Duy
thức trong Thắng Pháp
Bình
Anson
1.
Về Thắng Pháp (Abhidhamma)
Tạng
thứ ba của Tam Tạng Kinh Ðiển (Tipitaka) là Abhidhamma
Pitaka. Tạng nầy thường được gọi là Luận Tạng vì
theo hệ thống kinh điển Ðại thừa, đây là tập hợp các
bộ luận giải của các vị cao tăng Ðại thừa. Tuy nhiên,
trong hệ Nguyên thủy và để sát nghĩa, Abhidhamma là
tập hợp các bài giảng sâu xa của Ðức Phật về thể tính
của vạn pháp, và thường được sách Tàu phiên âm là A-tỳ-đàm.
Dịch đúng nghĩa là Vi Diệu Pháp hay Thắng Pháp. Cũng có sách
dịch là Ðối Pháp, Vô Tỷ Pháp, hay Ðại Pháp.
Theo
truyền thống, Thắng Pháp được nhiều Phật tử Nam tông
kính mộ và tin tưởng rằng đó là các bài giảng mỗi đêm
của Ðức Phật cho chư Thiên và hoàng hậu Ma-Da trong ba tháng
của mùa hạ thứ bảy tại cung trời Ðao Lợi. Vào ban ngày,
Ngài tóm tắt lại cho Ðại đức Xá-lợi-phất, và sau đó
Đại đức Xá-lợi-phất khai triển rộng ra thành bộ Thắng
Pháp.
Tuy
nhiên, theo các nhà nghiên cứu kinh sử Phật giáo, tạng Thắng
Pháp nầy được khai triển về sau, trong các thế kỷ hoằng
hóa đạo Phật trong thời kỳ phân chia bộ phái, và được
đúc kết lại tại Ðại hội Kết tập Kinh điển lần thứ
4 ở Tích Lan vào năm 20 trước Tây lịch. Ðây là kết quả
của nền văn học A-tỳ-đàm, căn bản chung cho mọi tông phái,
kể cả Bắc tông Ðại thừa. Dù rằng về sau nầy, các diễn
dịch chi tiết của Duy-thức tông Ðại thừa có nhiều khác
biệt, có thể nói là các ý tưởng chính yếu và khái niệm
về duy thức đó đều cùng có chung một nguồn gốc.
Nhìn
chung, Thắng Pháp là một cố gắng nhằm tổng hợp các bài
giảng trong Kinh tạng qua một cấu trúc bao quát và liên kết.
Thắng Pháp là một hệ thống tâm lý học phức tạp và tinh
vi. Ngoài ra, Thắng Pháp cũng nhắm đến các vấn đề về
siêu hình, thể tính, luận lý, giải thoát nằm ngoài phạm
vi của tâm lý học Tây phương hiện thời.
Ðể
thông hiểu Thắng Pháp, ngoài việc tra cứu kinh sách, hành
giả cần phải thực chứng quán niệm nội tâm, trong đó phương
cách hữu hiệu nhất là hành trì các pháp thiền minh sát -
chẳng hạn như các phương pháp trong quyển Thanh Tịnh Ðạo
(Visudhimagga)
của ngài Phật Âm (Buddhaghosa) mà hiện nay vẫn còn được
áp dụng tại nhiều thiền viện ở Miến Ðiện, Thái Lan và
Tích Lan.
Thắng
Pháp liệt kê rất chi tiết về các phần tử của tâm thức
và mô tả sự vận hành rất vi tế của tâm thức. Ðể thể
nghiệm, hành giả cần phải quán sát nội tâm một cách tinh
tường từng thời khắc một, và từ đó sẽ hiểu Thắng
Pháp rốt ráo hơn. Trong ý nghĩa đó, Thắng Pháp có thể xem
như là một môn tâm lý học thực nghiệm tinh vi và bao quát.
2.
Các nguyên tắc cơ bản
Một
cách tóm tắt, Thắng Pháp được dựa chặt chẽ theo Ba Ðặc
Tính - Tam Pháp Ấn - của mọi hiện tượng hữu vi: Khổ
(dukkha), Vô thường (anicca), Vô ngã (anatta).
Thêm vào đó, Thắng Pháp cũng dựa theo luật Duyên khởi, như
là một nguyên tắc tổng quát và một sự vận hành có điều
kiện tính. Tất cả mọi sự cố trên đời đều vận hành
theo luật nhân quả, không có gì ngẫu nhiên hoặc áp đặt
bởi một vị thần tạo hóa. Ðiều kiện tính là sự diễn
tả của một chuỗi nhân-và-quả, nhất là 12 nhân duyên thường
được thấy trong nhiều bài kinh, bắt đầu bằng: "do vô
minh duyên sinh các nghiệp hành, do hành duyên sinh thức, v.v.",
và đưa đến các hoạn khổ. Từ đó, Thắng Pháp đưa ra các
tiên đề sau:
-
Không có gì sinh ra mà không có nguyên nhân.
-
Không có gì sinh ra mà chỉ do một nguyên nhân.
-
Không có gì sinh ra mà không có tác động.
-
Không có gì tồn tại hơn một thời khắc.
3.
Bốn phân hạng chính
Thắng
Pháp đề cập đến hai loại sự thật: sự thật thông thường
(tục
đế, sammutisacca), và sự thật tuyệt đối (chân đế,
paramatthasacca). Theo chân đế, tất cả mọi sự vật trên
đời, mọi pháp (dhamma), có thể được xếp theo bốn
phân hạng chính: Sắc (Rupa), Tâm hay Tâm vương (Citta),Sở
hữu tâm hay Tâm sở (Cetasika), và Niết Bàn (Nibbana).
Ðể
đối chiếu với Kinh tạng, trong cặp Danh-Sắc thì ở đây,
Thắng pháp chia Danh (nama) làm 2 loại: Tâm và Tâm sở.
Trong khái niệm về ngũ uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức
- thì thức (vinnana) được Thắng Pháp xem như là Tâm
(hay tâm vương), còn thọ, tưởng, hành thì được xem là Tâm
sở (riêng Hành thì được chia chẻ ra làm nhiều phần tử
khác).
4.
Sắc Pháp
Sắc
là thể chất vô tri giác hằng biến hoại đổi thay. Có tất
cả 28 sắc pháp, phân thành 2 nhóm: (1) Nhóm Tứ đại (Ðại
chủng), gồm đất, nước, lửa, gió; và (2) Nhóm Y đại sinh
(Tứ đại sở tạo), gồm 24 sắc pháp.
Trong
nhóm tứ đại, Ðất là đặc tính cứng mềm, choán không
gian; Nước là đặc tính dẻo nhờn, quến tụ; Lửa là đặc
tính nóng lạnh, năng lượng; và Gió là đặc tính di động,
đàn hồi.
Nhóm
Y đại sinh là do bốn Ðại chủng sắc kết hợp tác thành,
gồm có 24 sắc pháp: 5 Tịnh sắc, 4 Hành cảnh sắc, 2 Bản
tánh sắc, 1 Sắc ý vật, 1 Mạng sắc, 1 Thực sắc, 1 Hạn
giới sắc, 2 Biểu sắc, 3 Biến hóa sắc, và 4 Tướng sắc.
5.
Tâm Pháp (Tâm Vương Pháp)
Tâm,
theo Thắng Pháp, là sự nhận thức sự hiện hữu của đối
tượng, sự biết, sinh khởi trong một thời khắc khi có trần
cảnh. Có nhiều cách phân chia Tâm. Thông thường là phân chia
làm 6 tâm (thức), theo sáu cửa tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, và ý.
Theo
cách phân giải chi tiết của Thắng Pháp thì tâm tổng thể
được chia làm 89 tâm vương. Có nhiều cách kết nhóm các
tâm vương nầy, trong đó có thể kết nhóm theo cõi giới:
1)
Dục giới có 54 tâm: 23 dị thục tâm, 11 duy tác tâm, 12 bất
thiện tâm, và 8 thiện tâm.
2)
Sắc giới có 15 tâm: 5 thiện tâm, 5 dị thục tâm, và 5 duy
tác tâm, tùy theo các cấp độ thiền-na hữu sắc (rupajhana).
3)
Vô sắc giới có 12 tâm: 4 thiện tâm, 4 dị thục tâm, và 4
duy tác tâm, tùy theo các cấp độ thiền-na vô sắc (arupajhana).
4)
Siêu thế giới (lokuttaram) có 8 tâm siêu thế: tâm đạo
và tâm quả của mỗi quả vị thánh (Dự lưu, Nhất lai, Bất
lai, A-la-hán).
Cũng
có khi tâm được chia làm 121 tâm vương. Sự khác biệt là
do cách phân chia của tâm siêu thế: thay vì chia làm 8 loại
tâm siêu thế thì tâm tại 5 tầng thiền-na (jhana) của
mỗi đạo quả được đưa vào, tạo thành 40 tâm siêu thế
(8 x 5).
Một
cách kết hợp khác là kết theo 4 nhóm: 12 bất thiện tâm,
21 thiện tâm, 36 dị thục tâm và 20 duy tác tâm. Bất thiện
tâm là tâm phát sinh từ tham, sân, si; còn Thiện tâm là tâm
phát sinh từ vô tham, vô sân, vô si. Các tâm nầy đều tạo
nghiệp (kamma) mà kết quả là các tâm Dị thục. Tâm
Duy tác là tâm tuy có hành động nhưng không tạo nghiệp, không
có kết quả dị thục.
6.
Tâm sở (Sở hữu tâm)
Tâm
sở là các phần cấu thành Tâm vương, là phần sở hữu của
Ý hoặc Thức, phụ trợ cho sự biết cảnh. Có tất cả 52
tâm sở: Thọ, Tưởng, và 50 tâm sở trong nhóm Hành. Bốn đặc
tính quan trọng của tâm sở là:
-
đồng sinh với Tâm,
-
đồng diệt với Tâm,
-
đồng nương một vật với Tâm, và
-
đồng biết một cảnh với Tâm.
Chúng
ta cần biết rõ các đặc tính quan trọng nầy, bởi vì khi
phân tích từng thành phần, có khi ta lầm tưởng rằng có
một sự tách biệt giữa tâm và tâm sở.
Mỗi
khi một loại tâm sinh ra thì kèm theo với một tập hợp các
tâm sở tương ứng. Mỗi loại tâm có một nhóm tâm sở riêng
biệt theo các qui luật nhất định. Tuy nhiên có nhóm tâm
sở biến hành (sabbacittasadharana) kết hợp trong mọi loại
tâm, trong đó có 7 tâm sở: xúc, thọ, tưởng, tư, nhất tâm
(định), mạng quyền, và tác ý.
Nhóm
tâm
sở biệt cảnh (pakinnaka) là các tâm sở có thể thiện,
có thể bất thiện, tùy theo đối tượng tâm, gồm có 6 tâm
sở: tầm, tứ, thắng giải (quyết định), tinh tấn (cần),
hỷ, và dục.
Nhóm
tâm
sở bất thiện (akusala) gồm có 14 tâm sở: si, vô tàm (không
hổ thẹn), vô quý (không sợ tội lỗi), trạo cử, tham, tà
kiến, mạn, sân, tật (ganh ghét), lận (bỏn xẻn), hối quá
(hối hận), hôn trầm, thụy miên, và hoài nghi.
Nhóm
tâm sở tịnh quang (sobhana) là các tâm sở tốt đẹp, trong
sạch, thanh tịnh, và gồm có 25 tâm sở, được chia làm 4
loại:
1)
19 tâm sở tịnh quang biến hành: tín, niệm, tàm, quý, vô tham,
vô sân, hành xả, tịnh thân, tịnh tâm, khinh thân, khinh tâm,
nhu thân, nhu tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần
tâm, chánh thân, và chánh tâm.
2)
3 tâm sở tiết chế: chánh ngữ, chánh nghiệp, và chánh mạng.
3)
2 tâm sở vô lượng: bi và tùy hỷ.
4)
1 tâm sở tuệ quyền (pannindriya): hiểu biết sự vật
đúng như thật, qua 3 đặc tướng khổ, vô thường, và vô
ngã.
7.
Lộ trình tâm (Tâm lộ)
Một
trong những ý niệm chính yếu trong Thắng Pháp là sự vận
hành của tâm, gọi là Tâm Lộ hay Lộ trình Tâm (cittavithi).
Một tâm khởi sinh, trụ và diệt trong một thời gian rất
ngắn, thường gọi là một sát-na tâm (cittakkhana). Mỗi
khi tiếp xúc với đối tượng, các loại tâm xảy ra theo một
lộ trình rất phức tạp, tùy theo các hoàn cảnh riêng biệt.
Thông thường, các vị giảng sư dùng một thí dụ đơn giản
khi mắt thấy một đối tượng để diễn tả một lộ trình
tiêu biểu gồm 17 sát-na như sau:
1)
Hộ kiếp (bhavanga, hữu phần) vừa qua
2)
Hộ kiếp rúng động
3)
Hộ kiếp dứt dòng
4)
Ngũ môn hướng tâm (ở đây là nhãn môn)
5)
Nhãn thức
6)
Tiếp thu
7)
Xác định
8)
Phán đoán
9
- 15) Bảy sát-na tâm tốc hành (javana)
16
- 17) Hai sát-na tâm đồng sở duyên (thập di)
Sát-na
tâm đầu tiên gọi là "hộ kiếp vừa qua" vì lúc đó, cảnh
chưa có tác động qua mắt, và luồng hộ kiếp còn liên hệ
với cảnh quá khứ. Hai sát-na kế tiếp là khi hộ kiếp rúng
động và tan vỡ, và tâm trở về thực tại, và hướng về
đối tượng qua con mắt (nhãn môn hướng tâm), và nhãn thức
sinh khởi. Ba sát-na kế tiếp là tâm bắt đầu tiếp nhận
và suy xét, phán đoán. Bảy sát-na tâm tốc hành là quan trọng
nhất vì đây là lúc tâm có thể tạo nghiệp hành mới. Nghiệp
nầy có thể tạo quả tức thời trong lộ trình kế tiếp,
hay sẽ tạo quả trong một tương lai về sau hoặc kiếp sau.
Hai sát-na cuối cùng là tâm ghi nhận, tùy theo bản chất của
đối tượng mà cường độ ghi nhận có thể thay đổi. Cuối
cùng, tâm lại rơi vào luồng hộ kiếp (bhavanga), và
tiến vào lộ trình kế tiếp. Trên một bình diện nào đó,
nhiều học giả cho rằng quan niệm về luồng bhavanga
là căn bản cho việc khai triển các quan niệm về Tàng thức
(A-lại-da
thức) của Duy thức tông về sau nầy.
Cần
nên biết rằng toàn thể một lộ trình như thế xảy ra rất
nhanh, và có hàng vạn lộ trình xảy ra chỉ trong một chớp
mắt. Ngoài ra còn có các tâm lộ khác, tùy theo hoàn cảnh,
chủ thể và đối tượng. Thắng Pháp còn đề cập các tâm
lộ đặc biệt như lúc cận tử, lúc nhập thai, khi hành giả
đắc các tầng thiền-na, và khi đạt các đạo quả thánh.
8.
Niết Bàn
Phân
hạng cuối cùng là Niết Bàn. Ðây là pháp duy nhất không
có đặc tướng vô thường và phiền khổ. Ðây là pháp duy
nhất không có điều kiện tính (pháp vô vi) hoặc phụ thuộc
vào các pháp khác. Về tự tánh (sabhavato) thì Niết Bàn
là an tịnh, vắng lặng (santi) và chỉ có một. Theo sự
việc thì Niết Bàn có hai: hữu dư y Niết Bàn và vô dư y
Niết Bàn. Thật ra, chúng ta không thể nào diễn tả hoặc
phân tích Niết Bàn bằng ngôn từ đối đãi của hiệp thế.
(Viết
theo bài "Some Introductory Notes on Abhidhamma"
của
Tỳ khưu Punnadhammo, Canada)
Tháng
5-2003