìm kiếm cái mà nó không hiện diện ở đó.
Ðức
Phật nói về hai hạng người, người tầm thường (phàm
nhân, puthujjana) và người cao sang (thánh nhân, ariya).
Dĩ nhiên, ai cũng mong ước trở thành thánh nhân, nhưng nếu
chúng ta chỉ mong cầu điều đó trong một tương lai nào đó,
ta sẽ không đạt được. Sự khác biệt giữa một thánh nhân
và phàm nhân là sự thực chứng về "đạo và quả" (magga-phala).
Giây khắc đầu tiên khi tâm thức đạt đến trạng thái siêu
thế này được gọi là Dự-lưu (sotapatti) và người
chứng nghiệm điều đó gọi là Dự-lưu nhân (sotapanna),
người nhập dòng suối đưa đến Niết-bàn.
Nếu
ta đem điều đó vào lòng như là một mục tiêu cho tương
lai, điều đó sẽ không xảy ra, bởi vì ta không đem hết
năng lực và sức mạnh để chú niệm từng giây khắc. Chỉ
khi nào tâm chú niệm vào từng giây khắc thì chập tâm Ðạo
(sát-na tâm Ðạo) giải thoát mới có thể xảy ra.
Yếu
tố phân biệt một thánh nhân với phàm nhân là sự đoạn
diệt ba kiết sử đầu tiên đã trói buộc ta vào luân hồi
miên viễn. Ba kiết sử này là: thân kiến, hoài nghi,
và giới cấm thủ (sakkayaditthi, vici-kiccha, silabbatta
paramasa). Người nào chưa phải là bậc Dự lưu thì người
ấy vẫn còn bị trói buộc vào ba loại tà kiến này và hành
động sai lầm vốn đem ta xa rời sự tự do và đưa ta vào
trói buộc.
Hãy
thử nhìn vào sợi dây "hoài nghi" trước. Ðó là ý tưởng
vụn vặt lúc nào cũng ám ảnh trong đầu óc: "Chắc là có
một pháp tu khác, dễ dàng hơn", hoặc "Tôi biết chắc là
tôi có thể tìm được an lạc ở một nơi nào đó trong thế
gian rộng lớn nầy". Khi nào vẫn còn sự nghi ngờ về con
đường giải thoát khỏi thế gian và vẫn còn sự tin tưởng
rằng những điều toại ý có thể tìm ra được trong thế
gian, khi đó sẽ không có cơ hội để đắc quả thánh, bởi
vì ta đang nhìn lầm hướng. Trong thế gian nầy với con người
và vật chất, tài vật và sự chiếm hữu, quang cảnh và các
tiếp xúc qua giác quan, không còn có một cái gì khác ngoài
những gì chúng ta đã từng quen biết. Nếu còn có gì khác,
tại sao chúng lại không được xác nhận, tại sao ta đã không
tìm ra? Ðiều nầy thật hiển nhiên. Thế nhưng tại sao ta
lại phải tìm kiếm chúng?
Dĩ
nhiên là chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc và an bình, cũng
như những người khác. Hoài nghi, anh chàng báo động, bảo:
"Tôi chắc là nếu tôi thử tu tập một cách thông minh hơn
là phương cách vừa qua, tôi sẽ được hạnh phúc. Còn có
vài điều nữa mà tôi chưa thử qua." Có thể ta chưa tự mình
lái chiếc máy bay của riêng mình, chưa thử sống trong hang
động Hy mã lạp sơn, chưa từng dùng thuyền chu du thế giới,
chưa từng viết một quyển tiểu thuyết bán chạy nhất. Tất
cả các điều nầy thật là huy hoàng để thực hiện trong
cõi đời, nhưng chúng chỉ là những phí phạm thì giờ và
năng lực.
Hoài
nghi hiện rõ ra khi ta không biết chắc là trong bước kế tiếp,
ta sẽ phải làm gì. "Khi tôi đến đó, tôi sẽ phải làm gì?"
Ta chưa định hướng được. Hoài nghi là một kiết sử trong
tâm khi chưa có được một sự minh bạch rõ ràng vốn bắt
nguồn từ sát-na tâm nhập Ðạo. Tâm thức khởi sinh ngay trong
giây khắc đó sẽ hủy diệt mọi hoài nghi bởi vì lúc đó,
ta tự thực chứng được con đường. Cũng như khi ta cắn
quả xoài, ta biết được ngay cái vị của nó.
Nhận
thức sai lầm về tự ngã là một kiết sử gây nhiều tổn
hại nhất và vây hãm phàm nhân. Nó chứa đựng ý tưởng
chôn sâu trong tâm về "đây là tôi". Có thể cái ngã đó không
phải là cái thân "của tôi", nhưng có "một người nào đó"
đang hành thiền. Cái "một người nào đó" nầy đang muốn
giác ngộ, muốn đắc quả Dự-lưu, muốn được hạnh phúc.
Tà kiến về tự ngã nầy là nguyên nhân của mọi vấn đề
đang khởi sinh.
Chừng
nào vẫn còn có ý tưởng có "một người nào đó", ta vẫn
còn nhiều vấn đề. Nếu ở đó không có một người nào
cả, thì ai đang gặp khó khăn đây? Tà kiến về tự ngã là
gốc rễ tạo ra sự đau đớn, buồn rầu và than thở. Kèm
theo với nó là sự sợ hãi và lo lắng: "Không biết tôi sẽ
an toàn, hạnh phúc, thanh bình, tìm được cái tôi đang tìm
kiếm, đạt được điều tôi mong muốn như là an lạc, giàu
có và khôn ngoan không?" Những nỗi lo lắng và sợ hãi nầy
được hỗ trợ bằng các kinh nghiệm cá nhân trong quá khứ.
Trong quá khứ, ta đã không bao giờ khỏe mạnh, giàu có và
khôn ngoan, đã không thể đạt được điều mong muốn, đã
không có cảm giác kỳ diệu. Do đó, đây là lý do mạnh mẽ
để ta lo lắng và sợ sệt, chừng nào vẫn còn các tư tưởng
sai lầm về tự ngã bao trùm.
Lễ
nghi và cúng tế tự chúng không phải gây nhiều điều hại,
chỉ khi nào ta tin tưởng đó là một phần của con đường
đến Niết Bàn thì mới có hại. Chúng không cần phải có
tính tôn giáo, dù rằng ta thường nghĩ như thế. Những hành
động như dâng hương hoa trên bàn thờ, quỳ lạy hoặc tham
gia vào các cuộc lễ có thể tích tụ phước báo để tái
sinh vào các cõi trời. Sự thành tín, kính trọng và biết
ơn đối với Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) mới là điều quan
trọng. Nhưng ngay cả lòng tin nầy cũng không chỉ giới hạn
vào các hoạt động tôn giáo. Mọi người đều sống với
lễ nghi và cúng tế, cho dù có khi ta không ý thức về chúng.
Trong sự tương giao của con người, có những cách thức qui
định để giao tiếp với cha mẹ, con cái, vợ chồng. Ta phải
xử sự thế nào trong công việc, với bạn bè, với người
lạ, ta mong người khác đối đãi như thế nào, tất cả những
điều nầy đều liên kết với những định kiến về sự
đúng đắn và thích hợp trong một văn hoá và truyền thống
nào đó. Không một điều nào hàm chứa chân lý, bởi vì chúng
chỉ do tâm tạo ra. Ta càng có nhiều ý kiến, ta càng xa rời
thực tế. Ta càng tin tưởng vào chúng, ta càng khó gỡ bỏ
chúng. Khi ta tưởng ta là một loại người nào đó, ta sẽ
có giao tiếp như thế trong mọi tình huống. Ðiều này xảy
ra chẳng những trong phương cách ta chưng hoa trên bàn thờ
mà ngay cả trong cách ta thù tiếp người khác, nếu ta làm
theo một nghi lễ tiên định nào đó và không theo cách mà
tâm rộng mở của ta sai khiến ta.
Ba
kiết sử trên sẽ bị tiêu trừ khi chập Ðạo và chập Quả
được thực chứng. Lúc ấy sẽ có một sự thay đổi rõ
ràng trong người đó, dĩ nhiên không thể nào thấy được
qua hình dạng bên ngoài. Nhưng sự thay đổi nội tâm trước
tiên là kinh nghiệm thực chứng đó sẽ làm tiêu tan tuyệt
đối các hoài nghi về điều cần phải làm trong đời sống.
Biến cố nầy hoàn toàn khác hẳn những gì đã biết từ
trước, cho đến nỗi, người ấy sẽ thấy những gì đã
tạo ra đời sống của mình, từ trước cho đến nay, đều
vô nghĩa. Không có việc gì trong quá khứ là quan trọng nữa.
Ðiều quan trọng duy nhất là tiến hành với công phu tu tập
để làm tăng trưởng sự chứng nghiệm nầy từ trong chập
tâm Ðạo đầu tiên, để tái nghiệm và thiết lập vững
chắc trong người ấy.
Các
chập tâm Ðạo và Quả sẽ lại xảy ra cho những vị Nhất-lai
(sakadagami),
Bất-lai (anagami) và Giác-ngộ (arahant, A-la-hán).
Mỗi lần như thế, chúng chẳng những sâu đậm hơn mà còn
kéo dài hơn. Ta có thể so sánh với các kỳ thi trong trường
đại học. Nếu ta chọn một chương trình bốn năm để lấy
bằng cấp, mỗi năm ta phải dự kỳ thi cuối năm. Ta phải
trả lời các câu hỏi trong mỗi kỳ thi, dựa theo kiến thức
ta đã thu hoạch được. Các câu hỏi trở nên sâu sắc hơn,
khó khăn hơn trong các kỳ khảo hạch kế tiếp. Trong khi chúng
chỉ liên quan đến cùng một chủ đề, chúng đòi hỏi phải
có kiến thức sâu rộng hơn. Cho đến khi ta tốt nghiệp và
không cần phải trở lại trường đại học nữa. Sự phát
triển tâm trí của chúng ta cũng như thế. Mỗi một chập
tâm Ðạo là dựa theo chập tâm trước và có liên quan đến
cùng một chủ đề, nhưng nó đi sâu hơn. Cho đến khi ta vượt
qua kỳ khảo hạch cuối cùng và không cần phải trở lại
nữa.
Chập
tâm Ðạo không có tư tưởng hay cảm thọ trong đó. Nó không
thể so sánh với các tầng thiền-na (jhana). Mặc dù nó
dựa vào các tầng thiền vì chỉ có tâm định mạnh mẽ mới
có thể đi vào chập tâm Ðạo, nó không có những tính chất
như trong các tầng thiền - trong các bước đầu - như là hỷ,
lạc, và an bình. Lúc sau, tâm chứng nghiệm một sự bành trướng,
vô sở hữu và một thay đổi về nhận thức. Chập tâm Ðạo
không bao hàm các trạng thái tâm nầy.
Nó
có tính không sinh hữu. Ðây là một sự nhẹ nhõm và thay
đổi cái nhìn về thế gian, hoàn toàn đến đỗi mà giờ
đây người ấy hiểu được tại sao Ðức Phật đã dạy
về một sự phân biệt rõ ràng giữa một phàm nhân và Thánh
nhân. Trong khi các tầng thiền-na đem đến cảm giác nhất
như, nhất thể, tâm Ðạo không có cảm giác đó. Chập tâm
Quả, tiếp theo chập tâm Ðạo, là một chứng nghiệm đã
thông hiểu và tạo ra một cái nhìn hoàn toàn mới lạ về
sự hiện hữu.
Sự
hiểu biết mới nầy nhận thức được rằng mỗi ý tưởng,
mỗi cảm thọ đều là khổ (dukkha). Ngay chính ý tưởng
cao sang nhất, cao thượng nhất cũng có tính chất đó. Chỉ
khi nào không có gì cả, mới không có khổ. Không có cái gì,
bên trong lẫn bên ngoài, hàm chứa tính chất toại ý hoàn
toàn. Bởi vì, có một nhận thức rõ ràng như thế, lòng ham
muốn về bất cứ điều gì được loại bỏ. Mọi việc được
nhìn theo bản thể chân thật của chúng, và không gì có thể
mang lại hạnh phúc như là những gì khởi sinh qua sự tu tập
Ðạo và kết quả của nó.
Yếu
tố Niết-bàn không thể diễn tả thật sự như là hoan lạc,
vì hoan lạc mang hàm ý có phấn khởi. Ta dùng chữ "hoan lạc"
cho tầng thiền-na, bởi trong đó còn có một sự thích thú.
Yếu tố Niết-bàn không công nhận hoan lạc vì tất cả những
gì khởi sinh đều xem là khổ. "Sự hoan lạc của Niết-bàn"
có thể làm cho ta có cảm tưởng rằng ta có thể tìm thấy
hạnh phúc tuyệt đối, thật ra là điều ngược lại. Ta thấy
ở đó không có gì cả và vì thế, không còn điều bất hạnh
nữa, chỉ có an bình.
Nếu
chỉ mong tìm kiếm Ðạo và Quả sẽ không đem chúng đến
ta, bởi vì chỉ có sự tỉnh giác từng thời khắc mới có
thể làm được điều đó. Sự chú niệm này dần dần sẽ
giúp tạo một tâm định thật sự, trong đó ta có thể xả
bỏ mọi tư tưởng và hoàn toàn hòa nhập vào đề mục. Lúc
đó, ta có thể bỏ đề mục hành thiền. Ta không cần phải
đẩy nó ra, nó sẽ rớt đi theo cách riêng của nó, và sự
an định trong giác niệm sẽ xảy đến. Nếu cần phải có
một tham vọng nào trong đời sống, thì đây là một tham vọng
duy nhất có giá trị. Các loại khác không mang đến thành
đạt trọn vẹn.
Ta
cũng không cần phải tự ép buộc xả bỏ hoài nghi. Còn gì
phải hoài nghi khi ta đã chứng nghiệm Chân lý? Nếu ta tự
đánh mình bằng một cây búa, ta cảm thấy đau đớn mà không
thể nghi ngờ chi cả. Ta biết rõ như thế qua kinh nghiệm tự
thân.
Chấp
thủ vào lễ nghi và giới cấm sẽ bị kết liễu thú vị,
bởi vì khi ta đã chứng nghiệm được tâm Ðạo thì không
còn trường hợp nào ta cần phải đóng tuồng nữa. Mọi vai
trò chỉ là những cấu tử của hư ngụy. Ta có thể sẽ tiếp
tục các lễ nghi vì chúng hàm chứa những phần kính trọng,
biết ơn và thành tín. Nhưng không còn có các lễ nghi để
ứng xử với người khác, với tình huống, và cũng không
còn phải tạo dựng các câu chuyện về tự ngã, bởi vì các
phản ứng của ta lúc đó là hoát nhiên với tâm rộng mở.
Xả
bỏ tư tưởng sai lầm về tự ngã dĩ nhiên là một thay đổi
sâu xa nhất, tạo ra tất cả các thay đổi khác. Ðối với
vị Dự-lưu, tà kiến về tự ngã không còn khởi sinh qua lý
luận nữa, nhưng vẫn còn các cảm xúc về nó, vì chập tâm
Ðạo xảy ra và biến đi rất nhanh. Nó chưa tạo một tác
động tuyệt đối. Nếu nó làm được như vậy thì đã tạo
ra quả Giác ngộ. Có những người có thể đắc nhanh như
thế, như đã ghi trong kinh điển thời Phật còn tại thế.
Cả bốn quả thánh có thể được chứng đắc ngay trong khi
lắng nghe Pháp của Ngài.
Chập
tâm Quả đầu tiên cần phải được tái sinh, do đó cần
phải tái lập nó nhiều lần, cho đến khi chập tâm Ðạo
thứ hai khởi sinh, cũng như thể lặp lại những gì mình đã
biết để khỏi quên, và từ đó tạo dựng thêm cái khác.
Ðiều
cần thiết là ta phải luôn tự nhắc nhở trong mỗi thời
khắc thức tỉnh rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều
vô thường và không có bản thể thường tồn, thay đổi từng
chập. Cho dù ta có một trực kiến về vô ngã (anatta)
hay chỉ có kiến thức về điều đó, trong trường hợp nào
ta cũng phải đem điều đó vào trong tâm và sống với nó
càng nhiều càng tốt. Khi ta tiếp tục làm như thế, các vấn
đề thông thường sẽ khởi sinh ít đi. Nếu ta giác niệm
về tính vô thường của mọi hiện hữu, các nỗi khó khăn
của ta dường như không còn quan trọng nữa và cách nhìn về
tự ngã sẽ từ từ thay đổi.
Tri
kiến ta có về chính ta là kẻ thù độc hại nhất của ta.
Mỗi người tạo ra một cá tính, một mặt nạ để mang, và
ta không muốn thấy những gì phía sau mặt nạ đó. Ta cũng
không cho phép người khác thấy những điều đó. Sau khi đắc
tâm Ðạo, sự che giấu đó không còn nữa. Cái mặt nạ, sự
sợ hãi và xua đuổi hiện ra rõ ràng. Ðể đối trị hữu
hiệu, ta phải luôn nhớ rằng thật ra không có ai ở đó,
chỉ có các hiện tượng mà thôi. Cho dù cái nhìn trong tâm
vẫn chưa ổn cố đủ để chứng minh điều đó, sự xác
định như thế giúp tháo lỏng các bám thủ, chấp dính và
làm ta chấp giữ ít chặt chẽ hơn.
Ðịnh
hướng của sự tu tập chắc chắn là hướng về quả Dự-lưu.
Tuy nhiên, không có gì để chứng đắc, mà tất cả cần phải
được xả bỏ. Nếu không làm như thế, chập tâm Ðạo sẽ
không xảy ra, và ta tiếp tục sống như trước: bị khổ não
hành hạ và ràng buộc, trải qua các sự khen chê, được mất,
sang hèn, vui buồn. Các vấn đề thông thường - tạo ra bởi
cái "ngã" - sẽ lại sinh ra, rồi cứ thế sinh ra mãi. Sự thay
đổi thật sự chỉ đến khi nào có được một thay đổi
rốt ráo về phương thức ta nhìn về ta. Nếu không, các khó
khăn vẫn tồn tại như cũ vì đó là do một người như xưa
tạo ra chúng.
Có
chánh niệm trong và ngoài lúc hành thiền là phương cách tu
tập để mang lại kết quả. Có nghĩa là giờ nào làm việc
ấy, chú ý qua thân và trong tâm. Khi nghe Pháp, chỉ chuyên tâm
nghe. Khi ngồi thiền, chỉ chú tâm vào đề mục hành thiền.
Khi trồng cây, chỉ biết trồng cây. Không kiểu cách, không
phán đoán. Ðó là để cho tâm ý được quen dần trong sự
sống từng giây khắc. Làm như thế thì chập tâm Ðạo mới
xảy ra. Không phải ở một tương lai xa xôi, mà nó có thể
xảy ra ngay trong lúc nầy và tại nơi đây. Không có lý do
gì mà một thiền sinh có đủ trí khôn, khỏe mạnh và quyết
tâm, lại không thể đạt được điều đó với lòng kiên
nhẫn và trì chí.
Chúng
ta đã nghe về sự chán chường và lạnh nhạt là những bước
trên đường đến giải thoát và tự do. Chúng không thể có
ý nghĩa và tác động nếu không có một quan kiến về một
thực tế hoàn toàn khác biệt, một thực tế không nằm trong
sự đa dạng của thế gian. Khi ta ngồi thiền mà bắt đầu
suy luận, đó là cám dỗ của sự đa dạng hóa và bành trướng,
hý luận (papanca). Yếu tố Niết-bàn là một, không đa
dạng. Ta có thể nói nó không hàm chứa những gì ta biết.
Cho đến khi thấy được như thế, thế gian tiếp tục đặt
tên cho nó, nhưng ta không cần phải tin như thế. Ðó là một
công việc khó khăn. Ta phải tự cảnh giác luôn, nếu không
sẽ bị cám dỗ lôi cuốn. Ta không nên ngạc nhiên khi ta không
tìm thấy hạnh phúc; sự đa đoan, đa dạng không thể tạo
hạnh phúc, chỉ tạo vọng tưởng mống khởi.
Chắc
chắn là ta có thể chứng nghiệm khoái lạc qua các giác quan.
Ta sẽ được nhiều dịp như thế nếu ta tạo nghiệp lành.
Thức ăn ngon, phong cảnh đẹp, đối tác dễ thương, âm nhạc
du dương, sách hay, nhà cửa thoải mái, không có tật bệnh
khó chịu. Nhưng những điều nầy có đem lại một hạnh phúc
toàn bích không? Nó đã không xảy ra trong quá khứ, tại sao
nó sẽ phải xảy ra trong tương lai? Ðạo và Quả mang lại
hạnh phúc vì chúng không hàm chứa hiện tượng. Tánh Không
không thay đổi, không trở nên khó chịu mà cũng không thiếu
vắng sự bình an, vì không có gì để chao động nó.
Khi
người ta nghe hoặc đọc về "Niết-bàn", người ta nói ngay
là: "Làm thế nào mà tôi có thể không mong muốn gì cả?"
Khi ta đã thấy mọi thứ ta muốn chỉ là để trám đầy sự
trống rỗng bên trong và đều bất toại ý, đó là lúc ta
không muốn gì cả. Ðiều nầy vượt qua sự "không mong cầu"
vì giờ đây ta chấp nhận rằng, trong thực tế, không có
gì đáng để sở hữu. Không mong muốn điều gì sẽ giúp
ta có thể thực chứng được rằng, thật ra không có gì cả
- chỉ có một sự yên lặng và an bình.
Bình
Anson lược dịch,
tháng
5-1999