GIẢNG GIẢI KINH PHƯỚC ĐỨC
Thích Nhất Hạnh
Trong sách Nhật Tụng Thiền Môn, chúng ta có Kinh Phước Đức, một Kinh
nói về đề tài hạnh phúc. Kinh được dịch từ tạng Pali và nằm trong bộ
Kinh Tiểu Bộ (Khuddhaka-nikāya). Chúng ta có Trường Bộ (Dīgha-nikāya),
Trung Bộ (Majjhima-nikāya), Tương Ưng Bộ (Samyutta-nikāya), Tăng Chi Bộ
(Anguttara-nikāya). Ngoài ra chúng ta còn có một bộ nhỏ gọi là Tiểu Bộ,
trong Tiểu Bộ có một tập gọi là Kinh Tập (Sutta-nipāta). Đó là một bộ
Kinh rất cổ xưa và rất nguyên chất về văn ngữ cũng như về ý. Kinh Thương
Yêu (Metta-sutta) và Kinh Phước Đức được lấy từ Kinh Tập.
Trong Tạng Kinh chữ Hán này chúng ta tìm được trong Kinh Pháp Cú và
Kinh Pháp Cú Thí Dụ một Kinh tương đương với Kinh Phước Đức. Trong Kinh
Pháp Cú nguyên bản bằng tiếng Pali không có Kinh Phước Đức, nhưng trong
Kinh Pháp Cú Hán Tạng thì có Kinh này.
Hôm nay chúng ta học Kinh Phước Đức trong Hán Tạng để so sánh với Kinh Phước Đức của Tạng Pali.
Bài kệ 1
Phật tôn quá chư thiên 佛尊過諸天
Như Lai thường hiện nghĩa 如來常現義
Hữu phạm chí đạo sĩ 有梵志道士
Lai vấn hà cát tường 來問何吉祥
Bụt được tôn quý hơn cả trong hai giới trời và người
Vì Người thường có khả năng đưa ra vị những giáo nghĩa mầu nhiệm của một bậc Như Lai
Một ngày kia, có một vị đạo sư Bà la môn tới hỏi:
Cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất?
Phật tôn quá chư thiên: Bụt được tôn quí hơn tất cả các chư thiên.
Trong bản dịch của tôi có thêm chữ người, Bụt được tôn quý hơn cả trong
hai giới trời và người, như vậy thì phù hợp với văn nghĩa trong toàn thể
Kinh Phật (thiên nhân chi đạo sư). Bụt là thầy dạy cả hai giới chư
thiên và con người.
Như Lai thường hiện nghĩa: Chữ Bụt có nghĩa là
người tỉnh thức (the enlightend one, the awakend one). Chữ Như Lai
(Tathagata) có nghĩa là từ chân như tới. Thường có nghĩa là luôn luôn.
Tôi dịch là: Vì Ngài có khả năng đưa ra những nghĩa lý mầu nhiệm của một
vị Như Lai (The Buddha has the capacity to expound the wonderful
Teaching of the Tathagata).
Câu thứ hai là lý do của câu thứ
nhất: Tại vì Đức Thế Tôn có khả năng đưa ra những giáo nghĩa mầu nhiệm
của Đức Như Lai cho nên Ngài được tôn quý trong cả cõi trời và cõi
người.
Hữu phạm chí đạo sĩ, lai vấn hà cát tường: Có một vị đại
sĩ bà là môn tới hỏi, cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất? Kinh Phước
Đức, trong bản chữ Hán có tên là Kinh Cát Tường, cát tường có nghĩa là
điềm lành. Thí dụ thấy mây năm sắc là một điềm lành. Kinh này chúng ta
có thể dịch ra tiếng Việt là Kinh Điềm Lành. Chữ cát tường tiếng Pali là
mangala, dấu hiệu của sự may mắn. Maha mangala là điềm lành lớn,
maha-mangala-sutta là Kinh Điều May Mắn Lớn Nhất.
Hôm ấy có một vị đạo sĩ tới hỏi Bụt: Điềm lành nào là điềm lành lớn
nhất trong tất cả các điềm lành? Vị đạo sĩ Bà La Môn này là một vị phạm
chí (brahmana). Kinh Pháp Cú Thí Dụ nói rất rõ: vị phạm chí này là một
ni kiền. Ni kiền là tiếng gọi tắt của nirgrantha, một giáo phái có mặt
từ thời Đức Thế Tôn. Giáo phái này sống lõa thể, họ không mặc áo quần,
những nhà tu hành này muốn trình bày hết những cái thật của họ: Tôi là
vậy đó, tôi không che dấu gì hết! Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, các vị
xuất sĩ cũng đã từng gặp những phạm chí thuộc giáo phái lõa thể này, họ
tu rất gắt. Có nhiều khi đi trên đường, để tránh sát sinh, họ cầm theo
cây chổi, quét một lát chổi rồi mới bước một bước chân để chắc chắn rằng
mình không dẫm đạp lên các loài chúng sinh. Có khi họ đeo khẩu trang để
khi mở miệng ra những con côn trùng không bay vào và chết trong miệng
họ. Hiện nay ở Ấn Độ vẫn còn những người thuộc giáo phái này. Có một
điều đặc biệt là đạo Bụt đã từng bị gián đoạn ở Ấn Độ nhưng đạo
Nirgrantha (Kỳ Na giáo) thì chưa bao giờ bị gián đoạn. Giáo chủ của Kỳ
Na giáo là Mahavīra, là một nirgrantha-jaina-putra.
Đạo sĩ Bà La
Môn kể trên là một người thuộc về Kỳ Na giáo, người có 500 đệ tử. Các vị
đệ tử được học hỏi và tu tập rất nhiều. Có một hôm họ đến ngồi bên bờ
sông, đàm luận về vấn đề điềm lành. Họ nói với nhau rằng, ở mỗi quốc
gia, người ta có cái thấy khác nhau về những điềm lành. Họ đặt ra vấn
đề, so sánh những điềm lành của các quốc gia thì điềm lành nào là điềm
lành lớn nhất? Đoạn đầu của Kinh Pháp Cú kể rằng: Trong thời gian lưu
trú tại La Duyệt Kỳ, trên núi Kỳ Xà Quật, Bụt đã vì các giới trời,
người, rồng và quỷ mà diễn bày pháp Tam Thừa. Tam Thừa là Thanh Văn
Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa. Núi Kỳ Xà Quật là núi Thứu và La
Duyệt Kỳ là thành Vương Xá (Rājagraha).
Lúc ấy, cư trú bên bờ
sông Hằng, phía nam núi Kỳ Xà Quật có một vị đạo sĩ Bà La Môn biết
nhiều, hiểu rộng, thông suốt chuyện xưa nay. Ông giáo hóa, chỉ dạy cho
500 đệ tử. Đệ tử của ông ai nấy đều tinh thông: thiên văn, địa lý, tinh
tú, nhân sự, lành dữ, họa phúc, được mùa, mất mùa, không việc gì mà
không nghiên cứu thấu đáo. Một hôm các đệ tử của vị đạo sĩ này đến gần
chỗ Bụt đắc đạo trước kia, ngồi bên sông (có lẽ là sông Ni Liên Thuyền)
bàn luận với nhau về vấn đề điềm lành. Họ đặt vấn đề: Dân chúng ở các
quốc gia trên thế giới cho cái gì là điềm lành lớn nhất? Không tìm ra
được câu giải đáp, họ đi tìm hỏi thầy của mình. Sau khi đảnh lễ thầy họ
chắp tay hỏi:
- Chúng con học đã lâu, biết cũng đã nhiều, nhưng
vẫn chưa biết được trong các quốc gia khác nhau, người ta cho cái gì là
điềm lành lớn nhất?
Vị phạm chí Ni Kiền trả lời:
- Câu hỏi của các
vị rất hay! Ở xứ Diêm Phù Đề này có 16 nước lớn và 8400 nước nhỏ. Dân
chúng mỗi nước đều có cái thấy khác nhau về điềm lành. Có người cho sự
xuất hiện của vàng bạc, thủy tinh, lưu ly là điềm lành. Có người cho sự
xuất hiện của trăng sáng, thần châu, voi ngựa, ngọc nữ, san hô, đá quí,
phượng hoàng, khổng tước là điềm lành. Có người lại cho sự xuất hiện của
tinh tú, bình báu, bốn loại người hiền từ hoặc đạo sĩ là điềm lành.
Nhưng cái nhìn của mỗi giống dân mỗi khác.
Các vị đệ tử lại hỏi:
- Vậy
thì điều gì có thể báo cho ta biết chắc chắn ta sẽ có hạnh phúc trong
khi đang sống và chắc chắn ta sẽ sinh lên cõi trời sau khi chết?
Đó
là câu hỏi chính. Có nhiều điềm lành, nhưng điềm lành nào quan trọng
nhất, hay nhất vì nó báo cho ta biết trong kiếp này mình có hạnh phúc và
sau khi chết mình sẽ được sinh lên cõi lành.
Vị đạo sĩ Bà La Môn trả lời:
- Các bậc tiền bối từ trước đến nay, chưa có ai dạy điều này và trong sách vở cũng không thấy ghi chép. Tôi chịu thua!
Các vị đệ tử nói:
-
Mới đây chúng con nghe nói có một người họ Thích xuất gia tìm đạo, ngồi
thiền sáu năm, hàng phục được ma quân, chứng thành quả Bụt, đạt được
tam minh. Hay là chúng ta tìm đến đó để học hỏi thêm?
Tam minh là túc
mạng minh tức là thấy rõ về chuyện sống chết trong quá khứ, thiên nhãn
minh tức là thấy được cái sống và cái chết trong hiện tại của các loài
chúng sinh và lậu tận minh tức là gột sạch hết tất cả những phiền não.
Dấu hiệu của người chứng ngộ hoàn toàn là tam minh tức ba cái thấy.
Thầy trò hơn 500 người vượt núi, băng rừng đến nơi Bụt ở. Sau khi đảnh lễ Bụt vị đạo sĩ chắp tay hỏi:
-
Bạch Đức Thế Tôn, mỗi quốc gia trên thế giới đều có cái nhìn khác nhau
về điềm lành. Vậy theo Ngài, cái gì mới là điềm lành thật sự lớn nhất?
Bụt nói:
- Trong
cái nhìn của thế gian, cái gì người ta thấy thuận theo điều mình ước
muốn thì cho đó là điềm lành, cái gì không thuận thì cho là điềm không
lành. Nhưng những cái mà người ta cho là điềm lành không đủ để cứu độ
tâm linh của mình, không giúp mình vượt qua được khổ nạn. Theo tôi điềm
lành thật sự là những gì có khả năng đem lại hạnh phúc thật sự trong đời
sống hàng ngày, là những gì có khả năng giúp chúng ta ra khỏi ba cõi và
chứng nhập Niết Bàn.
Ba cõi là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Tiếp
theo đó Đức Thế Tôn dạy những bài kệ sau đây. Có tất cả 16 bài kệ, nhưng
trong bản Pali chỉ có 12 bài kệ.
Bài kệ 2
Ư thị Phật mẫn thương 於是佛愍傷
Vị thuyết chân hữu yếu 為說真有要
Dĩ tín lạc chánh pháp 已信樂正法
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥
Dịch nghĩa:
Ngay lúc đó với lòng xót thương. Bụt đã thuyết giảng về những gì thiết yếu và chân thật.
Ngài dạy: Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp, đó là điềm lành lớn nhất.
Trong khi học Kinh Cát Tường chúng ta nên luôn luôn trở về so sánh
với Kinh Phước Đức. Kinh Phước Đức (Maha-mangala) được dịch là The
greatest Blessings. Chữ điềm lành có thể dịch là good omen, có người
dịch là Supreme luckbringer. Chúng ta dịch ra tiếng Việt là điềm lành
lớn nhất.
Y thị Phật mẫn thương
Vị thuyết chân hữu yếu
Khi
đó Bụt có lòng thương các vị phạm chí, nên nói những lời thiết yếu chân
thật. Câu Bụt nói đầu tiên là: Dĩ tín lạc chánh pháp: Theo bản chữ Hán,
điềm lành lớn nhất là có được một con đường.
Trong Kinh Phước Đức có câu:
Lánh xa kẻ xấu ác
Được gần gũi người hiền
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất
Đó là khúc đầu của bản Pali, còn bên phẩm Cát Tường của Kinh Pháp Cú chữ Hán là:
Dĩ tín lạc chánh pháp
Chữ
lạc trong văn mạch ở đây chúng ta phải đọc là nhạo, có nghĩa là muốn,
thích. Trong Kinh chữ nhạo thường được lặp lại nhiều lần như trong câu:
Duy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dụ văn (dạ vâng, Đức Thế Tôn! Chúng con
muốn được nghe). Sau này có những chữ lạc khác chúng ta phải sửa lại là
nhạo.
Nếu người đó có niềm tin và sự yêu thích chánh pháp tức là
có con đường, thì đó là điềm lành lớn nhất. Tín là tin, lạc là hạnh
phúc. Khi đọc câu này tôi nhớ hồi còn là sa di, lúc ấy tôi mới có mười
sáu tuổi, tôi có đọc trong Luật Giải tức là một bộ luật rất dày giải
thích về luật sa di: Làm thân con lạc đà hay con lừa chuyên chở nặng
nhọc, đó chưa gọi là khổ. Ngu si không biết hướng đi, đó mới thật là
khổ. Đi vào những nẻo đường tối tăm, xấu ác, đem lại đau khổ cho mình và
cho người, đó mới là khổ. Điều may mắn nhất là mình có một con đường,
tin vào con đường và có hạnh phúc trong khi đi trên con đường đó. Phẩm
Cát Tường bắt đầu bằng dấu hiệu ấy. Mỗi người trong chúng ta phải tự hỏi
mình là mình đã có con đường chưa? Do you have a spiritual path? Do you
enjoy taking the path? Nếu đã có rồi thì mình nên hạnh phúc đi! Nói
theo danh từ thời đại là: Quý vị đã có một con đường tâm linh chưa? Nếu
không có một chiều hướng tâm linh thì mình làm sao đối diện và giải
quyết được những khó khăn và khổ đau trong đời sống hàng ngày? Mình phải
có một bình diện tâm linh (spiritual dimension)!
Trong thời đại
toàn cầu hóa của chúng ta, người ta đặt câu hỏi: Chúng ta có cần theo
một tôn giáo không? Có thể có một đời sống tâm linh mà không cần tôn
giáo hay không? Is this spiritual path possible without religion? Có thể
không cần tin vào một Thượng đế hay một vị thần linh mà vẫn có thể có
một con đường tâm linh không? (spituality without God, without
religion).
Hiện nay có nhiều nhà nhân bản cho rằng: Ta có thể có
một con đường tâm linh mà không cần tin vào một tôn giáo hay một thần
linh nào. Như vậy chúng ta có thể có được một nền tâm linh toàn cầu.
Global spirituality is something possible. Trong đạo Bụt thì đây không
phải là một điều khó khăn tại vì đạo Bụt thật ra không phải là một tôn
giáo. Đạo Bụt không bắt ta tin vào một vị thần linh hay tin vào những
giáo điều cứng ngắc. Đạo Bụt có rất nhiều tự do. Đứng trên phương diện
Phật tử thì chấp nhận chuyện đó là một điều dễ dàng.
Hạnh phúc chính là con đường
Vấn đề hạnh phúc có liên hệ tới con đường. Con đường đưa tới hạnh
phúc hay hạnh phúc chính là con đường? Nếu có một con đường và tin vào
con đường đó thì mình có hạnh phúc liền chứ không cần phải đi cực khổ
trên con đường bao nhiêu năm mới có hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta
phải tự hỏi: Mình có con đường chưa? Mình có hạnh phúc với con đường đó
không? Nếu có rồi thì đó là một điềm lành lớn. Khi đọc bài kệ tiếp chúng
ta thấy ý đó rõ ràng hơn.
Bài kệ 3
Nhược bất tùng thiên nhân 若不從天人
Hy vọng cầu kiểu hạnh 希望求僥倖
Diệc bất đáo thần từ 亦不禱神祠
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥
Dịch nghĩa:
Không chạy theo các giới trời và người,
để cầu mong ban phúc và tránh họa,
cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu,
đó là điềm lành lớn nhất.
Diệc bất tùng thiên nhân
Hy vọng cầu kiểu hạnh
Cầu kiểu
hạnh là cầu may. Xét theo tình trạng cách mình sống và làm việc thì mình
không có được kết quả đó nhưng mình cứ hy vọng, mong cầu nó sẽ xảy ra
cho mình
Diệc bất đảo thần từ
Thị vi tối cát tường
Không đi cầu khẩn ở các đền miếu, không đi theo các giới trời và
người để hy vọng người ta ban bố cho mình một hạnh phúc nào đó. Chúng ta
thêm vào chữ tránh họa cũng hay. Người ta đi cầu đảo như cúng sao giải
hạn, một phần là để cầu phúc, một phần là để tránh tai họa có thể xảy
đến cho họ. Không chạy theo các giới trời và người để cầu mong được phúc
và tai họa, cũng không có nhu yếu tới cầu đảo ở các đền miếu, đó là
điềm lành lớn nhất.
Đạo Bụt vốn không phải là một tôn giáo của sự
thờ cúng, tín mộ (devotion), nhưng người ta đã biến đạo Bụt thành ra
một tôn giáo của sự thờ cúng. Phần này không được nói rõ ràng trong Kinh
Nam Tông Tích Lan, ý không cần cầu đảo ở các đền miếu, chỉ có trong bản
chữ Hán. Ở đây nói rất rõ là chúng ta không cần một tôn giáo, không cần
một đức tin mà vẫn có thể có được một con đường tâm linh. Đạo Bụt không
hề mê tín dị đoan, đạo Bụt ở đây rất khoa học.
Có những người
theo đạo Bụt, nhưng khi vào trong các đình, chùa họ đem tiền lẻ ra cúng,
rồi nhét những đồng bạc lẻ ấy vào tay của Bụt, của Bồ Tát, của tổ sư để
cầu buôn bán thành công, làm ăn phát đạt, đi thi đậu, tình duyên không
bị trắc trở. Đó không phải là điềm lành theo tinh thần của Kinh, đó là
họ chưa có một con đường tâm linh. Chúng ta không mê tín dị đoan không
cầu đảo, cúng bái, mà chúng ta có một con đường tâm linh. Chúng ta phải
tin vào con đường và phải có hạnh phúc trong khi thực tập con đưòng đó.
Bài kệ 4
Hữu hiền trạch thiện cư 友賢擇善居
Thường tiên vi phúc đức 常先為福德
Sắc thân thừa trinh chánh 勅身承貞正
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥
Giải nghĩa:
Chọn được môi trường tốt,
có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức,
giữ lòng cho trinh bạch và chân chánh,
đó là điềm lành lớn nhất.
Hữu hiền trạch thiện cư: Trạch là chọn. Thiện là lành mạnh, không bạo
động, không đam mê. Cư là môi trường nơi cư trú. Trong tiếng Pali môi
trường tốt có nghĩa là Patirupa desa Vaso; patirupa là tốt, dễ chịu;
vaso là chỗ (cư). Đây là sự căn dặn, gửi gắm của Bụt, Người dạy: Khi
sống, chúng ta phải biết chọn một môi trường tốt cho chính mình và cho
các con cháu của mình. Sống trong một môi trường lành mạnh, có tình
thương thì đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành một người hữu ích cho xã hội,
còn nếu sống trong môi trường chứa đầy những bạo động, thèm khát thì lớn
lên chúng sẽ hư hỏng. Không chỉ chọn một môi trường tốt mà chúng ta còn
phải cùng nhau có ý thức tạo ra một môi trường tốt để người khác cũng
được nương nhờ. Khi quý vị có cơ hội được tham dự một khóa tu, quý vị
thấy môi trường của khóa tu rất tốt, ở đây quý vị cảm thấy thân tâm mình
khỏe nhẹ và hiền hậu hơn, nên khi về lại thành phố của mình quý vị mang
theo quyết tâm tạo ra một môi trường tu tập nhỏ mời bạn bè tới sinh
hoạt chung. Như vậy là không chỉ quý vị được hưởng, con cháu quý vị được
hưởng mà bè bạn xung quanh cũng được hưởng lây. Đó chính là lời nhắn
nhủ của Đức Thế Tôn. Mình phải chọn môi trường tốt và phải đóng góp vào
việc tạo ra môi trường tốt đó.
Có được môi trường tốt rất quan trọng. Những ý này có đầy đủ trong
Kinh Phước Đức. Nếu đem hai Kinh so sánh với nhau ta thấy tổng thể gần
như nhau, cấu trúc của hai kinh có khác nhau và có thêm vài sai khác nhỏ
nữa.
Trong Kinh Phước Đức nói rõ: Lánh xa kẻ xấu ác, gần gũi
người hiền, tôn kính bậc đáng kính. Tuy trong Kinh không dùng chữ môi
trường, nhưng chúng ta phải hiểu đó cũng là môi trường. Vấn đề môi
trường là một vấn đề rất lớn. Các sư cô, sư chú ở Bát Nhã dù có khó
khăn, có hiểm nguy đến mấy vẫn không chịu đi chỗ khác vì các sư cô, sư
chú thấy được rằng, môi trường tăng thân là quan trọng nhất. Đánh mất
môi trường tăng thân là đánh mất tất cả. Tìm ra được một môi trường tốt
là một dấu hiệu đại cát tường.
Trong giáo lý Tứ Thực tức Bốn loại
thức ăn thì lý tưởng của mình là một loại thức ăn. Là một người xuất
sĩ, chúng ta có lý tưởng. Chừng nào lý tưởng còn thì mình còn hạnh phúc,
chừng nào mình cảm thấy chán, mình đánh mất tâm ban đầu thì chừng đó
hạnh phúc không còn nữa. Lý tưởng là nguồn thực phẩm đầu tiên gọi là tư
niệm thực. Mình phải nuôi mình bằng chất liệu lý tưởng. Có chất liệu lý
tưởng thì hai mắt mình sáng, bước chân mình vững chãi, mình biết mình
đang đi về đâu vì mình đã có đường đi. Mình cứ tâm tâm niệm niệm rằng
mình có một lý tưởng và mình phải giữ cho lý tưởng, cho tâm ban đầu đó
sống mạnh hoài thì mình mới có hạnh phúc.
Nhưng làm sao cho lý tưởng được sống mãi, sống hoài? Làm sao để mình
đừng chán, đừng nửa chừng bỏ dở, tại vì mất lý tưởng là mất hết hạnh
phúc. Câu trả lời là phải có một môi trường, tại vì môi trường là chỗ để
nuôi dưỡng lý tưởng. Vì vậy chúng ta phải chọn cho được một môi trường,
chúng ta phải có tăng thân bên cạnh. Khi biết lánh xa kẻ xấu ác, thân
cận người hiền, tôn kính bậc đáng kính thì tự nhiên mình có môi trường
tốt, đó là tâm thức cộng đồng, là nguồn thực phẩm thứ hai: thức thực.
Mỗi sáng được ngồi thiền với nhau là mình đang tiêu thụ nguồn thực phẩm
đó. Hai trăm người cùng ngồi với nhau, người nào cũng thở, người nào
cũng làm lắng dịu thân tâm, buông bỏ những giận hờn, lo lắng, chế tác
được chất liệu hỷ và lạc. Trong khi ngồi thiền mình ăn thực phẩm đó,
mình để cho năng lượng rất hiền, rất lành của đại chúng thấm sâu vào
thân tâm mình. Ngồi thiền không phải là ngồi trong một ốc đảo có bao
nylon bọc kín xung quanh, không đi ra đi vào được. Ngồi thiền phải giống
như một giọt nước trong dòng sông, để dòng sông đưa mình đi. Vì vậy khi
ngồi xuống hành giả phải lập tức mở lòng ra để cho đại chúng ôm lấy
mình, để tiếp nhận năng lượng chánh niệm to lớn từ đại chúng.
Chúng
ta hãy tưởng tượng có một nhóm người bị cơn nghiện sai khiến, sắp sửa
đi đánh cướp để có tiền mua ma túy. Năng lượng đó rất xấu, nó vừa thèm
khát vừa bạo động, vừa hung dữ và mù quáng. Nếu mình ở trong nhóm người
như vậy thì mình đang hấp thụ những loại thực phẩm rất độc hại, do đó
mình phải lánh xa kẻ xấu ác, phải thân cận người hiền, phải tôn kính
những bậc đáng kính. Nếu không thì cả thân lẫn tâm của mình sẽ mang
bệnh. Muốn có sức khỏe thì phải có thực phẩm tốt, thực phẩm cho thân và
thực phẩm cho tâm. Mình phải tìm một môi trường lành, môi trường tăng
thân, trong đó mọi người đều có hướng đi, có lý tưởng tốt. Ở trong môi
trường đó thì tự nhiên thực phẩm mà mình tiêu thụ sẽ trở nên hiền lành.
Sống trong tăng thân thì lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, quét tước, dọn
dẹp, mình đều được bảo bọc bởi năng lượng hiền lành ấy. Đó là thức
thực, là năng lượng tập thể rất lành. Khi chấp tác với tăng thân, khi đi
thiền hay ngồi thiền với tăng thân thì quí vị phải biết tiêu thụ năng
lượng tập thể đó. Mỗi người trong chúng ta đều có lý tưởng, có niềm vui
và khi đi chung hay ngồi chung với nhau chúng ta sẽ tạo ra một năng
lượng tập thể rất tốt lành, rất bổ dưỡng. Khi đi vào trong đại chúng
mình phải mở lòng ra, mở hình hài ra để tiếp nhận năng lượng tốt đó. Đó
là nguồn thực phẩm thứ hai gọi là thức thực. Tuy chưa tu nhưng tới ngồi
đó mình đã thấy khỏe nhờ có năng lượng rất lành. Mình phải cảm thấy sự
có mặt của sư chị, sư anh, sư em ở xung quanh và mình cũng hiến tặng
năng lượng lành của mình cho sư chị, sư anh, sư em. Phía trước có sư
chị, sư anh, sư em, phía sau, bên trái, bên phải cũng có sư chị, sư anh,
sư em, phải thấy rõ ràng như vậy. Và mình cảm thấy hạnh phúc được ngồi
để thở và tiêu thụ không khí trong lành của tăng thân. Không khí đó do
chính mình chế tác, năng lượng tốt đó do mình tạo ra với nhau, mình được
hưởng thụ và các bạn thiền sinh tới với mình cũng được hưởng thụ.
Khi
lập Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu bên Đức chúng ta biết viện là một
trường học. Nhưng Viện Phật Học của mình không giống một trường học tại
vì trong viện có một tăng thân. Khi trình bày với báo chí, chúng tôi có
cắt nghĩa cho họ về sự khác biệt: Không phải chúng tôi chỉ có một trường
học và những giáo sư giảng dạy, mà chúng tôi còn có một tăng thân
thường trú. Tăng thân thường trú là một cơ thể đêm ngày chế tác ra năng
lượng lành. Những người tới tu học cũng được hưởng năng lượng lành này.
Họ được ngồi thiền, được đi thiền, được nghe Pháp, được ăn cơm với tăng
thân. Đó là một tư lương. Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu khác với những
trường học đại học khác tại vì nó có năng lượng sẵn đó để mình được
hưởng mỗi khi tới học một khóa. Chúng tôi cung cấp hai loại thực phẩm,
thứ nhất là lý tưởng và thứ hai là môi trường.
Trong thế giới hiện nay có quá nhiều bạo động, quá nhiều thèm khát,
nhiều kỳ thị và giận hờn. Nếu không biết giữ gìn thì mình sẽ bị năng
lượng đó thấm vào và
mình cũng sẽ bị sự bạo động, thèm khát tàn phá
sức khỏe và tàn phá sự tươi mát lành mạnh của mình và cả con cháu mình.
Khi các em bé được gửi trong một môi trường có thèm khát, bạo động thì
em bé sẽ hư. Năng lượng của sự bạo động, thèm khát, kỳ thị sẽ đi vào
trong em bé. Mình phải làm thế nào để cung cấp cho em bé một môi trường
tốt. Hiện nay trong học đường có rất nhiều bạo động, kỳ thị cho nên
nhiều bậc cha mẹ không muốn gửi con mình tới trường mà trái lại muốn làm
ra một ngôi trường để con mình tới học. Họ bàn với nhau thành lập nên
ngôi trường hiền lành cho con mình đi học. Điều đó thuộc về vấn đề thực
tập chế tác môi trường.
Khi lấy thức ăn, đi vào thiền đường, ngồi
xuống ăn cơm với đại chúng thì mình tiếp nhận nhiều nguồn thực phẩm:
Thực phẩm trong bát là đoàn thực (edible food). Còn những sư anh, sư
chị, sư em và những bạn tu đang ngồi thở, mỉm cười hạnh phúc và cảm thấy
có hỷ có lạc, là thức thực. Mình không chỉ tiêu thụ thức ăn trong bát
mà còn tiêu thụ tình anh chị em đó là năng lượng lành mạnh và thánh
thiện của tăng thân. Một bữa ăn như vậy không phải chỉ là ăn cơm mà còn
có những món ăn tinh thần rất bổ dưỡng. Đi thiền hành cũng là ăn năng
lượng của tăng thân, đi như một dòng sông. Ngồi thiền chung cũng là một
sự tiêu thụ. Đừng tự bỏ đói mình, đi ngồi thiền là đi ăn, là đi tiếp
nhận thực phẩm. Mỗi chúng ta phải có cái nhìn như vậy về sự thực tập.
Tại sao lại trốn ngồi thiền, trốn thiền hành? Tại sao lại bỏ đói chính
mình? Mình cần những thức ăn bổ dưỡng đó. Mỗi khi gần đến giờ ngồi thiền
mình phải tới ngồi trước năm mười phút tại vì nó rất lành mạnh và bổ
dưỡng cho tâm hồn. Mình phải thấy niềm vui trong khi thực tập thiền đi,
thiền ngồi, thiền thở. Trong truyền thống của chúng ta, thực tập thiền
tức là nuôi dưỡng. Niềm vui, hạnh phúc của sự thực tập thiền là thức ăn
(thiền duyệt vi thực).
Sở dĩ trong thời khóa có giờ ngồi thiền,
giờ đi thiền là để mình ăn. Chính lúc chấp tác cũng vậy, khi chấp tác
mình có thức ăn của tình huynh anh chị em. Chính mình chế tác ra thức ăn
đó, thức ăn này không phải được mua ngoài chợ. Thức ăn này chính do
mình tự chế tác ra cũng như rau do tự mình trồng.
Thường tiên vi
phúc đức: Trong bản tiếng Việt chúng ta có câu: Thường tạo tác nhân
lành. Trong bản chữ Hán cũng như trong bản Pali có ý: Trong quá khứ đã
có cơ hội tạo tác nhân lành. Chữ tiên ở đây có nghĩa như vậỵ Chúng ta
nên sửa lại là: Đã có dịp gieo trồng những hạt giống tốt và đã làm những
việc phúc đức, cho đúng với nguyên văn. Quý vị hãy ngồi hồi tưởng lại
xem trong quá khứ mình đã có cơ hội gieo trồng hạt giống lành hay chưa?
Quý vị đã tụng bài:
Các Đức Thế Tôn thường trú trên đời, xin thương xót con.
Nếu con đã từng bố thí, dù chỉ là một nắm cơm.
Nếu con đã từng từng cứu độ chúng sanh, dù chỉ là vài con sâu con kiến.
Nếu con đã từng nói lời dễ thương, dù chỉ một vài câu làm cho người bớt khổ.
Nếu
ngồi nhớ ra rằng mình đã từng gieo những hạt giống như vậy trong quá
khứ thì mình nên mừng vì đó là điềm lành. Trong Kinh Pháp Hoa có nói: Có
những nhân thấy rất nhỏ, nhưng chính những nhân đó đưa chúng ta tới kết
quả rất lớn. Có một người đi vào trong tháp hay trong miếu tự nhiên
thốt ra: nam mô A Di Đà Phật, chỉ cần nói một câu nhưng chính nhờ hạt
giống nhỏ xíu ấy mà sau này người đó thành Phật (Nhất sinh nam mô Phật, da dĩ thành Phật đạo). Mình
đã từng phát khởi được tâm niệm lành, đã từng nói được lời lành và đã
từng làm được điều lành thì tất cả những điều lành trở thành vốn liếng
của mình. Sau này mình thành công được là nhờ vốn liếng đó. Mình đã tạo
tác những nhân lành trong quá khứ và trong giây phút hiện tại mình có
thể làm thêm.
Sắc thân thừa trinh chánh: Chữ sắc 勅 ở đây không có
nghĩa là hình sắc mà có nghĩa là giữ gìn cẩn thận. Trong chữ sắc có chữ
lực 力 tức là công phu lao tác. Sắc có nghĩa là giữ gìn để bảo hộ. Có
khi chữ sắc cũng được dùng như chữ sức 飾 tức đồ trang sức. Chữ sắc chúng
ta có thể hiểu như chữ sức tức là làm đẹp cho tự thân. Thân là tự thân.
Trinh là sự trong sáng không chung chạ bậy bạ. Chánh là thẳng, không
nghiêng, là đoan chính, không có tâm tà, không đi quyến rũ người, không
lẳng lơ, giữ cho thật thẳng, thật trong sáng.
Sắc thân thừa trinh
chánh, chữ thừa ở đây có nghĩa là đảm đang, nắm lấy tình trạng, chịu
trách nhiệm về cái đó. Thừa là tiếp nối, nhận lấy trách nhiệm. Mình phải
chịu trách nhiệm về việc làm đẹp cho tự thân bằng sự trinh bạch và chân
chính. Câu này chúng ta có thể dịch như sau: Biết làm đẹp cho tự thân
bằng sự trinh bạch và chân chính. Giữ thân cho trinh bạch và chân chính,
đó là điềm lành lớn nhất.
Chúng ta đã từng nghe pháp thoại về
đau khổ và hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau cũng như
sen và bùn. Trong vị ngọt của hạnh phúc có vị đắng của khổ đau. Chúng ta
biết gốc rễ của các cảm thọ nằm ở sắc, hành và tưởng. Sắc, thọ, tưởng
và hành là bốn dòng sông. Những lạc thọ, khổ thọ và xả thọ đều có gốc rễ
ở sắc uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Chúng ta đã học rằng, xử lý khổ đau
cũng là tạo dựng hạnh phúc. Mỗi giây phút là một cơ hội cho mình xử lý
khổ đau và là một cơ hội cho mình tạo dựng hạnh phúc.
Người hành
giả phải có khả năng của người làm vườn tức là phải chuyển hóa được rác
và chế tác ra hoa. Chúng ta chỉ có thể nhận diện lạc thọ một cách rõ
ràng trên bối cảnh của khổ đau. Nhờ có khổ đau mà mình nhận diện được
hạnh phúc. Vì vậy chúng ta không nên đàn áp khổ đau, không nên chạy trốn
khổ đau. Chúng ta có thể sử dụng khổ đau để làm nổi bật lên hạnh phúc.
Chúng ta không đàn áp, không chạy trốn khổ thọ, phải ôm lấy khổ thọ để
nhận diện hạnh phúc đang có.
Có một điều mà chúng ta cần phải học là
những cái gọi là xả thọ đều có thể được hành giả biến thành lạc thọ. Cái
mà ta gọi là xả thọ, chính nó là một an thọ. Đau răng là khổ thọ, không
đau răng là xả thọ. Nhưng thật ra không đau răng có thể là lạc thọ
(feeling of well-being). Một neutral feeling có thể biến thành một
feeling of well-being.
Trong dòng sông cảm thọ của chúng ta có
rất nhiều giọt nước khổ thọ, nhưng cũng có một số giọt nước lạc thọ và
rất nhiều giọt nước xả thọ. Nhưng đối với người tu tất cả xả thọ đều có
thể biến thành lạc thọ. Khi biết đem chánh niệm soi vào thì xả thọ sẽ
thành lạc thọ. Không đau răng là một hạnh phúc, không bệnh tật là một
hạnh phúc, sự vắng mặt của đam mê, của giận hờn có thể trở thành hạnh
phúc. Chúng ta có quyền thực tập câu linh chú thứ năm: Đây là giây phút
hạnh phúc (This moment is a happy moment). Bất cứ giây phút nào chúng ta
cũng có thể đọc câu linh chú này, trước khi làm việc, trong khi làm
việc, trước khi ăn cơm, trong khi ăn cơm. Khi ta có chánh niệm thì giây
phút đó trở thành ra lạc thọ.
(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 29.12 tại chùa Cam
Lộ - Xóm Hạ trong thiền đường Hội Ngàn Sao trong mùa An Cư 2009-2010)
Phiên tả: Chân Giác Lưu