ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ NHÂN QUẢ
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC
Thích Nhuận Ân
A. DẪN NHẬP
Đạo Phật xuất hiện cách đây hơn 20 thế kỷ,
trải qua bao cuộc thăng trầm biến thiên của lịch
sử, Đạo Phật vẫn mãi mãi là ánh sáng, vẫn mãi
mãi là tiếng nói trong trẻo, tươi mát, trẻ
trung, khả ái của tình thương và độ lượng. Qua
mọi xứ sở và thời đại, Đạo Phật đã khéo léo dùng
mọi phương tiện để có thể tùy nghi thích ứng với
từng nền văn hóa khác nhau trong từng dân tộc.
Càng tiến hóa bao nhiêu, nhân loại càng nhận ra
được giá trị long lanh mầu nhiệm trong từng lời
dạy của Đức Phật. Bởi lẽ, giáo lý của Đạo Phật
đã mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc.
Nó không vì mục đích giải thoát tự thân mà vì an
vui hạnh phúc cho tha nhân và mọi loài. Giáo lý
của Đạo Phật không còn hạn hẹp, thu mình trong
một đất nước Ấn Độ cổ đại, mà đã vượt qua muôn
trùng không gian và thời gian để đến với con
người. Do vậy, để ngọn đèn chánh Pháp được mãi
thắp sáng và lưu truyền trong nhân loại, ta hãy
lắng nghe lời Phật dạy :“Này các tỳ kheo, hãy
lên đường thuyết Pháp vì hạnh phúc, vì an lạc
cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài
người”
Cùng trong trào lưu ấy, Đạo Phật đã đến với
Việt nam vào những ngày đầu của thế kỷ thứ 2 Tây
lịch. Trãi qua hơn 20 thế kỷ, Đạo Phật đã hoà
quyện cùng dân tộc Việt nam và đã đem lại cho
con người Việt nam, cho đất nước Việt nam suối
nguồn an lạc và giải thoát. Đạo Phật đã giúp cho
con người Việt nam sống hòa bình và hạnh phúc,
giữ gìn đất nước thịnh vượng, giàu bản sắc văn
hóa dân tộc. Trên tiến trình đó, ngọn gió từ bi
đã mang tinh thần hòa hợp, nhẫn nại, bình đẳng,
vị tha… thổi vào đời sống văn hóa sinh hoạt,
phong tục, tập quán của dân tộc Việt nam.
Hơn bao giờ hết, giáo lý của Đạo Phật đã được
dân tộc Việt nam tiếp nhận một cách dễ dàng bởi
tính thiết thực và gần gũi trong đời sống sinh
hoạt thường nhật. Tư tưởng triết lý của Đạo Phật
đã thấm nhuần tinh thần dân tộc Việt nam. Một
trong những giáo lý rất gần gũi với người Việt
Nam chính là giáo lý nhân quả. Một giáo lý đã ăn
sâu vào hệ tư tưởng của mọi tầng lớp, mọi người
dân Việt Nam. Nó không chỉ ảnh hưởng trên lý
thuyết thông qua những bài giảng, qua kinh sách
mà đã được thể hiện rõ nét qua cách sống, qua ý
thức thực hành một cách tự nhiên, trở thành một
bản năng vốn có của con người. Thấy được giá trị
ấy, với đam mê sở thích tìm hiểu nghiên cứu về
những vấn đề văn hóa dân tộc Việt Nam, người
viết đã mạnh dạn chọn cho mình đề tài “Ảnh
Hưởng Của Giáo Lý Nhân Quả Trong Đời Sống Văn
Hóa Dân Tộc” như một thử thách ban đầu trong
công việc tìm hiểu và nghiên cứu sau này. Giáo
lý nhân quả tuy đã được nói đến rất nhiều trong
các kinh sách, trong những bài viết có giá trị
và ý nghĩ sâu sắc của nhiều tác giả khác nhau
trong và ngoài nước. Nhưng một lần nữa, người
viết muốn được tự mình khám phá thêm nhiều điều
mới, nhất là tìm hiểu qua giá trị luân lý đạo
đức và ảnh hưởng của giáo lý nhân quả đối với
nền văn hóa dân tộc Việt nam. Bởi lẽ, trong xã
hội ngày nay, một xã hội có biết bao điều đáng
nói. Nơi ấy, con người ta thật khó có thể phân
biệt được ranh giới rõ ràng giữa cái thiện và
cái ác. Qua đề tài này, người viết muốn cùng mọi
người cất lên tiếng chuông cảnh tĩnh, để cùng
nhau ý thức và xây dựng cho mình một đời sống
lành mạnh nhất.
Trong tập luận văn này, người viết không nhằm
mục đích trình bày toàn bộ hệ thống giáo lý nhân
quả một cách chi tiết toàn mỹ, mà chỉ đưa ra
những khái quát chung về những khía cạnh căn bản
nhất để minh họa cho những lý luận sau. Qua đó
muốn cho người đọc thấy được những ảnh hưởng sâu
sắc nhất của giáo lý nhân quả trong đời sống văn
hóa sinh hoạt của con người Việt nam, dân tộc
việt nam. Với khuynh hướng trên, trong đề tài
này người viết xin được trình bày qua ba phần
chính như sau:
1. Khái quát về giáo lý nhân quả.
2. Ảnh hưởng của giáo lý nhân quả trong đời
sống văn hóa dân tộc.
3. Tính nhân văn của giáo lý nhân quả đối với
xã hội.
Mong rằng bài viết như là một quá trình tìm hiểu
qua những khía cạnh văn hóa mà người viết đã
được học tập và tiếp nhận qua bốn năm dưới mái
trường Học Viện. Nhân bài viết này, người viết
xin được thành kính đảnh lễ và chân thành tri
ân Chư Tôn Đức trong Hội Đồng Học Viện, Chư Tôn
Đức, Chư Vị Giáo Thọ Sư trong Ban Giảng Huấn Học
Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí
Minh. Nhất là giáo sư Minh Chi đã tận tình
hướng dẫn cũng như cung cấp những tài liệu quí
giá để con có thể hoàn thành tốt luận văn này.
Mặc dầu đã cố gắng tập trung để viết, nhưng với
kiến thức còn hạn chế và thời lượng cho phép nên
vẫn không sao tránh khỏi những sai sót trong quá
trình tìm hiểu, nghiên cứu và trích dẫn. Kính
mong Quí Bậc Giáo Thọ Sư, Giáo sư hướng dẫn cùng
các thân hữu hoan hỷ chỉ giáo.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT GIÁO LÝ NHÂN QUẢ
Mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều vận hành
theo một quy luật chung trong một tiến trình tất
yếu là nhân quả. Quy luật nhân quả dường như đã
chi phối và tác động đến mọi sinh hoạt của con
người. Để hiểu rõ thêm về giáo lý nhân quả trong
Phật giáo chúng ta có thể tìm hiểu qua đôi nét
căn bản sau :
1.1 KHÁI QUÁT NHÂN QUẢ :
Các hiện tượng tâm lý và vật lý đều vận
hành theo một quy luật chung trong sự tuần hoàn
của vũ trụ. Một lần, trong phút chốc phát hiện
ra một lẽ thật, Héraclite -một triết gia Hy lạp
thời cổ đại đã phát biểu : “Chúng ta không thể
bước xuống hai lần nơi cùng một dòng nước”. Ông
đã dùng hình ảnh dòng nước trôi chảy để nói lên
một quy luật đang hằng diễn tiến trong thế giới
nhân sinh và vũ trụ. Bởi lẽ, không chỉ ở cuộc
đời mà ngay cả mọi sự vật hiện tượng giới luôn
luôn trôi chảy, vận hành theo quy luật nhân quả.
Nhìn vào cơn mưa đang đổ, ta sẽ dễ dàng bắt gặp
và nhận ra một chuỗi liên kết qua lại của nhiều
nhân tố khác nhau. Trong Phật Giáo gọi những
nhân tố đó là nhân duyên. Thế nhưng bản chất sâu
xa bên trong vẫn không vượt ra ngoài quy luật
nhân quả. Ta thấy rằng trong một chuỗi dài của
tiến trình ấy thì mưa là kết quả, mây là nguyên
nhân; mây là kết quả và hơi nước lại là nguyên
nhân …
Xét trên phương diện con người, ta càng
thấy sự hiện diện tất yếu và rõ nét của tiến
trình nhân quả. Theo Phật Giáo, con người hiện
tại chính là kết quả của nhiều nguyên nhân trong
quá khứ. Con người ở hiện tại lại tiếp tục là
nguyên nhân tạo nên bản chất cho con người ở mai
sau (tương lai). Xuất phát từ những quan niệm
trên, trong dân gian ta quen gọi tiến trình diễn
tiến ấy bằng những khái niệm rất quen thuộc như
kiếp trước, kiếp sau hay còn gọi là tiền kiếp,
hậu kiếp.
Tuy nhiên, tiến trình diễn tiến từ nhân
đến quả không phải chỉ xảy ra một cách đơn giản
như lâu nay chúng ta thường nghĩ, mà nó có những
thay đổi chuyển biến hết sức phức tạp và phong
phú. Như nhân thế này không phải sẽ cho quả như
vậy, mà nó lại còn cho ta quả thế khác. Đó là do
ảnh hưởng của nghiệp duyên tạo tác khác nhau nên
có sự sai biệt trong kết quả. Ta thường gọi đó
là dị thục quả. Do vậy, cơ sở hình thành nhân
quả là do tác động của nghiệp. Nói đến nghiệp là
nói đến cặp phạm trù thiện và ác. Một hành động
có tác ý mới được gọi là nghiệp. Nếu nghiệp đơn
thuần là một hành động thiếu tác ý thì gọi là
nghiệp vô tình, và tất nhiên cũng sẽ đưa đến một
kết quả vô tình.
Ở đây, nói đến nhân quả nghiệp báo là nói
đến một tiến trình tạo tác của con người mà đưa
đến một đời sống hạnh phúc hay khổ đau. Đồng
thời, tùy theo tâm lý khác nhau mà tạo nên một
cuộc sống an lành hay bất hạnh. Trong suốt tiến
trình đó, con người chính là chủ nhân tạo tác và
đóng vai trò trung tâm chủ đạo. Như trong kinh
Đức phật dạy: “Người là chủ nhân của nghiệp, là
kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp
là quyến thuộc” .
Dựa trên những khái quát trên ta có thể
đi vào tìm hiểu nội dung và ý nghĩa của giáo lý
nhân quả trong Đạo Phật.
1.2 ĐỊNH NGHĨA NHÂN QUẢ :
Mỗi tôn giáo, mỗi học thuyết nói chung đều
có những quan niệm khác nhau về nhân quả. Ở đây
ta chỉ tìm hiểu về nhân quả theo quan điểm của
Đạo Phật. Theo phật giáo, nhân là nguyên nhân,
quả là kết quả. Trong thế giới tương quan của
hiện tượng, mỗi sự vật hiện tượng đều có những
nguyên nhân của nó. Nguyên nhân cho sự có mặt
của các hiện hữu tồn tại gọi là nhân, và sự hiện
hữu gọi là quả. Nếu nhân là hạt giống thì quả là
mầm cây. Nếu nhân là mầm cây thì quả là sự đơm
hoa kết trái . . . Mỗi hiện tượng vừa là nhân mà
cũng vừa là quả. Tương quan nhân quả ấy gọi là
tương quan duyên sinh và đã được Đức phật nói
đến qua giáo lý duyên khởi. Từ nhân đến quả phải
trãi qua một quá trình chịu sự tác động và ảnh
hưởng to lớn của các yếu tố duyên theo một tiến
trình tất yếu (nhân- duyên- quả). Vì vậy, đôi
lúc ta thấy tuy quả cùng đẳng loại với nhân
nhưng vẫn khác nhau. Đó là tùy thuộc vào sự tác
động mạnh hay yếu , thuận hay nghịch của các
duyên ở trung gian mà cho kết quả sớm hay muộn,
thậm chí không đưa đến kết quả.
1.3 NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA NHÂN QUẢ :
Do tính phức tạp trong quá trình diễn tiến
của luật nhân quả nên các nhà nghiên cứu Phật
học tạm đưa ra một số đặc tính chung cơ bản như
sau:
1.3.1 TỔNG TƯỚNG NHÂN QUẢ :
Như đã đề cập, mọi sự vật hiện tượng trong
vũ trụ đều bị chi phối bởi quy luật nhân quả.
Để dễ nhận biết ta có thể tìm hiểu và phân tích
hành tướng của nhân quả trong các sự vật và hiện
tượng, hay nói cụ thể hơn là sự tác động của
nhân quả trong các loài thực vật, động vật (hữu
tình, vô tình ) và ngay chính nơi bản thân con
người . . .
Nhân quả trong những loài vô tri, vô giác
(vô tình) : nước bị lửa đốt thì nóng, bị gió
thổi thì thành sóng, bị làm lạnh thị đông lại.
Mưa nhiều thì sanh ra tình trạng lụt lội, nắng
lâu ngày thì sanh ra hạn hán, cháy rừng, mất mùa
. . .
Nhân quả trong các loài thực vật và động vật
(vô tình) : hạt sầu riêng sanh ra cây sầu riêng,
cây sầu riêng tất sanh ra trái sầu riêng. Gà
sanh ra trứng (nhân), trứng lại nở ra gà con
(quả), và khi gà con lớn lên lại tiếp tục sanh
ra trứng (nhân) . . . tiến trình ấy cứ diễn ra
theo một quy luật tuần hoàn (nhân quả - quả
nhân).
Nhân quả nơi con người : nói đến con người
là chúng ta đề cập đến hai phương diện luôn hiện
hữu và tồn tại trong một con người, đó là hai
yếu tố thể chất và tinh thần.
Về Phương Diện Thể Chất (vật chất) : tức là
thân tứ đại, do tinh cha huyết mẹ và nhiều nhân
tố của môi trường, hoàn cảnh nuôi dưỡng. Trong
đó, cha mẹ, môi trường, hoàn cảnh là nhân (có sự
tác động của duyên), người con trưởng thành là
quả. Tiến trình ấy lại tiếp tục diễn ra trong
những thế hệ kế tiếp.
Về Phương Diện Tinh Thần : tức là những tư
tưởng, hành vi trong quá khứ tạo cho con người
những tính cách tốt hay xấu. Tư tưởng và hành vi
trong quá khứ là nhân, những tính cách tốt hay
xấu là quả trong hiện tại; và tính cách tốt hay
xấu trong hiện tại lại tiếp tục làm nhân cho
những tính cách của con ngươiụ trong tương lai.
Tiến trình ấy cứ mãi diễn ra theo một quy trình
tất yếu (Nhân –Duyên- Quả), chỉ khác nhau nơi
tính cách, tư tưởng, hành vi trong mỗi chu kỳ mà
thôi.
Nói một cách tổng quát, về phương
diện tinh thần cũng như vật chất người ta gieo
trồng thứ gì thì gặp thứ ấy. Trong văn hóa của
người Pháp cũng có câu nói mang ý nghĩa tương tự
: “Mỗi người là con đẻ của công nghiệp mình”
1.3.2. BIỆT TƯỚNG NHÂN QUẢ :
1.3.3.3 NHIỆP NHÂN :
Cơ sở của nhân quả là thân, khẩu, ý. Động
lực phát sinh của nhân quả là nghiệp. Có 3 loại:
phước, phi phước và bất động nghiệp.
Phước : đựơc sanh khởi trên cơ sở ba nghiệp
thanh tịnh và hướng đến thiện tâm. Như không sát
sanh, không trộm cướp, không tham dục, không nói
dối, không tham, không sân, không si . . .
Phi Phước : là những hành vi đi ngược với
những điều trên.
Bất Động Nghiệp : là loại nghiệp được sanh
khởi do các loại thiền định tương ứng với ba cõi
: dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
1.3.2.2 NGHIỆP QUẢ :
Trong giáo lý nhân quả của Phật giáo tuy
có nhiều loại khác nhau, nhưng ta có thể tóm
lược qua 6 loại chính : định báo, bất định báo,
cộng báo, biệt báo, thế gian báo, xuất thế gian
báo.
Định Báo : Là loại quả báo nhất định phải
xảy ra trong một tiến trình nhân quả. Ví dụ : số
phận anh A là khổ thì suốt cuộc đời ấy anh ta
phải chịu cảnh khổ, hay số cô P chết vì tai nạn
thì nhất định trong đời ấy cô P sẽ gặp phải tai
nạn mà qua đời.
Bất Định Báo : Đây là loại nghiệp báo có thể
chuyển đổi được thông qua các duyên tố trong
hiện tại. Ví dụ, có một người kiếp trước tạo
nhân rất tốt nhưng trong giờ phút cận tử nghiệp,
bới nhiều yếu tố, điều kiện của môi trường, hoàn
cảnh bên ngoài tác động làm họ sanh khởi tâm
phiền não nên người ấy liền đọa vào cảnh giới
khổ đau. Ngược lại có người kiếp trước ít tạo
nhân lành, đời này sanh ra kém phước, nhưng do
hiểu biết về nhân quả, tội phước nên hết lòng
tạo tác thiện nhân bằng nhiều hình thức khác
nhau. Nhờ vậy mà nghiệp chướng tiêu trừ, thiện
căn tăng trưởng. Trong thực tế, ta thấy phần
lớn chúng sanh rơi vào đặc tính nhân quả này.
Cộng Báo (quả báo chung): Là loại quả báo mà
trong đó nhiều cá nhân cùng tạo chung một nghiệp
và rồi cùng chiêu cảm cùng một loại quả báo như
nhau. Một ví dụ thiết thực nhất với chúng ta
ngày nay là hiện tượng trái đất đang ngày càng
nóng lên. Do chính con người cùng gây nên những
nguyên nhân bất cập nên phải cùng chiêu cảm
những hậu quả chung là hiện tượng nóng bức, hạn
hán, mất mùa, đói khổ…
Biệt Báo (quả báo riêng): Là quả báo riêng
trong mỗi cá nhân ma ụkhông ảnh hưởng đến cá
nhân khác. Như cùng là con người nhưng có người
giàu sang, thông minh, hảo tướng, và cũng lại có
người bần cùng, nghèo khổ, xấu xí, bệnh tật… Hay
trên cùng một chuyến xe gặp tai nạn, vậy mà có
người bị chết, có người bị thương, và lại cũng
có người không hề bị chút thương tổn gì. Tất cả
những hiện tượng trên đều do nghiệp nhân tạo tác
khác nhau của mỗi người trong quá khứ nên có sự
thọ nhận quả báo cũng khác nhau ở kiếp sống hiện
tại. Ta gọi những hiện tượng đó là biệt báo.
Thế Gian Báo: Là những loại quả báo khổ vui
trong ba cõi như phiền não, khổ đau, sân si, hờn
giận… cho nên những loại quả báo này chỉ xảy ra
đối với những chúng sanh còn sanh tử luân hồi
trong ba cõi sáu đường, nó thuộc về quả báo hữu
lậu
Xuất Thế Gian Báo: Đây là quả báo vô lậu, để
nói đến quả báo của tứ Thánh: Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát và Phật. Do đoạn trừ được ba hạ
phần kiết sử chứng quả Tu Đà Hoàn; đoạn trừ hoàn
toàn năm hạ phần kiết sử chứng quả A Na Hàm;
đoạn trừ hoàn toàn năm thượng phần kiết sử chứng
quả A La Hán. Ngộ lý duyên khởi, vô thường, khổ,
không, vô ngã chứng quả Duyên Giác hoặc Bích
Chi; đoạn trừ hoàn toàn ngã chấp chứng quả Bồ
Tát; đoạn trừ hoàn toàn vi tế vô minh thành tựu
quả vị Phật.
1.4 PHÂN LOẠI NHÂN QUẢ:
Thông thường, khi một quả hình thành, nó
cần có sự kết tinh của nhiều nguyên nhân chính
và các nhân duyên phụ. Chính vì những yếu tố
khác nhau về thời gian, không gian, tâm lý, vật
lý. . . nên các nhà nghiên cứu phật học đã phân
loại nhân quả theo một trình tự như sau :
1.4.1 PHÂN LOẠI THEO THỜI GIAN :
Do tiến trình diễn tiến của nhân quả xảy
ra không đồng nhất trong một khoảng thời gian
nhất định, nên người ta có sự phân loại tính
chất của nhân quả theo thời gian như sau :
1.4.1.1 Nhân Quả Đồng Thời :
Là loại nhân quả mà thời gian từ
nhân đến quả xảy ra rất nhanh. Như ăn thì liền
no, uống nước vào liền hết khát, sân hận vừa
khởi lên thì phiền não liền xuất hiện, hay chiếc
dùi vừa đánh vào trống thì tiếng trống liền phát
ra . . .
1.4.1.2 Nhân Quả Khác Thời :
Là loại nhân quả mà quá trình diễn ra
từ nhân đến quả phải có một khoảng thời gian
nhanh hay chậm khác nhau. Khoảng thời gian ấy
đựơc chia thành 3 loại như sau :
Hiện Báo : Nghĩa là nghiệp nhân trong đời
này đưa đến quả báo ngay trong đời này.
Sanh Báo : Nghĩa là tạo nhân ở đời này nhưng
đến đời sau mới nhận quả.
Hậu Báo : nghĩa là tạo nhân trong đời này
nhưng đến nhiều đời sau mới thọ quả báo.
Ba khoảng thời gian của tiến trình nhân
quả trên tương đối ổn định nên chúng ta gọi đó
là định nghiệp. Tuy nhiên, có những trường hợp
do sự ảnh hưởng và tác động của những nhân tố
trung gian khác nhau nên ta khó có thể xác định
được thời gian và chủng loại. Những trường hợp
này được gọi là bất định nhiệp.
1.4.2 PHÂN LOẠI THEO VẬT LÝ VÀ TÂM LÝ, NỘI TÂM
VÀ NGOẠI GIỚI :
Sở dĩ có cách phân loại này là do có sự
ảnh hưởng, tác động của các yếu tố tâm lý, vật
lý trong tiến trình diễn tiến của nhân quả. Cách
phân loại này nhằm chỉ đến sự biểu hiện của
nghiệp quả thông qua thái độ tâm lý tiếp thọ
nghiệp. Đồng thời nó còn cho ta biết rõ hơn
khoảng cách khác nhau của nghiệp quả giữa tâm lý
và vật lý, giữa nội tâm và ngoại giới.
1.4.2.1 Tâm Lý và Vật Lý :
Trên cùng một con người, thế nhưng những
biểu hiện nhân quả tâm lý và vật lý của người ấy
lại khác nhau. Như một người có thân (vật lý)
xấu xí, tật nguyền, thô kệch . . . nhưng tâm
(tâm lý) thì lại hiền từ nhân hậu và rất thông
minh, sáng suốt. Ngược lại cũng có những người
tuy vẽ bên ngoài đẹp trai, khỏe mạnh nhưng tâm
hồn thì lại xấu xa ích kỷ. Tuy vậy, cũng có
những trường hợp đặc biệt ngoại lệ, như có
người đầy đủ phước báu vẹn toàn cả hai mặt, hoặc
cũng có những trường hợp ngược lại.
1.4.2.2 Nội Tâm và Ngoại Giới :
Những trường hợp mà quá trình nhân quả
diễn ra bên trong tâm lý của con người được gọi
là nhân quả nội tâm (bên trong), và quá trình
nhân quả diễn ra bên ngoài thì được gọi là nhân
quả ngoại giới (bên ngoài). Ví dụ : có người tuy
thân bị giam cầm trong chốn tù lao nhưng tâm vị
ấy luôn trú trong an định, giải thoát. Điều đó
cho ta thấy rằng nghiệp quả chỉ biểu hiện ở thân
chứ không biểu hiện nơi tâm.
Qua các phần trình bày trên, người viết
không có chủ đích trình bày tất cả những khía
cạnh của giáo lý nhân quả một cách chi tiết. Bởi
lẽ, chúng ta thấy rằng con đường đi của tiến
trình nhân quả diễn ra hết sức phức tạp. Ngay
chính Đức Phật của chúng ta đã từng nhấn mạnh:
“Có bốn phạm trù không thể tư duy: Phật giới,
thế giới tâm, thiền định của người tu, và quả dị
thục của nghiệp” . Đó là bốn phạm trù thật khó
có thể tư duy và diễn đạt bằng ngôn từ lý luận.
Vì vậy, chúng ta không thể giải quyết rốt ráo và
rõ ràng mọi vấn đề của nhân quả. Chúng ta lại
càng không thể đưa ra một công thức nhất định
nào về nó.
Tuy nhiên, với một thời lượng nhất định,
người viết chỉ có thể đưa ra một cách tổng quát
chung và cơ bản nhất của giáo lý nhân quả mà
chúng ta thường gặp phải. Qua đó ta thấu hiểu
định lý nhân quả một cách rõ ràng, sáng tỏ,
nhất là nhận thức được rằng nghiệp nhân không
phải là cái gì đó khó hiểu. Chúng ta lại càng
định tĩnh trước những quan niệm về một đấng
thượng đế tối cao nào đó đang điều hành chi phối
cuộc sống của con người như lâu nay chúng ta
hằng lầm tưởng. Nó phủ nhận cái quan điểm về một
học thuyết chủ trương “Vạn vật do một vị thần
sáng tạo và có quyền năng thưởng phạt muôn
loài”. Người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt
niềm tin của mình vào một nơi chốn mơ hồ, huyễn
ảo, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại
thần quyền, không hoang mang lo sợ.
Luật nhân quả cho ta thấy được thực trạng
của sự vật không có gì là mơ hồ, bí hiểm. Giáo
lý nhân quả dạy cho ta những bài học đúng đắn
nhất, thiết thực nhất để tự mỗi cá nhân xây dựng
và hoàn thiện cho mình một đời sống an lành hạnh
phúc.
CHƯƠNG 2
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ NHÂN QUẢ TRONG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA DÂN TỘC
Như trên đã nói, Đạo Phật đã đến với Việt Nam
vào những ngày đầu của thế kỷ thứ II Tây lịch.
Do vậy, những tư tưởng, triết lý Phật giáo đã có
những ảnh hưởng hết sức to lớn đến đời sống văn
hóa dân tộc Việt Nam. Giáo lý nhân quả của Đạo
Phật đã có những ảnh hưởng rất sâu đậm vào đất
nước và con người Việt Nam trên nhiều phương
diện khác nhau. Giáo lý ấy đương nhiên đã trở
thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối
với mọi người Việt Nam có hiểu biết có suy nghĩ.
Mọi người dù là những tín đồ Phật giáo hay đơn
thuần chỉ là những người ngoài cuộc, nhưng khi
nói đến nhân quả dường như tất cả đều tin tưởng
và chấp nhận. Điều đó đã được thể hiện rõ nét
qua cách sống, qua hành vi cư xử của mọi người
dân Việt. Người ta biết lựa chọn cho mình cách
sống ăn ở ngay lành. Dù tối thiểu thì đó cũng là
kết quả tự nhiên âm thầm của lý nhân quả. Không
một nhà trí thức, nho sĩ nào, ngay cả ngày nay
từ mọi tầng lớp bình dân cho đến trí thức không
ai lại không biết qua ít nhiều về giáo lý nhân
quả. Nó đã in sâu và đậm nét trong tâm khảm của
mỗi con người dân tộc Việt nam.
Từ ngàn xưa cho đến nay, giáo lý nhân quả
đã có những ảnh hưởng rất sâu sắc và rộng lớn
trong đời sống sinh hoạt của xã hội, trong văn
chương bình dân, trong thi ca văn học, trong
ngôn từ giao tiếp… Nó đã dẫn dắt bao thế hệ con
người biết soi sáng tâm trí minh vào lý nhân quả
mà hành động sao cho tốt đẹp trong một cộng đồng
xã hội. Do vậy tư tưởng triết lý nhân quả của
Đạo Phật đã ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ trên
một bề rộng qua nhiều khía cạnh khác nhau trong
xã hội.
2.1 ẢNH HƯỞNG TRONG KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN
VIỆT NAM :
Văn học là sự kết tinh của bao cái hay cái
đẹp trong cuộc sống. Nó hướng con người ta đến
một đời sống lạc quan tốt đẹp. Văn học là nơi
gặp gỡ của bao thế hệ nhà văn nhà thơ để cùng
nhau thổi vào trong cuộc sống những làn hơi ấm
áp nên thơ thông qua ngòi bút tuyệt tác của
mình. Họ là những con người đã từng trãi qua
kinh nghiệm sống, nhận ra được cái lẽ vốn dĩ xưa
nay của cuộc đời cứ luân lưu biến chuyển trong
thế giới nhân sinh và vũ trụ. Qua văn học,
người ta có thể phản ánh được cuộc sống một cách
chân thật. Triết lý nhân quả của Đạo Phật phải
chăng đã hòa cùng cuộc sống, nhằm trả lời và
giải quyết rốt ráo mọi vấn đề nan giải trong xã
hội. Do vậy triết lý nhân quả đã ảnh hưởng sâu
đậm vào nền văn học Việt Nam không chỉ trong một
phạm vi nhỏ hẹp mà hết sức đa dạng và phong phú
ở nhiều thể loại khác nhau.
2.1.1 TRONG CA DAO TỤC NGƯ ạ:
Ca dao, tục ngữ chính là sự đúc kết những
kinh nghiệm thiết thực trong cuộc sống. Nó
chuyển tải một cách trung thực mọi sự vật, hiện
tượng trong xã hội từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Để nói đến tính nhân quả trực tiếp hiện
tiền, trong văn học dân gian có rất nhiều câu ca
dao tục ngữ nói lên điều đó :
“Nhân nào quả ấy”
“Không có mây sao có mưa”
“Không có bột sao gột nên hồ”
Hay :
“Đất Bụt mà ném chim trời,
Chim trời bay mất bụi rơi vào đầu”
Những câu nói ấy tuy ngắn gọn nhưng ý
nghĩa và nội dung mang tính giáo dục rất cao.
Nói “nhân nào quả ấy” hàm chứa một lời răn đe
khuyên dạy con người sống ở đời phải biết lấy
cái thiện làm chất liệu để xây dựng và hoàn
thiện cho mình một đời sống hướng thiện. Nếu ta
gieo nhân lành ắt được quả lành, bằng ngược lại
ta gieo nhân xấu, bất thiện tất phải nhận lấy
kết quả bất hạnh khổ đau. Để mô tả và bộc lộ
tính chất trên, trong ca dao tục ngữ lại có câu:
“Gieo gió gặp bão”
Hay : “Nhân nào quả ấy mảy máy
không sai”
“Ở hậu gặp hậu, ở bạc gặp bạc”
Tất cả những ý chỉ ấy tuy không hoàn
toàn chuyển tải nội dung của lẽ sống một cách
chính xác nhất nhưng nó đã phản ánh một khía
cạnh, một đặc tính nào đó của quy luật nhân quả
tác động đến cuộc sống của con người.
Nhân quả nói đến báo ứng, thưởng phạt một
cách tích cực, trong ca dao tục ngữ dân gian
cũng góp phần phản ứng sâu sắc như :
“Ai mà phụ nghĩa quên ơn,
Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.”
Hay : “Đạo trời báo phúc
chẳng lâu,
Thế là thiện ác đáo đầu
chẳng sai”
“Trồng cây chua ăn quả chua
Trồng cây ngọt ăn quả ngọt
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu”
Ở đây, cây chua là chỉ cho nghiệp nhân bất thiện
nên phải chiêu cảm nghiệp quả cũng bất thiện
(quả chua). Cây ngọt là chỉ cho nghiệp nhân lành
nên thọ nhận nghiệp quả cũng lành (quả ngọt).
Điều đó đã nói lên đặc tính nhân nào qủa nấy.
Tuy nhiên, trong cuộc sống đời thường lắm khi ta
chứng kiến bao cảnh trái ý nghịch lòng. Trước
những hoàn cảnh ấy, nếu xét trên góc độ của thế
gian ta sẽ vội vàng kết luận và cho rằng cuộc
đời sao bất công vô lý.
Có lần trong buổi thuyết giảng tại một Đạo Tràng
Niệm Phật, một vị phật tử trẻ trao cho vị giảng
sư một tờ giấy học sinh. Trong đó đặt ra rất
nhiều câu hỏi nghi vấn mà lâu nay em ấp ủ muốn
hỏi. Tựu trung phần lớn các câu hỏi đều xoay
quanh nỗi bức xúc về các vấn đề nhân quả. người
viết xin được trích dẫn một câu hỏi tiêu biểu
với nội dung như sau : “Bạch thầy ! xưa nay cái
gì không thấy thì con không tin, cái gì thấy
được con chỉ mới tin một nữa. Vậy mà trãi qua
hai mươi mấy năm sống ở đời, con đã chứng kiến
biết bao người suốt đời làm những việc thiện ,
họ sống một cuộc sống hết sức nhân từ phúc hậu.
vậy mà họ luôn phải đối mặt với biết bao hoàn
cảnh éo le bất hạnh. Ngược lại, con thấy có
người luôn làm những điều bất chánh, tâm thì xấu
xa ích kỷ, vậy mà đời sống của họ lại luôn được
sung túc đầy đủ. Như vậy, liệu rằng cái gọi là
nhân quả trong Đạo Phật có công bằng không? Hay
đó chỉ là một lý thuyết không thực tế nhằm để
ru ngủ con người ???”
Qua câu hỏi trên, ta phần nào thông cảm
nỗi bức xúc của vị phật tử trẻ này là chính
đáng. Do chưa thấu hiểu những đặc tính chi tiết,
rốt ráo về nhân quả, nên đã đưa ra những câu hỏi
như vậy. Người viết thiết nghĩ Không chỉ vị phật
tử trẻ này mà ngay trong xã hội ngày nay phần
lớn chúng ta đều có những suy nghĩ như trên.
Không chỉ ngày nay, mà đã bao thế hệ cha ông ta
trước đây cũng đã ít nhiều thấy biết điều đó.
Nên đã đúc kết qua câu tục ngữ :
“Ăn trộm ăn cướp thành phật thành tiên,
Đi chùa đi chiền bán thân bất toại”
Ý nghĩa của câu ca dao trên nhằm phản ánh
một khía cạnh nào đó trong xã hội. Ăn trộm, ăn
cướp được xem là những hành động xấu xa bất
thiện vậy mà lại gặp được kết quả vô cùng nghịch
lý là thành Phật thành tiên. Đi chùa đi chiền là
một việc làm hết sức thánh thiện nhưng lại gặp
phải kết cục bi thảm là bán thân bất toại. Tuy
nhiên, một khi thấu triệt được các đặc tính của
lý nhân quả, chúng ta dễ dàng nhận thấy những
vần đề trên sẽ được giải quyết một cách hợp lý
và sáng tỏ.
Ca dao tục ngữ Việt nam còn chuyên chở
những nội dung triết lý sâu sắc trong cuộc sống.
Có nhân quả nên có luân hồi, nhân quả luân hồi
là một quy luật tất yếu trong nhân sanh và vũ
trụ. Cho nên, sức thu hút của ca dao tục ngữ dân
gian chính bởi sự kết tinh từ những sự kiện có
thật trong cuộc sống . Từ đó nó tác động đến tâm
lý, suy nghĩ của con người. Quy luật nhân quả
luân hồi còn là bài học giáo dục có giá trị sâu
sắc cho đời, không chỉ trong một thế hệ mà trãi
qua nhiều thế hệ tiếp nối. Nói theo ngôn từ của
Đạo Phật thì đó là quá trình tiếp nối của kiếp
trước và kiếp sau trong ba khoảng chu kỳ của
thời gian Quá khư Ù- Hiện Tại -Vị Lai. Ngôn từ
ấy đã được đúc kết qua ca dao tục ngữ :
“Anh ơi ! hãy ở cho lành
Kiếp này chẳng gặp để dành kiếp kiếp sau”
Hay :
“Bởi
chưng kiếp trước vụng tu,
Kiếp này tu để đền bù kiếp sau.
Cây khô tưới nước cũng khô,
Kiếp nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo.
Kiếp này trả nợ cho xong,
Làm chi để nợ một chồng kiếp sau.”
Hơn thế nữa, theo quan niệm xưa nay, Tổ
tiên ta rất tôn trọng những con người quá cố.
Trên quan niệm ấy mà giáo lý nhân qủa, nghiệp
báo, luân hồi của Đạo Phật lại càng dễ dàng được
mọi người tin nhận. Người Việt nam tin rằng sau
khi chết tuy thân này tan rã nhưng phần hồn, anh
linh của người ấy vẫn còn đó. Qua những ngày giỗ
kỵ hoặc tế lễ trong mỗi gia đình người Việt Nam,
nhất là trên những vùng đất thôn quê làng xã,
chúng ta mới thấy rõ niềm tin của người dân Việt
Nam đối với những người quá cố như thế nào. Nó
chứa đựng một ý nghĩa hết sức thiêng liêng trong
đời sống sinh hoạt tâm linh của xã hội. Do lòng
kính ngưỡng, tôn trọng và tin tưởng rằng chết
không phải là hết, người Việt nam đã hòa đồng và
tiếp nhận triết lý nhân quả của Phật Giáo như
một lẽ tất yếu. Họ đặt niềm tin và hy vọng về
một kiếp sống tràn đầy hạnh phúc ở kiếp lai
sanh. Họ đã ý thức được rằng kiếp này gieo trồng
nhân lành thì kiếp sau ắt sẽ được an vui hạnh
phúc. Bằng ngược lại, nếu kiếp này gây tạo những
nghiệp nhân ác thì đời sau sẽ lãnh thọ những
nghiệp quả khổ đau và bất hạnh. Ý thức được điều
đó, người bình dân Việt Nam đã không quên khuyên
răn, nhắc nhỡ mọi người hướng thiện thông qua
hình thức truyền khẩu bằng những câu ca dao, tục
ngữ như :
“Thôi thì đừng có ưu phiền
Kiếp này không gặp để nguyền kiếp sau”
Hay :
“Đây anh không giận đó em cũng chớ hờn
Kiếp tái sanh ta sẽ nối phiếm đàn tri
âm”
“Những người đức hạnh hiền hòa,
Đi đâu cũng được người ta tôn sùng.
Những người hiếu để trung
trinh,
Vẽ vang tiên tổ thơm danh họ hàng.
Những người truyền đạo khai nhân,
Nghìn thu để tiếng muôn phần thơm lây.”
Một triết lý nhân sinh thật hay và tế nhị,
nó đã phản ảnh cuộc sống không có gì là mâu
thuẫn mơ hồ. Càng đi sâu vào tìm hiểu kho tàng
ca dao, tục ngữ dân gian việt nam chúng ta càng
bắt gặp và khám phá thêm biết bao điều mới lạ.
Với những câu nói tuy bình dị đời thường nhưng
nội dung bên trong lại chứa đựng những triết lý,
những bài học giáo dục làm người thật sâu sắc
dưới ảnh hưởng của giáo lý nhân quả. Chỉ chừng
đó thôi, ta thật tự hào thấy rằng giáo lý của
Đạo Phật đã thật sự ăn sâu và thấm nhuần vào tận
gốc rễ đời sống sinh hoạt của xã hội thông qua
những câu ca dao tục ngữ dân gian Việt nam.
Không chỉ dừng lại ở đó, giáo lý nhân quả
của Đạo Phật còn được phản ánh sâu sắc trong các
thể loại văn chương bác học, văn chương bình dân
cho đến văn thơ viết bằng thể loại Hán Nôm dưới
những ngòi bút sáng tác điêu luyện.
2.1.2 TRONG THƠ VĂN CHỮ HÁN NÔM :
Thơ văn Việt Nam chịu ảnh hưởng rất
nhiều từ triết lý nhân quả của Phật giáo. Kết
hợp từ những quan niệm bình dân cùng tín ngưỡng
của dân tộc, các nhà văn, nhà thơ đã khéo léo
trao chuốt nên những tác phẩm thơ ca bất hủ. Nét
đặc biệt ở đây không phải là cao siêu mầu nhiệm,
mà những câu cú trong những tác phẩm thơ văn
được viết bằng thể loại chữ Hán Nôm, một thể
loại thuần túy Việt. Tuy ở thể loại văn Nôm
nhưng được xắp xếp trình bày ở một góc độ nghệ
thuật rất cao, bằng những vần điệu lục bát tràng
thiên nhịp nhàng trầm bỗng. Những khi đồng áng
rảnh rang hoặc trong những lễ hội dân gian
truyền thống, người bình dân Việt Nam thường lấy
đó để ngâm nga đối đáp như một thú vui chơi tiêu
khiển không thể thiếu trong đời sống tinh thần
người Việt.
Văn thơ Hán Nôm đã phản ánh và dường như
chịu sự tác động, ảnh hưởng từ triết lý nhân quả
của Đạo Phật thông qua những tác phẩm có giá trị
để đời như : tác phẩm Quan Âm Diệu Thiện, Quan
Âm Thị Kính được viết dưới cả hai thể loại văn
và thơ, tác phẩm Cung Oán Ngâm khúc của Ôn Như
Hầu, và đặc biệt tác phẩm Kiều của Nguyễn Du…
Dẫu chưa hẵn xuất thân trong môi trường
Phật giáo, nhưng ý tứ trong văn thơ của các tác
giả đã thấm nhuần và mang đậm tư tưởng triết lý
của Phật giáo. Trong đó triết lý nhân quả đã
chiếm lĩnh một vị trí rất lớn. Chúng ta cũng
biết truyện Kiều của Nguyễn Du đã sớm trở thành
tác phẩm gối đầu của người dân Việt Nam. Tính
triết lý nhân quả đã được Nguyễn Du thổi vào
trong thơ của mình. Một triết lý đề cao trách
nhiệm của mỗi người về mọi hành động ngay trong
đời sống hiện tại và tương lai. Theo Đạo Phật,
con người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hành
động tốt hay xấu mà mình đã tạo tác. Lại càng
không phải do một đấng tạo hóa hay một quyền
năng vô hình nào thưởng phạt, an bài.
Qua triết lý nhân quả nghiệp báo của Đạo
Phật, Nguyễn Du đã lấy đó để làm câu kết cho tác
phẩm của mình như một sự khẳng định, đề cao
trách nhiệm con người.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
Trong tác phẩm truyện Kiều, Nguyễn Du đã
sử dụng tư tưởng triết lý nhân quả để mô tả và
nói đến số phận của nàng Kiều. Nhưng tính nhân
quả của ông đã không lột tả một cách sâu sắc và
trọn vẹn, cũng như chưa phản ánh được hết những
tính chất quan trọng của triết lý nhân quả.
Dường như tính nhân quả trong tác phẩm của ông
còn ảnh hưởng một phần triết lý thiên mệnh và số
mệnh của tư tưởng triết học nho gia. Số mệnh của
nàng Kiều là do thượng đế, mà tiêu biểu ở đây là
do ông trời đã xắp đặt.
“Sư rằng: “nhân quả với nàng”,
Lâm truy buổi trước tiền đường buổi
sau”.
Hay : “Khôn thiên muôn sự tại tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.
Nhưng triết lý nhân quả Đạo Phật không chủ
trương “Nghiệp quyết định luận” mà bằng hành
động hiện tại con người ta vẫn có thể làm thay
đổi cái nghiệp bất thiện trong quá khứ. Cho nên
thông qua nhân vật nhà sư Tam Hợp, Nguyễn Du đã
nói:
“Sư rằng song chẳng hề chi,
Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.
. . . . . . . . . . . . . . . .
Hại một người, cứu một người,
Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
Thừa công đức ấy ai bằng,
Túc khiên đã rửa, lâng lâng sạch rồi”.
Thuyết nhân quả nghiệp báo của Đạo Phật
không chỉ được phản ánh qua tác phẩm Truyện Kiều
Của Nguyễn Du mà nó còn được phản ánh sâu sắc
qua truyện Quan Âm Thị Kính, một tác phẩm hết
sức gần gũi và quen thuộc đối với người dân Việt
nam được viết dưới thể loại thơ Nôm. Nhân vật
Tiểu Kỉnh Tâm đã thể hiện trọn vẹn những đức
tính cao quý tốt đẹp nhất trong xã hội đương
thời. Tuy bị Thị Mầu vu oan, làng nước phỉ nhổ,
bao tiếng thị phi nhưng Kỉnh Tâm vẫn một mình
kiên nhẫn chịu đựng . phải chăng tác giả đã đưa
vào nhân vật của mình những cái hay cái đẹp như
thể một gương mẫu điễn hình cho xã hội.
Nhằm ca ngợi đức tính nhẫn nhục, kiên trì,
hy sinh và nhất là tấm lòng từ bi của nhân vật.
Qua lời đối đáp giữa hai thầy trò, nhân vật Kỉnh
Tâm phần nào hiểu rõ tính công bằng, bình đẳng ở
đời “Làm lành gặp lành”. Do vậy, Kỉnh Tâm đã
không ngần ngại những tiếng thị phi, dèm pha qua
lại mà hành động cứu lấy mạng người.
“Bạch rằng muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy muôn đường nhỏ to.
Dầu xây chín cấp phù đổ,
Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mạng người không lấy làm chơi mà liều” .
Gần đây nhất, vào khoảng thế kỷ
thứ 18 thời vua Lê chúa Trịnh, sự ra đời của tác
phẩm “Nam Hải Quan Âm Sự Tích Ca”, một tác phẩm
được diễn Nôm theo thể lục bát giới thiệu về sự
tích Phật Bà chùa Hương. Tác phẩm đã phản ánh
tâm tư, nguyện vọng của dân tộc Việt nam dưới
ảnh hưởng của triết lý nhân quả. Nhân vật vua
Trang Vương với bản tính tham lam, sân hận, tàn
bạo và độc ác nên đã phạm phải biết bao tội ác
trong những tháng ngày trị vị đất nước. vua đã
sai người đốt chùa, giết sư, giết hại những con
người vô tội. Do những hành động bạo ngược ấy
nên trong kiếp hiện tại vua Trang Vương phải gặp
phải quả báo mắc bệnh hiểm nghèo
“Phán rằng: “số thọ còn chầy,
Giáng cho bệnh nặng thuốc gì chẳng yên”.
Ôn hoàng vâng lệnh xuống liền,
Bao nhiêu khí độc vào đền Trang Vương.
Vua Trang phát bệnh lạ thường,
Thân hình chốc lỡ chiếu giường tanh hôi”.
Ngoài tính chất “Ác giả ác báo”, Nam Hải
Quan Âm Sự Tích còn mô tả về cảnh giới địa ngục
A tỳ. Theo quan niệm của người bình dân Việt
nam, những ai trong lúc sanh tiền luôn làm những
điều bất chánh, bất nghĩa, gian tà, độc ác … thì
sau khi chết họ sẽ bị giam cầm và trừng phạt
dưới địa ngục A tỳ. Dầu thật chất trong thâm tâm
những người bình dân Việt nam không hề hiểu rõ
thế nào là A tỳ và cũng chưa một lần đọc đến
kinh điển của nhà Phật, nhưng họ cũng thầm hiểu
A tỳ là một nơi hết sức tù túng và khổ đau. Ở
đây, Nam Hải Quan Âm Sự Tích đưa ra hình ảnh
cảnh giới địa ngục A tỳ, nơi trừng phạt những
tội nhân, mà tiêu biểu là những quan thần hại
dân hại nước.
“Lại xem một ngục A ty,ụ
Mấy tầng chông sắt đen sì tối tăm.
Ngục này thực tội đã thêm,
Biết mấy hình nặng dưới âm mà rằng !
Là người làm hại quân thân,
Làm hại thiên hạ muôn dân lắm người”.
Thấy được quả báo như vậy ắt con
người sẽ trùng bước trước những tội ác mà mình
đã và đang gây nên. Truyện Phật Bà chùa Hương
như một lời cảnh tĩnh nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Triết lý nhân quả của Đạo Phật không phải là một
tín điều cực đoan khiến con người sợ hãi, mà nó
như một lời nhắc nhỡ khuyến cáo nhằm hướng con
người đến một đời sống an hòa hạnh phúc. Nam
Hải Quan Âm Sự Tích cũng đã phản ánh được tính
chất tích cực ấy qua các câu :
“Dám khuyên bệ hạ từ rày,
Ở lòng nhân đức, cho hay lấy mình.
Các quan văn võ triều đình,
Giúp vua lo nước cho thành chữ trung”.
Thấy được điều sai điều quấy mà ăn năn hối
cải là một hành động luôn được mọi người ca ngợi
và trân trọng. Bởi lẽ ở đời không ai là hoàn
thiện “Nhân vô thập toàn”, nhưng biết nhận ra để
khắc phục và sửa chữa vẫn là nhân tố quan trọng
nhất trong cuộc sống. Nét đặc sắc trong Giáo lý
của Đạo Phật không phải là rầy la hay trừng phạt
mà luôn mở ra cho con người một hướng đi, một cơ
hội để tự khắc phục và hoàn thiện nhân cách cho
chính mình. Ảnh hưởng được tinh thần ấy, người
dân Việt nam đã đúc kết cho mình một quan niệm
sống hết sức nhân từ và độ lượng qua câu nói
“Đánh người chạy đi chứ không ai đánh người quay
lại”. Hành động quay lại để chỉ cho những con
người biết phục thiện. Hành động ấy dĩ nhiên sẽ
được xã hội đón nhận và trân trọng Nhất là trong
một nền văn hóa truyền thống đạo đức của dân tộc
Việt nam thì hành động đó lại càng được nâng cao
và khuyến khích.
Ngoài những tác phẩm văn thơ được viết
bằng chữ Hán Nôm có giá trị, triết lý nhân quả
của Đạo Phật còn được phản ánh sâu sắc trong các
truyện kể dân gian cổ tích Việt nam.
2.1.3 TRONG KHO TÀNG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VÀ CỔ
TÍCH:
Mục đích ra đời của Đạo Phật là hướng con
người đến một đời sống hiền hòa lương thiện, lấy
chất liệu của tình thương làm lẽ sống. Giáo lý
của Đạo Phật nhằm vào một mục đích duy nhất là
khuyên răn con người ta xa lìa các điều ác, thực
hành các việc thiện. Trãi qua 49 năm thuyết
pháp độ sanh, đức Thế Tôn đã vận dụng vô lượng
pháp môn, vô lượng phương tiện để giáo hóa chúng
sanh không ngoài mục đích đó. Giáo lý của Đạo
Phật không không mang tính cao siêu hay xa rời
thực tế, lại càng không mong cầu hướng dẫn chúng
sanh đạt thành chánh quả. Tính thiết thực và gần
gũi của Giáo lý Đạo Phật giúp con người nhận rõ
chân tướng của những suy nghĩ, những hành động
thiện hay bất thiện, từ đó có thái độ nhận thức
đúng đắn về cuộc sống đang diễn ra quanh mình.
Tinh thần cốt lõi của giáo lý Đạo Phật đã đựơc
thâu lược qua bài kệ :
“không làm các việc ác
Chỉ làm các việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Là lời chư Phật dạy”
Trong kho tàng truyện kể dân gian cổ tích
Việt nam ta thấy hầu như phần lớn nội dung các
cốt truyện đều mang tính chất chung ấy. Nó có
tác dụng răn ác khuyến thiện. Nội dung chủ đạo
của các cốt truyện chỉ rõ cho con người thấy
được quy luật tất yếu trong cuộc sống “Ăn hiền
gặp lành” hay “Gieo gió gặp bão”. Hình thức và
nội dung cốt truyện lại vô cùng hấp dẫn, dễ hiểu
và phong phú. Do vậy, nó đã được mọi tầng lớp,
mọi lứa tuổi của nhiều thế hệ khác nhau đón nhận
một cách dễ dàng. Nhất là với độ tuổi ngây thơ,
hồn nhiên, trong sáng của tuổi thơ thì các câu
truyện dân gian cổ tích là món ăn tinh thần
không thể thiếu trong cuộc sống của các em. Tình
cờ một ngày nào đó, thảnh thơi dạo bước dưới
những lũy tre làng xanh mát, ta sẽ dễ dàng bắt
gặp những hình ảnh thật dễ thương và đáng nhớ.
Có thể là bên một dòng sông xanh hiền hòa yên ả,
có thể là chiếc võng tre đung đưa trước hiên nhà
đón gió, hình ảnh của những trẻ thơ vừa nhổ tóc
sâu vừa nghe ông bà kể chuyện. Những câu chuyện
đời xửa đời xưa ấy lại là những bài học đạo đức
vô cùng hữu ích và thiết thực. Nó đã thẩm thấu
và ăn sâu vào trong tâm hồn trẻ thơ của các em
tự bao giờ. Những nếp ảnh hưởng ấy sẽ mãi mãi
đồng hành theo em suốt cuộc đời. Tính triết lý
nhân quả được cụ thể hóa qua những mẫu truyện
như : Tấm Cám, Thạch Sanh Lý Thông, Ăn khế trả
vàng, Hét ăn Giun . . .
Trong truyện Tấm Cám, Tấm là một cô gái
hiền lành, thật thà, chất phác và lại còn rất
xinh đẹp. Cha mất sớm, Tấm phải sống với người
dì ghẻ độc ác. Hàng ngày Tấm phải làm lụng vất
vả đầu tất mặt tối không chút ngơi nghỉ. Đã vậy,
Tấm lại còn luôn bị hành hạ đánh đập bởi những
trận đòn roi tàn nhẫn của người dì ghẻ. Không
vì thế mà tỏ ra hờn giận trách móc, Tấm luôn
luôn thể hiện sự hiếu kính với dì va ụhết mực
thương em. Ngược lại, Cám là người em cùng cha
khác mẹ, nhưng tánh tình thì xấu xa ích kỷ. Với
bản chất ghanh tỵ, Cám luôn bày mưu tính kế để
hãm hại chị mình. Thế rồi cái gì đến cũng sẽ đến
“Ở hiền thì gặp lành, gieo gió thì gặt bão”. Số
phận của Tấm cuối cùng rồi được đền bù xứng
đáng. Tấm được một vị hoàng tử khôi ngô, tuấn tú
chọn làm vợ, họ sống một cuộc sống thật hạnh
phúc bên nhau trong cung vàng điện ngọc. Còn
nhân vật Cám và người dì ghẻ độc ác phải chịu
một kết cục bi thảm, khổ đau trong những ngày
còn lại.
Tương tự, truyện “Hét ăn Giun” trong
“Truyện Cổ Tích Việt Nam” của Nguyễn Văn Ngọc
cũng thấm nhuần tinh thần triết lý Phật Giáo.
Nội dung truyện mang ý nghĩa giáo dục răn dạy
con người hướng thiện. Truyện kể rằng :
“Xưa có một người tên Giun làm nghề canh lúa.
Một hôm có cha thằng Hét đến trộm lúa bị Giun
đánh chết. Hét nguyện báo thù cho cha. Một hôm
Hét bắt gặp Giun và đuổi đánh. Giun chạy lên
núi, gặp ông Bụt đứng đó, Giun van lạy Bụt cứu
mình. Sau khi nghe Giun kể lể sự tình Bụt bảo :
“Hay là ta hóa cho mày làm con chim để trốn”
Nhưng Giun thưa thằng Hét sẽ lấy cung bắn . Bụt
lại nói:
“Thế thì ta hóa cho mày làm con cá vậy”.
Giun vẫn sợ cho rằng thằng Hét sẽ chăng lưới
bắt. Bụt nói :
“Lên trời không thoát, xuống nước cũng không
khỏi, thôi thì vì mày tên là Giun ta sẽ hóa mày
thành con giun chui dưới đất thì Hét không làm
gì được”.
Hét đuổi đến không bắt được Giun nên khóc lóc
thảm thương vì chưa trả được oán thù. Bụt vừa
thương vừa nghĩ đến cái luật oan oan tương báo
thật khó tránh. Bụt nói :
“Thế thì ta hóa mày làm con chim ăn giun vậy và
lấy tên là chim Hét”.
Từ đó, loài chim Hét cứ tìm giun mà ăn.
Xuất phát từ nội dung của truyện kể trên,
ông bà ta có câu tục ngữ: “Muốn ăn hét phải đào
giun” để nói lên cái định luật oan oan tương
báo. Nhưng một khi lấy oán để báo oán thì oán
nào được tiêu trừ. Thật như trong lời kinh pháp
cú Đức Phật đã dạy :
“Lấy oán báo oán , oán mãi không thôi,
Lấy ân báo oán, oán liền tiêu diệt”
Cũng như : “Hận thù diệt hận thù
Đời này không
thể có
Từ bi diệt hận
thù
Là định luật
ngàn xưa.”
Ngoài ra, để lên quả báo của những kẻ
vong ơn bội nghĩa, sống thiếu thủy chung thì có
truyện “ Sự Tích Con Muỗi”. Hay để ca ngợi những
tấm gương chịu thương chịu khó, cần mẫn siêng
năng trong công việc, lấy sự thông minh cảm hóa
con người thì có truyện “Chú Bé Tí Hon, Cây Tre
Trăm Đốt, Chàng Sọ Dừa . . .”.
Điểm qua một số nhân vật chính trong những
truyện kể trên, ta dễ dàng nhận ra một điểm
chung trong bố cục nội dung của những cốt
truyện là người nào làm lành làm thiện, tức gieo
trồng nhân tốt thì sẽ gặp được kết quả tốt lành.
Ngược lại, người nào gây tạo những nhân xấu,
trái với luân thường đạo lý, kỷ cương của dân
tộc thì sẽ gặp phải những kết cục khổ đau. Nét
đặc biệt ở đây là thông qua những tác phẩm văn
thơ Hán Nôm, những mẫu chuyện dân gian cổ tích
Việt nam, những câu ca dao tục ngữ phần lớn nội
dung bên trong phản ánh một cách thiết thực về
triết lý nhân quả của Đạo Phật. Vậy tư tưởng
triết lý nhân quả của Đạo Phật đã đến với dân
tộc Việt nam từ bao giờ ? và tính triết lý ấy đã
thấm thấu vào suy nghĩ , hành vi cư xử của
người Việt qua những phương thức nào ? Để trả
lời những vấn đề trên chúng ta lại phải tìm hiểu
xem tính triết lý nhân quả ấy đã ảnh hưởng như
thế nào đối với đời sống xã hội.
2.2 ẢNH HƯỞNG TRONG ĐỜI SỐNG SINH HOẠT XÃ HỘI :
Đạo Phật đã chung sống với nhân dân Việt
Nam qua 20 thế kỷ, một khoảng thời gian đủ để
khẳng định giá trị của Đạo Phật trong lòng dân
tộc. Tư tưởng của Đạo Phật đã thấm nhuần tinh
thần dân tộc. Bởi sự gắn bó mật thiết và gần gũi
như vậy nên người dân Việt Nam đã xem Đạo Phật
là đạo của tổ tiên truyền lại. Giáo lý nhân quả
nghiệp báo cũng đã ảnh hưởng một cách sâu sắc
trong đời sống sinh hoạt và những phong tục, tập
quán của người dân Việt Nam. Nó đã được xã hội
hóa thành một nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng
tỏ đối với dân tộc.Chúng ta biết rằng, xã hội
hóa là một quá trình mà trong đó mỗi cá nhân
tiếp nhận nền văn hóa từ khi con người được sinh
ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Việt Nam.
Từ đó nó hướng dẫn con người có những hành động,
hành vi cư xử đúng đắn trong xã hội. Nói khác
hơn, xã hội hóa chính là nơi dạy cho mỗi cá nhân
học cách làm người. Trong đó, xã hội hóa được
thiết lập trong một môi trường mà con người đã
được hấp thụ những tinh hoa trong cuộc sống.
Với phương châm “Tùy duyên nhi bất biến”
hoặc ngược lại “Bất biến nhi tùy duyên”, Phật
Giáo đã khéo vận dụng như là một phương tiện hữu
hiệu để đưa giáo lý của Đạo Phật đến với cuộc
đời. Vì vậy, Phật giáo đến với đất nước nào liền
có hình thái thích nghi với nền văn hóa, phong
tục, tập quán của quốc gia đó. Như lời nhận xét
của Hòa Thượng Thích Thanh Từ:
“Phật giáo không có giáo quyền chung,
không lệ thuộc giáo hội trung ương điều khiển.
Cho nên, Phật giáo truyền bá đến địa phương nào,
tùy sự thích nghi của dân tộc địa phương đó. Bởi
không lệ thuộc giáo hội trung ương nên tất cả
động sản, bất động sản của Phật giáo của nước
nào đều là của dân tộc của nước đó. Nếu chúng ta
phàn nàn phật giáo có nhiều hình thức phức tạp
khó thống nhất, thì chúng ta phải phục Phật giáo
đã khéo tùy dân tộc tính mà biến thành đạo của
dân tộc từng quốc gia” .
Do vậy, trãi qua một khoảng thời gian hơn
hai nghìn năm, Đạo Phật du nhập vào nền văn hóa
Việt Nam, nên những tư tưởng triết lý của Đạo
Phật mà điển hình là tư tưởng triết lý nhân quả
đã có những ảnh hưởng sâu sắc to lớn trong đời
sống sinh hoạt của xã hội Việt Nam cũng là điều
tất yếu và dễ hiểu. Tuy nhiên, để có được một
nhận định chính xác và rõ ràng về sự ảnh hưởng
này, ta có thể tìm hiểu cũng như so sánh qua hai
xã hội trước và nay.
2.2.1 TRONG XÃ HỘI TRƯỚC ĐÂY:
Nói đến giáo lý nhân quả là nói đến một
quy luật tất yếu của nhân sanh và vũ trụ. Nó
không chỉ dành riêng cho những người tu sĩ hay
cho những tín đồ Phật giáo mà còn dành chung cho
toàn xã hội. Điều này đã khiến cho Phật giáo có
được những ảnh hưởng sâu sắc đối với gia giáo cổ
truyền của người Việt trong xã hội trước đây.
Không biết từ bao giờ, con người Việt Nam, dân
tộc Việt Nam đã biết đến tính chất nhân quả như
một nếp sống đạo đức được thiết lập từ bên trong
gia đình cho đến ngoài xã hội. Phải chăng cha
ông ta đã tiếp nhận những điều hay lẽ phải trong
tinh thần cầu tiến để phục vụ cho cuộc sống của
nhân dân. Vả lại, giáo lý nhân quả lại rất phù
hợp với bản chất con người Việt Nam, dân tộc
Việt Nam, một dân tộc vốn hiền hòa dễ mến. Bản
chất ấy được kết tinh trong môi trường, hoàn
cảnh và vị trí địa lý mà có được. Đất nước Việt
Nam, một trong những đất nước nằm trong nền văn
hóa chung của khu vực Đông Nam Á, đó là nền văn
hóa lúa nước. Do vậy, cuộc sống sinh hoạt xã hội
Việt Nam lúc bấy giờ dường như gắn liền với
thiên nhiên, gắn liền với những lễ hội sinh hoạt
cộng đồng. Con người luôn đặt niềm tin và hy
vọng vào sự chở che và giúp đỡ của một đấng thần
linh nào đó.
Trên quan niệm đó, trong xã hội đã bắt đầu
có sự xuất hiện của những khái niệm về những
thần linh như: thần mưa, thần gió, thần sông,
thần biển, thiên lôi, hà bá… Nên một khi nói
điều gì, làm việc gì con người hết sức dè dặt và
cẩn trọng trước sự uy hiếp vô hình của các đấng
thần linh. Nhờ vậy, con người đã biết chọn lựa
những cái hay cái đẹp xử sự lẫn nhau, lấy cái
thiện làm chất liệu cho cuộc sống. Bấy giờ, con
người tin rằng một khi gây nên điều gì làm phật
lòng đến các đấng thần linh thì con người sẽ bị
trừng phạt bằng những hình thức như: hạn hán,
mất mùa, lũ lụt, bão tố, dịch bệnh…
Đặc biệt trong sinh hoạt xã hội xưa con
người rất coi trọng và tôn kính đối với những
người đã khuất. Đây là nhân tố quan trọng, là
tiền đề cho sự ra đời của tục lệ thờ cúng ông bà
sau này. Dựa trên những sinh hoạt, phong tục,
tập quán của người Việt xưa, ta dễ dàng nhận
thấy sự gắn bó mật thiết giữa triết lý nhân quả
của Đạo Phật với đời sống xã hội thông qua những
giá trị đạo đức chuẩn mực. Bởi triết lý nhân quả
của Đạo Phật rất phù hợp với nếp sống, với quan
niệm nhân sanh và vũ trụ xưa nay của dân tộc.
Trong quảng đại quần chúng thì dấu ấn của thuyết
nhân quả được thể hiện rõ nét qua những bài học
giáo dục đạo đức làm người, đó là phải ăn hiền ở
lành. Bài học giá trị đạo đức ấy đã được phản
ánh tích cực trong đời sống sinh hoạt từ gia
đình cho đến xã hội. Đúc kết từ những kinh
nghiệm sống thiết thực, cha ông ta đã nhắn gởi
cho thế hệ con cháu những bài học luân lý mang
tính giáo dục rất lớn. Ở đây, ý nghĩa và giá trị
của chữ “Đức” dưới quan niệm triết lý nhân quả
đã được người dân Việt nam đón nhận một cách
tích cực và sâu sắc. Trong sinh hoạt của những
gia đình gia giáo xưa, chữ “Đức” đựơc xem như là
một biểu tượng thiêng liêng cao quý, là mục đích
hướng đến cho con cháu mai sau.
Nếu có dịp ghé thăm những ngôi nhà cổ ở
vùng Bắc Trung bộ, ta sẽ tìm thấy dấu tích về
quan niệm chữ “Đức” trong những gia đình truyền
thống lễ giáo vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm
nay. Đặt chân vào đây ta sẽ thấy một bức đại tự
(hay còn gọi là bức hoành phi) được treo ở một
không gian rất trang trọng và thiêng liêng với
dòng chữ được viết bằng chữ Hán Nôm thật đẹp
“LƯU ĐỨC MUÔN PHƯƠNG”. Dòng chữ ấy như một lời
nhắc nhỡ, đồng thời còn được xem như một bức
gương sáng có công năng soi sáng cho chính bản
thân mình trước khi suy nghĩ hay khởi sự cho một
công việc gì. Từ xa xưa, ông cha ta đã ý thức
được giá trị cao quý của con người không phải ở
địa vị và danh vọng mà chỉ có nơi những con
người đức hạnh. Thời gian qua đi mọi sự vật đều
đổi thay, địa vị, tiền tài, danh vọng kia rồi
cũng tan biến, duy chỉ có danh thơm tiếng tốt
của những con người đức hạnh sẽ còn lưu mãi với
thời gian. Thật như trong Kinh Đức Phật đã dạy :
“Hương của các loài hoa
Không thể bay ngược gió
Hương người đức hạnh đó
Ngược gió bay muôn phương.”
Một lần nữa chúng ta lại bắt gặp hình ảnh
của chữ đức trong quan niệm sống của người dân
Việt. Một quan niệm về ý thức tích đức cho thế
con cháu mai sau. Như lời nhận định của nhà sử
học – Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần :
“Từ nhận thức với những mức độ khác nhau
và từ phép ứng dụng thiết thực thuyết nhân quả
vào cuộc sống, đạo đức làm người được tôn vinh,
vượt lên trên tất cả những giá trị vật chất
khác. Tất nhiên, đạo đức làm người giữa bao
phong trần biến đổi không phải chỉ có bấy nhiêu,
nhưng một bộ phận cấu thành có nguồn gốc từ
triết lý nhân quả là điều không thể phủ
nhận.”
Qua những phản ánh trong kho tàng văn
học dân gian Việt nam, qua những truyện kể dân
gian cổ tích cho đến những tác phẩm văn thơ bất
hủ được thể diễn dưới nhiều thể thức khác nhau
cũng đủ để cho ta thấy đước mức độ ảnh hưởng to
lớn và sâu sắc của triết lý nhân quả trong Đạo
Phật đối với xã hội trước đây như thế nào. Xã
hội ngày nay thì sao ? liệu rằng triết lý nhân
quả có còn tác động và ảnh hưởng đến xã hội ngày
nay hay không ?
2.2.2 TRONG XÃ HỘI NGÀY NAY :
Ngày nay, khi xã hội phát triển đến một
mức độ tột cùng, mọi sự vật hiện tượng trong vũ
trụ đều được giải quyết dưới lăng kính khoa học.
Cuộc sống con người đang bị cuốn hút bởi những
dòng thác vật chất, bởi sự bùng nổ của những
khám phá và phát minh trong nghành khoa học hiện
đại. Con người đang dần lệ thuộc và tỏ ra tự mãn
trước những thành tựu mà họ đã và đang đạt
được. Trong xã hội lúc này xuất hiện những quan
điểm cho rằng con người có thể cải tạo thiên
nhiên và buộc thiên nhiên quay lại phục vụ cho
những nhu cầu của con người. Trước những quan
điểm ấy, liệu rằng triết lý nhân quả trong Đạo
Phật có còn ảnh hưởng và mang giá trị cần thiết
cho xã hội ngày nay hay không ?
Trên phương diện vật chất, ta không phủ
nhận những thành tựu khoa học đạt được đã mang
lại cho con người một đời sống đầy đủ và tiện
ích hơn. Nhưng trên phương diện luân lý đạo đức
của xã hội, tính nhân quả vẫn mãi là một quy tắc
chuẩn mực mà con người không thể trốn chạy hay
vượt qua. Dù con người có thành công đến đâu đi
nữa thì vẫn không sao tránh khỏi những tác động
âm thầm từ tính chất nhân quả. Bởi lẽ, chúng ta
phải hiểu rằng tính nhân quả không phải là một
sản phẩm do Đạo Phật tạo ra, mà nó là một quy
luật tất yếu trong vũ trụ. Đức Phật chỉ là người
khám phá và chỉ ra cho con người nhận biết. Cũng
như bản chất Phật tánh của mỗi con người ai cũng
có, nhưng do vô minh vọng tưởng ta không nhận ra
được điều đó. Nên mục đích của Đức Phật ra đời
không phải là sáng tạo thêm cho mỗi con người
một Phật tánh mới, mà nhằm một mục đích duy nhất
là chỉ ra cho chúng sanh nhận biết Phật tánh sẵn
có trong mỗi con người.
Thực tế cho thấy, do những tác động quá
mức của con người vào môi trường tự nhiên, nên
cũng chính con người đang phải gánh chịu biết
bao hiện trạng thảm khốc. Nạn khai phá rừng bừa
bãi, đốt phá cỏ cây, săn bắn động vật quá mức. .
. chính là nguyên nhân đưa đến các thảm họa
thiên tai như hạn hán, lũ lụt, động đất, sóng
thần. . . và một hiện trạng đáng báo động của xã
hội ngày nay là con người đang phải đối mặt với
chiến tranh, bệnh tật phát sinh từ những hành
động ghê sợ của con người như chế tác vũ khí hạt
nhân, bom nguyên tử, và biết bao độc tố có thể
giết chết con người trong phút chốc. Sự bùng
phát của những tình trạng trên là do con người
chưa nhận thức được vai trò ý nghĩa quan trọng
từ việc thực hành và hiểu rõ tính chất nhân quả.
Đạo Phật đã khẳng định con người là trung tâm
của vũ trụ. Do vậy, những gì con người tạo tác
thì cũng chính con người phải gánh chịu kết quả
từ những hành động ấy. Vì “con người là chủ nhân
của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp”. Điều này đã
được Đức Phật lý giải trong đoạn kinh sau :
“Do nhân gì, thưa tôn giả Gotama, do duyên
gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị
giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành
không phải làng, các thị trấn trở thành không
thị trấn, các thành phố trở thành không thành
phố, các quốc độ trở thành không quốc độ ?
- Ngày nay, này Bà la môn , loài người bị tham
ái phi pháp làm cho say đắm. Vì bị ác tham chinh
phục, bị tà kiến chi phối, chúng cầm gươm sắc
bén sát hại lẫn nhau. Do vậy nhiều hạng người
mạng chung. Đây là nhân này Bà la môn, đây là
duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm
thiểu trông rõ như thế . . . các quốc độ trở
thành không quốc độ.”
Ngoài những hiện trạng trên, vấn đề luân
lý đạo đức trong xã hội cũng đang là thực trạng
mà mỗi chúng ta cần nhìn nhận. Đạo đức con người
ngày càng bị tha hóa trước những lợi danh, vật
chất. Trong một số gia đình truyền thống gia
phong lễ giáo xưa nay là niềm tự hào của dân tộc
nay đã bị đảo lộn. Thật đau lòng biết bao khi
hàng ngày phải chứng kiến bao cảnh trái ý nghịch
lòng, xem thường đạo đức. Trong đó cảnh con giết
cha, chồng giết vợ, trò đánh thầy . . . không
còn là điều xa lạ với xã hội ngày nay. Rồi lại
những tệ nạn mại dâm, ma túy, trộm cướp, giết
người … đang là ung nhọt đau nhức, nó làm băng
hoại giá trị đạo đức con người và xã hội. Ngay
cả những con người đại diện cho pháp luật, là bộ
mặt cho xã hội cũng bị tha hóa bởi nạn tham ô
hối lộ, khiến cho nền kinh tế trở nên chậm phát
triển, bao người dân rơi vào hoàn cảnh khốn đốn.
Tất cả những hiện tượng trên là dấu hiệu
cho thấy sự suy thoái của những giá trị luân lý
đạo đức con người. Hệ quả ấy là do đâu? Phải
chăng do một bàn tay vô hình nào đó đang chi
phối và làm thay đổi trật tự của xã hội. Không
nói ra có lẽ ai cũng biết, hệ quả không ai khác
hơn chính tự thân của con người tạo tác. Qua đó
ta sẽ thấy rõ hơn quy luật của xã hội dưới sự
tác động của tiến trình nhân quả. Một khi những
thỏa mãn về nhu cầu vật chất đạt đến tột đỉnh
thì yếu tố đạo đức con người ngày càng suy
thoái. Làm thế nào để cân bằng một xã hội vừa
đầy đủ những nhu cầu vật chất, vừa không đánh
mất đi giá trị nhân văn đạo đức của con người?Chỉ
có giáo lý của Đạo Phật mới có thể giải quyết
những vấn đề trên một cách trọn vẹn. Thật đúng
như lời phát biểu của Einsten, một nhà bác học
nổi tiếng của thế giới: “Tôn giáo mà ngày nay
rất gần gũi và phù hợp với thời đại khoa học,
không có tôn giáo nào khác ngoài Đạo Phật”. Do
vậy, yếu tố phù hợp với thời đại khoa học đã
khẳng định vai trò và giá trị thiết thực của
giáo lý Đạo Phật đối với xã hội. Trong đó, triết
lý nhân quả không còn xa lạ gì với con người
ngày nay. Tuy nhiên, để cho lý nhân quả được trở
nên thiết thực và cụ thể, đòi hỏi con người phải
thật sự ứng dụng vào đời sống một cách đúng
đắn, hầu xây dựng một xã hội hướng thượng tốt
đẹp.
Theo quan điểm của người viết, con người
ngày nay không phải không biết đến triết lý nhân
quả, hay lý nhân quả không còn ảnh hưởng sâu sắc
trong đời sống sinh hoạt của xã hội, nhưng do
chúng ta còn quá thờ ơ trong việc ứng dụng, thực
hành một cách đúng đắn và hợp lý. Mặt khác, do
sự chi phối và tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố
vật chất bên ngoài khiến con người ta trở nên
lạnh lùng băng giá trước những giá trị đạo đức
cao đẹp. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy sự
khác biệt của xã hội trước đây và xã hội ngày
nay trước tác động của triết lý nhân quả.
Trước đây, con người luôn chú trọng đến
việc ứng dụng thực tiễn vào đời sống, từ đó đúc
kết thành những bài học có giá trị sâu sắc.
Ngược lại, ngày nay chúng ta lại quá đam mê và
đặt nặng về học thuyết kinh điển mà quên đi yếu
tố quan trọng là thực hành. Tuy nhiên, dù trong
mọi xã hội trước hay nay thì con người vẫn không
thể vượt ra ngoài quỹ đạo trong tiến trình diễn
tiến của lý nhân quả. Bởi tính nhân quả là một
quy luật khoa học khách quan, công bằng, cụ thể
cũng như mọi quy luật khác trong tự nhiên. Sự
khác biệt trong từng xã hội chẳng qua là cách
nhân thức trong từng bối cảnh của thời đại nên
có sự ảnh hưởng khác nhau trong từng quan niệm
sống. Như lời nhận định của giáo sư Nguyễn Khắc
Thuần: “Tính triết lý sâu sắc của thuyết nhân
quả không phải ai ai trong xã hội nhận thức
được, nhưng xã hội bao giờ cũng có cách ứng dụng
thiết thực của xã hội. Trong quảng đại nhân dân,
dấu ấn của thuyết nhân quả thể hiện rõ nhất ở
những quan niệm về giáo dục đạo đức làm người”
Qua lời nhận định trên, ta thấy triết lý
nhân quả của Đạo Phật không phải chỉ được nói
đến trong những học thuyết lý luận mang tính
kinh điển mà nó đã được phổ cập rộng rãi trong
đời sống nhân dân. Lý nhân quả còn mang đậm dấu
ấn trong đời sống sinh hoạt, phong tục, tập quán
của dân tộc Việt Nam ngay từ những ngày đầu dựng
nước. Ảnh hưởng ấy không còn đơn thuần là một
khái niệm, một định lý tất yếu. Nội dung sâu xa
bên trong của giáo lý nhân quả chính là những
bài học mang tính giáo dục nhân văn đối với xã
hội cũng như mang lại cho nền văn hóa dân tộc
một bản sắc thuần túy Việt nam. Đó chính là
những bài học giáo dục đạo đức làm người. Với
nền văn hóa phương Đông, đạo đức con người được
xem là một chuẩn mực tất yếu không thể thiếu
trong đời sống thường nhật. Đạo đức ở phương
Đông theo Khổng tử: “Đạo bất viễn nhân, nhân chi
vi đạo, vi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo”. Đạo
vốn ở nơi người, chứ không ở xa người. Người làm
đạo mà để cho đạo tách xa người thì chẳng còn là
đạo nữa. Do vậy, đạo đức còn là sự biểu hiện
tình người trong mối liên hệ của mình đối với
những người xung quanh, vơi cộng đồng và xã hội.
CHƯƠNG 3
TÍNH NHÂN VĂN CỦA GIÁO LÝ NHÂN QUẢ
ĐỐI VỚI XÃ HỘI
Nhân quả như vừa được trình bày trên thuộc
pháp hữu vi còn mang tính sanh diệt nên còn có
sự chi phối, tác động qua lại của các Pháp thế
gian. Đó chính là phần biểu hiện của tính tục đế
nên nó mang ý nghĩa luân lý đạo đức không chỉ
trong Đạo Phật mà còn có giá trị giáo dục đối
với xã hội. Trên phương diện tục đế, triết lý
nhân quả của Đạo Phật đã được xã hội đón nhận và
trân trọng bởi những đặc điểm và tính chất sau
đây:
3.1 ĐỀ CAO GIÁ TRỊ CON NGƯỜI :
Hơn bao giờ hết, tính triết lý nhân quả
của Đạo Phật đã đặt trách nhiệm, vai trò giá trị
của mỗi cá nhân lên hàng đầu. Không một tôn giáo
nào có được một tinh thần cởi mở và phóng khoáng
như Đạo Phật. Vì phần lớn các tôn giáo khác đều
đặt nặng tính thần quyền, ban phúc của một đấng
giáo chủ tối cao của mình. Với Đạo Phật luôn tôn
trọng tính chất quan trọng của tự thân. Đức phật
luôn khẳng định quan điểm “Ngài chỉ là người dẫn
đường” chứ không hề tham dự chức năng quyết
định. Con người là trung tâm điều hành chi phối
mọi hành động và mọi hành động của con người
đều đựoc hình thành trên nền tảng tâm thức. Tính
nhân qủa trong Phật Giáo đặt ra vấn đề trách
nhiệm của cá nhân , bởi con người vừa là chủ
nhân của nghiệp và cũng vừa là kẻ thừa tự của
nghiệp.
Trong xã hội cũng vậy, không có trách
nhiệm cá nhân thì không có sự hình thành của
luật pháp. Do vậy, con người phải có trách nhiệm
đối với những hành động mà mình đã làm cho tự
thân, cho gia đình và xã hội. Nói theo ngôn ngữ
thế gian thì mình làm mình chịu chứ không thể
lôi kéo một cá nhân nào khác đứng lên gánh chịu
trách nhiệm cho mình, và cũng không thể có cái
gọi là “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” trong
triết lý nhân quả của Đạo phật.
Theo Phật Giáo, hạnh phúc hay khổ đau
không phải là chuyện ngẫu nhiên từ trên trời rơi
xuống hay từ lòng đất vọt lên, lại càng không
phải do sự thưởng phạt, ban ân của thượng đế
hay một năng lực siêu hình nào khác. Hạnh phúc
hay khổ đau đều do nơi chính con người định
đoạt, trong đó yếu tố nhân duyên cũng góp phần
quan trọng.
Trên cơ sở nhân quả, cũng như trên quan
niệm luân lý đạo đức của Phật Giáo thì thiện là
những gì đem lại lợi ích cho mình và người trong
hiện tại và tương lai theo hướng ly tham, ly
sân, ly si, không ghanh ghét, không đố kỵ, không
gây tổn hại. Trái lại với quan niệm trên được
xem như là bất thiện. Ở góc độ nhìn nhận của xã
hội, ta có thể tạm hiểu những khái niệm như công
bằng, nhân đạo, chí công, vô tư, cần, kiệm,
liêm, chính, không tham nhũng, không hối lộ,
không tham đắm vào các tệ nạn xã hội . . . được
xem là thiện. Hiểu được điều đó tự thân mỗi
chúng ta cần nổ lực phát tâm hành thiện theo
phương châm “tránh các điều ác, làm các việc
thiện”. Việc làm cũng ấy đồng nghĩa với hành
động tích cực tham gia các hoạt động xã hội với
ước vọng mang lại niềm vui, hạnh phúc cho tha
nhân, cộng đồng xã hội.
Những hành động trên phần nào cho ta thấy
được vai trò quan trọng của tự thân. Đó là nhân
tố quyết định cho hạnh phúc hay khổ đau của mỗi
con người. Trong kinh Pháp cú Đức Phật khẳng
định quan điểm trên qua lời dạy :
“Tự mình làm điều ác
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai”
Tính nhân quả trong Đạo Phật một lần nữa
đã cho xã hội nhận thức đựơc vai trò, giá trị
con người trong mọi hành động mà mình tạo tác.
Tính nhân quả không phải là một tín điều thần
khải như lâu nay chúng ta hằng lầm tưởng. Cuộc
sống con người trong vũ trụ không do một đấng
sáng tạo phán quyết. Con người là chủ nhân kiến
tạo nên thế giới hạnh phúc hay khồ đau cho nhân
loại. Con người phải tự biết tư duy phán xét
trước các thiện cái ác đang dấy lên trong xã
hội. Thấy ác thì nên xa lìa từ bỏ, thiện thì nên
dõng mãnh phát tâm thực hành. Đối với mọi hành
động nhỏ nhặt, dù thiện hay ác chúng ta không
nên xem thường mà bỏ qua. Tuy một đốm lửa nhỏ
nhen nhưng lại có thể thiêu rụi một mãnh rừng to
lớn, tuy một ít nước nhỏ giọt không đáng là bao
nhưng trãi qua lâu ngày cũng có thể làm cho bình
nước kia tràn đầy. Hình ảnh giọt nước, đốm lửa
để minh chứng cho những hành động thiện ác của
con người dù nhỏ nhặt nhưng kết quả cuối cùng
lại rất to lớn. Hình ảnh ấy đã được nói đến
trong hai câu Pháp cú sau :
“Chớ
khinh điều ác
Cho rằng chưa đến mình
Như nước nhỏ từng giọt
Rồi bình cũng đầy tràn
Người ngu chứa đầy ác
Do chất chứa dần dần.”
Và :
“ Chớ chê khinh điều thiện
Cho rằng chưa đến mình
Như nước nhỏ từng giọt
Rồi bình cũng tràn đầy
Người trí chứa đầy thiện
Do chất chứa dần dần.”
Trong giáo lý nhân quả, giá trị con người
không chỉ được đề cao ở vai trò và trách nhiệm
mà con người còn có khả năng làm thay đổi nghiệp
cũ (chuyển nghiệp). Đây là một đặc tính hết sức
nhân bản trong giáo lý nhân quả của Đạo phật. Nó
cho phép con người có được một khả năng hướng
thượng. Con người biết khắc phục sửa chữa cái
xấu, cái ác trở thành cái hay cái đẹp. Đây là
một đặc tính khác biệt giữa con người với những
loài vật khác. Điều đó càng được khẳng định và
làm cho sáng tỏ hơn thông qua triết lý nhân quả
của Phật giáo. Tính nhân văn trong triết lý nhân
quả không phải là nhằm lý giải cái nhân cái quả
khiến cho con người trở nên lo sợ hay trốn chạy,
mà nó mang đến cho con người những cơ hội để tự
mình khắc phục những sai lầm trong quá khứ và
xây dựng cho chính mình một đời sống an vui và
hạnh phúc.
3.2 LOẠI BỎ NHỮNG QUAN NIỆM TIÊU CỰC TRONG XÃ
HỘI :
Trong xã hội sự tồn tại giữa cái thiện và
cái ác là một quy luật tất yếu. Đời sống con
người không phải chỉ thuần khổ, thuần lạc hay
thuần phi khổ phi lạc mà là một quá trình đan
xen lẫn lộn. Trên cơ sở nhân quả nghĩa là trên
căn bản thiện về quan niệm luân lý đạo đức của
Phật Giáo, người viết muốn đưa ra một số khuynh
hướng sai lầm, quan niệm tiêu cực đang tồn tại
trong lòng xã hội. Ở đây, tính triết lý nhân quả
góp phần xóa bỏ những quan niệm tiêu cực
ấy.
Qua những gì tìm hiểu trên, trước hết lý
nhân quả không đồng quan điểm với cái gọi là
thiên mệnh hay định mệnh. Bởi những quan niệm
sai lầm ấy đã khiến cho bao con người trở nên
thụ động. Họ cho rằng những gì mình có được ngày
hôm nay đều là do sự tác động chi phối của ông
trời. Dù mình có cố gắng đến đâu đi nữa thì
nghèo vẫn là nghèo, khổ vẫn là khổ, vì “số trời
đã định”. Thế nhưng khi đựơc hỏi ông trời là ai
? thì con người không sao lý giải được. Với nhận
định sai lầm ấy, chúng ta lại vô tình tiếp tay
cho những hành động sai quấy. Ta không thể ngồi
đó trông chờ một kết quả tốt lành đưa đến, lại
càng không thể khoanh tay trước cái gọi là số
phận an bài. Hành động như vậy chẳng khác nào ta
đang hạ thấp giá trị con người giữa một thế giới
bao la vũ trụ.
“Giáo lý nhân quả do đó, một mặt vừa chi
rõ con đường sanh tử của con người để tránh, vừa
khích lệ con người hành thiện. Mặt khác, dạy con
người ý thức trách nhiệm, sống không ỷ lại,
không chạy trốn, không đổ lỗi, không cầu xin.
Đây là tinh thần giáo dục rất lành mạnh và tích
cực trong việc giáo dục một con người tốt ở cả
hai mặt cá nhân và xã hội”
Thấy được giá trị đích thực của tự thân,
con người không trông chờ ỷ lại, không đặt niềm
tin vào số phận. Do vậy, lý nhân quả đồng thời
lên án phê phán những hiện tượng tiêu cực đang
an nhiên tồn tại cho đến tận bây giờ, như nạn
xin xăm bói quẻ, lên đồng lên cốt, tướng số tử
vi … Tất cả những hiện ấy chính là dư âm còn
lại của một quảng thời gian khá dài đất nước
Việt nam, dân tộc Việt nam bị áp đặt bởi nền
văn hóa Trung Hoa. Những hiện tượng ấy cũng có
thể bắt nguồn từ tư tưởng triết học của Khổng
giáo và Lão giáo.
Đức Thế Tôn của chúng ta đã từng phê phán
việc cầu xin và ước vọng, Ngài cho rằng thật
không lợi ích gì con người cứ ngồi đó van xin
cầu khẩn. Đức Phật dạy : “Nếu có người làm
mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến
cầu xin, cầu khẩn, chắp tay mong rằng người ấy
sẽ được sanh thiện thú, thiên giới. Sự cầu khẩn
như vậy là vô ích. Vì người ấy làm mười ác hạnh
sẽ bị rơi vào địa ngục. Ví như một người quăng
một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo đến
cầu xin , cầu khẩn, chắp tay cầu rằng tảng đá ấy
sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích.
Vì tảng đá ấy với sức nặng của nó, không thể nổi
lên, không thể trôi vào bờ như lời cầu xin của
quần chúng ấy. Trái lại, một người từ bỏ mười ác
hạnh , làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng
đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chắp tay cầu
rằng người ấy sẽ bị sanh vào địa ngục, đọa xứ,
thời lời cấu xin ấy cũng không được thành tựu.
Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiên
giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một
ghè dầu vào trong hồ nước, rồi đập bể ghè dầu
ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên mặt nước. Dầu cho
có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu
khẩn, chắp tay cầu rằng số dầu ấy hãy chìm xuống
đáy nước. Lời cầu xin ấy tất không có kết quả,
số dầu ấy vẫn nổi trên mặt nước. Như vậy có cầu
khẩn, cầu xin cũng không lợi ích gì.”
Qua đoạn kinh trên chúng ta càng thấy rõ
sự vô ích của việc cầu xin. Tất cả những hiện
tượng sự vật, những hành động của con người đều
đặt nền tảng trên cơ sở nhân quả. Nói khác hơn,
con người phải có niềm tin ở chính mình, không
có một sự cầu xin nào có thể thay đổi được hoàn
cảnh sống quanh mình. Nếu việc cầu xin trở thành
hiện thực thì tính nhân quả của Đạo Phật sẽ
không còn tồn tại bởi tính công bằng đã bị phá
vỡ.
Trong một xã hội nếu ai cũng làm ác rồi
sau đó van xin cầu khẩn một đấng thần linh ban
ân xóa tội thì xã hội ắt sẽ trở nên đại loạn.
Thế giới Ta bà này bỗng nhiên trở thành một biển
màu vô cùng ghê sợ. Bởi khắp mọi nơi người người
làm ác, nhà nhà làm ác, thậm chí tàn sát lẫn
nhau để có được quyền lợi, địa vị và danh vọng.
Nhưng thật may mắn thay, sự hiện diện của giáo
lý nhân quả giữa cuộc đời này như là một phương
thuốc kỳ diệu. Nó đã không cho phép con người ta
hành động theo một bản năng tự tác. Nếu không,
trong xã hội này còn gì là tính kỷ cương luân
thường đạo lý của con người. Chúng ta không phủ
nhận tính chất cạnh tranh để phát triển theo một
quy luật tự nhiên. Sống giữa cõi đời ai cũng
muốn được giàu sang phú quý, ai cũng muốn được
hạnh phúc bình an nhưng không vì thế mà ta bất
chấp mọi thủ đoạn gian lận, mánh khóe, coi
thường nếp sống luân lý đạo đức để đạt được mục
đích cá nhân.
Hiểu rõ ý nghĩa trên, con người sẽ không
còn dao động hay bị chi phối bởi những quan niệm
về ông đồng bà cốt nhân danh một vị Phật, Bồ tát
giáng xuống trần gian giúp đỡ mọi người. Chúng
ta lại càng không a dua theo những thói quen,
tập tục xin xăm bói quẻ, vay tiền thần thánh để
mưu cầu làm ăn phát đạt, mua may bán đắt, sức
khỏe bình an … Tất cả những điều đó không mang
tính thực tế, thiếu cơ sở khoa học, nhất là lại
không phù hợp với đặc tính nhân quả của Đạo
Phật.
Thông qua giáo lý nhân quả, con người sẽ
dễ dàng nhận thức đúng đắn về bản chất của sự
vật hiện tượng. Do vậy, con người sớm thức tĩnh
trước sự bao trùm che đậy của những hiện tượng
mê tín dị đoan đã và đang diễn ra trong suốt mấy
nghìn năm lịch sử của dân tộc.
3.3 XÂY DỰNG TRUYỀN THỐNG ĐẠO ĐỨC DÂN TỘC :
Đất nước Việt nam, một đất nước vốn mang
truyền thống đạo đức dân tộc, một truyền thống
gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Trãi
qua mấy nghìn năm lịch sử, nền văn hóa của dân
tộc Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ suối
nguồn đạo lý Phật Giáo. Trong đó, tính triết lý
nhân quả được xem như là nền tảng xây dựng
truyền thống đạo đức dân tộc qua những nét căn
bản sau :
Triết lý nhân quả góp phần xây dựng tinh
thần đoàn kết dân tộc, một trong những sức mạnh
đóng vai trò quyết định trong công cuộc giữ vững
nền độc lập đất nước. Ý thức được giá trị của tự
thân, vai trò và trách nhiệm của mỗi cá nhân
trong xã hội, dân tộc Việt nam đã liên kết cùng
nhau xây dựng thành một khối đại đoàn kết vững
mạnh. Giáo lý nhân quả đã dạy cho con người Việt
nam thấy rằng muốn giữ vững nền hòa bình độc lập
của đất nước thì tự thân mỗi cá nhân trong xã
hội phải nổ lực phấn đấu, không ngồi đó trông
chờ hạnh phúc. Một đất nước tuy nhỏ, một nền
kinh tế còn nghèo và lạc hậu nhưng không vì thế
mà dân tộc Việt nam cảm thấy tự ti mặc cảm, hay
chấp nhận một quá khứ đau thương như là định
mệnh. Trong hoàn cảnh ấy, mỗi con người Việt nam
càng ý thức vai trò và trách nhiệm thiêng liêng
trọng đại của mình, để cùng nhau góp phần kiến
tạo một đất nước giàu mạnh trong tinh thần đoàn
kết dưới sự soi sáng của triết lý nhân quả. Đoàn
kết ở đây không có nghĩa là kích động chiến
tranh hận thù mà chính là kêu gọi hòa bình nhân
ái. Giá trị to lớn của giáo lý nhân quả là hướng
dẫn con người sống sao cho tốt, hành động sao
cho thiết thực và có ý nghĩa đối với tự thân,
với gia đình và xã hội. Theo tinh thần của Đạo
Phật, đoàn kết còn mang một ý nghĩa cao đẹp và
rộng mở hơn đó là xa lìa lối sống vị kỷ hẹp hòi.
Trên tinh thần đoàn kết, nhân quả của Đạo
Phật xây dựng cho dân tộc Việt nam một truyền
thống rất đẹp đó là tính chan hòa yêu thương, mở
rộng cõi lòng. Nói khác hơn là truyền thống
tương thân tương ái. Một truyền thống thật gần
gũi và gắn liền với con người Việt nam, dân tộc
Việt nam, một dân tộc xưa nay vốn hiền hòa, thân
thiện và dễ mến. Đặc tính yêu thương, mở rộng
cõi lòng được thể hiện rõ nhất qua những việc
làm nhân nghĩa, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó
khăn hoạn nạn. Nêu cao tinh thần tương thân
tương ái với phương châm “Nhường cơm xẻ áo”, “
Lá lành đùm lá rách”, “Một miếng khi đói bằng
một gói khi no”. Những việc làm ấy phần nào phản
ánh được phẩm chất cao đẹp của con người Việt
nam. Thật đúng như lời của cố Hòa Thượng Thích
Đức Nhuận đã nói: “Hãy tỏ ra mình có đức hạnh,
can đảm và hết lòng. Cố gắng thương yêu mọi
loài. Con người chỉ xứng danh với danh nghĩa của
nó chừng nào làm chủ được ý nghĩ, lời nói và
hành động của mình về cả nội giới và ngoại giới.
Chinh phục được ngoại là một công trình to lớn,
nhưng điều đáng ca ngợi hơn hết vẫn là sự điều
ngự được chính mình. Do đó, về phương diện luân
lý, Đạo Phật đặt trọng tâm vào sự thiện ác , vào
tội phúc báo ứng phân minh và vào luật nhân quả,
vì biết rằng: làm lành được sung sướng. Làm ác
chịu khổ sở. Nhân nào quả nấy. Hành động của
chúng ta hiện nay ra sao thì kết trong ngày mai
cũng lại y như thế. một hành động tốt hoặc xấu
của cá nhân sẽ có ảnh hưởng đến toàn thể không
ít … Người có đạo đức luân lý là một con người
hoàn toàn sung sướng nhất trên đời, khác nào như
bông hoa nở đẹp, làm thơm cho cuộc thế”.
Qua những lời phát biểu trên, chúng ta
không còn mơ hồ gì đối với giáo lý nhân quả. một
triết lý xây dựng cho con người nhận biết trách
nhiệm cá nhân để tự hoàn thiện cho mình một
phong cách sống lành mạnh và có ý nghĩa nhất.
Đặc biệt xây dựng mối quan hệ tương quan mật
thiết giữa con người với con người, giữa con
người với xã hội, với đất nước, với dân tộc.
Ngoài tính nhân văn khẳng định và đề cao
giá trị con người cũng như xây dựng truyền thống
tương thân tương ái, triết lý nhân quả còn xây
dựng cho dân tộc Việt nam một truyền thống luân
lý đạo đức mang tính chất đặc trưng của văn hóa
Việt nam. Truyền thống tôn vinh “ Đạo đức”, đó
còn là quan niệm “Tích đức” vốn mang tính chất
dân tộc tính rất cao. Nó thể hiện ý nghĩa giáo
dục đạo đức làm người không chỉ trong hiện tại
mà còn lưu lại ở mai sau. Hai chữ “tích đức”
nghe qua sao thật bình dị đời thường nhưng ẩn
chứa bên trong một giá trị nhân văn rất lớn.
Quan niệm ấy vốn được hun đúc sâu xa từ tính
chất nhân quả của Đạo Phật và đã ăn sâu vào lòng
dân tộc Việt nam. Tích đức bao hàm ý nghĩa
khuyên răn con người sống ở đời phải biết lấy
nhân đức làm trọng, tránh xa các điều ác, nổ lực
làm các việc lành với một tâm nguyện cao đẹp là
để lại cái “Đức” cho con cháu mai sau. Như ông
cha ta thường nói:
“Cây xanh thì lá cũng xanh,
Tu nhân tích đức để dành cho con.”
Hay : “Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.”
Để lại cho con cháu cái danh thơm tiếng
tốt là một quá trình ông cha ta đã sống tốt sống
đẹp (tu nhân tích đức) mà có được. Truyền thống
ấy được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Không những thế, trong quan hệ qua lại của xóm
giềng, trong sinh hoạt của cộng đồng xã hội,
người dân việt nam luôn luôn khuyên răn nhắc nhỡ
lẫn nhau sống sao cho tốt đẹp không chỉ cho hôm
nay mà còn lưu lại tiếng tốt cho mai sau. Quan
niệm và ý thức về hành động “Tích đức” luôn được
người Việt nam coi trọng và lưu truyền cho nhau
qua câu nói thật nhẹ nhàng mà sâu lắng “Ăn ở có
đức mặc sức mà ăn”. Quan niệm ấy được xem như
một lẽ sống tự nhiên không thể thiếu trong mỗi
gia đình người Việt nam.
Dưới ảnh hưởng của lý nhân quả, truyền
thống ấy dần dần đã trở thành một nếp sống tự
nhiên của dân tộc Việt nam. Như lời Giáo sư
Nguyễn Khắc Thuần đã nói : “Tích đức cho thế hệ
sau là để lại gia sản thiêng liêng và vô giá
nhất. Từ nhận thức với những mức độ khác nhau và
từ phép ứng dụng thiết thực thuyết nhân quả vào
cuộc sống, đạo đức làm người được tôn vinh, vượt
lên trên tất cả những giá trị vật chất khác”
Tóm lại, tính nhân văn của thuyết nhân quả
không chỉ mang ý nghĩa đối với những người theo
Phật giáo mà nó còn có một sức sống mầu nhiệm
trong lòng dân tộc. Tính nhân văn ấy khẳng định
vị trí quan trọng của con người, loại bỏ những
quan niệm tiêu cực đang tồn tại trong xã hội.
Trên phương diện luân lý đạo đức, thuyết nhân
quả chính là nền tảng xây dựng những đặc tính
quý báu mang đậm truyền thống đạo đức dân tộc
Việt nam. Con người có trách nhiệm và quyền tự
do để định đoạt đời mình bằng nếp sống hiện tại.
Qua đó mỗi cá nhân trong xã hội cùng nhau góp
phần xây dựng cho cuộc sống ngày càng an vui và
hạnh phúc.
C. KẾT LUẬN
Qua những điều trình bày trên, ta thấu hiểu
giáo lý nhân quả một cách thật sáng tỏ, nhất là
đời sống của mỗi con người không phải là một
định mệnh đã được an bài như nhiều người lầm
tưởng. Giáo lý nhân quả dạy cho ta bài học quý
giá để tự mỗi cá nhân xây dựng cho mình một đời
sống an lành hạnh phúc dựa trên chất liệu tự
thân.
Một khi tin hiểu sâu sắc về luật nhân quả
con người sẽ trở nên rộng lượng bao dung, ôn
hòa, dễ mến. Bấy giờ con người sẵn sàng động
viên chia sẽ cho nhau trong mọi hoàn cảnh sống.
Họ hiểu rằng đem đến cho người những điều bất
hạnh thì tự thân sẽ đón nhận những nghiệp quả
khổ đau. Bằng ngược lại, mang đến cho người
những điều an vui hạnh phúc thì tự thân sẽ được
nhiều điều lợi lạc. Như trong Nho gia có câu “Kỷ
sở bất dục vật thi ư nhân” cũng hàm chứa ý nghĩa
trên. Cái điều mà mình không muốn thì cũng đừng
mang đến cho người khác.
Giáo lý nhân quả dạy cho ta biết chế ngự
mọi bất hạnh, ngăn ngừa ác tâm sanh khởi, xua
tan cái nghiệp quả oan oan tương báo, đem lại
niềm an lạc cho tự thân, cho tha nhân và xã hội.
Trong gia đình cho đến bên ngoài cộng đồng xã
hội nếu ai ai cũng tin hiểu sâu sắc về nhân quả
ắt con người trong xã hội sẽ trở nên thánh
thiện biết chừng nào. Một xã hội mà con người
luôn lấy những điều nhân nghĩa, chân thật đối xử
với nhau đúng mực trong tinh thần đồng bào, đồng
loại. Sống vì hạnh phúc của tha nhân và tập thể
chính là nếp sống tối thượng nhất của người học
phật.
Ngày nay, xã hội trở nên mất cân đối giữa
đời sống tinh thần và vật chất. Nền khoa học thì
phát triển mạnh mẽ như vũ bão, trong khi đó thì
đời sống đạo đức con người ngày càng trở nên suy
thoái. Tôn ty trật tự, luân lý đạo đức trong gia
đình cũng như ngoài xã hội không còn nét đẹp
truyền thống như xưa, mà dường như còn bị xem
nhẹ. Một bộ phận giới trẻ ngày nay xem chuẩn mực
đạo đức như một định kiến cổ hủ phong kiến.
Chính bởi những đam mê dục vọng của cái gọi là
thời buổi tân tiến hiện đại đã khiến cho bao con
người trở nên điên đảo quay cuồng. Đó chính là
những dấu hiệu rõ nhất cho thấy sự suy thoái của
nền đạo đức trong thời đại mới. Trước những thực
trạng ấy, vấn đề giáo dục đạo đức thông qua giáo
dục con người nhận biết và tin sâu giáo lý nhân
quả càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Điều
đó không có nghĩa là áp đặt cho thế trẻ một định
kiến mà nhằm giáo dục hướng dẫn cho họ nhận thức
đúng đắn về giáo lý nhân quả ở một góc độ thiết
thực và khoa học nhất.
Giáo dục trong Phật Giáo nói chung và giáo
dục đạo đức con người dưới triết lý nhân quả nói
riêng đều mang một ý nghĩa là chỉ ra cho con
người thấy được vai trò, trách nhiệm và giá trị
quan trong của mỗi con người đối với tự thân,
tha nhân và xã hội. Như lời nhận định chung của
Thượng Tọa Thích Giác toàn về vấn đề giáo dục
con người toàn diện : “Giáo dục Phật giáo phải
nhằm tới đối tượng là con người đúng như con
người ở hai phương diện: con người tự thân và
con người xã hội. Đó là con người với nhân cách
người có khả năng giải thoát tự thân để vượt qua
những ràng buộc, những khổ đau, và con người
trong những mối liên hệ với tự nhiên và xã hội,
trong thế giới duyên sanh, vô thường, khổ,
không, vô ngã. Đó là ý nghiã của con người toàn
diện trong giáo dục Phật giáo”.
Thấy được giá trị của luật nhân quả, là
người học Phật mỗi chúng ta cần áp dụng nó vào
đời sống một cách thiết thực và có ý nghĩa nhất.
Trong mọi cử chỉ nói năng hay hành động điều
phát xuất từ những suy nghĩ thiện. Điều đó cũng
có nghĩa là trước khi làm một việc gì chúng ta
phải nghĩ đến hậu quả của nó sẽ mang lại cho
người khác hạnh phúc hay khổ đau. Nếu hạnh phúc
ta nên phát huy, nếu khổ đau ta nên đoạn tận.
Hành động phát huy và đoạn tận cũng chính là gạn
lọc cho tâm ý luôn được thanh tịnh và trong sáng
dưới sự soi sáng của giáo lý nhân quả.
Thư Mục Tham Khảo
1. Đại Tạng Kinh Việt Nam, Trường Bộ Kinh, Tập
I, VNCPHVN, 1992
2. Đại Tạng Kinh Việt Nam, Trung Bộ Kinh, Tập
III, VNCPHVN, 1992
3. Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tương Ưng Bộ Kinh,
Tập I, II ,VNCPHVN, 1992
4. Thích Minh Châu dịch, Kinh Pháp Cú, NXB Tôn
Giáo, 2000
5. Thích Minh Châu, Những Lời Đức Phật Dạy Về
Hòa Bình Và Giá Trị Con Người, VNCPHVN, 1996
6. Thích Minh Châu, Đức Phật Nhà Đại Giáo Dục,
NXB Tôn Giáo, 2005
7. Thích Thiện Siêu, Chữ Nghiệp Trong Đạo
Phật, NXB Tôn Giáo, 2001
8. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, Quyển
1, THPGTPHCM, 1997
9. Thích Thanh Từ, Phật Giáo Với Dân Tộc,
THPGTPHCM, 1992
10. Thích Nhất Hạnh, Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời,
Lưu Hành Nội Bộ, 2001
11. Thích Đức Nhuận, Phật Học Tinh Hoa, Triết
Lý Việt Nam Và Triết Học Thế Giới Califorrnia
Tái Bản, 2002
12. Thích Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam,
THPGTPHCM, 1995
13. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB
TPHCM, 1999
14. Thích Giác Toàn, Giáo dục Phật Giáo, tài
liệu giảng dạy HVPGVN tại TP.HCM, 2005
15. Thích Trung Hậu, Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo
Việt Nam, NXB TPHCM, 2002
16. Thích Viên Thành, Truyện Phật Bà Chùa
Hương, NXB Khoa Học Xã Hội, 1996
17. Thích Chân Tính, Những Điều Đặc Sắc Của
Phật Giáo Việt Nam, NXB Tôn Giáo, 2001
18. Thích Giác Dũng, Phật Việt Nam Với Dân Tộc
Việt Nam, NXB Tôn Giáo, 2002
19. Thích Chơn Quang, Luận Về Nhân Quả, Lưu
Hành Nội Bộ, 1999
20. Minh Chi, Truyền Thống Văn Hóa Và Phật Giáo
Việt Nam, NXB Tôn Giáo, 2003
21. Minh Chi, Các Vấn Đề Phật Học, VNCPHVN,
1995
22. Minh Chi, Vai Trò Tôn Giáo Trong Sách Lược
Phát Triển, Lưu Hành Nội Bộ
23. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,
Tập I, NXB Văn Hóa Hà Nội, 2000
24. Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Văn
Hóa Việt Nam, Tập II, NXB Giáo Dục, 2002
25. Trí Không, Những Bài Giảng Mẫu, THPGTPHCM,
1994
26. Trần Quốc Vượng Chủ Biên, Cơ Sở Văn Hóa
Việt Nam, NXB Giáo Dục, 1999
27. Lê Cung, Phật Giáo Việt Nam Với Cộng Đồng
Dân Tộc, THPGTPHCM, 1996
28. Nguyễn Văn Ngọc, Truyện Cổ Việt Nam
29. Nguyễn Đỗng Chi, Truyện Cổ Tích Việt Nam
30. Chương Trình Phật Học Hàm Thụ, Phật Học Căn
Bản Tập I, II, NXB TPHCM, 1999
31. Tập San Pháp Luân, Số 7, Tháng 9/ 2004
32. Một Số Bài Viết Trong Tuần San Và Nguyệt
San Báo Giác Ngộ.
(Tu Viện Quảng Đức)