Bản
Anh Ngữ: "Taming the Mind - Discourses of the Buddha",
Edited
by Buddhist Publication Society,
Wheel
Publication No. 51, Kandy, Sri Lanka (1995)
Tham
khảo: Đại Tạng Kinh Việt Nam,
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt.
Mục
lục
1.
Tâm không điều phục (Tăng Chi, chương Một Pháp)
2.
Kinh Ganaka Moggallàna (Trung Bộ 107)
3.
Các câu kệ của Trưởng Lão Vijitasena (Trưởng Lão Tăng Kệ
5.354)
4.
Kinh Điều Ngự Địa (Trung Bộ 125)
5.
Các câu kệ của Trưởng Lão Ni Dantika (Trưởng Lão Ni Kệ
3.48)
6.
Huấn luyện ngựa (Tăng Chi, chương Bốn Pháp)
7.
Phẩm về Tâm (Pháp Cú 33-43)
-ooOoo-
1.
Tâm Không Ðiều Phục
1.-
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm không được điều
phục. Tâm không được điều phục, này các Tỳ-khưu, đưa
đến bất lợi lớn.
2.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
lợi ích lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm được điều phục.
Tâm được điều phục, này các Tỳ-khưu, đưa đến lợi
ích lớn.
3.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm không được hộ
trì. Tâm không được hộ trì, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn.
4.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
lợi ích lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm được hộ trì. Tâm
được hộ trì, này các Tỳ-khưu, đưa đến lợi ích lớn.
5.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm không được phòng
hộ. Tâm không được phòng hộ, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn.
6.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
lợi ích lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm được phòng hộ.
Tâm được phòng hộ, này các Tỳ-khưu, đưa đến lợi ích
lớn.
7.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm không được bảo
vệ. Tâm không được bảo vệ, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn.
8.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
lợi ích lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm được bảo vệ.
Tâm được bảo vệ, này các Tỳ-khưu, đưa đến lợi ích
lớn.
9.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
bất lợi lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm không được điều
phục, không được hộ trì, không được phòng hộ, không
được bảo vệ. Tâm không được điều phục, không được
hộ trì, không được phòng hộ, không được bảo vệ, này
các Tỳ-khưu, đưa đến bất lợi lớn.
10.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, đưa đến
lợi ích lớn, này các Tỳ-khưu, như tâm được điều phục,
được hộ trì, được phòng hộ, được bảo vệ. Tâm được
điều phục, được hộ trì, được phòng hộ, được bảo
vệ, này các Tỳ-khưu, đưa đến lợi ích lớn.
[Tăng
Chi 1.10]
-ooOoo-
2.
Kinh Ganaka Moggallàna
(Ganakamoggallàna
sutta)
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu
(Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka
Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những
lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
--
Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có
thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình
tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp
của lầu thượng cuối cùng [1]; thưa Tôn giả Gotama, cũng
vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một
học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ
tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda [2]). Thưa Tôn
giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được
thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một
đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy,
thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán
số [3], sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học
tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần
tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có
được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người
ấy đếm như sau: "Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần,
bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần,
tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần". Và thưa
Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể
trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này,
cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình,
một tuần tự đạo lộ như vậy?
--
Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có
một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có
một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người
huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa
hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương,
rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn,
Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước
tiên huấn luyện người ấy như sau:
(Giới
hạnh)
"Nầy
Tỳ-khưu, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự
chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy
sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học
tập các học giới".
(Hộ
trì các căn)
Này
Bà-la-môn, khi vị Tỳ-khưu giữ giới hạnh, chế ngự với
sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh,
thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và
học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy
thêm như sau: "Nầy Tỳ-khưu, hãy hộ trì các căn. Khi mắt
thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ
tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được
chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi
lên, vị Tỳ-khưu tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con
mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng....
mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc... ý nhận
thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không
nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không
được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện
khởi lên, Tỳ-khưu chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn,
thực hành sự hộ trì ý căn".
(Tiết
độ trong ăn uống)
Này
Bà-la-môn, sau khi Tỳ-khưu hộ trì các căn rồi, Như Lai mới
huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Nầy Tỳ-khưu, hãy tiết
độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn,
không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải
để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để
thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia
hại, để chấp trì Phạm hạnh [4], nghĩ rằng: "Như vậy ta
diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm
thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an
ổn".
(Chú
tâm cảnh giác)
Này
Bà-la-môn, sau khi Tỳ-khưu tiết độ trong ăn uống rồi, Như
Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Nầy Tỳ-khưu, hãy
chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi
đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp;
ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang
ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban
đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như
dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm
tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm
trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại
pháp".
(Chánh
niệm tỉnh giác)
Này,
Bà-la-môn, sau khi vị Tỳ-khưu chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới
huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: "Nầy Tỳ-khưu, hãy
thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều
tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi
co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát,
thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều
tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác;
khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh
giác".
(Từ
bỏ năm triền cái)
Này
Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn
luyện vị ấy thêm như sau: "Nầy Tỳ-khưu, hãy lựa một chỗ
thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá,
bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm".
Vị
ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc
cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống
rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già,
lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước
mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát
ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị
ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót
tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ
bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy
miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh
giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo
cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm
lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi
ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng
lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp
[5].
(Nhập
thiền-na)
Khi
đoạn trừ năm triền cái ấy [6], những pháp làm ô nhiễm
tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện
pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ
lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm
và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự
lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng
và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ,
không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Này
Bà-la-môn, đối với những Tỳ-khưu nào là bậc hữu học,
tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an
tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy
đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỳ-khưu
là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các
việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành
đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải
thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và
chánh niệm tỉnh giác.
*
(Như
Lai là người chỉ đường)
Khi
được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
--
Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến
giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều
chứng được cứu cánh đích Niết-bàn [8] hay chỉ có một
số chứng được?
--
Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến
giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh
đích Niết-bàn, một số không chứng được.
--
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt
Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn,
trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy
các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến
giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được
cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?
--
Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn,
hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông
có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?
--
Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.
--
Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người,
muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau:
"Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi
con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy như
sau: "Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha.
Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong
một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này.
Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian,
Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo
trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ
thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu
rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những
hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như
vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường
sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến,
muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau:
"Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ
con đường ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như
sau: "Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy
đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một
thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy
đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một
thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này.
Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo
con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha
với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu,
với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu".
Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy,
đi đến Rajagaha một cách an toàn.
Này
Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha,
trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có
mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo
như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường
sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến
Rajagaha một cách an toàn?
--
Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là
người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.
--
Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi
có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt
Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được
Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng
được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.
Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người
chỉ đường.
Khi
nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì
lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy,
mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không
hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh
giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống
quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ
gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm,
không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ,
câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người
như vậy.
Còn
những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không
hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động,
không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết
độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn
kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải,
từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn,
chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí
tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những
vị ấy.
Ví
như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn
hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây
hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng;
trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi
là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả
Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện
nay.
Thật
vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn
giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho
những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng
tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh
pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình
bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng
Tỳ-khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ
nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
[Trung
Bộ 107]
Ghi
chú:
[1]
Một căn nhà có 7 tầng lầu không thể được xây trong một
ngày (theo Chú giải).
[2]
Không thể học thuộc 3 bộ kinh Veda trong một ngày (theo Chú
giải).
[3]
Ganaka: nghề toán số; do đó vị Bà-la-môn nầy có tên là
Ganaka.
[4]
Brahmacariyam: Đời sống trong sạch của một tu sĩ sống độc
thân.
[5]
Kusala: thiện pháp, tạo nghiệp thiện.
[6]
Nìvarana: Triền cái: Tham dục (Kàmacchanda, Sense desire), Sân
hận (Vyàpàda, Ill will), - Hôn trầm (Thìna-middha, Sloth and Torpor),
Trạo cử (Uddhacca-kukkucca, Restlessness), Hoài nghi (Vicikicchà,
Doubt).
[7]
Ariya: bậc Thánh. theo Thanh Tịnh Đạo luận, đây là chỉ các
vị đã nhập dòng thánh giải thoát.
[8]
Accantanittha: mục đích tối thượng.
-ooOoo-
3.
Trưởng lão Vigitasena
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ra trong một gia đình
huấn luyện voi ở nước Kosala, và được đặt tên là Vigitasena.
Những người cậu bên ngoại, Sena và Upasena cả hai đã xuất
gia và chứng quả A-la-hán. Vigitasena sau khi đã thuần thục
nghề của mình, thấy được thần thông song hành của bậc
Ðạo Sư, nên khởi lòng tin, và theo bản năng tự nhiên, xin
xuất gia dưới sự hướng dẫn của các người cậu. Nhờ
các người cậu giảng dạy, ngài đạt đến thiền quán, nhưng
tâm trí ngài thiên về lý luận chạy theo những vật bên ngoài,
nên ngài tự dạy cho tâm trí ngài như sau:
354.
Ta sẽ chế ngự ngươi,
Như
cửa khóa ngăn voi,
Ta
sẽ không thúc ngươi,
Đưa
tâm vào điều ác,
Ngươi
chính là lưới dục,
Ngươi
do thân sanh ra.
355.
Chế ngự ngươi không đi,
Như
voi, không cửa mở,
Này
tâm, kẻ phù thủy,
Dầu
ngươi cố gắng mãi,
Ngươi
không còn lang thang,
Ưa
thích làm điều ác.
356.
Như người cầm câu móc,
Ngăn
mãi voi chưa thuần,
Như
người dùng sức mạnh,
Cải
hóa kẻ không muốn,
Cũng
vậy đối với ngươi,
Ta
sẽ cải hóa ngươi.
357.
Như bánh xe tuyệt hảo,
Khéo
huấn luyện ngựa hay,
Cũng
vậy ta điều ngươi,
Dựa
lên trên Năm lực.
358.
Ta sẽ cột chặt ngươi,
Với
chánh niệm vững chắc,
Tự
mình đã chế ngự,
Ta
sẽ chế ngự ngươi,
Nhờ
sức nặng tinh tấn,
Ngươi
được ta áp lực,
Do
vậy, hỡi này tâm,
Ngươi
sẽ không xa ta.
[Trưởng
Lão Tăng Kệ 5.354]
-ooOoo-
4.
Kinh Ðiều Ngự Địa
(Dantabhùmi
sutta)
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại
chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
Lúc
bấy giờ, Sa-di Aciravata (Tân Học Sa-môn) đang ở tại am thất
Aranna [1]. Rồi vương tử Jayasena [2] trong khi tản bộ du hành,
đi đến Sa-di Aciravata, sau khi đến nói lên với Sa-di Aciravata
những lời chào đón hỏi thăm; sau khi đến, nói lên những
lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, vương tử Jayasena nói với Sa-di Aciravata:
--
Tôn giả Aggivessana, tôi có nghe như sau: "Ở đây, Tỳ-khưu
sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ được nhứt
tâm".
--
Sự việc là vậy, này Vương tử! Sự việc là vậy, này Vương
tử! Ở đây, Tỳ-khưu sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần sẽ chứng được nhứt tâm.
--
Thật là tốt lành nếu Tôn giả Aggivessana thuyết pháp cho
tôi như đã được nghe, như đã được học.
--
Này Vương tử, tôi không có thể thuyết pháp cho Vương tử
như đã được nghe, như đã được học. Nếu nay tôi thuyết
pháp cho Vương tử như đã được nghe, như đã được học,
và nếu Vương tử không hiểu lời tôi nói, như vậy sẽ làm
tôi mệt mỏi, làm tôi phiền muộn.
--
Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được
nghe, như đã được học! Rất có thể, tôi sẽ hiểu ý nghĩa
lời nói của Tôn giả Aggivessana.
--
Này Vương tử, tôi sẽ thuyết pháp cho Vương tử như đã
được nghe, như đã được học. Nếu Vương tử có thể hiểu
ý nghĩa lời nói của tôi, như vậy là tốt đẹp. Nếu Vương
tử không thể hiểu lời nói của tôi, hãy dừng lại trên
sự trạng của mình, chớ có hỏi tôi thêm nữa!
--
Tôn giả Aggivessana, hãy thuyết pháp cho tôi như đã được
nghe, như đã được học! Nếu tôi có thể hiểu được ý
nghĩa lời nói của Tôn giả Aggivessana, như vậy là tốt đẹp.
Nếu tôi không có thể hiểu được ý nghĩa lời nói của
Tôn giả Aggivessana, tôi sẽ dừng lại trên sự trạng của
tôi, ở đây, tôi sẽ không hỏi Tôn giả Aggivessana thêm nữa.
Rồi
Sa-di Aciravata thuyết pháp cho vương tử Jayasena như đã được
nghe, như đã được học. Khi được nghe vậy, Vương tử nói
với Sa-di Aciravata như sau:
--
Sự việc không phải là như vậy, Tôn giả Aggivessana; trường
hợp không phải là như vậy, rằng Tỳ-khưu sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần lại có thể chứng đắc nhất tâm.
Rồi
Vương tử Jayasena sau khi nói lên với Sa-di Aciravata sự việc
không phải như vậy và trường hợp không phải như vậy,
từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Rồi
Sa-di Aciravata, sau khi vương tử Jayasena ra đi không bao lâu,
liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi
ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sa-di Aciravata kể lại
cho Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vương tử Jayasena.
Khi
nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Sa-di Aciravata:
--
Như vậy, này Aggivessana, nào có lợi ích gì? Vương tử Jayasenna
sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng
dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết
truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể
chứng quả vị chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có
ly dục mới thấy được, chỉ có ly dục mới đạt được,
hay chỉ có ly dục mới chứng được: sự kiện như vậy không
xảy ra.
Này
Aggivessana, ví như giữa các con voi, con ngựa hay con bò được
dạy điều phục có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được
dạy điều phục, được khéo huấn luyện; và có hai con voi,
hai con ngựa hay hai con bò không được khéo điều phục, không
được khéo huấn luyện. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào?
Hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò, được khéo điều phục,
được khéo huấn luyện, các con ấy có thể đi đến khả
năng điều phục (dantakaranam), có thể đạt đến điều phục
địa không?
--
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
--
Còn hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò được dạy điều
phục, nhưng không được khéo điều phục, không được khéo
huấn luyện, các con ấy không được điều phục, có thể
đi đến khả năng điều phục, không được điều phục có
thể đạt đến điều phục địa, như hai con voi, hai con ngựa
hay hai con bò được khéo điều phục, được khéo huấn luyện
kia không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
--
Cũng vậy, này Aggivessana, vương tử Jayasena sống giữa các
dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến,
bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại
có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng quả vị chỉ
có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được,
chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng
được: sự kiện như vậy không xảy ra.
Ví
như, này Aggivessana, một hòn núi lớn không xa làng hay thị
trấn. Và có hai người bạn, tay trong tay đi ra khỏi làng hay
thị trấn ấy, và đi đến hòn núi kia. Sau khi đến, một
người bạn đứng dưới chân núi, còn người bạn kia leo
lên đỉnh núi. Người bạn đứng dưới chân núi ấy có thể
nói với người bạn đứng trên đỉnh núi: "Này Bạn thân,
Bạn đứng trên đỉnh núi, Bạn thấy những gì?" Người kia
nói: "Này Bạn thân, đứng trên đỉnh núi tôi thấy các vườn
khả ái, các khu rừng khả ái, các đất bằng khả ái, các
ao hồ khả ái". Người kia nói: "Không có sự kiện này, này
Bạn thân, không có trường hợp này, Bạn đứng trên đỉnh
núi lại có thể thấy các khu vườn khả ái, khu rừng khả
ái, các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái".
Rồi
người bạn đã đứng trên đỉnh núi, sau khi đi xuống chân
núi, nắm tay bạn, khiến bạn trèo lên đỉnh núi, để bạn
nghỉ thở một thời gian, rồi nói: "Này Bạn thân, nay Bạn
có thể thấy gì, khi Bạn đứng trên đỉnh núi?" Và người
bạn ấy có thể nói: "Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh
núi, tôi thấy các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái,
các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái". Người kia có
thể nói như sau: "Vừa rồi, này Bạn thân, chúng tôi hiểu
Bạn nói: "Không thể có sự kiện này, này Bạn thân, không
thể có trường hợp này, Bạn đứng trên đỉnh núi lại
có thể thấy các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái,
các đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái". Nhưng nay chúng
tôi hiểu Bạn nói: "Này Bạn thân, nay đứng trên đỉnh núi,
tôi thấy các khu vườn khả ái, các khu rừng khả ái, các
đất bằng khả ái, các ao hồ khả ái". Người kia nói như
sau: "Này Bạn thân, vì tôi bị che khuất bởi sườn núi này,
nên không thấy được những điều đáng thấy".
Cũng
vậy, nhưng to lớn hơn, này Aggivessana, là Vương tử Jayasena,
bị che khuất, bị chận đứng, bị chướng ngại, bị bao
vây bởi vô minh uẩn này. Vương tử Jayasena sống giữa các
dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến,
bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại
có thể biết, có thể thấy hay có thể chứng quả vị chỉ
có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được,
chỉ có ly dục mới đạt được, chỉ có ly dục mới chứng
được; sự kiện như vậy không xảy ra.
Nếu
hai ví dụ này được Ông đề cập cho Vương tử Jayasena,
thời Vương tử Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông và khi đã
tin tưởng, sẽ hành động đúng theo cung cách một người
đã tin tưởng Ông.
--
Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, hai ví dụ này khởi đến từ
nơi con cho Vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên,
từ trước chưa từng được nghe, như Thế Tôn được?
--
Ví như, này Aggivessana, một vị vua Sát-đế-lỵ đã quán đảnh
bảo người nài voi: "Này Tượng sư, hãy cưỡi con vương tượng,
đi vào rừng có voi; khi Ông thấy con voi rừng, hãy cột nó
lại vào cổ con vương tượng". -- "Thưa vâng, tâu Ðại vương".
Này Aggivessana, người tượng sư vâng theo lời vị vua Sát-đế-lỵ
đã làm lễ quán đảnh, cỡi con vương tượng, vào trong rừng
có voi, thấy con voi rừng, cột con voi rừng ấy vào cổ con
vương tượng. Con vương tượng kéo nó ra chỗ ngoài trời.
Cho đến như vậy, này Aggivessana, con voi rừng được đi đến
chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, con voi rừng còn có sự
tham luyến tức là đối với rừng có voi.
Người
tượng sư tâu với vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh
về con voi rừng ấy. "Tâu Ðại vương, con voi rừng đã ra
chỗ ngoài trời". Rồi vị vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán
đảnh bảo người điều phục voi: "Hãy đến, này người
Ðiều phục voi, hãy điều phục con voi rừng này bằng cách
điều phục nếp sống rừng của nó, bằng cách điều phục
tâm tư rừng núi, bằng cách điều phục sự ưu tư, mệt nhọc,
nhiệt não đối với rừng núi của nó bằng cách làm cho nó
thích thú với thôn làng, và bằng cách làm cho nó quen thuộc
với nếp sống loài người". -- "Thưa vâng, tâu Ðại vương".
Này Aggivessana, người điều phục voi vâng theo lời vua Sát-đế-lỵ
đã làm lễ quán đảnh, đóng một cọc trụ lớn vào đất,
cột cổ con voi rừng, để điều phục nếp sống rừng của
nó, để điều phục tâm tư rừng núi, để điều phục sự
suy tư, mệt nhọc, nhiệt não của rừng núi, để làm cho nó
thích thú với thôn làng và làm cho nó quen thuộc với nếp
sống loài người.
Rồi
người điều phục voi lại nói với nó bằng những lời nhẹ
nhàng, đẹp tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều
người vui thích, khiến nhiều người hoan hỷ. Và này Aggivessana,
con voi rừng khi được nói với những lời nhẹ nhàng, đẹp
tai, thân tình, đi đến tâm, thanh nhã, khiến nhiều người
vui thích, khiến nhiều người hoan hỷ, liền nghe, lóng tai,
trú tâm vào học hỏi (anna). Tiếp đến người điều phục
voi đem cỏ và nước cho con voi rừng. Này Aggivessana, khi con
voi rừng nhận cỏ và nước, người điều phục voi mới nghĩ:
"Nay con voi rừng sẽ sống".
Rồi
người điều phục voi khiến con voi rừng làm thêm một động
tác khác: "Này Bạn, nhặt lên! Này Bạn, đặt xuống!" Này
Aggivessana, sau khi con vương tượng vâng theo lời người điều
phục voi, làm đúng theo lời dạy nhặt lên, đặt xuống rồi,
người điều phục voi khiến nó làm thêm một động tác khác:
"Này Bạn, đi tới! Này Bạn, đi lui!" Này Aggivessana, sau khi
con vương tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm
đúng theo lời dạy đi tới, đi lui rồi, người điều phục
voi khiến nó làm thêm một động tác khác: "Này Bạn, đứng
dậy! Này Bạn, ngồi xuống!" Này Aggivessana, sau khi con vương
tượng vâng theo lời người điều phục voi, làm đúng theo
lời dạy, đứng dậy, ngồi xuống rồi, người điều phục
voi khiến nó làm thêm một động tác khác tên gọi "bất động".
Nó cột cái khiên bằng gỗ vào cái vòi của con vật to lớn,
và một người tay cầm ngọn giáo ngồi trên cổ, và xung quanh
một số người tay cầm ngọn giáo đứng bao vây. Và người
điều phục voi, tay cầm một ngọn giáo với cán cây dài,
đứng ở phía trước. Con voi ấy làm động tác bất động,
không có di động chân trước, không có di động chân sau,
không có di động thân trước, không có di động thân sau,
không di động đầu, không có di động tai, không có di động
ngà, không có di động vòi. Con vương tượng là con voi có
thể nhẫn chịu đao, kiếm, tên, búa chém bắn, nhẫn chịu
tiếng vang động của trống lớn, trống nhỏ, tù và, như
là vàng ròng tẩy sạch các tỳ vết nhơ bẩn, xứng đáng
được vua dùng, một sở hữu của vua, một biểu tượng của
vua.
(Lòng
tín thành)
Cũng
vậy, này Aggivessana, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời là
bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân
Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với
thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm
thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn,
Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài
thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ
văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh [3] hoàn toàn đầy
đủ thanh tịnh.
Người
gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở
giai cấp hạ tiện nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy
sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy,
người ấy suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy những triền
phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất
gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người
sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy
đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta
nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia
đình, sống không gia đình". Một thời gian sau, người ấy
bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến
thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu
tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình. Cho đến đây, này Aggivessana, là vị Thánh đệ tử
đi đến chỗ ngoài trời. Nhưng này Aggivessana, các vị Thiên,
Nhân có tham ái này, tức là năm dục công đức.
(Giữ
giới)
Rồi
Như Lai huấn luyện thêm cho vị đệ tử ấy: "Hãy đến, này
Tỳ-khưu, hãy giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự
của giới bổn Patimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa), đầy đủ oai
nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt,
thọ lãnh và tu học trong học pháp!"
(Phòng
hộ các căn)
Này
Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã giữ giới, sống chế
ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ
oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt,
thọ lãnh và tu học trong học pháp, Như Lai lại huấn luyện
thêm cho vị đệ tử ấy: "Hãy đến, này Tỳ-khưu, hãy bảo
hộ các căn! Khi mắt thấy sắc, chớ có nắm giữ tướng
chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì,
vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các
ác bất thiện pháp khởi lên, hãy tự chế ngự nguyên nhân
ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai
nghe tiếng,... mũi ngửi hương,... lưỡi nếm vị,... thân cảm
xúc,... ý nhận thức các pháp, chớ có nắm giữ tướng chung,
chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý
căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất
thiện pháp khởi lên, hãy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì
ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn".
(Tiết
độ ăn uống)
Này
Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã hộ trì các căn, Như Lai
huấn luyện thêm vị Thánh đệ tử ấy: "Hãy đến, này Tỳ-khưu,
hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng
món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê,
không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình,
chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi
bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy,
ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm
thọ mới. Và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an
ổn".
(Chú
tâm cảnh giác)
Này
Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã tiết độ trong ăn
uống, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: "Hãy đến, này
Tỳ-khưu, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng
ngại pháp. Ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và
trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các chướng
ngại pháp. Ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông
bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với
nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy.
Ban đêm canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh
hành và trong khi đang ngồi, hãy gột sạch tâm trí khỏi các
chướng ngại pháp".
(Chánh
niệm tỉnh giác)
Này
Aggivessana, sau khi Thánh đệ tử đã chú tâm cảnh giác, Như
Lai huấn luyện thêm vị ấy: "Hãy đến, này Tỳ-khưu, hãy
thành tựu chánh niệm tỉnh giác! Khi đi tới khi đi lui đều
tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi
co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát,
thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh
giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi,
đứng ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác".
Này
Aggivessana, sau khi vị Thánh đệ tử đã thành tựu chánh niệm
tỉnh giác, Như Lai lại huấn luyện thêm vị ấy: "Hãy đến,
này Tỳ-khưu, hãy lựa một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc
cây, ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng,
ngoài trời, đống rơm!"
(Đoạn
trừ triền cái)
Vị
ấy lựa chọn một trú xứ thanh vắng, khu rừng, gốc cây,
ngọn núi, chỗ hoang vu, hang núi, bãi tha ma, khóm rừng, ngoài
trời, đống rơm. Vị ấy sau khi ăn xong, trên đường khất
thực trở về, ngồi xuống, kiết-già, giữ lưng cho thẳng,
trú niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống
với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ
sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn
thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân
hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn
trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh
niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ
bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối
quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối
quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống với tâm thoát khỏi nghi
ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ
đối với thiện pháp.
(Hành
Tứ niệm xứ)
Vị
ấy sau khi đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái
làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy sống
quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để
điều phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các cảm thọ...
quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm để điều phục tham ưu ở đời.
Ví
như, này Aggivessana, một người điều phục voi đóng một
cọc trụ lớn vào đất, cột cổ con voi rừng để điều
phục nếp sống rừng của nó, để điều phục tâm tư rừng
núi của nó, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt
não của rừng núi, để làm cho nó thích thú với thôn làng
và làm cho nó quen thuộc với nếp sống loài người; cũng
vậy, này Aggivessana, bốn niệm xứ này là những dây cột
tâm tư để điều phục tánh cư sĩ, để điều phục tâm
tư cư sĩ, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não
của các cư sĩ, để đạt được chánh lý (naya), để chứng
ngộ Niết-bàn.
Rồi
Như Lai huấn luyện thêm vị ấy:
--
Hãy đến, này Tỳ-khưu, hãy trú quán thân trên thân, và chớ
có suy tư trên tầm liên hệ đến thân; hãy trú quán thọ
trên các cảm thọ, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến
cảm thọ; hãy trú quán tâm trên tâm, chớ có suy tư trên tầm
liên hệ đến tâm; hãy trú quán pháp trên các pháp, và chớ
có suy tư trên tầm liên hệ đến các pháp.
(Phát
triển thiền-na)
Vị
ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai [4], một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội
tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,
thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm
lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc,
xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú
Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
(Tam
minh)
Với
tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không
phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động
như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy
nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời,
năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm
ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ
rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như
thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ
khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này.
Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ
ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp
như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ
nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy vị ấy nhớ đến
những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương
và các chi tiết.
Với
tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không
phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động
như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng
sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy
sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng
chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ
kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh
nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị
chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu
những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về
ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp
theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung,
phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn
những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về
thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu
những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo
chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người
này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện
thú, Thiên giới, trên đời này". Như vậy, vị ấy với thiên
nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng
sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt
kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn
kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
Với
tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm [5],
không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất
động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị
ấy tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ" [6], tuệ tri như thật:
"Ðây là Khổ tập", tuệ tri như thật: "Ðây là Khổ diệt",
tuệ tri như thật: "Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt"
tuệ tri như thật: "Ðây là những lậu hoặc", tuệ tri như
thật: "Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc", tuệ tri như
thật: "Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc", tuệ tri như
thật: "Ðây là Con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu
hoặc".
(Giải
thoát)
Nhờ
biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục
lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối
với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu
biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện
tại, không có trở lui đời sống này nữa".
Tỳ-khưu
kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của muỗi,
ruồi, gió, mặt trời và các loài bò sát, các ác ngữ, các
lời nói chửi mắng, vị ấy sống quen kham nhẫn với những
cảm thọ về thân, thống khổ, đau nhói, đau đớn, kịch
liệt, bất khoái, không thích ý, đau đớn đến chết, được
gột sạch về uế nhiễm tham, sân, si [7]. Vị ấy xứng đáng
được cúng dường, cung kính, tôn trọng, chấp tay, là vô
thượng phước điền trên đời.
Nếu,
này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già chết đi, không
được điều phục, không được huấn luyện, thời con vương
tượng tuổi già được gọi là đã chết với cái chết không
được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng
tuổi bậc trung; nếu, này Aggivessana, một con vương tượng
tuổi trẻ chết đi, không được điều phục, không được
huấn luyện, thời con vương tượng tuổi trẻ được gọi
là đã chết với cái chết không được điều phục. Cũng
vậy, này Aggivessana, nếu vị Trưởng lão Tỳ-khưu chết với
lậu hoặc chưa đoạn tận, thời Trưởng lão Tỳ-khưu được
gọi là đã chết với cái chết không được điều phục.
Nếu, này Aggivessana, một Tỳ-khưu trung niên; nếu, này Aggivessana,
một Tỳ-khưu thiếu niên chết với lậu hoặc chưa đoạn
tân, thời Tỳ-khưu thiếu niên được gọi là đã chết với
cái chết không được điều phục.
Nếu,
này Aggivessana, một con vương tượng tuổi già khéo điều
phục, khéo huấn luyện chết đi, thời con vương tượng tuổi
già được gọi là đã chết với cái chết được điều
phục. Nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi bậc
trung, nếu, này Aggivessana, một con vương tượng tuổi trẻ
khéo điều phục, khéo huấn luyện chết đi, thời con vương
tượng tuổi trẻ được gọi là đã chết với cái chết
được điều phục. Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một Trưởng
lão Tỳ-khưu với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời
Trưởng lão Tỳ-khưu được gọi là đã chết, với cái chết
được điều phục. Nếu, này Aggivessana, một trung niên Tỳ-khưu;
nếu, này Aggivessana, một thiếu niên Tỳ-khưu, với lậu hoặc
đã đoạn tận chết đi, thời vị thiếu niên Tỳ-khưu được
gọi là đã chết, với cái chết được điều phục.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Sa-di Aciravata hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
[Trung
Bộ 125]
Ghi
chú:
[1]
Am thất trong một khu biệt lập của vườn Trúc Lâm, dành
để cho các tu sĩ tinh tấn tu thiền (theo Chú giải).
[2]
Con của vua Bimbisara.
[3]
Brahmacariyam: Đời sống trong sạch của một tu sĩ sống độc
thân.
[4]
Cần ghi nhận ở đây là tiếp theo đoạn hành Tứ niệm xứ
là phát triển Thiền-na thứ hai (Nhị thiền) mà không thấy
đề cập đến Thiền-na thứ nhất (Sơ thiền). Có thể là
vì hành giả đã thuần thục đạt đến Sơ thiền từ trước.
Nhưng cũng có thể là vì với sự hành trì Tứ niệm xứ một
cách tinh tấn, với chú tâm vào quán sát đơn thuần, thường
có khuynh hướng giảm thiểu tầm, khiến hành giả có thể
tiến thẳng vào Nhị thiền, không còn tầm và tứ (vitakha-vicara).
Trường hợp nầy có thể giải thích bằng các sự kiện rằng
(1) trong bài kinh, pháp hành Tứ niệm xứ theo liền sau việc
tạm thời dừng bỏ năm triền cái, ám chỉ một mức độ
tâm định rất cao, tiến gần đến thiền-na; và (2) trong bài
kinh, hành giả được dạy không có suy tư trên tầm liên hệ
đến thân, đến thọ, đến tâm, đến pháp -- có nghĩa là
từ bỏ chi tầm vốn hiện diện trong Sơ thiền.
[5]
Asava.
[6]
Dukkha.
[7]
Raga, dosa, moha.
-ooOoo-
5.
Trưởng lão ni Dantikà
Trong
đời đức Phật hiện tại, bà được sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ)
trong gia đình vị giáo sĩ nhà vua. Khi đến tuổi trưởng thành,
bà trở thành tín nữ ở Jetavana (Kỳ Viên) và về sau xuất
gia, dưới sự chỉ đạo của Tỳ-khưu Ni Mahàpajàpati. Một
thời khi đang ở Ràjagaha (Vương Xá), bà leo lên núi Linh Thứu;
và sau buổi ăn, khi đang còn ngồi nghỉ, thấy một người
nài điều khiển một con voi; và nhờ vậy bà chứng quả A-la-hán;
với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Về sau, vô cùng hân hoan
với quả chứng của mình, bà nói lên bài kệ như sau:
48.
Ra khỏi ngôi tinh xá,
Ðể
nghỉ trưa ban ngày,
Trên
đỉnh núi Linh Thứu,
Ta
thấy một con voi,
Dầm
nước xong đi lên,
Trên
bờ một con sông.
49.
Một người cầm cái móc,
Yêu
cầu đưa chân lên,
Con
voi duỗi chân ra,
Và
người leo lên voi.
50.
Thấy kẻ chưa nhiếp phục,
Ði
đến được nhiếp phục,
Ta
thấy nó vâng chịu,
Theo
quyền lực của người.
Như
vậy, ta định tâm,
Ði
vào trong rừng ấy.
[Trưởng
Lão Ni Kệ 3.48]
-ooOoo-
6.
Gậy Thúc Ngựa
1.
- Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các
Tỳ-khưu, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở
đây, này các Tỳ-khưu, có loài ngựa hiền thiện thuần thục,
thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích
nghĩ rằng: "Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo
ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-khưu,
ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-khưu,
đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có
mặt, hiện hữu ở đời.
2.
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, ở đây có loài ngựa hiền thiện
thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động,
kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó
liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: "Hôm nay, người
đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng
thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-khưu, ở đây là loài ngựa
hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-khưu, đây là loài ngựa
hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
3.
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, ở đây có loài ngựa hiền thiện
thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động,
kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không
bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa
đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng:
"Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì
và ta đáp ứng thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-khưu, ở đây
là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-khưu,
đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt,
hiện hữu ở đời.
4.
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, ở đây có loài ngựa hiền thiện
thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động,
kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị
dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt,
không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm
vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: "Hôm nay,
người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp
ứng thế nào?" Như vậy, này các Tỳ-khưu, ở đây là loài
ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-khưu, đây là
loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện
hữu ở đời.
Này
các Tỳ-khưu, có bốn loài ngựa hiền thiện, thuần thục,
có mặt, hiện hữu ở đời.
5.
Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, có bốn hạng người hiền thiện,
thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là
bốn?
Ở
đây, này các Tỳ-khưu, có hạng người hiền thiện, thuần
thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn
bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người
ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy
như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ
được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi
thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-khưu,
con ngựa hiền thiện, thuần thục ấy, thấy bóng cây gậy
thúc ngựa, bị dao động kích thích, Ta nói rằng, này các
Tỳ-khưu, con người hiền thiện thuần thục này giống như
ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người
hiền thiện. Này các Tỳ-khưu, đây là hạng người hiền
thiện thuần thục thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời.
6.
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người hiền
thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn
kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay
bị mệnh chung, nhưng khi tự mình thấy người đàn bà hay
người đàn ông khổ đau hay mệnh chung, người ấy do vậy
bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh
cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự
thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập,
thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-khưu, con ngựa
hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm
vào da, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-khưu,
con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Như vậy, này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người hiền
thiện. Này các Tỳ-khưu, đây là hạng người hiền thiện
thuần thục thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời.
7.
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người hiền
thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn
kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay
bị mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay
người đàn ông khổ đau hay mệnh chung. Nhưng, khi có một
người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau
hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích.
Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với
thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với
trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật
ấy. Ví như, này các Tỳ-khưu, con ngựa hiền thiện thuần
thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao
động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-khưu, con người
hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy,
này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người hiền thiện. Này
các Tỳ-khưu, đây là hạng người hiền thiện thuần thục
thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
8.
Lại nữa, này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người hiền
thiện thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn
kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay
mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người
đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có người bà con
hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung.
Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau,
nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả
hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động,
kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh
cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối
thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được
sự thật ấy. Ví như, này các Tỳ-khưu, con ngựa hiền thiện
thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương
mới bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỳ-khưu,
con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy.
Như vậy, này các Tỳ-khưu, ở đây có hạng người hiền
thiện thuần thục. Này các Tỳ-khưu, đây là hạng người
hiền thiện thuần thục thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
Này
các Tỳ-khưu, có bốn hạng người hiền thiện thuần thục
này có mặt, hiện hữu ở đời.
[Tăng
Chi 4.113]
-ooOoo-
7.
Phẩm Tâm
33.
"Tâm hoảng hốt giao động,
Khó
hộ trì, khó nhiếp,
Người
trí làm tâm thẳng,
Như
thợ tên, làm tên."
34.
"Như cá quăng trên bờ,
Vất
ra ngoài thủy giới;
Tâm
này vũng vẫy mạnh,
Hãy
đoạn thế lực Ma."
35.
"Khó nắm giữ, khinh động,
Theo
các dục quay cuồng.
Lành
thay, điều phục tâm;
Tâm
điều, an lạc đến."
36.
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo
các dục quay cuồng.
Người
trí phòng hộ tâm,
Tâm
hộ, an lạc đến."
37.
"Chạy xa, sống một mình,
Không
thân, ẩn hang sâu
Ai
điều phục được tâm,
Thoát
khỏi Ma trói buộc"
38.
"Ai tâm không an trú,
Không
biết chân diệu pháp,
Tịnh
tín bị rúng động,
Trí
tuệ không viên thành."
39.
"Tâm không đầy tràn dục,
Không
bị hận công phá,
Ðoạn
tuyệt mọi thiện ác,
Kẻ
tỉnh không sợ hãi,"
40.
"Biết thân như đồ gốm,
Trú
tâm như thành trì,
Chống
ma với gươm trí;
Giữ
chiến thắng không tham"
41
"Không bao lâu thân này,
Sẽ
nằm dài trên đất,
Bị
vất bỏ, vô thức,
Như
khúc cây vô dụng."
42.
"Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan
gia hại oan gia,
Không
bằng tâm hướng tà,
Gây
ác cho tự thân."
43.
"Ðiều mẹ cha bà con,
Không
có thể làm được
Tâm
hướng chánh làm được,
Làm
được tốt đẹp hơn."
[Pháp
Cú]
-ooOoo-
last
updated: 04-10-2004