BA BÀI PHÁP ĐẦU TIÊN
Bình Anson
Tham khảo:
Đại phẩm, Luật tạng, Chương Ia & Chương Ib

Bản đồ nơi Đức Phật giảng ba bài pháp đầu tiên

Dàn bài "Ba bài pháp đầu tiên"

Dàn bài Kinh Chuyển Pháp Luân
KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN
Dhammacakkappavattana Sutta (SN 56.11)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana, chỗ Vườn Nai.
2) Tại đấy, Thế Tôn bảo chúng năm Tỳ-khưu:
-- Có hai cực đoan này, này các Tỳ-khưu, một người xuất gia không
nên thực hành theo. Thế nào là hai?
3) Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm
phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự
hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục
đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỳ-khưu, là con đường Trung
đạo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an
tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
4) Và thế nào là con đường Trung đạo, này các Tỳ-khưu, do Như Lai
chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng
trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức
là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung
đạo, này các Tỳ-khưu, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác
thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
*
5) Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-khưu. Sinh là khổ, già là khổ,
bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau
là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ
uẩn là khổ.
6) Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỳ-khưu, chính là ái này đưa
đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ
kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
7) Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỳ-khưu, chính là ly tham,
đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải
thoát, không có chấp trước.
8) Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỳ-khưu,
chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh
niệm, chánh định.
*
9) Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh
sinh, quang sinh. Ðây là Thánh đế về Khổ cần phải liễu tri,
này các Tỳ-khưu, đối với các pháp, từ trước Ta chưa từng nghe, nhãn
sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh sinh, quang sinh. Ðây là Thánh đế về
Khổ đã được liễu tri, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ trước Ta
chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh sinh, quang
sinh.
10) Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh
sinh, quang sinh. Ðây là Thánh đế về Khổ tập cần phải đoạn tận,
này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe,
nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh sinh, quang sinh. Ðây là Thánh
đế về Khổ tập đã được đoạn tận, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh
sinh, quang sinh.
11) Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp
từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh
sinh, quang sinh. Ðây là Thánh đế về Khổ diệt cần phải chứng ngộ,
này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe,
nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh sinh, quang sinh. Ðây là Thánh
đế về Khổ diệt đã được chứng ngộ, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp
từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh
sinh, quang sinh.
12) Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến khổ diệt, này các Tỳ-khưu,
đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí
sinh, tuệ sinh, minh sinh, quang sinh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường
đưa đến Khổ diệt cần phải tu tập, này các Tỳ-khưu, đối với
các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ
sinh, minh sinh, quang sinh. Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến
Khổ diệt đã được tu tập, này các Tỳ-khưu, đối với các pháp từ trước
Ta chưa từng được nghe, nhãn sinh, trí sinh, tuệ sinh, minh sinh,
quang sinh.
*
13) Cho đến khi nào, này các Tỳ-khưu, trong bốn Thánh đế này, với ba
chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo
thanh tịnh ở nơi Ta; thời này các Tỳ-khưu, cho đến khi ấy, trong thế
giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng
Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không chứng tri đã
chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
14) Và cho đến khi nào, này các Tỳ-khưu, trong bốn Thánh đến này,
với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã
được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỳ-khưu,
trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với
quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng
tri đã chánh giác vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tri kiến khởi lên nơi
Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng,
nay không còn tái sinh nữa".
*
15) Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Chúng năm Tỳ-khưu hoan hỷ, tín thọ
lời Phật dạy. Trong khi lời dạy này được tuyên bố, Tôn giả Kondanna
khởi lên pháp nhãn thanh tịnh, không cấu uế như sau: "Phàm vật gì
được tập khởi, tất cả pháp ấy cũng bị đoạn diệt".
16) Và khi Pháp luân này được Thế Tôn chuyển vận như vậy, chư Thiên
cõi đất này lớn tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế
Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một
Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư
Thiên, Ma vương, Phạm thiên, hay bất cứ một ai ở đời".
17) Sau khi được nghe tiếng chư Thiên ở cõi đất, Tứ đại Thiên vương
thiên lên tiếng nói lên: "Nay vô thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở
Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ, tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp
luân chưa từng được ai chuyển vận, Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma
vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở đời".
18) Sau khi được nghe tiếng của chư Thiên ở Tứ đại Thiên vương
thiên, thời chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba, chư Thiên Yàmà (Dạ-ma),
chư Thiên Tusità (Đâu-suất-đà), chư Hóa lạc thiên, chư Tha hóa tự
tại thiên, chư Thiên ở Phạm thiên giới lớn tiếng nói lên: "Nay vô
thượng Pháp luân này được Thế Tôn ở Ba-la-nại, chỗ chư Tiên đọa xứ,
tại Vườn Nai, chuyển vận một Pháp luân chưa từng được ai chuyển vận,
Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ một ai
ở đời".
19) Như vậy, trong sát-na ấy, trong khoảnh khắc ấy, trong giây phút
ấy, tiếng ấy lên đến Phạm thiên giới. Và mười ngàn thế giới chuyển
động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng, quảng
đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên.
20) Rồi Thế Tôn thốt lên lời cảm hứng sau đây: "Chắc chắn đã giác
hiểu là Kondanna (Kiều-trần-như)! Chắc chắn đã giác hiểu là
Kondanna!"
Như vậy Tôn giả Kondanna được tên là Annàta Kondanna (A-nhã
Kiều-trần-như -- Kiều-trần-như người đã giác hiểu).
KINH VÔ NGÃ TƯỚNG
Anatta-lakkhana Sutta (SN 22.59)
) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên
đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỳ-khưu: "Này các Tỳ-khưu". –
"Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn
nói như sau:
3) – Sắc, này các Tỳ-khưu, là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, nếu sắc là
ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như
sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi
chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì sắc là vô ngã, sắc đi đến bệnh hoạn, và
không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong
rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
4) Thọ, này các Tỳ-khưu, là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, nếu thọ là ngã,
thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau:
"Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải
như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì thọ là vô ngã, thọ đi đến bệnh hoạn, và không
thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng
thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
5) Tưởng, này các Tỳ-khưu, là vô ngã. Này các Tỳ-khưu, nếu tưởng là
ngã, thời tưởng không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được tưởng như
sau: "Mong rằng tưởng của tôi như thế này! Mong rằng ưởng của tôi
chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì tưởng là vô ngã, tưởng đi đến bệnh hoạn, và
không thể có được các tưởng: "Mong rằng tưởng của tôi như thế này!
Mong rằng tưởng của tôi chẳng phải như thế này!"
6) Các Hành là vô ngã, này các Tỳ-khưu, nếu các hành là ngã, thời
các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau:
"Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi
chẳng phải như thế này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì các hành là vô ngã, các hành đi đến bệnh
hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như
thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!"
7) Thức là vô ngã, này các Tỳ-khưu, nếu thức là ngã, thời thức không
thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: "Mong rằng
thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế
này!"
Và này các Tỳ-khưu, vì thức là vô ngã, thức đi đến bệnh hoạn, và
không có thể có được thức: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong
rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
8)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô
thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán
cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
9)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Thọ là thường hay vô
thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán
cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
10)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Tưởng là thường hay vô
thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán
cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
11)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? các Hành là thường hay vô
thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn!
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán
cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
12)
– Này các Tỳ-khưu, các Ông nghĩ thế nào? Thức là thường hay vô
thường?
– Là vô thường, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
– Là khổ, bạch Thế Tôn.
– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán
cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã
của tôi"?
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
13)
– Do vậy, này các Tỳ-khưu, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại,
thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả
sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không
phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã
của tôi".
Phàm thọ gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay
tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán
với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm tưởng gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô
hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật
quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm các hành gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô
hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật
quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay
tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán
với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
14) Thấy vậy, này các Tỳ-khưu, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với
sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các
hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị
ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải
thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc
nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
15) Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỳ-khưu hoan hỷ, tín thọ lời
Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị
Tỳ-khưu được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
KINH LỬA CHÁY
Aditta-pariyaya Sutta (SN 35.28)
Vài tháng sau khi giác ngộ, Ðức Phật giảng bài pháp nầy
cho 1,000 tu sĩ theo phái thờ thần lửa đồi Gayasisa. Qua lối giảng siêu việt
của Ngài, Ðức Phật đã dùng
ví dụ về lửa cháy (lửa tham, sân, si)
để dạy về tâm xả ly đối với các cảm
thọ qua sáu căn. Sau khi nghe bài giảng nầy, toàn thể
thính chúng đắc quả A-la-hán.
*
1) Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasìsa cùng với một ngàn
Tỳ-khưu.
2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-khưu:
–Tất cả, này các Tỳ-khưu, đều bị bốc cháy. Và này các Tỳ-khưu, tất
cả cái gì đều bị bốc cháy?
3) Mắt, này các Tỳ-khưu, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức
bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc nên khởi lên
cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị
bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta
nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
4) Tai, này các Tỳ-khưu, bị bốc cháy. Các thinh bị bốc cháy. Nhĩ
thức bị bốc cháy. Nhĩ xúc bị bốc cháy. Do duyên nhĩ xúc nên khởi lên
cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị
bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta
nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
5) Mũi, này các Tỳ-khưu, bị bốc cháy. Các hương bị bốc cháy. Tỷ thức
bị bốc cháy. Tỷ xúc bị bốc cháy. Do duyên tỷ xúc nên khởi lên cảm
thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc
cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói
rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
6) Lưỡi bị bốc cháy. Các vị bị bốc cháy. Thiệt thức bị bốc cháy.
Thiệt xúc bị bốc cháy. Do duyên thiệt xúc nên khởi lên cảm thọ gì,
lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy
bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng
bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
7) Thân bị bốc cháy. Các xúc bị bốc cháy. Thân thức bị bốc cháy.
Thân xúc bị bốc cháy. Do duyên thân xúc nên khởi lên cảm thọ gì,
lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy
bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng
bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
8) Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị
bốc cháy. Do duyên thân xúc nên khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay
bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị
bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi
sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
9) Thấy vậy, này các Tỳ-khưu, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối
với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức,
nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì,
lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các thinh, nhàm chán đối
với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc. Do duyên nhĩ xúc khởi lên
cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với
cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối
với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc. Do duyên tỷ xúc khởi lên cảm
thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm
thọ ấy.
Nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với
thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc. Do duyên thiệt xúc khởi lên
cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với
cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với
thân thức, nhàm chán đối với thân xúc. Do duyên thân xúc khởi lên
cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với
cảm thọ ấy.
Nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý
thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì,
lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.
Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải
thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết rằng: "Ta đã giải
thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc
nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa".
10) Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế
Tôn dạy.
11) Và trong khi lời giảng giải này được nói lên, tâm của một ngàn
Tỳ-khưu ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Vườn Lộc Uyển, nơi Đức Phật giảng pháp lần đầu. (Sarnath - TP. Varanasi) (Ảnh: Bình Anson)
Nguồn: http://budsas.110mb.com/dlpp/bai23/index.htm
Sarnath (Hindi: सारनाथ) or Sārnātha (also Mrigadava, Migadāya, Rishipattana, Isipatana) is the deer park where Gautama Buddha first taught the Dharma, and where the Buddhist Sangha came into existence through the enlightenment of Kondanna. Sarnath is located 13 kilometres north-east of Varanasi, in Uttar Pradesh, India. Singhpur, a village one km away from the site, was the birth place of Shreyansanath, the eleventh Jain Tirthankar of the present age (Avasarpini), and a temple dedicated to him, is an important Jain pilgrimage.
Isipatana is mentioned by the Buddha as one of the four places of pilgrimage which his devout followers should visit, if they wanted to visit a place for that reason.[1]