THIỀN PHẬT GIÁO
NGUYÊN THỦY VÀ PHÁT TRIỂN
Tác giả: Viên Minh
Mục Lục
|
|
Dẫn
nhập
I. Thiền định trong Phật Giáo Nguyên Thủy
I.1. Định nghĩa
I.2. Đối tượng thiền định
I.3. Tánh định hành giả
I.4. Đề mục thiền định và định chứng
I.5. Năm triền cái
I.6. Năm thiền chi
I.7. Các bậc thiền và các chi thiền
I.8. Tiến trình tâm nhập định
I.9. Năm pháp thuần thục
I.10. Tứ như ý túc
I.11. Ngũ thông và thắng trí
I.12. Lợi ích của thiền định
II. Thiền
Tuệ trong Phật Giáo Nguyên Thủy
II.1. Định nghĩa
II.2. Nhận thức
II.3. Đối tượng
II.4. Bốn niệm xứ
II.5. Tánh tuệ hành giả và các niệm xứ
II.6. Mười sáu tuệ chứng
II.7. Bảy thanh tịnh
|
III. So
sánh Thiền Nguyên Thủy và Thiền Giáo Tông
III.1.1. Lục diệu
Pháp Môn
III.1.2. Đối chiếu Lục Diệu Pháp Môn với Thiền Ànàpànassati
III.2.1. Tịnh Độ Tông
III.2.2 Đối chiếu phương pháp niệm Phật A-di-đà với pháp môn Buddhanussati
III.3. Đối chiếu Thiền Nhĩ Căn Viên Thông với Thiền Nguyên Thủy
IV. So
sánh Thiền Vipassana với Thiền Tông
IV.1. Thiền Tông
Tây Trúc
IV.2. Thiền Tông Đông Độ
IV.3. Vị trí của Thiền Định trong Thiền Vipassana và Thiền Tông
IV.3.1. Định trong Thiền Vipassana
IV.3.2. Định đối với Thiền Tông.
|
|
Lời nói đầu
Giáo án này lúc đầu được biên soạn
để giảng tại Học Viện Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh khóa 6 và lớp Đào Tạo
Phiên Dịch Hán Tạng tổ chức đặc biệt cho một số Tăng Ni hậu đại học tại Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Sau đó được bổ sung thêm cho các lớp cử nhân Phật
học khoá 7.
Trước đây nhiều Tăng Ni, Phật tử Nam
Bắc Tông cho rằng thiền Phật giáo Nguyên Thủy và thiền Phật giáo Phát Triển là
hai loại thiền hoàn toàn khác biệt và thậm chí bên nào cũng tự cho rằng thiền
của tông môn mình hay hơn, đúng hơn. Tất nhiên điều này phát xuất từ sự nghiên
cứu, học hỏi một chiều, nặng cảm tính hơn là sự đối chiếu, so sánh một cách
nghiêm túc, khách quan.
Trước khi nói đến thiền, chúng ta
cần tìm hiểu hai khuynh hướng đang tồn tại trong Phật giáo, đó là khuynh hướng
Nguyên Thủy và khuynh hướng Phát Triển.
Những người theo Phật giáo Nguyên
Thủy có khuynh hướng bảo nguyên những lời dạy của chính đức Phật Gotama (Sakya
Muni) trong suốt 45 năm hoằng hóa độ sinh. Những lời dạy này được kết tập lần
đầu tiên tại Ấn Độ ba tháng sau đức Phật Niết-bàn cho đến lần thứ sáu tại
Yangon, Myanmar, 2500 năm sau đức Phật Niết-bàn. Cả sáu lần kết tập ấy đều
trùng tuyên bằng tiếng Pàḷi và không thêm bớt. Mặc dù từ lần kết tập thứ ba đã
bắt đầu có thêm phần chú giải, rồi phụ chú và tiểu phụ chú, nhưng vẫn không xem
là chánh tạng. Về sau Phật giáo Nguyên Thủy còn được gọi là Thượng Tọa Bộ vì
phần lớn các vị trưởng lão theo khuynh hướng bảo nguyên.
Những người theo Phật giáo Phát
Triển có khuynh hướng vận dụng rộng rãi giáo lý của đức Phật theo nguyên tắc
khế lý khế cơ, nghĩa là trên hợp với Phật lý, dưới ứng với căn cơ của của các
tầng lớp quần chúng khác nhau trong xã hội. Quá trình phát triển bao gồm ba
giai đoạn:
- Giai đoạn Tiểu Thừa, phát triển từ
khoảng 200 năm (đánh dấu bằng lần kết tập Ngũ Tạng Sanskrit), đến 600 năm sau
đức Phật Niết-bàn. Tiểu Thừa phân thành 18 đến 25 phái, điển hình là Nhất Thiết
Hữu Bộ. Hiện nay Tiểu Thừa không còn tồn tại, ngoại trừ còn lại một số kinh
luận như năm bộ Kinh A-hàm (Agama), Câu-xá Luận, Thành Thật Luận v.v…
- Giai đoạn Đại Thừa, phát triển từ
600 năm đến 1100 năm sau đức Phật Niết-bàn, mở đầu là Mã Minh. Đại Thừa cũng
phân thành nhiều phái, điển hình là thập đại môn phái, như Mật Tông (Kim Cang
Thừa), Tịnh Độ Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nghiêm Tông, Pháp Hoa Tông… dựa trên
những Kinh hoặc Luận do các vị Tổ biên soạn.
- Giai đoạn Tối Thượng Thừa, tức
Thiền Tông, phát triển từ 1100 năm sau đức Phật Niết-bàn cho đến ngày nay. Sau
đời Lục Tổ Huệ Năng, Thiền Tông Trung Hoa lại chia thành năm phái: Lâm Tế, Tào
Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Qui Ngưỡng.
Hai khuynh hướng Nguyên Thủy và Phát
Triển tuy có một vài quan điểm dị biệt về lập luận và biện pháp, nhưng những
nguyên lý cốt lõi nhất mà đức Phật tuyên thuyết thì vẫn là nền tảng chung của
hai hệ phái.
Sự phân chia Phật giáo thành hai
khuynh hướng hay hai hệ phái không phải là một khuyết điểm, thực ra đó chính là
một ưu điểm của Đạo Phật. Nhờ có khuynh hướng Nguyên Thủy mà lời dạy của đức
Phật đã được bảo tồn nguyên vẹn cho đến ngày nay. Và nhờ có khuynh hướng Phát
Triển mà Đạo Phật có thể vận dụng để đáp ứng nhiều căn cơ trình độ, nhiều xứ sở
và nhiều thời đại khác nhau.
Bảo tồn và phát huy là hai yếu tố hỗ
tương cần thiết, không thể thiếu một trong quá trình hoằng hóa độ sinh của Đạo
Phật. Chính nhờ sự hỗ tương này mà chúng ta có thể rộng đường đối chiếu, so
sánh để tìm ra cốt lõi chung của con đường giác ngộ giải thoát mà đức Phật đã
khai thị.
Nỗ lực của chúng tôi là muốn chứng
minh rằng tinh hoa, cốt lõi của Phật giáo vẫn là một dù hình thức bên ngoài hay
ngôn ngữ sử dụng đôi khi có vẻ như không được hoàn toàn nhất quán giữa các tông
phái. Những mâu thuẫn đối kháng chỉ phát xuất từ kiến giải chủ quan thiên lệch
của mỗi cá nhân hơn là sự bất đồng giáo hệ.
Những điều chúng tôi trình bày trong
tập sách này chỉ là những nhận xét khái quát từ sự nghiên cứu, học hỏi và chiêm
nghiệm cá nhân hơn là một sự đối chiếu có tính văn học trên qui mô kinh luận và
các ngữ lục. Vì vậy, đây chỉ là một số gợi ý để những người sau bổ khuyết và
triển khai thành một công trình đối chiếu qui mô hơn.
Có những trích dẫn trong tạp sách
này dựa vào trí nhớ hơn là tham khảo lại kinh sách nên phần lớn thiếu xuất xứ
và đôi khi chỉ cốt lấy ý chứ không đúng nguyên văn trong các nguyên tác, kính
mong được sự góp ý bổ khuyết.
Trân trọng
Tổ Đình Bửu Long, ngày 30/11/2007
Tỳ Kheo Viên Minh
THIỀN PHẬT GIÁO -
NGUYÊN THỦY VÀ PHÁT TRIỂN
Dẫn
nhập
Thiền (Trung Quốc) và Zen (Nhật Bản)
có nguồn gốc phiên âm từ Jhāna trong văn học Pāḷi Phật Giáo Nguyên Thủy, hay
Dhyāna trong ngôn ngữ Sanskrit Phật Giáo Phát Triển, nhưng về sau các tông phái
sử dụng từ thiền với nhiều ý nghĩa khác nhau và thay đổi tùy thời.
Trong Thiền Tông Đông Độ thiền là
kiến tánh chứ không phải tịnh và định, nhưng trong văn học Pāḷi, Phật giáo
Nguyên Thủy, Jhāna lại dùng để chỉ tịnh hay cận hành (upacāra) như niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng… và định hay an chỉ (appanā) để gọi những trạng thái thiền
chứng theo nội dung các thiền chi như đệ nhất thiền (paṭṭhamajjhāna), đệ nhị
thiền (dutiyajjhāna), đệ tam thiền (tatiyajjhāna), và đệ tứ thiền
(catutthajjhāna) trong các bậc định thuộc sắc giới thiền (rūpajjhāna). Về sau
Jhāna còn dùng để gọi vô sắc giới thiền (arūpajjhāna), tựu trung vẫn là thiền
định. Từ Pāḷi bhāvanā (tu tập, thực hành, tiến hành) được dùng cho cả thiền
định hay thiền chỉ (samatha bhāvanā) lẫn thiền tuệ hay thiền quán (vipassanā
bhāvanā).
Đối với Tịnh Độ Tông thì thiền là
niệm Phật A-Di-Đà và Mật Tông thiền là trì chú v.v... cho nên, ngày nay nói tới
thiền chúng ta cần phải xác định đó là loại thiền gì, thuộc tông phái nào thì
mới không lầm lẫn nội dung mà từ thiền ấy được sử dụng.
Để có thể so sánh tính chất đồng dị
giữa thiền nguyên thủy và thiền phát triển, chúng ta cần tìm hiểu và phân biệt
từng loại thiền của cả hai hệ thống nói trên.
1) Thiền định trong Phật Giáo Nguyên
Thủy.
2) Thiền tuệ trong Phật Giáo Nguyên
Thủy.
3) So sánh thiền nguyên thủy và một
số pháp môn thiền phát triển tiêu biểu theo Giáo Tông:
Lục Diệu Pháp Môn
Niệm Phật theo Tịnh Độ Tông
Thiền Nhĩ Căn Viên Thông theo Kinh
Lăng Nghiêm.
4) So sánh Thiền Vipassanā và Thiền
Tông Đông Độ.
I)
Thiền Định trong Phật Giáo Nguyên Thủy
I.1) ĐỊNH NGHĨA: Thiền
định (samādhi) hay thiền chỉ (samatha bhāvanā) có mục đích chế ngự 5
chướng ngại của định gọi là triền cái (nīvaraṇa) và làm cho tâm an trú,
thuộc ba chi định phần trong Bát Thánh Đạo (Aṭṭhaṅgik’ ariya magga)
tương ứng với ba mức độ định khác nhau:
a) Chánh tinh tấn (sammā vāyāmo): An
trú nhờ cố gắng giữ nhất tâm trên đối tượng sơ tướng (parikamma nimitta)
và thô tướng (uggha nimitta). An trú này gọi là chuẩn bị định (parikamma
samādhi).
b) Chánh niệm (sammā sati): An trú
nhờ duy trì nhất tâm trên đối tượng quang tướng (paṭibhāga nimitta). An
trú này gọi là cận hành định (upacāra samādhi) hay tịnh thuộc dục giới
định.
c) Chánh định (sammā samādhi): An
trú nhờ nhất tâm bất động trên đối tượng quang tướng (paṭibhāga
nimitta). An trú này được gọi là an chỉ định (appanā samādhi) hay định
sắc giới và định vô sắc giới.
Sơ tướng: là hiện vật được tạo ra
hay có sẵn trong thiên nhiên được hành giả dùng làm đối tượng thiền định. Ví dụ
như một hình tròn màu xanh (được tạo ra) hay ngọn lá xanh (thiên nhiên) mà hành
giả dùng để tập chú với mục đích định tâm.
Thô tướng: sau khi tập chú với tưởng
đủ mạnh để sao chép sơ tướng thành hình ảnh tương tự bên trong gọi là thô tướng
hay tợ tướng, bấy giờ hành giả tạm thời bỏ sơ tướng bên ngoài để tập chú vào
thô tướng bên trong.
Quang tướng: nếu chú tâm trên thô
tướng đúng mức tướng này sẽ phát ra ánh sáng nên được gọi là quang tướng. Quang
tướng là sắc do tưởng sinh, vì vậy, thiền lấy sắc tưởng này làm đối tượng để
đạt được an chỉ định được gọi là thiền sắc giới hay thiền hữu sắc.
I.2) ĐỐI TƯỢNG thiền định
(kammaṭṭhāna): Có 40 đối tượng làm công án hay đề mục thiền định:
1) 10 đề mục hình tròn (kasiṇa):
Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, hư không.
2) 10 đề mục tùy niệm (anussati):
Phật, Pháp, Tăng, giới, thí, thiên, sự chết, 32 thể trược, tịch tịnh, hơi thở.
3) 10 đề mục tử thi bất tịnh
(asubha): Tử thi mới chết, tử thi bầm tím, tử thi chảy máu, tử thi chảy mủ, tử
thi bị đâm thủng, tử thi có giòi, tử thi bị chặt đứt đoạn, tử thi bị cắn xé, tử
thi rời rạc, tử thi chỉ còn xương.
4) 4 đề mục tâm vô lượng
(appamaññā): Tâm từ vô lượng, tâm bi vô lượng, tâm hỷ vô lượng và tâm xả vô
lượng.
5) 1 đề mục quán vật thực bất tịnh.
6) 1 đề mục phân tích tứ đại: Đất,
nước, lửa, gió.
7) 4 đề mục thiền vô sắc:
- “Hư không là vô biên” (ākāso
ananto): tưởng không này làm đối tượng của thiền hư không vô biên xứ
(ākāsānañcāyatana).
- “Thức là vô biên” (viññāṇaṃ
anantaṃ): tưởng không này làm đối tượng của thiền thức vô biên xứ
(viññāṇānañcāyatana).
- “Vô sở hữu” hay “không có gì cả”
(natthi kiñci): tưởng không này làm đối tượng của thiền vô sở hữu xứ
(ākiñcaññāyatana).
- “Vắng lặng, vi tế” (santaṃ,
paṇitaṃ): tưởng không này làm đối tượng của thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ
(nevasaññānāsaññāyatana).
I.3) TÁNH ĐỊNH HÀNH GIẢ
(carita): Hành giả hành thiền định có 6 loại tánh:
1) Tánh tham (rāga): hay tánh
ái là tánh nặng về tham ái, thường ham thích, mê đắm, dính mắc trong các đối
tượng dục giới khả ái, khả hỷ như sắc, thanh, hương, vị, xúc. Người có tánh
tham nên hành 10 đề mục tử thi bất tịnh, 1 đề mục về 32 thể trược, vì những đề
mục này có thể chế ngự được lòng tham ái, nhưng không nên hành 4 đề mục vô
lượng tâm: Từ, bi, hỷ, xả và 4 đề mục xanh, vàng, đỏ, trắng vì những đề mục này
dễ sinh tham ái.
2) Tánh sân (dosa): là tánh
nặng về sân hận, thường biểu hiện trạng thái bất mãn, trái ý, không vừa lòng,
nóng nảy, căng thẳng, bực bội… Người có tánh sân nên hành 4 đề mục vô lượng
tâm: Từ, bi, hỷ, xả và 4 đề mục xanh, vàng, đỏ, trắng vì những đề mục này làm
cho tâm dễ lắng dịu, nhưng không nên hành 10 đề mục tử thi bất tịnh, 1 đề mục
về 32 thể trược vì những đề mục này dễ làm cho tâm chán nản bực bội thêm.
3) Tánh si (moha): là
tánh nặng về si mê, thường thiếu sáng suốt, không tỉnh táo, hay thụ động, mê
muội nên dễ bị hôn trầm thụy miên. Người có tánh si nên hành đề mục hơi thở để
dễ tỉnh táo, trong sáng và linh hoạt hơn, nhưng không nên niệm sự chết, niệm
tịch tịnh, quán vật thực bất tịnh, phân tích tứ đại vì những đề mục này quá
phức tạp đối với tâm tánh này.
4) Tánh tầm (vitakka): là
tánh nặng về suy nghĩ, tìm tòi nên tâm luôn lăng xăng với những suy luận, phê
phán, đánh giá... và dễ dàng trở nên trạo hối bất an. Người có tánh tầm cũng
giống như tánh si thích hợp với đề mục hơi thở. Không hợp với niệm sự chết,
niệm tịch tịnh, quán vật thực bất tịnh và phân tích tứ đại.
5) Tánh tín (saddhā): là tánh
nặng về tin tưởng, thường cung kính, ngưỡng mộ, dễ nghe, dễ dạy. Người có tánh
tín nên hành 6 đề mục tùy niệm: Niệm Phật, Pháp, Tăng, giới, thí, thiên vì nhờ
tin nơi những đức tính cao thượng này mà tâm dễ ổn định.
6) Tánh giác (buddhi): là
tánh sáng suốt, tỉnh thức nên tâm ít vọng động, thường trong sáng, bén nhạy, vi
tế. Người có tánh giác hợp với niệm sự chết, niệm tịch tịnh, quán vật thực bất
tịnh, phân tích tứ đại vì sự trong sáng, bén nhạy và vi tế của tâm hành giả có
tánh giác dễ an trú trong các đề mục vi tế này.
Cả 6 tánh đều hợp với 6 đề mục
kasiṇa: Đất, nước, lửa, gió, ánh sáng và hư không.
I.4) ĐỀ MỤC THIỀN ĐỊNH và ĐỊNH
CHỨNG:
1) 10 đề mục chỉ chứng cận định:
8 đề mục tùy niệm: Phật, Pháp, Tăng, giới, thí, thiên, sự chết, tịch tịnh và 2
đề mục: quán vật thực bất tịnh, phân tích tứ đại chỉ giúp hành giả đạt được cận
định vì những đề mục này còn tư duy và ngôn ngữ không thể vào sơ thiền.
2) 11 đề mục chỉ chứng sơ thiền:
10 đề mục tử thi, 1 đề mục 32 thể trược chỉ giúp hành giả đạt được sơ thiền,
không thể sâu hơn vì những đề mục này đòi hỏi phải duy trì tầm và tứ. Khi không
còn tầm tứ mới vào được nhị thiền.
3) 3 đề mục chỉ chứng đến đệ tam
thiền: 3 đề mục từ, bi và hỷ chỉ giúp hành giả chứng từ sơ thiền đến
tam thiền thôi vì đến tứ thiền thì đã có xả thay thế.
4) 1 đề mục chỉ chứng tứ thiền:
đề mục xả chỉ giúp hành giả đạt được tứ thiền vì ở tứ thiền xả mới thật sự xuất
hiện mạnh mẽ. Thực ra ở các bậc thiền khác đều có xả nhưng chưa đủ mạnh.
5) 11 đề mục chứng tất cả thiền sắc
giới: 10 đề mục kasiṇa, 1 đề mục hơi thở có thể giúp hành giả chứng
được từ sơ thiền đến tứ thiền sắc giới vì những đề mục này rất cụ thể, rõ ràng
và ổn định hơn các đề mục khác nên không đòi hỏi phải tin tưởng hay suy luận gì
cả nhờ vậy tâm dễ chuyên nhất hơn.
6) 4 đề mục chứng 4 bậc thiền vô sắc
tương đương: sau khi đã đạt được đệ tứ thiền hữu sắc hành giả sử dụng 4
đề mục tưởng không làm đối tượng để chứng đắc 4 thiền vô sắc.
- Đề mục “hư không là vô biên” chỉ
giúp hành giả chứng không vô biên xứ thiền.
- Đề mục “thức là vô biên” chỉ giúp
hành giả chứng thức vô biên xứ thiền.
- Đề mục “không có gì cả” chỉ giúp
hành giả chứng vô sở hữu xứ thiền.
- Đề mục “vắng lặng, vi tế”
chỉ giúp hành giả chứng phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền.
I.5) NĂM TRIỀN CÁI (Nīvaraṇa):
Năm pháp này làm trở ngại và che lấp tâm định nên còn gọi là pháp chướng
ngại:
1) Tham dục (kāmacchanda):
tâm sở tham dục có trạng thái ưa thích, đam mê, ham muốn, dính mắc trong ngũ
dục làm cho tâm phân tán khó tập trung. Quá ham muốn đắc định cũng là một trở
ngại cho tâm định.
2) Sân hận (byāpāda): tâm sở
sân có trạng thái bất mãn, bất bình, không hài lòng hay đối kháng với cảnh
chướng ngại trong quá khứ hoặc nôn nóng muốn thoát khỏi nghịch cảnh, muốn khử
trừ điều kiện bất như ý trong hiện tại v.v... làm cho tâm nóng nảy, khó hoan
hỷ, an vui trong đề mục thiền định.
Ví dụ như khi đang cố gắng chú tâm
trên đề mục thiền bỗng nghe tiếng nhạc, nếu vì ưa thích mà tâm bị phân tán đó
là tham dục triền cái, nếu cố chống lại tiếng nhạc mà tâm không chuyên chú được
đó là sân hận triền cái.
3) Hôn trầm - thụy miên (thīna
– middha): tâm sở hôn trầm có trạng thái lười chán, buông xuôi, không hăng hái;
tâm sở thụy miên có trạng thái giãi đãi, trì trệ, ngái ngủ. Hai tâm sở này đồng
một tính chất ươn hèn, nhu nhược và thụ động khiến cho tâm không thể chú hướng
vào đề mục thiền định được.
4) Trạo – hối (uddhacca –
kukkucca): tâm sở trạo cử có trạng thái phóng tâm, suy nghĩ vẩn vơ, nhất là về
tương lai; tâm sở hối quá có trạng thái nóng nảy, ray rứt, hối tiếc về những
sai lầm hay tội lỗi đã làm trong quá khứ (tránh lầm lẫn với trạng thái ăn năn,
hối cải thuộc tâm thiện). Hai tâm sở này đồng một tính chất tháo động, bồn
chồn, bất an khiến cho tâm không an lạc trên đề mục thiền định.
Ví dụ như khi đang cố gắng chú tâm
được vài giây thì tâm đã trượt khỏi đề mục, nếu do lười chán hay giãi đãi mà
không an lạc đó là triền cái hôn trầm thụy miên, nếu do suy nghĩ vẩn vơ hay hối
tiếc bứt rứt mà không an ổn thì đó là triền cái trạo hối.
5) Nghi (vicikicchā): tâm
sở nghi có trạng thái lưỡng lự, phân vân, do dự, bất quyết. Tâm sở này làm cho
tâm không đứng vững được trên đề mục thiền định.
Hôn trầm thụy miên là tâm sở có
trạng thái thụ động, thiếu tinh tấn cho nên có mặt trong các tâm hữu trợ
(sasaṇkhārika). Trạo hối và nghi là tâm sở có trạng thái dao động, làm
cho tâm không sáng suốt cho nên thay nhau có mặt trong hai tâm si.
I.6) NĂM THIỀN CHI (Jhānaṇga):
năm tâm sở này là thành tố của các tâm thiền sắc giới giúp chế ngự năm triền
cái:
1) Tầm (vitakka):
là tâm sở có phận sự đánh thức tâm chú hướng đến đề mục thiền định, giống như
con bướm tìm thấy một bông hoa và hăng hái bay về huớng đó. Nhưng nếu tâm cứ bỏ
rơi đối tượng do trầm trệ, giãi đãi, giống như con bướm chưa tới được cành hoa
đã lười biếng bỏ cuộc, tức là tầm chưa đủ tinh cần nỗ lực để vượt qua trạng
thái buông xuôi tiêu cực. Do vậy khi tầm có đủ lực nhất hướng đến đối tượng thì
hôn trầm thụy miên bị chế ngự.
2) Tứ
(vicāra): là tâm sở có phận sự giữ tâm đứng vững trên đề mục thiền định, giống
như khi con bướm đã bay đến đóa hoa liền tìm cách giữ thăng bằng để đậu lại
trên đóa hoa đó. Nhưng nếu tâm chưa đứng yên trên đối tượng do còn lưỡng lự bất
quyết, giống như con bướm tuy đã đậu xuống mà vẫn chưa bám chắc lại hẳn nên còn
chớp chớp đôi cánh chực bay, tức là tứ chưa vững để dừng lại trên đề mục. Nhưng
khi tứ đã vững thì không còn trạng thái phân vân do dự của nghi.
3) Hỷ
(pīti): là tâm sở có trạng thái phấn chấn, hoan hỷ, sảng khoái trên đề mục
thiền định, như cảm thấy toàn thân rởn ốc (khuddakā), chớp sáng (khaṇikā), sóng
đưa (okkanti), lâng lâng bay bổng (ubbega), mát lạnh (pharaṇa), giống như khi
con bướm đang hứng thú thưởng thức mật hoa. Nhưng nếu tâm chưa phát sinh hỷ do
còn căng thẳng hay cố gắng quá mức, giống như con bướm chưa hút được mật nên
chưa vừa ý. Khi tâm đã tìm thấy sự thích thú hoan hỷ trên đề mục thiền định thì
sân mới được chế ngự.
4) Lạc
(sukha): là tâm sở có trạng thái bình yên, an ổn và thỏa mãn trên đề mục thiền
định, giống như con bướm đã hút mật đầy đủ, không còn bồn chồn lo lắng hay tìm
kiếm lăng xăng nữa, vì thế lạc chế ngự được trạo hối.
5) Nhất tâm (ekaggatā):
hay định là trạng thái an chỉ, bất động trên đề mục, giống như con bướm đã no
đủ nằm yên ngơi nghỉ trên đóa hoa, không ham muốn gì nữa, nhờ vậy tham dục được
chế ngự.
I.7) CÁC BẬC THIỀN và CÁC CHI
THIỀN:
1) Sơ thiền: Đầu
tiên, hành giả chọn một trong 40 đề mục thiền định nói trên, rồi sau khi ngồi
thoải mái với thân thư giãn, tâm buông xả, vị ấy tinh tấn hướng tâm tiếp cận
đối tượng, không quá cố gắng, cũng không lơ là, chỉ cần vừa đủ để tâm vượt qua
trạng thái hôn trầm thụy miên, không còn lười biếng giãi đãi thì có thể chú
hướng vững vàng về phía đối tượng ấy, đó là trạng thái tầm. Khi đã không còn
luời biếng bỏ rơi đối tượng, tâm bắt đầu tìm cách áp sát trên đối tượng, tâm
hành giả đã lấy lại được thăng bằng, không nghi hoặc, không phân vân do dự nữa,
đó là trạng thái tứ. Nhờ tâm thăng bằng, không nghi hoặc đã cảm giác được sự
vui thích, hứng thú trên đối tượng, không còn bực bội, chán nản hay sân hận
nữa, đó là trạng thái hỷ. Sự hoan hỷ, phấn khởi này lắng dịu dần, để lại một sự
bình an, tĩnh lặng, không còn một gợn sóng của dao động bất an, đó là trạng
thái lạc của thiền. Đến đây tâm đã có thể an trú, tĩnh chỉ, nhất tâm và hoàn
toàn quân bình (xả), không còn khởi lên một tham muốn nào đối với ngũ dục. Đó
là trạng thái nhất tâm hay an chỉ định. Với những trải nghiệm trên, hành giả đã
chứng sơ thiền sắc giới, tâm vị ấy có đủ năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất
tâm. Sơ thiền được Đức Phật mô tả là trạng thái “ly dục, ly bất thiện pháp,
chứng trú thiền thứ nhất, trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh, có tầm có tứ”.
2) Nhị thiền: Khi
hành giả đã thuần thục trong sơ thiền, có thể nhập xuất dễ dàng, nếu vị ấy
không quá thỏa thích đến nỗi bám víu trong thiền chứng này, thì hoặc là vị ấy
cố gắng từ bỏ tầm và tứ vì thấy chúng còn thô, hoặc do tâm định tiến triển hành
giả tự động vượt qua hai chi thiền này một cách dễ dàng để vào tâm thiền thứ
hai. Nhị thiền chỉ còn lại ba chi: hỷ, lạc, nhất tâm, được Đức Phật mô tả là
trạng thái “diệt tầm tứ, chứng trú thiền thứ hai, trạng thái hỷ lạc do định
sinh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm”.
3) Tam thiền: Cũng
trong chiều hướng phát triển tốt của tâm định, hành giả thấy hỷ vẫn còn thô,
chưa hoàn toàn an tĩnh nên đã cố gắng vượt qua, hoặc tâm định đủ sâu để vào
thẳng trạng thái an lạc vi tế của tâm thiền thứ ba, không cần qua tầm, tứ và hỷ
chỉ còn lại hai chi thiền: lạc, nhất tâm, được Đức Phật mô tả là trạng thái “ly
hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả
niệm lạc trú, chứng trú thiền thứ ba”.
4) Tứ thiền: Khi
định sâu hơn nữa, vi tế hơn nữa, thì ngay cả an lạc cũng được vượt qua, tâm
hành giả có thể đi thẳng vào định không cần qua tầm, tứ, hỷ, lạc, chỉ còn chi
thiền nhất tâm. Vì nhất tâm ở đây kiên cố hơn nhất tâm trong các bậc thiền
trước nên tâm hoàn toàn bất động, hoàn toàn vô cảm đối với thế giới bên ngoài,
vì vậy trong tâm tứ thiền có yếu tố xả luôn xuất hiện bên cạnh nhất tâm, và
cũng vì vậy tứ thiền được Đức Phật mô tả là trạng thái “xả lạc khổ, diệt hỷ ưu
đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm
thanh tịnh”.
5) Bốn thiền vô sắc:
tuy có đối tượng và bậc thiền khác nhau nhưng tâm vẫn có hai chi thiền
giống như tứ thiền hữu sắc là nhất tâm và xả.
I.8) TIẾN TRÌNH TÂM NHẬP ĐỊNH
(Jhāna samapatti vīthi): Khi hành giả đã nắm bắt được đề mục sơ tướng
(parikkamma nimitta) bên ngoài trở thành thô tướng (uggha nimitta) trong tâm,
vị ấy chuyên chú hơn nữa trên thô tướng này cho đến khi quang tướng (paṭibhāga
nimitta) khởi lên, nếu chú tâm đúng mức vào quang tướng này vị ấy có thể đắc
định, bấy giờ một tiến trình tâm nhập định sẽ diễn ra như sau:
1) Hữu phần (bhavaṅga): trạng thái
tiềm ẩn và thụ động của tâm trôi qua khi đối tượng quang tướng vừa mới xuất
hiện. Kế đó là hai tâm sát-na hữu phần:
2) Hữu phần rung động
(bhavaṅgacalana)
3) Hữu phần dừng lại
(bhavaṅgupaccheda)
Đến đây lộ trình tâm mới thật sự
khởi lên:
4) Ý môn hướng tâm
(manodvāravajjana): qua 3 sát-na của giai đoạn hữu phần, ý môn hướng tâm khởi
lên nắm giữ đối tượng quang tướng.
5) Chuẩn bị (parikamma): nếu việc
nắm giữ đối tượng vững vàng thì định chuẩn bị (parikamma samādhi) phát sinh.
6) Cận hành (upacāra): tiếp theo tâm
hành giả đạt đến một trạng thái yên lặng gọi là định cận hành (upacāra
samādhi). Vì định cận hành không vững chắc, còn thuộc tâm dục giới, nên đến đây
nếu tâm hành giả yếu thì chỉ giữ được một thời gian ngắn rồi mất, không vào
được định an chỉ.
7) Thuận thứ (anuloma): nếu tâm hành
giả đủ mạnh thì sau trạng thái định cận hành tâm sẽ tự động chuyển vào định an
chỉ (appanā samādhi) thông qua hai giai đoạn sau:
8) Chuyển tánh (gotrabhū): trước khi
hoàn toàn an chỉ tâm phải chuyển từ trạng thái dục giới qua sắc giới thì mới
hoàn toàn định được.
9) Thiền tâm (Jhānacitta): đến đây
tâm đã hoàn toàn an chỉ theo các bậc thiền sắc giới mà hành giả chứng được, như
sơ thiền, nhị thiền, tam thiền hay tứ thiền. Thời gian an trú trong định này
lâu hay mau tùy vào sự thuần thục và sức nguyện của hành giả. (Xem I.9)
10) Hữu phần (bhavaṅga): sau đó tâm
lại trở về trạng thái hữu phần, chấm dứt một tiến trình tâm nhập định.
I.9) NĂM PHÁP THUẦN THỤC
(vasī): Khi một hành giả đã đắc định nếu không thuần thục thì không thể nhập
xuất định như ý muốn. Để có thể giữ trạng thái định trong một thời gian như ý
nguyện thì hành giả phải hành 5 pháp sau đây cho đến khi thuần thục:
1) Hướng tâm thuần thục (āvajjana
vasī): ý môn hướng tâm thuần thục trong việc nắm bắt quang tướng (paṭibhāga
nimitta). Một người đã thuần thục thì ý môn hướng tâm có thể nắm bắt đề mục
quang tướng bất cứ lúc nào vị ấy hành thiền định.
2) Nhập định thuần thục (samāpajjana
vasī): khả năng nhập định ngay lập tức một cách dễ dàng không trở ngại. Khi đã
thuần thục ở giai đoạn này, ngay sau khi ý môn hướng tâm vừa nắm bắt đối tượng
thì hành giả có thể nhập định ngay không chậm trễ.
3) Nguyện nhập thuần thục
(adhiṭṭhāna vasī): nguyện thời gian nhập định chính xác. Khi đã thuần thục
trong nguyện nhập, hành giả có thể nhập định trong 1 giờ, 1 ngày hay 7 ngày
v.v... tùy theo ý muốn.
4) Nguyện xuất thuần thục (vuṭṭhāna
vasī): nguyện thời gian xuất định chính xác. Nguyện nhập và nguyện xuất thường
đi đôi với nhau. Nếu muốn, trước khi nhập định vị ấy nguyện rõ thời gian xả
định. Ví dụ, vị ấy nhập định lúc 7 giờ tối, có ý muốn xả vào lúc 7 giờ sáng hôm
sau thì chỉ cần nguyện là được.
5) Hồi quán thuần thục
(paccavekkhaṇa vasī): tốc hành tâm quan sát lại các chi thiền đã chứng một cách
nhuần nhuyễn. Sự thuần thục trong việc hồi quán này rất quan trọng vì nhờ đó
hành giả biết rõ mình đã chứng đến bậc thiền nào, có bao nhiêu thiền chi, nếu
không rất dễ nhầm lẫn mình đã đắc những bậc thiền mà thật ra là chưa đắc hoặc
ngược lại.
I.10) TỨ NHƯ Ý TÚC (iddhipāda):
Khi hành giả đã đạt được tứ thiền hữu sắc một cách thuần thục thì có thể sử
dụng tứ như ý túc (hay tứ thần túc) để phát triển thần thông.
1) Dục như ý túc (chand’ iddhipāda):
trước tiên hành giả phải có nguyện vọng đạt đến một loại thần thông nào đó,
chẳng hạn như biến hoá thần thông, thiên nhãn thông v.v... Nguyện vọng phải tha
thiết vì thiện ích cho mình và người thì mới thực sự là dục như ý túc chân
chính.
2) Cần như ý túc (viriy’ iddhipāda):
sau đó vị ấy phải chuyên cần, nỗ lực thực hiện nguyện vọng chính đáng của mình.
Có nguyện vọng thiết tha nhưng thiếu tinh cần đúng mức thì cũng trở thành vô
nghĩa. Nỗ lực quá đáng vì tham vọng quá sức mình cũng chỉ phí công vô ích, nếu
không nói là chuốc lấy tai họa vào thân.
3) Tâm như ý túc (citt’ iddhipāda):
nhưng tinh cần phải đúng chỗ nghĩa là chỉ giúp cho tâm chuyên nhất một ý tưởng
trước sau như một. Ví dụ vị ấy muốn đất thành nước thì phải nhất tâm nghĩ đất
là “nước… nước…nước…” không thay đổi cho đến khi ý tưởng đó trở thành hiện
thực. Chính vì vậy, nếu chưa đắc tứ thiền một cách thuần thục thì chớ vội luyện
thần thông. Nhiều người thiếu kiên nhẫn, nhưng mong muốn sớm có thần lực đã
phải tập trung tâm để cầu tha lưc hỗ trợ, họ có thể đạt được một số pháp thuật
vay mượn nhưng đó không phải là tâm như ý túc chân chính.
4) Thẩm như ý túc (vimaṃsā
iddhipāda): tuy nhiên nếu vị ấy không đủ trí để thẩm sát vấn đề một cách rành
rẽ, tường tận thì cũng không thể đạt được thần thông. Ví như người muốn làm một
cái bánh, tuy có cố gắng, có quyết tâm nhưng không biết cách làm bánh thì chỉ
hao tổn công sức mà vẫn không có được bánh ngon.
Thực ra, bốn điều như ý này rất cần
trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Khi làm một việc gì, dù đơn giản nhất,
trước tiên chúng ta cũng phải khởi ý muốn làm việc đó (dục như ý), nhưng muốn
làm mà không có một chút cố gắng nào thì làm sao thực hiện được, nên nỗ lực,
hăng hái (cần như ý) là điều kiện không thể thiếu. Tuy nhiên có cố gắng mà
không chuyên chú nhất tâm (tâm như ý) thì vẫn chuốc lấy thất bại. Sau cùng, cho
dù đã chuyên nhất mà không hiểu biết, không rành rẽ công việc một cách chu đáo
(thẩm như ý) thì khó mà hoàn thành công việc một cách như ý. Vì vậy pháp này
được gọi là bốn điều kiện để hoàn thành mọi việc một cách như ý.
I.11) NGŨ THÔNG & THẮNG TRÍ
(abhiññā): Thần thông là loại hình khoa học tâm linh đạt được nhờ một sức mạnh
nội tâm gọi là thắng trí, trí tuệ siêu việt này phát sinh từ thiền định ở mức
độ cao. Hành giả sau khi đạt được tứ thiền, đã có những pháp thuần thục, đã tu
tập bốn điều kiện như ý một cách đầy đủ, có thể đạt được năm loại thần thông
sau đây:
1) Thần túc thông (iddhividha
abhiññā): hay biến hoá thần thông là khả năng biến một thân thành nhiều thân,
tàng hình, độn thổ, bay trên hư không, tự hóa mình hay hóa người khác ra thành
một vật nào đó như ý muốn v.v...
2) Thiên nhãn thông (dibba cakkhu
abhiññā): hay thần nhãn là khả năng thấy xa, thấy xuyên qua tường, thấy dưới
lòng đất (khác với thiên nhãn minh là thấy rõ nhân quả nghiệp báo luân hồi sinh
tử của chúng sinh). Một số người tự nhiên có khả năng này mà không hề trải qua
quá trình tu tập thiền định, nhưng đó là nhờ vào tha lực bên ngoài chứ không
phải là thiên nhãn thông thật sự.
3) Thiên nhĩ thông (dibba sota
abhiññā): là khả năng nghe được tiếng nói từ xa, tiếng nói của chư thiên hay
những loài khác. Trường hợp một số người thỉnh thoảng nghe tiếng ai đó báo
trước một sự việc sẽ xảy ra, hoặc có cảm giác như nghe được nội dung câu chuyện
luận bàn của người khác từ xa thì đó có thể là do tha lực, nhưng phần lớn là do
bệnh hoang tưởng chứ không phải thiên nhĩ thông.
4) Túc mạng thông (pubbe
nivāsānussati abhiññā): khả năng nhờ thiền định mà nhớ lại một số kiếp trước
của mình hay của người khác. Lúc còn bé, một số người có thể nhớ lại kiếp trước
của mình nhưng khi lớn lên lại quên hết không nhớ gì cả. Đó là sự tái hiện một
số thông tin về tiền kiếp từ kho vô thức (bhavaṅga) lúc tâm trí chưa bị những
thông tin mới phủ kín, chứ không phải là túc mạng thông có từ thiền định.
5) Tha tâm thông (paracitta vijānana
abhiññā): khả năng đọc được tâm tư, ý nghĩ của người khác. Trong một số trường
hợp còn được gọi là ký thuyết thần thông vì qua sự biểu hiện bên ngoài của một
người mà đọc được tư tưởng của người ấy. Nhưng nếu căn cứ vào nhân tướng mà
đoán được vận mệnh của một người thì không phải là tha tâm thông.
Chúng ta cần lưu ý: thần thông khác
với pháp thuật. Thần thông do trình độ định tâm cao (từ tứ thiền trở lên) và
phát triển đúng hướng bằng tự lực mà đạt được. Còn pháp thuật phần lớn đạt được
bằng cách cầu viện đến tha lực và không cần phải đạt đến tứ thiền, đôi lúc chỉ
cần niềm tin hay cận định là đủ.
I.12) LỢI ÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH:
1) An lạc hiện tại: hành giả đã
thuần thục trong việc nhập và xuất định có thể nguyện nhập bậc định mà mình đã
chứng để hưởng sự an lạc ngay trong hiện tại, tạm thời thoát khỏi sự quấy rầy
của ngoại cảnh nên gọi là hiện tại lạc trú (diṭṭhadhamma sukha vihàrati).
2) Có thể chứng ngũ thông: hành giả
đạt được tứ thiền hữu sắc một cách thuần thục có thể sử dụng tứ như ý túc để
phát triển thần thông và chứng được năm loại thần thông như đã nói trên. Về
phương diện giác ngộ giải thoát thì không cần đến ngũ thông, nhưng nếu biết
dùng làm phương tiện lợi lạc quần sinh thì thần thông cũng trở thành đại dụng.
3) Làm nền tảng cho thiền tuệ: hành
giả có chứng đắc định ở bất kỳ bậc thiền nào, sau khi xả định, tâm còn an ổn
trong sáng có thể hành thiền tuệ một cách dễ dàng. Nhiều người có thể đạt được
tuệ giác một cách tự nhiên nhờ tâm đã thuần thục trong định tĩnh sáng suốt và
đầy đủ các hạnh balamật. Mặt khác hành giả cũng có thể lấy ngay tâm thiền hoặc
thiền chi đang chứng làm đối tượng thiền tuệ, như niệm thân là sắc ý căn, niệm
thọ là hỷ và lạc, niệm tâm như “nội tâm có định tuệ tri tâm có định”, niệm pháp
như khinh an, định, xả giác chi v.v...
4) Các bậc Thánh có thể nhập thánh
quả định: hành giả đã chứng đắc định ở bất kỳ bậc thiền hữu sắc hay vô sắc nào
sau đó đắc một trong các quả Thánh thì vị ấy có thể nhập thánh quả định tương
ứng để thể nhập tự tại Niết-bàn trong Thánh quả định đó.
5) Bậc Anahàm trở lên có thể nhập
diệt thọ tưởng định: khi hành giả đã chứng đắc đến bậc thiền vô sắc phi tưởng
phi phi tưởng xứ định và đã chứng quả Anahàm trở lên có thể nhập diệt thọ tưởng
định, nghĩa là trong thời gian nhập định này các tâm, tâm sở, sắc pháp do tâm
sinh bị diệt, chỉ còn lại sắc pháp do nghiệp, thời tiết, vật thực sinh mà thôi.
Đây là một loại định đặc biệt hoàn toàn vắng lặng và bất khả xâm phạm của các
bậc thánh từ Anahàm trở lên mới có được.
6) Quả báu trong kiếp sau: nếu hành
giả đắc định nhưng chưa đắc quả Alahán thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh
lên các cõi trời sắc giới hoặc vô sắc giới đặc biệt tương ứng với bậc thiền mà
mình đã chứng để hưởng quả định:
6a) Sắc giới thiền:
- Sơ thiền bậc hạ: Phạm chúng thiên
- Sơ thiền bậc trung: Phạm phụ thiên
- Sơ thiền bậc thượng : Đại phạm thiên
- Nhị thiền bậc hạ: Thiểu quang
thiên
- Nhị thiền bậc trung: Vô lượng quang thiên
- Nhị thiền bậc thượng: Quang âm thiên
- Tam thiền bậc hạ: Thiểu tịnh thiên
- Tam thiền bậc trung: Vô lượng tịnh thiên
- Tam thiền bậc thượng: Biến tịnh thiên
- Tứ thiền của phàm phu: Vô tưởng
thiên
- Tứ thiền của bậc Nhập Lưu và bậc Nhất Lai: Quảng quả thiên
- Tứ thiền của bậc Bất Lai: Phước Sinh Thiên
+ Tín Bất Lai: Vô phiền thiên
+ Tấn Bất Lai: Vô nhiệt thiên
+ Niệm Bất Lai: Thiện hiện thiên
+ Định Bất Lai: Thiện kiến thiên
+ Tuệ Bất Lai: Sắc cứu cánh thiên
6b) Vô sắc giới thiền:
- Đệ nhất thiền : Không vô biên xứ
thiên
- Đệ nhị thiền: Thức vô biên xứ thiên
- Đệ tam thiền: Vô sở hữu xứ thiên
- Đệ tứ thiền : Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
Phật Giáo Nguyên Thủy không xem
thiền định là cứu cánh hay mục đích cuối cùng vì định chỉ có thể chế ngự các
triền cái, giúp ổn định tâm như đá đè cỏ chứ không đoạn tận phiền não khổ đau,
không chấm dứt luân hồi sinh tử. Dù vậy định vẫn được chấp nhận như yếu tố hỗ
trợ cho tiến trình Giới, Định, Tuệ đưa đến Đạo, Quả, Niết-bàn, vì vậy, định có
mặt trong nhiều pháp môn phẩm trợ đạo: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ thần túc,
ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo. Định cũng trở thành đại dụng
trong những điều lợi ích đã kể trên.
Tóm lại, thiền định, ở một mức độ
nào đó, là rất cần thiết, không thể bỏ qua, nhưng chưa phải là yếu tố rốt ráo,
nên chưa đủ để thành tựu cứu cánh giác ngộ giải thoát.
II.
Thiền Tuệ trong Phật Giáo Nguyên Thủy
II.1) ĐỊNH NGHĨA:
Thiền tuệ, thiền quán hay thiền minh
sát (vipassanā bhāvanā) là một sự thể nghiệm nhuần nhuyễn, kết hợp toàn bộ yếu
tố Bát Thánh Đạo gồm tám chi, trong đó có ba chi then chốt đóng vai trò dẫn đạo
là:
- Chánh tinh tấn (sammā vāyāmo)
- Chánh niệm (sammā sati)
- Chánh kiến (sammā diṭṭhi)
Ở đây, trong ba yếu tố này, chánh
kiến là yếu tố chính trong thiền tuệ, khởi đầu được thể hiện dưới hình thức
tỉnh giác (sampajaññā), chánh tinh tấn và chánh niệm làm nền tảng, năm yếu tố
còn lại (chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh định) làm
nhiệm vụ hỗ trợ.
Thiền tuệ nhằm mục đích tuệ tri
(pajānāti) như thật (yathā bhūtaṃ) thực tánh (sabhāva) trong chân nghĩa pháp
(paramattha dhamma):
Thực tánh của pháp hữu vi tạo tác
(saṅkhārā) có ba tướng trạng chung (sāmañña lakkhaṇa) là vô thường (anicca),
khổ (dukkha), vô ngã (anatta) và tướng trạng riêng (visesa lakkhaṇa) của mỗi
pháp, như mỗi tâm, tâm sở, sắc đều có tướng trạng riêng. Ví dụ: sân khác tham,
từ khác bi, sắc nhãn khác sắc nhĩ v.v...
Thực tánh của pháp vô vi (asaṅkhàra)
Niết-bàn có tướng chung là vô ngã (anatta) và tướng trạng riêng là vắng lặng
(santi). Vắng lặng ở đây không có nghĩa là một trạng thái yên ắng bất động, mà
là hoàn toàn vắng bóng vô minh, ái dục, phiền não, khổ đau của thế giới tập đế
và khổ đế.
II.2) NHẬN THỨC:
Thiền tuệ sử dụng một cách nhận thức
riêng, vượt ngoài những cách nhận thức thông thường trong thế giới ý niệm hay
khái niệm chế định. Nói chung, tâm nhận biết đối tượng theo năm cách:
1) Tưởng tri (sañjānāti): biết bằng
tưởng (saññā), ngoại trừ hiện tưởng trong năm thức giác quan và tưởng đi chung
với trí tuệ (ñāṇa saṃyuttaṃ) có đối tượng thực tánh pháp (paramattha dhamma)
hiện tiền (trong một số trường hợp là thực tánh quá khứ), phần lớn tưởng còn
lại có đối tượng là pháp khái niệm chế định (paññatti dhamma).
Hai trường hợp đối tượng của tưởng
tri là thực tánh pháp và những khái niệm chế định có thực (vjjamāna paññatti)
thì rất hữu ích cho cả hai lãnh vực nhận thức thế gian và xuất thế. Ngay cả
tưởng tri trên đối tượng khái niệm chế định không có thực (avjjamāna paññatti)
nhưng thiện thì vẫn tốt, như khái niệm hiếu thảo chẳng hạn.
Tuy nhiên, khi khái niệm không thực
là bất thiện hay chỉ là hoang tưởng, ảo tưởng (vipallāsa saññā) thì hậu quả
thật khó lường. Ảo tưởng vẽ ra một thế giới vô cùng phong phú đầy màu sắc, âm
thanh, ý nghĩa của riêng nó, có thể đem đến hạnh phúc và đau khổ… nhưng hoàn
toàn không thực, lắm khi là điên đảo, thủ chấp như nhận lầm các tướng vô
thường, khổ, vô ngã, bất tịnh là thường, lạc, ngã, tịnh. Vì vậy, tuy tưởng có
mặt trong tất cả tâm nhưng tưởng tri chỉ có thể cung cấp dữ liệu hoặc làm đối
tượng để soi chiếu chứ không phải là nhận thức trực tiếp trong thiền tuệ
vipassanā.
2) Thức tri (vijānāti): biết bằng
kiến thức (viññāṇa), hầu như tất cả kiến thức đều nằm trong phạm trù khái niệm
chế định mà phần lớn là thủ đắc bằng cách vay mượn từ bên ngoài, thuộc khái
niệm chế định (paññatti) trong lãnh vực tục đế (sammuti sacca) nên có thể đúng,
có thể sai, có thể thiện, có thể bất thiện, nhưng độ xác thực bất định, khi độ
sai lệch cao có thể dễ dàng trở thành vọng thức (vipallāsa viññāṇa). Vọng thức
đưa đến ảo kiến (māyā diṭṭhi) hay tà kiến (micchā diṭṭhi). Thức tri chính xác,
trung thực trong trường hợp chánh tư duy (sammā saṅkappa) có thể hỗ trợ hữu
hiệu cho thiền tuệ, nhưng thức tri cũng không phải là nhận thức trực tiếp trong
thiền tuệ.
Cái biết qua kiến thức đóng một vai
trò quan trọng trong nhận thức của loài người. Không có kiến thức có thể đồng
nghĩa với ngu dốt. Nếu tưởng tri có tính máy móc mà phần lớn là vô nhân, thậm
chí là vô thức thì thức tri, trong trường hợp ý thức là hữu thức, hữu nhân
nghĩa là có chủ định, có suy tính ở một chừng mực nhất định nào đó tùy trình độ
của mỗi người. Có thể nói tiến bộ của loài người tất yếu phải trải qua thức
tri, hầu hết nhận thức trong những lĩnh vực khoa học, triết học... đều thuộc
thức tri.
Và tuy thức tri không phải là nhận
thức trực tiếp trong thiền tuệ, thậm chí còn trở ngại cho thiền tuệ rất nhiều
nữa là khác, nhưng thực tế không thể loại hẳn thức tri ra khỏi thiền tuệ, như
một số người chủ trương phải bặt dứt tư duy nghĩ tưởng mới là trí tuệ thấy
tánh. Đúng là thấy thực tánh phải bằng chánh kiến (trí tuệ trực giác) nhưng
ngay sau đó chánh tư duy phải khởi lên để xác định lại mới biết được thực tánh
ấy là gì.
3) Thắng tri (abhijānāti): biết qua
một khả năng đặc biệt của thiền định gọi là thắng trí (abhiññā). Khi một người
đắc định sắc giới (rūpajjhāna) hoặc vô sắc giới (arūpajjhāna) có khả năng nhận
thức giác quan cũng như ý thức vi tế hơn nhận thức của tâm dục giới, ví dụ như
khả năng thấy xuyên qua tường, nghe rõ những âm thanh tai thường không nghe
được hoặc hiểu được tiếng nói lạ theo ngôn ngữ của những loài khác v.v... Những
khả năng đó có thể hỗ trợ cho thiền tuệ, nhất là khi vị ấy thấy rõ diễn biến
của sự thay đổi cực kỳ vi tế trong hiện tượng vật lý hoặc tâm lý mà “mắt”
thường không thể nào thấy được.
Tuy nhiên những vị này dù đã đắc
định, có thắng trí, vẫn còn phiền não nhất là tham ái, tà kiến và ngã mạn nên
cái thấy này không những không bổ ích cho thiền tuệ mà còn phát sinh thêm ngã
mạn, tà kiến và tham vọng quyền lực siêu nhiên, vì vậy, lắm khi thắng tri trở
thành chướng ngại, nên cũng không phải là nhận thức trong thiền tuệ.
(Đôi lúc thắng tri được dùng với nghĩa liễu tri, tức là cái biết với định
tuệ viên mãn của bậc Thánh nên cũng không phải là nhận thức trong thiền tuệ).
4) Tuệ tri (pajānāti): biết bằng trí
tuệ (paññā hay ñāṇa) mà khởi đầu là trí tuệ chánh niệm tỉnh giác (sati
sampajaññā ñāṇa), cái biết trong sáng, không chủ quan, không tham ưu, thủ xả,
vượt ngoài ngôn ngữ, ý niệm nên có khả năng nhận thức thực tánh pháp, đối tượng
của thiền tuệ, vì vậy, tuệ tri mới chính là nhận thức trong thiền tuệ
vipassanā.
Thực ra, tuệ tri được thể hiện qua
hai chức năng hỗ tương vô cùng mật thiết, đó là chánh kiến và chánh tư duy.
Chánh kiến có nhiệm vụ tuệ tri phương diện thực tánh của pháp, chánh tư duy có
nhiệm vụ tuệ tri phương diện tướng dụng của pháp. Chánh tư duy xác định lại
thực tánh mà chánh kiến chỉ trải nghiệm hay chứng kiến mà thôi chứ không xác
định được. Có thể nói chánh tư duy vừa mở đầu vừa hoàn tất cho chánh kiến,
ngược lại chánh kiến cung cấp nội dung trung thực cho chánh tư duy. Hai yếu tố
này không thể thiếu một trong đạo lộ của bậc Thánh.
5) Liễu tri (ājānāti): biết bằng tuệ
giác (bodhiñāṇa hay sambodhi) của bậc đã giác ngộ, như vậy liễu tri là thành
tựu của tuệ tri nên cũng không phải là nhận thức trong khi đang tiến hành thiền
tuệ.
Vậy trong 5 cách nhận thức trên chỉ
có tuệ tri với 3 yếu tố: tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác mới có thể nhận thức
đối tượng thực tánh pháp (paramattha dhamma) trong pháp hành thiền tuệ.
II.3) ĐỐI TƯỢNG: đối
tượng của tâm nhận thức có hai loại:
1. Pháp khái niệm (paññatti dhamma):
là pháp do con người chế định, hoặc dựa trên thực tánh, hoặc dựa trên ngoại
tướng và tên gọi của hiện tượng, mặt khác, trong nhiều lãnh vực nó cũng dựa
trên ý niệm chủ quan đơn thuần. Có 2 loại khái niệm:
1a) Vật (nghĩa) khái niệm (attha
paññatti): khái niệm được chế định dựa trên ngoại tướng (vật) hoặc ý nghĩa
(nghĩa) của hiện tượng, có 8 loại:
1a.1) Khái niệm hình tướng
(santāna): dựa trên hình dáng, khối lượng, màu sắc mà chế định, ví dụ như ý
niệm cao thấp, vuông tròn, to nhỏ, trắng đen v.v...
1a.2) Khái niệm tổng hợp (samūha):
dựa trên những sự vật gồm nhiều điều kiện hoặc thành tố tạo nên mà chế định, ví
dụ như nhà cửa, núi sông, xe cộ, cơ thể v.v...
1a.3) Khái niệm chúng sinh (satta):
dựa trên sự kết hợp của ngũ uẩn mà chế định, ví dụ như chư thiên, người, đàn
ông, đàn bà, súc sanh, cầm thú v.v...
1a.4) Khái niệm phương hướng (disā):
dựa trên vị trí tương đối với mặt trăng, mặt trời, tinh tú mà chế định, ví dụ
như bốn phương, tám hướng v.v...
1a.5) Khái niệm thời gian (kāla):
dựa trên vị trí của mặt trăng, mặt trời mà chế định, ví dụ như mặt trời đứng
bóng là giờ ngọ, mặt trăng tròn là đêm rằm mà định giờ giấc, ngày đêm, năm
tháng v.v...
1a.6) Khái niệm hư không (ākāsa):
dựa trên khoảng trống giữa bốn đại hay những vật thể mà chế định, ví dụ như căn
phòng, cái hang, lỗ mũi v.v...
1a.7) Khái niệm đề mục thiền định
(kasiṇa): dựa trên những đối tượng của thiền định mà chế định, ví dụ như loại
đề mục đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng v.v...
1a.8) Khái niệm thiền tướng
(nimitta): dựa trên tướng đề mục thiền định do tưởng sinh mà chế định, ví dụ
như sơ tướng, thô tướng, quang tướng v.v...
1b) Danh khái niệm (nāma paññatti):
tên gọi được chế định để chỉ một vật, một sự việc hay một ý niệm. Có hai loại
danh khái niệm chính:
1b.1) Danh khái niệm có thực
(vijjamāna paññatti): tên gọi đặt cho những pháp có thực tánh (sabhāva hay
paramattha dhamma), ví dụ như uẩn, xứ, giới, tâm, tâm sở, sắc, Niết-bàn…
1b.2) Danh khái niệm không thực
(avijjamāna paññatti): tên gọi những vật có hình tướng nhưng không có thực
tánh, ví dụ như cái nhà, con đường, ngọn núi, rừng cây…, hoặc chỉ là tên gọi
một ý niệm trừu tượng không có thực, như bản ngã, trường tồn, vạn thọ vô cương
…
1b.3) Danh khái niệm có thực kết hợp
với danh khái niệm có thực: ví dụ như nói danh sắc, nhãn thức…
1b.4) Danh khái niệm có thực kết hợp
với danh khái niệm không thực: ví dụ như nói tâm tôi, sắc đẹp…
1b.5) Danh khái niệm không thực kết
hợp với danh khái niệm có thực: như nói tôi thấy, anh tham…
1b.6) Danh khái niệm không thực kết
hợp với danh khái niệm không thực: như nói vợ ông bác sĩ, con cô giáo…
2. Pháp thực tánh (sabhāva dhamma)
hay pháp chân nghĩa (paramattha dhamma): là những pháp tự có tánh, tướng, thể,
dụng riêng không do ai qui định, độc lập với khái niệm của con người, ví dụ như
tánh trạng của uẩn, xứ, giới, tâm, tâm sở, sắc, Niết-bàn…
Đối tượng của thiền tuệ không phải
vật (nghĩa) khái niệm, hay danh khái niệm dù có thực hay không có thực, mà là
pháp thực tánh hay pháp chân nghĩa, bao gồm cả hai lãnh vực tánh đế (sabhāva
sacca) ví dụ như danh sắc… là đối tượng của thế trí tức trí tuệ thế gian
(lokiya ñāṇa) và Thánh đế (Ariya sacca) ví dụ như Niết-bàn là đối tượng của
Thánh trí tức trí tuệ siêu xuất thế gian (lokuttara ñāṇa).
II.4) TỨ NIỆM XỨ (satipaṭṭhāna):
Tuy nói chung đối tượng của thiền
tuệ là pháp thực tánh hay pháp chân nghĩa, nhưng chủ yếu thiền tuệ có mục đích
hóa giải ảo tưởng, ảo kiến về ngã và pháp, như quan niệm một thế giới thường,
lạc, ngã, tịnh của “hiện tại Niết-bàn luận”, một trong 62 tà kiến mà Đức Phật
đã chỉ rõ trong Dīgha Nikāya, trong đó ngã (sản phẩm của vô minh, ái dục) là
tâm điểm của phiền não khổ đau, luân hồi sinh tử. Vì vậy, bốn thực tánh pháp
cần được trí tuệ Vipassanā quán chiếu là thân, thọ, tâm và pháp.
Sở dĩ chúng ta mãi trôi lăn trong
luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau là vì thân tâm luôn hướng ngoại tìm cầu đối
tượng của lòng tham muốn. Được thì vui mừng, thích thú nên cố tranh giành,
chiếm đoạt…; không được thì buồn phiền, bất mãn rồi đâm ra thất vọng, hận thù…
Cứ thế tham sân càng ngày càng dày đã che lấp không cho chúng ta thấy được sự
thật, đó chính si mê. Tham - sân - si liên kết với nhau trở thành một thành trì
vô minh ái dục sâu dày. Từ đó chúng ta sa lầy trong thế giới bên ngoài. Để thỏa
mãn những đòi hỏi của bản thân (ngã), chúng ta càng ngày càng đi xa trên đường
dong ruổi tìm kiếm, và đã quên mất chính mình, thân tâm đã hoàn toàn bị phân
tán và lạc lối trong thế giới đầy màu sắc, âm thanh, hương vị, và sự xúc chạm
hấp dẫn bên ngoài. Chúng ta hành động, đấu tranh, xây dựng, hủy diệt… đó chính
là nghiệp báo. Hậu quả tất nhiên là chúng ta gặt hái vô vàn phiền não khổ đau,
đằng sau những thú vui tạm bợ, mà chúng ta gọi là hạnh phúc! Trong lúc đau khổ,
hoặc là chúng ta cứ than trời trách đất, đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác,
thậm chí cho cả ma quỉ, thánh thần, hay cho một đấng tạo hóa tưởng tượng nào
đó, hoặc là chúng ta ước mơ hướng tới một cảnh giới cực lạc để rồi chỉ càng đau
khổ hơn, thất vọng hơn mà thôi. Cùng đường chúng ta lại cầu khẩn van xin bồ-tát
hay thiên, thần, quỉ, vật, mà không biết rằng tất cả những phiền não khổ đau
đều phát xuất từ chính mình, từ những ước mơ và thất vọng ấy, chứ không phải do
ai hay từ đâu đến.
Vậy để thoát khỏi những sai lầm do
tà kiến và tham ái xúi giục đưa đến phiền não khổ đau, cách duy nhất là chúng
ta phải trở về học lại bài học nơi chính mình. Phải quan sát sự vận hành của
thân tâm để thấy rõ sự tương giao trong mối quan hệ nhân quả, sinh diệt của các
pháp bên trong cũng như bên ngoài. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy pháp hành
thiền tuệ trên bốn niệm xứ.
1. Quán thân niệm xứ
(kāyānupassanā satipaṭṭhāna): Hành giả sống quán thân trên thân (kāye
kāyānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác
(sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ).
Quán thân trên thân có nghĩa là soi
sáng đối tượng thực tánh của thân ngay nơi chính cái thân ấy đang là, chứ không
phải là cái thân mà chúng ta nghĩ là, qua những ý niệm hay tưởng tượng chủ
quan. Vì vậy, quán là soi sáng, không phải là nghĩ tưởng.
Như chúng ta đã biết, tâm như ngựa
quen đường cũ, cứ dong ruổi lang thang mãi trong thế giới đầy ắp những ý niệm,
ảo tưởng, những ước định, giả lập, những so đo tính toán, những suy tư, kết
luận với vô số hình ảnh huyễn hóa lưu xuất từ trong vô minh ái dục của chính
mình, từ đó tạo ra biết bao vọng nghiệp với hậu quả tất nhiên là phiền não khổ
đau, không sao tránh được.
Cách dễ dàng nhất để tự cứu mình ra
khỏi thế giới điên đảo ấy là bất cứ tại đâu và lúc nào chúng ta cũng có thể
quay tâm trở về soi sáng lại sự thật đang diễn ra nơi chính mình, mà cụ thể rõ
ràng nhất là cái thân đã từng bị lãng quên và bóp méo, để thấy rõ bản chất thực
của nó. Với quán thân trên thân như vậy chúng ta:
- Dễ dàng ổn định được tâm dù không
hành thiền định.
- Thấy rõ được tính vô thường, khổ
không, vô ngã và nhất là bất tịnh của thân, nhờ đó có thể trừ được những tham
ái và tà kiến về thân.
- Vừa thấy rõ thực tánh của thân vừa
hóa giải những pháp che lấp thực tánh ấy.
- Vượt được vô minh phiền não, chứng
ngộ Niết-bàn.
Tinh cần hay tinh tấn trong thiền
Vipassanā không phải là sự cố gắng, nỗ lực theo kiểu một ý chí mạnh mẽ hay
nhiệt tình hăng hái của cái ta đầy tham vọng chủ quan, mà chỉ cần không giãi
đãi, không buông xuôi, không hời hợt, lơi lỏng trong việc chú tâm quan sát đối
tượng là được. Độ tinh tấn càng tự nhiên càng tốt.
Chánh niệm là không bỏ quên thực tại
thân tâm, không vong thân tha hóa, hay nói một cách dễ hiểu là không quên mình.
Đối nghịch với chánh niệm là thất niệm,
một trạng thái tâm sở rời khỏi thực
tại thân tâm, đi lang thang trong thế giới mộng tưởng, huyễn hóa, hay đánh mất
mình trong những đối tượng thương ghét bên ngoài.
Tỉnh giác là thấy biết trong sáng,
không bị che mờ bởi những ý niệm, tư tưởng, kiến thức, quan niệm, thành kiến
hay tình cảm chủ quan nào. Sự thấy biết trong sáng, trực tiếp không qua đánh
giá, phê phán hay biện minh này gọi là tri kiến như thật (yathābhūta
ñāṇadassana) hay chánh tri kiến (sammā diṭṭhi). Tỉnh giác chủ yếu là thấy biết
không mê chứ không phải là ý đồ muốn biết hay muốn được bất cứ điều gì. Muốn
biết và muốn được là hai trở ngại lớn lao của trí tuệ tỉnh giác.
Chánh niệm – tỉnh giác là hai yếu tố
cốt lõi, đi chung và hỗ trợ lẫn nhau trong Thiền Tuệ Tứ Niệm Xứ để phản ánh
trung thực chân tánh của đối tượng. Đối tượng thực tại thân tâm là tất yếu của
chánh niệm tỉnh giác, nhưng đối tượng không quan trọng bằng chính chánh niệm
tỉnh giác. Mỗi người có quyền chọn một đối tượng thích hợp với căn cơ trình độ
của mình (xem II.5), hoặc cứ để cho đối tượng tự đến, nhưng chánh niệm tỉnh
giác thì không thể thiếu được trong hành trình khám phá thực tại của thiền tuệ.
Chế ngự tham ưu ở đời nghĩa là ngay
nơi đối tượng thân, thọ, tâm hay pháp, chúng ta không gia thêm ý niệm thiện ác,
tốt xấu, không khởi tâm ưa thích hay chán ghét, không có ý đồ nắm giữ hay từ
bỏ, chỉ cần thấy nó như nó là thì đối tượng mới xuất hiện đúng thực tánh của
nó.
Sau đây là một số đối tượng quán
thân điển hình được Đức Phật giới thiệu trong Kinh Đại Tứ Niệm Xứ, Dìgha
Nikàya:
1.1) Hơi thở: “… Tỉnh giác, vị ấy
thở vô. Tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Thở vô dài”, hay
thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Thở ra dài”, hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Thở
vô ngắn”, hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân,
tôi sẽ thở vô” vị ấy học. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra” vị ấy học. “An
tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô” vị ấy học. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra” vị
ấy học”.
Ngay khi có chánh niệm, nghĩa là tâm
đã trở về với thân, thì đầu tiên chúng ta dễ dàng nhận ra động tác thở vô thở
ra vẫn đang tiếp diễn mà bình thường ít ai cảm nhận được. Chỉ cần đơn giản lắng
nghe lại động tác thở vô hay thở ra, thở dài hay thở ngắn... hoàn toàn tự nhiên
như nó đang diễn ra, không cần thêm bớt gì cả, không theo bất kỳ một phương
pháp thở nào, thì thân tâm cũng đã nhất như, không còn bị phân hóa nữa. Đó là
chánh niệm đang mở đầu cho trí tuệ tỉnh giác quán chiếu thực tánh của thân qua
động tác thở ấy.
Một cách tự nhiên, lúc đầu động tác
thở còn thô (thở vô dài, thở ra dài), sau đó chánh niệm càng khắng khít động
tác thở càng nhẹ dần (thở vô ngắn, thở ra ngắn). Thở càng nhẹ (chuyển biến lắng
dịu tự nhiên chứ không cố gắng thở nhẹ) càng dễ cảm nhận được toàn bộ trạng
thái của động tác thở (cảm giác toàn thân). Càng thở nhẹ, động thái thở càng vi
tế hơn, ổn định hơn (An tịnh thân hành).
Khi chú tâm trọn vẹn trên động thái
thở một cách bình thường tự nhiên thì tâm không còn bị ý niệm, lý trí hay tình
cảm chủ quan che lấp nên có thể nhận rõ (tuệ tri) thực tánh của thân hành này.
Chấm dứt ảo tưởng về cái gọi là “thân ta”.
Trong đoạn “cảm giác toàn thân” và
“an tịnh toàn thân” có dùng động từ thì vị lai “tôi sẽ thở…” thực ra diễn
biến thở vẫn là hiện tại, nên lẽ ra phải nói là “tôi đang thở” mới đúng, nhưng
ở đây muốn nhấn mạnh sự tỉnh giác lúc này đã có mặt trước động thái thở. Mới
đầu chánh niệm tỉnh giác thường theo đuôi động thái thở, nhưng khi đã tinh tế
hơn chánh niệm tỉnh giác có khả năng đón đầu. Sử dụng động từ thì vị lai chính
là để nhấn mạnh khả năng đón đầu ấy mà thôi.
Lưu ý là tuy cùng lấy việc thở vô
thở ra làm đối tượng, nhưng thiền định cố gắng nắm giữ kiên cố tướng của hơi
thở, đưa đến định tâm, trong khi thiền tuệ chú tâm quan sát trung thực tánh của
động thái thở, đưa đến tuệ giác.
1.2) Bốn oai nghi: “… Vị Tỷ kheo đi,
tuệ tri: “đang đi”, hay đứng, tuệ tri: “đang đứng”, hay ngồi, tuệ tri: “đang
ngồi”, hay nằm, tuệ tri: “đang nằm”. Thân đang ở trong động thái như thế nào vị
ấy tuệ tri thân như thế ấy”
Nếu hành giả là người hoạt động
nhiều sẽ không thích hợp với một đối tượng có vẻ đơn điệu, như động tác thở,
đòi hỏi phải ngồi yên mới quan sát kỹ được, vì vậy rất dễ lạc qua thiền định,
hoặc tệ hơn nữa là rơi vào hôn trầm. Đối tượng hơi thở tuy có thể giúp chúng ta
dễ dàng trở nên ổn định, trong sáng, nhưng khó có thể thực hành liên tục trong
đời sống hàng ngày, nhất là đối với những người thường có công việc phải đi lại
nhiều. Trong trường hợp đó, quan sát bốn oai nghi là đối tượng thích hợp hơn.
Trong sinh hoạt hàng ngày chúng ta thường phải sử dụng bốn động tác đi, đứng,
ngồi, nằm nên lúc nào chúng ta cũng có đối tượng để soi chiếu một cách tự nhiên
không cần tìm kiếm đâu xa. Khi sử dụng oai nghi nào chúng ta chỉ cần chú tâm
trọn vẹn trên tư thế và động thái của oai nghi đó, trong điều kiện tự nhiên
nhất, không nên qui định tư thế hay dựng lên một oai nghi giả tạo nào theo ý
mình làm cho thực tánh khó hiển lộ.
Khi sáng suốt, trọn vẹn với các oai
nghi thì chúng ta có thể thoát ra khỏi ảo tưởng về cái gọi là ta đi, ta đứng,
ta ngồi, ta nằm, mà chỉ thấy thực tánh của động thái đang đi, đang đứng, đang
ngồi, đang nằm.
1.3) Tất cả sự: “… Vị Tỷ kheo khi
bước tới, bước lui, tuệ tri động tác đang làm. Khi ngó tới, ngó lui, tuệ tri
động tác đang làm. Khi mang y tăng-già-lê, mang bát, mang y, tuệ tri động tác
đang làm. Khi ăn, uống, nhai, nếm, tuệ tri động tác đang làm. Khi đại tiện,
tiểu tiện, tuệ tri động tác đang làm. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, tuệ tri động tác
đang làm”.
Với một hành giả có tính năng động,
thường phải tập trung vào nhiều công việc khác nhau thì khó mà ngồi yên để quan
sát động tác thở, và ngay cả bốn oai nghi tuy có tầm hoạt động rộng hơn nhưng
vẫn còn có vẻ tù túng, người ấy sẽ thích hợp hơn với đối tượng tất cả sự, vì dù
công việc đa đoan đến đâu người ấy vẫn có thể chú tâm quan sát ngay nơi chính
công việc đang làm. Ví dụ, một người đang quét nhà, đang rửa chén, đang chạy
bộ, đang khuân vác hay đang lên ca mổ cho một bệnh nhân v.v... thì tốt nhất là
nên sáng suốt biết mình đang làm gì hơn là quan sát hơi thở hay bốn oai nghi,
để khỏi phân tâm trong công việc đang làm. Ưu điểm đối tượng tất cả sự là có
thể giúp chúng ta sống thiền ngay nơi những sinh hoạt trong đời sống hàng ngày
mà không cần phải chọn lựa hay thêm bớt gì cả. Chúng ta chỉ cần chánh niệm,
tỉnh giác còn tất cả thân hành nào đang được sử dụng đều là đối tượng quán
chiếu, như thế chúng ta có thể soi chiếu thân một cách tự tại bất kỳ ở đâu và
lúc nào.
Người hành đối tượng tất cả sự tuy
có vẻ không được an ổn như người hành đối tượng động tác thở và bốn oai nghi,
thậm chí lắm khi còn gặp nhiều chướng ngại nhất là trong những công việc phức
tạp hoặc có liên quan tới xã hội bên ngoài, vì đối tượng luôn thay hình đổi
dạng, nhưng khi chánh niệm tỉnh giác đã vững vàng thì hành giả ổn định hơn
trong nhiều tình huống của đời sống. Khả năng giao tiếp, ứng xử tế nhị hơn,
hiệu quả công việc cao hơn, có oai nghi tế hạnh hơn và phát triển nhiều khả
năng giác quan hơn.
1.4) Ba hai thể trược: “… Vị Tỷ kheo
quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi
da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông,
móng, răng, da // thịt, gân, xương, tủy, thận // tim, gan, hoành cách mô, lá
lách, phổi // ruột non, ruột già, bao tử, phân, óc // mật, đàm, mủ, máu, mồ
hôi, mở // nước mắt, nước nhờn, nước miếng, nước mũi, nước khớp xương, nước
tiểu”.
Những hành giả có nhiều tham ái đối
với thân, luôn phải chăm sóc cho thân hình được đẹp đẽ, cân đối, luôn phải giữ
gìn cho tấm thân được thanh tú, mỹ miều, có khi phải ngụy tạo để có được một vẻ
bề ngoài hấp dẫn, duyên dáng hay tuấn tú, khôi ngô. Ở giữa đời thì điều đó cũng
là chuyện bình thường, nhưng khi ảo tưởng quá lớn, nhiều người đã bị nô lệ vào
cái thân mà thực ra chỉ giống như một cái túi chứa đựng những vật dơ uế trông
rất gớm ghiếc. Thấy một người bị tai nạn, chỉ mới đổ máu thôi là chúng ta đã
không dám nhìn huống là lòi ruột, gan, tim, phổi... Ngay cả mùi mồ hôi của
chính mình chúng ta cũng đã không chịu nổi huống chi phân, đàm, dãi, mủ... tanh
hôi, nhơ nhớp.
Vì vậy, dám đối diện với sự thật 32
thể trược này để bình tỉnh quan sát, chiếu soi, thì sẽ dễ dàng thấy được bản
chất thật của cái thân ô trược, nhờ đó diệt trừ được tâm tham ái trong ý niệm
sạch đẹp (tịnh tướng), thoát khỏi ảo tưởng của một quan niệm sai lầm gọi là
thân kiến.
1.5) Bốn đại: “… Vị Tỷ kheo quán sát
thân này về vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: Trong thân này có địa đại,
thủy đại, hỏa đại và phong đại”.
Bốn đại là đối tượng thực tánh của
thân xúc. Qua thân xúc và thân thức ấy ý thức trực giác có thể nhận ra đặc tính
của từng đại. Đại là những yếu tố có đặc tính, công năng và cách biểu hiện độc
đáo riêng. Tên gọi đất, nước, lửa, gió chỉ có ý nghĩa tượng trưng chứ không
phải đất, nước, lửa, gió mà chúng ta biết hàng ngày như là những đối tượng khái
niệm của ý thức.
- Địa đại có đặc tính: cứng - mềm,
có công năng: nền tảng, có biểu hiện: thu nhận.
- Thủy đại có đặc tính: dính - nặng,
công năng: tăng cường, biểu hiện: kết hợp.
- Hỏa đại có đặc tính: nóng - lạnh -
nhẹ, công năng: thành thục, biểu hiện: làm mềm.
- Phong đại có đặc tính: co - giãn,
công năng: di động, biểu hiện: vận chuyển.
Trong khi quan sát trạng thái, tư
thế của một động tác, chúng ta có thể thấy biết rõ (tuệ tri) thực tánh của các
đại. Ví dụ như khi nắm bàn tay lại chúng ta cảm nhận được độ cứng mềm (địa đại)
của nắm tay, độ nóng lạnh (hỏa đại) của lòng bàn tay, hay sự di chuyển (phong
đại) của những ngón tay v.v... Nhận thức thực tánh một cách trực tiếp như vậy
giúp chúng ta thấy được cái gọi là nắm tay, bàn tay, ngón tay... chỉ là khái
niệm hư danh, không có thực tánh, cái thực chất trong đó chính là bốn đại hợp
thành, đồng thời giúp chúng ta phá được ảo tưởng “của tôi” và nhất là quan niệm
về nguồn gốc của một cái thân sinh ra do Đấng Tạo Hóa hay Thần Sáng Tạo.
1.6) Chín loại tử thi: “… Vị Tỷ kheo
khi thấy một tử thi bỏ trong nghĩa địa một, hai hoặc ba ngày, đang trương
phồng, xanh xám, thối rã…; tử thi bị quạ, diều, kên, chó, dã thú, côn trùng đục
khoét…; tử thi chỉ còn xương nối bởi gân dính ít thịt…; tử thi chỉ còn xương
nối bởi gân dính máu không thịt…; tử thi chỉ còn xương nối bởi gân, không thịt
không máu…; tử thi chỉ còn xương rời rã, rải rác chỗ này chỗ kia, đây là xương
tay, đây là xương chân, xương ống, xương vế, xương mông, xương sống, xương
đầu…; tử thi chỉ còn xương bạc trắng màu vỏ ốc; tử thi chỉ còn đống xương cũ
trên một năm; *tử thi chỉ còn xương đã mục thành bột, vị ấy quán: “thân này
tính chất là như vậy (evaṃ-dhammo), thực trạng là như vậy (evaṃ-bhāvī), không
vượt khỏi tính chất ấy”.
“Như vậy, vị ấy sống quán thân trên
nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên cả nội
thân ngoại thân, hay sống quán tánh sanh khởi (samudaya dhamma) trên thân, hay
sống quán tánh diệt tận (vaya dhamma) trên thân, hay sống quán tánh sanh diệt
(samudaya vaya dhamma) trên thân. “Thân đang là” vị ấy an trú niệm như vậy cho
đến mức xứng trí (ñāṇa mattāya), khế niệm (paṭissati mattāya). Và vị ấy sống
không nương tựa (anissito), không chấp trước (na upādayati) điều gì trên đời”
Dĩ nhiên trong mỗi người chúng ta
đều có bản năng sinh tồn, nhưng muốn trường sinh bất tử, tưởng mình còn sống
lâu trăm tuổi... nên chỉ lo hưởng thụ hay mưu cầu cho một tương lai lâu dài mà
không biết rằng mỗi ngày qua đi là mạng sống giảm dần và chúng ta đang trên
đường về cõi chết, như một định luật tất yếu của kiếp sống con người. Đồng thời
cái chết cũng không hẹn thời gian, nó có thể đến bất cứ lúc nào, ở tuổi xuân
xanh hay đầu đã bạc.
Ngược lại, nhiều người quá ham sống
sợ chết, cứ mong cầu sao cho chết được an toàn, êm ái, hay thậm chí còn lo sau
khi chết không được mồ yên mả đẹp. Với những người như vậy nên quán niệm sự
chết. Cách tốt nhất không phải là ngồi suy tư, tưởng tượng về sự chết mà là
quan sát thẳng, ngay nơi các tử thi mỗi khi có dịp chứng kiến. Ở Ấn Độ, ngày
xưa, các vị tỷ kheo muốn quan sát tử thi chỉ cần vào nghĩa trang lộ thiên gần
chỗ ở của mình, nhưng ngày nay chúng ta nên quan sát một người đang hấp hối,
một tử thi chưa liệm, một người chết còn nằm ngoài đường do tai nạn giao thông
hay những xác ướp trong nhà xác của các bệnh viện v.v... để tập đối diện với
cái chết, không tránh né một sự thật quá hiển nhiên đối với mọi người. Tuy
nhiên những người quá sợ chết, hay sợ ma không nên quan sát tử thi, nhất là ở
những nơi hoang vắng, vì có thể làm cho người ấy ngất xỉu, hay điên loạn.
Quán tử thi giúp chúng ta bớt tham
sinh úy tử, vì vậy cũng không cần luyện phép trường sinh mà sẵn sàng đối
diện với sự chết bất cứ lúc nào; không còn ảo tưởng về một sự sống đời đời mà
Đức Phật gọi là thường kiến, nên không cần tu luyện với mục đích đạt được một
cõi thường hằng bất tử. Chỉ cần ngay nơi hiện tại thấy rõ bản chất sinh diệt
của sự sống mới có thể an nhiên tự tại.
2) Quán thọ niệm xứ
(vedanānupassanā satipaṭṭhāna): Hành giả sống quán thọ trên các thọ
(vedanāsu vedanānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh
giác (sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):
“… Vị Tỷ Kheo khi cảm thọ lạc, tuệ
tri: “đang cảm thọ lạc”; khi cảm thọ khổ, tuệ tri: “đang cảm thọ khổ”; khi cảm
thọ không khổ, không lạc, tuệ tri: “đang cảm thọ không khổ, không lạc”. Hay khi
cảm thọ lạc thuộc ngũ dục, tuệ tri: “đang cảm thọ lạc thuộc ngũ dục”; khi cảm
thọ khổ thuộc ngũ dục, tuệ tri: “đang cảm thọ khổ thuộc ngũ dục”; khi cảm thọ
không khổ, không lạc thuộc ngũ dục, tuệ tri: “đang cảm thọ không khổ, không lạc
thuộc ngũ dục”. Hay khi cảm thọ lạc không thuộc ngũ dục, tuệ tri: “đang cảm thọ
lạc không thuộc ngũ dục”; khi cảm thọ khổ không thuộc ngũ dục, tuệ tri: “đang
cảm thọ khổ không thuộc ngũ dục”; khi cảm thọ không khổ, không lạc không thuộc
ngũ dục, tuệ tri: “đang cảm thọ không khổ, không lạc không thuộc ngũ dục”.
“Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên
các nội thọ hay sống quán thọ trên các ngoại thân, hay sống quán thọ trên các
nội thọ, ngoại thân, hay sống quán tánh sanh khởi (samudaya dhamma) trên các
thọ, hay sống quán tánh diệt tận (vaya dhamma) trên các thọ, hay sống quán tánh
sanh diệt (samudaya vaya dhamma) trên các thọ. “Thọ đang là” vị ấy an trú niệm
như vậy cho đến mức xứng trí (ñāṇa mattāya), khế niệm (paṭissati mattāya). Và
vị ấy sống không nương tựa (anissito), không chấp trước (na upādayati) điều gì
trên đời”.
Có thể nói, hầu như điều mà mọi
người quan tâm nhất trong cuộc sống chính là những cảm thọ khổ – lạc, buồn –
vui. Không ít người đã đồng hóa hạnh phúc với hoan lạc, vì vậy họ mải mê đi tìm
hạnh phúc trong những tiện nghi, những lạc thú, những thỏa mãn lợi lộc, tài
năng, danh vọng, địa vị, quyền uy, sắc dục, ăn uống v.v... và sẵn sàng hủy diệt
tất cả những gì cản trở trên con đường kiếm tìm phúc lạc của mình. Vì vậy, văn
minh của loài người, không ít thì nhiều cũng đúng như lời Sigmund Freud đã nói
là kết quả của tính dục (libido). Và cũng không thiếu những người tu hành chỉ
mong đạt đến một thế giới cực lạc hay một cõi vĩnh hằng, thường – lạc – ngã –
tịnh. Dù mục đìch có thô tế khác nhau, nhưng xét cho cùng thì đều không thoát
khỏi sự ràng buộc cùa những ham muốn cảm giác.
Thực ra, lạc thú và khổ đau là hai
mặt của một thực thể, càng ham lắm thú vui càng chịu nhiều đau khổ. Ngược lại,
càng chịu được nhiều đau khổ, càng hưởng được nhiều niềm vui. Hành giả quán thọ
không phải để tránh khổ tìm vui, mà để thấy rõ khổ là khổ, lạc là lạc như nó
là, không tham ưu, không thủ xả. Trong khổ không bất mãn, trong lạc không đam
mê chính là người đã thấy khổ lạc đúng với thực tánh của nó, không còn bị khổ
lạc làm cho si mê, điên đảo. Tự tại trong khổ lạc, vì đã thoát khỏi tham ưu
trong khổ lạc, và ảo tưởng cái ta chịu khổ hưởng lạc, chính là hành giả quán
thọ đã thành tựu trí tuệ chánh niệm tỉnh giác một cách đầy đủ, miên mật.
Thọ có sẵn nơi mỗi chúng ta, nhưng
vì tham ưu và tà kiến mà thân tâm chúng ta luôn bị ràng buộc, đắm chìm và cuốn
trôi trong dòng cảm giác thăng trầm ấy. Hành giả không nên cố gắng duy trì cảm
giác lạc mà mình ưa thích vì đó là tâm tham ái, hay nỗ lực loại bỏ cảm giác khổ
mà mình chán ghét vì đó là tâm sân hận. Thực ra, chỉ cần bình tĩnh lắng nghe
lại là có thể thấy rõ thực tánh của các cảm thọ mà không cần phải suy niệm theo
công thức “quán thọ thị khổ” hay theo bất cứ phương pháp niệm thọ phức tạp nào.
3) Quán tâm niệm xứ
(cittànupassanà satipatthàna): Hành giả sống quán tâm trên tâm (citte
cittànupassì viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác
(sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):
“… Ở đây vị Tỷ kheo với tâm có tham
(sarāga), tuệ tri tâm có tham, hay với tâm không tham (vītarāga), tuệ tri tâm
không tham.
Hay với tâm có sân (sadosa), tuệ tri
tâm có sân, hay với tâm không sân (vītadosa), tuệ tri tâm không sân.
Hay với tâm có si (samoha), tuệ tri
tâm có sân, hay với tâm không si (vītamoha), tuệ tri tâm không sân.
Hay với tâm thu rút (saṅkhitta), tuệ
tri tâm bị thu rút (hôn trầm, thụy miên), hay với tâm phân tán (vikkhitta), tuệ
tri tâm bị phân tán (trạo hối).
Hay với tâm đáo đại (mahaggata), tuệ
tri tâm được đáo đại (thiền hữu sắc, thiền vô sắc), hay tâm không đáo đại
(amahaggata), tuệ tri tâm không đáo đại (tâm dục giới).
Hay với tâm hữu thượng (sa-uttara),
tuệ tri tâm hữu thượng (tâm dục giới), hay tâm vô thượng (anuttara), tuệ tri
tâm vô thượng (tâm sắc giới và vô sắc giới).
Hay tâm có định (samāhita), tuệ tri
tâm có định (tâm cận hành hoặc an chỉ), hay tâm không định (asamāhita), tuệ tri
tâm không định (tâm chưa tới cận hành).
Hay tâm giải thoát (vimutta), tuệ
tri tâm được giải thoát (tâm tạm yên lặng phiền não), hay tâm không giải thoát
(avimutta), tuệ tri tâm không giải thoát (tâm có phiền não)”.
“Như vậy, vị ấy sống quán tâm
trên nội tâm hay sống quán tâm trên ngoại tâm, hay sống quán tâm trên cả nội
tâm ngoại tâm, hay sống quán tánh sanh khởi (samudaya dhamma) trên tâm, hay
sống quán tánh diệt tận (vaya dhamma) trên tâm, hay sống quán tánh sanh diệt
(samudaya vaya dhamma) trên tâm. “Tâm đang là” vị ấy an trú niệm như vậy cho
đến mức xứng trí (ñāṇa mattāya), khế niệm (paṭissati mattāya). Và vị
ấy sống không nương tựa (anissito), không chấp trước (na upādayati) điều gì
trên đời”
Nếu hành giả không thích hợp với đối
tượng thân và thọ, vị ấy có thể lấy tâm làm đối tượng quán chiếu. Tâm là một
thực thể hay một sự kiện có bản chất và hiện tượng vi tế khó thấy, ẩn hiện khó
lường nên là đối tượng được triết học và tôn giáo quan tâm nghiên cứu, giải
thích với nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau.
Hiện tượng luận cho tâm chỉ là hiện
tượng phát sinh có điều kiện nên khi đủ điều kiện thì tâm hiện hữu, khi không
đủ điều kiện thì tâm cũng chấm dứt. Duy tâm luận cho tâm là nguồn gốc của mọi
hiện tượng hay “Nhất thiết duy tâm tạo”. Bản thể luận cho tâm là bản thể của vũ
trụ và muôn loài. Ngã luận cho rằng tâm là tiểu ngã phóng ra từ một Đại Ngã.
Duy vật luận chủ trương tâm phát xuất từ vật chất, có vật chất mới có tâm, vật
chất tan rã thì tâm cũng không còn tồn tại. Chủ thuyết Duy Thần lại cho tâm là
linh hồn do Thượng Đế ban tặng v.v... Một số tông phái Phật giáo về sau cũng
chủ trương có một Phật Tính hay Chân Tâm thường trụ. Nói chung tâm được gán cho
những yếu tính đối nghịch như : thường – đoạn, hữu biên – vô biên, hữu thể – vô
thể, hữu thần – vô thần v.v...
Theo thiền Vipassanā, không cần có
một kết luận như thế nào về tâm mà chính là cần phải thấy rõ tâm mình đang như
thế nào. Cho dù chúng ta có hãnh diện với một chủ trương quan niệm gì đó về tâm
rất cao siêu mà thực trạng là cái tâm đang bị ô nhiễm, trói buộc, mê mờ... thì
chúng ta vẫn phải trầm luân sinh tử, phiền não khổ đau. Vì vậy, điều quan trọng
là chúng ta có thấy được bản chất thực của tâm mình như nó đang là hay không.
Chỉ cần khi tâm có tham, có sân hay có si... thì nhận rõ tâm có tham, có sân
hay có si..., không cần phê phán, kiểm duyệt, giữ lại hay bỏ đi gì cả. Người ta
thường có thói quen muốn thay đổi tình trạng của tâm theo ý mình mà không biết
rằng đàng sau ý muốn đó là cái ngã đang tỏ thái độ bất mãn hay tham ái. Hãy chỉ
thuần túy quan sát với chánh niệm tỉnh giác thì chúng ta mới thấy được thực
tánh của tâm mình. Tâm gì khởi lên không quan trọng mà quan trọng là có thấy
được bản chất đích thực của nó như nó đang là hay không. Vì vậy, khi quan sát
tâm, không cần theo một phương pháp niệm tâm nào nhất định có tính rèn luyện,
mà chỉ quan sát trong điều kiện tự nhiên nhất của tâm như nó đang hiện
hữu.
4) Quán pháp niệm xứ
(dhammānupassanā satipaṭṭhāna): Hành giả sống quán pháp trên các pháp (dhammesu
dhammānupassī viharati), tinh cần (ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác
(sampajāno), chế ngự tham ưu ở đời (loke abhijjhā domanassaṃ):
4.1) Năm triền cái (nīvaraṇa):
“… Nội tâm có tham dục
(kāmacchanda), tuệ tri: “Nội tâm có tham dục”; hay nội tâm không có tham dục,
tuệ tri: “Nội tâm không có tham dục”. Và với tham dục chưa sanh nay sanh khởi,
vị ấy tuệ tri như vậy. Và với tham dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ
tri như vậy. Và với tham dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa,
vị ấy tuệ tri như vậy”.
Cũng vậy, đối với sân hận (vyāpāda),
hôn trầm thụy miên (thīna-middha), trạo hối (uddhacca-kukkacca) và nghi hoặc
(vicikicchā).
Một hành giả có tâm vi tế, có trí
tuệ sắc bén, có thể dễ dàng phát hiện sự sinh khởi và sự đoạn diệt của những
pháp che lấp nội tâm. Như chúng ta đã biết, triền cái là năm pháp trói buộc và
che lấp, khiến nội tâm không được an tịnh (định) và trong sáng (tuệ). Vì vậy,
trong thiền định, hành giả cố gắng chế ngự năm triền cái ở mức độ thô bằng năm
thiền chi, nhưng trong thiền tuệ hành giả chỉ cần sáng suốt thấy biết thực tánh
sinh diệt của năm triền cái dù ở mức độ vi tế như thế nào. Khi trí tuệ chánh
niệm tỉnh giác hoàn toàn trong sáng thì năm triền cái cũng hoàn toàn đoạn diệt,
tương lai không còn sanh khởi được nữa.
Tuy nhiên, chúng ta lưu ý là không
nên dùng chánh niệm tỉnh giác để cố gắng trừ diệt năm triền cái, mà chỉ soi
chiếu một cách khách quan và chứng kiến sự sinh khởi, sự đoạn diệt trong thực
tánh tự nhiên của chúng mà thôi. Cố gắng đối kháng hay buông xuôi theo triền
cái là thái độ tham ưu phát xuất từ một cái ta tà kiến hoặc ngã mạn, chỉ làm
cho triền cái phức tạp thêm.
4.2) Năm thủ uẩn (upadāna khandhā):
“… Đây là sắc, đây là sắc
sanh, đây là sắc diệt. Đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt. Đây là
tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt. Đây là hành, đây là hành sanh, đây
là hành diệt. Đây là thức sinh, đây là thức sanh, đây là thức diệt”.
Chúng ta có thói quen cố hữu là
thường nuôi ảo giác về một cái tôi luôn đồng nhất, liên tục trong mọi hoạt
động: Tôi đi đứng, tôi uống ăn, tôi suy nghĩ, tôi đau đớn, tôi buồn phiền, tôi
hạnh phúc v.v... nghĩa là dù mọi thứ thay đổi thì cái tôi vẫn không thay đổi.
Ảo giác này đưa đến chấp thủ quan niệm có một cái tôi thường hằng bất biến. Đó
chính là thường kiến, một tà kiến nguy hiểm nhất trong 62 tà kiến mà kinh
Brahmajāla đã nói đến. Chính tà kiến này đã gây biết bao khổ đau, phiền lụy cho
chúng sinh trong kiếp sống luân hồi sinh tử. An lạc, giải thoát thật sự rốt ráo
không có bất kỳ ở đâu khi chưa chấm dứt hoàn toàn ảo tưởng tà kiến này.
Cách duy nhất để chấm dứt ảo tưởng
tà kiến này là quan sát trung thực hoạt động của cái gọi là tôi với chánh niệm
tỉnh giác. Trong khi quan sát, hành giả chắc chắn sẽ thấy rõ (tuệ tri) sự kiện
tương sinh và đồng sinh của những chuỗi hoạt động tâm - sinh - vật lý gồm năm
yếu tố : sinh vật lý, cảm giác, tri giác, phản ứng và thu thập kinh nghiệm,
chúng luôn luôn sinh diệt và biến đổi không ngừng, trong đó không tìm đâu ra
cái tôi mà ảo tưởng đã dựng lên trong quá trình tư tưởng của con người.
4.3) Mười hai xứ (āyatana):
“…Vị Tỷ kheo tuệ tri con mắt
và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như
vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết
sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được
đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy”.
Cũng vậy đối với những căn trần còn
lại: Tai – thanh, mũi – mùi, lưỡi – vị, thân – xúc , ý – pháp.
Khi hành giả đã thấm nhuần trong
pháp hành vipassanā, vị ấy có thể sống hoàn toàn tỉnh thức với chánh niệm tỉnh
giác giữa những tiếp xúc căn trần một cách tự nhiên, vị ấy thấy rõ giữa duyên
căn và trần nào có loại kiết sử nào đang sanh, đang diệt hay đã đoạn diệt hoàn
toàn.
Ví dụ như khi mắt duyên với sắc nếu
có ý niệm “ta thấy” khởi lên, vị ấy biết rõ thân kiến đang hiện hữu. Khi ý niệm
ta biến mất trong cái thấy, vị ấy biết rõ thân kiến sanh nay đã diệt. Khi thân
kiến đã hoàn toàn sạch bóng trong tâm, vị ấy biết rõ thân kiến không thể sanh
khởi lại nữa.
Cũng vậy, đối với hoài nghi, giới
cấm thủ, dục ái, sân hận, sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, trạo cử, vô minh sanh
khởi hoặc đoạn diệt khi có sự tiếp xúc giữa các căn và trần, vị ấy hoàn toàn
biết rõ như vậy với trí tuệ.
4.4) Thất giác chi (bojjhaṅga):
“… Nội tâm có niệm giác chi,
tuệ tri: “Nội tâm có niệm giác chi”, hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ
tri: “Nội tâm không có niệm giác chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh
khởi, vị ấy tuệ tri như vậy. Và với niệm giác chi đã sanh nay được tu tập viên
thành, vị ấy tuệ tri như vậy”.
Cũng vậy đối với trạch pháp, tinh
tấn, hỷ, khinh an, định và xả giác chi.
Bình thường hành giả có trí tuệ bén
nhạy có thể quan sát thấy những yếu tố giác ngộ đang hiện diện trong tâm, nhưng
phải có chủ ý tìm kiếm một cách thiếu tự nhiên. Cho nên khi các giác chi còn mờ
nhạt chưa nên gắng gượng hành đề mục này như vậy.
Đối với hành giả đã thuần thục trong
niệm thân, niệm thọ, niệm tâm hoặc niệm pháp với các đối tượng trước, đến đây
các giác chi hiện lên rất rõ ràng trong tâm, vị ấy chỉ chứng kiến một cách tự
nhiên, trong sáng.
4.5) Tứ Thánh đế (Ariya sacca):
“Này các tỷ kheo, thế nào là vị tỷ
kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Sự Thật?”
“Này các tỷ kheo, vị tỷ kheo như
thật tuệ tri: “Đây là khổ”, như thật tuệ tri: “Đây là khổ tập”, như thật tuệ
tri: “Đây là khổ diệt”, như thật tuệ tri: “Đây là con đường đi đến khổ diệt”.
“Như vậy vị ấy sống quán pháp trên
các nội pháp hay sống quán pháp trên các ngoại pháp, hay sống quán pháp trên
các nội pháp ngoại pháp, hay sống quán tánh sanh khởi (samudaya dhamma) trên
các pháp, hay sống quán tánh diệt tận (vaya dhamma) trên các pháp, hay sống
quán tánh sanh diệt (samudaya vaya dhamma) trên các pháp. “Pháp đang là” vị ấy
an trú niệm như vậy cho đến mức xứng trí (ñāṇa mattāya), khế niệm (paṭissati
mattāya). Và vị ấy sống không nương tựa (anissito), không chấp trước (na
upādayati) điều gì trên đời”
Trên phương diện pháp học, chúng ta
có thể hiểu được giáo lý Bốn Sự Thật Vi Diệu trong kinh Chuyển Pháp Luân tương
đối dễ dàng, nhưng trên phương diện pháp hành rốt ráo thì không dễ thấy được
chân lý này khi tuệ giác chưa đủ chín mùi, vì đây là chặng cuối cùng của hành
trình giác ngộ: Thánh Đạo Tuệ.
Đôi lúc chúng ta cũng có thể thâm
nghiệm cảm giác khổ hoặc sự sanh, sự diệt của khổ nhưng đó là khổ thọ đơn thuần
trong pháp hành niệm thọ. Cũng vậy, thỉnh thoảng chúng ta thấy nguyên nhân của
khổ là tham, sân chẳng hạn, nhưng đó là một trạng thái tâm sinh diệt đơn thuần
trong pháp hành niệm tâm, hoặc có khi thấy chánh niệm khởi lên, có khi thấy hôn
trầm biến mất, đó là niệm pháp. Chúng ta có thể tuệ tri những đối tượng thực
tánh này một cách cục bộ, từng mảng riêng biệt, nhưng đó chưa phải là tuệ
tri Tứ Thánh Đế. Tứ Thánh Đế xuất hiện trọn vẹn trong một mối quan hệ nhân quả
gần như đồng thời và xuyên suốt trước Thánh Đạo Tuệ. Vậy thì đoạn này vừa là
pháp hành vừa là kết quả của pháp hành (pháp thành) trong thiền tuệ Vipassanā.
II.5) TÁNH (carita) CỦA HÀNH GIẢ
VỚI CÁC NIỆM XỨ:
Có hai khuynh hướng che lấp
khiến hành giả không thấy được thực tánh của thân - thọ - tâm - pháp, đó là
tánh tham ái và tánh tà kiến. Hành giả thiền Vipassanā chủ yếu là phải khám
phá, phát hiện và thấy rõ trong hai khuynh hướng trên mình có tánh tham ái hay
tà kiến mạnh hơn. Tánh tham ái thường che lấp thực tánh của đối tượng thân và
thọ, tánh tà kiến khiến hành giả không thấy thực tánh của đối tượng tâm và
pháp, nếu hành giả biết mình có khuynh hướng nào sẽ chọn đối tượng đúng với cá
tánh của mình và kết quả quán chiếu sẽ dễ dàng hơn.
1) Hành giả tánh tham ái có trí tuệ
yếu nên hành thân niệm xứ để dễ trừ tham ái do thấy tánh bất tịnh của thân.
Người có tánh tham ái mà trí tuệ lại kém thì thường tham đắm trong ngũ dục như
sắc đẹp, vị ngon… và nhất là đối với thân dục, nếu không vừa ý thì liền sinh
sân hận (sân hận là mặt trái của lòng tham ái), vì vậy thân niệm xứ là đối
tượng phù hợp để nâng cao trí tuệ yếu kém, nhờ đó thấy rõ bản chất thật của xác
thân ô trược để dứt trừ lòng tham ái trong ngũ trần.
2) Hành giả tánh tham ái có trí tuệ
mạnh nên hành thọ niệm xứ để dễ trừ tham ái do thấy thực tánh khổ của thọ. Thọ
hay cảm giác là đối tượng vi tế đối với một lòng tham ái cao, vì vậy cần một
trí tuệ sâu sắc hơn mới có thể thấy được. Ví dụ một người ghiền ma túy đã đẩy
lòng tham ái của mình lên cao cùng với sự dính mắc vào những cảm giác giác quan
(thọ). Nếu người đó có trí thì nên lấy chính cảm giác ấy làm đối tượng để chú
tâm quan sát. Khi lắng nghe trung thực cảm giác đang hiện khởi người đó sẽ thấy
ra bản chất thật của cảm thọ và nhờ đó lòng tham ái được hóa giải. Nhiều trại
cai ma túy trên thế giới đã ứng dụng thành công phương án này.
3) Hành giả tánh tà kiến có trí tuệ
yếu nên hành tâm niệm xứ để dễ trừ tà kiến do thấy tánh vô thường của tâm. Tâm
là một đề tài gây nhiều tranh luận trong các lãnh vực đạo học, thần học, triết
học, tâm lý học, phân tâm học, siêu hình học v.v... với nhiều tên gọi khác
nhau, như linh hồn, tiểu ngã, đại ngã, thức tánh v.v... và nhiều luận thuyết
mâu thuẫn nhau mà phần lớn là những lý luận dựa trên giả thuyết hơn là thực
kiện, như chủ trương tâm là thực thể thường hằng (thường kiến), là sản phẩm của
vật chất (đoạn kiến), tâm sinh ra vạn pháp (duy tâm), tất cả đều do tâm biến
hiện (duy thức), linh hồn là tiểu ngã, vũ trụ tâm là đại ngã v.v... Vì vậy, có
không ít những luận thuyết chủ quan, sai lầm mà Phật giáo gọi là tà kiến. Người
đã tà kiến lại có trí tuệ yếu thì nên lấy tâm làm đối tượng quán chiếu. Khi
quan sát kỹ với chánh niệm tỉnh giác hành giả sẽ thấy ra qui luật vận hành của
tâm, thấy nhân và duyên sinh diệt của nó, thấy đúng tánh, tướng, thể, dụng… của
nó thì chắc chắn khi trí tuệ đầy đủ sẽ loại trừ được những tà kiến sai lầm.
4) Hành giả tánh tà kiến có trí tuệ
mạnh nên hành pháp niệm xứ để dễ trừ tà kiến do thấy tánh vô ngã của pháp. Pháp
là những thực kiện được phát hiện qua chánh niệm tỉnh giác trong sự vận hành
của thân tâm hay sự tương giao giữa căn trần. Bình thường ít ai phát hiện được
điều này, họ chỉ quan niệm theo thói quen rằng thân tâm và thế giới là ta hay
của ta. Đây chính là tà kiến cốt lõi nhất trong những tà kiến của con người về
ngã và pháp. Người có trí chỉ cần quan sát sự tương giao vận hành của thân -
tâm - cảnh thì sẽ không còn ngã kiến nữa.
II.6) MƯỜI SÁU TUỆ CHỨNG
(soḷasañāṇa):
Khi hành giả thực hành thiền tuệ với
tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác đúng mức thì 16 trí tuệ Vipassanā sẽ lần lượt
phát sinh.
1) Tuệ tách bạch danh sắc (nāmarūpa
pariccheda ñāṇa): tuệ tri tướng trạng riêng biệt (visesa lakkhaṇa) của từng
danh pháp, từng sắc pháp trong sự tương giao danh - sắc. Ví dụ, khi đi, với
giác niệm đúng mức hành giả thấy rõ có hai yếu tố: ý muốn di chuyển (danh) và
động tác di chuyển (sắc), hoặc động tác di chuyển (sắc) và tâm biết (danh) động
tác di chuyển ấy, đang hỗ tương rất mật thiết nhưng lại hoàn toàn riêng biệt về
tánh, tướng, thể, dụng…
Trong tuệ thứ nhất này, nhờ tách
bạch được tính chất riêng của danh (tâm) và sắc (thân) mà lần đầu tiên hành giả
đạt được kiến tịnh (diṭṭhi visuddhi), nghĩa là phá được từng phần ảo
tưởng về một cái ta theo quan niệm (attānudiṭṭhi) hay thân kiến (sakkāyadiṭṭhi)
cố hữu thâm căn trong tư tưởng con người.
2) Tuệ nắm bắt duyên sinh (paccaya
pariggaha ñāṇa): tuệ tri nhân duyên sinh khởi của từng danh pháp và sắc pháp.
Trong tuệ thứ hai này, sau khi đã tách bạch được hai yếu tố riêng biệt danh và
sắc, hành giả ngày càng thấy rõ hơn nguyên nhân và điều kiện sinh khởi của từng
danh pháp và sắc pháp.
Ví dụ về danh pháp:
- Khi thấy, hành giả biết rõ danh
pháp là nhãn thức khởi lên do duyên nhãn căn và sắc trần, có ngũ môn hướng tâm,
trong điều kiện ánh sáng đầy đủ.
- Khi nghe, nhĩ thức sinh khởi do
duyên nhĩ căn và thanh trần, có ngũ môn hướng tâm, trong điều kiện không gian
không bị cách âm.
- Khi ngửi, tỷ thức sinh khởi do
duyên tỷ căn và hương trần, có ngũ môn hướng tâm, trong điều kiện môi trường
khuếch tán tốt hoặc thuận hướng gió.
- Khi nếm, thiệt thức khởi lên do
duyên thiệt căn và vị trần, có ngũ môn hướng tâm, trong điều kiện chất dẫn tốt.
- Khi xúc chạm, thân thức sinh lên
do duyên thân căn và xúc trần, có ngũ môn hướng tâm, trong điều kiện đầy đủ địa
đại.
- Khi biết, ý thức sinh lên do duyên
ý căn và pháp trần, có ý môn hướng tâm, trong điều kiện ý sở y sắc tốt.
Về sắc pháp:
Hành giả, trong tuệ thứ hai này,
đồng thời cũng thấy rõ nhân duyên sinh khởi của từng sắc pháp. Một sắc pháp
hình thành do nghiệp, tâm, thời tiết và vật thực. Do nghiệp quá khứ là thiện
hay bất thiện mà có kết quả là sắc tốt hay xấu, thô hay tế…, cũng vậy, thời
tiết và vật thực là điều kiện tất yếu cho sự sinh tồn của sắc pháp ấy. Tuy
nhiên điều mà hành giả có thể trực tiếp quan sát thấy rõ là sắc phát sinh do
tâm. Ví dụ: Khi tâm hành giả nghĩ “đi”, tạo ra khí (lực) tác động lên hệ thần
kinh điều khiển động tác đi (sắc). Như vậy, “sắc” đi là trạng thái và tư thế
biểu hiện của “tâm” muốn đi. Điều này hành giả phải tự thực chứng chứ không do
lý luận mà có.
Nhờ hành giả thấy rõ nguyên nhân và
điều kiện phát sinh từng danh pháp và sắc pháp mà đạt được đoạn nghi tịnh,
không còn nghi vấn “ta sinh từ đâu” hay “ai sinh ra ta”… mà chỉ là một chuỗi
duyên sinh của danh sắc.
3) Tuệ thẩm sát tam tướng (sammasana
ñāṇa): do thấy sự diệt của danh sắc đã tập khởi nên bắt đầu có khả năng tuệ tri
ba tánh trạng vô thường, khổ não, vô ngã.
Dựa trên hai tuệ trước tách bạch và
thấy rõ nhân duyên sinh khởi của danh và sắc, hành giả thấy sâu hơn sự diệt và
nhân duyên diệt của từng danh pháp, sắc pháp nên đạt được tuệ thứ 3, lần đầu
tiên thực sự chứng kiến với tuệ tri ba tướng vô thường, khổ, vô ngã. Ví dụ,
trong khi quan sát động tác thở (sắc pháp), với chánh niệm – tỉnh giác, hành
giả biết rõ động tác hít vào diệt hoàn toàn trước khi thở ra, rồi động tác thở
ra diệt hoàn toàn trước khi hít vào. Cũng vậy, tâm thấy biết (danh pháp) động
tác hít vào diệt hoàn toàn trước khi tâm thấy biết động tác thở ra và ngược
lại. Với thực kiện của chuỗi diễn biến này, hành giả thấy rõ thực tánh vô
thường hoặc khổ hoặc vô ngã hoặc cả ba.
Nhờ vậy hành giả đã đoạn giảm được
các điên đảo tưởng về thường, lạc, ngã, tịnh. Tuy nhiên, tuệ thứ ba chưa đủ
mạnh, nên tham ái, ngã mạn và tà kiến vi tế vẫn còn ẩn núp đằng sau. Ví dụ như
thoả mãn với cái thấy cao hơn của mình. Thỏa mãn là tham ái, cao hơn
là ngã mạn, của mình là tà kiến.
4) Tuệ sinh diệt (udayabbaya ñāṇa):
tuệ thứ tư này là cái thấy tổng hợp của ba tuệ trước. Nhờ thấy biết rõ
danh và sắc sinh diệt, sinh diệt liên tục ngay trong hiện tại nên tuệ này càng
thấy biết rõ ràng hơn ba tánh trạng chung của danh và sắc là vô thường,
khổ não, vô ngã.
Tuy nhiên, điều quan trọng mà tuệ
thứ tư này chứng đạt được là:
- Do thấy được tánh trạng sự sinh
(udaya) của danh và sắc nên trừ được đoạn kiến cho rằng diệt là sự chấm dứt
hoàn toàn. Thực ra trong một chuỗi nhân quả chính diệt làm duyên cho sinh.
- Do thấy được tánh trạng sự diệt
(vaya) của danh và sắc nên trừ được thường kiến cho rằng có sinh tức có sự liên
tục tồn tại mãi mãi không bao giờ chấm dứt. Thực ra cái gì đã có sinh tất phải
có diệt (uppajjitvā nirujjhanti), nói cách khác là chính vì có sinh nên không
có sự tồn tại mãi mãi.
- Do thấy được sự sinh diệt liên tục
mà hành giả vượt qua được mười pháp phiền não của thiền tuệ như: ánh sáng
(obhāsa), trí sắc bén (ñāṇa), hỷ (pīti), an (passaddhi), lạc (sukha), thắng
giải (adhimokkha), tinh cần (paggāha), ứng niệm (upaṭṭhāna), xả (upekkha), thỏa
mãn (nikanti). Thực ra đây không phải là những trạng thái xấu, trái lại, những
trạng thái phát sinh trong tâm hành giả lúc này rất phi thường, rất mạnh mẽ nhờ
chứng được các tuệ trước, nhưng cũng chính vì những trạng thái phi thường này
mà hành giả dễ sinh ngã mạn, tự mãn, và nhất là cho rằng mình đã chứng đắc Đạo
Quả, Niết-bàn. Do đó những pháp này mới trở thành chướng ngại cho pháp hành
thiền tuệ như thế.
5) Tuệ diệt (bhaṅga ñāṇa): tuệ tri
sự diệt nhanh chóng của danh sắc. Nếu tuệ thứ hai thấy duyên sinh, tuệ thứ ba
thấy duyên diệt, tuệ thứ tư thấy sự sinh diệt liên tục của danh và sắc, thì tuệ
thứ năm đặc biệt chú ý thấy rõ sự diệt nhanh chóng của cả đối tượng lẫn chủ
thể. Nghĩa là ngay khi hành giả hướng tâm đến đối tượng sở quán hay hướng về
chính chủ thể (tâm) năng quán nào đều thấy rõ nó diệt đi một cách cực kỳ mau
chóng.
- Nhờ tuệ diệt hành giả phá trừ được
hữu kiến (bhava-diṭṭhi) về sự thường tại của kiếp sống. Thực ra, không những
một kiếp sống luôn là tiến trình biến hoại trong sinh – già - bệnh - chết hay
sinh - trụ - dị - diệt, mà còn là sự tồn tại ngắn ngủi trong từng sát-na sinh
diệt. Tuệ thứ năm có khả năng thấy rõ sự biến diệt của danh và sắc trong từng
khoảnh khắc ngắn ngủi ấy.
- Nhờ tuệ thứ năm thấy rõ chủ
thể và đối tượng biến diệt không ngừng mà hành giả phá được vọng tướng ngã,
nhân, chúng sinh, thọ giả của chủ thể và ảo tướng hằng hữu của đối tượng.
6) Tuệ kinh uý (bhaya ñāṇa): tuệ tri
sự biến diệt, tan hoại của danh sắc là mối nguy hiểm đáng sợ. Đây không phải là
sợ hãi danh sắc như sự lo sợ thông thường khi cái ta bị đe dọa hay nỗi kinh
hoàng trước sự tấn công của dã thú, mà do trải qua năm tuệ chứng về sự sinh
diệt nên hành giả bắt đầu thấy rõ sự biến ảo đáng sợ của danh pháp sắc pháp.
Hành giả biết rằng một khi lòng tham ái đắm say trong đó thì hậu quả thật đáng
sợ.
Giống như một người ghiền ma túy khi
đã tự mình chiêm nghiệm được sự phù phiếm của nó, người ấy thấy rõ ma túy thật
đáng sợ cho những ai ghiền nó. Sự kinh sợ này rất cần thiết cho người muốn
thoát khỏi tình trạng nghiện ngập của mình.
Cũng vậy, người ham mê trong danh
sắc chỉ có thể hy vọng thoát khỏi nó khi nào chứng được tuệ thứ sáu này.
7) Tuệ tội quá (ādīnava ñāṇa): tuệ
tri tội chướng của danh sắc. Nhờ sáu tuệ trước, đến đây hành giả thấy rõ sự
nguy hiểm, sự bức bách, sự bất an, sự độc hại, sự bệnh hoạn… của tứ đại, của
ngũ uẩn, của căn trần, nói chung là danh sắc.
Người thường chỉ thấy vị ngọt hay
tướng sạch đẹp của danh sắc, mà phần lớn do tưởng thêm thắt vào một cách chủ
quan, nên mới bị đắm chìm trong tham ái, nhất là ngã ái đối với thân tâm. Thực
ra chỉ cần trầm tĩnh sáng suốt quan sát với chánh niệm tỉnh giác, hành giả sẽ
thấy ra rất nhiều mối nguy cơ tiềm ẩn bên trong tổ hợp tâm - sinh - vật lý đó,
và chỉ khi thật sự thấy ra sự nguy hại này thì mới có thể xuất ly ra khỏi sự
ràng buộc của tham, tà kiến và mạn đối với tổ hợp danh sắc.
8) Tuệ yếm ly (nibbidā ñāṇa): tuệ
tri sự đáng nhàm chán của danh sắc. Đến đây, khi đã thấy rõ sự nguy hại, hành
giả không còn hứng thú gì đối với danh sắc mà trước kia đã từng đam mê, ái
luyến. Sự nhàm chán này không phải do sự hưởng thụ quá dư dật thừa thãi, bởi vì
khi thiếu đói trong dục lạc thì sự khát khao lại bùng dậy mạnh mẽ hơn.
Nibbidā (nhàm chán) thường đi chung
với virāga (ly dục), vimutti (giải thoát) và Nibbāna (Niết-bàn), vì vậy, không
phải là sự nhàm chán thường tình, mà do sự thấy rõ bản chất thực ba tường chung
của danh sắc, nhất là tướng khổ không, nên không còn thấy có gì hấp dẫn để đam
mê trong đó.
Tuệ này giúp đoạn giảm bảy ảo tưởng:
thường (nicca), lạc (sukha), ngã (atta), hỷ tham (nandi), luyến ái (rāga), sanh
ái (samudaya) và chấp thủ (udāna).
9) Tuệ dục thoát (muñcitukamyatā
ñāṇa): tuệ tri sự cần yếu của thoát ly danh sắc. Khi đã tuệ chứng khổ đế trong
danh sắc, thấy rõ ba cõi dục, sắc, vô sắc như ngôi nhà đang bị thiêu cháy. Giả
sử có người bị trói trong căn nhà đang cháy ấy thì phản ứng tất nhiên là anh ta
phải khẩn cấp cắt đứt mọi trói buộc để nhanh chóng thoát ra khỏi ngôi nhà đang
có nguy cơ sụp đổ.
Câu kệ Pháp Cú:
“Cười vui được hay sao
Khi thế gian bốc cháy
Khắp nơi khói mịt mù
Sao chẳng tìm lối thoát?”
chỉ có thể được hiểu đúng mức đối
với những hành giả đã thực chứng tuệ thứ chín này. Thế gian ở đây bao gồm tất
cả danh sắc trong tam giới đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa phiền não nhất là
tham ái và tà kiến.
Từ thoát ly (muñcitu > muñcati)
trong tuệ thứ 9 không phải là ra khỏi theo nghĩa đen, như ra khỏi một nơi nào
đó, mà ra khỏi theo nghĩa tâm lý, là hóa giải sự trói buộc, sự nô lệ, không còn
bị chi phối hay ảnh hưởng bởi danh sắc.
10) Tuệ quyết ly (paṭisaṅkhā ñāṇa):
trải qua 9 tuệ trên, tuệ thứ mười đã có đủ quyết tâm thoát ly tập đế, khổ đế
phát sinh từ danh sắc trong ba cõi bốn loài. Nhưng quan trọng là tuệ này đã tìm
thấy con đường thoát ly (Đạo đế). Ví như một con chuột vì tham ăn mồi ngon mà
bị mắc bẫy, bây giờ nó không hứng thú gì để hưởng thụ mà chỉ lo tìm đường thoát
thân. Tuy nhiên, con chuột không thể thoát nạn, nó chỉ vẫy vùng trong sợ hãi,
đớn đau và thất vọng mà thôi. Cũng vậy, con người thấy khổ, cố gắng thoát khổ,
nhưng không thể thoát vì thiếu chánh niệm tỉnh giác, thiếu sáng suốt trầm tĩnh
để tìm ra phương hướng thoát ly.
Tuệ này quyết định một cách nhanh
chóng với nỗ lực cuối cùng của tư duy trước khi hoàn toàn lặng lẽ chiếu soi.
11) Tuệ hành xả (saṅkhārupekkhā
ñāṇa): tuệ tri trạng thái bình lặng của các tâm hành, chuẩn bị cho tiến trình
Thánh Đạo. Nếu từ thoát ly có nghĩa là sợ hãi chạy trốn thì tâm trạng của
người muốn thoát ly chắc chắn sẽ là căng thẳng, kinh mang tột độ, nhưng tuệ này
lại là một tâm xả hoàn toàn bình thản, không còn một chút lo âu, vướng bận điều
gì.
Ví như một người nằm mơ thấy cơn ác
mộng, anh ta tìm cách đối phó, nhưng khi chợt nhận ra đây chỉ là giấc mộng anh
ta trở nên hoàn toàn thản nhiên, chẳng còn lo tính.
Tuệ hành xả hoàn toàn khác với trạng
thái xả rất mạnh mà hành giả đạt được trong khi chứng tuệ thứ tư. Nhiều hành
giả khi đạt được trạng thái xả mạnh đã tưởng lầm là tuệ hành xả thứ 11 này.
Thực ra, chính trạng thái xả mạnh là trở ngại cho thiền tuệ mà hành giả phải
vượt qua mới có thể chứng được tuệ thứ năm, trong khi tuệ hành xả lại là điều
kiện tất yếu để thuận nhập dòng Thánh.
12) Thuận thứ tuệ (anuloma ñāṇa):
tuệ tri trạng thái thuận nhập dòng Thánh Đạo. Với một trạng thái hoàn toàn bình
lặng trong sáng của tuệ thứ 11, lúc bấy giờ tâm hành giả tự động thuận nhập vào
Đạo lộ (Magga-citta-vīthi) của các bậc Thánh. Tuệ thứ 12 chính là khởi đầu của
Thánh Đạo lộ này, diễn ra trong 2 hoặc 3 sát-na:
- Chuẩn bị cho Thánh Đạo Tâm
(parikamma)
- Cận hành Thánh Đạo Tâm (upacāra)
- Thuận thứ Thánh Đạo Tâm (anuloma).
13) Tuệ chuyển tánh (gotrabhū ñāṇa):
tuệ tri trạng thái chuyển hóa từ phàm qua Thánh hay từ đối tượng hiệp thế (danh
sắc) qua đối tượng siêu thế (Niết-bàn). Chuyển biến này chỉ diễn ra trong một
sát-na, vừa đủ để buông bỏ lãnh vực phàm phu, chuyển qua một trong bốn Thánh
Đạo Tâm.
Nếu hành giả có khuynh hướng lấy
trạng thái vô thường của danh sắc làm đối tượng thì tuệ chuyển tánh sẽ từ bỏ
đối tượng vô thường ấy để hướng qua đối tượng Vô Tướng Niết-bàn.
Nếu hành giả có khuynh hướng lấy
trạng thái khổ não của danh sắc làm đối tượng thì tuệ chuyển tánh sẽ từ bỏ đối
tượng khổ não ấy để hướng qua đối tượng Vô Ái Niết-bàn.
Nếu hành giả có khuynh hướng lấy
trạng thái vô ngã của danh sắc làm đối tượng thì tuệ chuyển tánh sẽ từ bỏ đối
tượng vô ngã ấy để hướng qua đối tượng Tánh Không Niết-bàn.
14) Tuệ Đạo (Magga ñāṇa): liễu tri
Thánh Đạo siêu thế tâm, có đối tượng Niết-bàn, chấm dứt hoàn toàn những kiết sử
(saṃyojana) tương ứng. Tuệ thứ 13 chỉ mới hướng nhận đối tượng Niết-bàn nên
chưa đoạn tận phiền não, đến tuệ Thánh Đạo này mới có công năng dập tắt hoàn
toàn những kiết sử tương ứng:
- Tu-đà-hoàn Thánh Đạo tuệ đoạn tận
ba kiết sử: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ.
- Tư-đà-hàm Thánh Đạo tuệ đoạn giảm
thêm hai kiết sử: Dục ái, sân hận.
- A-na-hàm Thánh Đạo tuệ đoạn tận
năm kiết sử đầu: Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân hận.
- A-la-hán Thánh Đạo tuệ đoạn tận
thêm năm kiết sử sau: Sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, trạo cử, vô minh.
15) Tuệ Quả (Phala ñāṇa): liễu tri
một trong bốn Thánh Quả thuộc siêu thế tâm, có đối tượng Niết-bàn thanh tịnh,
thoát khỏi những phiền não, khổ đau trong tam giới tương ứng với những kiết sử
đã đoạn tận tùy theo bậc Thánh Quả Tuệ.
Thánh Đạo Tuệ và Thánh Quả Tuệ những
đặc điểm chung và riêng như sau:
- Có cùng đối tượng là Niết-bàn.
- Khi có Tuệ Đạo thì lập tức có Tuệ
Quả không trải qua thòi gian.
- Tuệ Đạo thuộc siêu thế thiện tâm,
Tuệ Quả thuộc siêu thế dị thục tâm.
- Tuệ Đạo chỉ có một sát-na, Tuệ quả
có hai đến ba sát-na và nếu nhập Thánh quả định thì thời gian như ý nguyện.
16) Tuệ hồi khán (paccavekkhaṇa
ñāṇa): liễu tri Đạo, Quả, Niết-bàn, và những phiền não, kiết sử nào đã diệt tận
hay vẫn còn dư sót. Ngay sau khi thực chứng một trong bốn Thánh Đạo-Quả vị ấy
phản chiếu lại một cách tự nhiên những gì đã thể nghiệm:
- Thánh Đạo nào đã chứng
- Thánh Quả nào đã chứng
- Niết-bàn đã chứng qua Thánh Đạo - Quả nào
- Những phiền não hay kiết sử nào đã diệt tận
- Những phiền não hay kiết sử nào chưa diệt
II.7) BẢY THANH TỊNH
(Satta Visuddhi): Kinh Rathavinīta Sutta (Kinh Trạm Xe), Majjhima Nikāya có
trình bày bảy pháp thanh tịnh, bảy giai đoạn của tiến trình giác ngộ giải
thoát, hầu như tất cả những pháp hành khác đều được bao hàm trong bảy pháp này:
1) Giới tịnh (sīla visuddhi): thành
tựu do Tăng thượng giới học (adhisīlasikkha) trong sạch. Có bốn loại giới thanh
tịnh: Phòng hộ giới bổn thanh tịnh, phòng hộ lục căn thanh tịnh, nuôi mạng
thanh tịnh và quán tưởng tứ sự thanh tịnh.
Giới thanh tịnh là điều kiện không
thể thiếu để tâm có thể ổn định (giới năng sinh định). Giới giúp chế ngự những
phiền não thô biểu hiện ra ngoài qua thân và khẩu. Nếu một người hành động và
nói năng thiếu thận trọng, thiếu tinh tế, hoặc thô thiển, bất thiện thì chắc
chắn nội tâm anh ta phải đầy trạo hối, bất an và mê muội. Người không làm chủ
được thân khẩu có nghĩa là anh ta còn nhiều tập khí phiền não quá thô thiển và
sâu dày, khó có thể phát huy định tuệ.
Hành giả khi tinh tấn, chánh
niệm, tỉnh giác trên thân mặc dù không cố giữ giới nhưng chính là lúc giới được
trong sạch.
2) Tâm tịnh (citta visuddhi) thành
tựu do Tăng thượng tâm học (adhicittasikkha) được an trú, tùy theo năm chi
thiền mạnh hay yếu hành giả đạt được sát-na định, thời định, cận định, hoặc
định an chỉ (kiên cố) tức là bốn thiền sắc giới, bốn thiền vô sắc.
Tâm thanh tịnh là điều kiện tất yếu
để phát huy trí tuệ (định năng sinh tuệ). Định giúp chế ngự những phiền não
sinh khởi trong tâm, làm xáo trộn nội tâm. Một người có nội tâm bất an, dao
động, mê mờ, thiếu trầm tĩnh thì không thể có đủ sáng suốt để phản ánh trung
thực thật tánh của các pháp (danh sắc) nghĩa là trí tuệ không thể phát huy
trong môi trường nội tâm xáo trộn và tăm tối.
Tuy có thể không cần phải có cận
định hay định kiên cố trong thiền hữu sắc và vô sắc nhưng điều kiện tối thiểu
cũng phải có thời định hay sát-na định thì mới có thể phát huy trí tuệ thiền
tuệ.
Hai pháp thanh tịnh trên thành tựu
do giới và định là nền tảng hay điều kiện cần yếu cho năm pháp thanh tịnh còn
lại, và năm pháp thanh tịnh sau đây thành tựu do pháp hành thiền tuệ Vipassanā:
3) Kiến tịnh (diṭṭhi visuddhi): Tuệ
thứ nhất tách bạch tướng trạng riêng của mỗi uẩn bằng cách quán chiếu sắc, thọ,
tưởng, hành, thức (qua thân, thọ, tâm, pháp) chỉ là pháp duyên khởi của danh và
sắc đúng với thực tánh vô thường, khổ não, vô ngã, làm cho tà kiến xem ngũ uẩn
là ta, của ta và tự ngã bị sụp đổ, chứng được kiến tịnh. Khi chưa đạt đển kiến
tịnh thì dù chúng ta có kiến thức về uẩn, xứ, giới; về vô thường, khổ não, vô
ngã v.v... thì tà kiến vẫn còn tồn tại và ngủ ngầm bên trong. Ví dụ như khi
chúng ta nói rất hay về vô ngã nhưng không biết rằng mình đang bị cái ngã thúc
giục.
4) Đoạn nghi tịnh (kankhāvitaraṇa
visuddhi): Tuệ thứ 2 nắm bắt nhân duyên sinh khởi của mỗi pháp danh và sắc nên
không còn thắc mắc thân tâm này do Thượng Đế sinh, do định mệnh an bài hay do
ngẫu nhiên mà có. Sự dứt bỏ mối hoài nghi lâu đời về thân phận mình này gọi là
đoạn nghi tịnh.
Về sắc, đến đây hành giả đã thấu
suốt được rằng do nhân vô minh có tham dục, do tham dục có chấp thủ, do chấp
thủ mà tạo nghiệp thiện ác, và tùy theo mức độ của nghiệp thiện ác này đưa đến
kết quả là một sắc thân tương ứng, tạm gọi đó là sắc tĩnh, còn sắc động như các
hành vi cử chỉ, bốn oai nghi v.v... thì phần lớn do tâm sinh. Sắc thân này lại
do vật thực, thời tiết, nói chung là tứ đại, nuôi dưỡng mà trưởng thành.
Về danh, tức là thức tâm cũng do
nhiều nhân duyên, điều kiện tương ứng mà sinh khởi. Ví dụ như nhãn thức chỉ
sinh khởi khi có duyên xúc giữa nhãn căn với sắc trần, có ngũ môn hướng tâm,
trong điều kiện ánh sáng đầy đủ. (Xem lại tuệ thứ hai, II.6.2).
5) Đạo phi đạo tri kiến tịnh
(maggāmagga ñāṇa dassana visuddhi): Tuệ thứ 3 và tuệ thứ 4 nhận biết rõ ràng
trung thực trạng thái sinh và diệt của danh sắc, nên ba tướng trạng chung hiện
rõ ngay trong hiện tại. Đồng thời lúc đó cũng phát sinh 10 phiền não của thiền
tuệ [ánh sáng (obhāsa), trí (ñāṇa), hỷ (pīti), an (passaddhi), lạc (sukha), tin
tưởng mãnh liệt (adhimokkha), tinh cần dũng mãnh (paggāha), chánh niệm miên mật
(upaṭṭhāna), xả (upekkhā), thỏa mãn (nikanti)], nhưng rồi nhờ tuệ tri những
pháp này tuy là thiện pháp, rất hữu ích nhưng chưa phải là Đạo, nếu chấp lầm là
Đạo thì liền trở thành chướng ngại cho sự tiến triển trong pháp hành thiền tuệ.
Do tuệ thấy rõ điều đó mà hành giả đạt được đạo phi đạo tri kiến tịnh.
6) Hành đạo tri kiến tịnh (paṭipadā
ñāṇa dassana visuddhi): do thành tựu tám loại tuệ từ tuệ diệt (5), kinh
uý (6), tội quá (7), yếm ly (8), dục thoát (9), quyết ly (10), hành xả (11) đến
tuệ thuận thứ (12) mà đạt được hành đạo tri kiến tịnh. Tuy tuệ thứ nhất đến tuệ
thứ tư hoàn thành được ba giai đoạn kiến tịnh, đoạn nghi tịnh và đạo phi đạo
tri kiến tịnh, nhưng nếu dừng lại ở đây thì hành giả chỉ có thể không bị lung
lạc bởi những tà kiến nhưng vẫn còn bị tham ái dẫn dắt. Khi nào hành giả thấy
rõ danh sắc trôi qua (diệt đi) một cách quá nhanh chóng đáng sợ, nguy hiểm, cần
rời bỏ, không muốn dính mắc vào đó nữa thì tham ái đối với danh sắc mới thật sự
vơi dần cho đến khi chỉ còn lại tâm xả, một tâm quân bình giảm hẳn sự chi phối
của tham - sân. Hành giả vừa trải qua một hành trình chuẩn bị thuận dòng đi vào
Đạo Quả.
7) Tri kiến thanh tịnh (ñāṇa dassana
visuddhi): khi hành giả đạt đến tuệ chuyển tánh (13) và tuệ Thánh Đạo (14) thì
đồng thời cũng đạt đến tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh tức là kiến –
văn – giác - tri hoàn toàn thuần túy và trung thực, nói cho dễ hiểu là mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý trực tiếp thể nghiệm thực tánh của sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp, không thông qua kiến thức thu thập, vay mượn từ thông tin bên
ngoài. Như chúng ta đã phân biệt tuệ tri và thức tri, ở đây, tri kiến thanh
tịnh có được từ tuệ tri của bậc Thánh, chứ không phài từ thức tri của phàm
nhân. (Xin xem lại phần II.2 Nhận thức).
III)
So sánh thiền Nguyên Thủy với một số pháp môn thiền phát triển tiêu biểu theo
Giáo Tông:
A.1) LỤC DIỆU MÔN:
Lục Diệu Môn hay Lục Diệu Pháp Môn
là môn thiền chỉ quán mà đại sư Trí Khải, hậu bán thế kỷ thứ 6 (538-597), người
được xem là đã sáng lập Pháp Hoa Tông (ở núi Thiên Thai nên cũng có tên Thiên
Thai Tông) gọi là Diệu Chỉ Niết-bàn, trong Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn, mà chỉ
(định) và quán (tuệ) được tuần tự tu tập cho đến khi đạt đến cứu cánh Niết-bàn.
Pháp môn thiền hơi thở này gồm 6 giai đoạn tu chứng nên gọi là Lục Diệu Pháp
Môn:
1) Sổ tức môn: hành giả muốn chú tâm
vào hơi thở trước tiên cần phải đếm từng hơi thở vào ra từ 1 cho đến tối đa là
10, cố gắng không để cho tâm xao lãng. Nếu đếm bị lỗi tức là tâm chưa an trú
trên đối tượng, phải đếm lại từ đầu cho đến khi đếm thông suốt không một lỗi
nào.
2) Tùy tức môn: khi thân lắng dịu
thì hơi thở cũng vào ra đều đặn, nhẹ nhàng, thong thả, tự nhiên hơn và tâm cũng
bắt đầu lắng dịu dần, nên việc đếm đã được thông suốt dễ dàng, không bỏ quên
một niệm nào. Bấy giờ hành giả tự động chuyển qua theo dõi trạng thái vào ra
nhẹ nhàng của hơi thở mà không cần đếm nữa.
3) Chỉ môn: càng theo dõi hơi thở
thì tâm càng lắng dịu, đồng thời hơi thở càng nhẹ và chậm dần. Nhờ vậy
tâm chuyên chú vào hơi thở khắng khít hơn và vững vàng hơn cho đến khi
hoàn toàn tĩnh chỉ.
Ba giai đoạn trên thuộc về thiền
định, nhằm mục đích giúp tâm an ổn khỏi sự loạn động, phân tán và tiêu hao năng
lực.
4) Quán môn: sau khi tâm đã ổn định,
trong sáng, hành giả dùng trí tuệ phương tiện để quán chiếu ngũ uẩn rỗng không,
giải trừ kiến chấp thường, đoạn, ngã, pháp v.v...
5) Hoàn môn: khi trí tuệ phương tiện
trong quán môn đã thuần thục thì trí tuệ phương tiện trở thành trí tuệ vô lậu,
thấy rõ không có cái ngã năng quán, nên chứng ngộ được thực tính vô ngã và tâm
trở nên vô lậu.
6) Tịnh môn: khi tâm vô lậu thì mọi
phiền não được đoạn trừ và trí tuệ vô lậu chân thật chứng ngộ Niết-bàn.
A.2) ĐỐI CHIẾU LỤC DIỆU MÔN
Thiên Thai Tông với THIỀN ĀNĀPĀNASSATI Nguyên Thủy:
Thực ra, Lục Diệu Pháp Môn không
phải do Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6 TL) đề xướng hay pháp môn thiền đặc thù
của Thiên Thai Tông, mà có thể là một phương pháp tu thiền đã có từ thời Phật
Giáo Nguyên Thủy, nhưng không được ghi vào Tam Tạng, vì theo nguyên tắc, Đức
Phật chỉ khai thị sự thật chứ không đề ra một phương pháp nào nhất định. Sự
thật có tính phổ quát, bất biến, trong khi phương pháp có thể tùy căn cơ trình
độ mà biến hóa vô cùng, làm sao ghi hết vào Tam Tạng được. Vì vậy, Lục Diệu
Pháp Môn có thể là một trong những phương pháp niệm hơi thở (ānāpānassati) đã
được thực hành từ trước đó rất lâu. Bằng chứng là vào thế kỷ thứ 3, Khương Tăng
Hội, một danh Tăng Việt Nam, đã đề cập đến pháp môn này trong lời chú giải Kinh
An-ban Thủ Ý do An Thế Cao dịch, và đã được truyền qua Trung Hoa từ đó. Đầu thế
kỷ thứ 5 TL, Ngài Bhantācariya Buddhaghosa, một nhà chú giải nổi danh trong
Phật Giáo Nguyên Thủy, trước Đại sư Trí Khải hàng trăm năm, đã trình bày pháp
môn này rõ ràng, chi tiết hơn nhiều trong bộ chú giải có tên là Visuddhi Magga
(Thanh Tịnh Đạo) nổi tiếng của ngài. Theo Visuddhi Magga, phương pháp niệm hơi
thở này có tới tám giai đoạn:
1) Gaṇanā (sổ): do động từ gaṇeti có
nghĩa là đếm. Để dễ thấy hơi thở lúc đầu nên đếm muộn, tức là đếm sau mỗi hơi
thở vô rồi thở ra mới đếm 1 cho đến 5, rồi 1 đến 6, 1 đến 7, 1 đến 8, 1 đến 9
và tối đa là 1 đến 10. Nếu đếm dưới 5 thì phạm vi ghi nhớ quá ít nên cảm thấy
gò bó, nếu đếm quá 10 thì chỉ lo để ý số đếm không chú tâm tới hơi thở. Khi đã
đếm không còn lẫn lộn, hành giả bắt đầu thấy hơi thở rõ ràng hơn, cho nên có
thể đếm sớm tức là đếm trước mỗi hơi thở vô ra.
2) Anubandhanā (tùy): trong Pāḷi
động từ anubandhati có nghĩa là theo dõi liên tục. Sau khi đếm đã thuần thục,
không lẫn lộn, không bỏ quên, hành giả không cần đếm nữa mà chỉ lặng lẽ theo
dõi từng hơi thở vô và ra. Không nên theo dõi chu trình của hơi thở, bên ngoài
và bên trong thân mà chỉ nên theo dõi ở ngay cửa mũi mà thôi.
3) Phussanā (xúc): do động từ
phussati có nghĩa là xúc chạm. Khi theo dõi hơi thở ở mũi không xao lãng, hành
giả bắt đầu cảm thấy sự xúc chạm nhẹ của hơi thở lúc ra vào thành cửa mũi. Hành
giả biết hơi thở ra hay vào, mạnh hay nhẹ, dài hay ngắn do sự xúc chạm đó.
4) Ṭhapanā (chỉ): do động từ ṭhapeti
có nghĩa là gắn vào hay dán chặt. Ṭhapanā đồng nghĩa với appanā (an chỉ). Khi
việc chú tâm vào sự xúc chạm của hơi thở với thành cánh mũi được ổn định thì
quang tướng (paṭibhāga nimitta) của hơi thở bắt đầu xuất hiện (chẳng hạn như
một luồng khói sáng). Hành giả liên tục dán tâm vào quang tướng này cho đến khi
tâm hoàn toàn vắng lặng, an chỉ. Trong giai đoạn này, khởi đầu có thể đạt đến
cận hành (upacāra) nhiều lần trước khi an chỉ, từ sơ thiền cho đến tứ thiền hữu
sắc (rūpajjhāna), chế ngự được 5 triền cái nhờ 5 chi thiền, như đã nói trong
phần thiền định Phật Giáo Nguyên Thủy.
Bốn giai đọan này thuộc về định,
tương đương với 3 giai đọan đầu trong Lục Diệu Pháp Môn mà tùy và xúc được ghép
thành một.
5) Sallakkhaṇā (quán): động từ
sallakkheti có nghĩa là quan sát. Đây là giai đoạn hành giả tiến hành thiền tuệ
vipassanā, từ khởi quán và tu chứng tuệ thứ nhất cho đến tuệ thứ 11.Trong
trường hợp hành giả đã đắc định có thể lấy tâm định hoặc các thiền chi đang
chứng làm đối tượng tâm pháp và ý sở y căn làm đối tượng sắc pháp để tuệ tri
thực tánh của danh sắc thì các giai đoạn quán chiếu diễn ra như sau theo trình
tự của thiền định:
5.1. Khi thở vô dài (dīgha) tuệ tri
đang thở vô dài. Khi thở ra dài tuệ tri đang thở ra dài.
5.2. Khi thở vô ngắn (rassa) tuệ tri
đang thở vô ngắn. Khi thở ra ngắn tuệ tri đang thở ra ngắn.
5.3. “Cảm giác toàn thân (sabbakāya
paṭisaṃvedī) khi thở vô”, vị ấy học. “Cảm giác toàn thân khi thở ra”. Vị ấy
học.
5.4. “An tịnh thân hành (passambhaya
kāyasaṅkhāra) khi thở vô”, vị ấy học. “An tịnh thân hành khi thở ra”. Vị ấy
học.
Bốn giai đoạn trên thuộc về quán
niệm thân dành cho hành giả đang tu tập thiền định đề mục hơi thở.
5.5. “Cảm giác hỷ (pīti paṭisaṃvedī)
khi thở vô”, vị ấy học. “Cảm giác hỷ khi thở ra”, vị ấy học.
5.6. “Cảm giác lạc (sukha
paṭisaṃvedī) khi thở vô”, vị ấy học. “ Cảm giác lạc khi thở ra”, vị ấy học.
5.7. “Cảm giác tâm hành
(cittasaṅkhāra paṭisaṃvedī) khi thở vô”, vị ấy học. “Cảm giác tâm hành khi thở
ra” , vị ấy học.
5.8. “An tịnh tâm hành
(cittasankhāra pasambhaya) khi thở vô”, vị ấy học. “An tịnh tâm hành khi thở
ra”, vị ấy học.
Bốn giai đoạn trên thuộc về quán
niệm thọ dành cho hành giả đang tu tập thiền định đề mục hơi thở.
5.9. “Cảm giác tâm (citta
paṭisaṃvedī) khi thở vô”, vị ấy học. “Cảm giác tâm khi thở ra”, vị ấy học.
5.10. “Với tâm hân hoan
(abhippamodaya citta) khi thở vô”, vị ấy học. “Khiến tâm hân hoan khi thở
ra”, vị ấy học.
5.11. “Với tâm định tĩnh
(samādaha citta) khi thở vô”, vị ấy học. “Khiến tâm định tĩnh khi thở ra”, vị
ấy học.
5.12. “Với tâm giải thoát (vimocaya
citta) khi thở vô”, vị ấy học. “Khiến tâm giải thoát khi thở ra”, vị ấy học.
Bốn giai đoạn trên thuộc về quán
niệm tâm dành cho hành giả đang tu tập thiền định đề mục hơi thở.
5.13. “Với vô thường tùy quán
(aniccānupassī) khi thở vô”, vị ấy học. “Với vô thường tùy quán khi thở ra”, vị
ấy học.
5.14. “Với ly dục tùy quán
(virāgānupassī) khi thở vô”, vị ấy học. “Với ly dục tùy quán khi thở ra”, vị ấy
học.
5.15. “Với tịch diệt tùy quán
(nirodhānupassī) khi thở vô”, vị ấy học. “Với tịch diệt tùy quán khi thở
ra”, vị ấy học.
5.16. “Với xả ly tùy quán
(patinissaggānupassī) khi thở vô”, vị ấy học. “Với xả ly tùy quán khi thở ra”,
vị ấy học.
Bốn giai đoạn trên thuộc về quán
niệm pháp dành cho hành giả đang tu tập thiền định đề mục hơi thở.
6) Vivaṭṭanā (hoàn): do động từ
vivaṭṭati có nghĩa là quay đi. Đây là bước ngoặt chuyển từ phàm tâm qua tuệ
giác, Thánh Đạo Tâm; từ đối tượng thế gian qua đối tượng Niết-bàn, siêu thế hay
từ pháp hữu vi qua pháp vô vi. Giai đoạn này bắt đầu từ tuệ thứ 12 đến tuệ thứ
14. Khi pháp hành thiền tuệ đã chín mùi, nghĩa là đã đạt đến hành đạo tri kiến
tịnh thì giai đoạn chuyển hóa (hoàn) này sẽ diễn ra một cách tự động.
7) Parisuddhā (tịnh): động từ
parisodheti có nghĩa là làm cho thanh tịnh. Đây là giai đọan Thánh Quả Tâm,
tiếp theo ngay sau Thánh Đạo Tâm. Nghĩa là hành giả chứng Thánh Đạo Tâm nào thì
cũng chứng Thánh Quả Tâm ấy ngay lập tức. Tiến trình tâm siêu thế diễn ra như
sau:
(1) và (2) thuộc quán, (3), (4) và
(5) thuộc hoàn, (6-7) là tịnh.
8) Paṭipassanā (hồi khán): do động
từ paṭipassati có nghĩa là nhìn lại. Đây là một loại trí tuệ có công dụng xem
xét lại tâm Đạo, tâm Quả vừa chứng đã diệt được kiết sử (saṃyojana) nào và chưa
diệt được kiết sử nào, đã diệt được hoàn toàn tất cả kiết sử hay chưa. Ví dụ,
vị Thánh Nhập Lưu tự biết đã diệt tận thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, vị
Thánh Nhất Lai làm yếu thêm hai kiết sử dục ái và sân, vị Thánh Bất Lai tận
diệt năm kiết sử nói trên, vị Thánh Alahán tận diệt thêm năm kiết sử cuối cùng:
sắc ái, vô sắc ái, trạo cử, ngã mạn và vô minh.
Giai đoạn hồi quán này là một sự
kiện tất yếu nhưng không thấy Lục Diệu Pháp Môn đề cập tới, có lẽ vì đến tịnh
(quả) là đã đạt được mục đích tu tập còn hồi khán là phản ứng tự động không cần
phải tu tập nên không nói tới.
Trí tuệ phương tiện trong Lục Diệu
Pháp Môn mà Đại Sư Trí Khải nói đến chính là chánh niệm tỉnh giác và trí tuệ vô
lậu chính là tuệ Đạo và tuệ Quả hay nói chung là tuệ giác trong thiền
Vipassanā.
Như vậy, Lục Diệu Pháp Môn của Thiên
Thai Tông có nguồn gốc từ pháp môn thiền định, thiền tuệ đã có từ lâu trong
thiền Phật Giáo Nguyên Thủy, cụ thể là kinh Ānāpānassati Suttam, trong Dīgha
Nikāya và đã được Ngài Buddhaghosa chú giải rõ ràng trước đó hơn một thế kỷ.
Lúc đầu Lục Diệu Pháp Môn, như chúng
ta đã thấy, không khác mấy với thiền niệm hơi thở Nguyên Thủy, tuy nhiên, càng
về sau, Đại Sư Trí Khải đã chuyển Lục Diệu Pháp Môn qua một hướng khác, trừu
tượng hơn, siêu thực hơn và đầy tính lý tưởng hơn là tính cụ thể, thiết thực
ban đầu trong thiền nguyên thủy.
B.1) TỊNH ĐỘ TÔNG:
Tịnh Độ Tông là một tông phái Phật
Giáo phát triển được thành lập tại Trung Hoa mà người ta tin rằng do Ngài Huệ
Viễn (334-418) là sơ tổ sáng lập. Tuy nhiên, Tịnh Độ Tông phát xuất từ tiểu bản
và đại bản kinh Sukhāvatī-vỳha (Cực Lạc Quốc Độ) bằng tiếng Sanskrit đã có từ
hậu bán thế kỷ thứ I TCN (khoảng 600 năm sau Đức Phật Niết-bàn), và có thể đã
được An Thế Cao dịch giảng vào thế kỷ thứ I CN. Sau đó đã được Kumārajīva dịch
năm 402, Guṇabhadra dịch năm 420-479, và Huyền Trang dịch năm 650. Ngoài ra còn
có pháp môn thiền quán tưởng theo kinh Amitāyur- dhyāna Sutra (Quán Vô Lượng
Thọ Kinh) cũng là một phương pháp tu niệm của Tịnh Độ Tông. Chân Tông ở Nhật
Bản, nổi bật Đại sư Thân Loan, là một trường phái phát xuất từ Tịnh Độ.
B.1.1) Tam Đức: Pháp
môn niệm Phật A-Di-Đà, theo Tịnh Độ Tông, thiết lập trên ba đức cơ bản mà mỗi
hành giả phải hội đủ thì mới thành tựu mục đích, đó là TÍN, HẠNH và NGUYỆN.
1) TÍN: Pháp môn này vận dụng cho
căn cơ đức tin nên tín là yếu tố hàng đầu. Hầu hết những người hành pháp môn
này phải có niềm tin vững chắc nơi Đức Phật A-Di-Đà và thế giới Tây Phương Cực
Lạc, gọi là Tịnh Độ. A-Di-Đà có hai nghĩa: Vô Lượng Quang (Amitābhā) và Vô
Lượng Thọ (Amitāyur). Tịnh Độ là cõi thanh tịnh.
2) HẠNH: Với niềm tin đó hành giả
phải biết cách niệm Lục Tự Di-Đà, có hoặc không có sự hỗ trợ của tràng hạt cũng
được, nhưng phải niệm thật tinh tấn miên mật không thối chuyển cho đến khi đạt
được nhất niệm, tức là chỉ còn một niệm Di-Đà duy nhất, không còn một tạp niệm
nào xen vào, nên còn gọi là vô biệt niệm (Nhất cú Di-đà vô biệt niệm, bất lao
đàn chỉ đáo Tây phương). Đó là mục đích hiện tại của Pháp môn này.
3) NGUYỆN: Trước khi niệm Phật,
trong khi niệm Phật và sau khi niệm Phật hành giả luôn phải có tâm nguyện vãng
sanh Tây Phương Cực Lạc, nhờ tha lực tiếp dẫn của Đức Phật A-Di-Đà, cùng với
sự trợ lực của Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí. Nguyện vọng này
có tác dụng giúp hành giả buông bỏ dần sự dính mắc trong cõi ngũ dục, điều kiện
cần thiết cho sự vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ. Đó là mục đích tương lai của
pháp môn này.
B.1.2) Thập Lục Quán:
Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy 16 pháp quán tưởng về Đức Phật A-Di-Đà, chư Bồ Tát
và cõi giới Tây Phương Cực Lạc như sau:
1) Quán tưởng thấy mặt trời sắp lặn
(Tây phương).
2) Quán tưởng thấy nước lắng trong
(thanh tịnh).
3) Quán tưởng thấy đất báu cõi Cực
Lạc.
4) Quán tưởng thấy cây báu.
5) Quán tưởng thấy nước tám công
đức.
6) Quán tưởng thấy sơ cây báu, đất
báu, ao báu ở cõi Cực Lạc.
7) Quán tưởng thấy tòa sen.
8) Quán tưởng thấy hình Phật A-Di-Đà
ngự trên tòa sen, Bồ Tát Quan Thế Âm trên tòa trái, Bồ Tát Đại Thế Chí trên tòa
phải.
9) Quán tưởng thấy rõ chân thân của
Phật A-Di-Đà.
10) Quán tưởng thấy rõ sắc thân của
Bồ Tát Quan Thế Âm.
11) Quán tưởng thấy rõ sắc thân của
Bồ Tát Đại Thế Chí.
12) Quán tưởng thấy rõ ba vị: Phật
A-Di-Đà, Bồ Tát Quan Thế Am và Bồ Tát Đại Thế Chí biến mãn hư không.
13) Quán tưởng luân chuyển khi thì
Phật A-Di-Đà, khi thì Bồ Tát Quan Thế Âm, khi thì Bồ Tát Đại Thế Chí.
14) Quán tưởng thượng bối sanh:
thượng phẩm thượng sanh, thượng phẩm trung sanh, thượng phẩm hạ sanh.
15) Quán tưởng trung bối sanh: trung
phẩm thượng sanh, trung phẩm trung sanh, trung phẩm hạ sanh.
16) Quán tưởng hạ bối sanh: hạ phẩm
thượng sanh, hạ phẩm trung sanh, hạ phẩm hạ sanh.
B.2) ĐỐI CHIẾU
PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT A-DI-ĐÀ TỊNH ĐỘ TÔNG VỚI PHÁP MÔN BUDDHĀNUSSATI NGUYÊN
THỦY:
Trong Tam Tạng Pāḷi, pháp môn niệm
Phật là một trong 10 đề mục tùy niệm (anussati) thuộc lĩnh vực thiền định
(samādhi). Trừ tùy niệm 32 thể trược có thể chứng sơ thiền và tùy niệm hơi thở
có thể chứng tất cả thiền hữu sắc, còn lại 8 đề mục, trong đó có tùy niệm Phật,
chỉ có khả năng đạt đến cận hành định (upacāra samādhi), thường được gọi là
tịnh hay nhất niệm, thuộc tâm dục giới, khác với nhất tâm (ekaggatā), trong an
chỉ định (appanā samādhi) thuộc tâm sắc giới, vì hành giả tuy không còn tạp
niệm nhưng vẫn còn một niệm (nhất cú Di-đà) nên tâm có an có tịnh nhưng chưa
vào sâu trong định sắc giới. (Nếu hành giả muốn đi sâu vào định sắc giới thì
phải chuyển qua những đề mục khác ngoài 8 đề mục tùy niệm trên, đề mục quán
tưởng vật thực bất tịnh và đề mục phân tích tứ đại. Muốn đắc được tất cả bậc
thiền thì nên sử dụng 10 đề mục kasina và đề mục hơi thở).
Niệm Phật trong thiền định nguyên
thủy cũng dành cho hành giả có tánh tín (saddhācārita). Có rất nhiều cách niệm
Phật tùy sự vận dụng của mỗi người hay mỗi trường phái. Chúng ta thử tìm hiểu
hai cách niệm Phật điển hình sau đây:
Cách thứ nhất: Sau khi chọn một
trong 9 Ân Đức Phật Bảo: Arahaṃ (Ứng Cúng), Sammā Sambuddho (Chánh Biến Tri),
Vijjā-carana Sampanno (Minh Hạnh Túc), Sugato (Thiện Thệ), Lokavidū (Thế Gian
Giải), Anuttaro Purisa Damma Sārathi (Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu), Satthā
Deva Manussānam (Thiên Nhân Sư), Buddho (Phật), Bhagavā (Thế Tôn), hợp với căn
cơ, tâm tánh của mình để niệm, hành giả tinh cần chuyên chú đặt hết niềm tin
vào Ân Đức Phật đó rồi thầm lặp đi lặp lại liên tục trong tâm hay có thể niệm
ra lời, như niệm: Arahaṃ, Arahaṃ, Arahaṃ … cho đến khi tâm an trú trong nhất
niệm hay cận hành (upacāra).
Phật tử Phật giáo Nguyên Thủy thường
niệm một trong hai Ân Đức cơ bản nhất là Arahaṃ và Buddho. Arahaṃ là tự tính
của Chư Phật có ba đức (guṇa) chính là: 1) Đoạn tận vô minh phiền não, thực
chứng Trí Tuệ Vô Lậu Viên Mãn (Anāsava Sabbaññutā Ñāṇa). 2) Chấm dứt luân hồi
sinh tử, đạt đến Vô Sanh - Bất Tử (Ajātāmata). 3) Thoát ly lậu hoặc, cấu uế ,
hoàn toàn Thanh Tịnh - Vô Nhiễm (Amala Visuddhi).
Cách niệm Arahaṃ này có thể đối
chiếu với cách niệm Phật A-Di-Đà, trong đó Vô Lượng Quang Phật biểu tượng cho
Trí Tuệ Vô Lậu Viên Mãn, Vô Lượng Thọ Phật biểu tượng cho đức tánh Vô Sanh Bất
Tử và cõi Tịnh Độ là biểu tượng của tánh Thanh Tịnh Vô Nhiễm của Chư Phật. Như
vậy, một bên là niệm tánh (Arahaṃ), một bên là niệm tướng (Phật A-Di-Đà) nhưng
ý nghĩa thì hoàn toàn giống nhau. Đó là lý do vì sao người xưa nói tự tánh mình
là Phật A-Di-Đà và tự tâm mình là cõi Tịnh Độ (Tự tánh Di-Đà duy tâm Tịnh Độ).
Cách thứ hai: Niệm cả 9 Ân Đức Phật,
vừa niệm đến Ân Đức nào thì quán tưởng về ý nghĩa của Ân Đức ấy. (Như được giới
thiệu trong cuốn Pháp Môn Niệm Phật của Thiền sư Hộ Pháp, NXB Thành Phố Hồ Chí
Minh, 2002).
- Arahaṃ (Ứng Cúng): Diệt tận vô
minh phiền não, chấm dứt luân hồi sinh tử, hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm, xứng
đáng lễ bái cúng dường.
- Sammā Sambuddho (Chánh Biến Tri):
Giác ngộ suốt thông thể - tướng - dụng của tục đế và Thánh đế.
- Vijjācarana Sampanno (Minh Hạnh
Túc): Bát Minh (tam minh - ngũ thông) và tất cả Đức Hạnh viên mãn.
- Sugato (Thiện Thệ): Đi đến
Niết-bàn không trở lại (luân hồi).
- Lokavidū (Thế Gian Giải): Thông
suốt tánh, tướng và hướng đi của chúng sanh trong tam giới và xuất ly tam giới.
- Anuttaro Purisadamma Sārathi (Vô
Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu): Bậc vô thượng giáo hóa người, trời, quỉ, thần
khó giáo hóa.
- Satthā Deva-manussānaṃ (Thiên Nhân
Sư): Bậc thầy giáo hóa đem lại an lạc giải thoát cho chư thiên và loài người.
- Buddho (Phật): Bậc tự mình giác
ngộ và chỉ bày con đường giác ngộ cho chúng sinh một cách viên mãn.
- Bhagavā (Thế Tôn): Bậc an lạc tự
tại, trên thế gian không ai sánh bằng.
Cách quán niệm chín Ân Đức Phật này
có thể so sánh với mười sáu pháp quán tưởng trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh về
Phật A-Di-Đà, Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và cõi Tịnh Độ v.v... Mới
nhìn thì thấy một bên chú trọng về tánh chung (Ân Đức của Chư Phật), một bên
chú trọng về tướng riêng (Tướng Phật A-Di-Đà, Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Thế Chí,
Cảnh trí trong cõi Tây Phương Cực Lạc, 9 bậc bối sanh v.v...), nhưng thực ra
mười sáu pháp quán tưởng này chỉ nhằm mục đích giúp hành giả niệm tưởng đến
những đức tánh trang nghiêm, thanh tịnh, trí tuệ, từ bi, vô sanh, vô nhiễm
v.v... nói chung là chân, thiện, mỹ hay thường, lạc, ngã, tịnh hầu dẫn dụ chúng
sanh thoát ly dần tâm chìm đắm trong cõi luân hồi sinh tử đầy vô thường, khổ
não, vô ngã, bất tịnh, giống như người cha dẫn dụ con ra khỏi nhà lửa trong
kinh Pháp Hoa mà thôi.
Như vậy, về HẠNH thì cả Nguyên Thủy
lẫn Tịnh Độ đều có nỗ lực, chuyên cần chú niệm và quán tưởng với cùng phương
pháp và cùng mục đích nhất niệm như nhau. Về TÍN thì cả hai đều vận dụng cho
căn cơ đức tin, nhưng có hai hướng tin tự lực và tin tha lực khác nhau. Về
NGUYỆN thì trong khi tín đồ Tịnh Độ niệm Phật A-Di-Đà để “Nguyện sanh Tây
Phương Tịnh Độ trung, cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ Vô
Sanh” thì Phật tử Nguyên Thủy niệm Arahaṃ để trở về với đức tánh sáng suốt,
thanh tịnh, vô sanh nơi chính mình. Mới nhìn thì đó là hai hướng đối nghịch rõ
rệt, một bên là hướng nội (tâm thanh tịnh) và dựa vào tự lực giác ngộ (Tuệ
Giác, Vô Sanh), một bên hướng cầu bên ngoài (cõi Tịnh Độ) và dựa vào tha lực
tiếp dẫn (Phật A-Di-Đà, Bồ Tát Quan Âm, Thế Chí). Nhưng khi hành giả niệm Phật
A-Di-Đà đạt đến nhất niệm liền thấy ra rằng chỉ cần nhất niệm thì ngay đó đã là
Tịnh Độ chứ không cần vãng sanh Tây Phương (Nhất cú Di-Đà vô biệt niệm bất lao
đàn chỉ đáo Tây Phương), bởi vì khi tâm mình thanh tịnh thì đó chính là cõi
Tịnh Độ (Tùy kỳ tâm tịnh tức Phật Độ Tịnh) thì đó không hẳn là hướng ngoại cầu
huyền, mà chỉ là dùng phương tiện thiện xảo.
Sở dĩ Tịnh Độ Tông vận dụng một Vị
Cổ Phật A-Di-Đà (ám chỉ tánh giác vốn mọi người đều có) ở cõi Tịnh Độ làm
biểu tượng cho tự tánh Arahaṃ sáng suốt, bất sanh và thanh tịnh, chính là vì
đối tượng những tín đồ tin tưởng vào tha lực, niềm tin của hầu hết tôn giáo
thời bấy giờ. Những lời dạy nguyên thủy nhất của Đức Phật Thích Ca như “Tự mình
thắp đuốc lên mà đi”, “Hãy là hòn đảo của chính mình”, “Tự mình, chứ không ai
khác, là nơi nương tựa của mình” (Dh.160). “Thanh tịnh hay không thanh tịnh tùy
thuộc vào mỗi người, không ai khác làm cho ai thanh tịnh” (Dh.165) v.v... không
lay chuyển được những người đã đặt trọn niềm tin nơi tha lực của Trời – Thần –
Vật Tổ, do vậy, các vị tổ Phật Giáo phát triển vì từ bi mà vận dụng phương tiện
thiện xảo khế lý khế cơ để chuyển hóa niềm tin của họ trở về tự giác, tự lực là
điều đáng được tán dương. Tuy khế cơ nhưng vẫn khế lý, nên nói cho cùng, trừ
những người mê tín, hiểu sai ý tổ, hướng ngoại cầu huyền, thì pháp môn niệm
Phật A-Di-Đà của Tịnh Độ Tông là một vận dụng nhuần nhuyễn và hiệu quả cho sứ
mạng chuyển hóa căn cơ trình độ chúng sinh trong thời tượng và mạt pháp.
(Một sinh viên hỏi:)
- Giữa các vị thiền sư sống liễu liễu
thường tri trong thực tánh, bản tâm và các vị niệm Phật được nhất niệm
thanh tịnh, liệu hai trạng thái đó có giống nhau không khi một bên phát
xuất từ tự lực và bên kia từ tha
lực?
-Thường tri thuộc về tuệ giác, trong
đó giác là chính; nhất niệm thuộc về định niệm (cận hành) trong đó niệm là
chính, vì vậy, dĩ nhiên, tính chất không giống nhau. Tuy nhiên, không giống
nhau chứ không chống trái nhau. Trong thiền vipassanā, hai yếu tố tỉnh giác
(liễu liễu thường tri) và chánh niệm (nhất niệm thanh tịnh) không thể tách rởi
nhau trong tiến trình tuệ giác.
Niệm Phật theo Nguyên Thủy không hề
dựa vào tha lực. Niệm Phật theo Tịnh Độ tuy có dựa vào tha lực nhưng mục đích
cũng vẫn dẫn về tự lực (tự tánh Di-đà duy tâm tịnh độ), nên đây chỉ là phương
tiện, còn mục đích vẫn giống nhau.
Nếu hành giả do tâm quá vọng động
không thể hành thiền vipassanā thì đức Phật khuyên nên bổ túc bằng pháp môn
niệm Phật, khi tâm tương đối ổn định hành vipassanā sẽ được dễ dàng hơn.
C.1) ĐỐI CHIẾU PHÁP THIỀN NHĨ
CĂN VIÊN THÔNG VỚI THIỀN NGUYÊN THỦY:
Nhĩ căn viên thông được xem là
pháp thiền điển hình và ưu việt nhất trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, phát triển vào
khoảng 800 năm sau Đức Phật Niết-bàn, đồng thời với các Luận Duy Thức.
Đại ý Kinh Lăng Nghiêm nói rằng tất
cả kiến tướng (kiến phần, tướng phần) đều vọng huyễn, chỉ có Chân Tâm (Bồ-đề,
Niết-bàn, Chân Như, Phật Tính, A-ma-la Thức, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh
Trí v.v...) mới chân thực, thường trụ. Vì vậy Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu bỏ cái
sinh diệt, giữ tính chân thường, cái sáng suốt chân thường hiện tiền, thì các
tâm niệm căn, trần, thức ngay đó đều tiêu mất; tướng vọng tưởng là trần, tính
phân biệt là cấu, hai cái đó đã xa rời, thì pháp nhãn của ông liền được trong
suốt, làm sao lại không thành bậc Vô Thượng Tri Giác?” (Kinh Thủ Lăng Nghiêm,
tr. 443, Lê Đình Thám dịch, XB năm 1961).
Vì vậy, sau khi 25 vị Thanh Văn,
Bồ-tát trình bày chỗ tu chứng của mình, và đều được xem là viên thông nhưng
chưa thật sự rốt ráo, vì các pháp tu dựa trên 6 trần, 5 căn (nhãn, tỷ, thiệt,
thân, ý), 6 thức, 7 đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức, hành) đều vô
thường và có giới hạn, chỉ có pháp tu Tam-ma-đề (thiền định) về nhĩ căn mà
Bồ-tát Quán Thế Âm chứng ngộ mới thật sự viên thông.
Pháp thiền nhĩ căn viên thông do
Bồ-tát Quán Thế Âm tu chứng như sau:
“Lúc đầu, ở trong tính nghe, vào
dòng viên thông, không còn tướng sở văn. Trần tướng đã vắng lặng, hai tướng
động, tĩnh rõ thật không sinh. Như vậy thêm lên, các tướng năng văn sở văn đều
hết. Không dừng lại nơi chỗ dứt hết năng văn sở văn mà tiến lên nữa, thì năng
giác, sở giác đều không. Không giác tột bậc viên mãn, các tướng năng không, sở
không đều diệt. Sinh diệt đã diệt, thì bản tính tịch diệt hiện tiền”.
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm, tr.569-571).
Để dễ hiểu hơn, chúng ta thử dịch
lại theo nguyên văn chữ Hán, với cách chấm câu như sau:
“Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở”
: Lúc đầu, ở trong pháp nghe, hãy vào dòng nghe, đừng để ý đến đối
tượng (được nghe).
“Sở nhập ký tịch, động tịnh nhị
tướng liễu nhiên bất sinh, như thị tiệm tăng”: Chỗ vào đã
lặng, thì hai tướng động tịnh tự nhiên không sinh, cứ như vậy mà tiến tu.
“Văn sở văn tận, tận văn bất trụ”:
Đến khi nghe và đối tượng nghe đều dứt thì đừng dừng lại nơi chỗ dứt hết năng
sở ấy.
Đoạn trên nói người mới tu thiền
định (tam-ma-đề) cần phải quên ngoại duyên (ngoại tức chư duyên) để nội tâm
được lặng lẽ (nội tâm tĩnh chỉ), nhưng sau đó không nên để đắm chìm trong trạng
thái lặng lẽ của thiền định (trệ tịch).
Theo thiền Nguyên Thủy thì định
(samādhi) là một trong ba vô lậu học. Định làm nền tảng cho Tuệ và giúp hành
giả được an lạc trong hiện tại. Định được gọi là tâm giải thoát (vimutta
citta), bởi vì nhờ nó nội tâm chúng ta ổn định được các vọng động bên trong và
thoát khỏi sự chi phối của cảnh duyên bên ngoài, định cũng gọi là tâm tăng
thượng (cittādhipati), hay tâm đáo đại (mahaggatā), vì định giúp tâm phát triển
rộng lớn. Tuy nhiên nếu không có tuệ giải thoát (vimutti ñāṇa) thì định vẫn còn
bị ràng buộc trong sắc giới và vô sắc giới. Đức Phật dạy định nhiều quá thì
sinh thụ động tiêu cực, và hỷ lạc của định dễ làm người ta mê đắm, dính mắc
không giác ngộ giải thoát hoàn toàn được. Định chỉ cần đủ để tâm có thể tỉnh
giác, trong sáng. Như vậy, khi tâm đã ổn định không nên dừng lại ở đó mà cần
phải chuyển qua tuệ giác. Trong Thiền Tuệ Vipassanā, chánh niệm giữ vai trò của
định và tỉnh giác giữ vai trò của tuệ. Chúng ta thấy đến đây Kinh Lăng Nghiêm
cũng khuyên không trụ nơi định, vì vậy đoạn sau chuyển qua giác trong thiền
tuệ.
“Giác sở giác không, không giác tịch
viên”: Giác và sở giác phải không, thì tính giác không năng sở mới
tịch tịnh viên mãn.
Theo thiền Vipassanā, khi chánh niệm
tỉnh giác đúng mức (ñāṇamattāya paṭissatimattāya) thì giác không còn ý niệm
năng giác (vô ngã) và vì vậy đối tượng được thấy đúng thực tánh của nó, không
còn bị biến thành đối tượng sở giác chủ quan của ý niệm ngã pháp. Đây là yếu tố
then chốt đầu tiên trong thiền Vipassanā. Khi hành giả đặt chánh niệm tỉnh giác
đúng hướng, khởi đầu vị ấy có trí tuệ thấy rõ chỉ có danh sắc không có năng sở,
và càng đi sâu vào các tuệ sau tính năng sở (ngã pháp) càng biến mất.
“Không sở không diệt”: (Trong
tuệ giác) cái không của năng sở cũng diệt.
Trong thiền Vipassanā, khi hảnh giả
thấy rõ tánh không của ngã pháp (từ tuệ thứ nhất đến tuệ thứ mười), không còn
bị tham ái và bất mãn chi phối thì tâm trở nên bình lặng rỗng rang, tâm vắng
bóng hành tướng lăng xăng nên gọi là tuệ xả (xem tuệ thứ 11 trong 16 tuệ
chứng). Tâm hành giả ở tuệ này hoàn toàn quân bình, sẵn sàng ra khỏi thế giới
điên đảo thế gian để chuyển qua thánh vức siêu thế. Trong tuệ này không và sở
không đều đã diệt.
Mặt khác, người hành thiền cần phải
thấy thực tánh không của ngã pháp để không bị lừa trong thế giới ý niệm và ngôn
ngữ chế định, nhưng khi không còn bị lừa nữa thì cũng không ngại đi vào cái
dụng của thế giới chế định ấy, nếu cứ trú mãi trong tánh không thì vẫn bị coi
là trầm không, vô tích sự. Đây không phải là tuệ xả thứ 11, mà là một loại xả
quá bình thản phát sinh kèm theo tuệ thứ 4 mà thiền Vipassanā xem là một trong
mười phiền não chướng của tuệ. Có lẽ vì vậy chữ diệt trong câu “không sở không
diệt” còn có nghĩa là không bị vướng kẹt trong trạng thái xả không không này.
“Sinh diệt ký diệt, tịch diệt hiện
tiền”: Sinh diệt diệt rồi, tịch diệt hiện tiền.
Sinh diệt ký diệt là cách nói khác
của vô sinh bất diệt (ajāta amata) và tịch diệt hiện tiền chính là Niết-bàn.
Theo thiền Vipassanā, sau tuệ xả tâm tự động tiến về đối tượng Niết-bàn qua các
tuệ chuẩn bị, tuệ cận hành, tuệ thuận thứ, tuệ chuyển tánh, tuệ Đạo, tuệ Quả,
ba tuệ sau có đối tượng là Niết-bàn. Tuệ Đạo vừa chấm dứt pháp hành sinh diệt
vừa lấy Niết-bàn làm đối tượng có thể so sánh với giai đoạn sinh diệt ký diệt,
Tuệ Quả thì hoàn toàn lấy Niết-bàn làm đối tượng, có thể so sánh với giai đoạn
tịch diệt hiện tiền.
Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần lưu ý
một điểm về quan niệm viên thông. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm trong chương nói về
lựa ra 5 căn, 6 trần, 6 thức và 7 đại, là những đối tượng vô thường, hữu hạn,
không thể viên thông, chỉ có nhĩ căn là căn duy nhất có thể hòa nhập với tính
viên thông của Chân Tâm thường trụ. Như vậy, viên thông ở đây có nghĩa là từ bỏ
thế giới huyễn hóa không thực của kiến phần (chủ thể) và tướng phần (đối tượng)
để thể nhập vào tính Chân Như thường trụ.
Theo thiền Vipassanā, không phải chỉ
có nhĩ căn mới viên thông, mà tất cả căn, trần, thức, đại... đều phải viên
thông mới ngộ nhập được Niết-bàn tịch tịnh, và viên thông ở đây được hiểu theo
nghĩa không còn bị trói buộc bởi các kiết sử (saṃyojana). Trong Kinh Tứ Niệm Xứ
Đức Phật dạy: “Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo tuệ tri mắt và tuệ tri sắc, do
duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy... và với kiết sử
đã được đoạn diệt, tương lai không còn sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy”.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý và thanh, hương, vị, xúc, pháp... sự sinh, sự
diệt của các kiết sử đã hoàn toàn được đoạn diệt qua tuệ giác (ss. sinh diệt ký
diệt) thì Niết-bàn tịch tịnh hiển hiện (ss. tịch diệt hiện tiền). Như vậy, theo
thiền Vipassanā, không cần phải chọn căn nào viên thông hơn căn nào để tu tập
mà chỉ cần tuệ tri các kiết sử cho đến khi các kiết sử đoạn tận thì tất cả các
căn đều được viên thông.
Tuy cùng một cứu cánh Niết-bàn nhưng
Đức Phật, trong Kinh Nguyên Thủy, định nghĩa là “Đoạn tận tham, đoạn tận sân,
đoạn tận si”, còn Kinh Thủ Lăng Nghiêm của người sau định nghĩa là “Chân Tâm
thường trụ”. Đồng hay dị còn tùy kiến giải của mỗi người. Chúng ta chỉ biết, sở
dĩ Đức Phật không định nghĩa Niết-bàn là Chân Tâm thường trụ vì Ngài không muốn
người sau rơi vào ý niệm thường kiến, và vô tình bị đồng hóa với một Đại Ngã
thường hằng bất biến. Chúng ta cũng dễ dàng thấy rằng: Nếu có một Chân Tâm
thường trụ thì không cần phải đi tìm, chỉ cần dứt vọng (đoạn tận tham, sân, si)
thì Chân tự hiện, còn cái Chân mà chúng ta tìm dưới danh nghĩa một Chân Tâm
thường trụ vẫn chỉ là vọng niệm, như Kinh Viên Giác đã cảnh báo: “Tính Viên
Giác đối với người mê cũng chỉ là tính mê”. Và nếu không có một Chân Tâm thường
trụ thì việc gì chúng ta phải luống công tìm kiếm vô ích, cứ trong cõi vô
thường, khổ không, vô ngã này mà không còn bóng dáng vô minh ái dục thì chúng
ta vẫn thong dong tự tại, tịch diệt hiện tiền.
Tóm lại, không cần phải tìm một căn
môn lý tưởng để tu, không cần phải có một mục đích lý tưởng để đến, chỉ cần
ngay nơi thực tại hiện tiền không mê mờ thực tánh thì có hay không thường hay
đoạn đều chỉ là trò hí luận mà thôi.
(Một sinh viên hỏi:)
- Trong kinh Nguyên Thủy, đức Phật
dạy bậc A-la-hán đã chứng ngộ “Vô thủ trước Niết-bàn” thì sao sau này có quan
điểm cho rằng vị A-la-hán còn chấp pháp? Như vậy có mâu thuẫn không?
- Không phải chỉ mâu thuẫn mà còn sai
lầm trầm trọng. Nguyên trong giai đoạn đầu của hệ Phật Giáo Phát Triển, có phái
Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương ngã không pháp hữu do đó các tông phái sau phản
biện lại cho rằng nếu ngã không pháp hữu thì bậc A-la-hán vẫn còn chấp pháp. Từ
đó có hiểu lầm trầm trọng này. Điều này quá dễ hiểu là đã không chấp ngã, vì vị
ấy thực sự thấy vô ngã (chứ không phải có ngã mà không chấp), thì lấy cái gì để
chấp pháp?
Thực ra đó chỉ là chủ trương của phái
tiểu thừa Hữu Bộ thôi. Trong kinh Majjhima Nikāya Nguyên Thủy đức Phật đã trả
lời ông Aggivacchagotta về vấn đề này như sau: “Không thể kết luận ngã và pháp
là… có, không, vừa có vừa không, không có không không. Tất cả những kết luận
một chiều đó đều không áp dụng được, vì rằng đó là tà kiến, kiến trù lâm, kiến
hoang vu, kiến hí luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với
tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không nhất hướng yếm ly, ly tham, tịch
diệt, an tịnh, thắng trí, Niết-bàn”.
(Một sinh viên khác hỏi:)
- Nếu ngã không, pháp không thì ai
thuyết pháp, ai ăn cơm, tụng kinh, chấp tác?
- Thì Phật đã nói rồi đó, kết luận
ngã không, pháp không gì cũng là tà kiến, hí luận… cả thôi. Vô ngã không phải
là một chủ trương mà là một thực kiện, nghĩa là trên lý chỉ biết
cho vui, còn trên sự mới thực sự thấy. Một hành giả thiền vipassanā,
ngay nơi thân, thọ, tâm, pháp chỉ thấy thực tánh, tuyệt không một ý niệm thì
lấy đâu ra ngã với pháp? Cũng vậy, ngay khi chấp tác bạn chỉ cần khởi lên ý
nghĩ “sao thầy kia không chấp tác mà tôi phải chấp tác” thì nói như
Krishnamurti là cùng với tư tưởng ấy bạn đã mang cái tôi vào cùng với thời
gian, nhân quả và dĩ nhiên là đau khổ não phiền. Bạn không thể chấp tác với vô
ngã và phi thời gian sao? Hãy thử xem, là thiền đấy chứ không có thiền nào khác
đâu.
IV)
So sánh Thiền Vipassanā với Thiền Tông
A. Thiền Tông Tây Trúc:
Theo lịch sử Thiền Tông, có hai giai
đoạn trong quá trình truyền thừa: giai đoạn một từ sơ Tổ Ca-diếp đến Tổ Bồ-đề
Đạt-ma (Bodhi Dharma) thứ 28 thuộc Thiền Tông Tây Trúc, tức thiền trên xứ Ấn-độ
và Nepal hiện nay; giai đoạn hai từ Tổ Bồ-đề Đạt-ma thứ nhất đến Tổ Huệ Năng
thứ sáu và về sau thuộc Thiền Tông Đông Độ, tức thiền trên đất nước Trung Hoa.
Khó mà xác định được lịch sử Thiền
Tông, nhất là Thiền Tông Tây Trúc, có thực hay chỉ là huyền thoại được dựng lên
do thế hệ sau Lục Tổ Huệ Năng để cho Thiền Trung Hoa có một bề dày lịch sử
chính thống bắt nguồn từ thời Đức Phật. Có một số điểm khả nghi như:
- Câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu”
không được ghi lại trong các kinh điển Nguyên Thủy, Tiểu Thừa và Đại Thừa trước
đó.
- Lịch sử Phật Giáo Ấn-độ không đề
cập đến sự truyền thừa của 28 vị Tổ Thiền Tông, đặc biệt hầu như không tìm ra
được vị trí đặc biệt nào của Tổ Đạt-ma trong Phật Giáo Ấn-độ. Hoặc một ví dụ
điển hình khác như Tổ Thế Thân thứ 21, trong toàn bộ tác phẩm của ngài không có
chỗ nào đề cập đến Thiền Tông và trong hành trạng Thiền Tông của Tổ lại không
thấy nói đến Luận Duy Thức.
- Những bài kệ truyền pháp từ đức
Phật đến Tổ thứ 28 (tức ở Ấn-độ) khó tìm thấy bản gốc bằng Nam Phạn hay Bắc
Phạn cổ để đối chiếu. Và văn khí rõ ràng là của chỉ một người sáng tác theo
phong cách thiền Trung Hoa, sau thời Lục Tổ Huệ Năng.
- Một số Ngữ Lục hay Truyền Ký có đề
cập đến lịch sử Thiền Tông cổ nhất của người Trung Hoa được biên soạn vào đời
Đường (trên 1200 năm sau đức Phật Niết-bàn), và mãi đến đời nhà Tống từ niên
hiệu Cảnh Đức 1004 đến niên hiệu Gia Thái 1204, (trên dưới 1700 năm sau đức
Phật Niết-bàn) như Cảnh Đức Truyền Đăng Lục do Đạo Nguyên soạn, Thiên Thánh
Quảng Đăng Lục do Lý Tuân Húc soạn v.v... thường là mượn các nhân vật danh Tăng
thiền đức có thực để hư cấu thêm nhằm chuyển tải thiền lý hơn là mô tả thực
kiện diễn ra trong lịch sử.
Tuy nhiên, phải nói rằng những bài
kệ truyền tâm ấn rất nhất khí và ý chỉ rất tuyệt vời. Chúng ta học được rất
nhiều từ những bài kệ này, vì vậy, cũng không nên quá quan tâm đến tính thực
hay hư của lịch sử, vì cho dù lịch sử thực thì cũng không sao thoát khỏi chủ
quan và hư cấu của các sử gia. Nhiều người có mặc cảm không muốn xem Thiền Tông
chính là Thiền Trung Hoa. Thực ra, cho dù có Thiền Tông Ấn-độ thì Thiền Trung
Hoa tự mình đã có một sắc thái đặc thù độc đáo mà điển hình kiệt xuất nhất là
Lục Tổ Huệ Năng.
Theo truyền thuyết của lịch sử Thiền
Tông, trong các tác phẩm do người Trung Hoa biên soạn, thì chính đức Phật
Thích-ca đã trao truyền một giòng thiền riêng không qua kinh giáo cho ngài
Ma-ha Ca-diếp. Và ngài Ca-diếp đã trở thành vị Tổ đầu tiên (sơ tổ) của Thiền
Tông. (Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì ngài Mahā Kassapa là vị Thánh
được Đức Phật giới thiệu với đại chúng như đệ nhất về hạnh đầu-đà chứ không
phải về thiền).
Câu chuyện “Niêm hoa vi tiếu”
được kể như sau: Một hôm, trong hội Linh Sơn, đức Phật cầm một cành hoa đưa
lên, hội chúng người thì ngơ ngác không hiểu đức Phật muốn dạy điều gì, người
thì đang tìm cách hình thành cho mình một lý giải, chỉ có ngài Ca-diếp lặng lẽ
mỉm cười. Biết Ca-diếp đã lãnh hội, đức Phật nói: “Nay Ta đem pháp nhãn tạng
thanh tịnh, diệu tâm Niết-bàn, thực tướng vô tướng, là chánh pháp vi diệu, giao
lại cho ông, ông nên hộ trì” (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục [CĐTĐL], Lý Việt
Dũng [LVD] dịch, xb.2006, t.100). Sau đó đức Phật nói bài kệ truyền
pháp:
“Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp”
(Gốc pháp vốn không pháp
Không pháp cũng là pháp
Nay lúc trao không pháp
Các pháp nào từng pháp)
Câu chuyện có thể chỉ là huyền
thoại, nhưng ý nghĩa thì rất rõ ràng.
Gốc pháp vốn không pháp, hiểu
theo tinh thần thiền Nguyên Thủy có nghĩa là pháp thực tánh (paramattha dhamma)
vốn tự nó không có pháp khái niệm (paññatti dhamma). [Xem lại phần
II.2]. Ví dụ như một sắc pháp tự nó chỉ là bốn đại (đất, nước, lửa, gió) nhưng
chúng ta thấy nó là trái cam, trái bưởi… tùy theo khái niệm hình tướng
(santāna), tổng hợp (samūha), không gian (disā), thời gian (kāla) v.v... trong vật
khái niệm (attha paññatti) rồi đặt cho nó một tên gọi
trong danh khái niệm (nāma paññatti). Thật ra, cả hai vật
khái niệm và danh khái niệm đều không có trong tự thân của sắc pháp ấy (gốc
pháp). Thế nhưng hầu như chúng ta chỉ thấy pháp như chúng ta quan niệm là
chứ không thấy thực tánh của pháp gốc như tự nó thực sự là. Vì vậy, cái
thấy của thiền là thấy tất cả các pháp đều có gốc pháp vốn không.
Bài kệ này thực ra chỉ nhằm nói lên
chỉ ý của sự kiện “niêm hoa”. Cành hoa trong tự tánh chỉ như nó đang là
(yathābhūtā) chứ không như bị nghĩ là (ciñtāmayā). Trong thiền
vipassanā đối tượng của chánh niệm tỉnh giác phải là pháp thực tánh tức
chính là gốc pháp vốn không chứ không phải là pháp khái niệm do tâm trí
con người qui định. Hội chúng ngơ ngác vì mãi lo tìm ý nghĩa trong thế giới
khái niệm, ngôn ngữ, tư tưởng, quan niệm … Riêng ngài Ca-diếp thấy cành hoa như tự
tánh đang là của nó. Điều này thiền Nguyên Thủy gọi là thấy biết
như thật (yathābhūta ñāṇadassana: như thị tri kiến) trong trí tuệ chánh
niệm tỉnh giác.
Câu 3 và 4 nói rằng ngay khi trao
cái gọi là pháp không ấy thì vẫn không có một pháp nào từng là pháp không
trong khái niệm được cả. Vì khi hình thành khái niệm “pháp không”
thì nó đã trở nên “pháp hữu” rồi. Đây là lời cảnh báo cho những ai chạy
theo cái gọi là tánh, là không mà không biết rằng đó chỉ là tánh
không trong ý niệm của chính mình.
(Một sinh viên hỏi:)
- Thưa sư, truyền thuyết Tổ Bồ-đề
Đạt-ma chín năm ngồi quay mặt vào vách núi có thật không? Nếu có thì cửu niên
diện bích đó là gì?
- Nếu bạn gặp Lâm Tế thì không nghe
một tiêng hét cũng hưởng 30 hèo. (Cả lớp cười). Ngồi chín năm ai mà chịu nỗi
(cả lớp lại cười). Thật đó, chẳng lẽ không đi ăn uống tắm rửa gì cả sao? Có lẽ
đây chỉ là một biểu tượng của bích quán thiền, ý nói tâm thiền
sừng sững, thẳng tắp như vách đá, không một chút vọng động mà về sau Lục Tổ Huệ
Năng gọi là tâm bình hạnh trực.
Cũng theo truyền thuyết Thiền Tông
(ghi trong Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 1), sau khi đức Phật truyền pháp cho ngài
Ca-diếp, A-nan tò mò hỏi sư huynh:
- Sư huynh, Thế Tôn ngoài việc
truyền chiếc y vàng cho huynh, còn truyền gì khác nữa?
Ca-diếp gọi A-nan, Tôn giả ứng:
- Dạ !
Ca-diếp nói:
- Cây cột phướn trước chùa đổ. (SS. Lý Việt Dũng dịch: Hãy hạ
cột nêu phía trước cửa chùa đi).
A-nan liền tỏ ngộ. Sau đó Tổ Ca-diếp truyền y pháp cho tôn giả A-nan bằng
bài kệ:
“Pháp pháp bổn lai pháp
Vô pháp vô phi pháp
Hà ư nhất pháp trung
Hữu pháp hữu phi pháp.”
(Pháp có pháp bổn lai
Chẳng pháp, chẳng phi pháp
Sao ở trong một pháp
Có pháp, có phi pháp?)
Con người có thói quen dùng lý trí,
tư tưởng để phán đoán hơn là trực nhận ngay nơi thực tại. Điều này biểu hiện
qua sự ngơ ngác của hội chúng, và rõ hơn qua câu hỏi tò mò của tôn giả A-nan.
Nếu người ta không gán được vào thực tại những phán đoán chủ quan thì cũng nghi
rằng đàng sau đó hẳn phải có cái gì bí ẩn. Chính thói quen suy đoán này đã
không những che lấp thực tại ngoại giới mà còn đánh mất thực tại đang là nơi
chính mình. Đó chính là cốt lõi của sự vong thân tha hóa, của điên đảo mộng
tưởng, luân hồi sinh tử. Vì vậy, Tổ Ca-diếp gọi “A-nan!” đơn giản chỉ nhằm đánh
thức A-nan thoát khỏi cơn mê lý trí hướng ngoại để trở về với thực tại chính
mình. Trở về với chính mình, không còn rong ruổi kiếm tìm, thì thực tại vốn đã
hiển bày ở khắp mọi nơi. Cây cột phướn đổ sờ sờ ngoài sân chùa thỉ Tăng nhân ai
mà chẳng thấy, thế mà Tổ Ca-diếp phải đánh thức A-nan hoàn trở lại với chính
mình rồi chỉ ra cho mới thấy được. Ngay trước mắt có gì không phải là đạo “xúc
mục vô phi thị đạo” hoặc “đương xứ tức chân”, “thực tại hiện tiền”, “Tat
tvam asi”, “Sandiṭṭhiko”… xưa nay đều cùng một sự lý ấy.
Vậy thì các pháp dù chúng ta có đặt
cho chúng bao nhiêu khái niệm, tên gọi, hay nhìn chúng dưới vô số quan điểm
khác nhau thì chúng vẫn như chúng là hoàn toàn độc lập với khái niệm thị phi,
xấu tốt cùa con người:
Pháp có pháp bổn lai
Chẳng pháp, chẳng phi pháp.
Nhưng do đâu trên một pháp đang là
ấy (pháp bổn lai) lại sinh ra đúng sai, xấu tốt, sang hèn, thiện ác…? Hay nói
một cách khác vì sao nơi pháp thực tánh lại khởi lên pháp khái niệm?
Sao ở trong một pháp
Có pháp, có phi pháp?
Theo Thiền Tông thì khi đã có một
niệm (ý niệm, tư tưởng) khởi lên thì liền có sự phân biệt thiện ác, thị phi (Nhất
niệm khởi thiện ác dĩ phân), giống như khi một đợt sóng lan ra thi kéo
theo hàng ngàn làn sóng khác (nhất ba động vạn ba tùy). Chỉ ngay nơi lục
căn thôi, nếu một niệm không sinh thì tất cả pháp bổn lai đều hiển hiện, ngược
lại thì chỉ cần một niệm khởi lập tức thực tánh bị che mờ:
“Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động bị vân già”.
Krishnamurti cũng nói một tư tưởng
khởi lên luôn đi kèm với ý niệm bản ngã, thởi gian, nhân quả và khổ đau. Điều
này hoàn toàn đúng với mọi người trừ chánh tư duy của bậc Thánh Alahán.
Theo thiền Nguyên Thủy, trong
Abhidhamma, thì đó là diễn biến của những tiến trình tâm (vīthi-citta) trước
đối tượng nhận thức, hay nói một cách khác đó chính là quá trình nhận thức
(process of cognition). Có ba loại tiến trình nhận thức:
I) Tiến trình tâm qua ngũ môn
(Pañcadvāra vīthicitta): Tức quá trình nhận thức qua năm giác quan, hay diễn
tiến của tâm (cittappavattiyo) khi nhận thức (tâm lý) đối tượng bên ngoài (vật
lý) ngang qua năm giác quan (sinh lý). Diễn tiến tương giao vận hành của tiến
trình tâm – sinh – vật lý này tuần tự diễn ra như sau:
1) Hữu phần (bhavaṅga):
Tâm ở trạng thái thụ động, khi chưa khởi lên do một tác duyên nào, giống như
một dòng nước ngầm, lặng lẽ trôi chảy, hàm chứa những pháp đã được kinh nghiệm,
huân tập và lưu giữ từ vô lượng kiếp quá khứ. Tạng Pāḷi Abhidhamma gọi đó là
bhavaṅga, hữu phần, vì nó là phần (aṅga) duy trì sự sống (bhava) của chúng sinh
hữu tình (satta hay bhùta). Có thể nói tiềm thức và vô thức trong tâm lý học
phương Tây là hai thuộc tính của bhavaṅga, nhưng chúng ta chỉ có thể xem đó là
những từ tương đương chứ không hoàn toàn đồng nghĩa, vì chúng không thể thay
thế nhau được. Tuy A-lại-da thức trong Duy Thức Luận có nhiều điểm giống với
bhavaṅga, điển hình như có chức năng tàng trữ kinh nghiệm hoặc có tính chất
hằng chuyển như bộc lưu v.v... có thể so sánh, đối chiếu với nhau nhưng cũng
không thể xem là một được.
Khi có sự xúc tác của một đối tượng
thì bhavaṅga trôi qua trong 1 sát-na, rồi rung động lên và dừng lại trong 2
sát-na kế tiếp. Lúc đó tâm bắt đầu khởi lên dưới hình thức một tiến trình diễn
biến mang tính hiện hành năng động chứ không còn ở trạng thái bhavaṅga thụ động
nữa, và trước khi tiến trình này chấm dứt, kinh nghiệm của tâm ấy được thu thập
rồi chìm vào bhavaṅga trở lại. Như vậy, chúng ta có thể nói các tiến trình tâm
hiện hành khởi lên từ bhavaṅga và trở về trạng thái bhavaṅga, giống như các đợt
sóng khởi lên từ dòng nước rồi lại chìm vào dòng nước. Lão Tử cũng đã từng ngồi
xem cái tâm của mình và nói rằng: “Các phục qui kỳ căn” . Nói là căn hay
nói theo Duy Thức là căn bản tâm thì cũng đúng, nhưng theo Abhidhamma
thì bhavaṅga không phải là một cội nguồn hay bản thể thường hằng, vĩnh
cửu gì cả. Bhavaṅga đơn giản chỉ là trạng thái âm thầm, thụ động, vô thức,
ngược lại với trạng thái hiện hành, năng động, hữu thức của tâm mà thôi.
2) Hữu phần trôi qua (bhavaṅg’ātīta):
Bình thường, như khi chúng ta đang ngủ, tâm tạm thời không nhận đối
tượng tác động vào, nên không nghe, không thấy, không tiếp xúc gì với bên
ngoài, nghĩa là tâm đang ở trạng thái trôi chảy lặng lẽ, thụ động và vô thức
của bhavaṅga. Nhưng nếu có một đối tượng tác động đủ mạnh, như nghe một tiếng
động lớn, một mùi hôi nồng nặc hay một vật gì đó xúc chạm vào thân v.v... thì
bhavaṅga chỉ có thể tiếp tục trôi chảy thêm 1 sát-na trong trạng thái tĩnh lặng
cố hữu của nó rồi sau đó rung động lên.
3) Hữu phần rung động (bhavaṅga
calana): rung động này xảy ra trong 1 sát-na trước đối tượng kích hoạt.
4) Hữu phần dừng lại (bhavaṅg’upaccheda)
sau khi rung động lên tâm thoát khỏi tình trạng hữu phần trong 1 sát-na nữa để
chuẩn bị cho tâm hiện khởi trên đối tượng.
(Một sinh viên hỏi:)
- Nếu hữu phần đã trôi chảy lặng lẽ
như vậy thì phải chăng chúng ta có thể thiền bằng cách giữ tâm ở trạng thái yên
tĩnh này để tâm không khởi?
- Không phải như vậy, nói giữ tâm
không khởi tức là đã khởi tâm rồi làm sao còn tình trạng hữu phần trôi chảy âm
thầm lặng lẽ được nữa. Lặng lẽ của thiền định là tâm an chỉ trên đối tượng, mà
là đối tượng rất lớn, trong khi hữu phần là trạng thái lặng lẽ của tiềm thức
khi chưa có đối tượng kích hoạt cho nên đó không phải là lặng lẽ của thiền
định. Còn lặng lẽ của thiền tuệ là chánh niệm tỉnh giác, đó là trí tuệ lặng lẽ
chiếu soi chứ không phải trạng thái lặng lẽ thụ động, vô thức của hữu phần.
Trong cả thiền định lẫn thiền tuệ đều kị nhất là để tâm rơi vào hữu phần, thụ
động và vô thức.
5) Ngũ môn hướng tâm (pañca-dvāra-vajjana):
nói tâm chuẩn bị hiện khởi vì còn qua một khâu trung gian là bản năng phản xạ
tự nhiên của các căn môn hướng về đối tượng khi bị tác động, thuộc tâm vô nhân
duy tác (ahetuka kiriya citta). Nếu đối tượng kích hoạt là một hình sắc
hay ánh sáng thì phản xạ tự nhiên của nhãn môn được đánh thức để hướng đến tiếp
xúc với đối tượng, nếu đối tượng là một âm thanh hay tiếng nói thì nhĩ môn được
đánh thức để hướng đến đối tượng, cũng vậy, tỷ môn sẽ hướng đến đối tượng mùi
hương, thiệt môn hướng đến vị, thân môn hướng đến vật xúc chạm.
6) Ngũ thức (pañca-viññāṇa):
Khi xúc giữa các căn môn và các đối tượng trần cảnh liên
hệ đã được hình thành thì thức tương ứng liền phát sinh trong thời gian 1
sát-na chớp nhoáng. Đây là tri giác thuộc trực giác giác quan, cái biết máy móc
của phản xạ tự nhiên, nên đơn giản hơn nhiều so với ý thức.
Có thể nói đến đây (cặp) năm thức
tâm đơn giản nhất mới thật sự xuất hiện dưới hình thức vô nhân dị thục
(vipāk’āhetukā citta) để làm công việc rất tự nhiên, tự động và khách
quan là nắm bắt đối tượng thực tánh pháp (paramattha), nghĩa là
đối tượng được nắm bắt vẫn còn nguyên trạng và trung thực, chưa bị tưởng tượng,
hồi tưởng và tư tác (cetanā) chủ quan xen vào xử lý, đánh giá hay kết luận gì
cả, giống như chức năng của một máy chụp hình thu hình hay máy thu băng thu
tiếng chứ chưa qua các phần mềm vi tính để xử lý theo ý muốn.
Năm thức không khởi lên cùng một lúc
mà nhiều lắm là hai hoặc ba thức cộng tác với nhau để xử lý một đối tượng phức
tạp. Thường thì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt thức cộng tác chung với thân thức vì bốn
căn môn này đều nằm trên thân. Ví dụ, khi mắt thấy sắc mà cảm thấy xốn xang khó
chịu thì đó là thân thức thọ khổ chứ không phải nhãn thức (nhãn thức chỉ thọ
xả). Như vậy, ở đây, nhãn thức và thân thức đã cộng tác trong lúc thấy. Cũng
vậy, nhĩ thức với thân thức lúc nghe, tỷ thức với thân thức lúc ngửi, thiệt
thức với thân thức lúc nếm.
Năm thức chỉ làm công tác nắm bắt
tổng thể nguyên bản của đối tượng, như máy ảnh cung cấp âm bản trung thực của
một vật thể theo khả năng của nó. Nghĩa là máy tốt hay độ phân giải cao thì ghi
hình rõ, máy xấu hay độ phân giải thấp thì ghi hình mờ, cũng vậy, căn môn (tịnh
sắc căn) tốt thì nắm bắt đối tượng rõ hơn. Ví dụ như mắt sáng, mắt cận thị, mắt
viễn thị, mắt loạn thị... đều cung cấp âm bản của cùng một đối tượng nhưng độ
tinh vi khác nhau.
Năm thức nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân
thu nhận đối tượng thực tánh bên ngoài như nó phản ánh trung thực qua năm giác
quan. Trung thực theo nghĩa chưa bị phê phán kiểm duyệt, như tấm gương thu hình
ảnh người soi, chính người soi mới làm công việc bình phẩm còn tấm gương năm
thức chỉ thu nhận đối tượng như nó là mà thôi.
(Một sinh viên hỏi:)
- Nếu như năm thức tiếp nhận đối
tượng là thực tánh pháp thì có khác gì trí tuệ hay chánh niệm tỉnh giác. Như
vậy chúng ta có thể tu bằng cách giữ tâm ở giai đoạn thức này đừng cho ý niệm
của tưởng khởi lên tức là cũng đồng với trí tuệ thiền vipassanā rồi phải không?
- Không phải, thức này chỉ là vô nhân
dị thục, tuy khách quan trung thực, chưa bị ý niệm xen vào, chưa có tác hại gì,
nhưng còn thụ động, không đủ lực (bala): tín, tấn, niệm, định, tuệ để quán
chiếu như pháp hành thiền tuệ nên không thể giác ngộ giải thoát bằng cách ngưng
lại ở năm thức. Hơn nữa trên thực tế cũng không thể dừng lại một chuỗi diễn
biến theo qui luật khách quan của tâm (citta niyama).
Khi chúng ta đang chánh niệm tỉnh
giác thì các thức này phát sinh trong giác niệm, nghĩa là được trí tuệ soi
chiếu thì “có thể coi như” thức này đã biến thành tuệ mà Duy Thức gọi là thành
sở tác trí. Thực ra, thức là thức (tâm), tuệ là tuệ (tâm sở), không thể thức
biến thành tuệ, nhưng khi thức này được trí tuệ soi chiếu thì không bị ý niệm
(paññatti) che lấp thế thôi.
Hơn nữa, 5 thức này thuộc vô nhân
không thể đồng hóa với trí tuệ hữu nhân trong thiền vipassanā
được.
7) Tiếp thọ tâm (sampaṭicchana):
Sau khi thức nắm bắt đối tượng liền chuyển giao âm bản ghi được cho tiếp thọ
tâm, giống như sau khi chụp hình chúng ta đưa phim âm bản cho chuyên viên tráng
thành dương bản. Chuyên viên này chính là tiếp thọ tâm. Tiếp thọ tâm thực hiện
chức năng chủ yếu là:
- Tiếp nhận “phim âm bản” của đối
tượng do thức giao lại.
- Làm rõ chi tiết của âm bản bằng
cách chuyển đổi thành dương bản, sẵn sàng chuyển giao để rửa ra hình. Đây là
giai đoạn phân tích, ghi nhận từng đặc điểm để cung cấp đầy đủ thông tin chi
tiết về hình ảnh của đối tượng.
- Cung cấp thông tin đầy đủ chi tiết
đã được phân tích (tương tự như hình thức dương bản của một tấm phim) cho suy
đạc tâm xử lý.
Vì là tâm vô nhân dị thục
(vipāk’āhetuka citta) nên những gì tiếp thọ tâm thực hiện chỉ có tính máy móc,
tự nhiên và tự động. Hơn nữa động tác này chỉ diễn ra trong 1 sát-na, nên không
đủ thời gian để lý trí suy luận hữu nhân có thể xen vào như ở giai đoạn tốc
hành tâm mà chúng ta sẽ nói tới sau.
8) Suy đạc tâm (santìrana):
chức năng chủ yếu của suy đạc tâm là:
- Nhận những thông tin đã được tiếp
thọ tâm ghi nhận và cung
cấp.
- Liên kết, ráp nối, tổng hợp những
thông tin chi tiết ấy lại để làm hiển lộ tướng trạng của đối tượng, ví như
chuyên viên rửa phim dương bản thành một tấm hình màu rõ nét.
- Chuyển giao hình ảnh đã được tổng
hợp cho xác định tâm đưa ra kết luận đối tượng đó là gì.
Suy đạc tâm cũng thuộc tâm vô nhân
dị thục nên thực hiện chức năng của mình một cách máy móc, tự động, và vì động
thái này chỉ diễn ra trong 1 sát-na nên không đủ thời gian để đắn đo lý luận
một cách chủ quan, hữu ý được. Đây là tổng hợp đầu tiên trong quá trình tri
giác chưa qua khái niệm.
9) Xác định tâm (voṭṭhapana):
sau khi thức nắm bắt đối tượng một cách tổng quát, tiếp thọ tâm quan sát từng
phần chi tiết của đối tượng bằng phân tích từng phần, và suy đạc tâm tổng hợp
chi tiết ấy lại ráp nối thành hình, thì xác định tâm thực hiện giai đoạn cuối
của chức năng hiện tưởng: xác định đối tượng ấy là gì một cách nguyên vẹn như
nó là chưa qua khái niệm và phê phán đánh giá của tư tưởng. Việc xác định này
cũng chỉ diễn ra trong 1 sát-na. Xác định tâm được dùng trong tiến trình tâm
qua ngũ môn chính là ý môn hướng tâm trong ý môn tiến trình tâm, vì vậy nó là
vô nhân duy tác, nghĩa là không có nhân tạo tác thiện hay bất
thiện.
Ba động tác thuộc ý giới (chưa
phải ý thức) này thực ra chỉ làm rõ đối tượng thực tánh mà các thức giác quan
mới thu nhận tổng quát, chúng phản xạ như một bản năng tự nhiên, tự động và máy
móc theo cách trực giác giác quan chứ chưa có phán đoán chủ quan vì đây là các
loại tâm quả vô nhân hoặc duy tác mà thôi. Sau kiểu nhận thức trực giác giác
quan này mới xuất hiện phản ứng chủ
quan.
10) Tốc hành tâm (javana):
Javana có nghĩa là động tác nhanh, động từ javati là đi nhanh, hấp tấp, hối hả.
Khi xác định đối tượng rồi, tâm liền tỏ thái độ phản ứng cấp tốc trên đối
tượng, nên gọi là tốc hành tâm, quyết định nhanh tính chất tạo tác thiện, bất
thiện hay bất động của tâm. Ví như khi thấy một đóa hoa liền ưa thích hay nghe
tiếng chửi liền nổi giận v.v... Giai đoạn phản ứng tạo tác này diễn ra trong 7
sát-na. Tốc hành tâm trong ngũ môn tiến trình tâm có thể tương đương với mạt-na
thức trong Duy Thức Luận và tốc hành tâm trong ý môn lộ trình tâm mới thật sự
tương đương với ý thức trong Duy Thức.
11) Đồng sở duyên (tad’ālambana):
có nghĩa là cùng đối tượng, đối tượng đây là tốc hành tâm vì vậy nó là bản sao
của tốc hành tâm, sở dĩ gọi như vậy vì nó làm công tác sao lưu (2 sát-na) những
gì tốc hành tâm vừa mới tạo tác, rồi chìm vào kho lưu trữ bhavaṅga.
Động tác này giống như khâu save của
máy tính lưu tài liệu vừa mới thực hiện vào My Documents (mặc định), nhưng chỉ
lưu được bản sao thôi chứ không lưu được bản chính (sự kiện). Tốc hành tâm ví
như việc thưởng thức một món ăn, còn đồng sở duyên chỉ quay phim để giữ lại sự
kiện đó chứ không thể giữ lại chính sự kiện đó.
Đồng sở duyên không khởi trong những
trường hợp sau:
- Đối tượng của tiến trình tri giác
qua năm giác quan (ngũ môn tiến trình tâm) không đủ tiêu chuẩn một trần cảnh có
độ kích hoạt rất mạnh hay rất lớn (atimahanta) thì đồng sở duyên sẽ không khởi
lên, nghĩa là sự kiện không đủ rõ để sao lưu. Ví dụ một học sinh đang học bài
bỗng nghe một tiếng gì đó làm em quay qua một chút rồi trở lại học bài ngay,
đối tượng không gây một phản ứng nào đáng kể nên em quên ngay.
- Đối tượng của tiến trình ý thức
dục giới (ý môn tiến trình tâm có dục giới tốc hành tâm) không đủ tiêu chuẩn
một nội cảnh rất rõ (vibhūta) thì đồng sở duyên cũng không khởi lên vì không có
gì để sao lưu. Ví dụ đôi lúc chúng ta chợt nhớ đến một điều gì đó nhưng rồi
quên ngay mà không phản ứng gì cả.
- Trong hai tiến trình ý thức tiếp
trợ vật khái niệm và danh khái niệm, trong các tiến trình tâm sắc giới, vô sắc
giới và siêu thế không có đồng sở duyên vì tốc hành tâm có thể trực tiếp đi vào
bhavaṅga nên không cần bản sao để lưu trữ.
12) Hữu Phần (bhavaṅga):
sau khi đồng sở duyên hoàn thành công việc lưu ký thì tâm lại chìm vào bhavaṅga
cùng với những thông tin vừa mới thu nhặt được dưới hình thức kinh nghiệm.
Nếu không kể bhavaṅga đầu và cuối
thì từ hữu phần trôi qua đến đồng sở duyên sẽ diễn ra trong 17 sát-na. Một đối
tượng vật chất như năm trần phải biến đổi chậm hơn 17 sát-na mới đủ cho một
tiến trình tâm khởi lên nhận thức đối tượng ấy và trở về bhavaṅga.
Trong bhavaṅga các trữ liệu (Duy
Thức gọi là chủng tử) không giữ nguyên trạng thái ban đầu mới được lưu ký mà
luôn được xử lý hay nói đúng hơn là tự động tương duyên, tương tác, tương sinh,
tương khắc, để tự biến đổi và chín mùi cho đến khi thành quả hiện hành, đó là
chuỗi chuyển hóa theo nguyên lý nhân quả một cách khách quan, uyển chuyển, tự
nhiên và vô thức. Quá trình tự động chuyển hóa này có độ vi tế và chính xác cực
kỳ cao so với với những xử lý máy móc được qui định và cài đặt bởi các chuyên
gia vi tính.
Nếu đối chiếu với Duy Thức Luận thì
tad’ālambana làm nhiệm vụ năng tàng (
ādana
), còn bhavaṅga làm nhiệm vụ sở tàng (ālaya).
II) Tiến trình tâm qua ý môn (Manodvāra
vīthicitta): Nếu chúng ta gọi tiến trình tâm qua ý môn nói chung là
tiến trình ý thức thì theo Vi Diệu Pháp có hai loại ý thức: Ý thức có tốc hành
tâm dục giới và ý thức có tốc hành tâm an chỉ.
1. Tiến trình tâm qua ý môn có tốc
hành tâm dục giới (kāmajavana manodvāra vīthicitta): ý
thức này có đối tượng là hình ảnh lưu trữ của ngũ trần mà chúng ta thường gọi
là pháp trần hay nội cảnh (Duy Thức gọi là tiền trần lạc tạ ảnh tử), như khi
tâm nhớ lại một hình sắc, một âm thanh v.v... thì tiến trình tâm này khởi lên.
Tiến trình ý môn có tốc hành tâm dục giới lại chia làm hai loại:
1.a) Ý môn tiến trình tâm tiếp trợ
(anubandhaka manodvāra vīthicitta) là loại ý thức luôn đi kèm ngay sau
tiến trình qua năm môn để hỗ trợ, làm tăng cường độ nhận thức đối tượng. Duy
Thức gọi là minh liễu ý thức. Loại ý thức tiếp trợ này không đi riêng lẻ mà
diễn ra thành 4 tiến trình kế tục:
1.a.1) Tiến trình nắm bắt đối tượng
vừa qua (atìīaggahana vīthicitta) đây là diễn tiến phân tích chớp
nhoáng trong 7 sát-na tốc hành tâm nắm bắt từng phần của đối tượng thực tánh
(paramattha) vừa qua mà năm thức trước mới thu được. Tiến trình này diễn ra như
sau:
- Hữu phần rung động (1 sát-na)
- Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt
và xác định đối tượng thực tánh quá khứ vừa qua do ngũ thức cung cấp.
- Tốc hành tâm (7 sát-na) phân tích
đối tượng quá khứ do ý môn hướng tâm vừa cung cấp.
- Đồng sở duyên (2 sát-na) lưu lại
bản sao của tiến trình.
1.a.2) Tiến trình nắm bắt đối tượng
tổng thể (samūhaggahana vīthi): là diễn tiến tổng hợp chớp nhoáng trong
7 sát-na tốc hành tâm những chi tiết do tiến trình phân biệt trên cung cấp để
ráp nối thành một đối tượng thực tánh tổng thể. Tiến trình ý thức tiếp trợ thứ
2 này diễn ra như sau:
- Hữu phần rung động (1 sát-na)
- Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt
và xác định đối tượng thực tánh quá khứ do tiến trình phân tích từng phần trước
đó cung cấp.
- Tốc hành tâm (7 sát-na) tổng hợp
lại những phần do ý môn hướng tâm vừa tiếp nhận và xác định từ tiến trình phân
tích ngay trước đó.
- Đồng sở duyên (2 sát-na) ) lưu lại
bản sao của tiến trình.
1.a.3) Tiến trình hình thành vật khái
niệm (atthaggahana vīthi) với tư liệu đã được phân tích và tổng hợp từ
hai giai đoạn trên, tiến trình này định tướng đối tượng để chế định đó là vật
gì (vật khái niệm) hay ý nghĩa gì (nghĩa khái niệm). Tiến trình vật khái niệm
này diễn ra như sau:
- Hữu phần rung động (1 sát-na)
- Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt
và xác định đối tượng thực tánh quá khứ do 2 tiến trình phân tích tổng hợp
trước đó cung cấp.
- Tốc hành tâm (7 sát-na) nhận biết
và quyết định đối tượng do ý môn hướng tâm vừa cung cấp là vật gì (vật khái
niệm) hay ý nghĩa gì (nghĩa khái niệm).
- Hữu phần (2 sát-na) lưu trữ trực
tiếp không cần đồng sở duyên sao lưu.
Đến đây ý thức đã hình thành được
những khái niệm về tướng trạng (không phải tính trạng), về tổng hợp, phương
hướng v.v... của đối tượng để lưu thêm vào ngăn vật khái niệm hoặc nghĩa khái
niệm trong kho bhavaṅga.
1.a.4) Tiến trình hình thành danh
khái niệm (nāmaggahana vīthi): khi đã định được tướng trạng của đối
tượng là gì thì liền định danh, định nghĩa hay kết luận về đối tượng ấy. Tiến
trình danh khái niệm diễn ra như sau:
- Hữu phần rung động (1 sát-na)
- Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt
và xác định đối tượng vật (nghĩa) khái niệm do tiến trình khái niệm hóa vừa
cung cấp.
- Tốc hành tâm (7 sát-na) đặt hoặc
gọi tên đối tượng mà ý môn hướng tâm vừa cung cấp.
- Hữu phần (2 sát-na) lưu trữ trực
tiếp không cần đồng sở duyên sao lưu.
Đến đây ý thức đã định được hoặc hồi
tưởng được tên gọi của đối tượng để lưu thêm vào ngăn danh khái niệm trong kho
bhavaṅga.
Ví dụ như khi mắt chúng ta nhìn thấy
một vật (chẳng hạn một trái cây) thì sát-na đầu chỉ là nhãn thức, sau đó mất 3
sát-na nữa để tiếp thu, suy đạc và xác định đối tượng thực tánh ấy một cách
tổng quát cho các bước sau hoàn thành tiến trình tâm qua nhãn môn và chuyển
giao cho 4 tiến trình ý thức tiếp trợ làm công việc phân tích, tổng hợp, định
tướng và định danh với kết luận đó là trái ổi hay trái xoài.
Thường đối với năm thức thì vật khái
niệm (attha paññatti) được hình thành trước rồi mới đến danh khái niệm (nāma
paññatti). Nghĩa là chúng ta biết đối tượng là vật (attha) gì trước khi liên
tưởng đến tên (nàma) gọi của nó. Ví dụ như khi thấy (nhãn thức) một vật chúng
ta liền biết vật đó hình thù màu sắc như thế nào rồi mới biết tên nó là trái
cam hay trái mận. Cũng vậy khi nghe một âm thanh, ngửi một mùi v.v...
Riêng với nhĩ thức, trong trường hợp
nghe một tên gọi thì danh khái niệm hình thành trước vật khái niệm. Vì chúng ta
nghe tên “trái cam” trước rồi mới tưởng ra hình thù hương vị của trái cam sau.
Trong 4 tiến trình tiếp trợ trên thì
đối tượng của 2 tiến trình phân tích và tổng hợp vẫn là thực tánh quá khứ do
tiến trình nhãn thức ngay trước đó cung cấp. Đây là một loại trực giác tâm lý
trong triết học phương Tây.
Tiến trình thứ 3 có đối tượng là vật
(nghĩa) khái niệm vì đối tượng thực tánh do các giai đoạn trên cung cấp đã được
khái niệm hóa thành tướng chế định chủ quan. Tuy nhiên, đây vẫn là một loại chủ
quan còn sơ phác, chưa phải là loại chủ quan kiên cố hơn được hình thành trong
tiến trình tâm đơn thuần mà chúng ta sẽ nói sau.
Tiến trình thứ 4 có đối tượng là
danh khái niệm vì đối tượng vật khái niệm đã được mã hóa thành một ký hiệu để
đặt tên cho nó. Đến đây thì tính chủ quan có phần gia tăng, nhưng phải đến ý
môn tiến trình tâm đơn thuần mới hình thành quan niệm, định kiến, chấp thủ hay
bóp méo sự thật.
1.b) Ý môn tiến trình tâm đơn thuần
(suddha manodvāra vīthicitta) hay ý thức đơn thuần là ý thức nội phát
với đối tượng nội cảnh gọi là pháp trần, không lệ thuộc vào ngũ môn bên ngoài.
Đối tượng nội cảnh này phong phú hơn nhiều so với tiến trình ý thức tiếp trợ.
Ngoài ấn tượng về 5 tiền trần, đối tượng nội cảnh còn có tâm, tâm sở, khái niệm
và Niết-bàn. Tiến trình ý thức đơn thuần diễn ra như sau:
- Hữu phần rung động (1 sát-na)
- Hữu phần dừng lại (1 sát-na)
- Ý môn hướng tâm (1 sát-na) nắm bắt
và xác định các đối tượng nội cảnh.
- Tốc hành tâm (7 sát-na) thái độ
phản ứng có tính thiện, bất thiện trên đối tượng.
- Đồng sở duyên (2 sát-na) lưu lại
bản sao của tiến trình.
Duy Thức gọi ý thức đơn thuần này là
độc đầu ý thức gồm suy trung ý thức (suy tính), mộng trung ý thức (giấc mơ),
loạn trung ý thức (hoang tưởng), tán vị ý thức (suy nghĩ miên man bất định).
2. Ý môn tiến trình tâm có tốc hành
tâm an chỉ (appanā javana mano dvāra citta vīthi): nghĩa
là tiến trình tâm của các bậc định sắc giới, định vô sắc giới hay tâm siêu thế.
Thực ra đây cũng là một loại ý thức đơn thuần cao cấp và đặc biệt, có thể so
sánh tương đương với định trung ý thức trong Duy Thức.
Ví dụ:
1) Tiến trình tâm thiền thứ nhất sắc
giới diễn ra như sau:
- Ý môn hướng tâm
- Chuẩn bị (parikamma): đã sẵn sàng
cho tâm thiền sắc thứ nhất.
- Cận hành (upacāra): đã gần với tâm
thiền sắc thứ nhất.
- Thuận thứ (anuloma): thuận dòng đi
vào tâm thiền sắc thứ nhất.
- Chuyển tánh (gotrabhū): chuyển từ
tâm dục giới qua tâm sắc giới.
- Thiền thứ nhất (pathama rūpa
jhāna): tâm an chỉ (appanā) với tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.
2) Tiến trình tâm thiền thứ nhất vô
sắc giới diễn ra như sau:
- Ý môn hướng tâm
- Chuẩn bị: đã sẵn sàng cho tâm
thiền vô sắc thứ nhất.
- Cận hành: đã gần như tâm thiền vô
sắc thứ nhất.
- Thuận thứ: thuận dòng đi vào tâm
thiền vô sắc thứ nhất.
- Chuyển tánh: chuyển từ tâm
sắc giới qua tâm vô sắc giới.
- Không vô biên xứ: Tâm an chỉ trong
thiền vô sắc giới thứ nhất với nhất tâm và xả.
3) Tiến trình tâm siêu thế của bậc
Thánh Tu-đà-hoàn diễn ra như sau:
- Chuẩn bị: đã sẵn sàng cho tâm nhập
dòng siêu thế.
- Cận hành: đã gần như tâm nhập dòng
siêu thế.
- Thuận thứ: thuận dòng đi vào tâm
siêu thế Dự Lưu.
- Chuyển tánh: chuyển từ tâm hiệp
thế qua tâm siêu thế.
- Tu-đà-hoàn Đạo: tâm chấm dứt thân
kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, lấy Niết-bàn làm đối tượng.
- Tu-đà-hoàn
Quả.
Tóm lại, nơi một pháp tùy theo loại
tiến trình tâm nhận thức thuộc tưởng tri, thức tri, thắng tri, tuệ tri hay
liễu tri [xem mục Nhận Thức II.2] mà thấy thực tánh hay khái niệm
thị phi, thiện ác… Còn tự thân pháp ấy vẫn như nó đang là (what is being) chứ
không phải như hiện tướng (that is being) được thấy là.
Trong bài kệ truyền pháp của Tổ
Thiền Tông thứ 9, Buddhamitra (Phục-đà-mật-đa), cho Tổ thứ 10, Parsvika (Hiếp
Tôn Giả), nói rõ:
“Chân lý bổn vô danh
Nhân danh hiển chân lý
Thọ đắc chân thực pháp
Phi chân diệc phi ngụy.”
(Chân lý vốn không tên
Nhờ tên tỏ chân lý
Nhận được pháp chân thật
K hông thật cũng không giả).
Bổn pháp, vô pháp, bổn lai pháp,
chân lý, chân thực pháp… là những từ khác nhau nhưng cùng chỉ cho tự thân sự
thật như nó là tức thực tánh pháp (paramattha). Thực tánh
pháp luôn hiện diện trước mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhưng ngay sau đó tâm
trí đã biến nó thành hay qui nó vào phạm trù vật khái niệm (attha paññatti)
rồi lại đặt cho nó tên gọi qua danh khái niệm (nāma paññatti). Chỉ có
trí tuệ chánh niệm tỉnh giác, thâm bát-nhã, hay chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn
diệu tâm mới thấy được thực tánh pháp, bằng không chúng ta chỉ thấy pháp qua
phạm trù khái niệm chủ quan mà thôi. [Xem mục Đối Tượng II.3]. Trong danh khái
niệm, tên gọi, ngôn ngữ, văn tự chỉ là phương tiện để diễn đạt chân lý chứ
không phải tự thân chân lý ấy. Cho nên, khi thấy được thực tánh chân thật của
pháp là đã vượt qua thế giới khái niệm thật giả, thị phi, sạch dơ, xấu tốt… của
danh xưng, ngữ nghĩa.
Cũng với ý đó, Tổ Parsvika đã triển
khai thêm trong bài kệ phó chúc cho Tổ thứ 11 Punyayasas (Phú-na-dạ-xa):
“Chân thể tự nhiên chân
Nhân chân thuyết hữu lý
Lãnh đắc chân chân pháp
Vô hành diệc vô chỉ.”
(Thể chân, chân tự nhiên
Do từ chân thuyết lý
Lãnh hội pháp chân ấy
Chẳng đi cũng chẳng dừng).
Theo thiền Nguyên Thủy thì pháp tánh
(paramattha dhammatā) vốn chân nơi tánh tự nhiên của nó (sabhāva) như nó là
(yathābhūtam). Đức Phật và các bậc giác ngộ từ chỗ thấy pháp chân tánh ấy
(yathābhūtā ñāṇadassana) mà nói ra để chỉ bày sự thật chứ không phải các ngài
tự ý đặt ra triết thuyết theo quan điểm riêng tư của mình.
Toàn bộ Giáo Pháp do chính đức Phật
dạy (Buddhasāsana) là ngón tay chỉ mặt trăng chân lý tự nhiên ấy (nhất thiết
tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ). Và trong Majjhima Nikāya chính đức
Thế Tôn xác định rằng: “Dù Như Lai ra đời hay không ra đời thì pháp vẫn vậy”.
Các pháp vốn chân trong chân tánh tự nhiên và tự nội nhưng tùy cái nhìn của mỗi
người mà có đúng có sai, có cấu có tịnh. Thực ra, như đức Phật dạy khi tâm thanh
tịnh thì thấy các pháp đều thanh tịnh, cho nên khi đã thấy pháp tự
nhiên chân ấy rồi thì không còn đi hay dừng nữa.
Một hôm có người đạo sĩ đến hỏi đức
Phật làm thế nào thoát khỏi bộc lưu (luân hồi sinh tử ví như dòng nước chảy
cuồn cuộn). Đức Phật trả lời: “Như lai không bước tới không dừng lại mà thoát
khỏi bộc lưu”. Đạo sĩ không hiểu, hỏi vì sao. Đức Phật nói: “Vì bước tới
thì bị cuốn trôi, dừng lại thì bị chìm đắm”. (Saṃyutta Nikāya).
Chúng ta luôn bất mãn với hiện tại
và cố tiến về phía trước để nắm bắt một lý tưởng, một sở cầu, sở nguyện, sở đắc
nào đó, và dĩ nhiên nó chỉ là phóng ảnh ở tương lai của lòng dục vọng. Chính
lòng dục vọng này cuốn trôi chúng ta vào dòng lũ của tử sinh luân hồi. Hoặc
ngược lại, chúng ta say đắm trong hiện tại, chỉ lo hưởng thụ những đối tượng ưa
thích rồi chấp giữ, dính mắc và đắm chìm, sa đọa. Người giác ngộ, đã thấy chân
chân pháp hay pháp chân đế (paramattha sacca) thì luôn sống thuận pháp
(dhammānudhamma paṭipanno viharati) nên không cần phải bước tới mà cũng không
dừng lại bất cứ nơi nào trên dòng sự sống vốn trôi chảy không ngừng.
(Một sinh viên hỏi:)
- Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tri kiến lập
tri tức vô minh bổn”. Vậy có phải tánh biết vốn trong sáng, chư pháp vốn chân
thật, do khởi niệm tìm biết mà tạo ra gốc vô minh?
- Đúng vậy, tri kiến là nói tắt cụm
từ kiến – văn – giác - tri tức cái biết trực tiếp ban đầu của sáu căn môn đối
với sáu trần cảnh. Nếu cái biết đó được soi sáng chân thật gọi là chánh kiến,
nếu bị nhiễm sai lầm gọi là tà kiến, nếu cái biết hoàn mãn toàn diện gọi là
Thánh (hay Phật) tri kiến.
Nguyên nhân vô minh tà kiến chính là
do quá trình hình thành tư tưởng, quan niệm, kết luận, định kiến… từ những khái
niệm (paññatti) mà khái niệm thì không phải là thực tánh, nó được chế định vì
lợi ích con người nhưng phần lớn lại là khái niệm không thật. Đã lập tri tức
dựa trên những khái niệm để rồi rơi vào tưởng tri và thức tri cho nên gọi là
“vô minh bổn”.
Trong kệ Pháp cú, đức Phật dạy: “Quả
thật trong sự sụp đổ của chính mình, người ngu đi tìm sở tri và sở đắc mà không
biết rằng hai điều này làm phân hoá đầu óc nó”.
Tổ Thiền Tông thứ 12 Asvaghosha (Mã
Minh), cũng là người đầu tiên đề xướng Đại Thừa, trong bài kệ truyền pháp cho
tổ thứ 13 Kapimala (Ca-tỳ-ma-la), đã nhấn mạnh tính bất nhị mà người giác ngộ
không chọn lựa không thủ xả:
“Ẩn hiển tức bổn pháp
Minh ám nguyên bất nhị
Kim phó ngộ liễu pháp
Phi thủ diệc phi khí.”
(Ẩn hiển chung pháp gốc
Minh ám vốn không hai
Nay trao pháp liễu ngộ
Không lấy cũng không bỏ).
Ẩn là tự tánh paramattha, hiển là
các loại khái niệm paññatti. Trong phạm trù paññatti mới có khái niệm tối sáng,
trắng đen, xấu tốt, thị phi… nhưng ngay nơi paramattha thì pháp tánh vẫn không
hai. Minh ám nguyên bất nhị còn có nghĩa là khi minh thấy tánh của minh,
khi ám thấy tánh của ám chứ không nên lấy minh và ám đối kháng với nhau. Trong
kinh Tứ Niệm Xứ đức Phật dạy khi si thấy si, khi không si thấy không si,
tức ở nơi mỗi pháp vẫn luôn thấy bất nhị.
Vì vậy, người liễu ngộ pháp tánh này
không còn lâm vào thái độ đối kháng hay chọn lựa nhị nguyên theo tư ý tư dục
nên cũng không cần phải gia công nắm giữ hay lìa bỏ bất cứ điều gì. Thiền sư
Huyền Giác, trong Chứng Đạo Ca, nói:
“Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng niệm bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Huyễn hoá không thân tức Pháp thân.”
Kinh Tứ Niệm Xứ mô tả vị hành giả:
“… vị ấy sống không nương tựa (anissito), không chấp trước (na upādayati) điều
gì trên đời (loke)”. Chỉ cần ngay khi đi tuệ tri đang đi… khi thọ khổ
tuệ tri thọ khổ… khi tâm sân tuệ tri đang sân… khi mắt nhìn thấy sắc tuệ tri
mắt, sắc, và nhân duyên sinh diệt của các kiết sử… chứ không cần gia thêm ý
niệm thủ xả nào.
(Một sinh viên hỏi:)
- Không chấp trước thì dễ hiểu, nhưng
cái sai cái xấu thì sao lại không buông bỏ?
- Ai cũng biết tu là sửa, sửa có
nghĩa là bỏ cái xấu lấy cái tốt. Điều này thì rất đúng trên phương diện tục đế
(sammuti sacca), giữa thế gian, nhưng trong tánh đế hay chân đế (paramattha
sacca) thì không. Thiền vipassanā và thiền kiến tánh đều lấy chân đế (tánh) làm
đối tượng nên điều quan trọng là thấy được thực tánh của pháp chứ không phải
sửa đổi hay lấy pháp này bỏ pháp kia theo ý muốn của bản ngã. Do vô minh không
thấy thực tánh mà bị ái dục sai sử đưa đến nghiệp tạo tác có đúng có sai. Sửa
sai trong vô minh của bản ngã thì chỉ tốt ở đời, nghĩa là chỉ có phước đức chứ
không công đức gì cả. Ví như một người nắn cái bánh hình vuông, thấy người ta
nắn hình tròn đẹp hơn nên sửa hình vuông thành tròn, thực ra bản chất của cái
bánh vẫn như cũ. Cũng vậy, có thể sửa xấu thành tốt nhưng bản ngã thì vẫn còn
nguyên, thậm chí còn sinh ra ngã mạn tự cao hơn nữa.
Trong Vi Tiếu có câu chuyện: Một
thiền sinh đến hỏi vị thiền sư:
-
Có phải tu là sửa không?
Sư nói:
- Không.
- Vậy là không sửa?
- Cũng không.
Thiền sinh không hiểu, thắc mắc:
- Như vậy tu phải làm sao?
Sư đáp:
- Không sửa thì kẹt cái này, sửa thành ra cái khác.
Chỉ
cần trong pháp không mê, còn pháp tự biết phải làm gì trong sự vận hành tất yếu
của chính nó. Pháp tự sinh tự hoá, tự xả tự diệt không cần bản ngã xen vào nắm
giữ hay loại trừ theo tư ý tư dục của mình làm cho vấn đề càng rắc rối thêm.
Tổ
Thiền Tông thứ 14 là Nagarjuna (Long Thọ), cũng là vị tổ xiển minh triết học
tánh không (Trung Quán Luận) một lần nữa xác nhận tính bất khả chứng đắc của
pháp, trong bài kệ phó chúc cho tổ thứ 15 Kanadeva (Ca-na-đề-bà):
«Ư
pháp tâm bất chứng
Vô sân diệc vô hỷ.»
(Nơi
pháp tâm không chứng
Không phiền cũng chẳng vui).
Theo
tinh thần thiền vipassanā được ghi trong Kinh Đại Tứ Niệm Xứ là “…tinh cần
(ātāpī), chánh niệm (satimā), tỉnh giác (sampajāno), không tham ưu điều gì ở
đời (natthi loke abhijjhā domanassaṃ)”.
Vì
pháp là vô thường, vô ngã nên không có người chứng đắc, không có pháp sở đắc,
nghĩa là chỉ cần chánh niệm tỉnh giác để thấy đúng thực tánh của pháp chứ không
để cho tham ái (abhijjhā) và sân hận (domanassa) xen vào chi phối. Từ chứng đắc
thường được dùng trong kinh hoàn toàn không có nghĩa là nắm giữ một pháp sở đắc
nào mà ám chỉ là đã thể nghiệm qua một tiến trình tâm trên đối tượng thực tánh
của pháp. Để thể nghiệm trung thực và chính xác như vậy thì không được phán
đoán chủ quan theo tình cảm hỷ ưu của mình.
Tổ
thứ 16 Rahulata (La-hầu la-ta) trong bài kệ truyền pháp cho tổ thứ 17
Sanghanandi (Tăng-già-nan-đề) vẫn khẳng định lại những yếu tính của Thiền Tông,
mà đó cũng chính là cốt lõi của thiền vipassanā Nguyên Thủy:
«Ư
pháp thật vô chứng
Bất thủ diệc bất ly
Pháp phi hữu vô tướng
Nội ngoại vân hà khởi»
Chính
vì pháp thật sự không thể nắm bắt được (ư pháp thật vô chứng) nên cũng
không thể từ bỏ hay giữ lại (bất thủ diệc bất ly). Trong thiền
vipassanā, điều này rất rõ vì chánh niệm tỉnh giác không thể dừng lại, cho dù
chỉ hai sát-na, trên bất kỳ đối tượng nào, giống như người rơi kiếm trên sông
mà lại đánh dấu mặt nước để tìm thì tuyệt không thể được. Ngay cả định cũng chỉ
có thể định trên một tướng do tưởng sinh chứ không thể định trên
thực tánh của đề mục.
Nếu
ngay nơi thực tánh pháp hành giả hoàn toàn chánh niệm tỉnh giác thì khái niệm
có không, thiện ác, đúng sai… không thể xen vào (pháp phi hữu vô tướng) nên
không những nội tâm tịch tịnh mà đối tượng cũng hoàn toàn trung thực như nó là,
thì trong ngoài làm sao khởi vọng niệm (nội ngoại vân hà khởi).
(Một
sinh viên hỏi:)
-
Ai cũng biết giáo lý cơ bản của Phật giáo, chung cho cả Nguyên Thủy và Phát
Triển, gói gọn trong câu kệ Pháp Cú:
«Chư
ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.»
Hơn
nữa trong pháp môn Tứ Chánh Cần, đức Phật dạy:
Ác
vị sanh sử bất sanh
Ác dĩ sanh sử trừ đoạn
Thiện vị sanh sử phát sanh
Thiện dĩ sanh sử tăng trưởng.
Như
vậy, có phải hoàn toàn trái với tinh thần “minh ám bất nhị”, “bất thủ bất khí”
của Thiền Tông và “không tham ưu”, “không chấp trước” của Thiền Vipassanā
không?
-
Câu hỏi này tương tự như câu hỏi trước nhưng rõ ràng hơn. Tất nhiên những điểm
giáo lý cơ bản trên cũng như nhiều pháp môn tu tập thuộc giới phần, định phần
do đức Phật dạy đều hoàn toàn chính xác trong lãnh vực có đối tượng là khái
niệm chế định (paññatti) theo tục đế (sammuti sacca), trong khi Thiền Tông và
Thiền Vipassanā thì lấy đối tượng là thực tánh pháp (sabhāva) theo chân đế
(paramattha sacca) nên cách thể hiện có khác nhau nhưng không mâu thuẫn.
Chúng
ta thường hiểu lầm lời dạy của chư Phật, chư Tổ, điển hình như trong hai điểm
giáo lý cơ bản nêu trong câu hỏi mà chúng ta dễ dàng thấy đó là pháp đối trị:
từ đối trị sân, thiện đối trị ác, minh đối trị ám v.v... và cũng có nghĩa là
lấy pháp này bỏ pháp kia, giữ pháp này loại pháp nọ. Nguyên tắc thỉ hoàn toàn
đúng nhưng hiểu lầm trong cách thể hiện. Nếu thể hiện trong tu tập đúng thì
không hề có mâu thuẫn giữa hai lãnh vực.
Đối
trị nhưng không có nghĩa như lấy thuốc trụ sinh để diệt virus. Không phải lấy
tâm từ để diệt sân hận… mà khi bạn có niệm từ thì niệm sân không khởi. Định
luật của tâm là không bao giờ có hai tâm cùng khởi, vậy làm sao có từ và sân
cùng hiện diện để phải đánh nhau một mất một còn được. Nếu chúng ta thường có
tâm từ thì sân không có mặt, nghĩa là không cần gia tâm đối trị mà pháp tự đối
trị, nên trong mỗi tâm vẫn bất nhị không hề có nhị nguyên đối kháng mà vẫn hoàn
toàn đúng với pháp môn tinh tấn và câu kệ ngôn “chư ác mạc tác…” như đã nói
trên.
Trong
Thiền Vipassanā và Thiền Tông điều này càng rõ hơn khi ngay nơi một niệm trọn
vẹn (chánh niệm) với niệm ấy và không mê mờ (tỉnh giác) trong niệm ấy thì không
cần gia tâm thủ xả mà pháp sẽ tự chuyển hoá trong vận hành của nó.
Tổ
Sanghanandi (Tăng-già-nan-đề) thứ 17 phó chúc cho Tổ Gayasata (Già-da-xá-đa)
thứ 18 bài kệ truyền pháp:
«Tâm
địa bổn vô sanh
Nhân địa tùng duyên khởi
Duyên chủng bất tương phương
Hoa quả diệc phục nhĩ.»
(Đất
tâm vốn không sinh
Nương đất theo duyên khởi
Giống duyên chẳng hại nhau
Hoa quả cũng như vậy.)
Tâm
địa ở đây ám chỉ thực tánh của tâm. Thực tánh của tâm hay của pháp dĩ nhiên đều
không sinh.
Và
khi xúc duyên mới sinh khái niệm, qua tiến trình tâm hay thập nhị duyên khởi.
Đó cũng là chuyện tự nhiên, chỉ cần sinh mà không chấp thủ (Kinh Kim Cang: Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm), không hại nhau (bất tương phương) thì
sinh càng nhiều càng tốt mới đại dụng (hoa quả), như Lục Tổ nói: “Đối
cảnh tâm sổ khởi” chứ đâu cần phải bám trụ vô sinh. Bám trụ vô sinh là “trầm
không trệ tịch”.
Điều
này một lần nữa được xác chứng trong bài kệ truyền pháp Tổ thứ 18 Gayasata cho
Tổ thứ 19 Kumarata (Cưu-ma-la-đa):
«Hữu
chủng hữu tâm địa
Nhân duyên năng phát manh
Ư duyên bất tương ngại
Đương sanh, sanh bất sanh.»
(Có
giống có đất tâm
Do duyên thường nẩy mầm
Nơi duyên không đối ngại
Đang sinh, vẫn bất sinh).
Trong
pháp hành thiền vipassanā, tinh thần ngay nơi sinh diệt thấy rõ thực tánh sinh
diệt (uppādavaya dhammino) chính lả không sinh diệt luôn được thể hiện
trong chánh niệm tỉnh giác đối với tất cả pháp hữu vi. Lão Tử Đạo Đức Kinh nói: "Phù
duy bệnh bệnh thị dĩ bất bệnh”, dù bệnh thân hay bệnh tâm (phiền não)
nếu thấy nó như nó là tức đã không còn bệnh hoạn phiền não nữa. Vậy vô
sanh ở đây không có nghĩa là cố gắng giữ yên không cho sinh khởi mà chỉ
cần không mê mờ nơi sinh khởi thì vẫn “đương sanh sanh bất sanh”.
(Một
sinh viên hỏi:)
-
Thưa thầy, khi con chăm chú nghe giảng thì con hiểu được lời giảng, nhưng khi
con quay lại biết con đang nghe thì con không hiểu thầy giảng gì. Như vậy có
phải là nghe pháp và nghe lại chính mình “tương phương”, “tương ngại” không và
làm sao để “Duyên chủng bất tương phương” hay “Ư duyên bất tương ngại?
Tổ
Cưu-ma-la-đa trong bài kệ truyền pháp của mình đã chỉ rõ thêm cho Tổ thứ 20
Jayata (Xà-dạ-đa) mối băn khoăn của đa số hành giả là phải giải quyết sinh tử
thế nào:
«Tánh
thượng bổn vô sanh
Vị đối cầu nhân thuyết
Ư pháp ký vô đắc
Hà hoài quyết bất quyết.»
(Trong
tánh vốn không sinh
Vì người cầu mới nói
Nơi pháp đã không được
Cần gì giải cùng không).
Hành
giả khi chưa thấy pháp (ngộ) thường lúng túng trong việc giải quyết sinh tử,
phiền não và luôn rơi vào tình trạng đối kháng vọng, và tầm cầu
chân. Điều này chỉ làm tiêu hao năng lực vì đối kháng vọng là sân si,
tầm cầu chân là tham ái đưa đến “ư duyên tương ngại”. Người thấy
pháp đã biết nơi thực tánh không sinh cũng không đắc nên giải quyết hay không
giải quyết đều tùy duyên, không thành vấn đề, không gì trở ngại.
Toàn
bộ kinh Tứ Niệm Xứ Nguyên Thủy đều biểu hiện rất rõ nét điều này khi chánh niệm
tỉnh giác trên thực tánh của thân, thọ, tâm, pháp, bên trong và bên ngoài.
Thân, thọ, tâm, pháp luôn luôn chuyển biến nên chánh niệm tỉnh giác phải sâu
kín mới thuận dòng pháp để thấy tận thực tánh, hễ hời hợt dừng lại nơi hiện
tướng bên ngoài là rơi vào lý trí tình thức, rơi vào phiền não tử sinh. Đó cũng
là ý nghĩa bài kệ truyền pháp của Tổ thứ 22 Manorhita (Ma-noa-la):
«Tâm
tùy vạn cảnh chuyển
Chuyển xứ thực năng u
Tùy lưu nhận đắc tánh
Vô hỷ phục vô ưu.»
(Tâm
theo vạn cảnh chuyển
Chỗ chuyển thực thâm sâu
Thuận dòng nhận ra tánh
Không vui lại chẳng sầu).
Đây
là điều những hành giả sâu sắc trong thiền vipassanā đều thấy rõ một cách cụ
thể từng sát-na mà cũng là điều mà Tổ Huệ Khả sau này nói là “rõ ràng thường
biết” (liễu liễu thường tri).
(Một
sinh viên hỏi:)
-
Tâm, tánh vốn vô sanh, vậy có phải trước một niệm sanh và sau một niệm dứt là
tâm vô sanh ấy không?
-
Cũng đúng, cũng không đúng. Phải xem trước một niệm sinh và sau một niệm dứt là
tâm gì mới được. Nếu đó là bhavaṅga hay a-lại-da thức thì tuy không sinh khởi
nhưng chứa đầy mầm móng sinh khởi của vô minh ái dục gọi là tùy miên (anusaya)
nên không phải là vô sanh. Vô sanh đúng nghĩa là ngay khi sinh vẫn không muội,
tánh giác không mất nên mới nói “Đương sanh, sanh bất sanh”.
(Một
sinh viên khác:)
-
Khi con đang ngồi thiền mà dòng tư tưởng hiện lên lúc đó con phải làm gì?
-
Đừng cố gắng giải quyết, đừng đè nén đối kháng, đừng kết luận nó là chơn hay
vọng, đừng tỏ thái độ giữ hay bỏ, tham hay ưu. Đơn giản chỉ cần sáng suốt thấy
rõ nó đang sanh diệt như nó là. Chủ yếu không muội (minh, giác) chứ không lăng
xăng giải quyết theo tư ý tư dục của bản ngã.
Như
chúng ta đã thấy, tính biết (giác tánh) trong trí tuệ chánh niệm tỉnh giác
(thiền nguyên thủy) hay trong “liễu liễu thường tri” (thiền phát triển) không
phải là cái biết của tưởng tri (sañjānāti), thức tri (vijānāti) hay tỷ lượng
thông thường trong phạm trù khái niệm (paññatti) và kiến thức qua đánh giá, so
sánh, vì vậy là cái biết không thể nghĩ bàn (aciñteyya) mà Lão Tử gọi là “tri
bất tri thượng” nên ông nói: “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”
hay "trí giả nhược ngu”. Krishnamurti cũng nói “người nào tự cho
mình đã biết cái gì thì anh ta chưa biết gì cái đó”. Theo Thiền
Tông, hễ cho rằng đã biết bổn tâm bổn tánh chính là đang mắc phải bệnh thiền.
Đơn giản chỉ vì tánh biết trực tiếp của tuệ giác trên thực tánh pháp
(paramattha) không phải là cái biết gián tiếp của thức tri trên tướng giả định
(paññatti). Đó là lý do tại sao Tổ thứ 23 Haklena (Hạc-lặc-na) trong bài kệ
truyền pháp của mình đã nói:
«Nhận
đắc tâm tánh thời
Khả thuyết bất tư nghì
Liễu liễu vô khả đắc
Đắc thời bất thuyết tri.»
(Lúc
nhận ra tâm tánh
Mới nói không nghĩ bàn
Rõ ràng không thể đạt
Lúc đạt chẳng nói biết).
Thức
tri dựa trên kiến thức thu thập hay vay mượn từ bên ngoài nên có thể nói là
biết, như nói tôi biết đây là cái bàn, đây là cây viết v.v... còn tri kiến chơn
chánh là vô ngôn nên thấy biết trực tiếp đối tượng thực tánh, không rơi vào ý
niệm thị phi, như Tổ thư 25 Basiasita (Bà-xá-tư-đa) đã nói trong bài kệ truyền
pháp:
«Thánh
nhân thuyết tri kiến
Đương cảnh vô thị phi.»
Phật
tri kiến, Thánh tri kiến không thể nói đó là cái biết theo nghĩa thông thường
trong thế giới ý niệm được, mà đó chính là Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết-bàn Diệu
Tâm vậy.
Nhiều
nhà nghiên cứu thiền học nghi ngờ Thiền Tây Trúc (Thiên Trúc) chỉ là một hình
thức lịch sử hư cấu, hay đúng hơn chỉ là huyền thoại. Chính Thiền Đông Độ do Tổ
Đạt-ma sáng lập mới thật sự là Thiền Tông phát xuất từ điều kiện văn hoá, xã
hội, triết học, tôn giáo… đặc thù của đất nước Trung Hoa, và sự vận dụng tài
tình của Bồ-đề Đạt-ma cùng với sự phát huy tuyệt vời của Tổ Huệ Năng đã đưa
Thiền Đông Độ lên đến đỉnh cao trong hệ Phật Giáo Phát Triển, đồng thời lại đạt
được sự khế hợp rất nhuần nhuyễn với hệ Thiền Phật Giáo Nguyên Thủy.
Tuy
nhiên, phải nói rằng cho dù những bải kệ truyền pháp chỉ do một người đời sau
đặt ra, thì giá trị thiền lý trong những bài kệ ấy vẫn rất cao, và nhất
là rất phù hợp với thiền sự trong pháp hành Thiền Nguyên Thủy. Điều
này chứng tỏ rằng dù Thiền Tông Tây Trúc không có thật như được ghi trong lịch
sử 28 vị Tổ Thiền Tông trên đất Ấn thì, không nghi ngờ gì, cốt lõi của thiền
vẫn đồng nhất và xuyên suốt từ Nguyên Thủy đến Phát Triển.
(Một
sinh viên hỏi:)
-
Chư Tổ nói: Tâm, pháp đều bất khả đắc, bất khả chứng, trong khi có nhiều ngữ
lục khác lại nói đắc pháp, chứng đạo v.v... như vậy có mâu thuẫn không?
-
Trong những thành ngữ vô chứng, vô đắc, bất khả chứng đắc thì chữ chứng, chữ
đắc có nghĩa là nắm giữ, chiếm hữu một sở đắc hằng mong ước. Điều này chỉ có
thể được trong khái niệm chế định, còn trong thực tánh pháp thì đúng là không
thể được.
Ngược
lại, trong nhóm từ đắc pháp, chứng đạo thì đắc, chứng chỉ có nghĩa là đã trải
nghiệm qua một tiến trình tâm mà thôi chứ không có ai và có gì để nắm giữ hay
chiếm hữu cả. Chứng đắc trong ngôn ngữ Paḷī là sacchikiriyā hay sacchikaraṇa do
động từ sacchikaroti có nghĩa là trải nghiệm hay chứng kiến một sự kiện. Với
nghĩa này thì thực tánh mới có thể chứng đắc thật sự, còn khái niệm chế định
thì không thể nào được. Vậy do chúng ta nhầm lẫn ngữ nghĩa mà hiểu sai chứ các
thiền sư không mâu thuẫn nhau đâu.
B. Thiền Tông
Đông Độ:
Đông Độ ám chỉ Trung Quốc để phân
biệt với Tây Trúc tức Ấn Độ, vì vậy Thiền Đông Độ cũng được gọi là Thiền Tông
Trung Hoa. Trước khi Thiền Tông Trung Hoa ra đời, Phật Giáo bản xứ đã có một bề
dày lịch sử hơn 5 thế kỷ, ít nhất cũng từ thời Hậu Hán, thế kỷ thứ I CN. Vị sơ
tổ sáng lập Thiền Tông Trung Hoa là một nhà sư Ấn Độ tên Bodhidharma (Bồ-đề
Đạt-ma), sang Trung Hoa bằng đường biển, vào triều đại Lương Võ Đế, cuối tiền
bán thế kỷ thứ 6 CN (528-536), tức khoảng trên 1.100 năm sau Đức Phật Niết-bàn.
Tổ Đạt-ma truyền y pháp cho Nhị tổ Huệ Khả (487-593), Nhị tổ truyền cho Tam tổ
Tăng Xán (?-606), rồi đến Tứ tổ Đạo Tín (580-651), Ngũ tổ Hoằng Nhẫn (602-675)
và cuối cùng là Lục tổ Huệ Năng (638- 713). Sau Lục tổ tuy không còn truyền y
pháp nhưng Thiền Tông Trung Hoa tiếp tục phát triển rất đa dạng và phong phú,
đặc biệt là sự hình thành của năm thiền phái gọi là ngũ gia thiền tông:
1) Tông Qui Ngưỡng do thiền sư Linh
Hựu (771-853) khai sáng, để lại Đàm Châu Qui Sơn Linh Hựu Thiền Sư Ngữ Lục.
2) Tông Lâm Tế do thiền sư Nghĩa
Huyền (787-867) sáng lập, lưu truyền Trần Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ
Lục, gọi tắt là Lâm Tế Ngữ Lục.
3) Tông Tào Động do thiền sư Lương
Giới (807-889) xiển khai, tác phẩm lưu lại có Bảo Cảnh Tam Muội Ca, Huyền Trung
Minh. 4) Tông Vân Môn do thiền sư Văn Yển (864-949) chủ xướng, có Vân Môn
Khuông Châu Thiền Sư Quảng Lục.
5) Tông Pháp Nhãn do thiền sư Văn
Ích (885-958) sáng lập, có lưu hành Kim Lăng Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư Ngữ
Lục. Về sau chỉ còn lại hai tông Lâm Tế và Tào Động, nhất là tông Lâm Tế
được truyền thừa rộng rãi và lâu dài nhất.
Thiền Tông ra đời trong một bối cảnh
lịch sử triết học, tôn giáo Trung Hoa vừa rất phong phú vừa rất phức tạp. Ngoài
Khổng Giáo, Lão Giáo với những hệ thống tư tưởng triết học, tôn giáo, chính trị
đã thấm nhuần sâu sắc tại bản địa, Phật Giáo cũng đã được du nhập và tạo một uy
tín lớn lao, ăn sâu tận gốc rễ trong mọi tầng lớp người dân Trung Hoa, với
nhiều hệ tư tưởng Phật học liên hệ đến các bộ kinh, luận nổi tiếng của cả Tiểu
Thừa lẫn Đại Thừa trong hệ Phật Giáo Phát Triển (nhưng hầu như chưa có Kinh
Điển Pāḷi Chánh Tạng nào của Phật Giáo Nguyên Thủy được dịch thuật, ngoại trừ
bộ chú giải Visuddhi Magga của Ngài Buddhaghosa được dịch vào thời Đại sư Trí
Khải, những kinh luận khác viết bằng Sanskrit của các bộ phái Tiểu Thừa (không
phải Nguyên Thủy), kể cả các bộ A-hàm (Āgama) đã thịnh hành tại Trung
Hoa, đại biểu như: Thành Thật Luận của Harivarman, luận sư thuộc Tiểu Thừa Kinh
Lượng Bộ (Sautrantikavāda), A-tì-đạt-ma Câu-xá Luận của Vasubandhu (Thế Thân),
vào thời đó còn là luận sư thuộc Tiểu Thừa Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivāda).
Tam Luận Tông dựa trên ba bộ luận Đại Thừa: Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận
của Nagārjunā (Long Thọ) và Bách Luận của Aryadeva (Thánh Thiên). Nhiếp Luận
Tông dựa trên Nhiếp Đại Thừa Luận của Asaṅga (Vô Trước), về sau phát triển
thành Pháp Tướng Tông với thêm các bộ như Duy Thức Nhị Thập Luận, Duy
Thức Tam Thập Tụng, Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận của Vasubandhu (Thế Thân,
sau khi trở thành luận sư Đại Thừa), Thành Duy Thức Luận của Hộ Pháp
(Dharmapāla). Luật Tông dựa trên Tứ Phần Luật, Niết-bàn Tông dựa trên bộ kinh
Đại Bát-niết-bàn, Địa Luận Tông dựa trên Thập Địa Kinh Luận, Tịnh Độ Tông dựa
trên Cực Lạc Quốc Độ và Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Thiên Thai Tông dựa trên kinh
Pháp Hoa, Hoa Nghiêm Tông dựa trên kinh Hoa Nghiêm, Chân Ngôn Tông, Mật Tông
hay còn gọi là Kim Cương Thừa dựa trên kinh Đại Nhật, Kinh Kim Cương Đảnh
v.v... (Có một số tông thành lập sau Thiền Tông nhưng kinh luận của các tông
phái ấy đều đã có ảnh hưởng sâu rộng từ trước).
Vì các tông phái phát triển theo
nguyên tắc khế lý khế cơ nên mỗi tông vận dụng triển khai một sở trường khác
nhau dựa trên giáo lý Đức Phật cho phù hợp với pháp môn riêng của tông phái
mình, do đó không tránh khỏi tranh giành ảnh hưởng, đôi lúc trở nên đối nghịch
giữa tiểu và đại, hữu và vô, tánh và tướng, hiển và mật v.v... dần dần xa rời
gốc rễ, đi theo nhánh ngọn riêng (nên gọi là mạt pháp). Hơn nữa trong quá trình
phát triển cũng không khỏi bị ảnh hưởng tư tưởng hay nghi lễ, tập tục của các
Tôn Giáo khác, như Bà-la-môn, Bái Hỏa Giáo ở Ấn Độ, Khổng Lão ở Trung Hoa, Mật
giáo ở Tây Tạng, Thần Giáo ở Nhật Bản v.v... Nói chung, ngoài sự phát triển
chân chính, không lìa gốc chánh pháp, một số tông phái đã triển khai hai hướng
nguy hiểm đáng cảnh giác: về lý, quá thiên nặng về văn chương, ngôn ngữ,
triết học, đôi khi cả siêu hình học nữa; về sự, hoặc quá nghiêng về hình
thức khuôn khổ chi ly có tính giáo điều, khắc kỷ, hoặc quá vong thân, hướng
ngoại cầu huyền. (Những tông phái này phần lớn phát triển trên một hoặc vài ba
bộ kinh luận riêng của mình nên được gọi chung là giáo tông). Mặt khác, ảnh
hưởng Khổng Lão không phải không có, nhưng bị Khổng Lão bài xích thì nhiều hơn.
Đứng trước tình hình đó, Tổ Bồ-đề
Đạt-ma không thể lại tiếp tục truyền Phật Pháp vào Trung Hoa theo hướng kinh
luận đã có sẵn quá nhiều, Ngài quyết định đi theo con đường sáng tạo, không sử
dụng kinh luận của các giáo tông, cũng không tự mình lập ngôn dựng thuyết, bởi
vì như vậy chỉ đổ dầu vào lửa, vừa làm cho tình hình mâu thuẫn giữa các luận
phái phát triển căng thẳng thêm, vừa có chỗ cho ngoại nhân có cơ phản biện. Đến
đây chúng ta thấy “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” là chọn lựa tài tình
đầy trí tuệ của một con người mang sứ mạng truyền thừa Con Đường Giác Ngộ đích
thực vào một xứ sở mà Phật Giáo đã nặng mùi chữ nghĩa bác học lẫn với màu sắc
tín ngưỡng vừa huyền bí vừa bình dân. Vậy con đường giác ngộ của Tổ Đạt-ma được
thực hiện như thế nào? Rất đơn giản, không lý luận vòng vo, không hướng ngoại
cầu huyền, mà là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.
Giáo ngoại biệt truyền ở đây không
có nghĩa là truyền riêng ngoài giáo pháp của Phật. Bởi vì, thực tế hầu như
không có vị thiền sư nổi tiếng nào mà không đầy ắp một vài bồ kinh luận. Ngài
Huệ Năng không biết chữ vậy mà cũng phải nghe Ngũ Tổ đọc kinh Kim Cang đến câu
“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mới tỏ ngộ. Và dễ hiểu là trong chúng ta ai
cũng có thể tự hào là “giáo ngoại” dễ dàng nhưng mấy ai dám tự cho mình là chưa
từng xem qua một kinh luận, ngữ lục nào? Hơn nữa, nếu giáo pháp của Đức Phật dễ
dàng loại bỏ như thế thì tại sao “Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”? Và vì
sao Thiền Tông lại nói rằng Tổ Đat-ma truyền cho Tổ Huệ Khả kinh Lăng Già Tâm
Ấn? Thực ra, Đức Phật cũng đâu có tự ý lập ra hệ thống kinh giáo gì đâu? Ngài
chỉ khai thị một sự thật hiển nhiên, mỗi người có sẵn, cứ ngay đó mà vào, vì
chính Ngài xác nhận là “Dù Như Lai ra đời hay không ra đời thì sự thật vẫn
vậy”. Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Ngàn Phật dù xuất thế không thêm bớt một lời” cũng
với ý đó chứ không phải bài bác lời Phật. Cho nên chúng ta cần phải phân biệt
hai loại kinh giáo: Kinh giáo nhằm chỉ thẳng sự thật khách quan của Phật với
kinh giáo nhằm lập ra hệ thống triết học tôn giáo chủ quan dựa trên niềm tin
(siêu hình) hay tri thức (luận lý) của hậu nhân hay những tôn giáo nặng tính
triết học và giáo điều. Thực ra, ý Tổ chỉ ngầm muốn cảnh báo với chúng ta là
“Ta sẽ truyền Chánh Pháp bằng một ‘mẹo’ khác để chỉ thẳng sự thật ngay nơi các
ngươi, mà xưa kia Phật đã nói rồi nhưng bị hiểu lầm nên người ta cứ mãi hướng
ngoại cầu huyền, các ngươi phải tinh ý một chút mới nhận ra, chứ đừng có đi
theo con đường lập kinh viết luận, chỉ vẽ rắn thêm chân, lợi bất cập hại, như
các giáo tông tiền bối của các ngươi đã và đang truyền ở đất nước Trung Hoa
này!” Đó chính là toàn bộ ý nghĩa mà Tổ chân tình dặn dò đệ tử trong bốn câu
kệ:
“Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật”.
Điều này chúng ta có thể nhận ra
ngay trong mẩu đối thoại giữa Tổ Đạt-ma và Huệ Khả như sau:
“Huệ Khả nói:
- Pháp ấn của chư Phật con có thể nghe được không?
Tổ dạy:
- Pháp ấn của chư Phật không thể từ người ngoài mà được.
Huệ Khả nói:
- Tâm con chưa an xin thầy an cho.
Tổ bảo:
- Đem tâm ông ra đây ta an cho.
Khả yên lặng hồi lâu, nói:
- Con đã tìm tâm khắp nhưng không thấy được.
Tổ bảo:
- Ta đã an tâm cho ngươi rồi đấy.”
(CĐTĐL, LVD dịch, Xb. 2006, t.203)
Đó chính là cái “mẹo” trực chỉ nhân
tâm của Tổ Đạt-ma mà xưa kia Đức Phật cũng đã trực tiếp nói thẳng bằng những
lời giản dị trong kinh Mahā Satipaṭṭhāna: “Vikkhitaṃ và cittaṃ ‘vikhitaṃ
cittan’ ti pajānāti” hay “ Asamāhitaṃ và cittaṃ ‘asamāhitaṃ cittan’ ti
pajānāti” (Tâm tán loạn, tuệ tri ‘tâm tán loạn’ hay tâm không an, tuệ tri ‘tâm
không an’). Nếu tỏ ngộ điều đó thì không cần cố gắng an tâm mà tâm vẫn an. Cả
hai cách mới nhìn bề ngoài thì có vẻ khác nhau nhưng bên trong cùng chỉ thẳng
cái thực tại hiện tiền, ngay đó mà thấy tánh, không cần phải gia công tham ưu
(abhijjhā domanassa), thủ xả (anissito na upādiyati), đánh giá, phê phán, kiểm
duyệt hay hướng đến một tình trạng lý tưởng sẽ là nào khác.
Tác phẩm lưu truyền của Tổ Đạt-ma là Thiếu
Thất Lục môn. Chỉ bày phương tiện nhập đạo có lý nhập và hạnh
nhập. Lý nhập, theo cách nói của Thiền Nguyên Thủy thì đó là nhờ
Phật pháp mà thấy thực tánh paramattha, nhờ tin sâu tất cả pháp (hữu tình và vô
tình, phàm phu và Thánh đức) đều cùng có thực tánh paramattha nhưng vì khởi
khái niệm paññatti mà che lấp không thấy được, chỉ cần vượt qua thế giới khái
niệm thấy thẳng thực tánh với chánh niệm tỉnh giác bất động, đó chính là lý
nhập tịch lặng vượt ngoài danh ngôn ý niệm.
Hạnh nhập, hay tứ hạnh: 1) Báo
oán hạnh: không than oán, thường nhẫn chịu quả khổ do nhân bất thiện đã
tạo trong vô lượng kiếp quá khứ. 2) Tùy duyên hạnh: không kiêu mạn,
không tham đắm khi thọ hưởng quả phúc do nhân phước thiện trong nhiều đời
trước. 3) Vô sở cầu hạnh: không tham cầu những sở thích, những ước vọng
tương lai hay không hướng cầu pháp bên ngoài. 4) Xứng pháp hạnh: thường
sống thuận pháp, hạnh nghiệp thuần chánh, không rơi vào tướng ngã, nhân, chúng
sanh, thọ giả.
Hạnh nhập nầy hoàn toàn phù hợp với
tinh thần thiền vipassanā. Hai hạnh đầu là sự lý nhân quả nghiệp báo chung cho
tất cả tông phái Phật giáo dù thiền, tịnh hay mật, dù nguyên thủy hay phát
triển, nhưng hai hạnh sau là nét đặc thù của riêng Thiền Tông và Thiền
Vipassanā mà thôi.
Vô sở cầu hạnh được mô tả
trong kinh Nhất Dạ Hiền Giả, bộ Majhima Nikāya: “Quá khứ không truy tầm, tương
lai không ước vọng… chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây…” . Xứng
pháp hạnh đã được đức Phật dạy trong thiền vipassanā Nguyên Thủy là
hành giả nên sống thuận pháp và tùy pháp (Dhammānudhamma paṭipanno viharati).
Nghĩa là nơi pháp không có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả mà Thiền Nguyên Thủy
gọi là nissatto (không chúng sanh), nijjīvo (không thọ giả), suñño (không ngã
nhân).
(Một sinh viên hỏi:)
- Khi Tổ Đạt-ma nói với Huệ Khả: “Ta
an tâm cho ngươi rồi đó” là Tổ dạy pháp gì để an tâm? Phải chăng đừng sanh tâm
là Niết-bàn và làm sao đừng sanh tâm?
- Câu hỏi hơi ngớ ngẩn đó nghe! Điều
này đã nói nhiều rồi mà! Tổ không nói cách nào đâu, vì nếu có một cách thì khi
loay hoay tìm phương áp dụng cách đó, làm sao trực tiếp thấy tánh được! Tổ chỉ
thẳng vào sự, vào chính cái tâm bất an để ngay trên đó mà thấy tánh, mà an chứ
không cần tìm tánh tìm an đâu xa. Trên sự thì ai hành thiền vipasanā cũng có
thể thấy rõ điều này.
Ai nói chứ Tổ không nói đừng sanh tâm
là an lạc, là Niết-bàn đâu. Tâm sanh hay không sanh đều tùy duyên không ngại.
Cố ý dừng tâm mới là trụ là ngại rồi làm sao Niết-bàn được?.
Nhị Tổ Huệ Khả sau khi chỉ cho Tăng
Xán thấy tội tướng vốn không, Tăng Xán ngộ, Tổ trao y pháp cùng với bài
kệ:
“Bản lai duyên hữu địa
Nhân địa chủng hoa sanh
Bổn lai vô hữu chủng
Hoa diệc bất tằng sanh”
(Xưa nay duyên có đât
Từ đất giống hoa sinh
Xưa nay không có giống
Hoa cũng chẳng từng sinh).
Ý nói rằng hễ có đất tâm thì khi
duyên cảnh trần ắt sinh ra khái niệm danh tướng, tạo tác thị phi, nếu ngay nơi
tư tưởng, hành động ấy thấy được nhân duyên vốn không thì nhân quả chẳng từng
sinh. Nói theo Thiền Nguyên Thủy thì nơi thực tánh của tâm và pháp vốn không
từng có khái niệm và tạo tác, nhưng khi hai pháp duyên nhau thì liền phát sinh
các khái niệm thị phi, và tạo nghiệp thiện ác, nếu ngay nơi duyên sinh ấy
thường được chánh niệm tỉnh giác soi sáng thì vẫn thấy thực tánh bản nguyên
chưa từng sinh khởi.
Tam Tổ Tăng Xán khai ngộ cho Đạo
Tín khi Đạo Tín đến tham vấn:
- Nguyện Hoà Thượng từ bi ban cho con pháp môn cởi mở.
Tổ hỏi:
- Ai trói buộc ông?
- Chẳng ai trói buộc cả.
- Vậy cớ gì phải cởi mở?
Đạo Tín nghe vậy tức thì đại ngộ.
(CĐTĐL/LVD dịch, xb
2006, t.224)
Sau đó Tổ trao y bát cho Đạo Tín và
truyền tâm ấn qua bài kệ:
“Hoa chủng tuy nhân địa
Tùng địa chủng hoa sanh
Nhược vô nhân hạ chủng
Hoa địa tận vô sanh.”
(Giống hoa tuy nhờ đất
Từ đất giống hoa sinh
Nếu không người gieo giống
Hoa, đất tuyệt chẳng sinh).
Trói buộc, hay giải thoát, tâm sinh
hay vô sinh đều tùy thuộc vào mê hay giác. Khi mê, không những đã gieo giống,
tạo nhân mà cho dù vô sinh cũng chính là sinh khởi. Khi giác, chẳng gieo giống
tạo nhân mà dù sinh cũng vẫn là vô sinh. Đặc biệt Tổ nhấn mạnh ở niềm tin không
lay chuyển nơi chân tánh. Trong tác phẩm Tín Tâm Minh của Tổ có câu: “Chí
đạo vô nan, duy hiềm giản trạch” nghĩa là tột cùng chân tánh không khó,
khổ nỗi chỉ vì phân biệt chọn lựa. Vì vậy, Tổ nói thêm: “Bất dụng cầu chân, duy
tu tức (vọng) kiến”. Vọng kiến chính là ý lăng xăng phân biệt chọn lựa,
chỉ cần dứt đi thì ngay đó là chân, không cần phí công dụng tâm cầu được. Dụng
tâm tìm kiếm là đã phân vân nghi hoặc, bất tín, nên Tổ nhấn mạnh: “Hồ nghi tịnh
tận, chánh tín điều trực”, nghi hoặc dứt sạch thì chánh tín vững vàng.
Đó chính là “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm” vậy.
Tứ Tổ Đạo Tín một hôm đến huyện
Huỳnh Mai giữa đường gặp một đứa bé rất khôi ngô ứng đáp lạ thường nên xin đem
về nuôi dạy, cho xuất gia đặt tên là Hoằng Nhẫn. Về sau Tổ Đạo Tín truyền y bát
cho Hoằng Nhẫn làm tổ thứ năm Thiền Đông Độ. Tứ Tổ truyền kệ:
“Hoa chủng hữu sanh tánh
Nhân địa hoa sanh sanh
Đại duyên dữ tín hiệp
Đương sanh, sanh bất sanh.”
(Giống hoa có tính sinh
Nương đất hoa sinh sôi
Đại duyên hợp với tín
Đang sinh, cũng không sinh).
Bài kệ này nhất quán với những bài
kệ trước, và cũng như Tổ Tăng Xán, Tổ Đạo Tín nhấn mạnh niềm tin nơi chân tánh.
Tất nhiên khi chưa có chánh kiến tức chưa thấy tánh thì hành giả cần có chánh
tín mới có thể tùy duyên mà không ngại.
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, ngay lần đầu tiên
Huệ Năng đến yết kiến đã biết đây là bậc lợi căn, nhưng mãi đến khi Huệ Năng
chỉnh bài kệ của Thần Tú, nửa đêm Tổ mới âm thầm gọi Huệ Năng vào thất, giảng
kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì Huệ Năng tỏ ngộ. Ngũ
Tổ quyết định trao y bát cho Huệ Năng làm vị tổ thứ sáu của Thiền Đông Độ. Ngũ
Tổ nói kệ:
“Hữu tình lai hạ chủng
Nhân địa quả hoàn sanh
Vô tình ký vô chủng
Vô tánh diệc vô sanh.”
(Có tình đến gieo giống
Nhờ đất trái lại sinh
Không tình đã không giống
Không tánh cũng không sinh).
Tác phẩm lưu truyền của Ngũ Tổ là
Luận Tối Thượng Thừa.
Lục Tổ Huệ Năng, vị tổ cuối cùng
được truyền y bát của Thiền Tông, nhờ Tổ chỉnh lại bài kệ của Thần Tú:
“Bồ-đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai.”
(Bồ-đề vốn không cây
Gương sáng chẳng phải đài
Xưa nay không một vật
Bụi trần bám chỗ nào).
Sau khi Lục Tổ được truyền y bát,
Huệ Minh đuổi theo để tranh lại nhưng không thể được, liền lễ Tổ xin chỉ bày
bản lai diện mục, Tổ nói: “Ngay khi không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là
bản lai diện mục của thượng tọa Minh?”. Thực ra, ý Tổ muốn nói là: Ngay
đó, đừng phê phán, đánh giá, hay tham ưu, thủ xả gì cả thì chính là bản lai
diện mục của ông. Nhiều người hiểu lầm, cho rằng không nghĩ thiện không nghĩ ác
là tánh nên cố gắng giữ tâm không cho suy nghĩ gì cả, nhưng chính Tổ Huệ Năng
đã cảnh báo “trụ tâm quán tịnh là bệnh, không phải thiền”, hoặc nói “bất
đoạn bách tư tưởng, đối cảnh tâm sổ khởi”, cho nên ngay đó mà thấy tánh
hay thấy bản lai diện mục chứ không cần hướng ngoại tầm cầu gì nữa. Vì vậy, Tổ
dạy vô tướng tam muội trong Pháp Bảo Đàn kinh: “Ngoại ly nhất thiết
tướng, danh vi vô tướng, năng ly ư tướng tức pháp thể thanh tịnh” -
ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, nơi tướng có thể lìa tức pháp thể thanh
tịnh.
Rõ hơn nữa, sau một thời gian Huệ
Khả lên đường khám phá cái tánh đã được khai ngộ, một hôm gặp lại Tổ Đạt-ma. Tổ
hỏi: “Từ đó đến giờ ngươi làm gì?” Huệ Khả thưa: “Liễu liễu thường tri”.
Nghe nói thường tri thì những người nặng ngữ nghĩa kinh luận của giáo tông liền
tham gia “làm rõ vấn đề” bằng cách kết luận đó là Cái Biết Thường Hằng, Tánh
Không, Phật Tánh, Chân Tâm, Vũ Trụ Thức, Tự Tánh, Bản Thể Thường – Lạc – Ngã –
Tịnh, v.v... và v.v... Thực ra, Huệ khả chỉ muốn nói một cách giản dị,
chất phác rằng: “Thưa thầy, con từ đó đến nay mỗi mỗi rõ ràng tự biết mình”.
Đơn giản thế mà Tổ lại thầm khen con người Huệ Khả xứng đáng làm nhị tổ thọ
nhận y bát chân truyền. Tổ nói: “Đó là con đường của chư Phật, ngươi cứ thế mà
làm” .
Toàn bộ kinh Pāḷi Mahā Satipaṭṭhāna,
Dīgha Nikāya, pháp hành thiền tuệ Vipassanā Nguyên Thủy, đã toát lên con đường
độc đạo (ekayano) của chư Phật này, là ngay nơi chính mình mà liễu liễu thường
tri. Có vẻ như đơn giản quá phải không? Thế mà lại vô cùng sâu mầu vi diệu.
Thiền Nguyên Thủy lẫn Thiền Tông đều nói giác ngộ là con đường sáng tạo, không
rập khuôn, bằng chứng là các bậc thánh dù là Thanh Văn, có cùng một thể tuệ
giác vô sanh thanh tịnh như nhau mà vẫn “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
chẳng vị nào giống vị nào, đơn giản là vì Đức Phật có đưa ra cái khuôn nào đâu
mà rập được? Đức Phật chỉ khai thị cho mỗi người giác ngộ nơi chính mình thì
làm sao ai rập khuôn ai được? Cho nên, chúng ta cần phải cảnh giác rằng sáng
tạo không phải là sáng chế. Sáng chế thì chỉ có thể sáng chế phương pháp, mà đã
có phương pháp mới có rập khuôn, vì tất cả phương pháp đều thuộc khái niệm chế
định (paññatti) trong khi kiến (ñāṇadassana) và tánh (paramattha) thì vẫn là
con đường độc đạo của chư Phật, cứ thế mà đi một cách an nhiên tự tại, mỗi
người sẵn có, không cần rập khuôn ai cũng không cần thêm bớt gì thì mới chính
là con đường sáng tạo. Bởi vì đơn giản là luận sư chỉ có thể thêm bớt lời lẽ
ngôn từ chứ không thể nào thêm bớt sự thật.
Sau đây là một số điểm cốt lõi tương
đồng giữa Thiền Vipassanā và Thiền Tông:
1) Kiến Tánh và Thấy Biết Như Thực:
thấy tánh không có nghĩa là tách thực tại ra phần này là tướng, phần kia
là tánh, cái này là thị cái kia là phi, cái này là tiểu cái kia là đại… rồi
chọn cho mình một phần vừa với tầm vóc hạn hẹp của mình để thấy. Cũng không vội
phê phán theo bất cứ bảng giá trị nào, mà phải thấy pháp đúng như nó là. Tổ Huệ
Năng đã nói “không nghĩ thiện không nghĩ ác” cứ ngay đó mà thấy bản lai
diện mục. Đã đánh giá dù đánh giá theo tiêu chuẩn nào, thì vẫn coi chừng mắc
bệnh thiền, như câu “Thức đắc bổn tâm bổn tánh chính thị tông môn đại bệnh”
đã minh xác. Ngộ là ngộ toàn diện, nghĩa là, hoặc bỏ toàn bộ hoặc lấy toàn bộ (Thật
tế lý địa bất thọ nhất trần, sự sự môn trung bất xả nhất pháp), chứ
đừng cắt xén cho vừa với cái khuôn lý tưởng của bản ngã rồi yên tâm dán vào
nhãn hiệu Thiền Tông hay Thiền Nguyên Thủy.
Kinh Bāhiyasutta kể rằng: Một hôm
tôn giả Bāhiya biết mình sắp chết mà chưa giác ngộ, liền đến bạch Phật xin cho
một lời giáo huấn có thể giải quyết được ngay việc sinh tử.
Lúc ấy Đức Phật đang vào thành
Sāvatthi khất thực, không tiện nói nhiều, Ngài chỉ dạy rằng:
“Thấy như thực thấy” (diṭṭhe
diṭṭhamattaṃ bhavissati)
“Nghe như thực nghe” (sute sutamattaṃ bhavissati)
“Xúc như thực xúc” (mute mutamattaṃ bhavissati)
“Biết như thực biết” (viññāte viññātamattaṃ bhavissati)
Thế mà tôn giả Bāhiya thông suốt
được chỗ vào, ngay nơi thấy biết như thực của chính mình liền hạ thủ và đã hoàn
toàn liễu thoát sinh tử ngay trong ngày hôm đó trước khi từ giã cõi đời.
Như vậy, thấy biết như thực (yathābhūta
ñāṇadassana) trong Thiền Nguyên Thủy được định nghĩa là trực nhận thực
tánh của pháp. Khi cái thấy trong sáng, trực tiếp và vượt ngoài ý niệm danh
tướng (nāma-attha) thì thực tánh pháp tự nhiên hiển hiện, như Tam Tổ Thiền Tông
Tăng Xán nói: “Vạn pháp tề quán, qui phục tự nhiên” hay “Tuyệt ngôn tuyệt
lự, vô xứ bất thông”. Đó cũng chính là định nghĩa của kiến tánh
trong Thiền Đông Độ.
Trong Thiền Tông có rất nhiều
câu chuyện tương tự. Như có vị tăng tham vấn thiền sư Huyền Sa:
- Đệ tử mới nhập thiền môn, xin hòa
thượng chỉ cho lối vào.
Khi ấy đang ngồi bên khe nước, thiền sư bảo:
- Ngươi có nghe tiếng suối chảy không?
Vị tăng thưa:
- Dạ, có nghe.
Sư nói:
- Đó là lối vào.
Chúng ta từ nơi mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý mà khởi niệm vô minh ái dục, không rõ thực tánh, tạo tác vọng nghiệp,
rồi tự trói buộc vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là đầu mối của mọi
phiền não khổ đau, luân hồi sinh tử. Vậy muốn thoát khỏi trói buộc thì cũng
ngay nơi đó mà chánh niệm tỉnh giác, lặng lẽ chiếu soi, đâu cần nhọc sức tìm
cầu nơi khác.
Tam Tổ Tăng Xán nói: “Hư minh tự
chiếu, bất lao tâm lực” hoặc thiền sư Bách Trượng nói: “Tâm địa nhược
không tuệ nhật tự chiếu” cũng đều một nghĩa. Phái Tào Động cũng lấy
lặng lẽ chiếu soi (mặc chiếu) làm tông: “Chỉ quản đả tọa, tu chứng nhất như, vô
sở đắc, vô sở chứng, thân tâm nhất như”.
Trong kinh Mahā Satipaṭṭhāna, Đức
Phật dạy:
“Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo
tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sinh khởi,
vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy tuệ tri
như vậy; và với kiết sử đã sinh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và
với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không còn sinh khởi, vị ấy tuệ tri như
vậy”.
Đối với tai và các tiếng, mũi và các
hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp… vị ấy cũng chỉ cần tuệ
tri một cách tự nhiên như vậy.
(Một sinh viên hỏi:)
- “Kiến tánh” trong Thiền Phát Triển
và “Pháp nhãn xa trần ly cấu” trong Thiền Nguyên Thủy giống nhau hay khác nhau?
- Về tính chất thì giống nhau, nhưng
về mức độ thì có đồng có dị. Khi phàm phu kiến tánh, và khi bậc hữu học kiến
tánh thì chưa thể gọi là “Pháp nhãn xa trần ly cấu”, nhưng khi kiến tánh trong
A-la-hán Đạo tuệ thì mới thật sự là “Pháp nhãn xa trần ly cấu”. Kiến tánh thì
có thể kiến đi kiến lại nhiều lần mới có thể triệt ngộ, chứ pháp nhãn xa trần
ly cấu nơi tâm A-la-hán thì không cần phải kiến tánh, đơn giản chỉ vì tánh đã
hiện toàn chân thì cần gì phải kiến nữa.
(Một sinh viên khác hỏi:)
- Sư vừa nói “Kiến tánh thì có thể
kiến đi kiến lại nhiều lần”, sư cũng nói kiến tánh là thấy thực tánh, vậy có
bao nhiêu thực tánh để kiến, nếu một thì không cần kiến nhiều lần, nếu khác thì
sao gọi là thực tánh?
- Nói một không có nghĩa chỉ có một
cái duy nhất, mà ngay nơi một pháp không thấy hai. Nếu bạn đã thấy tánh được
một lần là đã không còn lầm với tướng khái niệm, nhưng vì tập khí của bạn quá
sâu dày nên mặt trăng vừa ra khỏi mây lại bị mây đen che phủ. Dẫu sao bạn cũng
đã một lần thấy mặt trăng để không tưởng mình mãi mãi trong đêm tối. Tuy nhiên
tội gì mà bạn không thấy trăng nhiều lần nữa để biết rằng dù mây có che thì
“Ngàn xưa từ ngàn xưa chưa một lần trăng lặn” và “Ngàn sau ngàn sau nữa lồng
lộng giữa trời mây”.
Bạn hãy nhớ rằng: “Một cũng không
phải mà khác cũng không phải” (Bất nhất, bất dị: Luận Tánh Không của Long
Thọ). Đừng thắc mắc, hãy thấy đi (Ehipassiko) ở đó mọi thứ đã tròn đầy.
2) Thực Tại Hiện Tiền: Cả Thiền
Nguyên Thủy lẫn Thiền Tông Trung Hoa đều nhất trí rằng bản nguyên (trạng thái
hiện hữu tự nhiên) của các pháp (thực kiện) vốn là thực tánh pháp (sabhāva
dhamma) nhưng vì cái dụng của con người mà hình thành pháp khái niệm (paññatti
dhamma), bên cạnh những lợi ích của những pháp chế định này, vọng thức
(vipallāsa viññāṇa), tà kiến (micchā diṭṭhi), ảo tưởng (mayā saññā), và những
bất thiện (akusala) cũng phát sinh, từ đó rời xa thực tánh pháp chân đế
(paramattha dhamma). Vậy pháp vẫn nguyên đó, vận hành theo thực tánh của nó,
độc lập với khái niệm, tư tưởng, quan niệm, chủ thuyết hay bất kỳ kiến chấp nào
do con người qui định.
Pháp được Đức Thế Tôn khéo
tuyên thuyết, chỉ bày (Svākkhāto Bhagavato Dhammo) có những yếu tính sau đây:
- Sandiṭṭhiko là thực tại hiện tiền,
tự thân cái thực mà mọi người có thể thấy lập tức, ngay đó, một cách toàn diện.
Không chia cắt manh mún, không thông qua bất cứ một lăng kính nào của ngôn ngữ,
ý niệm.
Thiền Tông gọi sandiṭṭhiko này là
“đương xứ tức chân”, hoặc “kiến tức mục hạ tiện kiến, nghĩ tư tức sai”.
- Akāliko là phi thời gian hay độc
lập với khái niệm thời gian (kālapaññatti), nhất là thời gian tâm lý. Đó là cái
đang là, cái bây giờ, không phải đã là, sẽ là, hay cái giả định lý tưởng nào.
Nhưng cái đang là cũng không cố định, luôn luôn trôi chảy, nên Đức Phật dạy
“Như Lai không bước tới (tương lai), không dừng lại (hiện tại, quá khứ) mà
thoát khỏi bộc lưu. Vì sao? Vì bước tới thì bị cuốn trôi, dừng lại thì bị chìm
đắm”. Bước tới là bị cuốn trôi trong thời gian nhân quả vô định ở tương lai, và
dừng lại là lập tức sát-na hiện tại đã chìm vào quá khứ.
- Ehipassiko là hãy đến, hãy quay về
hay hãy hồi đầu (ehi) mà thấy (passiko, passati), nghĩa là pháp tánh luôn hiện
hữu ở đó, chỉ cần quay đầu là thấy ngay chứ không bí ẩn, mật truyền gì
cả. Quay đầu cũng hàm nghĩa không bị cuốn theo paññatti mà phải trở về
thực tánh paramattha của pháp.
Thiền Tông nói “Hãy quay lại mà thấy
tánh ngay nơi tâm mình” hay “Hồi đầu thị ngạn” chính là ý nghĩa của
ehipassiko.
- Opanayiko là dẫn nhập chân đế, dẫn
vào sự thật nội tại.
Trong Pāḷi, Opa (upa) là trên hay lên trên. Nayiko (Nayati, neti) là dẫn đến,
hướng đến, trực chỉ.
Thiền
Tông nói “Trực chỉ
nhân tâm”
mới là “cước căn
điểm địa”
vì mảnh đất thực tánh (chân đế) đã có sẵn ở đó, như Tổ Huệ Năng nói
“Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ”,
không cần phải hướng ngoại cầu huyền trên một chân tánh lý tưởng giả định nào
khác.
-
Paccattaṃ
Veditabbo Viññūhi
là bậc trí mỗi người tự chứng nghiệm, tự ngộ nhập chứ không ai có pháp gì để
trao cho người khác cả.
Tổ
Đạt-ma nói với Huệ Khả:
“Pháp ấn của Phật không thể từ người ngoài mà được”.
Và khi có một tăng nhân đến xin trao truyền pháp, Tổ Huệ Năng cũng xác định:
“Ta không có một pháp nào để trao truyền cả”.
Bởi vì tất cả pháp đều đã có sẵn nơi mỗi người, hãy tự mình chứng nghiệm
“như nhân ẩm thủy lãnh noãn tự tri”.
Bùi
Hưu thấy hình vẽ một vị cao tăng, hỏi Hoàng Bá:
- Hình ở đây
còn vị cao tăng này ở đâu?
Hoàng Bá gọi:
- Bùi Hưu!
Bùi Hưu liền
“Dạ”.
Hoàng Bá bảo:
- Ở đâu?
Bùi Hưu
chợt ngộ.
Hoàng
Bá chỉ cái gì? Bùi Hưu ngộ cái gì? Đơn giản đó là thực tại ở ngay đây (sandṭṭthiko),
và bây giờ (akāliko), chỉ cần hồi đầu là thấy (ehipassiko) và ngay trên chân
tánh (opanayiko) đó mà tự mình thể nghiệm (paccattaṃ
veditabbo viññūhi) chứ đừng chạy theo bất cứ ảo ảnh nào. Tâm người thế phần
đông say mê đi tìm thỏa mãn trong ngũ dục và tri thức, còn người tu thì mãi
miết tầm cầu một mục tiêu lý tưởng. Cả Thiền Vipassanā Nguyên Thủy lẫn Thiền
Tông đều đánh thức họ ra khỏi cơn mơ lý tưởng đó để trực nhận chân tánh
(sabhāva) ngay nơi thực tại như nó đang là (yathābhūta).
Thiền
Tông có nhiều “phương
tiện thiện xảo”,
nói đúng hơn và dễ hiểu hơn chỉ là những
“mẹo vặt”
như im lặng, hét, đánh, một cử chỉ nhỏ nhặt như nheo mắt, nhéo mũi, một
động tác chỉ thẳng những sự kiện hiển nhiên như ba cân mè, cây bách trước sân,
cây thiền trượng hay cái phất trần…, một thiền ngữ hàm thị thực tánh, như “đem
tâm ông ra đây ta an cho”, một công án vượt ngoài lý luận, như “tiếng vỗ của
một bàn tay” v.v... tất cả chỉ để tuyệt đường lý trí và mở bày cho thấy sự thật
ngay nơi sự thật ấy là (yathātathatā).
(Một
sinh viên hỏi:)
-
“Thực tại hiện tiền” trong thiền tuệ và “hiện tại lạc trú” trong thiền định
giống nhau hay khác nhau?
- Vừa giống vừa khác. Thứ nhất, nếu
là hiện tại lạc trú của các bậc Thánh thì cũng là thực tại hiện tiền. Thứ hai,
trên phương diện thực tánh pháp thì cả hai đều giống nhau. Thứ ba, thực tại
hiện tiền là đối tượng của thiền tuệ, còn hiện tại lạc trú thuộc thiền định nên
khác nhau. Thứ tư, thực tại hiện tiền là duyên cho trí tuệ, còn hiện tại lạc
trú là quả của thiền định nên khác nhau.
3)
Đốn tiệm không hai:
Một
số người cố chấp, bảo thủ cho rằng Thiền Tông hay Tổ Sư Thiền là thiền đã phát
triển lên tới đỉnh cao của đốn ngộ, còn Thiền Nguyên Thủy hay Như Lai Thiền là
thiền tiệm tu của hạng người căn cơ thấp kém. Ngược lại, một số khác cho rằng
Thiền Nguyên Thủy mới là chân thiền còn Thiền Tông là quái thai của sự hòa nhập
giữa Triết Học Tánh Không với Ấn Giáo và Lão Trang. Đây là những kết luận quá
vội vàng hời hợt mà chúng ta chắc rằng những người này không những chẳng biết
gì mấy về thiền của người khác, ngoài một số thành kiến nông cạn, mà thực ra
cũng chẳng nắm được gì nhiều về thiền pháp của môn hộ mình. Tăng Ni, Phật tử
ngày nay nên có cái nhìn phóng khoáng hơn, cởi mở hơn để có thể nắm được cốt
lõi của Phật Pháp nhờ sự đối chiếu rộng rãi, nghiêm túc, chính xác và không
thiên lệch do thành kiến hay tự ái tông môn.
Trước
hết, chúng ta dễ dàng thấy rõ cả hai dòng Thiền Nguyên Thủy và Thiền Tông đều
có một mục tiêu chung: Trực tiếp là kiến tánh, và rốt ráo là thành Phật. Trong
Thiền Tông, hai mục tiêu này có thể là hai, cũng có thể chỉ là một. Trường hợp
“lý đốn ngộ, sự tiệm tu” là hai, vì một bên là lý, một bên là sự; một bên là
đốn, một bên là tiệm; một bên là ngộ, một bên là tu. Nhưng trong trường hợp
ngay khi ngộ cũng đồng thời dứt sạch tập khí sinh tử thì hai mục tiêu là một,
vì lý – sự, đốn – tiệm, ngộ – tu thành tựu đồng thời. Kinh Điển Nguyên Thủy
cũng ghi nhận hai trường hợp: Tu trước chứng sau và tu chứng đồng thời như có
rất nhiều vị chứng quả Alahán ngay khi được Phật khai ngộ. Trong Thiền
Vipassanā có một thành ngữ biểu thị hai mục tiêu này là “yathàbhùtà
ñāṇadassanà”: như tánh tri kiến. Tri kiến như thật này mục tiêu trước tiên
trong pháp hành thiền tuệ là thấy tánh đế (kiến tánh), và sau đó trong pháp
thành là thấy Thánh đế (thành Phật). Như vậy, đốn tiệm không hai: trí tuệ chánh
niệm tỉnh giác là ngay nơi pháp thấy tánh nên gọi là đốn, trải qua tuần tự 16
tuệ chứng nên gọi là tiệm. Đạo – Quả lập tức (akàliko) nên đốn, hành trì
ba-la-mật nên tiệm. Ngược lại, trong Thiền Tông phải thực hiện mục tiêu thứ
nhất: lý đốn ngộ trước để khỏi rơi vào vết xe hướng ngoại cầu huyền, rồi mới
thực hiện mục tiêu thứ hai: sự tiệm tu để hoàn thành cứu cánh Phật Đạo. Phương
án này rất phù hợp với bối cảnh lịch sử Phật Giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Mới
xem tưởng như hai hướng, thực ra đốn tiệm chẳng thể tách rời.
Bởi vì, chúng ta đều biết rằng không
một người nào chưa từng tu mà thành Phật cả, những người có thể tu chứng đồng
thời hay kiến tánh thành Phật ngay đều đã tu hành từ vô lượng kiếp (tiệm), đến
khi đó căn cơ đã được chín mùi, ví như hoa sen đã vươn khỏi mặt nước sẵn sàng
chờ ánh nắng bình minh là khai hoa nở nhụy. Đó là lý do vì sao chư Phật, chư
Thánh và các vị Tổ đều chỉ có thể tế độ những người hữu duyên nên tế độ mà
thôi. Hơn nữa, dù đốn thì cũng phải mất một thời gian để tham công án, rồi sau
khi ngộ nếu còn tập khí sinh tử thì cũng phải tiệm tu. Tóm lại, không nên phân
biệt đốn tiệm, cứ ngay đó soi sáng thì sẽ thấy ngay bản lai diện mục.
4) Tánh ở Đâu? Thông thường chúng ta
có thói quen thấy pháp bằng tưởng tri (sañjānāti) hoặc thức tri (vijānāti),
nghĩa là thấy qua ký ức hay kiến thức mà phần lớn là thủ đắc từ vay mượn bên
ngoài, nên chỉ thấy được nghĩa khái niệm (attha paññatti) hay danh khái niệm
(nāma paññatti) lắm khi chỉ là ảo tưởng không thật, chứ không thấy được thực
tánh hay chân diện mục của pháp. Trong khi đối tượng của trí tuệ thiền tuệ
(Vipassanā ñāṇa), dưới hình thức tuệ tri (pajānanā) trong chánh niệm
(sati), tỉnh giác (sampajaññā) thì tuyệt đối phải là thực tánh pháp
(paramattha dhamma). Điều này khác hay không khác với kiến tánh của Thiền Tông?
Nói như Khổng Tử “Tánh tương cận, tập tương viễn” thì tánh chỉ có một, nói khác
là do ý niệm (tập) bất nhất của con người mà thôi.
Thực ra, tánh đế (hiện tiền) hay
Thánh đế (rốt ráo) đều là thực tánh pháp, nên hành giả thiền Vipassanā chỉ cần
ngay nơi thực tại hiện tiền (sandiṭṭhiko dhammo) mà quán chiếu, còn đối tượng
là tánh đế hay Thánh đế gì thì cũng phải tại đây và bây giờ chứ không chỉ là ảo
tưởng hay một giả định của niềm tin siêu hình hoặc lý luận triết học.
Lăng Già Sư Tử Ký kể câu chuyện lúc
Tổ Đạt-ma chưa sang Trung Hoa có cho một đệ tử tên Ba-la-đề đi độ một ông vua
tà kiến.
Vua
hỏi Ba-la-đề:
- Tánh ở chỗ
nào?
Đề nói:
- Tánh tại tác
dụng.
Nói rõ hơn là
tánh ấy:
“Biến hiện đầy
khắp thế giới
“Thu lại trong hạt bụi trần
“Người trí biết là giác tánh
“Mê nhân gọi đó tinh hồn”
Vua nghe kệ xong tâm liền tỏ ngộ.
Như vậy, Ba-la-đề đã chỉ rõ tánh là
tánh giác hiển dụng khắp mọi nơi, trong tất cả sự tướng, trong sự tương giao
giữa căn và trần chứ không phải là một Linh Hồn, Bản Thể hay Đại Ngã thường
hằng vĩnh cữu, cũng không phải một “Thượng Đế ở khắp mọi nơi”.
Trong Huyết Mạch Luận, Tổ cũng nói:
“Tâm lượng rộng lớn, ứng dụng không cùng, ứng mắt thấy sắc, ứng tai nghe tiếng,
ứng mũi ngửi mùi, ứng lưỡi nếm vị, cho đến mọi cử chỉ hành động đều là tự tâm,
ở trong tất cả thời chỉ dứt đường ngôn ngữ, chính là tự tâm”.
Tánh trong Thiền Tông bao hàm cả
Giác tánh (cũng gọi là Phật tánh: Buddhacarita) và Pháp tánh (Dhammatā), vì cả
hai đồng một thể chân như.
Có vị tăng hỏi Thiền sư Vân Môn:
- Thế nào là Phật?
Vân Môn đáp ngay:
- Que cứt khô.
Đơn giản chỉ vì đã là giác thì giác
bất cứ cái gì, và đã là tánh thì cái gì cũng tánh. Thiền Vipassanā, đoạn giác
niệm tất cả sự (sabbaṭṭhāna) trong kinh Satipaṭṭhāna, Đức Phật dạy: “Khi đi
đại, tiểu tiện, tuệ tri việc đang làm” (Uccāra passāva kamme sampajāna kārī
hoti). Hễ chánh niệm tỉnh giác thì ngay nơi cục phân cũng thấy thực tánh. Một
hành giả quán niệm thọ thì ngay khi rặn, đau… đều cảm giác trung thực tánh
trạng ấy là chuyện hết sức bình thường nên chẳng ai ngạc nhiên về câu nói của
Vân Môn cả. Dĩ nhiên cả vị tăng lẫn thiền sư Vân Môn đều không có ý xúc phạm
một Vị Phật nào, họ chỉ muốn mở bày Giác Tánh và Pháp Tánh.
Nhưng cũng không cần phải kết luận
giác tánh hay pháp tánh có thường hằng vĩnh cữu hay không để khỏi rơi vào tà
kiến đoạn thường. Tánh thì thấy chứ không phải tin vì tin thì vẫn còn là giả
định, không phải thực tại hiện tiền. Dù ta có tin hay không tin có một tánh
giác thường tri thì quan trọng vẫn là ngay nơi động dụng hàng ngày (thân, thọ,
tâm, pháp) có đủ chánh niệm tỉnh giác hay bị chìm đắm trong mê mờ, thất niệm.
Thiền sư nói “không sợ vọng khởi, chỉ sợ không giác kịp” là thế.
Có một du sĩ ngoại đạo khi nghe Đức
Phật thuyết về sự tỉnh giác, khoe với Phật rằng thầy của ông ta lúc nào cũng
thường giác không gián đoạn và hỏi Phật có thường giác được như vậy không. Phật
nói Ngài không cần phải luôn luôn khi nào cũng thường giác. Như Khổng Tử nói
“Tùy cảm nhi ứng, tùy ngộ nhi an”. Và Thiền sư nói “Sự đáo nhi tâm thỉ hiện, sự
khứ nhi tâm tùy không”. Giống như lửa, không cần phải nói nó thường hằng hay
gián đoạn, quan trọng là khi cần chúng ta có biết cách lấy lửa hay không.
Người ta có cái tật ưa luận đông
luận tây để xác định tánh này tánh nọ, nhưng đã có kết luận thì giác liền mất
mà tánh cũng chẳng còn. Thiền sư nói “Chân bất lập” hay “Bất dụng cầu chân” vì
“Người mê nói Viên giác tánh thì đó cũng chỉ là tánh mê” (Kinh Viên Giác).
Trong Vi Tiếu, câu chuyện “Hãy để
yên” kể rằng:
Một giáo sư triết học muốn biết đạo
Phật chủ trương “Thường tại luận” hay “Vô thường luận”.
Sư nói:
- “Chân lý nằm ngoài chủ trương và lý luận, cho nên đạo Phật không chủ trương
luận nào cả. Cái gì vô thường hãy để yên cho nó vô thường, cái gì thường tại
hãy để yên cho nó thường tại”.
Sở dĩ trong Phật Giáo Nguyên Thủy,
Đức Phật không khẳng định chân tánh là gì vì không muốn người sau đem làm trò
chơi hý luận cho ngôn ngữ, ý niệm. Chân thì tự nó vốn chân, không cần ai lập.
Thấy biết đã bị đóng khung trong kết luận chính là gốc của vô minh, thấy biết
không bị lệ thuộc vào bất kỳ kiến thức nào mới thấy được thực tại đang là, như
kinh Lăng Nghiêm nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, tri kiến phi kiến tức
kiến Như Lai”. Vậy khi chúng ta khẳng lập rằng có một cái tánh vĩnh hằng để mà
đến thì chúng ta đã đánh mất thực tại rồi, và vô tình rơi vào hai lỗi: một là
bị vô minh che lấp (lập tri) khó thấy được tánh thật, hai là còn có chỗ lý
tưỏng để bản ngã bám níu, không thể buông tay trên đầu sào trăm trượng.
Ngay thực tại hiện tiền, chẳng cần
phân biệt vọng chân mà chỉ cần thấy tánh. Nguyên tắc của thiền Vipassanā là để
cho các pháp tự nhiên vận hành, chỉ lặng lẽ soi chiếu trong chánh niệm tỉnh
giác, tuyệt đối không để cho lý trí vọng thức xen vào, không đánh giá, kết
luận, không tham ưu, thủ xả thì trước mắt không gì không phải là đạo
(sandiṭṭhiko: xúc mục vô phi thị đạo). Đức Phật dạy rằng: “Khi một người thanh
tịnh thì thấy tất cả các pháp đều thanh tịnh”.
Tổ Huệ Năng cũng nói: “Nếu ở tất cả
chỗ mà không trụ tướng, ở tướng ấy mà không sinh yêu ghét, chẳng nghĩ việc lợi
ích, thành hoại… an ổn thanh tịnh gọi là nhất tướng tam muội. Nếu ở tất cả chỗ
đi đứng ngồi nằm, ròng một trực tâm, không dời khỏi đạo tràng, liền thành tịnh
độ, gọi là nhất hạnh tam muội”. Nhưng khi tâm đã vọng động thì thấy cái gì cũng
động, nên khi nghe hai ông đạo cãi nhau về phướn động hay gió động, Tổ Huệ Năng
nói “Không phải phướn động, không phải gió động, mà tâm nhân giả động”.
(Một sinh viên hỏi:)
- Trong hai câu “Chân bất lập, vọng
bổn vô” và “Bất dụng cầu chân, duy tu tức vọng” thì vế đầu hoàn toàn giống
nhau, nhưng vế sau câu trên đã nói là vọng vốn không sao câu dưới lại
nói chỉ tu ngưng vọng, như vậy có mâu thuẫn nhau không? Cái nào đúng cái
nào sai?
- Vế đầu của cả hai câu đều rất chính
xác, vì chân thì tự nó chân, còn đã lập, đã dụng cầu thì bản ngã và tư tưởng đã
xen vào rồi làm sao mà chân được? Vế sau vọng bổn vô cũng rất chính xác
vì vọng tự nó không có thật, ví dụ ý niệm bản ngã chỉ lả ảo tưởng làm sao có
thực được! Riêng vế chỉ tu ngưng vọng thì có thể đúng có thể sai. Nếu
như vì chánh niệm tỉnh giác hay liễu liễu thường tri mà vọng tự ngưng thì đúng,
còn nếu đem tư ý của bản ngã mà toan ngưng vọng là sai. Vì vậy mới có câu:
Đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh
Xu hướng chân như tổng thị tà.
5) Trong và ngoài: Đối với
thiền, trong ngoài, tâm vật, nhân cảnh hay chủ thể đối tượng có một mối quan
hệ, tương giao tự nhiên khi xúc sự, cho nên tùy trình độ, căn tính, hoàn cảnh
mà ứng cơ tiếp vật chứ không lấy bên này, bỏ bên kia.
Trong tinh thần thiền vipassanā,
hai yếu tính của tuệ giác là nội tâm thanh tịnh và thấy rõ các pháp,
như vậy mối quan hệ trong ngoài rất chặt chẽ tự nhiên. Trong kinh Đại Tứ Niệm
Xứ đức Phật dạy: “Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên nội tâm, hay sống quán tâm
trên ngoại tâm, hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm” (Iti ajjhattam…
bahiddhā…ajjhatta-bahiddhā và citte cittānupassī viharati).
Pháp môn Tứ Liệu Giản của phái Lâm
Tế cũng vận dụng bốn cách tùy duyên ứng xử trong ngoài:
- Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh:
có lúc dẹp người không dẹp cảnh.
- Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân: có lúc dẹp cảnh không dẹp người.
- Hữu thời nhân cảnh câu đoạt: có lúc người cảnh đều dẹp.
- Hữu thời nhân cảnh bất câu đoạt: có lúc người cảnh đều không dẹp.
Nói theo kinh Tứ Niệm Xứ là khi thì
quán chiếu thân thọ tâm pháp bên trong, khi thì quán chiếu thân thọ tâm pháp
bên ngoài, khi thì quán chiếu cả hai, khi thì buông xả thanh tịnh rỗng rang
trong ngoài, đó là khi “nội tâm thanh tịnh thì thấy tất cả các pháp đều thanh
tịnh” chẳng cần gia tâm quán chiếu.
(Một sinh viên hỏi:)
- Thưa thầy, khi con chăm chú nghe
giảng thì con hiểu được lời giảng, nhưng khi con quay lại biết con đang nghe
thì con không hiểu thầy giảng gì. Như vậy, có phải hoặc là nghe pháp hoặc là
nghe lại chính mình, chứ không thể cả hai cùng một lúc được?
- Chính vì điều này mà đức Phật mới
dạy khi thì quán bên trong (ajjhattam, khi thì quán bên ngoài (bahiddhā), khi
thì quán cả hai (ajjhatta-bahiddhā), và phái thiền Lâm Tế cũng vận dụng cách
này thành Tứ liệu giản. Tức là khi thuận quán bên trong (nhân) thì toàn tâm
chánh niệm tỉnh giác bên trong, khi thuận quán bên ngoài (cảnh) thì toàn tâm
chảnh niệm tỉnh giác bên ngoài, nhưng khi tầm nhìn của chánh niệm tỉnh giác
rộng hơn thì đối tượng có thể cả trong lẫn ngoài đều thấy. Ví dụ như khi nghe
giảng thì cứ chuyên tâm nghe giảng thôi, khi có cơ hội nhìn lại mình thì cứ
chuyên tâm nhìn lại mình, nhưng nếu trong khi nghe giảng vẫn không quên mình
thì càng tốt. Đây cũng chính là “Duyên chủng bất tương phương” hay “Ư duyên bất
tương ngại” vậy.
6) Vô tâm: Yếu tố vô tâm đóng
một vai trò quan trọng trong Thiền Vipassanā cũng như trong Thiền Tông. Nói vô
tâm chỉ để cảnh giác những người hành thiền vì cơ tâm, trước ý, có ý đồ, có
dụng tâm mà rơi vào tham ưu (abhijjhā domanassa), chấp thủ (upādāya) như kinh
Mahā Satipaṭṭhāna đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trong thiền vipassanā chánh
niệm tỉnh giác phải tự nhiên, không nên cố ý dụng tâm kiểm duyệt, mong cầu hay
thoả mãn, vì như vậy cái tôi tham ưu đã có cơ hội xen vào. Đối tượng
cũng phải tự nhiên, không nên cố ý dựng đối tượng thế này thế kia theo ý mình
để cố gắng an tâm hay lăng xăng kiếm tâm, tìm pháp. Một khi đã dựng đối tượng
thì lập tức nó đã biến thành khái niệm paññatti, không còn là thực tánh
paramattha nữa. Nếu không thông suốt điều này thì hành thiền chỉ để phí công
làm trò chơi cho bản ngã.
Cũng chính vì lý do này mà Thiền
Tông nhấn mạnh yếu tố vô tâm, như nói “Vô tâm đạo dị tầm”, “Học đạo quí vô tâm”
(Thiền sư Hương Hải), “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (Cư Trần Lạc Đạo).
Đôi khi vô tình cũng được
dùng với nghĩa này, ví dụ như trong câu:
“Cố ý xem hoa hoa chẳng nở
Vô tình tiếp liễu liễu xanh um”
Như ngài A-nan cố gắng mãi vẫn không
thực chứng đạo quả A-la-hán, nhưng khi vừa nằm xuống nghỉ ngơi thì đạo quả Vô
Sanh lại đến. Chứng ngộ không thể lập trình mà được, nó chỉ đến trong lúc hốt
nhiên hay tự nhiên bất chợt mà thiền gọi là hoát nhiên đại ngộ.
Krishnamurti nói: “Bạn hãy mở toang
cánh cửa tâm hồn thì chân lý sẽ tự tràn đầy”. Bởi vậy Tổ Tăng Xán
nói: “Tương tâm dụng tâm, khởi phi đại thố”, đem tâm dụng tâm chẳng phải
là lầm lớn hay sao? Huống chi dụng tâm vô tâm thì thật là một sai lầm
quá đáng.
Không ít người hiểu lầm hai chữ vô
tâm nên hoặc là cố ý giữ tâm trống rỗng không không, hoặc cứ buông xuôi cho tâm
tùy tiện rong ruổi, hoặc mặc kệ chuyện đời chẳng màng quan tâm gì cả, và họ
tưởng là đã tùy duyên thong dong thỏng tay vào chợ! Có một sinh viên đã
hỏi rằng: “Nếu đối cảnh vô tâm, thì chẳng lẽ gặp chuyện gì cũng phớt lờ xem như
không có?”. Thật là một hiểu lầm nguy hại!
Vô tâm, tất nhiên, không phải là cái
tâm đầy mưu kế đã bị bản ngã xen vào lập trình, lại càng không phải là trạng
thái si mê vô ký, lờ đờ mông muội, ngái ngủ hôn trầm… mà là một “Tâm địa nhược
không tuệ nhật tự chiếu”. Nếu có một vô tâm thiếu chánh niệm tỉnh giác,
thiếu sáng suốt trong lành, thiếu liễu liễu thường tri hay thất niệm bất giác
thì cần phải nghe thiền sư Trần Nhân Tông cảnh báo:
“Mạc vị vô tâm vân thị đạo
Vô tâm do cách nhất trùng quan.”
(Chớ
bảo vô tâm là phải đạo
Vô tâm còn cách mấy ngăn rào).
Tôi có bài kệ để minh giải hai chữ
vô tâm theo tinh thần thiền Nguyên Thủy:
“Học đạo quí vô tâm”
Làm, nghĩ, nói không lầm
Sáng, trong và lặng lẽ
Giản dị mới uyên thâm.
Vô tâm (câu 1) nhưng trong đó hành
động, nói năng, suy nghĩ không tương ngại, không lầm lẫn (câu 2), mà luôn sáng
suốt, định tĩnh, trong lành (câu 3). Tâm càng giản dị, càng ít bị mây lý trí
vọng thức che mờ thì càng thâm sâu tận thực tánh của tâm và pháp (câu 4).
C) Vị trí của
định trong Thiền Vipassanā và Thiền Tông:
C.1) Định trong thiền Vipassanā:
Theo Phật giáo Nguyên Thủy, hành giả
có thể hành thiền Vipassanā mà không cần phải trải nghiệm bất kỳ một bậc thiền
an chỉ (appanā) nào trong thiền sắc giới hay vô sắc giới, tuy nhiên yếu tố định
thì tất yếu phải có mặt trong thiền tuệ, tối thiểu cũng là sát-na định (khanika
samādhi). Nếu không có yếu tố định này thì cũng không thể có thiền tuệ. Kệ kinh
Pháp Cú dạy rằng “không có trí tuệ nơi người không có định” (Natthi paññā
ajjhāyino).
Tuy định là yếu tố không thể thiếu,
nhưng cũng không cần phải đi quá xa vào sở đắc các bậc định như sơ định, nhị
định, tam định, tứ định sắc giới hoặc vô sắc giới. Định đúng mức, chính đáng,
thích ứng sẽ là nền tảng cho trí tuệ. Ngược lại, quá thiên về định hay không
biết sử dụng đúng lợi thế và chức năng cho phép của định thì nó có thể trở
thành chướng ngại cho tuệ giác, như ham thích hỷ lạc, say mê quyền lực thần
thông, hoặc sử dụng vào những lãnh vực bất thiện, ngược với nguyên lý nhân quả
v.v...
Trong năm yếu tố công năng cơ bản:
Tín, tấn, niệm, định, tuệ, Đức Phật dạy nếu định trội hơn các yếu tố khác, phá
vỡ sự cân đối, quân bình, hài hòa thì tâm sẽ nghiêng về tĩnh chỉ, thiếu hoạt
dụng, do đó dễ sinh thụ động, tiêu cực đối với tướng dụng của pháp, đồng thời
hôn trầm cũng phát sinh ngăn che thực tánh pháp, do đó không học được
những pháp cần thiết cho sự giác ngộ toàn triệt mà phần lớn phải học từ cõi dục
giới, nhất là cõi người, hơn là cõi hữu sắc hay vô sắc.
Mặc dù Bồ-tát Siddhattha, sau khi
xuất gia tầm sư học đạo, đã đạt được những thiền chứng cao nhất mà các bậc đạo
sư thời bấy giờ mong ước, nhưng ngài sớm thấy ra rằng đó không phải là cứu cánh
của sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, nên cuối cùng ngài đã từ bỏ để tự mình
tìm ra con đường tuệ giác.
Chúng ta cần lưu ý một điều là định
và tịnh tuy có trạng thái tĩnh chỉ, lắng đọng, an ổn… nhưng không có nghĩa là
tâm đã thoát khỏi thế giới ý niệm (paññatti), thậm chí nó còn là sản phẩm của
tưởng ở mức độ cao thâm vi tế, chỉ có trí tuệ (ñāna, paññā) chánh niệm tỉnh
giác thấy rõ thực tánh (paramattha) mới có thể thoát khỏi sự ràng buộc của thế
giới tư tưởng, quan niệm.
C.2) Định đối với Thiền Tông:
Hầu như Thiền Tông không hoan nghinh
định, cho đó là thiền của Giáo Tông (điển hình là thiền sổ tức) hay tịnh của
Tịnh Độ (điển hình là niệm Phật A-di-đà). Câu chuyện đối đáp giữa Hoài Nhượng
và Đạo Nhất biểu hiện khá rõ nét ý hướng này.
Thấy Đạo Nhất, một vị sa-môn, hàng
ngày thường tinh tấn ngồi tu thiền, Hoài Nhượng hỏi:
- Ông ngồi thiền để làm gì?
Đạo Nhất nói:
- Tôi ngồi thiền để làm Phật.
Hoài Nhượng nhặt một viên gạch đem mài trên tấm đá trước am. Đạo Nhất ngạc
nhiên hỏi:
- Ngài mài gạch để làm gì?
Hoài Nhượng đáp:
- Mài gạch để làm gương.
- Mài gạch sao thành gương được?
- Ngồi thiền cũng đâu thành Phật được?
- Vậy làm thế nào mới đúng?
- Nếu trâu kéo xe, xe không chạy, thì đánh xe hay đánh trâu mới đúng?
Đạo Nhất không nói được. Hoài Nhượng nói tiếp:
- Ông học ngồi thiền hay ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền thì thiền không phải
ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật thì Phật không tướng, không trụ, không thủ xả. Nếu
ngươi ngồi Phật tức giết Phật, nếu chấp tướng ngồi thì không thể đạt.
Trong câu chuyện trên có vẻ như chỉ
bài xích tướng ngồi chứ không nói gì đến định, tuy nhiên chúng ta dễ dàng nhận
ra trọng tâm của đối tượng bị chỉ trích chính là định, biểu hiện rõ nét trong
các dụng ngữ không tướng, không trụ, không thủ xả.
Trong Pháp Bảo Đàn, Tổ Huệ Năng
không những chê tướng ngồi chỉ hành hạ thân xác, làm cho “đầu xương thối” mà
còn nói rõ cố gắng định tâm chính là bệnh: “Trụ tâm quán tịnh là bệnh chứ không
phải thiền”. Và rõ nhất là khi Tổ đối đáp bài kệ của Ngọa Luân. Ngọa Luân nói:
“Ngọa Luân có biệt tài
Cắt đứt trăm tư tưởng
Đối cảnh tâm không khởi
Bồ-đề ngày ngày tăng”
Tổ Huệ Năng đối lại:
“Huệ Năng chẳng biệt tài
Chẳng dứt trăm tư tưởng
Đối cảnh tâm khởi nhiều
Bồ-đề làm sao tăng”
Biệt tài của Ngọa Luân chính là định
(dứt tư tưởng, tâm không khởi) nên có sở đắc (hữu kỹ lưỡng). Còn Tổ Huệ Năng
lại không cần định (không dứt tư tưởng, tâm cứ khởi nhiều) nên cũng không có sở
đắc (một kỹ lưỡng), không có chỗ trụ, bởi vì ngay khi nghe Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn
đọc câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang thì Tổ Huệ Năng đã
ngộ rồi.
Thật ra, Thiền Tông chỉ muốn cảnh
báo những người quá ham mê tọa thiền chỉ tịnh, rất dễ rơi vào trầm không trệ
tịch, làm mất tính linh động của tánh giác tự nhiên, nên không khuyến khích tọa
thiền quán tịnh.
Vô niệm của Lục Tổ chính là không
còn rơi vào tư tưởng, ý niệm, mà tổ gọi là niệm niệm kế tục, tức là tư
tưởng đuổi theo tư tưởng không bao giờ dứt.
Vô niệm được Bách Trượng, Mã Tổ nói
một cách khác là “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”. Nhưng cả vô niệm lẫn
tâm địa nhược không hoàn toàn không phải là định, đơn giản là vì định phát xuất
từ ý niệm. Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu chính là ý nghĩa đích
thực của chánh niệm tỉnh giác mà đức Phật dạy trong kinh Nguyên Thủy.
Tâm sự thay lời tạ
bạch:
Chúng tôi làm công việc đối chiếu
Thiền Nguyên Thủy và Thiền Phát Triển này là việc làm vô cùng mạo hiểm, chỉ vì
đáp ứng nhu cầu chính đáng và bức thiết hiện nay của thế hệ Tăng Ni Phật tử trẻ
là muốn biết cốt lõi chung của thiền là gì để không còn phân vân khi chọn lựa
pháp môn tu tập phù hợp với căn tính của mình. Chính vì vậy Học Viện Phật Giáo
Việt Nam Thành Phố Hồ Chí Minh đã đưa vào chương trình giảng dạy môn học này
cho lớp cử nhân Phật học bắt đầu từ khoá 6, khoá 7.
Khi được Học Viện mời giảng môn này
tôi thật sự không dám nhận nhưng quí thầy trong Hội Đồng Điều Hành Viện động
viên khuyến khích nên tôi đành phải khẩn trương biên soạn giáo án cho kịp thời
biểu của các khoá học. Vì thời gian cấp bách, nên tôi phải vận dụng trí nhớ
nhiều hơn là tham khảo tài liệu. Đó là một khuyết điểm lớn, tuy nhiên tôi tự an
ủi rằng thiền cốt ở chỗ thấy chứ không lệ thuộc nhiều vào sách vở, nên cứ chân
thành nói ra cái gì mình thấy rồi sẽ tham khảo bổ chính sau.
Có một sinh viên Tăng thành thật
hỏi: “Sư đã ngộ chưa? Nếu ngộ chúng con mới tin, còn nếu chưa ngộ làm sao chúng
con biết sư giảng đúng hay sai?”
Thật ra, dù người giảng có ngộ, có
nói rất đúng, rất tận tình thì cũng không chắc gì có mấy người tin hay ngộ.
Ngược lại, có khi người giảng không ngộ, thậm chí còn giảng sai mà người nghe
vẫn nhân đó tỏ tường. Chính vì nhân bài kệ chưa ngộ của Thần Tú mà ngài Huệ
Năng tỏ rõ thiền cơ. Trong khi đó Tổ Hoằng Nhẫn là người đã ngộ, giảng câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang biết bao lần mà
chưa ai liễu giải, chỉ có ngài Huệ Năng mới thấy được tức thì. Tinh thần đại
học là cứ khách quan mà nghe trình bày và tiếp thu có sáng tạo, chứ không nên
lệ thuộc giáo điều hay uy tín của thầy, như kinh Kalama đức Phật đã cảnh báo.
Tôi thành thật cám ơn những sinh
viên Tăng Ni trong các lớp cử nhân khoá 7 đã chân thành nêu lên những câu hỏi
rất hữu ích để vấn đề được mổ xẻ rõ ràng và thiết thực hơn.
Trong tập giáo án này, những chỗ đối
chiếu còn rất nhiều thiếu sót, chưa nói được hết ý hoặc thậm chí còn lầm lẫn
nữa, phạm vi đối chiếu cũng còn rất hạn hẹp, chỉ nói đại cương v.v... vì vậy
chúng tôi rất mong được sự góp ý bổ sung của chư tôn thiền đức để cung cấp cho
sinh viên Tăng Ni một tài liệu tham khảo tương đối hoàn chỉnh hơn.
Học Viện, ngày 30 – 11 – 2007
Viên Minh
(Trung Tâm Hộ Tông)