Tam
tạng kinh điển
Bình
Anson
Trong
45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu
nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia theo Ngài và
lập thành Tăng đoàn (Sangha), có người cũng còn tại
gia, gọi là các cư sĩ. Vùng truyền giáo của ngài là vùng
Đông Bắc Ấn Độ giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các
nhánh sông thượng nguồn sông Gange (Hằng hà).
Ngài
có rất nhiều đệ tử từ các quốc gia trong vùng, gồm đủ
mọi thành phần trong xã hội, lứa tuổi, nam nữ, và từ nhiều
nguồn gốc tín ngưỡng khác nhau. Đức Phật đã để lại
một kho tàng quí giá gồm nhiều bài thuyết giảng (Sutta,
Kinh) trong nhiều dịp giảng dạy cho hàng đệ tử, bậc
thánh thanh văn, hàng vua quan, cư sĩ, v.v. Với sự phát triển
và mở rộng của Tăng đoàn, Ngài đặt ra nhiều giới luật
để tạo điều kiện thuận lợi trong công việc tu tập (Vinaya,
Luật). Ngoài ra còn nhiều bài giảng đặc biệt khác mà
về sau nầy được đúc kết lại trong tạng A Tỳ Đàm
(Abhidhamma, Luận).
Kết
Tập Đầu Tiên
Ba
tháng sau khi Đức Phật tịch diệt, một đại hội các vị
tu sĩ (Tỳ khưu, Bhikkhu) được tổ chức, ngày nay được
gọi là Đại Hội Tăng Già I, tại vùng đồi núi ngoại thành
Rajagaha
(Vương Xá). Mục đích là để kết tập các bài kinh giảng
và các điều luật thành một hệ thống chặt chẽ hơn. Chủ
trì Đại hội là Tỳ khưu Maha Kassapa (Đại Ca Diếp).
Tuyên đọc phần Luật là Tỳ khưu Upali (Ưu Ba Ly). Tuyên
đọc phần Kinh là Tỳ khưu Ananda (A Nan Đà), là người
cận sự với Đức Phật và vì thế có nhiều dịp nhất để
nghe và ghi nhớ các bài giảng của Ngài. Đại hội gồm khoảng
500 vị thánh tăng duyệt lại các giới luật và các bài thuyết
giảng, sắp xếp thành hai nhóm chính: Luật Tạng và Kinh Tạng.
Qua những thu thập lúc đó, Kinh Tạng được phân chia làm
4 Bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng
Chi bộ.
Kết
Tập Lần Thứ 2
Trong
45 năm hoằng dương đạo pháp, Đức Phật đã đi nhiều nơi,
giảng đạo cho nhiều người và kết nạp nhiều đệ tử.
Các đệ tử của Ngài ở rải rác khắp nơi, không thể nào
cùng về tham dự Đại hội đầu tiên. Do đó có thể có một
số bài thuyết giảng và giới luật phụ do Đức Phật đặt
ra đã không được kết tập trong kỳ Đại hội đó.Vì vậy
mà khoảng 100 năm sau, năm 383 trước Tây Lịch (TL), đại hội
kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức, theo yêu
cầu của tăng chúng thành Vesali và Vajji. Sau lần kết tập
nầy, Luật Tạng được mở rộng với các giới luật mà
các đại biểu cho rằng đã không được kết tập trong kỳ
Đại Hội I, và một số các bài kinh giảng khác chưa kết
tập, tạo thành một bộ kinh thứ 5 của Kinh Tạng (Tiểu Bộ).
Sau
lần kết tập nầy, Luật Tạng và Kinh Tạng xem như đã thành
hình, và các bài giảng có lẽ cũng giống như bài giảng mà
chúng ta có được trong bộ Đại Tạng hiện nay.
Kết
Tập Lần Thứ 3
Một
trăm ba mươi năm sau đó, năm 253 trước TL, vua Asoka (A
Dục) cho triệu tập Đại hội lần thứ III. Tiểu Bộ của
Kinh Tạng lại được mở rộng và kết tập thêm nhiều bài
kinh giảng khác. Quan trọng hơn hết là việc Đại hội đã
đúc kết các bài giảng về tâm lý, thể tính và sự tướng
của vạn pháp, tạo thành Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma, A
Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp, Luận Tạng).
Kết
Tập Lần Thứ 4
Khoảng
năm 20 trước TL, 500 năm sau ngày Phật nhập Đại Niết Bàn,
vua Vattagamani của Tích Lan (Sri Lanka) triệu tập Đại
Hội Tăng Già IV tại Aluhivihara - gần thành phố Kandy
ngày nay, kết tập lại các phần Kinh, Luật, và đúc kết
phần Thắng Pháp Tạng. Để gìn giữ các bài giảng của Đức
Phật dù đã kết tập nhưng chỉ truyền khẩu trong 500 năm
qua, ba tạng kinh điển được cho viết lại trên một loại
giấy bằng lá bối-đa khô. Từ đó, Tam Tạng Pali được thành
hình, và không còn thay đổi nào khác.
Kết
Tập Lần Thứ 5 và 6
Trong
thời kỳ gần đây, Miến Điện có tổ chức hai kỳ kết
tập khác: kết tập lần thứ V, năm 1870, và lần thứ VI,
năm 1954. Tuy nhiên các kỳ kết tập nầy chỉ để làm sáng
tỏ các điểm chính trong kinh, nhưng không thay đổi gì trong
bộ Tam Tạng.
Tam
Tạng Kinh Điển
"Tạng"
hay "Tàng" là giỏ chứa, chỗ chứa, tiếng Pali gọi là Pitaka.
Ngày xưa tại các chùa lớn thường có một thư viện gọi
là "Tàng Kinh Các" để lưu trữ các bộ kinh quí. Tam Tạng
theo tiếng Pali gọi là Tipitaka, Ba Giỏ Chứa (The Three
Baskets), gồm có: Luật Tạng (Vinaya Pitaka), Kinh Tạng
(Sutta
Pitaka), và Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka, còn gọi
là Vi Diệu Pháp, hay Luận Tạng).
Sau
đây là sơ lược về các tạng nầy:
1.
Luật Tạng (Vinaya Pitaka)
Tạng
nầy bao gồm các giới luật và nghi lễ cho nam tu sĩ (Bhikkhu,
Tỳ khưu) và nữ tu sĩ (Bhikkhuni, Tỳ khưu Ni), cách
thức gia nhập tăng đoàn, truyền giới luật, sinh hoạt tăng
chúng, cách hành xử trong các trường hợp vi phạm giới luật,
vv. Tạng nầy thường được chia làm 5 bộ:
1.
Ba-la-di (Parajika),
2.
Ba-dật-đề (Pacittiya),
3.
Đại Phẩm (Mahavagga),
4.
Tiểu Phẩm (Cullavagga), và
5.
Toát Yếu (Parivara).
2.
Kinh Tạng (Sutta Pitaka)
Gồm
5 bộ chính (Nikaya): Trường Bộ (Digha Nikaya), Trung
Bộ (Majjhima Nikaya), Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya),
Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), và Tiểu Bộ (Khuddaka
Nikaya).
Trong
hệ Sanskrit (Bắc Phạn), 5 bộ nầy được gọi là các bộ
A Hàm (Agamas). Tuy nhiên, các bộ A Hàm nguyên thủy đã
bị thất lạc và chỉ còn tìm thấy các bản kinh tiếng Sanskrit
rời rạc, mà hiện nay chỉ còn các bộ Hán văn, dịch từ
nhiều nguồn gốc bộ phái và qua nhiều đời khác nhau.
Trường
Bộ là tập hợp các bài kinh dài, gồm 34 bài kinh, đã được
dịch sang Việt ngữ. Ngoài các bài thuyết giảng của Đức
Phật, Bộ nầy cũng có các bài giảng của Đại Đức Sariputta
(Xá Lợi Phất), vị đệ tử hàng đầu có tài thuyết giảng
hùng biện nhất thời đó, và các vị đệ tử nổi tiếng
khác.
Trung
Bộ gồm có 152 bài kinh sắp xếp trong 15 phẩm, theo từng chủ
đề. Bộ kinh nầy rất phổ thông trong giới Phật tử sử
dụng Anh ngữ và cũng đã được dịch sang Việt ngữ. Bản
dịch Anh ngữ được hiệu chỉnh nhiều lần, và bản dịch
mới nhất đã được hội Buddhist Publication Society, Tích Lan,
xuất bản năm 1995. Các bài kinh quan trọng thường có liên
quan đến phép hành thiền quán niệm (Satipattana Sutta),
chánh kiến (Sammaditthi), cách tịnh tâm (Kakacupama),
cuộc đời Đức Phật (Ariyaparyesana), Tứ diệu đế
(Mahahatthipadopama),
Không tính (Cula-sunnata), quán niệm hơi thở (Anapanasati),
v.v. Có thể nói đây là một bộ kinh quan trọng nhất, bao
gồm các bài giảng thiết yếu trên đường tu tập, thực
hành lời Phật dạy.
Tương
Ưng Bộ gồm 2,889 bài kinh ngắn, chia làm 5 chương và 56 phẩm.
Đây là tập hợp các bài kinh có chủ đề giống nhau về
một điểm thảo luận, hoặc về một nhân vật nào đó trong
thời Đức Phật. Có những bài giảng quan trọng về 12 nhân
duyên và về 37 phẩm trợ đạo.
Tăng
Chi Bộ là bộ kinh dựa theo cách sắp xếp số học (pháp số),
từ các chủ đề có liên quan đến 1 phần tử, 1 yếu tố,
dần dần lên đến các chủ đề có 11 phần tử hay yếu tố.
Vì vậy, bộ kinh được chia làm 11 chương, gồm 2,308 bài kinh.
Tiểu
Bộ thật ra không phải là bộ sách nhỏ, mà là tập hợp
15 bộ sách nhỏ: Tiểu Tụng (Khuddaka Patha), Pháp Cú (Dhammapada),
Phật Tự Thuyết (Udana), Như Thị Ngữ (Itivuttaka),
Kinh Tập (Sutta Nipata), Thiên Cung Sự (Vimana Vatthu),
Ngạ Quỷ Sự (Peta Vatthu), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragatha),
Trưởng Lão Ni Kệ (Therigatha), Bổn Sanh (Jataka),
Nghĩa Thích (Niddesa), Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhida),
Thí Dụ (Apadana), Phật Sử (Buddhavamsa), Sở Hạnh
Tạng (Cariya Pitaka).
3.
Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka)
Còn
gọi là Vi Diệu Pháp hay Luận Tạng, đây là tập hợp các
bài giảng của Đức Phật về thể tính và sự tướng của
vạn pháp, phân giải triết học và tâm lý học. Thắng Pháp
Tạng gồm có 7 quyển: Pháp tụ (Dhammasangani), Phân tích
(Vibhanga),
Chất ngữ (Dhatukatha), Nhân chế định
(Puggala Pannatti),
Ngữ tông (Kathavatthu), Song đối
(Yamaka), Vị trí
(Patthana).
4.
Các thánh điển trọng yếu khác
Ngoài
Tam Tạng Kinh Điển còn có các bộ Chú Giải và Phụ Chú Giải
Kinh Điển, và một số các tác phẩm Pali quan trọng khác cũng
được học tập và lưu truyền cho đến ngày nay: Đảo sử
(Dipavamsa),
Đại sử (Mahavamsa), Tiểu sử (Culavamsa), Mi Lan
Đa vấn đạo (Milindapanha), Thanh tịnh đạo (Visuddhi
Magga), Thắng Pháp tập yếu (Abhidhammattha Sangaha).
Đại
Tạng Việt Ngữ
Mặc
dù Phật Giáo là một tôn giáo lớn ở Việt Nam và đã có
mặt lâu đời tại đất nước ta trên 18 thế kỷ, cho đến
nay chúng ta vẫn chưa có một bộ Tam Tạng đầy đủ bằng
chữ Việt. Điều nầy đã được ghi nhận từ đầu thập
niên 1950, mà đã 50 năm qua, công tác dịch thuật vẫn chưa
hoàn tất.
Một
chương trình phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt
Nam đã được tiến hành trở lại từ năm 1989, dựa trên
các bộ chữ Pali và chữ Hán. Đến nay (1998), Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam đã phát hành Trường Bộ (và Trường
A Hàm), Trung Bộ (và Trung A Hàm), Tương Ưng Bộ (và Tạp A
Hàm), Tăng Chi Bộ (và Tăng Nhất A Hàm) bằng Việt ngữ, cùng
với các quyển trong Tiểu Bộ: Kinh Tập, Pháp Cú, Như Thị
Ngữ, Phật Tự Thuyết, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão
Ni Kệ, Bổn Sanh.
Thêm
vào đó, hệ phái Nam Tông Việt Nam đã ấn hành các bộ Vi
Diệu Pháp do Hòa thượng Tịnh Sự dịch. Bộ Luật cơ bản
đã được dịch từ các bản chữ Hán (Luật Tứ Phần Giới
Bổn Như Thích, Hòa thượng Hành Trụ dịch).
Các
quyển Thanh Tịnh Đạo (Ni sư Trí Hải dịch), Thắng Pháp Tập
Yếu (Hòa thượng Minh Châu dịch) và Mi Lan Đa Vấn Đạo (Hòa
thượng Giới Nghiêm dịch) cũng đã được xuất bản trong
những năm gần đây.
Perth,
Tây Úc,
tháng
4-1998