Ý NGHĨA CỦA CHÂN NGÔN THẦN CHÚ
TRONG VIỆC CHỮA LÀNH
Vô Úy
Chân
ngôn là một đơn âm hoặc chuỗi âm thanh đầy năng lực, những âm thanh này
chứa đựng hàng loạt sóng âm ba và năng lượng. Khi trì tụng, chân ngôn
không chỉ giúp tiêu trừ bệnh tật, phiền não, nghiệp chướng mà còn có
năng lực kết nối, hợp nhất tâm chúng ta với những tầng tâm thức cao hơn.
Chân ngôn hay thần chú như vậy là chìa khóa trực tiếp giúp hiển lộ vũ
trụ pháp giới bên ngoài và bên trong, là công cụ nhanh chóng, nhẹ nhàng,
hiệu quả để tiếp cận những kênh năng lượng linh thiêng từ các chiều tâm
thức cao hơn. Công lực của chân ngôn phụ thuộc vào trạng thái thiền
định và nội chứng của bạn và đặc biệt vào sự hướng đạo chỉ dẫn từ một
bậc Thầy tâm linh giác ngộ.
Chân ngôn thần chú là sự kết hợp của
các chữ chủng tử linh thiêng phát ra những năng lượng tâm linh tích
cực, một chân ngôn hay còn gọi là một Mantra không phải là lời cầu
nguyện mà là bản chất sâu kín của thực tại nên đôi khi người ta trì tụng
như là tán tụng. Trong tiếng Phạn, từ "Man" là "suy nghĩ", trong khi từ
"Tra" có nghĩa là "giải phóng bản thân khỏi thế giới vật chất".Việc kết
hợp nghĩa hai từ này tạo thành "Mantra" có nghĩa là tư tưởng được giải
thoát và bảo vệ hay còn gọi là Bảo hộ tâm.
Chân ngôn bí mật và linh thiêng diễn đạt những âm thanh và tinh túy
năng lượng cơ bản để mang lại sự hài hòa của những yếu tố giữa thân và
tâm.Trì tụng một chân ngôn đem lại năng lượng chữa lành kỳ lạ và giúp
chúng ta đạt được sự cân bằng giữa thân và tinh thần, giống như thức ăn
cung cấp cho cơ thể thì chân ngôn thần chú nuôi dưỡng chữa lành tâm hồn
cho mỗi chúng ta. Theo cách này, chân ngôn chính là sự hỗ trợ tinh thần
đầy năng lực, nó không chỉ là những âm thanh theo những quy ước mà là sự
cộng hưởng những năng lượng nguyên sơ vi tế đã sẵn có trong mỗi chúng
ta. Khi trì tụng chân ngôn sóng âm ba được cộng hưởng phát ra những năng
lượng chữa lành nhẹ nhàng khắp thân tâm chúng ta. Diễn đạt dưới góc độ
tâm linh, chân ngôn là phương tiện giao tiếp, kết nối của Bản Tôn, chư
Phật và Bồ Tát với chúng sinh để có thể đem lại sự tịnh hóa nghiệp
chướng và chứng ngộ cho hết thảy vạn loài hữu tình.
Về cách thức, nói chung, người mới trì tụng chân ngôn đầu tiên nên
trì tụng để nghe rõ âm thanh mình trì tụng để sóng âm ba của chân ngôn
phát ra lan tỏa sâu hơn vào tim và cuối cùng chúng ta có thể an trụ
trong sự an tịnh, để siêu thanh bên trong tự nhậm vận hoạt động. Trên
quan điểm thực hành, điều này vô cùng quan trọng.
Có một số chân ngôn mà chúng ta phải trì tụng lặng lẽ trong tự thân.
Tuy nhiên, có một vài chân ngôn không được phép trì tụng nếu không được
nhận quán đỉnh hoặc khẩu truyền từ bậc Kim cương Thượng sư. Trong trường
hợp này, chúng ta cần đón nhận sự hướng đạo chính thức về cách sử dụng
chân ngôn. Sở dĩ bậc Thầy tâm linh cần truyền trao chân ngôn thần chú
cho đệ tử vì khi bậc Thầy giác ngộ tán tụng khẩu truyền cho đệ tử mình,
cũng là ban truyền dòng ban phúc gia trì không gián đoạn để các đệ tử có
năng lực gia trì và tiếp tục thực hành chân ngôn đạt được thành tựu.
Nhờ vậy, năng lực và công đức tu trì chân ngôn sẽ tăng trưởng theo cấp
số nhân. Trong thiền định Phật giáo, nhiều thứ có thể được sử dụng làm
đối tượng của thiền định như hơi thở được sử dụng để nhiếp tâm tránh
niệm, việc tỉnh giác lúc đi được sử dụng làm thiền định đi, những cảm
xúc được sử dụng làm sự tập trung trong sự phát triển của lòng từ bi và
quán tưởng hình ảnh và đối tượng được sử dụng trong việc thiền quán.
Chân ngôn là âm thanh, từ hay cụm từ cũng được sử dụng là đối tượng của
thiền định, âm thanh của chân ngôn có thể được trì tụng to hay trì tụng
thầm.
Chân ngôn liên quan đến các yếu tố lịch sử cụ thể hay các Bản Tôn
nguyên mẫu hay cũng có thể không có liên quan những điều trên. Ví dụ
chân ngôn liên quan đến Đức Phật lịch sử là: "Om muni muni mahamuni
Shakyamuni svaha", chân ngôn liên quan đến Bản tôn Đức Avalokiteshvara
Quán Thế Âm Bồ Tát là "Om mani padme hum", hay Chân ngôn Prajnaparamita
Bát Nhã Ba la mật "Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha" không chỉ
liên quan với một bậc giác ngộ mà còn với một bộ kinh nổi tiếng là
kinh Bát Nhã ba-la-mật (trí tuệ hoàn hảo).
Vô Úy