Nhân
cách thăng bằng
Robert
Bogoda
Phật
Pháp không phải là sách tiểu thuyết để đọc rồi quên
đi. Phật Pháp có liên quan đến đời sống - một đời sống
thực, một đời sống mà bạn và tôi trải qua hằng ngày.
Giá trị của đời sống nầy sẽ gia tăng đáng kể khi Phật
Pháp được diễn dịch ra hành động, và thấm nhập vào tánh
tình của chúng ta qua các nỗ lực thường xuyên, qua các thực
tập mỗi ngày.
Mục
đích tối hậu của Phật Pháp là Niết Bàn - vượt thoát
khỏi mọi hoạn khổ, phiền não. Mục đích trước mắt là
giúp ta hiểu rõ và giải quyết các vấn đề trực diện với
ta trong đời sống hằng ngày, giúp ta trở thành những con
người sống an lạc, thảnh thơi và thăng bằng, sống hòa
hợp với môi trường chung quanh và những người đồng loại.
Tuy thế, sự thăng bằng nầy cũng không dễ thực hiện, nhất
là trong thế giới ngày nay với nhiều giá trị ảo tưởng
và các thành kiến hư ngụy.
Khác
hẳn với các giá trị tương đối - và có khi là giả tạo
- trong thời đại của chúng ta, lời dạy của Ðức Phật
là một sự khải hiện các giá trị chân thật và tuyệt đối.
Chân Pháp đó cần phải được mỗi người tự thể nghiệm.
Phật giáo dạy về sự tư duy rõ ràng, sự tự chế, và nuôi
dưỡng tâm ý như là các phương tiện để thấu đạt Chân
Pháp. Người cư sĩ nào biết xây dựng cuộc sống hằng ngày
trên căn bản vững chắc của tri thức giải thoát với các
lý tưởng rõ ràng thì người ấy được bảo đảm các tiến
bộ và thành công trong đời sống tại gia của mình.
Do
đó, Phật Pháp là các hướng dẫn trong đời sống hằng ngày
của ta, và các nguyên tắc căn bản của đạo Phật có những
giá trị thực tiễn trong nghệ thuật sống trên đời. Người
cư sĩ tại gia, trong khi phải dấn thân vào xã hội vì cưu
mang các trách nhiệm trong đời sống, sẽ không bao giờ quên
mục đích tối hậu của họ là Niết Bàn giải thoát. Người
ấy lúc nào cũng nên xem rằng đời sống của mình chỉ là
một bãi tập, để sửa soạn tiến đến thực chứng mục
đích tối hậu ấy.
Kinh
Ðại Hạnh Phúc (Maha-Mangala Sutta) có nói rằng, các phước
hạnh thật sự của đời sống là có được "một tâm
ý có định hướng đúng" (atta-samma-panidhi). Có nghĩa là
ta phải nhận thức đúng đắn vị trí của mình trong thế
gian, có quyết định đúng đắn về mục tiêu, và tìm một
con đường đúng đắn để tiến đến mục tiêu đó.
Người
an lạc và thăng bằng là người có một mục đích cao thượng
trong đời sống, có một đường lối tốt để đi theo, và
có một triết lý sống giản đơn nhưng đầy ý nghĩa để
dẫn đường. "Triết lý" ở đây là một ước vọng hướng
thiện để thông hiểu bản tánh và tương lai của con người
trong vũ trụ. Không có triết lý như vậy thì đời sống trở
nên tẻ nhạt, buồn chán, vô ích, và vô nghĩa. Triết lý đó
giúp con người sống hài hòa với thế giới và đồng loại
trong một tiến trình thăng hoa dựa theo các tri thức chân chánh.
Trong
đạo Phật, tâm ý bao trùm vật chất. Một nét đặc thù của
tâm ý là "ý định" (hay "tác ý"). Ðể sử dụng tốt cuộc
đời và nghiệp kế thừa của mình, ta phải biết chọn một
mục tiêu hướng thượng và thực tiễn trong đời sống, và
tạo ra một kế hoạch để đi đến đó. Chúng ta sẽ trở
nên những gì mà ta mong muốn được như vậy.
Khi
ta càng thông hiểu bản thân - qua hành trì tự quán sát và
tự phân tích - ta sẽ càng có nhiều khả năng để tự cải
tiến và phát triển. Thêm vào đó, ta nên tự hỏi rằng mình
sẽ tiến và tiến đến cấp độ nào trong việc tu tâm để
mình trở nên độ lượng, an bình, tự tại, dịu dàng, thông
cảm, chân thật, hiền lành, chất phác, cẩn thận, tinh tấn,
cần mẫn, nhẫn nại, bao dung, và khôn khéo. Ðó là các đức
tính cao quý của một Phật tử biết sống hợp thời. Ta phải
cố gắng tự cải thiện mỗi khi có cơ hội - mỗi ngày một
chút. Ta nên hiểu rằng mỗi khi mình thực hiện một hành
động hướng thiện, dần dần nó được huân tập thành một
thói quen tốt. Từ các thói quen tốt đó, chúng sẽ thấm nhập
tạo thành các đặc tính cao thượng cho bản thân.
Chánh
niệm (Sati) là một sự tỉnh giác quan trọng. Chánh niệm
là cách nhìn sự vật một cách khách quan, lột bỏ mọi ưa
ghét, thành kiến và thiên vị. Ðây là cách nhìn mọi sự
vật theo bản thể chân thật của chúng - các sự kiện lột
trần. Khả năng làm được điều nầy đánh dấu sự trưởng
thành trong Phật Pháp. Nguyên tắc quán sát vô tư phải được
áp dụng rốt ráo trong các tư duy hằng ngày. Từ đó, sự
suy tư của ta sẽ được rõ ràng, trong sáng hơn và ta sẽ
sống hướng thiện hơn, làm giảm thiểu các ảnh hưởng xấu
xa tác động vào mình, từ các phương tiện truyền thông quảng
cáo tiêu thụ vật chất, và kết quả là ta có được các
tăng trưởng về những quan hệ tốt giữa con người với
con người.
Vì
vậy, một Phật tử có nhân cách thăng bằng là người phải
biết tự chủ, tự quyết định, tự tạo ra các ý kiến và
kết luận khi phải đối phó với các khó khăn trong cuộc
sống, dựa vào các nguyên tắc cơ bản của Phật Pháp. Người
ấy có một tri thức và luân lý dũng mãnh. Người ấy sẵn
sàng đứng một mình, theo đuổi một con đường sống của
mình, cho dù người khác có thể hiểu lầm và dị nghị.
Dĩ
nhiên là người Phật tử ấy phải biết đón nhận các ý
kiến đóng góp và cố vấn của người khác - bởi vì việc
thu nhận các ý kiến xây dựng từ những người có kiến
thức và kinh nghiệm thì không phương hại gì đến sự tự
do chọn lựa của mình - nhưng cuối cùng rồi thì phải tự
mình có những quyết định cho đời mình.
Thấy
được quan hệ giữa lòng tham dục và sự khổ đau, chúng
ta phải luôn luôn gìn giữ một mức độ xả ly, thoát khỏi
các ràng buộc quá đáng của thế tục. Chúng ta phải biết
điều chỉnh đời sống của mình trong kỷ cương của năm
giới luật cư sĩ (ngũ giới). Từ đó, ta bảo vệ được
sự an lành của ta, trong hiện tại và tương lai, qua cách sống
thuận hòa với các quy luật phổ quát của Phật Pháp được
áp dụng vào đời sống tinh thần và đạo đức của mình.
Phát triển đặc tính luân lý và đạo đức (Sila - trì
giới) nầy là một điều kiện tiên quyết để huân tập
tâm ý và từ đó, làm nền tảng tạo trí tuệ (Panna)
cần thiết để thực chứng Niết Bàn.
Ðời
sống là vô thường, lúc nào cũng có nhiều thay đổi. Các
tai họa hoặc những việc bất ưng ý có thể sẽ xẩy ra cho
ta, và khi đó, ta phải biết trực diện chúng một cách bình
thản và thăng bằng. Nếu làm được như thế thì chứng tỏ
ta đã có sự hiểu biết chân chính, biết nhìn rõ ràng sự
kiện xẩy ra theo luật nhân quả, do nhân duyên hợp thành,
và biết rằng chính ta là người gieo nhân và chịu trách nhiệm
gặt quả - nếu không trong đời sống nầy thì cũng là từ
nhiều kiếp trước. Ta sẽ vượt qua các nỗi sợ hãi và lo
âu thái quá, không có cơ sở và không có luận lý, bởi vì
ta biết chế ngự các cảm tính của mình. Từ đó, những
ngộ nhận, những bất công trong đời, những u sầu vì tưởng
rằng mình bị đối xử tàn tệ sẽ được ta thông hiểu
rõ ràng và đón nhận nhẹ nhàng hơn, vì ta đã hiểu được
cặp nguyên lý nghiệp quả và tái sinh.
Còn
một lý do nữa để người Phật tử gìn giữ tác phong đạo
đức của mình. Người ấy có uy lực bắt nguồn từ các
nguồn lực vô hình khác - đó là kho tích trữ các hành động
toàn thiện, các đức tính của tự thân, các hạnh phúc có
được trong lúc tập hành thiền, tất cả các nguồn lực
nầy hoàn toàn độc lập với của cải vật chất. Như thế,
người ấy là chủ nhân của một tâm ý tự lực và tự túc.
Người
ấy biết sống đơn giản, không có nhiều nhu cầu. Của cải
vật chất đối với người ấy chỉ là những đầy tớ,
không phải là những chủ nhân ông. Người ấy hoàn toàn tự
do, không bị lệ thuộc vào sự sai khiến của các sự vật
bên ngoài. Người ấy nhận thức được rằng các sự vật
thấy được thì chỉ là tạm bợ và thay đổi luôn. Tóm lại,
người ấy có được một tâm ý bình thản, chừng mực, và
tri túc. Tri túc, như lời Phật dạy, là một nguồn tài sản
lớn nhất, là một trong bốn nguồn hạnh phúc:
Không
bệnh là Lợi tối thượng
Tri
túc là Của tối thượng
Thành
tín là Bạn tối thượng
Niết
Bàn là Lạc tối thượng. (Pháp Cú, 204)
Khi đã
thông hiểu như thế, người Phật tử đó sẽ học được
cách thích nghi với những hoàn cảnh đổi thay mà không bao
giờ sầu khổ than van hay cay đắng.
Nếu
ta có Chánh Tín (Saddha), nghĩa là có niềm tin nơi Phật
Pháp dựa trên sự hiểu biết, ta phải cố gắng thực hành.
Mỗi Phật tử chân chính phải thực hành liên tục bốn điều
tinh tấn - Tứ Chánh Cần - vốn là chi thứ sáu của Bát Chánh
Ðạo. Ðó là: tinh tấn vượt qua và tinh tấn ngăn chận các
pháp bất thiện như là các ý tưởng sân hận; tinh tấn phát
triển và tinh tấn nuôi dưỡng các pháp thiện trong tâm ý
như là các ý tưởng từ bi. Các tâm ý nầy chẳng những sẽ
bảo vệ bản thân ta, mà từ đó cũng sẽ giúp được những
người khác chung quanh ta.
Ta
phải tập có thói quen suy xét về các tư tưởng và hành động
của chính mình để xem chúng có chân thật hay không, bởi
vì chân thật với chính mình là một con đường chắc chắn
đưa đến tâm ý toàn thiện. Thêm vào đó, chúng ta phải biết
dành thì giờ mỗi ngày để tĩnh lặng tự quán soi hay là
hành thiền, để ôn lại các việc làm trong ngày, và để
suy xét xem ta có đi ngược lại với các nguyên tắc căn bản
mà Ðấng Từ Phụ của chúng ta đã từng khuyên dạy, để
mà sám hối và tránh phạm các lỗi lầm đó trong tương lai.
Mỗi
ngày ta cũng nên đọc một đoạn kinh từ các bài giảng của
Ðức Phật. Thói quen hữu ích nầy giúp chúng ta phát triển
tâm ý thiện, làm giảm đi các u sầu, phiền muộn, và giúp
đưa đời sống của ta đi vào con đường chân chính.
Qua
các cách thức nêu trên, là những cư sĩ đệ tử của Ðức
Phật, chúng ta sẽ luôn tăng trưởng trong ánh sáng nhiệm mầu
của Chánh Pháp, luôn luôn uốn nắn nhân cách của mình, rèn
luyện tâm thức, huân tập các cảm tính, và tăng cường ý
chí dũng mãnh để tạo các lợi ích phước báo lâu dài cho
bản thân và cho người khác.
Bình
Anson lược dịch,
tháng
1-1997