Đạo
Phật Nguyên Thủy tại Việt Nam
Bình
Anson
Đạo
Phật truyền đến Việt Nam vào khoảng đầu thế kỷ Tây
Lịch. Đến cuối thế kỷ thứ hai, Việt Nam đã thành lập
được một trung tâm Phật Giáo quan trọng trong vùng, thường
được gọi là trung tâm Phật Giáo Luy Lâu, nay thuộc tỉnh
Bắc Ninh, phía bắc thành phố Hà Nội. Luy Lâu là thủ đô
của xứ Giao Chỉ, tên cũ của Việt Nam, và là một trạm
nghỉ chân quen thuộc của các nhà truyền giáo đạo Phật
người Ấn Độ, trên hành trình sang Trung Hoa theo đường biển
của các thương gia Ấn đi từ bán đảo Ấn Độ. Một số
kinh điển Đại Thừa và A-hàm đã được dịch sang Hoa văn
tại đó, chẳng hạn như kinh Tứ Thập Nhị Chương, An Ban
Thủ Ý, Kinh Bổn Sanh, Kinh Mi-lan-đa Vấn Đạo, v.v.
Trong
18 thế kỷ kế tiếp, vì điều kiện địa lý gần nhau, Việt
Nam và Trung Hoa có chung nhiều sắc thái triết học và tôn
giáo. Phật Giáo Việt Nam phản ánh nhiều ảnh hưởng của
các phát triển hệ Đại Thừa tại Trung Hoa, với các tông
phái Thiền, Tịnh và Mật.
Phần
đất phía nam của Việt Nam ngày nay đầu tiên có người Chàm
và Khơ-me trú ngụ, và họ theo cả hai truyền thống Đại
Thừa Ấn Độ và Phật Giáo Nguyên Thủy, mặc dù có lẽ là
người Chàm đã theo truyền thống Nguyên Thủy từ thế kỷ
3 TL và người Khơ-me chỉ bắt đầu theo truyền thống Nguyên
Thủy vào thế kỷ 12.
Người
Việt bắt đầu định cư tại phần đất nầy vào thế kỷ
15. Từ đó, sắc tộc người Việt theo Phật Giáo Đại Thừa,
trong khi sắc tộc người Khơ-me theo truyền thống Phật Giáo
Nguyên Thủy, cả hai truyền thống nầy cùng chung nhau hiện
hữu an hòa.
Trong
thập niên 1920 và 1930, ở Việt Nam có nhiều phong trào phục
hoạt và canh tân các hoạt động Phật Giáo. Song song với
sự chỉnh đốn các tổ chức Đại Thừa, còn có nhiều chú
tâm đến các hoạt động của truyền thống Nguyên Thủy,
về pháp hành thiền và các kinh sách dựa theo kinh tạng Pali,
nhưng viết bằng tiếng Pháp. Trong số những người tiên phong
truyền bá đạo Phật Nguyên Thủy vào Việt Nam có một vị
bác sĩ thú y trẻ tên là Lê Văn Giảng. Ông sinh ra ở miền
Nam, nhưng đi học ở Hà Nội, và sau khi tốt nghiệp, ông được
cử sang làm việc tại Phnom Penh (Nam Vang) cho chính quyền Pháp.
Trong thời gian đó, ông bắt đầu để tâm đến đạo Phật.
Ông
theo học các pháp môn Tịnh độ và Mật tông, nhưng cảm thấy
không hợp duyên. Tình cờ, ông được gặp vị Phó Tăng Thống
Cam Bốt, và được vị sư nầy giới thiệu một quyển sách
tiếng Pháp, viết về Bát Chánh Đạo. Ông rất xúc động
khi đọc những lời giảng rõ ràng trong quyển sách đó và
quyết tâm hành trì theo truyền thống nầy. Ông học pháp hành
thiền quán hơi thở (anapanasati) từ một vị tăng Cam
Bốt tại chùa Unalom và đạt được mức thiền định rất
cao. Ông tiếp tục hành trì theo pháp môn nầy và vài năm sau
quyết định xuất gia, với pháp danh là Hộ Tông (Vansarakkhita).
Vào
năm 1940, khi được một người bạn thân, ông Nguyễn Văn
Hiểu, và một số cư sĩ Phật tử Việt thỉnh mời, Tỳ khưu
Hộ Tông trở về Việt Nam và giúp thiết lập chùa Bửu Quang
ở Gò Dưa, Thủ Đức. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Phật
Giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Sau đó, Hòa Thượng Chuon Nath, vị
Tăng Thống Phật Giáo Cam Bốt cùng với 30 vị tỳ khưu Cam
Bốt đã đến ngôi chùa nầy để làm lễ kết giới Sima.
Năm 1947 chùa bị quân Pháp tàn phá, và được trùng tu vào
năm 1951.
Tại
chùa Bửu Quang, ngài Hộ Tông cùng với các vị tỳ khưu Việt
khác, trước đó đã thọ giới và tu học tại Cam Bốt, như
quý ngài Thiện Luật, Bửu Chơn, Kim Quang, Giới Nghiêm, Tịnh
Sự, Tối Thắng, Giác Quang, Ẩn Lâm, bắt đầu truyền giảng
Phật Pháp bằng tiếng Việt. Ngài cũng phiên dịch nhiều kinh
điển từ tạng Pali, và từ đó, Phật Giáo Nguyên Thủy trở
thành một trong những hoạt động chính của Phật Giáo Việt
Nam.
Vào
năm 1949-1950, ngài Hộ Tông cùng với ông Nguyễn Văn Hiểu
và một số cư sĩ thiện tâm đứng ra xây dựng chùa Kỳ Viên
tại khu Bàn Cờ, Quận Ba, Sài Gòn. Từ đó, Kỳ Viên Tự trở
thành một trung tâm chính của các hoạt động Phật Giáo Nguyên
Thủy, và càng ngày càng thu hút nhiều Phật tử.
Năm
1957, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam chính thức được
thành lập, và Tăng đoàn Nguyên Thủy đề cử ngài Hộ Tông
làm vị Tăng Thống đầu tiên của Giáo Hội.
Trong
thời kỳ đó, các hoạt động Phật sự được tăng cường
với sự hiện diện của Hòa Thượng Narada đến từ Tích
Lan. Ngài Narada đã từng đến Việt Nam vào thập niên 1930
và có mang nhiều nhánh cây bồ đề để trồng tại nhiều
nơi trong toàn xứ. Trong những lần viếng thăm vào thập niên
1950 và 1960, ngài đã thu hút được nhiều Phật tử đến
với truyền thống Nguyên Thủy, trong số đó có một nhà dịch
giả nổi tiếng là ông Phạm Kim Khánh. Ông Khánh đã xin quy
y Tam Bảo với ngài, với pháp danh là Sunanda. Ông đã từng
dịch nhiều sách của ngài Narada, trong đó có quyển Đức
Phật và Phật Pháp, Phật Giáo Tóm Lược, Kinh Tứ Niệm Xứ,
Kinh Pháp Cú, Cẩm Nang Vi Diệu Pháp, Tứ Vô Lượng Tâm, Những
Bước Thăng Trầm, v.v. Ông Khánh hiện đang ngụ tại Hoa Kỳ,
dù đã trong tuổi 80, vẫn tích cực dịch thuật các sách Phật
Pháp của các vị thiền sư nổi tiếng của Thái Lan, Miến
Điện và Tích Lan.
Từ
Sài Gòn, đạo Phật Nguyên Thủy được truyền bá đến các
tỉnh thành khắp miền Nam và miền Trung nước Việt và nhiều
chùa được thiết lập. Theo thống kê năm 1997, có tất cả
64 chùa Phật Giáo Nguyên Thủy, trong đó có 19 chùa tại Sài
Gòn. Ngoài chùa Bửu Quang và Kỳ Viên, còn có nhiều chùa nổi
tiếng khác như chùa Bửu Long, Giác Quang, Phổ Minh, Tam Bảo
(Đà Nẵng), Thiền Lâm và Huyền Không (Huế), và Thích Ca Phật
Đài ở Vũng Tàu.
Trong
thập niên 1960 và 1970, nhiều vị tỳ khưu được gửi đi
tu học nước ngoài, đông nhất là tại Thái Lan, và vài vị
khác tại Tích Lan và Ấn Độ. Chương trình tu học nầy được
thiết lập trở lại trong những năm gần đây, và hiện có
khoảng 20 vị đang tu học tại Miến Điện.
Trong
lịch sử, có một sự liên hệ khắng khít giữa Tăng đoàn
Việt Nam và Cam Bốt. Cũng cần ghi nhận ở đây là vào năm
1979, sau khi nhóm Khơ-me Đỏ bị đánh đuổi ra khỏi Phnom Penh,
hai vị Hòa Thượng Bửu Chơn và Giới Nghiêm cùng với một
đoàn tỳ khưu Việt Nam đã đến thành phố này để tái truyền
giới cho 7 vị tỳ khưu Cam Bốt và phục hồi Tăng đoàn Cam
Bốt, vốn đã bị nhóm Khơ-me Đỏ tiêu diệt khi họ nắm
quyền.
Kinh
điển Phật Pháp bằng Việt ngữ được dịch ra từ 2 nguồn:
Tam tạng Pali và Hán tạng A-hàm, cùng với nhiều kinh điển
Đại Thừa khác. Từ thập niên 1980, một chương trình phiên
dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đã được thành
lập và xúc tiến, với sự đóng góp của nhiều vị cao tăng
học giả của Bắc tông lẫn Nam tông.
Đến
nay, các quyển kinh dịch từ 5 bộ Nikaya, do Hòa Thượng Minh
Châu dịch, và 4 bộ A-hàm, do quý ngài Hòa Thượng Trí Tịnh,
Thiện Siêu, và Thanh Từ dịch, đã được phát hành. Thêm
vào đó, toàn bộ 7 tập của tạng Vi Diệu Pháp (A tỳ đàm,
Abhidhamma, Thắng Pháp tạng) do Hòa Thượng Tịnh Sự dịch
cũng đã được ấn tống, cùng với các bộ Kinh Pháp Cú,
Mi-lan-đa Vấn Đạo, Thanh Tịnh Đạo, Thắng Pháp Tập Yếu,
và nhiều tác phẩm khác.
Tóm
lại, mặc dù Phật Giáo Việt Nam chủ yếu là theo truyền
thống Đại Thừa, truyền thống Nguyên Thủy cũng được công
nhận và hiện nay có nhiều quan tâm đến các pháp hành thiền
Nguyên Thủy, kinh điển Nikaya và A-hàm, và văn học Vi Diệu
Pháp.
Tháng
6-1999