Hội nhập | Ghi Danh RSS
  • THƯ VIỆN HOA SEN
    • Mục Đích
    • Tự Điển Phật Học
      • Từ điển Phật Quang
      • Tự Ðiển Phật Học Thiện Phúc
    • Tự Điển Đa Ngôn Ngữ và Công Cụ Dịch
    • Index Tác giả
  • Kinh
    • Giới Thiệu Kinh
    • Kinh Pali
    • Kinh Sanskrit/Hán Tạng
    • Giảng Giải Kinh
  • Luật
  • Luận
    • Pháp Luận
    • Phật Học
    • Phật Học Cơ Bản
    • Phật Học Vấn Đáp
    • Duy Thức Học
    • Tánh Không
    • Phật Học Ứng Dụng
  • Tịnh Độ
    • Trợ Niệm Vãng Sanh
    • Ban Hộ Niệm Vãng Sanh
  • Thiền
    • Thiền Đại Thừa
    • Thiền Nguyên Thủy
    • Thiền Tổ Sư
  • Kim Cang Thừa
    • Kim Cang Thừa
    • Truyền Thừa Drukpa
      • ĐPV Gyalwang Drukpa XII khai thị
    • Gallery
  • THƯ VIỆN E BOOKS
    • .EPUB
    • .PRC
    • .PDF
    • .PDF (Kindle 3)
    • ĐỌC SÁCH ONLINE VỚI ĐỊNH DẠNG 3D
  • TIN TU HỌC
  • Danh Mục Khác
    • Sử Phật Giáo
    • Văn Hóa Phật Giáo
      • Văn Học Phật Giáo
    • Phật Giáo Thế Giới
    • Phật Giáo Việt Nam
      • Vua Trần Nhân Tông
      • PGVN 1963-1975
      • Bồ Tát Quảng Đức
      • HT. Thích Đôn Hậu
      • Bát Nhã Làng Mai
    • Chuyên Đề
      • Quán Thế Âm Bồ Tát
      • Tuyển Tập Phật Đản
      • Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc 2008
      • Tuyển Tập Vu Lan
      • Tuyển Tập Thành Đạo
      • Tuyển Tập Xuân
      • Di Tích Phật Giáo
    • Nghi Thức
    • Khoa Học
    • Kinh Tế Chính Trị
    • Gíao Dục Hoằng Pháp
      • Học Viện Phật Giáo
    • Môi Sinh
    • Nữ Giới
    • Hôn Nhân
    • Cư Sĩ Phật Giáo
    • HỘ PHÁP
      • Diễn Đàn Phật Tử
      • Hiện Tượng Thích Thông Lạc
      • Hiện Tượng Duy Tuệ
    • Tôn Giáo/Triết Học
      • Tôn Giáo Bạn
      • Krishnamurti
    • Truyện Phật Giáo
      • Trần Kiêm Đoàn
      • Huỳnh Trung Chánh
      • Vĩnh Hữu
      • Vĩnh Hảo
      • Các Tác Gỉa Khác
      • Tuỳ Bút/Ký Sự
      • Truyện Cổ Phật Giáo
    • Thơ-Nhạc-Pháp Âm
      • Tụng Kinh
      • Giảng Kinh
      • Thuyết Pháp
      • Phát Thanh
      • Video-Trực Tuyến
      • Đọc sách
      • Thơ
      • Nhạc Phật Giáo
    • Xây Chùa Đúc Tượng
    • Dinh Dưỡng Chay
    • Sức Khỏe - Sống Chết
    • Từ Thiện Xã Hội
    • Du Lịch Hành Hương
    • Chùa Việt Nam
    • Phật Pháp Tuổi Trẻ
    • Phật Pháp Thiếu Nhi
    • Nguyệt San Giác Ngộ
    • Các Tạp Chí Phật Giáo Khác
    • Luận Văn Tốt Nghiệp/Tham Luận Hội Thảo
    • Cuộc Sống
TIN TỨC
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NHẬN GIẢI THƯỞNG TEMPLETON Ở LONDON
vào thứ Hai ngày 14/05/2012 để nhận một giải thưởng trị giá 1,7 triệu US dollars vì các hoạt động mang lại lợi ích cho việc nghiên cứu khoa học và cho sự hài hòa giữa các tôn giáo.
LỄ TƯỞNG NIỆM 49 NĂM BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU THÂN (20/04/1963 - 20/04/2012)
ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL. 2556 DL. 2012 TẠI SAN JOSE CALIFORNIA
TIN TU HỌC
Thiền viện Nguyên Thủy sẽ tổ chức Khóa Thiền Vipassanā Quốc tế “Tứ niệm xứ - Pa Auk năm 2012”,
do Thiền sư ASHIN AGGANNA, Thiền sư U TEJINDA, quốc tịch Myanmar hướng dẫn
PHOWA COURSE ORANGE COUNTY, CALIFORNIA
Phowa, một pháp môn trong Kim Cang Thừa của Phật Giáo Tây Tạng. Pháp này dạy cách chuyển di thần thức về Cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà, nương theo đại nguyện của Ngài
CÁC KHÓA THIỀN VIPASSANA 2012 Do Thiền sư S.N. Goenka và các Thiền sư phụ tá giảng dạy theo truyền thống của ngài Sayagyi U Ba Khin Tại TỊNH XÁ NGỌC THÀNH, VIỆT NAM
Khách Thăm Viếng
Số lượt truy cập
1,812,732
Số người online
: 85
Thành viên
: 0
Khách
: 85
Tìm kiếm
Kinh | Kinh Sanskrit/Hán Tạng 
KINH A DI ĐÀ. Thích Trí Tịnh
(04/25/2010) (Xem: 28905)



KINH A DI ĐÀ. Thích Trí Tịnh
Hán dịch: nhà Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Saigon, Việt Nam


1. Kỳ Viên đại hội.

Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, cấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội: đều là bậc A La Hán mọi người đều quen biết, như là: Trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Đại Ca-Diếp, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, Ma-Ha Câu-Hy-La, Ly-Bà-Đa, Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già, Nan-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, Kiều-Phạm-Ba-Đề, Tân Đầu-Lư-Phả-La-Đọa, Ca-Lưu-Đà-Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lầu-Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn-Thù-Sư-Lợi: Pháp-Vương-Tử, A-Dật-Đa Bồ Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ tát... cùng với các vị Đại Bồ tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích-Đề-Hoàn-Nhơn..v..v.. đại chúng cùng đến dự hội.

2. Y báo, Chánh báo.

Bấy giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng: "Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.

3. Y báo trang nghiêm

Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.

Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch.

Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời mạn đà la. Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành.

Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.

Tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần..v..v.. Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!

Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ.

Xá-Lợi-Phất! Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi.

Xá-Lợi-Phất! Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.

4. Chánh báo vô lượng thù thắng.

Xá-Lợi-Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?

Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà.

Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.

Xá-Lợi-Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn nại đến nay, đã được mười kiếp.

Xá-Lợi-Phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bực A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ tát chúng cũng đông như thế.

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.

Xá-Lợi-Phất! Lại trong cõi cực lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực bất thối chuyển.

Trong đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a-tăng-kỳ để nói thôi!

Xá-Lợi-Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó. Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ.

5. Nhơn sanh vãng lai

Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.

Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.

Xá-Lợi-Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.

Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.

6. Sáu phương Phật đồng khuyên tin

Xá-Lợi-Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A-Súc-Bệ-Phật, Tu-Di-Tướng Phật, Đại-Tu-Di Phật, Tu-Di-Quang Phật, Diệu-Âm Phật; Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Nam, có đức Nhật- Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu Di-Đăng Phật, Vô-Lượng-Tinh-Tấn Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại-Minh Phật, Bửu-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm-Kiên-Phật, Tối-Thắng-Âm Phật, Nan-Trở Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng-Minh Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương dưới, có đức Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Đạt-Mạ Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương trên, có đức Phạm-Âm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc Bửu-Hoa-Nghiêm-Thân Phật, Ta La-Thọ-Vương Phật, Bửu-Hoa Đức Phật, Kiến-Nhất-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật... Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này".

Xá-Lợi-Phất! Nơi ý của ông nghĩ thế nào, vì sao tên là Kinh: Nhứt-Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm?

Xá-Lợi-Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Xá-Lợi-Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói.

Xá-Lợi-Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về.

Xá-Lợi-Phất! Cho nên các thiện nam tử thiện nữ nhân nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.

7. Thuyết kinh rất khó

Xá-Lợi-Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: "Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin này". Xá-Lợi-Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó! Đức Phật nói kinh này rồi, ngài Xá-Lợi-Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A-Tu-La, v..v.. nghe lời của đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ mà lui ra. Phật nói kinh A Di Đà.


Thích Nghĩa:

1. Trong kinh này, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuật nói chánh báo và y báo thù thắng trang nghiêm của đức Phật a Di Đà Phật.

2. Triều Tấn (Tàu), Diệu Hưng chiếm một phần đất xưng Vương, quốc hiệu là Tần nên gọi là Diệu Tần. Bậc thông hiểu tam tạng kinh, luật và luận, có thể giảng nói để dạy mọi người nên gọi là Tam Tạng Pháp Sư. Ngài Cưu Ma La Thập người xứ Thiên Trúc, qua Tàu làm một nhà dịch kinh chữ Phạn ra chữ Tàu có danh tiếng nhất.

3. Ông Cấp Cô Độc Trưởng Giả mua khu vườn của ông Kỳ Đà Thái Tử, con vua Ba-Tư-Nặc, nước Xá Vệ. Thái tử cúng luôn rừng cây trong đó, rồi hai người chung sức nhau dựng Tịnh Xá dể thỉnh Phật cùng chúng hội về ở. Do đó nên hiệp cả hai tên của hai người để đặt tên chốn ấy mà gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên vậy. Đệ tử của đức Phật rất đông, không phải chỉ có 1.250 người, nhưng vì 1.250 vị Đại A-La-Hán nầy là những vị được Phật độ trước và theo hầu cận bên Phật luôn, nên trong kinh thường ước lược nói số đó.

4. A-Dật-Đa là tên của đức Di-Lặc Bồ Tát. - Càn-Đà Ha-Đề Bồ Tát là ngài Bất-Hưu-Tức Bồ Tát - Thích-Đề-Hoàn-Nhân là tên của Đế Thích, vua cõi trời Đao Lợi.

5. Y báo là chỗ nương ở, nhà cửa, ao rừng v..v.. gọi chung là cõi nước, trong đây y báo là nước cưc lạc. - Chánh báo là quả báo chánh thể, tức là loài người, trời, chim thú..v..v.. trong đây chánh báo là đức Phật A Di Đà cùng Bồ tát, Thanh Văn ..v..v..

[6]. Cõi nước ta đương ở đây gọi là Ta Bà có không biết bao nhiêu điều khổ lụy, nào tam khổ, bát khổ. Trái lại, bên cõi Cực lạc chỉ thuần có những điều vui sướng, nào tam lạc, bát lạc.

6.1 Khổ ở cõi Ta Bà

Tam Khổ:

1. Khổ khổ: mang thân sắc người nặng nề, nhơ uế, sống nay chết mai nầy đã khổ lắm rồi, mà trên cái khổ đó lại còn chồng thêm không biết bao nhiêu là sự khổ khác nữa, như già, bệnh, đói khát, nóng rét..v..v..

2. Hoại khổ: vô thường biến đổi, thân mạng như chỉ mành, tang thương xây chuyển, như sương đầu cỏ.

3. Hành khổ: trong mỗi niệm, tâm tưởng, biến chuyển luôn không ngừng.

Bát Khổ:

1. Sanh khổ: ở thai bào tối tăm nhơ uế, lọt lòng khổ trăm bề.

2. Lão khổ: lụm cụm già nua, mắt mờ tai điếc, trí lãng, lưng mỏi, gối dùn, mặt nhăn đầu bạc.

3. Bệnh khổ: đau rên bứt rứt, nhức nhối xót xa, ngồi nằm không yên, đi đứng không được.

4. Tử khổ: ngộp mệt, lộn tròng, méo miệng, chuyển xương, gân rút.

5. Cầu bất đắc khổ: lợi danh không toại, muốn phước trở mang họa, cầu thọ mà yểu vong.

6. Ái biệt ly khổ: cốt nhục phân tán, sanh biệt tử ly.

7. Oán tắng tội khổ: oan gia, đối đầu, cừu thù gặp gỡ.

8. Ngũ ấm xí thạnh khổ: thân tâm dời đổi biến diệt, phút phút chẳng dừng, như ngọn lửa phừng phừng không khác.

6.2 Vui ở Cực Lạc

Tam Lạc:

1. Lạc trung lạc: thân cùng độ đều thù thắng, thân nhẹ, cõi xinh, ấm no, khương kiện...

2. Bất biến hoại lạc: thân mạng trường tồn, cõi nước không thiêu diệt...

3. Bất động trí lạc: định huệ dung thông, chánh tri bất động...

 

Bát lạc:

1. Sanh Lạc: thác chất liên hoa, thanh tịnh hóa sanh..

2. Vô lão lạc: mãi mãi trẻ trung, không già không yếu...

3. Vô bịnh lạc: hằng hằng khương kiện, không bệnh, không đau yếu...

4. Vô tử lạc: thọ mạng vô cùng, trường sanh bất diệt...

5. Toại nguyện lạc: tùy ý quả toại, y thưc tự nhiên...

6. Vô ái biệt ly lạc: bạn lành hải chúng, thân cận không rời..

7. Vô oán tắng hội lạc: thuần là Thượng-Thiện-Nhân, đồng tâm xứng ý..

8. Vô ngũ ấm thạnh lạc: thân tâm thanh tịnh, thường trụ không dời..

Không đâu khổ bằng Ta Bà, không đâu vui bằng Cực Lạc, vì thế mọi người nên nhàm lìa chốn Ta bà mà nguyện về chốn Cực Lạc.

7. Bốn báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê. Trong đây nói bốn báu mà chính là gồm bảy báu: vàng ,bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, và mã não. Trong Quán Kinh nói: hoặc có thứ cây thuần bằng vàng, hoặc có thứ cây thuần bằng bạc..v..v.. hoặc có thứ cây thân vàng lá bạc, nhánh lưu ly..v..v.. - Dầu bằng chất thất bửu chớ vẫn là cây sống, cũng như cây bên này bằng chất gỗ.

8. Trong đây nói đất là chỉ thuận theo tiếng nầy mà gọi thế, chớ chính thật cõi Cực Lạc thuần bằng chất vàng.. Tuyệt không có thứ đất bùn cát sỏi. - Tám công đức của nước trong ao bên Cực Lạc: trong sạch, nhẹ nhàng, mát mẻ, ngon ngọt, đượm thuần, êm đềm hòa huỡn, uống vào hết đói khát, và bổ khỏe thân tâm.

9. Người nước Cực Lạc đều có thần túc thông, trong nháy mắt có thể đi trải qua vô lượng thế giới. Đi kinh hành là đi vòng quanh chậm rãi, vừa đi vừa suy gẫm tưởng niệm những pháp lành. Phật, Pháp và Tăng... Đi kinh hành có hai điều lợi ích: (1) Thâu nhiếp tâm tưởng vào chánh niệm, phục trừ tà niệm loạn tưởng cùng biếng lười ngủ nghỉ, và (2) điều hoà thân thể, huyết khí lưu thông, tiêu hóa dễ dàng.

10. Tinh, tấn, niệm, định, huệ: người tu hành có năm đức nầy thời vững chắc trên đường đạo như cây có rễ nên gọi là ngũ căn (cội rễ). Nếu tất cả cảnh duyên không thể khuấy rối làm lay động được, thời năm đức trên gọi là ngũ lực (sức mạnh). Thất Bồ Đề Phần cũng gọi là Thất giác chi (7 đức giác ngộ) là Trạch pháp, Niệm, Tinh tấn, Hỉ, Khinh an, Định, và Xả. Bát Thánh Đạo Phần là Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, và Chánh định. — trong cõi Ta bà nầy, những loài chim nhiếp thuộc vào súc sanh đạo, một ác đạo trong lục đạo, do ác nghiệp tội khiên mà chiêu cảm ra khổ báo ấy. Chim bên Cực Lạc thời khác hẳn, không phải là giống vật do tội báo cảm vời sanh ra, mà do thần lực của đức A Di Đà biến hóa ra để làm cho pháp âm được lưu chuyển khắp trong nước.

11. Đoạn nầy là đức Phật tự định danh nghĩa của ba đức A di Đà, vì có hai điều vô lượng: (1) Vô lượng quang, (2) Vô lượng thọ, nên đức Phật bên nước Cực Lạc hiệu là a Di Đà.

12. A-bệ-bạt-trí (Phạn âm) Hán dịch là bất thối chuyển, vào bực này thời một mực đi trên đường Thánh thẳng đến thành Phật, không còn bị thối sụt xuống phàm phu hay Tiểu thừa nữa. Tất cả mọi người được sanh về cõi Cưc Lạc đều vào bực bất thối cả, trong hàng bất thối lại có vô số bậc nhứt sanh bổ xứ Bồ Tát (vì Bồ tát chỉ còn là Bồ tát trong một đời hiện tại, mãn đời hiện tại thời thành Phật, như hiện nay đức Di Lặc Bồ tát ở cung trời Đâu Suất nội viện là bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát vậy). Các bậc Thượng thiện nhân là chỉ các bậc Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát.

13. Cõi Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, phải có nhiều căn lành phước đức mới được sanh về đó. Niệm Phật được nhất tâm bất loạn thời là thành tựu căn lành phước đức rất lớn, đến khi lâm chung đức Phật A Di Đà cùng Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát ..phóng quang đến rước, quyết định đặng sanh cõi Cưc Lạc. - Niệm Phật không còn móng tưởng gì khác, không có mảy may thinh sắc gì khác xen vào, vững vàng không xao động gọi là nhứt tâm bất loạn.

14. Người tu Tịnh Độ phải có đủ ba điều: Tín (tin thật), Hạnh (chuyên tâm niệm Phật) và Nguyện (thiết tha muốn được sanh về cõi Cưc Lạc) Trong ba điều nầy, lòng tin đứng trước cả mà cũng là nền tảng của tất cả căn lành vì thế nên chư Phật ở sáu phương đồng khuyên bảo, cho mọi người sanh lòng tin chắc chắn quyết định.

Hằng hà sa số: là số cát sông Hằng. Sông Hằng là con sống lớn bên Thiên Trúc, nguồn từ dãy núi Hi Mã, chảy ngang xứ Thiên Trúc, đổ vào Ấn Độ Dương. Lòng sông và hai bên bãi có cát rất nhiều và rất mịn. Đương thời đức Phật thường nói pháp gần bên sông, nên phàm khi muốn chỉ một số lớn quá nhiều thời mượn số cát trong sông Hằng mà nói.

Tướng lưỡi rộng dài biểu tượng của sự thành thật. Trong kinh nói người nào chót lưỡi liếm đến đầu mũi, thời người ấy trong ba đời đã qua không hề có một lời nói dối. Lưỡi dài liếm đến đầu mũi còn như thế, huống nữa là rộng dài trùm khắp cả thế giới?

Một thái dương hệ là một tiểu thế giới. Một nghìn tiểu thế giới là một tiểu thiên thế giới. Một nghìn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới. Một nghìn trung thiên thế giới là một thế giới trải qua ba lần nhân cho số nghìn, nên gọi là Tam thiên đại thiên thế giới [1 tiểu thế giới x 1.000 x 1.000 x 1.000 = Đại thiên thế giới].

Đại thiên thế giới của ta ở đây tên là Ta Bà dịch là Kham khổ ngụ ý rằng trong cõi nầy có vô lượng sự thống khổ, mà chúng sanh trong đó vẫn kham chịu được.

15. Ngũ Trược: (1) Kiếp trược: kiếp là chỉ cho thời đại, thời gian. Trong thời đại nào mà có các món trược dưới đây thời là thời đại đục nhơ. (2) Kiến trược: Những điêu mê chấp, tà kiến, điên đảo... (3) Phiền não trược: Các tâm niệm bất thiện như tham, sân, si, mạn bất tín... (4) Chúng sanh trược: Năm ấm (sắc, thọ,) hiệp hội sanh diệt chẳng dừng. (5) Mạng trược: Số thọ rất ngắn, sống nay chết mai, mạng sống trong hơi thở. Bốn món trên đây tánh cách nhiễu não, sai lầm, biến đổi vô thường nên gọi là trược (nhơ đục).
PDFIn TrangGửi mail
Tin / Trang
Sắp theo
Đang xem 1 - 50 của 122 bài 1 2 3 »
A. KINH ĐIỂN BẮC TRUYỀN (PHẠN NGỮ - HÁN TẠNG) - Bình Anson (12/25/2010) (Xem: 22988)
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH - Bình Anson (08/12/2010) (Xem: 11668)
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG HOA NGHIÊM KINH Quyển 7 (12/06/2010) (Xem: 14786)
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG HOA NGHIÊM KINH Quyển 9 (11/09/2010) (Xem: 13536)
ĐẠI TẠNG KINH NHẬP MÔN - Việt dịch: Thích Viên Lý (07/06/2010) (Xem: 21125)
ĐẠI THỪA KIM CANG KINH LUẬN, Thích Viên Giác dịch (06/06/2010) (Xem: 15052)
ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ KINH (08/05/2011) (Xem: 5142)
ĐẠO BỤT NGUYÊN CHẤT - KINH NGHĨA TÚC Thích Nhất Hạnh (04/14/2011) (Xem: 19464)
ĐỨC PHẬT THUYẾT KINH PHÁP DIỆT TẬN - Việt dịch: Thích Nhuận Châu (10/04/2010) (Xem: 11981)
HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ Quyển 5 Phẩm XIII: CÔNG ĐỨC CỦA BỒ-TÁT SƠ PHÁT TÂM (11/09/2010) (Xem: 22966)
KIM THÁNH THÁN Trùng tuyên - Chú thích: Đặng Hữu Phúc (11/09/2010) (Xem: 15400)
KINH ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG GIÀ, Thích Nữ Trí Hải dịch (05/31/2010) (Xem: 20188)
KINH A DI ÐÀ, Ban Phiên Dịch Việt Ngữ Vạn Phật Thánh Thành (04/25/2010) (Xem: 29010)
KINH A DI ĐÀ. Thích Trí Tịnh (04/25/2010) (Xem: 28905)
KINH A HÀM (HÁN TẠNG) .PDF (09/07/2011) (Xem: 7685)
KINH BÁCH DỤ - Tâm Minh Ngô Tằng Giao (06/14/2010) (Xem: 21062)
KINH BÁCH DỤ - Thích Nữ Như Huyền (06/14/2010) (Xem: 21962)
KINH BÁT CHU TAM MUỘI - Thích Minh Lễ (06/14/2010) (Xem: 21792)
KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC - Thích Nhất Hạnh (05/14/2010) (Xem: 29085)
KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC - Thích Trí Thủ (06/13/2010) (Xem: 18526)
KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC (Giảng Giải) - Hòa Thượng Thích Thanh Từ (05/15/2012) (Xem: 45)
KINH BÁT NHÃ TOÁT YẾU – Thích Thiện Hoa (06/15/2010) (Xem: 20720)
KINH BỒ TÁT THIỆN GIỚI - Thích Thiện Thông (06/30/2010) (Xem: 21435)
KINH BỐN MƯƠI HAI BÀI - Thích Trí Quang (05/14/2010) (Xem: 20137)
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Tâm Châu (05/14/2010) (Xem: 23852)
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Thanh Cát (05/14/2010) (Xem: 24111)
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Tuyên Hóa (05/14/2010) (Xem: 24024)
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG Thích Nguyên Giác (10/14/2010) (Xem: 9475)
KINH CẦU SIÊU - Thích Trí Tịnh (05/14/2010) (Xem: 36444)
KINH ĐẠI BÁO PHỤ MẪU TRỌNG ÂN (08/05/2010) (Xem: 14808)
KINH ÐẠI BẢO TÍCH -Thích Trí Tịnh (04/29/2010) (Xem: 28505)
KINH ĐẠI BÁT NÊ HOÀN, Thích Nguyên Hùng (04/25/2010) (Xem: 35643)
KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA - Thích Trí Nghiêm (05/06/2010) (Xem: 31885)
KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN, Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến (04/22/2010) (Xem: 40145)
KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN, Thích Trí Tịnh (04/23/2010) (Xem: 40150)
KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Thích-Tâm-Châu (04/24/2010) (Xem: 22308)
KINH ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI - Thích Thiền Tâm (05/07/2012) (Xem: 103)
KINH ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN - Dịch giả: Thích Chính Tiến - Thích Quảng Độ (06/29/2011) (Xem: 7931)
Kinh Ðại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật - Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch (03/09/2012) (Xem: 1180)
Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật Hòa Thượng Thích Trung Quán dịch Việt (03/09/2010) (Xem: 13228)
KINH DI GIÁO, Dịch Giả: Hòa Thượng Thích Trí Quang (06/07/2010) (Xem: 16231)
KINH DI GIÁO, Trí-Nguyệt dịch từ Hán văn (06/07/2010) (Xem: 17886)
KINH ÐỊA TẠNG HT. Thích Trí Quang dịch giải (06/05/2010) (Xem: 22911)
KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN, Ban Việt Dịch Vạn Phật Thánh Thành (06/04/2010) (Xem: 22485)
KINH ÐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN, Hán Dịch: Tam Tạng Pháp Sư Pháp Ðăng Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh (06/04/2010) (Xem: 22264)
KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT ĐÀ RA NI - Sa-môn Thích Viên Đức dịch từ Hán ra Việt (1976) (10/17/2011) (Xem: 4932)
KINH ĐIỂN CÀN LONG TẠNG (PDF) (12/12/2011) (Xem: 4396)
Kinh điển Đại Thừa có phải do Phật thuyết hay không? Thích Hạnh Bình (10/06/2010) (Xem: 12622)
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA - Thích Minh Ðịnh (05/11/2010) (Xem: 32456)
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA - Thích Trí Tịnh (05/11/2010) (Xem: 35970)
Tin / Trang
Sắp theo
Đang xem 1 - 50 của 122 bài 1 2 3 »
Xem theo ngày »
Copyright © 2012 www.thuvienhoasen.org All rights reserved www.vnvn.net
Best viewed with FireFox, Chrome, Safari, Opera, IE 8 at resolution of 1024x768