ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT
Thích Nguyên Tạng
Mục lục
|
DẪN
NHẬP
|
|
PHẦN
A
:
TỔNG
QUAN
VỀ
PHẬT
GIÁO
VIỆT
NAM
|
|
I.
PHẬT
GIÁO
DU
NHẬP
VÀO
VIỆT
NAM
1.
Phật
giáo
du
nhập
qua
con
đường
Hồ
Tiêu.
2.
Phật
giáo
du
nhập
qua
con
đường
Đồng
cỏ.
II.
PHẬT
GIÁO
VIỆT
NAM
PHÁT
TRIỂN
QUA
CÁC
THỜI
ĐẠI
1.
Phật
giáo
Việt
Nam
từ
thế
kỷ
thứ
II
đến
thế
kỷ
thứ
V,
thời
kỳ
du
nhập
và
hình
thành
Phật
giáo
Việt
Nam.
2.
Phật
giáo
Việt
Nam
từ
thế
kỷ
thứ
VI
đến
hết
thế
kỷ
thứ
IX,
thời
kỳ
phát
triển.
3.
Phật
giáo
Việt
Nam
trong
thế
kỷ
X
đến
hết
thế
kỷ
thứ
XIII,
thời
kỳ
cực
thịnh.
4.
Phật
giáo
Việt
Nam
trong
thế
kỷ
XX,
thời
kỳ
phục
hưng.
III.
NHỮNG
THÀNH
QUẢ
CỦA
PHẬT
GIÁO
VIỆT
NAM
-
Các
con
số
thống
kê
mới
nhất
về
tự
viện,
tăng
ni
Việt
Nam.
|
|
PHẦN
B
:
ẢNH
HƯỞNG
PHẬT
GIÁO
TRONG
ĐỜI
SỐNG
NGƯỜI
VIỆT
|
|
I.
ẢNH
HƯỞNG
PHẬT
GIÁO
VỀ
MẶT
TƯ
TƯỞNG
VÀ
ĐẠO
LÝ
1.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
về
mặt
tư
tưởng.
2.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
về
mặt
đạo
lý.
II.
ẢNH
HƯỞNG
PHẬT
GIÁO
TRONG
QUÁ
TRÌNH
HỘI
NHẬP
VĂN
HÓA
VIỆT
1.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
sự
dung
hòa
với
các
tín
ngưỡng
truyền
thống.
2.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
sự
dung
hòa
với
các
tôn
giáo
khác.
3.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
sự
dung
hòa
với
các
tông
phái
4.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
sự
dung
hòa
với
các
quan
hệ
chính
trị
xã
hội.
5.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
trong
đời
sống
người
bình
dân
và
giới
trí
thức.
III.
ẢNH
HƯỞNG
PHẬT
GIÁO
QUA
GỐC
ĐỘ
NHÂN
VĂN
VÀ
XÃ
HỘI
1.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
ngôn
ngữ.
2.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
ca
dao
và
thơ
ca
3.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
các
tác
phẩm
văn
học.
4.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
phong
tục
tập
quán.
IV.
ẢNH
HƯỞNG
PHẬT
GIÁO
QUA
CÁC
LOẠI
HÌNH
NGHỆ
THUẬT
1.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
nghệ
thuật
sân
khấu.
2.
Ảnh
hưởng
Phật
giáo
qua
nghệ
thuật
tạo
hình.
|
|
PHẦN
C
:
NHẬN
ĐỊNH
VÀ
KẾT
LUẬN
|
DẪN
NHẬP
Việt
Nam,
là
một
quốc
gia
nằm
trong
vùng
Đông
Nam
Châu
Á,
Bắc
giáp
với
Trung
Hoa,
Đông
và
Nam
giáp
với
Biển
Nam
Hải,
phía
Tây
giáp
với
Lào
và
Campuchia;
diện
tích:
329.556
km2,
dân
số
70
triệu
người;
mật
độ
dân
cư:
224
người/km2;
dân
số
dưới
15
tuổi:
39,
2%;
tuổi
thọ
trung
bình:
62,7
tuổi;
tử
suất
trẻ
em:
59%;
học
sinh
cấp
Trung
học
:
46,9%;
tôn
giáo
chính:
Phật
giáo
(
những
tôn
giáo
nhỏ
khác
là
Khổng,
Lão,
Cao
Đài,
Hòa
Hảo,
Ky
Tô,
Tin
Lành…);
thể
chế
chính
trị:
Cộng
Sản;
Lao
động
(nông
&
ngư
nghiệp):
73%
dân
số;
truyền
thông
đại
chúng:
7
triệu
máy
radio,
3
triệu
máy
truyền
hình,
Nhật
báo
Nhân
Dân
phát
hành
200.000
tờ
mỗi
ngày;
thu
nhập
bình
quân
đầu
người
113
đô
la.
Việt
Nam
là
một
quốc
gia
nằm
ở
ngã
tư
của
lưu
lộ
quốc
tế
thuộc
Đông
Nam
Châu
Á,
và
là
nơi
dừng
chân
của
các
thương
buôn
của
vùng
Địa
Trung
Hải.
Từ
một
vị
trí
địa
lý
thuận
lợi
như
thế,
do
đó
các
quốc
gia
trong
vùng
này
đã
thiết
lập
các
mối
quan
hệ
kinh
tế,
thương
mại,
văn
hóa
,
tôn
giáo…
qua
hai
con
đường
Hồ
Tiêu,
tức
là
đường
biển
qua
ngã
Sri
lanka,
Indonesia,
Trung
Hoa,
Việt
và
đường
Đồng
Cỏ,
là
đường
bộ,
xuất
phát
từ
vùng
Đông
Bắc
Aᮠrồi
băng
qua
miền
Trung
Á,
Mông
Cổ,
Tây
Tạng,
Việt
Nam,
Trung
Hoa.
Vì
vậy
các
tôn
giáo
lớn,
trong
đó
có
Phật
giáo
gặp
nhiều
thuận
lợi
du
nhập
vào
nước
ta.
Ngay
khi
được
truyền
vào,
từ
thế
kỷ
đầu,
Đạo
Phật
đã
nhanh
chóng
thích
nghi
với
lối
sông
của
người
dân
Việt
và
trong
quá
trình
hình
thành
và
phát
triển
trên
đất
nước
này,
Đạo
Phật
đã
không
gặp
một
trở
ngại
nào
trong
việc
hòa
nhập
vào
mọi
giai
tầng
của
xã
hội
Việt
Nam.
Đạo
Phật
đã
thấm
vào
nền
văn
minh
Việt
Nam
tự
nhiên
và
dễ
dàng
như
nước
thấm
vào
đất.
Đạo
Phật
đã
lan
tỏa
khắp
hang
cùng
ngỏ
hẻm
trên
lãnh
thổ
Việt
Nam
và
đã
có
một
chỗ
đứng
nhất
định
từ
cung
đình
cho
đến
làng
xã
Việt
Nam.
Đạo
lý
của
Phật
giáo
Việt
Nam
cũng
đã
ăn
sâu
vào
nếp
sống,
nếp
nghĩ
của
người
dân
Việt
và
đã
trở
thành
những
giá
trị
tinh
thần
vô
giá
cho
người
dân
trên
xứ
sở
này.
Trong
suốt
chiều
dài
lịch
sử
mười
tám
thế
kỷ
qua,
Đạo
Phật
đã
chứng
minh
sự
hiện
hữu
của
mình
trong
hầu
hết
các
lãnh
vực
chính
trị,
kinh
tế,
văn
hóa,
xã
hội…
và
có
những
đóng
góp,
những
ảnh
hưởng
tích
cực
vào
các
mặt
nói
trên.
Bài
viết
này
sẽ
được
trình
bày
qua
hai
phần:
-
Phần
A:
Tổng
quan
về
Phật
Giáo
Việt
Nam:
quá
trình
du
nhập
và
phát
triển
của
Phật
giáo
Việt
Nam.
-
Phần
B:
Sự
ảnh
hưởng
của
Phật
giáo
trong
đời
sống
người
Việt,
qua
gốc
độ
tư
tưởng,
triết
lý,
phong
tục,
tập
quán,
nhân
văn
xã
hội…
Hy
vọng
rằng
qua
bài
viết
này
sẽ
giúp
cho
độc
giả
nắm
bắt
được
những
nét
đại
cương
về
Phật
giáo
Việt
Nam
và
tầm
ảnh
hưởng
của
nó
trong
đời
sống
của
người
Việt.
Dù
hết
sức
cố
gắng
,nhưng
chắc
chắn
sẽ
không
sao
tránh
khỏi
những
sơ
sót,
cúi
xin
các
bậc
cao
minh
từ
bi
chỉ
giáo
cho.
Nhân
đây,
cũng
xin
trân
trọng
ghi
ân
các
tác
giả
mà
người
viết
đã
tham
khảo
tài
liệu
để
hoàn
thành
bài
nghiên
cứu
này.
Sàigòn,
mùa
đông
năm
Bính
Tý,
1996
Tác
giả
cẩn
chí
THÍCH
NGUYÊN
TẠNG
Phần A
TỔNG QUAN VỀ PHẬT
GIÁO VIỆT NAM
I.
PHẬT
GIÁO
DU
NHẬP
VÀO
VIỆT
NAM:
Ngày
nay,
căn
cứ
các
tài
liệu
(1)
và
các
lập
luận
khoa
học
của
nhiều
học
giả,
giới
nghiên
cứu
hầu
hết
đều
đồng
ý
rằng
Đạo
Phật
đã
được
truyền
vào
Việt
Nam
rất
sớm,
nhất
là
từ
cuối
thế
kỷ
thứ
II
đến
đầu
thế
kỷ
thứ
III
Tây
Lịch
qua
hai
con
đường
Hồ
Tiêu
và
Đồng
Cỏ.
1.
Phật
Giáo
du
nhập
qua
con
đường
Hồ
Tiêu:
Con
đường
Hồ
Tiêu
(Chemi
des
epices)
tức
là
đường
biển,
xuất
phát
từ
các
hải
cảng
vùng
Nam
Ấn
rồi
qua
ngã
Srilanka,
Indonesia,
Việt
Nam...lợi
dụng
được
luồng
gió
thổi
định
kỳ
vào
hai
lần
một
năm
phù
hợp
với
hai
mùa
mưa
nắng
ở
khu
vực
Đông
Nam
Á,
những
thương
nhân
Ấn
đã
tới
các
vùng
này
để
buôn
bán
bằng
những
con
thuyền
buồm.
Trong
các
chuyến
đi
viễn
dương
này,
các
thương
nhân
thường
cung
thỉnh
một
hay
hai
vị
tăng
để
cầu
nguyện
cho
thủy
thủ
đoàn
và
các
vị
tăng
này
nhờ
đó
mà
đến
truyền
bá
Đạo
Phật
vào
các
dân
tộc
ở
Đông
Nam
Á.
Giao
Châu
tiêu
biểu
bấy
giờ
là
trung
tâm
Luy
Lâu,
là
nơi
tụ
điểm
nghỉ
chân
giao
lưu
của
các
thương
thuyền.
Lịch
sử
chính
thức
xác
nhận
năm
240
trước
Tây
lịch,
Mahoda-con
vua
A
dục
(Asoka)
đã
đưa
Đạo
Phật
vào
Việt
Nam
(2).
Tư
liệu
trong
Lĩnh
Nam
Chính
Quái
cho
biết
một
dữ
kiện
chứng
tỏ
sự
có
mặt
của
Đạo
Phật
vào
đời
Hùng
Vương
thứ
3
(triều
đại
thứ
18
Vua
Hùng
kể
từ
trước
công
nguyên
2879-258).
Đó
là
câu
chuyện
công
chúa
Tiên
Dung,
con
gái
vua
Hùng
Vương
thứ
3
lấy
Đồng
Tử.
Chuyện
kể
rằng
Đồng
Tử
và
Tiên
Dung
lập
phố
xá
buôn
bán
giao
thiệp
với
người
nước
ngoài.
Một
hôm
Đồng
Tử
theo
một
khách
buôn
ngoại
quốc
đến
Quỳnh
Viên
và
tại
đây
Đồng
Tử
đã
gặp
một
nhà
sư
Ấn
Độ
ở
trong
một
túp
lều.
Nhờ
đó
mà
Đồng
Tử
và
Tiên
Dung
đã
biết
đến
Đạo
Phật
(3).
Qua
dữ
kiện
này
ta
thấy
sự
hiện
diện
của
Phật
Giáo
do
các
tăng
sĩ
Ấn
Độ
truyền
vào
Việt
Nam
khá
lâu
trước
Tây
lịch.
Một
bài
nghiên
cứu
của
Ngô
Đăng
Lợi,
viện
nghiên
cứu
khoa
học
Hải
Phòng
viết:
"Vùng
Đồ
Sơn
mà
có
nhà
nghiên
cứu
khẳng
định
chính
là
thành
Nê
Lê
nơi
có
bảo
tháp
của
vua
Asoka.
Nếu
quả
vậy
thì
từ
thế
kỷ
thứ
ba
trước
Tây
lịch,
Đạo
Phật
đã
được
trực
tiếp
truyền
vào
nước
ta"
(4).
Và
Thiền
Uyển
Tập
Anh
cũng
ghi
nhận
cuộc
đàm
luận
giữa
thiền
sư
Thông
Biện
và
Thái
Hậu
Phù
Thánh
Linh
Nhân
(Ỷ
Lan)
(khi
bà
hỏi
về
nguồn
gốc
Đạo
Phật
Việt
Nam
vào
dịp
các
cao
tăng
trong
nước
tập
hợp
tại
chùa
Khai
Quốc
(nay
là
chùa
Trấn
Quốc
-
Hà
Nội)
vào
ngày
rằm
tháng
2
năm
1096)
Thông
Biện
dẫn
chứng
lời
pháp
sư
Đàm
Thiên
(542-607
TL)
đối
thoại
với
Tùy
Cao
Đế
(?-604
TL):
"Một
phương
Giao
Châu,
đường
sang
Thiên
Trúc,
Phật
pháp
lúc
mới
tới,
thì
Giang
Đông
(Trung
Hoa)
chưa
có,
mà
Luy
Lâu
lại
dựng
chùa
hơn
20
ngôi,
độ
tăng
hơn
40
người,
dịch
kinh
được
15
quyển,
vì
nó
có
trước
vậy,
vào
lúc
ấy
thì
đã
có
Khâu
Đà
La,
Ma
Ha
Kỳ
Vực,
Khương
Tăng
Hội,
Chi
Cương
Lương,
Mâu
Bác
tại
đó"
(5).
Ma
Ha
Kỳ
vực,
Khâu
Đà
La
(188
TL)
người
Ấn
Độ
hay
Trung
Á;
Mâu
Bác
(165-170
TL)
người
Trung
Hoa;
Khương
Tăng
Hội
(200-247
TL)
người
Ấn
Độ;
Chi
Cương
Lương
(?-264
TL)
người
xứ
Nhục
Chi,
theo
sử
chép
đó
là
các
vị
sư
có
mặt
sớm
nhất
ở
Giao
Châu
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
hai
đến
thế
kỷ
thứ
ba.
Có
lẽ
đây
chỉ
là
những
vị
được
sử
ghi
lại
tên
tuổi,
kỳ
thực
đây
không
phải
là
phái
đoàn
truyền
bá
đầu
tiên
đến
Việt
Nam,
vì
từ
thế
kỷ
thứ
ba
trước
Tây
lịch
đến
thế
kỷ
thứ
hai
sau
Tây
Lịch
chắn
chắc
đã
có
nhiều
tăng
sĩ
đặt
chân
đến
hoằng
Pháp
tại
Việt
Nam,
cho
nên
Pháp
sư
Đàm
Thiên
chỉ
dẫn
phần
giới
hạn
và
căn
cứ
vào
sự
có
mặt
của
tác
phẩm
Lý
hoặc
Luận
của
Mâu
Bác.
Qua
nhiều
tài
liệu
lịch
sử
và
dựa
vào
địa
lý,
thiên
nhiên,
cư
dân,
lịch
sử
có
thể
cho
chúng
ta
một
kết
luận
chắn
chắc
rằng
Đạo
Phật
đã
được
truyền
trực
tiếp
vào
Việt
Nam
chứ
không
thông
qua
Trung
Hoa
bằng
con
đường
Hồ
Tiêu.
Tuy
nhiên,
cũng
có
nhiều
cứ
liệu
lịch
sử
chứng
minh
rằng
Đạo
Phật
đồng
thời
được
truyền
vào
Việt
Nam
qua
con
đường
Đồng
Cỏ.
2.
Phật
Giáo
du
nhập
qua
con
đường
Đồng
Cỏ:
Con
đường
Đồng
Cỏ
(Chemin
des
Steppes)
tức
là
đường
bộ
còn
gọi
là
con
đường
tơ
lụa
(6)
con
đường
này
nối
liền
Đông
Tây,
phát
xuất
từ
vùng
Đông
Bắc
Ấn
Độ,
Assam
hoặc
phía
Trung
Á,
một
nhánh
của
đường
tơ
lụa
đi
từ
Châu
Âu
qua
các
vùng
thảo
nguyên
và
vùng
sa
mạc
ở
Trung
Á
tới
Lạc
Dương
bằng
phương
tiện
lạc
đà.
Cũng
có
thể
các
thương
nhân
và
tăng
sĩ
qua
vùng
Tây
Tạng
và
các
triền
sông
Mekong,
sông
Hồng,
sông
Đà
mà
vào
Việt
Nam.
Cuốn
Lịch
sử
Phật
Giáo
Việt
Nam
(Hà
Nội,
1988)
có
nói
rõ:
"Các
thương
nhân
xuất
phát
từ
Trung
Ấn
có
thể
dùng
tuyến
đường
bộ
ngang
qua
đèo
Ba
Chùa
và
theo
sông
Kanburi
mà
xuống
Châu
Thổ
Mênam,
bằng
tuyến
đường
hiện
nay
vẫn
nối
liền
cảng
Moulmein
với
thành
phố
Raheng,
nằm
trên
một
nhánh
của
con
sông
Mênam
(…)
chính
tuyến
đường
này
dẫn
tới
vùng
Bassak
ở
trung
lưu
sông
Mekong,
địa
bàn
của
vương
quốc
Kambijan.
Vương
quốc
này
có
thể
là
do
những
di
dân
Ấn
Độ
thành
lập
trước
công
nguyên.
Rất
có
thể
các
tăng
sĩ
Ấn
Độ
vào
đầu
công
nguyên
đã
theo
con
đường
này
mà
đến
đất
Lào,
rồi
từ
đây
vượt
Trường
Sơn
sang
Thanh
Hóa
hay
Nghệ
An".
Những
dữ
kiện
về
con
đường
Hồ
Tiêu
và
con
đường
Đồng
Cỏ
có
liên
quan
đến
sự
giao
lưu
của
Việt
Nam
tuy
chưa
nhiều
chứng
minh
có
những
chứng
tích
mà
lịch
sử
còn
để
lại,
dù
lịch
sử
truyền
miệng
hay
thành
văn,
theo
lịch
sử
Phật
Giáo
Việt
Nam
thì
vào
thế
kỷ
thứ
II
trước
Tây
lịch,
vua
Ấn
Độ
Asoka
sau
cuộc
đại
hội
kết
tập
kinh
điển
lần
thứ
ba,
vua
và
trưởng
lão
Tissa
Moggaliputta
đã
gởi
nhiều
phái
đoàn
Như
Lai
sứ
giả
lên
đường
truyền
bá
chánh
pháp
cho
các
nước
thuộc
vùng
viễn
đông,
trong
đó
có
đoàn
của
hai
vị
cao
tăng
là
Uttara
và
Sona
được
phái
đến
Suvana
-Bhumi,
xứ
Kim
Địa.
Tuy
có
nhiều
ý
kiến
khác
nhau
về
vùng
Kim
Địa
nhưng
ý
kiến
trong
quyển
lịch
sử
Phật
Giáo
Thế
Giới
(7)
thì
cho
rằng
vùng
Kim
Địa
này
là
bán
đảo
Đông
Dương
từ
Miến
Điện
kéo
dài
đến
Việt
Nam.
Vấn
đề
này
được
sách
Lịch
Sử
Phật
Giáo
Việt
Nam
(sđđ)
viết:
"sử
liệu
Phật
Giáo
Miến
Điện
chép
rằng
hai
vị
cao
tăng
đó
(Uttara
và
Sona)
đã
đến
Miến
Điện
truyền
giáo
nhưng
sử
liệu
Phật
Giáo
tại
Thái
Lan
cũng
ghi
là
hai
cao
tăng
Uttara
và
Sona
có
đến
Thái
Lan
truyền
giáo.
Có
học
giả
dựa
vào
một
tài
liệu
Trung
Hoa
nói
rằng
ở
Giao
Châu
tại
thành
Nê
Lê,
có
bảo
tháp
của
vua
Asoka,
và
học
giả
đó
xác
định
thành
Nê
Lê
chính
là
Đồ
Sơn
hiện
nay
(cách
Hải
Phòng
khoảng
12km)".
Nói
chung
căn
cứ
theo
các
tư
liệu
trên
thì
chúng
ta
có
thể
khẳng
địng
rằng
Phật
Giáo
truyền
vào
Việt
Nam
khoảng
đầu
kỷ
nguyên
Tây
lịch
bằng
những
phương
tiện
hòa
bình
và
vì
thế
không
một
giọt
máu
nào
đã
chảy,
không
một
giọt
lệ
nào
rơi
vì
sự
truyền
bá
Đạo
Phật
vào
Việt
Nam.
II.
PHẬT
GIÁO
VIỆT
NAM
PHÁT
TRIỂN
QUA
CÁC
THỜI
ĐẠI:
1.
Phật
Giáo
Việt
Nam
từ
thế
kỷ
thứ
II
đến
hết
thế
kỷ
thứ
V,
thời
kỳ
du
nhập
và
hình
thành
Phật
Giáo
Việt
Nam:
Không
bao
lâu
khi
Phật
Giáo
được
truyền
vào
đất
Việt,
nhờ
sự
nổ
lực
hoạt
động
truyền
giáo
của
các
tăng
sĩ
Ấn
Độ,
tại
Luy
Lâu,
thủ
phủ
của
Giao
Chỉ
lúc
bấy
giờ
đã
trở
thành
một
trung
tâm
Phật
Giáo
lớn
nhất
trong
vùng.
Tại
đây,
với
những
sinh
hoạt
hoằng
pháp
của
ngài
Khâu
Đà
La
(người
Ấn
Độ
đến
Luy
Lâu
khoảng
năm
168-169)
đã
xuất
hiện
một
mô
hình
Phật
Giáo
Việt
Nam
hóa
đầu
tiên
qua
hình
tượng
Thạch
Quang
Phật
và
Man
Nương
Phật
Mẫu
(hình
tượng
Phật
Nữ).
Một
chứng
liệu
lịch
sử
quan
trọng
khẳng
định
Phật
Giáo
Việt
Nam
đã
bắt
rễ
sớm
ở
Giao
Châu
là
sự
việc
ngài
Mâu
Bác
(sinh
cuối
thế
kỷ
thứ
II)
theo
mẹ
từ
Trung
Quốc
sang
Giao
Châu
khi
ngài
còn
rất
trẻ,
rồi
lớn
lên,
tại
đây
ngài
đã
viết
bài
"Lý
hoặc
Luận"
và
dịch
một
số
kinh
sách,
chứng
tỏ
ngài
đã
học
Phật
giáo
tại
Giao
Châu
và
như
thế
Phật
Giáo
Giao
Châu
đã
phát
triển
khá
mạnh,
ít
nhất
là
vào
nữa
đầu
thế
kỷ
thứ
III
Tây
Lịch.
Sang
thế
kỷ
thứ
III,
có
ba
nhà
truyền
giáo
nước
ngoài
đến
hoằng
Pháp
tại
Giao
Châu
là
các
ngài
Khương
Tăng
Hội
(gốc
người
Sogdiane,
Khương
Cư);
ngài
Chi
Cương
Lương
Tiếp
(người
xứ
Nhục
Chi)
và
ngài
Ma
Ha
Kỳ
Vực
(người
Ấn
Độ).
Đến
thế
kỷ
thứ
V,
có
hai
thiền
sư
xuất
hiện,
là
Đạt
Ma
Đề
Bà
(Oharmadeva,)
và
Huệ
Thắng
(người
Việt).
Thiền
sư
Đạt
Ma
Đề
Bà
là
người
Ấn
Độ
đến
Giao
Châu
vào
giữa
thế
kỷ
thứ
V
để
giảng
dạy
về
phương
pháp
thiền
học.
Thiền
sư
Huệ
Thắng
là
người
địa
phương
là
một
trong
những
học
trò
của
ông.
Cũng
do
được
truyền
bá
trực
tiếp
từ
Ấn
Độ
vào
Việt
Nam
ngay
từ
đầu
kỷ
nguyên
Tây
lịch,
nên
danh
xưng
Buddha
(Bậc
Giác
Ngộ)
tiếng
Phạn
đã
được
phiên
âm
trực
tiếp
sang
tiếng
Việt
là
Bụt
(Trung
Hoa
dịch
là
Phật).
Điều
này
trùng
hợp
với
danh
từ
Bụt
được
xuất
hiện
trong
nhiều
truyện
cổ
tích
Việt
Nam.
Theo
từ
điển
Phật
học
Việt
Nam,
(Minh
Châu
và
Minh
Chi,
Hà
Nội
1991)
có
ghi:
"Tiếng
Bụt
phổ
biến
hơn
trong
văn
học
dân
gian
và
là
dấu
hiệu
chứng
tỏ
Đạo
Phật
truyền
vào
nước
ta
sớm
lắm".
Phật
Giáo
ở
Giao
Châu
lúc
ấy
mang
màu
sắc
Nam
phương,
nhưng
trong
con
mắt
của
nền
văn
minh
nông
nghiệp,
người
Việt
Nam
lại
hình
dung
Đức
Phật
như
là
một
vị
thần
toàn
năng
có
mặt
ở
khắp
nơi,
sẵn
sàng
xuất
hiện
để
cứu
độ
mọi
người.
2.
Phật
giáo
Việt
Nam
từ
thế
kỷ
thứ
VI
đến
hết
thế
kỷ
thứ
IX,
thời
kỳ
phát
triển:
Bước
sang
thời
kỳ
này,
Phật
tử
Việt
Nam
lại
tiếp
nhận
thêm
những
đoàn
truyền
giáo
của
Trung
Quốc.
Không
bao
lâu
sau
đó,
Phật
Giáo
Bắc
phương
(Trung
Quốc)
đã
chiếm
ưu
thế
và
đã
thay
đổi
chổ
đứng
của
Phật
Giáo
Nam
Truyền
vốn
có
từ
trước.
Từ
Buddha
được
dịch
thành
chữ
Phật,
và
từ
đây
Phật
dần
dần
thay
thế
cho
chữ
Bụt
và
chữ
Bụt
chỉ
còn
giới
hạn
trong
ca
dao,
tục
ngữ,
truyện
cổ
tích
mà
thôi.
Trong
thời
gian
này,
từ
Trung
Hoa
có
ba
tông
phái
được
truyền
vào
Việt
Nam,
đó
là
Thiền
Tông,
Tịnh
Độ
Tông
và
Mật
Tông.
a.Thiền
Tông
:
Là
tông
phái
hay
đúng
hơn
là
một
pháp
môn
tu
tập
có
từ
thời
Đức
Phật
Thích
Ca
tại
Ấn
Độ
(trong
hội
Linh
Sơn)
rồi
truyền
xuống
cho
Tôn
giả
Ca
Diếp,
lần
lượt
cho
đến
Tổ
thứ
28
Ấn
Độ
là
Bồ
Đề
Đạt
Ma
(Bodhidharma).
Đến
năm
520
Tổ
Bồ
Đề
Đạt
Ma,
vốn
là
thái
tử
thứ
ba
của
vua
Kancipura,
Nam
Ấn,
vâng
theo
lời
thầy
là
Bát
Nhã
Đa
La
(Prajnatara),
Bồ
Đề
Đạt
Ma
đến
Trung
Hoa
để
hoằng
dương
Phật
pháp.
Tại
nơi
ây,
Thiền
Tông
đã
được
hình
thành
và
nhanh
chóng
hưng
thịnh.
Thiền
hay
còn
gọi
là
tĩnh
lự,
chủ
trương
tập
trung
trí
tuệ
để
tìm
ra
chân
lý.
Tu
theo
pháp
môn
này
đòi
hỏi
hành
giả
phải
có
nhiều
công
phu
và
khả
năng
trí
tuệ,
do
vậy
chỉ
phổ
biến
ở
tầng
lớp
trí
thức
và
giai
cấp
thượng
lưu,
và
cũng
chính
nhờ
họ
ghi
chép
lại
mà
chúng
ta
ngày
nay
mới
biết
được
lịch
sử
Thiền
Tông
ở
Việt
Nam.
Dòng
thiền
thứ
nhất:
được
Tổ
Tỳ
Ni
Đa
Lưu
Chi
(Vinitaruci)
sáng
lập.
Ngài
là
người
Nam
Thiên
Trúc,
sang
Trung
Hoa
học
đạo
và
được
tổ
thứ
ba
thiền
tông
Trung
Hoa
là
Tổ
Tăng
Xán
khuyên
nên
"mau
đi
về
phương
nam
mà
tiếp
xúc
với
thiên
hạ,
không
nên
ở
lâu
tại
đây".
Ngài
từ
biệt
và
đến
Việt
Nam
vào
năm
580,
ở
tại
chùa
Pháp
Vân
(nay
là
Thuận
Thành
Hà
Bắc)
để
hoằng
pháp
và
truyền
cho
tổ
thứ
hai
là
ngài
Pháp
Hiền
(người
Việt
Nam).
Đây
là
dòng
thiền
có
tích
cách
dân
tộc
Việt
Nam,
vừa
biểu
lộ
được
sinh
hoạt
tâm
linh
siêu
việt
của
Phật
Giáo
vừa
biểu
lộ
được
đời
sống
thực
tế
và
đơn
giản
của
quần
chúng
nghèo
khổ
Việt
Nam.
Dòng
thiền
này
truyền
được
19
thế
hệ.
Dòng
thiền
thứ
hai:
là
thiền
phái
Vô
Ngôn
Thông,
do
thiền
sư
Vô
Ngôn
Thông
người
Trung
Hoa
sáng
lập
tại
chùa
Kiến
Sơ
(Phù
Đổng,
Hà
Bắc)
vào
năm
280.
Người
kế
nghiệp
ngài
là
thiền
sư
Cảm
Thành.
Đây
là
thiền
phái
chịu
ảnh
hưởng
Phật
Giáo
Trung
Hoa
sâu
đậm,
tuy
nhiên
vẫn
rất
gần
gũi
với
đời
sống
xã
hội,
hòa
nhập
vào
đời
sống
người
dân
trong
khi
vẫn
duy
trì
được
sinh
hoạt
tâm
linh
độc
lập
của
mình.
Thiền
phái
này
truyền
được
17
thế
hệ.
Dòng
thiền
thứ
ba:
là
thiền
phái
Thảo
Đường,
do
thiền
sư
Thảo
Đường
(người
Trung
Hoa)
sáng
lập,
ngài
vốn
là
tù
binh
bị
bắt
tại
Chiêm
Thành,
được
vua
Lý
Thánh
Tông
(1054-1072)
giải
phóng
khỏi
kiếp
sống
tù
đày
và
vua
cho
lập
đạo
tràng
tại
chùa
Khai
Quốc
ở
ngay
kinh
thành
Thăng
Long
(1069)
đệ
tử
theo
học
rất
đông,
trong
đó
có
cả
chính
vua
Lý
Thánh
Tông.
Thiền
phái
này
có
khuynh
hướng
thiền
tông
trí
thức
và
văn
chương,
do
đó
không
cắm
rễ
được
trong
quần
chúng
mà
chỉ
ảnh
hưởng
được
tới
một
số
trí
thức
và
vua
quan
có
khuynh
hướng
văn
học.
Dòng
thiền
này
truyền
được
6
đời.
Dòng
thiền
thứ
tư:
đó
là
thiền
phái
Trúc
Lâm
do
vua
Trần
Nhân
Tông
(1258-1368)
khai
sáng.
Vua
Trần
Nhân
Tông
học
Phật
qua
sự
hướng
dẫn
của
Tuệ
Trung
Thượng
Sĩ,
một
thiền
sư
cư
sĩ
nổi
tiếng
đời
Trần,
sau
khi
xuất
gia
vào
năm
1299
với
đạo
hiệu
là
Trúc
Lâm
Đầu
Đà,
ngài
đã
lên
tu
ở
núi
Yên
Tử
(tỉnh
Quãng
Ninh)
và
tại
đây,
ngài
đã
lập
ra
thiền
phái
Trúc
Lâm,
một
dòng
thiền
Việt
Nam
đầu
tiên,
mang
tính
chất
độc
lập
Việt
Nam
với
sự
kết
hợp
hài
hòa
của
Phật
Giáo
AᮭHoa.
Lập
ra
thiền
phái
Trúc
Lâm
này,
vua
Trần
Nhân
Tông
đã
thống
nhất
được
các
thiền
phái
tồn
tại
trước
đó
và
toàn
bộ
Giáo
Hội
Phật
Giáo
đời
Trần
về
một
mối.
Nhìn
chung
thiền
phái
Trúc
Lâm
là
một
dòng
thiền
tổng
hợp
được
ba
yều
tố
đặc
thù
của
xã
hội.
Trúc
Lâm
đại
diện
cho
quý
tộc,
Pháp
Loa
đại
diện
cho
nông
dân
và
Huyền
Quang
đại
diện
cho
nho
sĩ,
tính
cách
quý
tộc,
nông
dân
và
nho
sĩ
là
thể
hiện
toàn
diện
trong
con
người
Trúc
Lâm.
Sự
tổng
hợp
đó,
đã
tạo
nên
nét
đặc
thù
của
thiền
phái
Trúc
Lâm
mà
các
thiền
phái
trước
đó
không
có
được,
kể
từ
đó
đưa
Đạo
Phật
đi
vào
xã
hội
với
tinh
thần
nhập
thế
cụ
thể,
giáo
hội
được
tổ
chức
chặt
chẽ,
cũng
cố
tinh
thần
đạo
pháp
và
dân
tộc
xây
dựng
phồn
vinh
cho
đất
nuớc.
Sau
thời
đại
Lý
Trần
các
dòng
thiền
Việt
Nam
dường
như
lu
mờ
và
tàn
lụi
hẳn,
đến
cuối
thế
kỷ
thứ
XX,
tiếp
nối
đạo
mạch
Việt
Nam,
thiền
sư
Thích
thanh
Từ
đã
phục
hưng
nền
thiền
tông
Việt
Nam
đó
là
thời
điểm
đầu
những
năm
70
tại
tu
viện
Chơn
Không
(1970-1986)
rồi
đến
Thường
Viện
Thường
Chiếu
(1974-1994)
và
hiện
nay
là
thiền
viện
Trúc
Lâm
ở
Đà
Lạt.
Đây
có
thể
nói
là
một
dòng
thiền
khác
mang
tính
cách
độc
lập
của
người
Việt
Nam.
Thiền
sư
Thanh
Từ
đã
không
theo
các
dòng
thiền
nào
truyền
thống
mà
chỉ
tổng
hợp
chỗ
thấy,
chỗ
ngộ
và
sự
ứng
dụng
của
ba
thiền
sư
nổi
tiếng
là
thiền
sư
Huệ
Khả
(tổ
thứ
2,
Trung
Hoa)
thiền
sư
Huệ
Năng
(tổ
thứ
6,
Trung
Hoa)
và
thiền
sư
Trần
Nhân
Tông
(sơ
tổ
Trúc
Lâm,
Việt
Nam)
mà
lập
thành
phương
pháp
tu
tập
cho
thiền
sinh
Việt
Nam
trong
thời
hiện
đại.
b.Tịnh
Độ
Tông:
Khác
với
Thiền
Tông,
Tịnh
Độ
Tông
chủ
trương
phải
dựa
vào
tha
lực
tức
sự
giúp
đỡ
từ
bên
ngoài.
Thật
ra,
Thiền
hay
Tịnh
Độ
cũng
chỉ
là
những
pháp
môn
tu
tập
thích
hợp
cho
nhiều
đối
tượng
khác
nhau
do
Đức
Phật
truyền
giáo
ra.
Chính
Đức
Phật
Thích
Ca
đã
nhờ
vào
tự
lực
của
mình
để
đến
giác
ngộ
thì
cần
phải
giúp
đỡ
họ,
sự
trợ
lực
hay
tha
lực
này
rất
quan
trọng.
Điều
này
gợi
cho
tín
đồ
liên
tưởng
đến
một
cõi
Niết
Bàn
cụ
thể
đó
là
cõi
Tịnh
Độ
hay
thế
giới
Cực
Lạc
do
Đức
Phật
A
Di
Đà
làm
giáo
chủ.
Sự
giúp
đỡ
đó
còn
cho
thấy
bản
thân
của
người
tín
đồ
cần
thường
xuyên
đi
chùa
dâng
hương,
cúng
dường,
bố
thí,
làm
những
điều
thiện,
tránh
các
điều
ác
và
thường
xuyên
niệm
danh
hiệu
Đức
Phật
A
Di
Đà
để
đạt
đến
nhất
tâm
bất
loạn
và
muốn
đạt
đến
chỗ
nhất
tâm
bất
loạn
này,
hành
giả
trong
lúc
niệm
Phật
phải
hình
dung,
quán
tưởng
về
thế
giới
cực
lạc
để
tâm
mình
hướng
tới.
Nhờ
cách
thức
tu
tập
đơn
giản
như
vậy
nên
Tịnh
Độ
Tông
là
tông
phái
phổ
biến
khắp
đất
nước
Việt
Nam.
Đâu
đâu
ta
cũng
gặp
người
dân
tụng
Kinh
A
Di
Đà
và
niệm
danh
hiệu
của
Đức
Phật
A
Di
Đà.
Tượng
Phật
A
Di
Đà
cũng
thuộc
loại
tượng
Phật
lâu
đời
và
phổ
biến
ở
Việt
Nam.
Điển
hình
là
pho
tượng
Phật
A
Di
Đà
bằng
đá,
cao
gần
2m,thờ
tại
chùa
Phật
Tích,
huyện
Tiên
Du,
Tỉnh
Bắc
Ninh,
được
tạo
tác
dưới
triều
Lý
Thánh
Tông
năm
1057.
Đây
là
một
bằng
chứng
đánh
dấu
sự
ảnh
hưởng
Tịnh
Độ
Tông
đầu
tiên
ở
Việt
Nam.
c.Mật
tông:
Là
một
tông
phái
chủ
trương
sử
dụng
hình
ảnh
cụ
thể
và
những
mật
ngữ,
mật
chú
để
khai
mở
trí
tuệ
giác
ngộ.
Tương
truyền
Mật
Tông
do
Phật
Đại
Nhật
chủ
xướng
và
có
hai
bộ
kinh
chính
là
Kinh
Đại
Nhật
và
Kinh
Kim
Cương.
Mật
tông
truyền
vào
Việt
Nam
không
còn
độc
lập
như
một
tông
phái
riêng
mà
nhanh
chóng
hòa
vào
tín
ngưỡng
dân
gian,
pha
trộn
với
các
truyền
thống
như
chẩn
tế,
cầu
đồng,
dùng
pháp
thuật,
yếm
bùa
trị
tà
ma
và
trị
bệnh.
Mật
tông
không
có
dấu
hiệu
phát
triển
rõ
ràng
ở
Việt
Nam,
chỉ
tuỳ
thuộc
vào
sự
thọ
trì
của
từng
chùa
và
của
mỗi
cá
nhân
có
cơ
duyên
đến
với
tông
phái
này.
Phật
Giáo
Việt
Nam
từ
thế
kỷ
thứ
X
đến
hết
thế
kỷ
thứ
XIII,
thời
kỳ
cực
thịnh
Đến
thế
kỷ
thứ
X
thì
Việt
Nam
đã
trải
qua
1000
năm
Bắc
thuộc.
Như
ta
đã
thấy,
Phật
Giáo
Việt
Nam
của
thế
kỷ
thứ
V
chỉ
còn
ghi
lại
hai
thiền
sư
là
Đạt
Ma
Đề
Bà
và
Huệ
Thắng.
Thế
kỷ
thứ
VI
ghi
lại
hai
thiền
sư
Việt
Nam:
Quán
Duyên
và
Pháp
Thiền.
Chính
trong
thế
kỷ
này
mà
thiền
sư
Tỳ
Ni
Đa
Lưu
Chi
đến
Việt
Nam.
Ba
thế
kỷ
tiếp
theo,
thế
kỷ
VII,
VIII
và
IX
là
ba
thế
kỷ
thuộc
nhà
Đường
cai
trị,
đến
thế
kỷ
thứ
X
thì
Việt
Nam
mới
bắt
đầu
giành
được
quyền
tự
chủ.
Chính
trong
thế
kỷ
này
Đạo
Phật
mới
thực
sự
hưng
thịnh
và
có
những
đóng
góp
tích
cực
cho
đất
nước.
Năm
971
vua
Đinh
Tiên
Hoàng
định
giai
cấp
cho
tăng
sĩ
và
ban
chức
tăng
thống
cho
Thiền
sư
Ngô
Chân
Lưu
thuộc
thiền
phái
Vô
Ngôn
Thông,
và
ngài
Khuông
Việt
Thái
Sư,
chính
thức
tiếp
nhận
Phật
Giáo
làm
nguyên
tắc
chỉ
đạo
tâm
linh
cho
chính
sự.
Cũng
chính
trong
thế
kỷ
này
vua
Lê
Đại
Hành
đã
mời
thiền
sư
Pháp
Thuận
và
thiền
sư
Vạn
Hạnh
của
thiền
phái
Tỳ
Ni
Đa
Lưu
Chi
làm
cố
vấn
chính
sự.
Các
thiền
sư
Khuông
Việt,
Pháp
Thuận
và
Vạn
Hạnh
cũng
đã
tiếp
tục
trợ
giúp
vua
Lý
Thái
Tổ
trong
thế
kỷ
kế
tiếp.
Phật
Giáo
Việt
Nam
trong
thời
kỳ
này
phát
triển
tới
mức
toàn
vẹn
và
cực
thịnh.
Do
ảnh
hưởng
tư
tuởng
của
vua
Trần
Nhân
Tông
và
Tuệ
Trung
Thượng
Sĩ
đầu
thế
kỷ
thứ
VIII,
ba
thiền
phái
Tỳ
Ni
Đa
Lưu
Chi,
Vô
Ngôn
Thông
và
Thảo
Đường
sát
nhập
tạo
thành
một
và
đưa
tới
sự
phát
triển
của
thiền
phái
Trúc
Lâm
là
thiền
phái
duy
nhất
dưới
đời
Trần.
Vì
vậy
đời
Trần
có
thể
gọi
là
thời
đại
thống
nhất
của
Phật
Giáo
các
hệ
phái
trước
đó.
Tăng
sĩ
đời
Trần
không
trực
tiếp
đóng
góp
vào
sự
nghiệp
chính
trị
như
các
thiền
sư
đời
Lý,
nhưng
Phật
Giáo
là
một
yếu
tố
quan
trọng
để
liên
kết
nhân
tâm.
Tinh
thần
Phật
Giáo
đã
kiến
cho
các
nhà
chính
trị
đời
Trần
áp
dụng
những
chính
sách
bình
dân,
thân
dân
và
dân
chủ.
Phật
Giáo
trong
đời
Trần
là
quốc
giáo,
mọi
người
dân
trong
xã
hội
điều
hướng
về
Phật
Giáo.
Nhà
nho
Lê
Quát,
học
trò
Chu
Văn
An,
đã
lấy
làm
tức
giận
vì
thấy
toàn
dân
theo
Phật
:
"Phật
chỉ
lấy
điều
họa
phúc
mà
động
lòng
người,
sao
mà
sâu
sa
và
bền
chắc
đến
như
vậy?
Trên
từ
Vương
Công,
dưới
đến
thứ
dân,
hễ
làm
việc
gì
thuộc
về
việc
Phật,
thì
hết
cả
gia
tài
cũng
không
tiếc.
Nếu
hôm
nay
đem
tiền
để
làm
chùa
xây
tháp
thì
hớn
hở,
vui
vẻ,
như
trong
tay
đã
cầm
được
biên
lai
để
ngày
sau
đi
nhận
số
tiền
trả
báo
lại.
Cho
nên
trong
kinh
thành
ngoài
đến
Châu
Phủ,
đường
cùng
ngõ
hẻm,
chẳng
khiến
đã
theo,
chẳng
thề
mà
tin,
hễ
chổ
nào
có
nhà
thì
có
chùa
Phật;
bỏ
đi
thì
làm
lại,
hư
đi
thì
sửa
lại"
(8).
Có
rất
nhiều
chùa
tháp
qui
mô
to
lớn
hoặc
kiến
trúc
độc
đáo
đã
được
xây
dựng
trong
thời
Lý
Trần
như
chùa
Phật
Tích,
chùa
Đại
Lãm,
chùa
Linh
Xứng,
chùa
Một
Cột,
chùa
Phổ
Minh.
Khâm
phục
trước
những
thành
tựu
văn
hóa
của
Phật
Giáo
Việt
Nam
thời
Lý
Trần
mà
sách
vỡ
Trung
Hoa
truyền
tụng
nhiều
về
4
công
trình
nghệ
thuật
lớn
mà
họ
gọi
là
An
Nam
Tứ
Đại
Khí
(9).
Đó
là:
Tượng
Phật
Chùa
Quỳnh
Lâm:
chùa
Quỳnh
Lâm
ở
Đông
Triều
(Quảng
Ninh)
được
xây
dựng
vào
khoảng
thế
kỷ
XI,
có
pho
tượng
Di
Lặc
bằng
đồng
mà
theo
văn
bia
mà
nay
vẫn
còn
giữ
được
trong
chùa
thì
tượng
cao
6
trượng
(1
trượng
bằng
khoảng
4m)
đặt
trong
một
tòa
Phật
điện
cao
7
trượng.
Đứng
từ
bến
đò
Đông
Triều,
cách
xa
10
dặm
vẫn
còn
trong
thấy
nóc
chánh
điện.
Tháp
Bảo
Thiên:
gồm
12
tầng,
cao
20
trượng
do
vua
Lý
Thánh
Tông
cho
xây
dựng
vào
năm
1057
trên
khuôn
viên
chùa
Sùng
Khánh
ở
phía
Tây
Hồ
Lục
Thủy
(tức
Hồ
Gươm
Hà
Nội
ngày
nay)
bằng
đá
và
gạch,
riêng
tầng
thứ
12
đúc
bằng
đồng.
Đây
là
đệ
nhất
danh
thắng
đế
đô
một
thời.
Đến
năm
1414
tháp
bị
quân
Vương
Thông
tàn
phá,
nền
tháp
còn
lại
to
như
quả
đồi,
có
thời
dùng
làm
nơi
họp
chợ;
đến
năm
1791
dỡ
ra
lấy
gạch
xây
thành
còn
thấy
4
pho
tượng
Kim
Cương
trấn
giữ
4
cửa
và
nhiều
tượng
chim
thú
khác.
Thời
Pháp
bị
phá
huỷ
hoàn
toàn
để
xây
dựng
nhà
thờ
lớn
trên
mảnh
đất
ấy.
Chuông
Quy
Điền:
Năm
1101,
vua
Lý
Nhân
Tông
cho
xuất
hàng
vạn
cân
đồng
để
đúc
quả
chuông
này
và
dự
định
treo
nó
tại
khuôn
viên
chùa
Diên
Hựu
(10)
trong
lầu
chuông
bằng
đá
xanh
cao
8
trượng.
Nhưng
chuông
đúc
xong
to
quá
(đường
kính
1,5
trượng
(khoảng
6m)
cao
3
trượng
(khoảng
12
m),
nặng
đến
vài
vạn
cân)
không
treo
nổi
lên
đành
để
ở
ngoài
ruộng.
Vạc
Phổ
Minh:
đúc
bằng
đồng
vào
thời
vua
Trần
Nhân
Tông
(1279-1293)
đặt
tại
chùa
Phổ
Minh
(làng
Tức
Mặc,
Nam
Hà).
Vạc
sâu
6
thước,
rộng
10
thước
nặng
trên
7
tấn
(11).
Vạc
to
tới
mức
có
thể
nấu
được
cả
một
con
bò
mộng,
trẻ
con
có
thể
chạy
nô
đùa
trên
thành
miệng
vạc.
Đến
nay
vẫn
còn
3
trụ
đá
kê
chân
vạc
trước
sân
chùa
Phổ
Minh.
Phật
Giáo
Việt
Nam
trong
thế
kỷ
XX,
thời
kỳ
phục
hưng:
Phật
Giáo
Việt
Nam
đã
trải
qua
thời
cực
thịnh
nhất
dưới
hai
triều
đại
Lý
Trần,
sang
đến
đời
Hậu
Lê
rồi
Nguyễn
Triều
thì
Phật
Giáo
phải
nhường
bước
cho
Nho
giáo,
lúc
ấy
đang
chiếm
vai
trò
độc
tôn.
Triều
đại
nhà
Nguyễn
truyền
đến
đời
vua
Tự
Đức
thì
mất
chủ
quyền,
nước
ta
rơi
vào
vòng
đô
hộ
của
Pháp.
Phật
Giáo
Việt
Nam
vốn
đã
suy
vi
nay
lại
điêu
tàn
hơn.
Trong
bối
cảnh
đó,
Ky
Tô
giáo
đã
du
nhập
vào
Việt
Nam
và
dân
tộc
Việt
Nam
lại
tiếp
nhận
thêm
một
tôn
giáo
mới
của
phương
Tây.
Tuy
tinh
thần
khai
phóng
dung
hợp
của
Phật
Giáo
suốt
mấy
thế
kỷ
qua
không
còn
được
thể
hiện
trong
chính
sách
quốc
gia,
văn
hóa
và
xã
hội
vào
thế
kỷ
XX
nhưng
Phật
Giáo
vẫn
là
tôn
giáo
chính
của
dân
tộc,
đóng
vai
trò
hòa
giải
giữa
các
thế
lực
tranh
chấp,
góp
phần
xây
dựng
tinh
thần
dân
tộc,
bảo
vệ
nền
độc
lập
của
quốc
gia.
Vào
khoảng
những
năm
1920-1930,
trong
không
khí
tưng
bừng
của
phong
trào
chấn
hưng
Phật
Giáo
trên
thế
giới,
đặt
biệt
ở
Nhật
Bản,
Trung
Hoa,
Ấn
Độ
và
Miến
Điện,
một
số
tăng
sĩ
và
cư
sĩ
đã
phát
động
phong
trào
chấn
hưng
Phật
Giáo
tại
Việt
Nam,
từ
đó
đưa
đến
sự
thành
lập
Tổng
Hội
Phật
Giáo
Việt
Nam
tại
miền
Bắc
vào
năm
1934
đặt
trụ
sở
tại
chùa
Quán
Sứ,
và
xuất
bản
tạp
chí
Đuốc
Tuệ.
Ở
miền
Trung,
Hội
An
Nam
Phật
Học
cũng
ra
mắt
tại
chùa
Từ
Đàm
và
cho
xuất
bản
tạp
chí
Viên
Âm
vào
1934,
đặt
biệt
hội
đã
mở
các
Phật
Học
Viện
cho
tăng
chúng
tu
học
như
phật
học
đường
Báo
Quốc
và
Kim
Sơn,
Trúc
Lâm
và
Tây
Thiên.
Ở
Bình
Định
có
hội
Phật
Học
Bình
Định,
ở
Đà
Nẵng
có
hội
Phật
Học
Đà
Thanh,
ra
tạp
chí
Tam
Bảo.
Tại
miền
Nam,
năm
1920,
Hội
Lục
Hòa
được
thành
lập
để
đoàn
kết
và
vận
động
phong
trào
chấn
hưng
Phật
Giáo.
Hội
nghiên
cứu
Phật
Học
Nam
Kỳ
ra
đời,
đặt
trụ
sở
tại
chùa
Linh
Sơn;
xuất
bản
tạp
chí
Từ
Bi
Âm
(1932).
Năm
1933
Liên
Đoàn
Học
Xã
ra
đời.
Năm
1034,
hội
Phật
Học
Lưỡng
Xuyên
ra
đời,
xuất
bản
tạp
chí
Du
Tân
Phật
học
và
mở
Phật
Học
đường
Lưỡng
Xuyên.
Nhờ
phong
trào
chấn
hưng
Phật
Giáo
này
mà
đội
ngũ
tăng
ni
được
đào
tạo
qua
nhiều
trường
lớp
và
phát
triển
nhiều
ở
các
tỉnh.
Chùa
chiền
được
xây
dựng
khắp
nơi,
nhất
là
hệ
thống
chùa
phật
học
ở
các
thành
thị.
Nhiều
ngôi
chùa
ở
làng
xã
được
trùng
tu
và
có
chư
tăng
ni
trụ
trì.
Bên
cạnh
đó,
trong
thời
kỳ
này,
có
nhiều
hệ
phái,
tôn
phái
phật
giáo
ra
đời,
như
giáo
phái
Khất
Sĩ
Việt
Nam,
Thiên
Thai
Giáo
Quán
Tông,
Phật
Giáo
Hoa
Tông
..Một
yêu
cầu
thống
nhất
Phật
Giáo
được
đặt
ta
tại
Huế,
đưa
đến
việc
thành
lập
Tổng
Hội
Phật
Giáo
Việt
Nam
đặt
trụ
sở
tại
chùa
Từ
Đàm
Huế,
hội
chủ
là
Hòa
thượng
Thích
Tịnh
Khiết,
đây
là
một
tổ
chức
thống
nhất
Phật
Giáo
ba
miền
Nam,
Trung,
Bắc,
đồng
thời
vạch
ra
một
con
đường
dân
tộc
nhân
bản,
hướng
dẫn
bước
đi
Phật
Giáo
vào
môi
trường
tư
tưởng
và
văn
hóa,
tiếp
tục
xây
dựng
con
người
và
xã
hội
Việt
Nam.
Điểm
đặc
sắc
của
Phật
Giáo
Việt
Nam
trong
thế
kỷ
XX
là
sự
kết
hợp
của
hai
giáo
phái
Nam
Tông
và
Bắc
Tông
vào
năm
1964
để
thành
lập
Giáo
Hội
Phật
Giáo
Việt
Nam
Thống
Nhất.
Giáo
Hội
này
hoạt
động
cho
đến
năm
1981
thì
ngưng
hoạt
động
trong
nước,
nhưng
có
văn
phòng
hai
Viện
Hóa
Đạo
đặt
tại
tiểu
bang
California,
Hoa
Kỳ,
hoạt
động
rất
mạnh.
Đến
tháng
mười
một
năm
một
nghìn
chín
trăm
tám
mốt,
sau
sáu
năm
đất
nước
thay
đổi
thể
chế,
một
hội
nghị
với
165
đại
biểu
của
chín
tổ
chức
giáo
hội
hệ
phái
cả
nước
đã
họp
tại
chùa
Quán
Sứ
Hà
Nội
đưa
đến
việc
thành
lập
Giáo
Hội
Phật
giáo
Việt
Nam.
Hòa
thượng
Thích
Đức
Nhuận
làm
pháp
Chủ
Hội
Đồng
Chứng
Minh
Trung
Ương,
Hòa
Thượng
Thích
Trí
Thủ
làm
chủ
tịch
Hội
Đồng
Trị
Sự
Trung
Ương.
Giáo
hội
đặt
văn
phòng
I
tại
chùa
Quán
Sứ
Hà
Nội,
văn
phỏng
II
tại
chùa
Xá
Lợi
(12)
thành
phố
Hồ
Chí
Minh.
III.
THỐNG
KÊ
MỘT
SỐ
THÀNH
QUẢ
CỦA
PHẬT
GIÁO
VIỆT
NAM:
Từ
khi
du
nhập
cho
đến
nay,
Phật
Giáo
Việt
Nam
đã
trải
qua
bao
thăng
trầm,
lúc
thịnh
lúc
suy,
có
lúc
thống
nhất,
có
lúc
phân
tán,
do
nhiều
nguyên
nhân
khác
nhau,
từ
đây
Phật
Giáo
Việt
Nam
đã
được
thống
nhất
từ
Bắc
chí
Nam.
Các
hệ
phái
phật
giáo
vẫn
được
bảo
lưu,
nét
đặc
trưng
trong
pháp
môn
tu
hành
vẫn
được
tôn
trọng,
hệ
thống
chùa
chiền,
tăng
ni
đã
được
thống
kê,
quản
lý
thống
nhất.
Theo
số
thống
kê
được
công
bố
trong
hội
nghị
thường
niên
của
Giáo
Hội
Phật
giáo
Việt
Nam
(13)
thì
số
tự
viện
Phật
Giáo
và
số
tăng
ni
mà
giáo
hội
đã
thống
kê
được
(14)
là
14.303
ngôi
tự
viện,
trong
đó
gồm
13.312
tự
viện
Bắc
tông,
469
tự
viện
Nam
tông
nguyên
thủy
và
Khmer,
142
tịnh
xá
khất
sĩ,
95
tịnh
thất
và
185
niệm
Phật
đường.
Về
tăng
ni
thì
có
26.268
vị,
có
ba
Học
Viện
Phật
Giáo,
một
Trường
cao
đẳng
chuyên
khoa
phật
học,
30
trường
cơ
bản
phật
học,
một
Trường
đào
tạo
đội
ngũ
giảng
viên
hoằng
pháp.
Ngoài
ra
giáo
hội
Phật
giáo
Việt
Nam
đã
thành
lập
được
Viện
Nghiên
Cứu
Phật
Học
tại
thành
phố
Hồ
Chí
Minh
và
phân
viện
nghiên
cứu
tại
thủ
đô
Hà
Nội.
Và
đặc
biệt
là
hội
đồng
phiên
dịch
và
ấn
hành
Đại
Tạng
Kinh
Việt
Nam
cũng
đã
được
thành
lập,
tính
đến
nay
hội
đồng
đã
phiên
dịch
ấn
hành
30
tập
kinh
được
dịch
từ
chữ
Hán
và
chữ
Pali,
đây
là
một
thành
quả
đáng
kể
của
Phật
giáo
Việt
Nam.
Vì
đây
là
lần
đầu
trong
lịch
sử
Phật
giáo
Việt
Nam
người
Phật
tử
trong
xứ
sở
này
có
được
một
bộ
đại
tạng
kinh
bằng
tiếng
Việt.
Phần
B
ẢNH
HƯỞNG
PHẬT
GIÁO
TRONG
ĐỜI
SỐNG
NGƯỜI
VIỆT
I. Ảnh hưởng Phật giáo
về mặt tư tưởng triết học và đạo lý:
Như đã trình bày ở phần A, ta thấy
rằng Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ những kỷ nguyên Tây lịch,
rồi tồn tại, phát triển và chan hòa với dân tộc này cho đến tận hôm
nay. Nếu thời gian là thước đo của chân lý thì với bề dày lịch sử
đó, Đạo Phật đã khẳng định chân giá trị của nó trên mãnh đất này.
Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa chính trị đặt biệt là xét trên
khía cạnh hệ thống tư tưởng, thì Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián
tiếp góp phần hình thành một quan niệm sống và sinh hoạt cho con người
Việt Nam. Trong phần này sẽ tìm hiểu về tư tưởng, đạo lý của Phật
Giáo đã tác động đến con người Việt Nam như thế nào và người Việt
Nam đã tiếp thu những tư tưởng, đạo lý của Phật Giáo ra sao.
1.Về tư tưởng:
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của
Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo
lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái phật giáo, nguyên thủy cũng
như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt.
Đạo lý Duyên Khởi là một cái
nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại. Duyên khởi nghĩa là
sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại. Không những các sự kiện
thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những
hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng
theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại
duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là điều
kiện gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ hai là
Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên
ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở
Duyên Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ
tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián đoạn, cần
thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
Luật nhân quả cần được quán
sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân
quả của Đạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc không
bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò
quả, cho một nhân khác. Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của
Đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất sớm. Giáo lý này đương
nhiên đã trở thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với
người Việt Nam có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn
ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm
của lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn
ảnh huởng đến giới trí thức. Có thể nói mọi người dân Việt điều
ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã
in dấu đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ nôm, chữ
hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi
sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt
đẹp đem lại hòa bình an vui cho con người. Thậm chí trẻ con mười tuổi
cũng tự nhiên biết câu: "ác giả ác báo". Chúng phát biểu câu rất
đúng hoàn cảnh sự việc xảy ra cho đối phương, hay "chạy trời không
khỏi nắng". Mặt khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định
nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải
ác tùng thiện. Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy
ra cho họ, thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp
khổ nạn này. Không than trời trách đất, cam chịu và tự cố gắng tu tỉnh
để chuyển hóa dần ác nghiệp kia. Nguyễn Du đã thể hiện ý này trong
truyện Kiều rằng:
Cho hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có
thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh
cao
Hoặc:
Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan
Nếu ta nắm vững nguyên tắc
nhân quả nghiệp báo như trên, thì chúng ta có thể chuyển nghiệp ngay
trong hiện kiếp. Cái đích của việc chuyển nghiệp, tái tạo cá nhân là
đến được trí tuệ tối hậu. Khởi đầu của việc chuyển nghiệp là bắt
đầu thay đổi hành nghiệp thiện và ác từ ba nghiệp Thân, Khẩu và Y của
chính mỗi cá nhân. Chứ không ngồi một chỗ tưởng tượng đến những kết
quả tốt đẹp sẽ đến với mìn. Từ những hành nghiệp thiện, giảm bớt
điều ác, dần dần ta sẽ chuyển hóa và tạo cho ta có một cuộc sống
yên vui cho hiện tại và mai sau.
2.Về đạo lý:
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo
lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật giáo đã ảnh hưởng và
thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. Đều này ta thấy
rõ qua con người và tư tưởng của Nguyễn Trải (1380-1442), một nhà văn,
nhà chính trị, nhà tư tưởng việt Nam kiệt xuất, ông đã khéo vận dụng
đạo lý Từ Bi và biến nó thành đường lối chính trị nhân bản đem lại
thành công và rất nổi tiếng trong lịch sử nước Việt. Ông nói điều
đó trong Bình Ngô Đại Cáo rằng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Bằng cách:
Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Đem chí nhân để thay cường bạo
Cho nên khi đại thắng quân xâm lược,
đối với tù binh nhà Minh, chúng ta không những không giết hại mà còn cấp
cho thuyền bè, lương thực để họ về nước.
Thần vũ chẳng giết hại
Thuận lòng trời ta mở đất hiều
sinh
Tinh thần thương người như thể
thương thân này đã biến thành ca dao tục ngữ rất phổ biến trong quần
chúng Việt Nam như "lá lành đùm lá rách", hay
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải
thương nhau cùng
Đó là những câu ca dao, tục ngữ
mà bất cứ người Việt Nam nào cũng điều thấm nhuần và thuộc nằm
lòng, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc Việt Nam.
Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt
còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác của đạo phật là đạo
lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh.
Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát
triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. Tình thương ở mọi
người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần
đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào
quê hương đất nước và mở rộng đến quê hương cao cả đối với cuộc
sống của nhân loại trên vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý tứ ân,
ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm
và đạo lý của người Việt. Vì đạo phật rất chú trọng đến hiếu hạnh,
và được Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khác
nhau như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu Tử, kinh Đại Tập,
kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan.. nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ,
Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng
lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn Nhục dạy: "cùng
tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất
hiếu". Bởi Phật Giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên
thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân
trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thực hiện là nhắm vào
người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân , chúng sanh, vũ trụ, đó là
môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa. Đạo lý Tứ
Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho ta sống
hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực
và miên trường. Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã
giúp cho Phật Giáo Việt Nam hình thành được một bản sắc đặc thù rất
riêng biệt của nó tại Việt Nam, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa
nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt.
II. Ảnh hưởng Phật Giáo
qua quá trình hội nhập văn hóa Việt Nam
Phật Pháp là bất định pháp,
luôn luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh và căn cơ của chúng sanh để hoàn
thành sứ mạng cứu khổ của mình. Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất
biến mà Đạo Phật đã tạo cho mình một sức sống vô biên, vượt qua những
ngăn cách của địa lý, văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ, thời gian ,không
gian…. Tinh thần tuỳ duyên là tự thay đổi với hoàn cảnh để có thể
tiếp độ chúng sanh, tính bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đau khổ,
sinh tử luân hồi. Tuy nhiên Phật Giáo vẫn luôn luôn hòa nhập với tất cả
các truyền thống văn hóa tín ngưỡng của các nước trên thế giới. Khi
du nhập vào một quốc gia có một sắc thái sống riêng biệt, đặc thù,
như Trung Hoa, một quốc gia có nền tư tưởng đông phương khổng lồ, khi
Phật Giáo truyền vào thì nền văn minh này đã phát triển tới đỉnh cao
của nó, mà trong lịch sử triết học gọi là Bách Gia Chu Tử (15), hàng trăm
nhà tư tương đề xướng học thuyết của mình. Nếu lúc đó Trung Hoa có
10 nhà tư tưởng tiêu biểu như Âm Dương gia, Nhạc gia, Nho gia, Pháp gia,
Danh gia, Đạo Đức gia, Nông gia, Tiểu Thuyết gia ..thì Phật Giáo không dừng
lại cái bình bát đi khất thực, một tấm y vàng mà Phật Giáo đã đi vào
cuộc đời bằng mười tông phái như Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Hoa
Nghiêm Tông, thành Thật Tông, Câu Xá Tông.. Phật Giáo với mười tông
phái này sánh vai với mười dòng tư tưởng của bản địa để đi vào cuộc
đời, không chỉ đến với những giới bình dân mà Phật Giáo còn đã đi
thẳng vào cung đình, vào với những vị nguyên thủ quốc gia (16). Ở Nhật
Bản thì sao? Nhật Bản là một quốc gia được xem là có nhều món ăn
tinh thần nhất trên thế giới. Không phải chỉ là khoái cảm cho vị
giác, cho thính giác mà nhất là cho cảm giác của tâm linh. Ở trong bối cảnh
đó, Phật Giáo đã nhanh chóng đi vào hoa, vào trà để rối cuối cùng
nâng nó lên thành một tôn giáo. trà đạo hay hoa đạo. Còn ở Việt Nam của
chúng ta thì như thế nào? Trong quá trình hội nhập văn hóa sự ảnh hưởng
của Phật Giáo đã tác động và đã tạo cho Phật Giáo Việt Nam có những
nét đặc thù sau đây:
1.Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự
dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống:
Khi được truyền vào Việt Nam, Phật
Giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng bản địa, do vậy đã kết hợp
chặt chẽ với các tín ngưỡng này. Biểu tượng chùa Tứ Pháp (17) thực
ra vẫn chỉ là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên
Mây, Mưa, Sấm, Chớp và thờ Đá. Lối kiến trúc của chùa chiền Việt
Nam là tiền Phật hậu Thần cùng với việc thờ trong chùa các vị thần,
các vị thánh, các vị thành hoàng thổ địa và vị anh hùng dân tộc..
Chính vì tinh thần khai phóng này mà về sau phát sinh những hậu quả mê
tín dị đoan bên trong Phật Giáo như xin xăm, bói quẻ, cầu đồng.. các
nhà nghiên cứu nước ngoài rất ngạc nhiên khi thấy Phật Giáo Việt Nam
dung nạp dễ dàng các tín ngưỡng đa thần của bản địa trong khi các quốc
gia trong vùng thì không có (19). Có nên gạt bỏ loại hình tín ngưỡng truyền
thống này ra khỏi Phật Giáo không? Vẫn là một vấn đề rất tế nhị,
tuy nhiên, ta phải thừa nhận rằng tinh thần dung hòa và khai phóng của Phật
Giáo Việt Nam là một trong những nét đặc trưng đáng chú ý.
2. Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự
dung hòa với các tôn giáo khác:
Đó là kết quả của sự phối hợp
và kết tinh của Đạo Phật với đạo Nho và đạo Lão, được các nhà
vua thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa. Chính vì đặc tính dung hòa và
điều hợp này mà Phật Giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưởng truyền
thống của dân tộc Việt. Nó chẳng phải Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa,
Tiểu Thừa hay Đại Thừa, mà nó là tất cả những khuynh hướng tâm linh
của người dân Việt. Nó thực ra là cái "Đồng Qui Nhi Thù Đồ",
cùng về một đích mà đường lối khác nhau, chính tinh thần khai phóng của
Phật Giáo Việt Nam đã kết tinh lấy Chân, Thiện, Mỹ làm cứu cánh để
thực hiện. Nho giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Thiện, tức
là hành vi đạo đức để tới chỗ nhất quán với Mỹ và Chân. Đạo giáo
thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Mỹ, tức là tâm lý nghệ thuật
để tới chỗ nhất quán với Thiện và Chân. Phật giáo thực hiện cứu
cánh ấy bằng con đường trí tuệ giác ngộ để đạt tới chỗ nhất quán
Chân, Thiện, Mỹ. Đó là thực tại Tam Vi Nhất của tinh thần tam Giáo Việt
Nam. Trong nhiều thế kỷ hình ảnh tam giáo tổ sư với Phật Thích Ca ở giữa,
Lão Tử bên trái và Khổng Tử bên phái đã in sâu vào tâm thức của người
dân Việt.
3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự
dung hòa giữa các tông phái Phật Giáo:
Đây là một nét đặc trưng rất
riêng biệt của Phật Giáo Việt Nam so với các quốc gia Phật Giáo láng giềng.
Chẳng hạn như Thái Lan, Tích Lan, Lào, Campuchia chỉ có Phật Giáo Nam Tông,
ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Mông Cổ thuần tuý chỉ có Phật Giáo Bắc
Tông. Nhưng ở Việt Nam thì lại dung hòa và điều hợp cả Nam Tông và Bắc
Tông. Chính vì tinh thần khế lý khế cơ của Phật Giáo cộng với tinh thần
khai phóng của Phật Giáo Việt Nam mới có được kết quả như vậy. Tuy
thiền tông chủ trương bất lập văn tự, song ở Việt Nam chính các vị
thiền sư xưa lẫn nay đã để lại rất nhiều trước tác có giá trị, đặc
biệt các thiền viện ở Việt nam điều tụng kinh gõ mõ như các tự viện
Tông Tịnh Độ. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi thì kết hợp với Mật Giáo,
có nhiều thiền sư phái này như ngài Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn
Minh Không điều nổi tiếng là giỏi phép thuật trong việc trừ tà, chữa
bệnh.
Điều đặc sắc ở đây là trong
khi khai triển Phật Giáo Việt Nam, các thiền sư Việt Nam đã không theo thiền
kiểu mẫu của các thiền sư Ấn Độ và Trung Hoa mà mở lấy một con đường
riêng, phù hợp với dân tộc. Và trong khi tiếp nhận với hai luồng ảnh hưởng
ấy, các thiền sư Việt Nam đã khéo léo điều chỉnh tính hai cực, Ấn Độ-Trung
Hoa: một bên thì quá ham chuộng sự bay bổng, thần bí, một bên quá thực
tiễn duy lý. Khi Phật Giáo vào Trung Hoa đã gây cho các nhà Phật học những
cuộc tranh luận sôi nổi về giáo pháp. Rồi suốt cả quá trình lịch sử
của nó là sự phái sinh ra những tôn giáo, là những cuộc đấu tranh tư
tưởng dữ dội, điển hình là cuộc đấu tranh giữa phái Thiền Nam Phương
của Huệ Năng với Thiền Phái Miền Bắc của Thần Tú vào thời kỳ sơ
đường. Còn ở Việt Nam thì khác, trên pháp đàn tư tưởng thời Lý cũng
như thời Trần, thời kỳ vàng son của Phật Giáo Việt Nam và các thời kỳ
sau này không có những mâu thuẩn đối lập mà tất cả điều quy về một
mục đích chính là tu hành giải thoát. Phải chăng sự thống nhất về ý
thức tư tưởng, dung hòa giữa các tông phái và đoàn kết dân tộc đã uốn
nắn Phật Giáo Việt Nam theo con đường dung hòa thống nhất đó?
4. Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự
dung hòa với các thế hệ chính trị xã hội:
Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất
thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có chủ trương nhập thế, tinh thần nhập
thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Trong
các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều được
mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng của
quốc gia. Ta thấy có nhiều lý do khiến các thiền sư Việt Nam tham gia vào
chính sự, thứ nhất: họ là những người có học, có ý thức về quốc
gia, sống gần gũi nên thấu hiểu được nổi đau khổ của một dân tộc
bị nhiều cuộc đô hộ của ngoại bang. Thứ hai: các thiền sư không có
ý tranh ngôi vị ngoài đời nên được các vua tin tưởng và thứ ba: các
thiền sư không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà
thôi) như các nho gia nên họ có thể cộng tác với bất cứ vị vua mào
đem lại hạnh phúc cho dân chúng. Thời vua Đinh Tiên Hoàng đã phong cho thiền
sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống, thời Tiền Lê có ngài Vạn Hạnh, ngài Đỗ
Pháp Thuận, ngài Khuông Việt cũng tham gia triều chính. Trong đó đặc biệt
thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều đại nhà Lý khi đưa Lý
Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê Long Đỉnh,
ông vua Ngọa Triều còn có biệt danh kẻ róc mía trên đầu sư. Thời nhà
Trần có các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông.. điều được các
vua tin dùng trong bàn bạc quốc sự như những cố vấn triều đình.
Đến thế kỷ 20, phật tử Việt
Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như cuộc vận động đòi
ân xá cho Phan Bội Châu. Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các
tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi
hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại
chính trị giữa các tăng sĩ Phật Giáo và chính quyền. Đến cuối thế kỷ
20, ta thấy tinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là sự
có mặt của các thiền sư Việt Nam (20) trong quốc hội của nước nhà.
5. Ảnh hưởng Phật Giáo trong
đời sống người bình dân và giới trí thức Việt Nam:
Cũng như tất cả dân tộc nào
trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc, lúc sơ khởi người
Việt Nam tín ngưỡng và tôn thờ tất cả những sức mạnh hữu hình hay
vô hình mà họ cho là có thể giúp đỡ họ hoặc làm hại đến họ như mây,
mưa, sấm, sét, lửa, gió.. Trong bối cảnh tín ngưỡng đa thần này, Phật
Giáo đã xuất hiện và nhanh chóng quá thân qua hình ảnh của bộ tượng Tứ
Pháp ở chùa Dâu, ngôi chùa Phật Giáo đầu tiên của Việt Nam ở Luy Lâu
(Hà Bắc ngày nay), đó là bộ tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp
Điễn, một hình ảnh sống động và gần gũi với người dân nông thôn
trong việc cầu xin phước lộc, cầu đảo, cầu siêu, cầu xin tất cả荊
những gì mà cuộc
sống con người đòi hỏi. Người Phật tử trong thời kỳ sơ khai này quan
niệm rằng Phật là đấng cứu thế, có thể ban cho con người mọi điều
tốt lành.
Trong buổi đầu của Phật Giáo ở
Việt Nam mang dáng dấp của Phật Giáo Tiểu Thừa và Mật Giáo, vì vậy đã
dễ dàng gắn với phù chú, cầu xin phước lộc hơn là tôi luyện trí tuệ
và thiền định. Vả lại, tính đời trội hơn tính đạo, trong quần chúng
đa số là phụ nữ đến với Phật Giáo, đó là hạng người đau khổ nhất
trong xã hội cũ.
Đến thời nhà Lý, có nhiều thiền
sư từ Trung Quốc sang và thiết lập nhiều thiền phái, phong trào học và
tu phật phát triển mạnh ở trong giới trí thức, cung đình, đô thị, nhưng
trong giới bình dân vẫn tồn tại nhất định một Phật Giáo dân gian với
những ảnh hưởng cảm tính vốn có từ trước. Được vua triều Lý, Trần
ủng hộ, hoạt động của Phật Giáo có mặt ở khắp hang cùng ngõ hẻm,
làng nào cũng có chùa có tháp, người ta học chữ, học kinh, hội hè, biểu
diễn rối nước, họp chợ ngay ở trước chùa
Chùa làng đã từng một thời đóng
vai trò trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng làng xã Việt Nam, chùa
không những là nơi giảng đạo cầu kinh, thờ cúng Phật mà còn là nơi hội
họp,. di dưỡng tinh thần, tham quan vãn cảnh. Bởi vì, kiến trúc của
chùa Việt Nam thường hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên, tạo thành một
kiến trúc hài hòa với ngoại cảnh. Khung cảnh ấy phù hợp với những giờ
phút nghỉ ngơi sau giờ lao động nhọc nhằn và dinh dưỡng tinh thần của
tuổi già.
Đến thế kỷ mười lăm, Nho Giáo
thay chân Phật Giáo trong lãnh vực thượng tầng xã hội, Phật Giáo từ
giã cung đình nhưng vẫn vững vàng trong làng xã. Ngôi đình xuất hiện tiếp
thu một số kiến trúc và nghệ thuật Phật Giáo, đồng thời trở thành
trung tâm hành chính của làng xã⮍ Cửa chùa chỉ còn mở cửa cho đàn
bà, con gái kêu van,nguyện cầu khi chồng bị bắt phu, con bị bắt nợ, ốm
đau bệnh tật, mất mùa đói rét.. xin Phật gia hộ. Bồ Tát Quan Âm hay Phật
Bà được ưa chuộng hơn xưa. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta chiêm ngưỡng
được pho tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt trong chùa Bút Tháp (tỉnh Hà
Bắc) tạc vào năm 1656. Tượng rất đẹp nhưng được tạo vào thời điểm
Phật Giáo không còn tôn sùng như quốc giáo nữa, chứng tỏ Phật Giáo đã
ăn sâu vào tâm tư và văn hóa nghê thuật dân gian.
Nhìn chung không khó khăn gì khi ta
phăng tìm dấu ấn Phật Giáo trong quan niệm dân gian và ta có thể phát hiện
rằng nếu không có sự hiện diện của Phật Giáo ở Việt Nam thì ta sẽ
mất đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh mà hiện nay ta tự
hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy
hội đầu xuân, không có chùa Tây Phương vời vợi, không có chùa Yên Tử
mây mù, không có chùa Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi mình trên
dòng sông Hương.Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính nhân bản
như truyện Từ Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính…. Sẽ
không có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương…. và
trong tâm tư truyền thống cũng vắng tư tưởng bố thí vị tha, lòng hưởng
thiện và niềm tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng tinh thần
lạc quan ngây thơ của người dân Việt.
Quả thật vậy, Đạo Phật đã có
mặt ảnh hưởng khắp mọi giai tầng trong ở xã hội Việt Nam, không những
trong giới bình dân mà còn ở trong giới trí thức nữa.
Phật Giáo thiền tông ở Việt Nam
phát triển mạnh và ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thức, cung đình
từ đinh (968-980), tiền Lê (980-1009) đến thời Lý (1010-1225) đã mang được
trong mình một tinh thần Việt Nam, đó là sự ra đời của một thiền phái
mới, phái Thảo Đường do Lý Thánh Tông một vị vua anh kiệt đứng đầu.
Nhưng thiền tông Việt Nam phát triển rực sáng nhất là ở giai đoạn nhà
Trần (1226-1400) với những tư tưởng vừa thăng trầm vừa phóng khoáng của
các thiền sư thời Trần đã được đúc kết trong các tác phẩm Khóa Hư
Lục của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đã làm cho bình diện học
thuật Việt Nam lúc bấy giờ bổng bừng sáng hẳn lên. Đặc biệt sự xuất
hiện thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do người Việt Nam sáng lập ra, thể hiện
được đầy đủ mọi đặc trưng, độc đáo của người Việt và nó đã
để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho tới ngày
nay.
Phật Giáo không những ảnh hưởng
trong đới sống của người bình dân và giới trí thức mà còn ảnh hưởng
qua gốc độ nhân văn và xã hội
III. Ảnh hưởng Phật Giáo
qua gốc độ nhân văn và xã hội:
1. Ảnh hưởng Phật Giáo qua
ngôn ngữ:
Trong đời sống thường nhật
cũng như trong văn học Việt Nam ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng
ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những
người ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được
phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn,
đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo "tội nghiệp quá".
Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật
tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới
tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện
tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ
là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước. Những
nguyên đó (theo đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại
kết quả. Mọi người điều nói tội nghiệp nhưng không phải nhiều người
biết được đó là một từ ngữ nói lên một chủ thuyết rất căn bản
của Phật :"thuyết nhân quả báo ứng" thuyết này cũng đi sâu
vào nhận thức dân gian với những cách như "ở hiền gặp lành, gieo
gió gặp bão" hay là câu thơ bình dân:
Người trồng cây hạnh người
chơi
Ta trồng cây đức để đời mai
sau
Hoặc khi muốn diễn tả một vật
gì đó quá nhiều, người ta dùng danh từ "hằng hà sa số". Nếu hỏi
hằng hà sa số là cái gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác, họ chỉ biết
đó là nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp gần lưu
vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số rất
nhiều, ngài thí dụ như số cát sông Hằng. Hoặc khi có những tiếng ồn
náo, người ta bảo "om sòm bát nhã", do khi đến chùa vào những
ngày sám hối, chùa thưởng chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà
phát sanh ra cụm từ trên. Lại có những người rày đây mai đó, ít khi dừng
chân ở một chổ, khi người ta hỏi anh đi dâu mãi, họ trả lời tôi đi
"ta bà thế giới". Ta bà thế giới là thế giới của Đức Phật
Thích Ca giáo hóa, theo thế giới quan của phật giáo thì thế giới ta bà
to gấp mấy lần quả địa cầu này, hoặc khi các bà nẹ Việt Nam la mắng
các con hay quậy phá, các bà nói: "chúng bay là đồ lục tặc", tuy
nhiên họ không biết từ lục tăc này phát xuất từ đâu? Đó là từ nhà
phật, chỉ cho sáu thằng giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp của
ngoại cảnh luông luôn quấy nhiễu ta. Một từ ngữ có sâu xa như vậy,
nhưng khi Phật Giáo truyền bá vào Việt Nam đã bị Việt Nam hóa trở
thành lời mắng của các bà mẹ Việt Nam. Thiền sư Toàn Nhật đời Tây Sơn
trong cuốn Tam Giáo Nguyên Lưu Ký, có phát biểu rằng:
Và như sáu giặc trong mình,
Chẳng nên để nó tung hoành khuấy
ta (21)
Còn nghiều từ ngữ khác như từ
bi, hỷ xã, giác ngộ, sám hối đã được người dân Việt Nam quen dùng như
tiếng mẹ đẻ mà không chút ngượng ngập lạ lùng. Sự ảnh hưởng phật
giáo không ngừng ở phạm vi từ ngữ mà nó còn lan rộng, ăn sâu vào những
ca dao dân ca và thơ ca của người dân Việt Nam nữa.
2. Ảnh hưởng phật giáo qua ca dao
và thơ ca
ca dao dân ca là một thể loại văn
vần truyền khẩu, dễ hiểu trong dân gian, được lưu truyền từ đời này
sang đời khác. Không ai biết rõ xuất xứ cũa những lời ca hát đó ở đâu,
chỉ biết rằng nó thường được thể hiện dưới hình thức câu hát ru
em, những câu hò đối đáp giữa các chàng trai cô gái tuổi đôi mươi hay
để kết thúc mỗi câu chuyện cổ tích mà các cụ già kể cho con cháu
nghe mang tính chất khuyên răng dạy bảo. Ca dao dân ca phổ biến dưới dạng
thơ lục bát bao gồm nhiều đề tài khác nhau, tư tưởng đạo lý của phật
giáo cũng thường được ông cha ta đề cập đến trong ca dao dân ca dưới
đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở, khuyên răng dạy bảo, với
mục đích xây dựng một cuộc sống an vui phù hợp với truyền thống đạo
đức của dân tộc Việt Nam.
Sự ảnh hưởng của ngôi
chùa:
Có thể nói trong tâm hồn của mỗi
con người Việt Nam đều có chứa đựng ít nhiều triết lý nhà phật và
những hình ảnh về ngôi chùa, về phật, trải qua hàng ngàn năm gắn bó mật
thiết với làng xã Việt Nam:
Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt
Đất vua, chùa làng là một hình
ảnh gần gũi với dân, với làng, vơí nước như vậy, nếu ai xúc phạm
đến chùa, phật thì cũng có thể hiểu là xúc phạm đến đạo lý, đến
quốc gia. Trên tinh thần đó người dân Việt Nam quyết một lòng bảo vệ
ngôi chùa quê hương của mình:
Bao giờ cạn nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời
nguyền
Ở đâu có chùa, có phật, ở đó
là thắng cảnh, là niềm tự hào của quê hương:
Tây Ninh có núi Bà Đen
Có sông Vàm Cỏ, có toà Cao Sơn
Ở cố đô huế:
Đông Ba, Gia Hội hai cầu
Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông
Ở thành cổ Thăng Long:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem câu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
(22)
Cũng như nhiều dân tộc khác, người
Việt có nhiều lễ hội, mà lễ hội chùa là chiếm tỷ lệ cao hơn hết:
Nhớ ngày mùng bảy tháng ba
Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy
AṠngày mùng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà đi hội của Chùa
Tây (Chùa Tây phương).
Dù ai đi đâu về đâu
Hể trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội
Dâu
Dù cho cha mẹ đánh treo
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm
Về sự ảnh hưởng của tiếng chuông
chùa:
Dân gian Việt Nam vốn có cách định
thời gian bằng đêm năm canh, ngày sáu khắc hoặc bằng tiếng gà, tiếng
chim nhưng thường khi lại là tiếng chuông, tiếng trống của chùa:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông linh Mụ canh gà thọ Xương
Trên chùa đã động tiếng chuông
Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên
nguồn đã kêu
Hoặc:
Chiều chiều bìm bịp giao
canh
Trống chùa đã đánh sao anh chưa vế
Về sự ảnh hưởng quan niệm hiếu
hạnh:
Là người Việt Nam không thể
không hiếu kính cha mẹ, niềm tri ơn và báo ơn ấy đã trở thành bản
tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Tinh hoa và tinh
thần cao đẹp này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng
của cả một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại,
tương xứng với tư tưởng và phong tục của dân tộc Việt. Trong tất cả
những ảnh hưởng, lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng
của đạo phật, một tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc
từ buổi đầu của công nguyên, mà đạo phật là đạo hiếu, lời dạy của
phật về việc nhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm
trong lòng của người Việt, và đã thể hiện linh động và triền miên
ngang qua ca dao dân ca, mà chúng ta thấy tràn ngập khắp dân gian Việt Nam:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy
ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo
con
Hay Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín giữa ghi lòng con ơi
Mến cảnh chùa chiền, phật tượng,
nhưng hiếu hạnh của người con vẫn đặt lên trên vì công ơn trời biển
của cha mẹ trong suốt quá trình dưỡng dục sinh thành, biết bao nhọ nhằn,
gian khổ đối với con. Do đó:
Vô chùa thấy phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành.
Cũng vì thương kính cha mẹ, nên người
con luôn luôn cầu nguyện phật trời gia hộ cho hai đấng từ thân:
Đêm đêm khấn nguyện phật trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Thực ra, hiếu tâm tức thị phật
tâm, hiếu hạnh vô phi phật hạnh, làm tròn bổn phận cùa người con đối
với cha mẹ chính là một trong những pháp tu của nhà phật:
Tu đâu mà bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu
Hoặc Đi về lập miếu thờ vua
Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ
cha
Về sự ảnh hưởng quan niệm nhân
quả:
Người Việt Nam thường nhắn nhủ
nhau chớ có vì danh lợi phù hoa, làm ác hại người để rồi chuốc lấy
đau khổ. Hãy ăn ở cho lương thiện rồi thế nào cũng gặp điều tốt lành,
may mắn và hạnh phúc:
Ai ơi hãy ở cho lành
Kiếp này chẳng gặp đề dành kiếp
sau.
Các bậc cha mẹ lại càng tu nhân
tích đức cho con cháu về sau được nhờ:
Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho
con.
Ngang qua các câu ca dao của Việt
Nam về hình ảnh của ngôi chùa, về quan niệm hiếu hạnh, quan niệm nhân
quả, ta thấy sự ảnh hưởng của phật giáo đã ăn sâu vào đời sống của
dân tộc Việt Nam. Sự ảnh hưởng sâu sắc đó không thể hiện qua ca dao
bình dân mà còn chiếm nhiều trong loại hình thơ ca, văn vần, văn xuôi,
nói chung là văn chương bác học trong nền văn học Việt Nam.
3. Ảnh hưởng phật giáo qua
các tác phẩm văn học:
Bên cạnh ca dao bình dân, trong các
tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn chúng ta cũng thấy có nhiều
bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của phật giáo. Ở đây
chúng ta không đề cập đến dòng văn học chính thống của phật giáo, tức
là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá trình tu tập của mình, mà
chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý
phật giáo mà thôi. Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi phật giáo du nhập
vào nước Việt, nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành, nhưng để thấy rõ
ràng hơn, ta chỉ đề cập đến sự ảnh hưởng của phật giáo trong thơ
văn từ khi người Việt Nam đã viết chữ Nôm, chữ Việt thành thạo nghĩa
là bắt đầu thừ thế kỷ thứ 18 trở về sau.
Tác phẩm chữ nôm nổi tiếng trong
thế kỷ thứ mười tám là Cung Oán Ngâm Khúc của nhà thơ Việt Nam Nguyễn
Gia thiều (1741-1798), tác phẩm viết bằng thơ nôm. Thể song thất lục
bát, dài 356 câu, là khúc ngâm của người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán
than về thân phận mình. Nội dung tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của
phật giáo, nhất là triết lý ba pháp ấn Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Khi diễn
tả thân phận con người vốn khổ đau và mang tính vô thường, ông viết:
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến
mê.
Theo cái nhìn của phật giáo, khi
mô tả nỗi khổ chúng sanh thường được dùng ẩn dụ như khỗ ải (bể
khổ). Cái khổ ấy từ đâu mà có, vốn từ chỗ lầm chấp, vô minh của
con người mà có, từ chỗ mê lầm ấy mà được hình dung bằng mê tân (bến
mê), Như thế danh từ bể khổ của phật giáo đã giúp ông Nguyễn Gia Thiều
diễn tả thấu đáo nỗi khổ đau của kiếp người, cái khổ đau ấy, cái
vô thường ấy không những chi phối ở con người mà còn ở cả cây cỏ,
hoa, lá, thế giới vô tình, tất cả chịu chung qui luật khắc nghiệt ấy:
Tiêu điều nhân sự đã xong
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán tu phong đứng rũ tà huy
Phong trần đến cả sơn khê
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này
Tuồng ải hóa đã bầy ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà dau
Trăm năm còn có gì đây
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh
rì
Con người và vạn vật đã vô thường
và đau khổ như thế, còn gì nữa để đắp chấp, chạy theo nó mà không
tìm một con đường giải thoát khỏi vòng lẫn quẩn ấy? Ta hãy nghe Ôn Như
Hầu đưa ra giải pháp cuối cùng và quyết định:
Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
Mối thất tình quyết dứt cho xong,
Đa mang chi nữa đèo bồng,
Vui vì thế sự mà mong nhân tình.
Lấy gió mát trăng thanh mà kết nghĩa,
Mượn hoa đàm, đuốc tuệ làm
duyên
Thoát trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại vật là tiên trong
đời
Điểm qua một vài đoạn trong cung
oán ngân khúc, ta thấy Ôn Như Hầu đã dùng triết lý Tam Pháp Ấn để nhắc
nhở người đời. Tuy lời văn đượm màu tang thương và bi đát của con
người và cuộc đời, nhưng tất cả chúng ta phải thừa nhận rằng cung
oán ngâm khúc là tác phẩm đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc việt
đã sử dụng lối biểu diễn bằng cảm giác (23) mà trong đó tư tưởng
triết lý đạo phật đóng vai trò chủ đạo.
Qua thế kỷ thứ mười chín, với
thi hào Nguyễn Du (2765-1820) ta có được một án văn bất hủ là Truyện Kiều,
là một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát dựa theo tác phẩm Kim
Vân Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), gồm 3254 câu thơ. Đây
là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo, trong đó ta thấy
nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế, một phần quan trọng của giáo
lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần về hiếu đạo và thuyết về
nhân quả và nghiệp báo. Điều đó có lý, vì lẽ chính Nguyễn Du đã tự
nhận mình là một phật tử và từng đọc Kinh Kim Cang Bát Nhã đến cả
ngàn lần.
Thật vậy, Đoạn Trường Tân Thanh
dường như chỉ là để chứng minh cho triết lý nhân quả của Phật Giáo.
Theo thuyết này, những điều họa phúc mà con người phải gánh chịu ở
kiếp này điều có nghiệp nhân ở kiếp trước, khi mới sinh ra ở đời
ta phải mang lấy cái nghiệp tức là cái kết quả của những vô minh ái dục
mà ta đã gây tạo từ trước, và cuộc đời của chúng ta sẽ hạnh phúc
hay đau khổ, tai họa hay may mắn đều tùy thuộc vào cái nghiệp thiện hay
ác, tốt hay xấu, nặng hay nhẹ mà chính mình đã gây tạo:
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Thì đừng trách lẫn trời gần trời
xa
Nhưng theo Phật Giáo thì nghiệp
không phải là định nghiệp, là bất khả chuyển, cho nên ông mới tự
tin:
Sư rằng phúc họa đạo trời
Cội nguồn cũng bởi lòng người mà
ra
Có trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan
Trong đoạn trường tân thanh nàng
Kiều phải mang một cái nghiệp rất nặng. Vì cái nghiệp ấy mà người
con gái đầu xanh chưa tội tình gì mới bước chân vào cuộc đời đã gặp
biết bao khổ luyﺠcha và em trai bị tù tội, mối tình đầu tan vỡ, và bắt
đầu từ đó nàng lăn lóc từ nơi này qua nơi khác, có khi tưởng ra khỏi
vòng nhưng rồi lại bị lôi cuốn đày đọa, mãi cho đến khi tự vẫn ở
sông Tiền Đường, Đạm Tiên mới cho biết rằng nàng đã qua khỏi bước
đoạn trường và sắp được sống một cuộc đời vui tươi sáng lạn:
Chị sao phận mỏng đức dầy,
Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai?
Tâm thần đã thấu đến trời
Bán thân là hiếu, cứu người là
nhân.
Một niềm vì nước vì dân
Âm công cất một đồng cân đã
già.
Đoạn trường sổ rút tên ra
Đoạn trường thơ đã đem về trả
nhau
Còn duyên hưởng thụ về sau
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi
dào.
Qua ý tưởng phước đức, duyên
nghiệp trên của Đoạn Trường Tân Thanh ta thấy cụ Nguyễn Du rõ ràng đã
chịu ảnh hưởng sâu xa của Phật Giáo. Nàng Kiều bao nhiêu năm chìm nổi
điêu đứng vì một chữ nghiệp, cứ mỗi lần thất bại là một lần ý
nghĩa của chữ ấy càng rõ rệt thấm thía đối với thân phận của
nàng. Sự tin tưởng của nàng cũng là sự tin tưởng của Nguyễn Du, người
đã từng chịu đau khổ và bao phen thất bại nên thức tỉnh và tìm đường
trở về vớí Chánh pháp. Ngoài Đoạn Trường Tân Thanh, nguyễn du còn viết
văn tế thập Loại chúng sanh còn gọi là Kinh Chiêu Hồn, là một tác phẩm
cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm với triết lý Phật Giáo:
Kiếp phù sinh như bào như ảnh
Có chữ rằng: vạn cảnh giai không
Ai hay lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong
luân hồi.
Nếu ở đãu thế kỷ thứ mười
chín chúng ta có Nguyễn Du thì cuối thế kỷ thứ mười chín chúng ta có Mạnh
Chu Trinh (1862-1905) một nhà thơ VN người làng Phú Thị, huyện Khoái Châu,
tỉnh Hải Hưng, ông đậu tiến sĩ năm 1902. Là một người tài hoa về thơ,
giỏi và thích kiến trúc, ông đã từng vẽ kiểu và trùng tu chùa Thiên
Trù ở Hương Tích. Cũng trong thời gian (giữa những năm 1891-1892) xây dựng
chùa này mà ông đã sáng tác nhiều bài thơ độc đáo về phong cảnh Hương
Tích và tất nhiên thơ của ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tinh thần
của Phật Giáo, chẳng hạn như bài:"Hương Sơn Phong Cảnh":
Bầu trời cảnh Bụt thú Hương
Sơn
Ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây.
Đệ nhất động hỏi rằng đây
có phải?
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,
Lững lờ khe yến, cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chầy
kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc
mộng.
Thật vậy qua những bài thơ này,
ta thấy thơ của Chu Mạnh Trinh đã phản chiếu được lòng tin của ông đối
với giáo lý nhà Phật và qua cái nhìn ông một cảnh vật ở đó thật giải
thoát, an lạc, thanh vắng, và có thể nói cảnh vật Hương Sơn với ông trở
thành một cõi riêng của Phật trong đó không những người tín đồ mà
cho đến cả chim, cá, khe, động đều thấm nhuần được ánh sáng của
Chánh Pháp.
Qua đầu thế kỷ thứ hai mươi, chúng
ta có một nhà thơ đáng yêu, tuy không phải là tín đồ Phật Giáo, nhưng
thỉnh thoảng văn thơ của ông cũng đã ảnh hưởng ít nhiều từ ngôn ngữ,
tư tưởng nhà Phật, đó là thi sĩ Hàn Mạc Tử (1912-1940), xin đơn cử một
bài thơ của ông:
Thơ tôi thơm huyền dịu
Mọc lên Đạo Từ Bi
Khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Đao Lợi, đến trời Đâu
Suất
Họp tinh khí muôn năm thành Chánh
quả
Lời nguyện gẫm xanh như màu huyền
diệu
Não nề lòng viễn khách giữa lúc
mơ
Trời từ bi cảm động ứa sương
mờ
Sao gió lại bay hồn trong kẻ lá
Những chữ trời từ bi, chín từng
trời, Đao Lợi, Đâu Suất, thành chánh quả..đều là danh từ của nhà Phật.
Hay với J. Leiba (24) một nhà thơ trẻ Việt Nam đầu thế kỷ thứ 20 cũng
có những bài ảnh hưởng sâu đậm triết lý nhà Phật:
Phật giáo vô biên độ chúng sanh
Bè từ thả với kiếp lênh đênh
Trần ai đã đẫm muôn hồ lệ,
Xin độ trì đôi lứa tuổi xanh.
* * *
Con dẫu trần tâm đã sạch rồi
Lòng từ vương một chút không
thôi
Đoái trông lục hợp sinh tà lụy
Bao sợi dây oan buộc kiếp người.
Có thể nói J. Leiba là nhà thơ trẻ
nhất thời đó đã quay về với Đạo Phật để tìm lấy sự an lạc cho
tâm hồn cho những ngày cuối đời mình:
Phù thế đã nhiều duyên nghiệp
quá
Lệ lòng mong cạn chốn am không
Cửa thiền một đóng duyên trần dứt
Quên hết người quen chốn bụi hồng
Và với Vũ Hoàng Chương (1916-1976)
nhà thơ nổi danh khác của Việt nam lại đi xa hơn, mượn ngay những giáo
lý của Phật như Nhân Quả, Luân Thường, khổ đau..để diễn tả nổi niềm
khao khát vượt ra khỏi bờ mê, để đến bến giác:
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, nay sông cát bồi
Lang thang thừ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu cửa chớp, bốn bề một
phương.
Điểm qua một số thơ văn Việt
nam có những ảnh hưởng của Phật Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết
học Phật Giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn
tư tưởng của Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng trên mặt văn chương xuất
bản mà Phật Giáo còn có mặt trong nhiều phong tục tập quán ở Việt
Nam.
4. Ảnh hưởng Phật Giáo qua phong tục,
tập quán :
Phong tục tập quán thể hiện đặc
sắc và tính đặc thù về văn hóa của mỗi dân tộc. Thông qua việc tìm
hiểu phong tục tập quán, người ta tìm lại được những giá trị văn hóa
mang bản chất truyền thống của các dân tộc. Đối với người Việt
Nam, những phong tục tập quán chịu ảnh hưởng phật giáo khá nhiều. Song
ở đây người viết chỉ đề cập đến những tập tục phổ biến trong
đời sống hằng ngày của người Việt.
*
Ảnh hưởng phật giáo qua tập
tục ăn chay, thờ phật, phóng sanh và bố thí:
Về ăn chay, hầu như tất cả người
Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này. Ăn chay hay ăn lạt
xuất phát từ quan niệm từ bi của phật giáo. Vì khi đã trở về với phật
pháp, mỗi người phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó giới căn
bản là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài.
Trong hành động lời nói và ý nghĩa, người phật tử phải thể hiện lòng
từ bi. Điều không thể có được khi con người còn ăn thịt, còn uống
máu chúng sanh. Để đạt được mục đích đó, người phật tử phải dùng
đến phương pháp ăn chay. Cố nhiên người xuất
gia ăn chay trường,
còn phật tử tại gia còn nhiều trở ngại nên chỉ
ăn chay kỳ. Thông
thường người Việt Nam, cả phật tử lẫn người không phải phật tử cũng
theo tục lệ đặc biệt này, họ ăn chay mỗi tháng hai ngày, là ngày mùng
một và ngày rằm mỗi tháng, có người ăn mỗi tháng bốn ngày là ngày
01, 14, 15 và 30, nếu tháng thiếu thì ăn chay ngày 29, có người ăn mỗi tháng
sáu ngày là những ngày mùng 8,14, 15, 23, 29 và 30 (nếu tháng thiếu thì ăn
chay ngày 28, 29), có người phát tâm ăn chay mỗi tháng mười ngày là ngày
1,8,14,15,18,23,24, 28 và 30 và mùng 1 (nếu tháng thiếu thì ăn vào ngày
27,28,29) cũng có nhiều người phát nguyện ăn chay suốt cả tháng (thường
là tháng bảy âm lịch) hoặc ba tháng (tháng giêng, tháng bảy và tháng mười)
hay cả năm, đôi khi có một số người đi phát nguyện ăn trường trai giống
như những người xuất gia.
Về mặt ăn uống, ăn chay rất phù
hợp với phong cách ăn uống Á Đông, chú trọng ăn ngũ cốc nhiều hơn thực
phẩm động vật, vả lại ăn chay giúp cho cơ thể được nhẹ nhàng, trí
óc được minh mẫn sáng suốt. Gần đây các bác sĩ Soteylo, và bác sĩ
Varia Kiplami cho biết trong các thứ thịt có nhiều chất độc, rất nguy hiểm
cho sức khoẻ con người. Và các nhà khoa học đều cho rằng ăn chay rất hợp
vệ sinh và không kém phần bổ dưỡng. Trên tinh thần đó, nên nguời việt
nam dù không phải là Phật Tử cũng thích ăn chay, và tập tục này đã ảnh
hưởng sâu rộng trong mọi giai tầng xã hội Việt Nam từ xưa đến nay.
Ăn chay và thờ phật là việc đi
đôi với nhau của người Việt Nam. Việc thờ phật trong dân gian cũng có
nhiều điều thú vị. Người phật tử, người mộ đạo thờ phật đã đành,
nhiều người không phải là phật tử cũng dùng tượng phật hay tranh ảnh
có yếu tố phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí cho cảnh nhà thêm đẹp
và trang nghiêm. Theo quan niệm của nhóm người này, phật giáo là một
thành tựu về tư tưởng văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Cũng xuất phát từ tinh thần từ
bi của đạo phật tục lệ bố thí và phóng sanh đã ăn sâu vào đời sống
sinh hoạt của quần chúng. Đến ngày rằm và mùng một, người Việt thường
hay mua chim, cá, rùa..để đem về chùa chú nguyện rồi đi phóng sanh. Người
Việt cũng thích làm phước bố thí và sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó,
hoạn nạn, vào các ngày lễ hội lớn họ tập trung về chùa. Tuy nhiên,
trong xã hội hiện đại những biểu hiện mang tính chất hình thức trên
này càng bị thu hẹp. Thay vào đó mọi người tham gia vào những đợt cứu
trợ, tương tế cho các đồng bào gặp thiên tai, hoạn nạn, hoàn cảng sống
gặp khó khăn đúng với truyền thống đạo lý của dân tộc lá làng đùm
lá rách.
b/ Ảnh hưởng Phật giáo qua tập tục
cúng rằm, mùng một và lễ chùa.
Theo đúng truyền thống tập tục
cúng rằm, mùng một là tập tục cúng sóc vọng, tức là ngày mặt trời mặt
trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh, tổ tiên có thể liên lạc,
thông thương với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng
với các cõi giới khác và sự cảm thông sẽ được thiết lập là ngày
trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của mình, gọi là ngày Bố
tát và ngày sám hối, người tín đồ về chùa để tham dự lễ sám hối,
cầu nguyện bỏ ác làm lành và sửa đổi thân tâm. Quan niệm ngày sóc vọng
là những ngày trưởng tịnh, sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng
của Phật giáo Đại thừa. Ngoài việc đi chùa sám hối, ở nhà vào ngày
rằm và mùng một, họ sắm đèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo
và tổ tiên Ông Bà, thể hiện lòng tôn kính, thương nhớ những người quá
cố và cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tánh của họ.
Bên cạnh việc đi chùa sám hối
vào ngày rằm, mùng một , người Việt Nam còn có tập tục khác là đi viếng
chùa, lễ Phật vào những ngày hội lớn như ngày rằm tháng giêng, rằm
tháng tư (Phật Đản) và rằm tháng bảy (lễ vu lan). Đây là một tập tục,
một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống người Việt. Tuy nhiên,
đi viếng chùa cũng tùy thuộc vào mục đích và quan niệm của mỗi người.
Cánh cửa chùa bao giờ cũng rộng mở đối với thập phương bá tánh, nhất
là các ngày hội lớn của Phật giáo, của dân gian (tết Nguyên Đán) hoặc
những ngày kỷ niệm lớn của lịch sử dân tộc, (giổ tổ Hùng Vương).
Vào những ngày này, đông đảo các tầng lớp nhân dân, các giới trong xã
hội đều qui tụ về đây. Trước cánh cửa thiền môn, những khuôn mặt
trang nghiêm, vẻ đẹp thanh thoát của hoa huệ, hoa cúc chen lẫn với hương
trầm quyện tỏa tạo nên bầu không khí ấm cúng, linh thiêng, thể hiện tấm
lòng thành kính của họ đối với Đức Phật và các bậc Thánh Hiền. Những
hình ảnh đó đã góp phần tạo nên bản sắc và nét đẹp văn hóa của
dân tộc Việt. Trong dòng người tấp nập, đông đảo đó không phải ai cũng
đến đây vì lý do tín ngưỡng thuần túy. Một số đông người chỉ
đơn giản muốn đi xem lễ hội hoặc thích chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chùa
chiền nhưng khi đã hội nhập vào bầu không khí trang nghiêm họ cũng thấy
mình trở nên đỉnh đạc và trầm tỉnh hơn, đây là cơ hội giúp họ
quay về với Đạo Phật.
c/ Ảnh hưởng Phật giáo qua nghi thức
ma chay, cưới hỏi :
Đây cũng là sinh hoạt thường xảy
ra trong đời sống người Việt. Về ma chay, theo phong tục của người Việt
Nam và Trung Hoa trước đây rất là phiền phức và hao tốn. Tuy nhiên nhờ
có sự dẫn dắt của chư tăng thì tang lễ diễn ra đơn giản và trang
nghiêm hơn. Khi trong gia đình (theo Đạo Phật) có người qua đời, thân quyến
đến chùa thỉnh chư tăng về nhà để giúp đỡ phần tang lễ (thường gọi
là làm ma chay). Thông thường các nghi thức trong tang lễ được diễn ra tuần
tự như sau : (1) Nghi thức nhập liệm người chết; (2) lễ phát tang; (3) lễ
tiến linh (cúng cơm); (4) khóa lễ kỳ siêu cho hương linh; (5) lễ cáo Triều
Tổ (cáo tổ tiên ông Bà trước giờ di quan); (6) lễ di quan và hạ huyệt;
(7) Đưa lư hương, long vị, hình vong về nhà hoặc chùa; (8) lễ an sàng;
(9) cúng thất (tụng kinh cầu siêu và cúng cơm cho hương linh trong bảy tuần
gồm 49 ngày, mỗi tuần cúng một lần); (10) lễ tiểu tường (giáp năm,
sau ngày hương linh mất một năm); (11) lễ đại tường (lễ xã tang, sau
ngày hương linh qua đời hai năm).
Ở những gia đình không theo Đạo
Phật nhưng do người quá cố hoặc gia chủ mến chuộng Đạo Phật nên họ
thỉnh chư tăng, ni đến tụng kinh cầu siêu cho hương linh và tổ chức
tang lễ giống như những tín đồ theo Đạo Phật. Nhìn chung, tập tục ma
chay tại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ những nghi thức của Phật
giáo.
Việc cưới hỏi, tầm ảnh hưởng
của Phật giáo tỏ ra ít phức tạp hơn so với Thiên Chúa giáo, khổng
giáo hay Hồi giáo. Trước khi tiến tới hôn nhân, nhiều đôi bạn trẻ
theo tín ngưỡng Phật giáo, thường đến chùa khấn nguyện với chư Phật
phù hộ cho mối lương duyên của họ được thuận buồm xuôi gió. Đến
ngày cưới hỏi, họ được hướng dẫn về chùa để chư tăng làm lễ
"hằng thuận quy y" trước khi rước dâu. Đó là một lễ chúc
lành ngắn gọn và được chư tăng khuyên dạy một số nguyên tắc đạo
đức Phật giáo, để làm kim chỉ nam cho cuộc sống mới.
Ngoài những phong tục của người
Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo đã được kể trên, chúng ta còn thấy
một số tập tục khác cũng tương đối phổ biến và có ít nhiều liên
quan đến Phật giáo mà chúng ta phải ghi nhận.
d/ Các phong tục tạp quán khác.
1/ Tập tục đốt vàng mã:
Đây là tập tục rất phổ biến
ở Việt Nam mà người Việt đã tiếp nhận từ Phật giáo Trung Quốc. Nhiều
người ngộ nhận rằng tập tục này xuất gia từ quan điểm nhân quả
luân hồi của Phật giáo, do đó nó đã tồn tại trong Phật giáo từ xưa
cho tới ngày nay. Nếu đời này ai ăn ở hiền lành, tu tâm dưỡng tánh
thì đời sau sẽ tái sinh trở lại làm người hạnh phúc, sung sướng giàu
sang hoặc vãng sanh về thế giới cực lạc. Còn nếu kiếp này ăn ở tệ
bạc, làm nhiều điều ác, sau khi chết sẽ bị đọa xuống địa ngục cõi
âm ti chịu nhiều đau khổ. Người nhiều tội lỗi hay không có ai thờ
cúng, cầu siêu thì ở nơi địa ngục bị oan ức, đói lạnh, không thể
siêu thoát được hoặc đầu thai được. Cho nên những người thân ở nơi
dương thế phải thờ cúng, tụng kinh cầu siêu để người thân của mình
dưới cõi âm ti bớt đi phần tội lỗi hoặc được ấm no mà thoát kiếp.
Sau khi cúng giỗ, ngày vọng người chết sẽ nhận được những vật dụng,
tiền bạc đã cúng và đốt đó. Trong các đồ mã và giấy tiền vàng bạc
để cúng thường có hình ảnh (Phật Di Lặc hay Bồ Tát Quan Âm) hoặc chữ
nghĩa (chú vãng sanh, chữ triện) có yếu tố của Phật giáo với ý đồ
mong sự cứu độ của Chư Phật đối với người đã khuất.
Ở đây xin nói rõ, tập tục đốt
vàng mã là một "hủ tục" mang tính mê tín dị đoan và vô lý, người
Phật tử chân chính không bao giờ chấp nhận. Chính trên thế gian này, đồng
tiền của nước này mang sang nước khác còn khó được chấp nhận, huống
hố từ nhơn gian, đốt gởi xuống âm phủ xài, là chuyện không có cơ sở
để tin cậy được. Theo Phật dạy chúng sanh tùy nghiệp thiện ác theo đó
mà thác sanh nơi cõi lành, cõi dữ. Thân nhân chúng ta chết cũng theo nghiệp
thiện ác mà thọ sanh vào sáu cõi chứ không ngồi chờ việc đốt vàng
mã của người thân, vừa trái với đạo lý, vừa phí tổn tiền bạc vô
ích. Theo Phật giáo thì có rất nhiều cách để thể hiện lòng thương và
lòng chung thủy của người sống đối với người chết bằng cách khi có
người sắp chết, thân quyến phải phát tâm bố thí, cúng dường, phóng
sanh và điều quan trọng là phải thông tin cho người đó biết việc làm của
gia đình mà hướng tâm đến con người thiện, nhờ đó mà họ sẽ thọ
sanh vào cảnh giới an lành.
2/ Tập tục coi ngày giờ :
Đây là một tập tục ăn sâu vào
tập quán của người Việt nói riêng và cả Châu Á nói chung. Mỗi khi sắp
làm một việc gì quan trọng như xây dựng nhà cửa, đám chết, đám cưới,
xuất hành đầu năm... người ta thường về chùa để nhờ các thầy coi
giúp giùm ngày nào tốt thì làm ngày nào xấu thì tránh. Thông thường người
ta hay tránh ba ngày: mùng 05, 14, 23, họ cho ba ngày này là xuôi xẻo, là bất
hạnh, cần phải tránh.
Theo cái nhìn của Phật giáo thì đây
cũng là một loại hình mê tín, người Phật tử không nên chạy theo. Đức
Phật dạy rằng với người làm điều lành, ngày nào cũng là ngày tốt với
người làm việc tốt, ngày nào cũng là ngày lành. Năm tháng đối với
người làm thiện đều là ngày tốt cả, gieo nhân thiện thì sẽ gặt quả
lành. Giáo lý nhân quả của Đạo Phật là cán cân công bằng với khổ
đau và hạnh phúc của con người chứ không phải là sự phân định của
hên xuôi.
3/ Tập tục cúng sao hạn :
Tập tục này rất phổ biến và
ăn sâu vào tập quán của người Việt và lại có sự tham gia của Phật
giáo. Nguyên nhân cũng bắt nguồn từ Trung Quốc, sau truyền qua Việt Nam rồi
vào trong Phật giáo. Thời xưa ta có Tam giáo đồng nguyên; Phật, Lão và Khổng
giáo, đồng quy về mặt nguồn. Chủ trương như nhau, cùng một thiện chí
để đóng góp cho xã hội, phục hưng đạo đức, đưa đời sống của con
người đến ấm no hạnh phúc.
Trong bối cảnh Tam giáo đó, các thầy
Phật giáo phải linh động, phải tìm hiểu, học hỏi những cái lưu truyền
của đạo bạn để có một cái nhìn hòa đồng, cảm thông và nhất là để
kéo Phật tử trở về với bói quẻ, xem tướng, thì các thầy cũng cúng
sao, bói quẻm xin xăm, để cho người Phật tử quay về chùa, thay vì để
họ lạy thần linh thì lạy Phật tốt hơn. Bước thứ hai là giảng đạo
lý nhân quả, Bát chánh đạo, tạo chánh kiến cho người Phật tử xóa bỏ
tà kiến trước đây của họ. Trong phương tiện này đã có một số người
lạm dụng và dần dà nó trở thành một loại hình sinh hoạt của Phật
giáo. Hiểu rõ điều này, người Phật tử nên loại bỏ tập tục mê tín
này.
4/ Tập tục xin xăm, bỏi quẻ :
Xin xăm bói quẻ là một việc cầu
may. Cũng bắt nguồn từ Trung Quốc, một loại hình sinh hoạt khá rầm rộ
tại các chùa, đình, miếu vào dịp đầu năm mới hoặc các ngày lễ lớn.
Các chùa làng có thờ
Quan Thánh Đế Quân thường có đi đôi với việc
xin xăm. Người xin xăm trước hết đến lạy Phật rồi sang bàn thờ Quan
Thánh, khấn nguyện xin một quẻ xăm, rồi họ lắc ống xăm có 100 thẻ đê
lấy một thẻ rớt ra, sau đó họ cầm quẻ xăm đến nhờ thầy trù trì
giải đáp giùm vận mạng của mình. Mỗi thẻ ứng với một lá xăm có
ghi sẵn trong những điều tiên đoán về công việc làm ăn, học tập, hôn
nhân, gia đình... của mỗi người bốc được quẻ xăm đó. Đây là một
tập tục không lành mạnh do tin tưởng vào sự may rủi của số phận đã
được sắp đặt, an bài từ trước. Như sách xưa co câu "phước chí
tâm linh, hoa lai thần ám". Nghĩa là người gặp lúc phước đến thì
giở quẻ ra đều tốt, khi họa lại thi rút lá xăm nào cũng xấu. Thế là
tốt xấu tại mình, không phải tại xăm quẻ. Người Phật tử chân chính
cần phải loại bỏ những loại hình mê tín này.
Phong tục tập quán tại Việt Nam
trong quá trình tồn tại và phát triển đã chịu nhiều tác động của trào
lưu văn hóa khác nhau. Nhất là từ Trung Quốc. Trong đó Phật giáo đã dự
phần quan trọng trong việc định hình và duy trì không ít các tập tục
dân gian mà chúng ta thấy vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Tuy nhiên,
không phải các tập tục có sự ảnh hưởng của Phật giáo là tốt tất
cả, mà trong đó có tập tục cần phải chắc lọc lại để phù hợp với
chánh pháp. Đó là nhiệm vụ nặng nề của các nhà truyền giáo trong thời
hiện đại. Bên cạnh sự ảnh hưởng trong các phong tục tập quán của
dân tộc. PG còn ảnh hưởng qua các loại hình nghệ thuật như, nghệ thuật
tạo hình, nghệ thuật sân khấu cải lương...
IV. ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO
QUA CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT :
1/ Phật giáo thể hiện qua nghệ
thuật sân khấu (Hát bội, hát chèo, cải lương và kịch nói).
Nghệ thuật sân khấu cũng là một
loại hình văn hóa, nhất là các chủng loại này thuộc về di sân mang
tính bản sắc của văn hóa dân tộc song song với những phần đã nêu ra
ở trên. Tính triết lý "nhân quả báo ứng" của Phật giáo đóng
vai trò quan trọng trong các bài ca tuồng, vở diễn phù hợp với đạo lý
phương đông và nếp sống truyền thống của dân tộc.
Trước hết, loại
hát chèo
xuất hiện ban đầu chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thu hút
nhiều tinh hoa nghệ thuật dân gian như múa, hát và diễn các vở truyện
Nôm truyền thống. Đáng kể nhất là vở "Quan Âm Thị Kính" đã
đi vào dạng tuồng tiêu biểu chính thống khi nhắc đến môn nghệ thuật
này. Còn có các vở "Trương Viên", "Lưu Bình Dương Lễ",
"Kim Nhan", "Chu Mãi Thần"... đều mang tính thưởng thiện
phạt ác và các vở này gọi là tiêu biểu nên có tên gọi là "chèo cổ".
Thứ hai, hát bội ban đầu đi vào
nếp sống cung đình, khác với chèo cổ, nghệ thuật này trở nên một loại
hình giải trí cao cấp dành cho vua chúa và giới thượng lưu, một phía
khác là nó dành cho những ai có trình độ thưởng thức nghệ thuật,
tương đối thì mới có thể xem và cảm nhận được chủng loại độc đáo
này. Có thể nói xuyên suốt thế kỷ thứ 19 là thời đại hoàng kim của
nghệ thuật hát bội. Các vở "San Hậu"; "Tam Nữ Đồ
Vương"; "Diễn Võ Đình", "Nghiêu Sò Ốc Hến"... là những
vở mang tính chất dân tộc chính thống và chứa đựng toàn vẹn triết
lý "nhân quả báo ứng" và hướng thiện một cách cao đẹp.
Từ nhạc cổ, nhạc tài tử trở
thành hình thái "ca ra bộ", để từ đó trở thành nghệ thuật
sân khấu cải lương từ đầu những năm hai mươi (1922) của thế kỷ này
ở Nam Bộ. Có thể nói chưa có nghệ thuật dân tộc nào phát triển nhanh
chóng, có sức cuốn mạnh mẽ và dung nạp nhiều mãng dân ca như bộ môn cải
lương. Chính vì yếu tố phóng khoáng đó, cải lương dễ dàng tiến sâu
vào chân lý của Phật giáo, mở ra cánh cửa được sự tích Phật Thích
Ca và nhiều điển tích khác của Phật giáo vào gia sản nghệ thuật của
mình. Đây là một loại hình nghệ thuật được đông đảo bà con lao động
Việt Nam nhất là các vùng ngoại ô mến chuộng và ưa thích. Giáo lý
"nhân quả báo ứng, thưởng thiện phạt ác"... được các soạn
giả thể hiện các vở cải lương và đã được khán giả say mê thưởng
thức và đã đứng vững trên diễn đàn sân khấu trong suốt mấy chục năm
qua. Tiêu biểu như các vở "Thích Ca Đắc Đạo", "Quan Âm Thị
Kính", "Quan Âm Diệu Thiện", "Mục Liên Thanh Đề", đặc
biệt gần đây (đầu thập niên 90) có hai vở đáng chú ý là "Thoát
Vòng Tục Lụy" và 'Thái Tử A Xà Thế" của soạn giả Giác Đạo
Dương Kinh Thành, là hai vở tuồng chuyên chính đầu tiên của Phật giáo
Việt Nam, đã được trình diễn nhiều nơi và đã thực hiện băng video và
băng cassette phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Ngoài ra còn có các vở
chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng Phật giáo như các vở "Phạm
Công Cúc Hoa", "Tấm Cám", "Kim Vân Kiều"... do sự ảnh
hưởng tinh thần từ bi hỷ xả của Phật giáo nên luôn luôn các tuồng cải
lương ở phần kết thúc đều có hậu. Nhà nghiên cứu Sơn Nam từng phát
biểu về điều này : "Nước ta từ xưa vẫn theo truyền thống Tam giáo,
nhất là nhờ ảnh hưởng văn hóa Phật giáo mà tiến lên, nhân vật trong
vở tuồng dù lố lăng (...) điều quan trọng là nhân vật chính, nhân vật
phụ ấy phải được giải quyết ở màn chót theo tinh thần bi trí, dũng,
theo luật nhân quả của Phật giáo (...). Phật giáo là phép màu dung hòa mọi
mâu thuẫn, chỉ nẻo cho con người thoát khỏi những cảnh ngộ éo le, khó
xử nhất. Nếu thoát khỏi luân lý ấy, cải lương sẽ là cái xác không hồn".
(25)
Sau cùng là kịch nói, đây là loại
hình nghệ thuật được du nhập từ phương Tây sau thế chiến thứ hai
(1938 - 1945), ban đầu chủ yếu biểu diễn các vở phóng tác từ các vở
tuồng của nước ngoài để phục vụ cho Thực Dân và Quan Lại thừa sai.
Sau thập niên 60, kịch nói mới có vị trí thật sự trong sân khấu Việt
Nam và được người dân hưởng ứng bằng các vở diễn do chính người
Việt Nam dàn dựng. Kịch nói chưa có đóng góp gì đáng kể cho Phật giáo
như các loại hình nghệ thuật khác. Tuy nhiên nội dung cũng hàm chứa nhiều
căn ban đạo đức dân tộc trong đó có ảnh hưởng Phật giáo.
Không chỉ trong nghệ thuật sân khấu,
diễn xuất người ta mới thấy sự yêu mến của đông đảo quần chúng
đối với Đạo Phật mà chúng ta còn thấy được điều này qua nghệ thuật
tạo hình.
2/ Ảnh hưởng Phật giáo qua nghệ
thuật tạo hình :
- Về kiến trúc : Khi Phật giáo
truyền vào Việt Nam, cố nhiên đã đem theo các kiểu kiến trúc chùa tháp,
lầu chuông gác trống theo mô hình kiến trúc của Ấn Độ, Miến Điện và
Trung Hoa. Tuy nhiên theo thời gian, tinh thần khai phóng của Phật giáo phối
hợp cung với lối tu duy tổng hợp của dân tộc Việt đã tạo ra một mô
hình kiến trúc rất riêng cho Phật giáo ở Việt Nam. Chùa tháp ở Việt
nam thường được xây dựng với lối kiến trúc đặc biệt, mái chùa bao
giờ cũng ẩn dấu sau lũy tre làng, dưới gốc cây đa hay ở một nơi có cảnh
trí thiên nhiên đẹp hoặc thanh vắng. Theo Nguyễ Quân và Phan Cẩm Thương
thì kiến trúc Chùa Tháp ở Việt Nam là "một quần thể kiến trúc có
quy mô không lớn, tương xứng với tầm vóc con người, phân bố lớp kiến
trúc theo một trục dọc kéo dài gây cảm giác đi sâu không cùng, đưa tự
nhiên xen kẻ trong các thành phần, chú trọng cảnh quan sông nước, vườn
chùa, làm cho công trình có tính chất cởi mở luôn lớn hơn khối thực thể
của nó". (26)
Theo mô hình kiến trúc theo kiểu chữ
"công" : bái đường và điện Phật được nối nhau bằng nhà
thiên hương; kiêu chữ "Đinh" : trước; kiểu chữ "Tam" : có
ba nếp nhà song song với nhau, hay kiểu "Nội công ngoại Quốc" :
phía trước là tiền đường và điện Phật, sau là mảnh sân hình vuông
trồng cây cảnh, đặt hòn non bộ, phía sau là nhà hậu tổ, hai bên là
nhà Đông và nhà Tây (27). Phật giáo để lại nhiều quần thể kiến trúc
độc đáo và danh lam thắng cảnh cho nước Việt, nhiều ngôi chùa nổi tiếng
như ở miền Bắc có chùa Một Cột, chùa Tây phương, chùa Hương, ở miền
Trung có chùa Thiên Mụ, chùa Từ Hiếu, chùa Báo Quốc, và ở miền Nam có
các chùa Giác Lâm, chùa Vĩnh Tràng...
- Về điêu khắc : Ngày nay có dịp
tham quan viện bảo tàng lớn ở Việt Nam, chúng ta sẽ thấy nhiều cốt tượng,
phù điêu của Phật giáo được trưng bày, đó không những là một niềm
tự hào của nền văn hóa dân tộc Việt mà còn là dấu vết chứng minh sự
ảnh hưởng của Phật giáo có mặt trong lĩnh vực này. Tiêu biểu ta thấy
có các tác phẩm như tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (28). Chùa Hạ (Vĩnh
Phú, Bắc Việt, cao 3,2m), 16 pho tượng tổ gỗ của chùa Tây Phương (Hà
Tây, Bắc Việt), Bộ tượng Thập Bát La Hán chùa Phước Lâm (Hội An, Quảng
Nam Đà Nẵng), Bộ tượng Thập Bát ở chùa Tràng (Mỹ Tho), tượng Tuyết
Sơn chùa Trăm Gian (Hà Tây). Tượng Phật Thích Ca, cao 1,07m bằng đồng là
hiện vật Bảo tàng lịch sử TPHCM... là những tác phẩm nghệ thuật điêu
khắc độc đáo của Việt Nam còn có những công trình điêu khắc quy mô
và mang tính lịch sử như tượng "Phật Nhập Niết Bàn" dài 49m
ở núi Trá Cú, Phan Thiết được kiến tạo năm 1962, tượng Đức Phật Thích
Ca ngồi kiết già cao 11m tại Vũng Tàu, Khánh Thành ngày 10/3/963 ; tượng
"Kim thân Phật tổ" cao 24m ở chùa Long Sơn, TP. Nha Trang được thực
hiện vào năm 1964.
Và về hội họa : Mái chùa cổ
kính giữa núi non tĩnh mịch hay các lễ hội viếng chùa ngày đầu xuân hoặc
tư tưởng độc đáo của triết học, của thiền học Phật giáo luôn là
đề tài gây nhiều cảm hứng cho các nghệ nhân và họa sĩ Việt Nam. Nhiều
trang lụa, tranh màu nước, sơn dầu, sơn mài đề cập đến Phật giáo đã
được các họa sĩ, nghệ nhân lên tuổi ở Việt Nam thể hiện một cách
sống động và tinh tế qua các tác phẩm như "chùa Thầy" của Nguyễn
Gia Trí sáng tác năm 1938, "Lễ Chùa" của Nguyễn Siêu, "Bức Tăng"
của Đỗ Quang Em, "Đi Lễ Chùa" của Nguyên Khắc Vịnh. Đặc biệt
từ thập niên tám mươi trở lại đây, có "Thiền Quán", "Quan
Âm Thị Hiện"; "Bích Nhãn", "Rừng Thiền" của họa sĩ
Phượng Hồng, "Hồi Đầu Thị Ngạn" của Huỳnh Tuần Bá; "Nhất
Hoa Vạn Pháp" của Văn Quan...
Đến đây, chúng ta có thể kết luận
rằng những tư tưởng và hình ảnh của Phật giáo đã để lại những dấu
ấn sâu đậm trong phong tục tập quán, trong văn học và nghệ thuật của
người Việt Nam trong lịch sử và nó sẽ tiếp tục tỏa sáng cái tinh hoa
độc đáo của mình cho dân tộc Việt nói riêng và cả nhân loại nói
chung trong tương lai.
Phần
C
NHẬN ĐỊNH VÀ KẾT LUẬN
Phật giáo từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, lối
sống của dân tộc Việt Nam và đã trở thành bản chất và bản sắc của
dân tộc Việt Nam. Trong bài xã luận của tạp chí Phật giáo Việt Nam đã
viết : "Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm móng
tinh thần Phật giáo. Hèn gì mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần
hai ngàn năm nay, bao giờ cũng theo nhau như bóng với hình trong cuộc sinh hoạt
toàn cầu. Đã là viên đá nền tảng cho văn hóa dân tộc, cố nhiên Phật
giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu tố bất ly của cuộc sống
toàn diện. Ngày nay những hào nhoáng của một nền văn minh vật chất đã
làm mờ mắt một số đông người, nhưng cơ bản của nền văn hóa dân tộc
đang còn bền chặt, khiến cho người Việt Nam dù có bị lôi cuốn phần
nào trong một thời gian, rồi cũng hồi đầu trở lại với cội nguồn yêu
dấu ngàn xưa...". (29)
Thật vậy, Đạo Phật đã ảnh hưởng
đến mọi sinh hoạt của người Việt từ triết lý, tư tưởng, đạo đức,
văn học, nghệ thuật cho đến phong tục tập quán, nếp sống nếp nghỉ...
tìm hiểu và nghiên cứu về "Sự ảnh hưởng của Phật giáo trong đời
sống người Việt", chúng ta càng thấy rõ nhận định trên. Từ quan
niệm nhân sinh quan, thế giới quan, đạo lý, thẩm mỹ cho đến lời ăn tiếng
nói của quảng đại quần chúng ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của triết
lý và tư tưởng Phật giáo. Những câu nói đầu lưỡi "ở hiền gặp
lành", "tội nghiệp", "hằng hà sa số", "ta bà thế
giới"... là điều phổ biến trong quan hệ ứng xử giữa mọi người,
các ngày đại lễ Phật giáo, ngày rằm, mùng một hay lễ tết dân tộc mọi
người dân dù bận rộn đến mấy cũng vài lần trong đời đến viếng cảnh
chùa để chiêm bái chư Phật, chung vui lễ hội hoặc để gần gũi, tìm hiểu
những di tích lịch sử văn hóa của dân tộc, Chùa làng một thời đã đóng
vai trò trung tâm trong sinh hoạt văn hóa tinh thần cộng đồng làng xã của
người Việt và chúng ta không thể phủ nhận ý kiến trong quyển "văn
hóa Việt Nam tổng hợp 1985 - 1995" : "Nếu không có những hoạt động
Phật giáo lịch đại thì chúng ta sẽ mất đi hơn nửa số di tích và danh
lam thắng cảnh mà hiện nay ta tự hào" (30). Tại sao Phật giáo đã để
lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn, tình cảm, trong phong tục tập
quán và cảnh quan của dân tộc Việt Nam như vậy ? Nhìn lại lịch sử và
văn hóa dân tộc, ta thấy rằng ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên
Phật giáo đã truyền vào Việt Nam và tư tưởng, triết học Phật giáo
có nhiều điểm phù hợp với tâm tư, tình cảm, đạo lý dân tộc nên đã
được người Việt Nam nhanh chóng tiếp nhận và dung hóa. Người Việt vốn
hiền lành, hiếu hòa, hiếu sinh, chân thật, yêu thương đồng loại. Đạo
Phật thì dạy con người biết ăn ở hiền lành, thấy rõ lẽ phải trái,
bỏ ác làm lành, cải tà quy chánh trau dồi đức hạnh và thăng hoa trí tuệ,
cho nên được quảng đại quần chúng chấp nhận. Qua quá trình lịch sử,
trải qua bao cuộc biến đổi thăng trầm của đất nước, Phật giáo đã
khẳng định mình và có một chỗ đứng vững chắc trong lòng của dân tộc,
tồn tại và phát triển cùng với dân tộc. Rõ ràng Phật giáo đã đóng
góp cho dân tộc ta nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế, chính trị, văn
hóa và xã hội. Lịch sử đã chứng minh những giai đoạn hiểm nghèo của
đất nước trước họa xâm lăng; nhiều vị thiền sư Phật giáo, đồng bào
Phật tử đã chung lưng đấu cật với dân tộc, chống giặc, bảo vệ non
sông, tranh đấu cho công bằng và tự do. Gương sáng của thiền sư Khuông
Việt thiền sư Vạn Hạnh còn kia, công lao lớn của vua Trần Nhân Tông đối
với đất nước và dân tộc còn đó, tiếng chuôntg thức tỉnh của Hòa
thượng Thích Quảng Đức vẫn còn vang vọng đâu đây... Phật giáo đã từng
đóng một vai trò trong việc củng cố tinh thần đoàn kết của toàn dân
và đấu tranh bảo vệ đất nước. Khi đất nước hòa bình, văn hóa và
dân tộc có điều kiện phát triển, Phật giáo cũng góp phần không nhỏ
làm nên những tinh hoa văn hóa của dân tộc. Những mái chùa cong vút gần
gũi, duyên dáng, những tượng đài Thích Ca, tượng Quan Âm nghìn mắt,
nghìn tay, các bộ tượng La Han với những đường nét tinh xảo, sống động
dưới con mắt thán phục và cung kính của du khách quốc tế, những lễ hội
rộn ràng, những áng văn chương trác tuyệt... mãi mãi là niềm tự hào của
người Việt Nam.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải nhìn
nhận rằng chính tinh thần khai phóng, dung hòa và phương tiện của Phật
giáo VN đã bị một số người lợi dụng và cố tình hiểu sai lạc đi,
biến Phật giáo, chùa chiền thành một nơi xa lánh, tách biệt với xã hội,
cúng kiến mê tín và bị kẻ xấu lợi dụng để xin xăm, bói quẻ, đốt
vàng mã, là những sinh hoạt biến dạng vốn không phải của Đạo Phật.
Người viết bài này đã hơn một lần cảm thấy hổ thẹn, khi nghe các
nhà nghiên cứu tôn giáo nước ngoài đề cập đến nhiều loại hình mê
tính dị đoan mà họ đã mục kích được khi đến thăm các chùa ở Việt
Nam. Do đó, người viết thiết nghĩ, đánh giá về tầm ảnh hưởng về vị
trí và vai trò Phật giáo trong nền văn hóa và lịch sử dân tộc cần phải
dựa trên tinh thần khoa học và khách quan để thấy những mặt thiếu sót,
lạc hậu, tệ nạn để có thể hạn chế, loại bỏ cũng như mặt tích cực,
hữu ích để duy trì và phát triển.
Trong bối cảnh đất nước đang
chuyển mình để hòa nhập vào trào lưu phát triển với thế giới, Việt
Nam cần phải mở cửa để giao lưư với bạn bè quốc tế ngỏ hầu tiếp
thu và học tập những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Điều đó
sẽ dẫn đến sự du nhập nhiều luồng văn hóa ngoại lai. Trong đó có
cái tốt, có cái xấu, làm sao chúng ta có thể phân biệt và tiếp thu cái
tốt và giải trừ cái xấu ? Đây là một câu hỏi lớn cho các nhà giáo dục,
đạo đức, xã hội, tôn giáo... và nó đã trở thành một vấn đề của
quốc gia chứ không phải chỉ là chuyên cá nhân hay riêng tư nữa. Lời giải
đáp rõ ràng nhất là nếu chúng ta có một nền văn hóa lành mạnh; đậm
đà bản sắc dân tộc với những tư tưởng truyền thống tốt đẹp sẽ
giúp chúng ta nhận định, chắc lọc và cũng là liều thuốc tốt nhất
giúp chúng ta chống lại những cặn bã văn hóa ngoại nhập hoặc văn hóa
mê tín phát sinh từ bản địa. Những yếu tố tích cực của Phật giáo
là một phần tư tưởng văn hóa Việt sẽ cùng với văn hóa dân tộc Việt
làm nhiệm vụ chọn lọc và phát triển văn hóa Phật giáo và văn hóa dân
tộc trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách./.
CHÚ THÍCH:
(1) Gồm các tài liệu lịch sử
giá trị hiện nay là :
- Phật giáo Việt Nam từ khởi
nguyên đến thế kỷ XIII (nguyên tác chữ Hán của Trần Văn Giáp, Tuệ Sỹ
dịch ra Việt ngữ, Tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh xb Sài Gòn 1967).
- Việt Nam Phật giáo sử lược.
Thích Mật Thể, Minh Đức, Đà Nẵng, 1970.
- Việt Nam Phật giáo sử luận.
Nguyễn Lang, nhà xuất bản văn học, Hà Nội, 1994.
- Lịch sử Phật giáo Việt Nam,
Nguyễn Tài Thư (chủ biên) nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 1988.
(2) Sách A Corelated History of the
far East của Maria Penkala ghi : "C. 240 Buddist introduced into Ceylon by
Mahendra, Son of Asoka, Kingdom of Au Lac, The history of the Black river".
(3) Lịch sử Bang giao Việt Nam
và Đông Nam Á, GS TS Phan Lạc Tuyên, viện đào tạo mở rộng khoa Đông Nam
Á Học, Thành Phố Hồ Chí Minh, 1993.
(4) Bài "Phải chăng Đồ Sơn
là nơi đầu tiên nước ta tiếp xúc với Đạo Phật" trong sách Phật
giáo, văn hóa và dân tộc "trang 12, Hà Nội, 1990.
(5) Thiền tuyển Tập Anh, trang
98. Lê Mạnh Thát, bản Ronéo, 1976.
(6) "Những con đường tơ lụa"
tạp chí Unesco số tháng 3 năm 1989. Ferdinad Von Richthojen, một nhà địa lý,
địa chất người Đức, gọi những con đường thương mại nối liền Đông
Tây ấy là Seidenstrassen. Đó là con đường truyền bá tư tưởng, kỹ thuật,
tôn giáo, nghệ thuật và đã góp phần vào sự giao phối giữa các nền văn
minh.
(7) Lịch sử Phật giáo thế giới,
tập II, Tịnh Hải pháp sư, nhà xuất bản Đại Học và giáo dục chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1992.
(8) Phật giáo với dân tộc,
trang 2, Thích Thanh Từ, thành hội Phật giáo TP. HCM xuất bản, 1992.
(9) Theo Tìm về bản sắc văn hóa
Việt Nam, trang 483, tiến sĩ Trần Ngọc Thêm, NXB TP. HCM 1996.
(10) Tiền thân chùa Một Cột
(Hà Nội) sau này, chùa Diên Hựu xây năm 1049 với quy mô rất to lớn.
(11) Theo tài liệu mới nhất là
sách Nam Hà Di tích và thắng cảnh (Sở VHTT Nam Hà, 1994).
(12) Văn phòng II được dời về
thiền viện Quảng (số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, TP. HCM) từ đầu
năm 1993.
(13) Hội nghị tổ chức tại Thiền
viện Quảng Đức, TP. Hồ Chí Minh, từ ngày 13 - 16 / 01/ 1994.
(14) Con số có thể cao hơn vì việc
thống kê chưa hoàn tất.
(15) Theo Bách Gia Chư Tử, NXB TP.
HCM, 1992.
(16) Có các vị như Võ Tắc
Thiên, Lương Võ Đế
(17) Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi
và Pháp Điển.
(18) Sự tích Man Nương kể rằng
: "Khi đẽo tới cây, chỗ ngày xưa sư khâu Đà La giấu người con gái,
thì chỗ ấy đã hóa thành một phiến đá rất cứng. Búa rìu của thợ đẽo
vào bị sứt mẻ hết. Mới lấy phiến lá ném xuống nước, phiến đá ấy
phóng ra hào quang... mọi người thấy vậy liền vớt phiến đá lên và rước
vào điện Phật mà thờ". Theo lịch sử Phật giáo Việt Nam, Hà Nội,
1988, trang 49.
(19) Xem bài "Đạo Phật Việt
Nam qua cái nhìn của hai Phật tử Đan Mạch". Thích Nguyên Tạng phỏng
vấn ông Ole Felsby và bác sĩ Pia Jeppesen, Báo Giác Ngộ, số 2, tháng 5, 1996.
Trang 67 - 96.
(20) Gồm có Thiền sư Thích Minh
Châu, TS Thích Thiện Siêu, TS Kim Cương Tử và TS Thích Danh Nhưỡng là Đại
biểu Quốc hội của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam khóa VIII
& IX.
(21) Theo Văn hóa Việt Nam tổng hợp
1989 - 1995 - NXB văn hóa văn nghệ Trung ương, Hà Nội 1989.
(22) Ngọc Sơn, là đền, nhưng dân
gian cũng có khi gọi là chùa, vả chăng trong ý niệm của người Việt Nam,
nhiều khi đền và chùa vừa là hai vừa là một.
(23) Theo Từ Điển văn học tập
I, trang 167, NXB KHXH, Hà Nội 1983.
(24) J. Leiba (1912 - 1941), ông sinh
ra tại Yên Bái nên cha mẹ đã đặt tên cho ông là Lê Văn Bái, khi lấy
bút hiệu ông đã xếp lại các thứ tự chữ trong tên thành Leiba và đã
thêm chữ J ở đầu. Gọi J. Leiba, chúng ta thấy cái tên chẳng Việt Nam
chút nào nhưng thơ của ông mang lại nhiều màu sắc cổ điển của Việt
Nam.
(25) "Các tỉnh miền
Nam", trang 117 Sơn Nam, NXb Đông Phố, Sài Gòn, 1974.
(26) Mỹ thuật thời nay, NXB Mỹ
thuật, Hà Nội 1989.
(27) Theo "Ngôi chùa và văn hóa
làng xã Việt Nam", luận văn cao học ngữ văn, của Võ Văn Tường trường
đại học tổng hợp TP. HCM, 1994 trang 60.
(28) Hiện được tôn trí tại viện
Bảo tàng Mỹ thuật, Hà Nội, tượng được dựng từ thế kỷ thứ 16,
cao 2,90m.
(29) Tạp chí Phật giáoViệt Nam,
quan điểm của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, số ra ngày 15/8/1956.
(30) Văn hóa Việt Nam tổng hợp...
1989 - 1995 - NXB văn hóa văn nghệ Trung ương, Hà Nội 1989.
-------------------------
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
A. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN ĐỀ
:
1. ĐÀO DUY ANH, (1992) , Việt Nam văn
hóa sử cương. NXB TP. HCM.
2. TOAN ÁNH, (1969) , Nếp cũ-tín ngưỡng Việt Nam, NXB Hoa Đăng, Sài Gòn,.
3. MINH CHI, (1994) , Tôn giáo học và tôn giáo vùng Đông Á, trường Đại
học tổng hợp, TPHCM XB,.
4. MINH CHI, (1995) , Các vấn đề Phật học, Viện Nghiên Cứu Phật Học
VN, XB.
5. MINH CHI, (tháng 12/1995), Về sự hội nhập của Phật giáo vào nên văn
hóa VN, tạp chí Giao Điểm, Hoa Kỳ,.
6. MINH CHI, (tháng 1/1995) , Vai trò của tôn giáo trong sách lược phát triển
của đất nước, tập văn thành đạo số 39, ban văn hóa Trung ương XB,.
7. MINH CHÂU VÀ MINH CHI, (1991) , Từ điển Phật Học Việt Nam, NXB TP. HCM
khoa học xã hội, Hà Nội,.
8. NGUYỄN HIỀN ĐỨC, (1995) , Lịch sử Phật giáo đàng trong, NXB TP.
HCM,.
9. THÍCH MÃN GIÁC, (1997) , Phật học, thiền học và thi ca... Tu thư đại
học Vạn Hạnh,.
10. TRẦN VĂN GIÁP, (1968) , Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế
kỷ thứ 13 (tiếng Pháp) Tuệ Sỹ dịch, Vạn Hạnh XB,.
11. NGUYỄN LANG, (1994) , Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I, II và III,
NXB Hà Nội,.
12. NGUYỄN BÁ LĂNG, (1972) , Kiến trúc Phật giáo VN, tập I, Vạn Hạnh
XB,.
13. TRẦN HỒNG LIÊN, (1996) , Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975,
NXB TP. HCM,.
14. THÍCH NHẤT HẠNH, (1965) , Đạo Phật Hiện Đại hóa, lá bối XB, Sài
Gòn,.
15. THÍCH THIỆN HOA, (1970) , 50 năm chấn hưng Phật giáo, tập I, Viện
Hóa Đạo XB, Sài Gòn,.
16. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Phật học tinh hoa, một tổng hợp đạo lý,
Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
17. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Trao cho thời đại một nội dung Phật chất,
Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
18. NGUYỄN PHAN QUANG, (1993) , Chùa Việt Nam qua ca dao, bản vi tính trong kỷ
yếu "Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại", Viện nghiên cứu
Phật học VN, TP. HCM,.
19. LÊ VĂN SIÊU, (1964) , Văn minh Việt Nam, Nam chi tùng thư Sài Gòn,.
20. THÍCH NGUYÊN TẠNG, (tháng 5/1996) , Đạo Phật Việt Nam qua cái nhìn của
hai Phật tử Đan Mạch, Nguyệt San Giác Ngộ, số 2, TP. HCM.
21. NGUYỄN TÀI THƯ, (chủ biên), (1988) , Lịch sử Phật giáo Việt Nam,
NXB KHXH, Hà Nội,.
22. THÍCH MẬT THỂ, (1960) , Việt Nam Phật giáo sử lược, Minh Đức XB,
Sài Gòn.
23. TRẦN NGỌC THÊM, (1996) , Tìm về bản sắc dân tộc VN, NXB TP. HCM,.
24. THÍCH TÂM THIỆN, (1995 ), Tư tưởng Mỹ học Phật giáo, Thành hội Phật
giáo TP. HCM xb,.
25. NGUYỄN ĐĂNG THỤC, (1992) , Lịch sử tư tưởng VN, Tập I, NXB TP.
HCM,.
26. DƯƠNG KINH THÀNH (Giác Đạo), (tháng 01/1995) , Bàn về nghệ thuật
sân khấu Phật giáo (cải lương), Tập văn Thành Đạo, số 31, TP. HCM.
27. THÍCH THANH TỪ, (1992) , Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20, Thành hội
Phật giáo TP. HCM xb,.
28. THÍCH THANH TỪ, (1992) , Bước đầu học Phật, Thành hội Phật giáo
TP. HCM xb,.
29. THÍCH THANH TỪ, (1991) , Bước đầu học Phật, Thành hội Phật giáo
TP. HCM xb,.
30. LÊ MẠNH THÁT, (1982) , Nghiên cứu về Mâu Tử, Tập I, Tu thư Đại học
Vạn Hạnh,.
31. THÍCH MINH TUỆ, (1993.) , Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật
giáo TP. HCM xb,
32. VÕ VĂN TƯỜNG, (1992) , Việt Nam Danh Lam cổ tử, NXB KHXH, Hà Hội,.
33. VÕ VĂN TƯỜNG, (1995) , Những ngôi chùa nổi tiếng VN, NXB Thông tin,
Hà Nội,.
34. VŨ TAM LANG, (1991) , Kiến trúc cổ Việt Nam, NXB KHXH, Hà Hội,.
35. PHAN LẠC TUYÊN, (1993) , Lịch sử bang giáo VN và Đông Nam Á, Bộ giáo
dục đào tạo TP. HCM xb,.
B. TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUNG :
36. TỪ ĐIỂN VĂN HỌC, Tập I và
II, NXB KHXH, Hà Nội 1983-1984.
37. ALAMANACH NHỮNG NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI, NXB Văn hóa Thông tin, HN, 1996.
38. TẠP CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM, (từ năm 195 đến năm 1996).
39. TẠP CHÍ VĂN HÓA Á CHÂU, (từ năm 1958 đến năm 1966).
40. TẠP CHÍ VẠN HẠNH (từ năm 1965 đến năm 1966).
41. TẠP CHÍ TỪ QUANG (từ năm 1967 đến năm 1973).
42. TẠP CHÍ HOẰNG PHÁP (từ năm1973 đến năm 1975).
43. TẬP VĂN PHẬT GIÁO (từ năm 1989 đến năm 1975).
44. TẠP CHÍ NGUỒN SÁNG (từ năm 1995 đến năm 1996).
45. TẠP CHÍ VĂN (từ năm 1988 đến năm 1996).
46. TẠP CHÍ UNESCO (từ năm 1988 đến năm 1996).
47. BÁO GIÁC NGỘ (từ năm 1980 đến năm 1996).
48. BÁO TUỔI TRẺ CHỦ NHẬT (từ năm 1988 đến năm 1996).
49. MỸ THUẬT THỜI NAY (từ năm 1988 đến năm 1992).
50. KIẾN THỨC NGÀY NAY (từ năm 1988 đến năm1996).
(Tu Viện Quảng Đức)