KINH
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN [1]
Đông-Tấn, Sa-Môn Thích-Pháp-Hiển
dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Thích-Tâm-Châu dịch chữ Hán ra chữ
Việt
I. DUYÊN-KHỞI NIẾT-BÀNChính
tôi (A-Nan) được nghe: Một thời kia đức Phật ở Trùng-Các giảng-đường,
trong khu rừng lớn Tỳ-Da-Ly (Vaisàli), cùng với một nghìn hai trăm năm
mươi vị Tỳ-Khưu.
Khi ấy, đức Thế-Tôn cùng ông A-Nan, một buổi
sáng nọ, mặc áo, mang bát vào thành khất-thực. Khất-thực rồi, trở về nơi
cũ.
Khi ăn cơm xong, súc miệng, rửa thực-dụng, thu xếp áo, bát,
đức Phật bảo ông A-Nan: “Ông cầm giúp tôi cái ngọa-cụ. Nay tôi muốn đến
nơi tháp Già-Ba-La, nhập-định tư-duy”. Đức Phật nói lời ấy rồi, Ngài
liền cùng ông A-Nan đi đến nơi kia.
Đến nơi kia, ông A-Nan trải
ngọa-cụ, đức Phật ngồi. Lúc đó, đức Thế-Tôn ngồi kết gia-phu[2], im lặng
suy-nghĩ. Khi ấy ông A-Nan cũng ở riêng một nơi, đoan-tọa nhập-định,
nhưng cách nơi Phật ngồi không mấy.
Trong giây lát, đức Thế-Tôn
từ trong thiền-định tỉnh dậy, Ngài gọi ông A-Nan, bảo: “Nơi Tỳ-Da-Ly
đây, có nhiều tháp rất yêu quý, như tháp Ưu-Đà-Diên, tháp Cồ-Đàm, tháp
Am-La, tháp Đa-Tử, tháp Sa-La, tháp Già-Bà-La”.
Ông A-Nan! Người
được bốn phép Thần-túc[3] còn có thể ở trong cõi thọ trọn một kiếp hay
non một kiếp, huống là Như-Lai nay có sức thần-thông lớn-lao, há lại
không thể ở trong cõi thọ được một kiếp hay non một kiếp?”
Đức
Thế-Tôn đã mở ra cái cửa: “Có thể thỉnh đức Thế-Tôn lưu lại thế-gian”
như thế, để dạy ông A-Nan, nhưng, khi ấy ông A-Nan vẫn im-lặng, không
hiểu biết chi cả.
Đức Thế-Tôn ân-cần nói đến ba lần, ông A-Nan
vẫn bâng-khuâng không giải-ngộ được và không thỉnh đức Như-Lai ở lại cõi
thọ trong một kiếp hay non một kiếp, đem lại lợi-ích cho chư Thiên và
nhân-dân trong thế-gian. Sao vậy? Ông A-Nan bị Ma-Vương mê-hoặc.
Đức
Thế-Tôn nói lời ấy đến ba lần, thấy tâm ông A-Nan vẫn không khai-ngộ,
Ngài liền im-lặng.
Bấy giờ, Ma-Vương[4] đến nơi đức Phật, bạch
Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay đức Thế-Tôn nên nhập Niết-Bàn! Nay đấng
Thiện-Thệ[5] nên nhập Niết-Bàn! Sao vậy? Trước khi Thế-Tôn ở bên bờ
sông Ni-Liên-Thiền (Nairanjana) con khuyến-thỉnh Thế-Tôn nhập Niết-Bàn,
nhưng, lúc ấy Thế-Tôn thấy con khuyến-thỉnh như thế, Ngài đáp: “Nay bốn
bộ-chúng của Tôi là Tỳ-Khưu (Bhiksu), Tỳ-Khưu-Ni (Bhiksuni), Ưu-bà-tắc
(Upàsaka), Ưu-bà-di (Upàsikà) chưa được đầy đủ và chưa hàng-phục được
các ngoại-đạo, nên Tôi chưa nhập Niết-Bàn”. Lạy đức Thế-Tôn! Nay bốn
bộ-chúng của đức Thế-Tôn đã đầy đủ, đã hàng-phục được các ngoại-đạo và
những sự đáng làm, đều đã làm xong, vậy đức Thế-Tôn nên nhập Niết-Bàn!”
Khi
Ma-Vương thỉnh ba lần như thế, đức Như-Lai liền đáp: “Quý hóa thay!
Trước kia bên bờ sông Ni-Liên-Thiền, Tôi đã hứa với ông là bốn bộ-chúng
của Tôi chưa được đầy đủ; cho tới nay, nay đầy đủ rồi, sau đây ba tháng
Tôi sẽ nhập Niết-Bàn!”
Ma-Vương nghe đức Phật nói lời ấy rồi, vui
mừng hớn-hở, trở về Thiên-cung.
Ngay khi ấy đức Thế-Tôn liền xả
tuổi thọ thế-gian, dùng sức thần-thông, trụ lại nơi thân-mệnh trong ba
tháng.
Lúc đó, trên cõi đất này có mười tám tướng rung-động,
trống cõi trời tự nhiên kêu và do sức thần-thông của Phật, tự-nhiên
trong không có lời xướng lên rằng: “Đức Như-Lai không bao lâu nữa sẽ
nhập Niết-Bàn.” Chư Thiên, nhân-dân, chợt nghe tiếng nói ấy, tâm rất
buồn rầu, khắp mình ửng huyết.
Đức Thế-Tôn, ngay tại nơi kia, nói
bài kệ rằng:
Hết thảy mọi chúng-sinh,
Theo “hữu” (có) mà
sinh-tử.
Ta nay cũng sinh-tử,
Nhưng không theo nơi “hữu”.
Mọi
hành-tướng tạo-tác,
Ta nay muốn vứt bỏ.[6]
Đức Thế-Tôn nói bài
kệ ấy rồi, Ngài lại ngồi im-lặng.
TOÁT-YẾU[7]
Một
thời kia đức Phật cùng ông A-Nan và 1,250 vị Tỳ-Khưu, ở nơi Trùng-Các
giảng-đường, trong khu rừng Tỳ-da-ly.
Theo lệ thường, một sáng nọ
đức Thế-Tôn cùng ông A-Nan vào thành khất-thực.
Trở về, ăn xong,
thu xếp bình-bát, Ngài bảo ông A-Nan cầm ngọa-cụ cho Ngài, đi đến tháp
Già-ba-la, để nhập-định tư-duy.
Đến nơi đức Thế-Tôn ngồi kết
gia-phu, im-lặng suy-nghĩ. Ông A-Nan cũng nhập-định riêng một nơi, gần
Phật.
Ra Định, đức Phật gọi ông A-Nan, bảo: “Nơi Tỳ-da-ly đây có
nhiều tháp đáng quý!”
Ngài dạy tiếp: “Người được bốn phép
Thần-túc còn có thể ở trong cõi thọ được một kiếp hay non một kiếp, há
rằng Như-Lai có thần-lực, lại không ở lại được một kiếp hay non một kiếp
ư?”
Sở dĩ đức Phật nói thế là vạch đường cho ông A-Nan thỉnh
Phật lưu lại thế-gian. Nhưng, Ngài nói đến ba lần, ông A-Nan vẫn
im-lặng. Ông bị Ma-vương mê-hoặc. Ngài im-lặng.
Liền đó, Ma-vương
tới thỉnh Ngài vào Niết-Bàn, theo lời hứa của Ngài ở bờ sông
Ni-liên-thiền xưa kia. Ngài nhận thấy lời hứa của Ngài trước kia, nay đã
đến lúc thực-hiện. Ngài ưng-thuận: Sau ba tháng nữa Ngài sẽ nhập
Niết-Bàn. Ma-vương vui mừng trở về Thiên-cung.
Ngài tự nói: “Hết
thảy chúng sinh bị luân-hồi sinh-tử, đều do nghiệp hữu-lậu theo dõi. Ta
tuy ở trong cảnh ấy, nhưng không bị nghiệp kia theo nữa. Nay Ta bỏ thân
giả-tạm này!”
II.
A-NAN KHẢI-THỈNHKhi ấy ông A-Nan thấy cõi đất
rung-động, tâm sợ-hãi quá ông mới tự-nghĩ: “Cớ sao ngày nay bỗng có
sự-tướng ấy. Và, việc như thế, không phải là duyên nhỏ, nay ta nên đến
hỏi đức Thế-Tôn!”
Nghĩ thế rồi, ông A-Nan liền từ tòa ngồi của
mình đứng dậy, đến trước đức Phật, đầu mặt lễ xuống chân Phật, bạch Phật
rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Lúc nãy con ở riêng nơi kia, ngồi thiền suy
nghĩ, bỗng đâu con thấy cõi đất này có mười tám tướng rung động; con lại
nghe thấy những tiếng trống của cõi trời trong hư-không, tâm con sợ
quá, không biết tướng ấy là nhân-duyên gì, kính xin đức Thế-Tôn chỉ-giáo
cho!”
Đức Phật dạy: “Ông A-Nan! Cõi đất này rung-động vì tám
nhân-duyên: Một là cõi đất nhờ nước mà đứng vững, nước này nhờ guồng gió
mà còn, gió này nhờ hư-không mà trụ. Trong hư-không có lúc gió mạnh bốc
lên, thổi vào guồng gió kia, guồng gió kia động; guồng gió kia đã động,
nước kia cũng động; nước kia đã động, cõi đất này động. Hai là, các vị
Tỳ-khưu hoặc Tỳ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tu về thần-thông, mới được
thành-tựu, các vị muốn tự thí-nghiệm, nên cõi đất này động. Ba là, khi
Bồ-tát (Bodhissattva) ở nơi cung trời Đâu-Xuất (Tusita), sắp giáng-thần
vào mẫu-thai, nên cõi đất này động. Bốn là, khi Bồ-tát mới sinh từ nơi
hông bên hữu ra, nên cõi đất này động. Năm là, khi Bồ-tát bỏ cung vua
xuất-gia, học đạo, thành Nhất-thiết-chủng-trí[8], nên cõi đất này động.
Sáu là, khi Như-Lai thành đạo, bắt đầu vì Nhân, Thiên chuyển
pháp-luân[9], nên cõi đất này động. Bảy là, khi Như-Lai xả tuổi thọ
thế-gian, dùng sức thần-thông trụ lại nơi thân-mệnh, nên cõi đất này
động. Tám là, khi Như-Lai nhập Niết-Bàn, nên cõi đất này động. Ông
A-Nan! Ông nên biết nhân-duyên của cõi đất này động, có tám sự như thế!”
Ông
A-Nan! Có tám bộ-chúng: Một là, Sát-lỵ[10]. Hai là, Bà-la-môn[11]. Ba
là, Trưởng-giả[12], Cư-sĩ[13]. Bốn là, Sa-môn[14]. Năm là,
Tứ-thiên-vương. Sáu là, Đao-lỵ-thiên. Bảy là, Ma-vương. Tám là,
Phạm-vương. Tám bộ-chúng ấy Tôi xem căn-khí của họ, người nào muốn được
độ, Tôi tùy chỗ hiện-hình vì họ nói pháp, mà người kia cũng không biết
là Tôi nói”.
Ông A-Nan! Có tám chỗ thượng-thắng (thắng-xứ): Một
là, trong tâm có tưởng về sắc-tướng, ngoài quán về sắc-tướng ít đi. Hai
là, trong tâm có tưởng về sắc-tướng, ngoài quán về sắc-tướng nhiều lên.
Ba là, trong tâm không tưởng về sắc-tướng, ngoài quán về sắc-tướng ít
đi. Bốn là, trong tâm không tưởng về sắc-tướng, ngoài quán về sắc tướng
nhiều lên. Năm là, quán hết thảy sắc đều xanh. Sáu là, quán hết thảy sắc
đều vàng. Bảy là, quán hết thảy sắc đều đỏ. Tám là, quán hết thảy sắc
đều trắng. Đó là phương-pháp thượng-thắng của người tu-hành về
Thiền-định![15]
Lại nữa, Ông A-Nan! Có tám pháp giải-thoát: Một
là, trong tâm có tưởng về sắc, ngoài cần quán về sắc. Hai là, trong tâm
không tưởng về sắc, ngoài quán về sắc bằng cách suy-nghĩ là bất-tịnh. Ba
là, tịnh giải-thoát, Bốn là, không-xứ giải-thoát. Năm là, Thức-xứ
giải-thoát. Sáu là, Vô-sở-hữu-xứ giải-thoát. Bảy là, Phi-tưởng,
phi-phi-tưởng-xứ giải-thoát. Tám là, Diệt-tận-định giải-thoát. Tám pháp
giải-thoát này cũng là pháp thượng-thắng của người tu-hành về
Thiền-định. Nếu ai đạt tới chỗ cứu-cánh của những pháp này, tức là đối
với mọi pháp được tự-tại vô-ngại.[16]
Ông A-Nan! Ông có biết
không: Trước kia khi Tôi thành-đạo, độ ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp
(Uruvilvàkàsyapa) ở bên sông Ni-liên-thiền, bấy giờ Ma-vương đến chỗ
Tôi, thỉnh Tôi rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay đức Thế-Tôn nên nhập
Niết-Bàn! Lạy đấng Thiện-Thệ! Nay đấng Thiện-Thệ nên nhập Niết-Bàn! -
Sao vậy? – Những người nên độ, đều được giải thoát cả rồi! Nay chính là
lúc đức Thế-Tôn nên nhập Niết-Bàn!” Ma-vương thỉnh Tôi ba lần như thế,
Tôi đáp: “Nay chưa phải lúc Tôi nhập Niết-Bàn! – Sao vậy? – Bốn bộ-chúng
của tôi chưa được đầy đủ, những người nên độ, đều chưa đạt tới chỗ
cứu-cánh, những đồ-chúng ngoại-đạo, chưa hàng-phục được!” Tôi đáp như
thế ba lần, Ma-vương nghe rồi, mang lòng buồn-rầu, trở về Thiên-cung. Do
duyên xưa kia, nay Ma-vương lại và lại thỉnh Tôi: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay
đức Thế-Tôn nên nhập Niết-Bàn! Lạy đấng Thiện-Thệ! Nay đấng Thiện-Thệ
nên nhập Niết-Bàn! - Sao vậy? - Trước kia khi ở bên bờ sông
Ni-liên-thiền, con khuyến-thỉnh đức Thế-Tôn nhập Niết-Bàn, nhưng lúc ấy
đức Thế-Tôn thấy con khuyến-thỉnh như thế, Ngài đáp: “Nay bốn bộ-chúng
của Tôi là Tỳ-khưu, Tỳ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di chưa được đầy đủ,
lại chưa hàng-phục được các ngoại-đạo, thế nên Tôi chưa nhập Niết-Bàn.
Lạy đức Thế-Tôn! Nay bốn bộ-chúng của đức Thế-Tôn đã đầy đủ, đã
hàng-phục được các ngoại-đạo và những sự đáng làm đều đã làm xong, vậy
nay Thế-Tôn nên nhập Niết-Bàn!” Ma-vương thỉnh Tôi đến ba lần như thế,
Tôi đáp: “Trước kia bên bờ sông Ni-liên-thiền, Tôi đã hứa với ông bốn
bộ-chúng của Tôi chưa được đầy đủ, cho tới nay, nay đầy đủ rồi, sau đây
ba tháng Tôi sẽ nhập Niết-Bàn. Ma-vương nghe Tôi nói lời ấy rồi, vui
mừng hớn-hở, trở về Thiên-cung. Nơi đây Ta nhận lời thỉnh của Ma-vương
rồi, Tôi liền xả tuổi thọ thế-gian, tạm trụ nơi thân-mệnh ba tháng, vì
nhân-duyên ấy, nên cõi đất này chấn-động!”
Bấy giờ ông A-Nan nghe
đức Phật nói lời ấy rồi, tâm ông buồn-rầu quá, khắp mình ửng huyết,
khóc-lóc thướt-mướt, bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Kính xin đức
Thế-Tôn thương xót chúng con, ở lại cõi thọ chừng một kiếp hay non một
kiếp, đem lại lợi-ích cho chư Thiên và nhân-dân trong thế-gian!”
Ông
A-Nan thỉnh đức Thế-Tôn đến ba lần như thế. Lúc đó, đức Thế-Tôn bảo ông
A-Nan: “Bây giờ không phải lúc ông thỉnh Như-Lai lưu lại thế-gian nữa! -
Sao vậy? - Tôi đã hứa với Ma-vương, sau đây ba tháng Tôi nhập Niết-Bàn,
nay ông làm sao thỉnh Tôi lưu lại thế-gian được? Ông A-Nan! Ông thị-giả
Tôi từ trước tới nay, ông đã từng nghe thấy Tôi nói hai lời bao giờ
chưa? - Ông A-Nan bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Con chưa từng nghe
thấy đấng Thiên-Nhân-Sư nói hai lời bao giờ! Trước kia con chỉ từng nghe
thấy đức Thế-Tôn, vì bốn bộ-chúng nói pháp rằng: “Người được bốn phép
Thần-túc, có thể ở trong cõi thọ trọn một kiếp hay non một kiếp, huống
chi Như-Lai là bậc có vô-lượng sức thần-thông tự-tại, nay lại không thể ở
trong cõi thọ được một kiếp hay non một kiếp, liền xả tuổi thọ
thế-gian, tạm trụ thân-mệnh ba tháng, vậy kính xin đức Thế-Tôn thương
xót chúng con, ở lại cõi thọ chừng một kiếp hay non một kiếp!”
Đức
Thế-Tôn đáp lời ông A-Nan: “Nay Tôi sở dĩ xả tuổi thọ, chính là do ông!
Sao vậy? Ban nãy, tại nơi đây, Tôi hướng vào ông mà nói: “Người được
bốn phép Thần-túc còn có thể ở trong cõi thọ trọn một kiếp hay non một
kiếp, huống là Như-Lai nay có sức thần-thông lớn-lao, há lại không thể ở
trong cõi thọ trọn một kiếp hay non một kiếp? Tôi ân-cần nói như thế
đến ba lần, để mở ra cái cửa cho ông khuyến-thỉnh Thế-Tôn lưu lại
thế-gian, mà ông cứ im-lặng, từng không có lời thỉnh Tôi ở lại cõi thọ
một kiếp hay non một kiếp, vì thế, nay Tôi chỉ tạm trụ thân mệnh ba
tháng, sao nay ông mới thỉnh Tôi trụ lại thế-gian?
Ông A-Nan nghe
đức Phật nói lời ấy, biết hẳn là đức Phật quyết nhập Niết-Bàn, không
sao khuyến-thỉnh được, tâm sinh đau-khổ, buồn-bã, áo-não, khóc-lóc
thướt-mướt, không thể hãm được.
Đức Thế-Tôn thấy ông A-Nan sinh
khổ-não quá như thế, Ngài dùng phạm-âm an-ủi: “Ông A-Nan! Nay ông đừng
nên sinh tâm lo buồn như thế! Ông nên biết: Các pháp hữu-vi đều như thế
cả; hết thảy sự hội-hợp, đều phải biệt-ly!”
Liền đó, đức Thế-Tôn
nói bài kệ rằng:
Hết thảy pháp hữu-vi,
Đều quay về vô-thường.
Sự
ân-ái hòa-hợp,
Tất về nơi biệt-ly.
Hành-tướng sự vật thế,
Không
nên sinh lo buồn!
Bấy giờ, ông A-Nan sa lệ bạch rằng: “Đấng
Thiên-Nhân-Sư bậc vô-thượng đại-tôn, không bao lâu nữa sẽ nhập Niết-Bàn,
nay con làm sao mà không lo buồn được!” Bạch rồi ông liền bứt đầu, lớn
tiếng xướng lên rằng: “Than ôi, khổ lắm! Con mắt của thế-gian mất rồi,
không bao lâu nữa chúng-sinh, mất người cha lành!”
Đức Thế-Tôn
lại bảo ông A-Nan: “Nay ông không nên sinh tâm lo buồn, dù Tôi có ở lại
cõi thọ một kiếp hay non một kiếp, nhưng hội-hợp rồi cũng phải ly-diệt;
tính và tướng của pháp hữu-vi như thế, ông chớ nên đối với việc Tôi nhập
Niết-Bàn mà riêng chịu sự đau-khổ! Giờ Tôi muốn trở về Trùng-Các
giảng-đường, ông cầm giúp cái ngọa-cụ về!” Liền đó, đức Thế-Tôn cùng ông
A-Nan trở về Trùng-Các giảng-đường.
TOÁT-YẾUÔng
A-Nan đang ngồi Thiền, bỗng dưng thấy đất rung-động. Ông tỉnh dậy sợ-hãi
và tự nghĩ việc động đất này tất nhiên phải có duyên-cớ?
Ông về
hỏi Phật, vì duyên-cớ gì mà có sự động đất như vậy? Đức Phật dạy: “Động
đất có tám nhân-duyên: 1/ Cõi đất này nhờ nước, gió gìn-giữ lẫn nhau,
Khi gió chuyển thì nước động, nước động thì đất động. 2/ Khi tứ-chúng tu
thành, muốn thí-nghiệm thần-thông. 3. Khi Bồ-tát giáng-thần vào
mẫu-thai. 4/ Khi Bồ-tát giáng-sinh. 5/ Khi Bồ-tát xuất-gia, học đạo
thành Nhất-thiết-chủng-trí. 6/ Khi Như-Lai thành-đạo, bắt đầu chuyển
pháp-luân. 7/ Khi Như-Lai xả thọ. 8/ Khi Như-Lai nhập Niết-Bàn.”
Tiếp
đó, Ngài lại bảo ông A-Nan là trong Phật-pháp có tám bộ-chúng; tu
Thiền-định có tám thắng-xứ, 8 pháp giải-thoát. Và, Ngài nói rõ
nhân-duyên Ma-vương thỉnh Ngài nhập Niết-Bàn cho ông nghe.
Ông
A-Nan ra đỉnh-lễ, thỉnh Phật lưu lại thế-gian. Đức Phật không nhận lời,
Ngài nói: “Tôi đã hứa với Ma-vương rồi. Tôi không nói hai lời. Và, sao
trước kia Tôi đã nhắc, ông không thỉnh, bây giờ không phải thời nữa!”
Ông
A-Nan buồn!
Đức Phật bảo: “Ông đừng lo buồn nữa, sự-vật đều thế!
Các pháp hữu-vi, đều thuộc về vô-thường, ân-ái hội-hợp quyết phải
biệt-ly!”
III. NHÓM
HỌP ĐẠI-CHÚNGĐức Thế-Tôn bảo ông A-Nan: “Nay ông đi
bảo tất cả các vị Tỳ-Khưu nơi Trùng-Các giảng-đường, trong khu rừng rộng
này, đều về cả Đại-tập-đường!”
Ông A-Nan vâng lời đức Phật dạy,
liền đi bảo khắp các vị Tỳ-Khưu rằng: “Đức Thế-Tôn bảo các vị về cả
Đại-tập-đường!”
Các vị Tỳ-Khưu tập họp đông đủ, ông A-Nan bạch
Phật: “Lạy đức Thế-Tôn! Các vị Tỳ-Khưu đều về họp đông đủ, kính xin đức
Như-Lai biết cho giờ định họp ấy”!
Khi ấy, đức Như-Lai từ
Trùng-Các giảng-đường đến Đại-Tập-đường, Ngài trải tòa ngồi và bảo các
vị Tỳ-Khưu: “Xưa kia Tôi vì các vị nói ra mọi pháp, các vị luôn luôn
suy-nghĩ và tu-tập những pháp ấy đừng lãng quên! Các vị tu phạm-hạnh cho
thanh-tịnh, gìn-giữ giới cấm, làm phúc-lợi cho chư Thiên, nhân-dân
thế-gian. Các vị Tỳ-Khưu! Xưa kia Tôi vì các vị nói những pháp gì, các
vị nên suy-nghĩ những pháp ấy, chớ sinh biếng-nhác. Tôi nói ba mươi bảy
đạo-phẩm pháp như: bốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn như-ý-túc, năm căn,
năm lực, bảy giác-chi và tám thánh-đạo-phận[17], các vị nên tu-tập,
suy-nghĩ tinh-cần những pháp ấy có thể làm cho các vị đến nơi
giải-thoát!
Lại nữa, các vị Tỳ-Khưu! Hết thảy các pháp đều thuộc
vô-thường, thân-mệnh nguy-ngập, cũng như chớp-giật, các vị không nên
sinh ra buông-lung! Các vị nên biết: Như-Lai không bao lâu, chỉ sau ba
tháng nữa sẽ nhập Niết-Bàn!”
Bấy giờ, đức Thế-Tôn liền nói bài
kệ:
Tôi muốn bỏ thân này,
Tấm thân già suy-yếu.
Nay xả tuổi
thọ rồi,
Tạm nương mệnh ba tháng!
Những người nên hóa-độ,
Hết
thảy đã xong xuôi;
Thế nên không bao lâu,
Tôi sẽ nhập Niết-Bàn.
Những
pháp Tôi nói xưa,
Pháp ấy thầy các vị;
Các vị kính-trọng, giữ,
Tu-tập
đừng bỏ quên!
Các vị cần tinh-tiến,
Như Tôi sống khác gì?
Sinh-tử
nguy-ngập quá,
Thân-mệnh đều vô-thường!
Thường mong đường
giải-thoát,
Đừng tạo hạnh buông-lung!
Niệm chính, quán thanh-tịnh,
Giữ
trọn giới cấm răn.
Định-ý, suy-nghĩ thẳng,
Ngoại-cảnh, nén giữ
tình.
Nếu ai làm được thế,
Là hộ-trì chính-pháp.
Tự đến nơi
giải-thoát,
Lợi-ích cả Nhân, Thiên.
Sau khi các vị Tỳ-Khưu
nghe những lời ấy của đức Phật, tâm các vị rất đau khổ, khóc-lóc
thướt-mướt, khắp mình ửng huyết, mê buồn áo-não, bạch Phật rằng: “Lạy
đức Thế-Tôn! Kính xin đức Thế-Tôn, ở lại cõi thọ, đừng nhập Niết-Bàn,
đem lại lợi-ích cho chúng-sinh, làm tăng-trưởng Nhân, Thiên. Kính xin
đức Thế-Tôn, ở lại cõi thọ, đừng nhập Niết-Bàn, mở tỏ con mắt trí-tuệ
cho chúng-sinh. Hết thảy chúng-sinh sa-đọa trong nơi đen tối, kính xin
đức Như-Lai vì họ soi sáng cho họ. Hết thảy chúng-sinh chìm-đắm trong bể
lớn sinh-tử, kính xin đức Như-Lai vì họ làm thuyền bè vớt họ!”
Bạch
xong, các vị Tỳ-Khưu lại khoa tay, bứt đầu, đấm ngực, kêu to: “Than ôi,
khổ lắm! Đức Như-Lai không bao lâu nữa sẽ nhập Niết-Bàn, hết thảy
chúng-sinh quy-y vào đâu!”
Đức Thế-Tôn bảo các vị Tỳ-Khưu: “Hết
thảy mọi pháp đều thuộc vô-thường, ân-ái hội-hợp, đều phải biệt-ly, các
vị không nên thỉnh Tôi lưu lại thế-gian nữa! Sao vậy? - Nay không phải
là lúc các vị khuyến-thỉnh Tôi! Trước đây Tôi vì các vị nói những
pháp-yếu, các vị nên vâng giữ trọn vẹn, thời như Tôi còn ở đời không
khác!”
Ngày đã tối, đức Thế-Tôn cùng ông A-Nan trở về Trùng-Các
giảng-đường.
TOÁT-YẾUĐức Phật bảo ông A-Nan
đi thỉnh tất cả các vị Tỳ-Khưu về họp tại Đại-tập-đường.
Về đông
đủ, đức Phật ra họp.
Ngài khuyên các vị Tỳ-Khưu cần giữ giới-hạnh
thanh-tịnh, làm phúc-lợi cho Nhân, Thiên; ba mươi bảy đạo-phẩm Ngài đã
dạy, cần nên tu-tập, suy-nghĩ tinh-cần sẽ đến được nơi giải-thoát;
sự-vật vô-thường, thân-mệnh nguy-ngập nhanh-chóng, không nên buông-lung.
Và,
sau cùng Ngài bảo cho các vị Tỳ-khưu biết rằng sau ba tháng nữa Ngài sẽ
nhập Niết-Bàn.
Các vị Tỳ-Khưu khóc-lóc, thỉnh đức Phật lưu lại
thế-gian, Ngài nói: “Sự-vật đều vô thường, ân-ái phải ly-biệt, các vị
không nên thỉnh Tôi nữa, những pháp Tôi nói trước, các vị nên vâng giữ
trọn-vẹn, thời như Tôi còn ở đời không khác!”
Xong rồi, Ngài trở
về Trùng-Các giảng-đường và sẽ tiếp tục du-hành vào ngày mai.
IV. ĐỨC PHẬT GẶP PHÁI LY-XASáng
mai đức Thế-Tôn mặc áo, mang bát, cùng ông A-Nan vào thành khất-thực.
Khất-thực rồi, Ngài lại trở về Trùng-Các giảng-đường. Ăn cơm xong, Ngài
súc miệng, rửa thực-dụng, rồi Ngài cùng các vị Tỳ-Khưu đến thôn Càn-đồ.
Đường
đến thôn này phải qua thành Tỳ-Da-Ly. Khi qua thành này Ngài ngoảnh
lại, trông hướng lên thành, cười. Ông A-Nan thấy thế, liền cúi đầu đỉnh
lễ xuống chân Phật, hỏi đức Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Đấng Vô-Thượng
Đại-Tôn cười chắc có nhân-duyên, vậy kính xin đức Thế-Tôn chỉ-giáo cho
con được biết!”
Đức Phật đáp: “Ông A-Nan! Sở dĩ Tôi hướng lên
thành cười, chính vì nay là lần cuối cùng, Tôi trông thấy thành này
vậy!”
Đương lúc Như-Lai thốt lời nói ấy, trong hư-không, không có
mây, tự-nhiên mưa. Ông A-Nan thấy thế, lại bạch Phật rằng: “Lạy đức
Thế-Tôn! Rất lạ-lùng, hư-không trong-sạch, không có chút khí thấp che
phủ nào, bỗng nhiên mưa xuống trận mưa nhiều hạt như thế?”
Đức
Phật bảo ông A-Nan: “Ông A-Nan! Ông có biết việc ấy sao không, đấy là
chư Thiên trên hư-không, nghe thấy Tôi nói nay là lần cuối cùng Tôi
trông thấy thành Tỳ-Da-Ly này, tâm chư Thiên áo-não quá, thương-cảm
khóc-lóc. Đấy là nước mắt của chư Thiên, không phải là nước mưa đâu!”
Ông
A-Nan cùng các vị Tỳ-Khưu, nghe đức Phật nói lời ấy rồi, tâm lại
buồn-rầu, buồn-bã ngất xuống đất, bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Ngày
nay Thiên, Nhân đau-khổ quá chừng, Thế-Tôn làm sao muốn ủy-xả cả, mà
nhập Niết-Bàn được!”
Đức Như-Lai liền dùng phạm-âm an-ủi các vị:
“Các vị! Các vị không nên sinh tâm lo-buồn, sầu-khổ nữa!.
Các vị
Tỳ-Khưu bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay lần cuối cùng đức Thế-Tôn
trông thành Tỳ-Da-Ly này, không bao lâu nữa, đức Thế-tôn sẽ nhập
Niết-Bàn, chúng con làm sao không lo-buồn, đau-khổ được!”
Dần-dà
như thế, người người bảo nhau, tiếng lan đến cả những người dòng Ly-Xa
(Licchavi)[18]. Dòng Ly-xa này, nghe thấy lời nói ấy rồi, mang lòng
buồn-rầu, khắp mình ửng huyết, khoa tay, bứt đầu, đấm ngực, kêu to:
“Than ôi, khổ lắm! Con mắt của thế-gian sắp mất rồi; chúng-sinh ngày nay
không còn nơi quy-y nữa!”
Rồi, họ lại bảo lẫn nhau: “Nay chúng
ta nên đến nơi Phật, khuyến-thỉnh Ngài ở lại thành Tỳ-Da-Ly và ở lại cõi
thọ một kiếp hay non một kiếp, đem lại lợi-ích cho chư Thiên, nhân-dân
thế-gian”. Nói rồi, họ liền chỉnh-nghiêm xe-cộ, đến ngay nơi Phật.
Ra
ngoài cửa thành, họ trông thấy đức Như-Lai ở đằng xa, lại thấy ông
A-Nan, cùng các vị Tỳ-Khưu, khóc-lóc thướt-mướt, buồn-bã, áo-não, các
người dòng Ly-xa lại càng cảm-động, thương-xót. Họ liền đến nơi Phật ở,
đầu mặt lễ xuống chân Phật bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay đức
Thế-Tôn, sắp nhập Niết-Bàn, hết thảy chúng-sinh sẽ mất con mắt trí-tuệ;
chúng-sinh đương ở trong nơi đen-tối, làm sao thấy được những chỗ nên
làm. Kính xin đức Thế-Tôn ở lại cõi thọ một kiếp hay non một kiếp hãy
nhập Niết-Bàn!”
Họ thỉnh đức Thế-Tôn đến ba lần như thế, đức Phật
đáp: “Hết thảy pháp hữu-vi[19] đều thuộc về vô-thường; dù Tôi có ở lại
cõi thọ một kiếp hay non một kiếp, rồi cũng quay về vô-thường!”
Khi
ấy đức Như-Lai liền nói bài kệ:
Núi Tu-Di cao lớn,
Sau cũng
phải tiêu-mòn.
Biển cả tuy rộng, sâu,
Rồi cũng phải khô cạn.
Nhật,
nguyệt dù trong sáng,
Mấy nỗi lặn phương Tây.
Cõi đất tuy
kiên-cố,
Mang-gánh hết thảy vật;
Kiếp tận lửa nghiệp cháy,
Cũng
lại về vô-thường.
Sự ân-ái hội-hợp,
Tất về nơi biệt-ly.
Như-Lai
đời quá-khứ,
Thân kim-cương bất-hoại;
Cũng bị vô-thường chuyển,
Nay
Ta há khác sao?
Chư Phật pháp như thế,
Các vị không nên thỉnh;
Đừng
riêng đối với Tôi,
Mà sinh ra lo, buồn!
Khi đức Thế-Tôn nói
bài kệ ấy rồi, Ngài bảo các người dòng Ly-xa rằng: “Các vị nên lắng lại
cái tình khóc-lóc, nghe kỹ lời Như-Lai nói buổi sau cùng!”
Những
người dòng Ly-xa kia bạch rằng: “Quý hóa thay, lạy đức Thế-Tôn! Kính xin
đức Thế-Tôn nói cho, chúng con mong muốn được nghe”.
Bấy giờ đức
Như-Lai trải tọa-cụ, ngồi kết gia-phu, các vị Tỳ-Khưu, cùng những người
dòng Ly-xa kia, tự gượng nén nhịn, ngồi về một bên. Đức Thế-Tôn bảo
những người dòng Ly-xa kia rằng: “Các vị nên biết có bảy phương-pháp,
ngày càng tiến thêm: Một là, vui-vẻ hòa-đồng, không trái ngược nhau. Hai
là, cùng giác-ngộ nhau và giảng bàn nghiệp thiện. Ba là, giữ-gìn giới
cấm cùng giữ lễ-nghi. Bốn là, cung kính cha mẹ và các bậc tôn-trưởng
khác. Năm là, thân-thích hòa-mục, thừa-thuận lẫn nhau. Sáu là, tháp miếu
trong nước, sửa-sang cúng-dàng. Bảy là, vâng giữ Phật-pháp, thân kính
Tỳ-Khưu và Tỳ-Khưu-ni; yêu mến giúp đỡ các Ưu-bà-tắc cùng Ưu-bà-di. Nếu
ai chịu làm bảy pháp như thế, uy-đức người ấy, ngày càng tiến thêm, đất
nước hưng-thịnh, nhân-dân vui-vẻ. Từ nay cho đến lúc hết đời, các vị nên
vâng giữ bảy pháp ấy, không nên biếng nhác!”
Những người dòng
Ly-xa kia bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Trong bảy pháp ấy, nếu chúng
con chỉ tu-hành được một pháp, còn làm cho uy-đức chúng con tiến thêm,
huống là chúng con tu-hành trọn-vẹn được cả bảy pháp! Quý hóa thay, lạy
đức Thế-Tôn! Nay chúng con được phúc-lợi này, trọn đời chúng con xin
vâng giữ, không dám nhãng quên!”
Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: “Từ
nay trở đi, các vị cũng nên tu-tập bảy pháp sau đây: Một là, vui-vẻ
hòa-hài, như nước với sữa. Hai là, thường cùng tập-họp giảng bàn kinh
pháp. Ba là, giữ-gìn giới cấm, không sinh tư-tưởng vi-phạm. Bốn là,
cung-kính thầy cùng các bậc Thượng-tọa. Năm là, lo-liệu xếp-đặt và
kính-mến các vị Tỳ-Khưu tĩnh-tu nơi A-lan-nhã. Sáu là, khuyến-hóa
đàn-việt, sửa-sang Tam-Bảo cùng những nơi an-nghỉ trong trụ-xứ. Bảy là
siêng-chăm tinh-tiến giữ-gìn Phật-pháp. Các vị nên biết, nếu Tỳ-Khưu
nào, làm được bảy pháp ấy, công-đức, trí-tuệ, ngày ngày tiến thêm!”
“Các
vị Tỳ-Khưu! Lại có bảy pháp, các vị nên tu: Một là, không nên như hàng
tại-gia kinh-doanh sinh-nghiệp. Hai là, không bàn nhảm, nói đùa. Ba là,
không ham ngủ-nghỉ, bỏ sự tinh-cần. Bốn là, không bàn những việc
thế-gian vô-ích. Năm là, tránh xa bạn ác, thân-gần bạn lành. Sáu là,
thường nghĩ chính-niệm, không sinh tà-tưởng. Bảy là, nếu trong
Phật-pháp, có chỗ chứng được, lại cầu tiến hơn. Nếu các vị làm được bảy
pháp ấy, công-đức trí-tuệ ngày ngày tăng-trưởng”.
“Các vị
Tỳ-Khưu! Có bảy pháp nữa các vị nên làm: Một là, đối với Phật, Pháp,
Tăng, sinh lòng tin kiên-cố. Hai là, biết thẹn. Ba là, biết hổ. Bốn là,
tâm thường ham nghe nhiều. Năm là, tâm không xốc-nổi. Sáu là, ham nghe
nghĩa kinh. Bảy là, ham tu trí-tuệ. Nếu các vị tu được bảy pháp ấy,
công-đức trí-tuệ ngày ngày tăng-trưởng”.
“Các vị Tỳ-Khưu! Lại có
bảy pháp “giác-ý”[20], các vị nên làm: Một là, trạch-pháp (chọn pháp).
Hai là, tinh-tiến. Ba là, hỷ (vui vẻ). Bốn là, khinh-an (an-vui
nhẹ-nhàng). Năm là, niệm (nhớ nghĩ). Sáu là, định (thiền-định). Bảy là,
xả (rũ bỏ). Nếu các vị làm được bảy pháp ấy, công-đức, trí-tuệ, ngày
ngày tăng-trưởng”.
“Các vị Tỳ-Khưu! Lại có bảy pháp: Một là, quán
vô-thường. Hai là, quán vô-ngã. Ba là, quán bất-tịnh. Bốn là, quán khổ.
Năm là, không ham thế-gian. Sáu là, không mê ngũ-dục[21]. Bảy là, siêng
tu đạo tịch-diệt (Niết-Bàn). Nếu các vị làm được bảy pháp ấy, công-đức,
trí-tuệ, ngày ngày tăng-trưởng”.
“Các vị Tỳ-Khưu! Lại có bảy
pháp, các vị nên làm: Một là, thân thường làm lành (từ). Hai là, miệng
thường làm lành. Ba là, ý thường làm lành. Bốn là, nếu có đàn-việt,
bố-thí mọi vật, phân-phát bình-đẳng, không nên thiên-vị. Năm là, pháp
mầu sâu-xa, ham nói không chán. Sáu là, không đem sách vở thế-gian dạy
người. Bảy là, thấy người không đồng học, không sinh tâm ghen-ghét. Nếu
các vị tu được bảy pháp ấy, công-đức, trí-tuệ, ngày ngày tăng-trưởng”.
“Các
vị Tỳ-Khưu! Lại có bảy pháp, các vị nên làm: Một là, phân-biệt rành-rẽ
chín bộ pháp[22]. Hai là, giải rõ nghĩa ấy. Ba là, hành-đạo, tụng-tập,
đều phải hợp thời. Bốn là, đi, đứng, ngồi, nằm đúng trong nghi-tắc. Năm
là, thuyết-pháp cho người phải lượng sức mình. Sáu là, nếu Bà-la-môn,
Sát-lỵ, Trưởng-giả, Cư-sĩ, muốn lại nghe pháp, nên so lường khéo, nói
theo căn-cơ. Bảy là, chia rành ngu, trí. Nếu các vị làm được bảy pháp
ấy, công-đức, trí-tuệ, ngày ngày tăng-trưởng, thời có thể gìn-giữ được
chính-pháp của Tôi!”
Bấy giờ, vợ những người dòng Ly-xa nghe thấy
đức Phật không bao lâu nữa sẽ nhập Niết-Bàn và đây là lần cuối cùng
Ngài nhìn thành Tỳ-da-ly, tâm họ rất áo-não, thương khóc thướt-mướt,
cùng với năm trăm quyến-thuộc, sắm-sửa năm trăm cỗ xe, chở các đồ
cúng-dàng. Tất cả mọi xe đều trần-thiết trang-nghiêm: cỗ xe do trâu
trắng kéo, thời treo những phan-cái trắng-tinh; cho đến những cỗ xe sắc
tím, đen, sắc vàng…, đều theo sắc trâu mà trần-thiết. Các xe
trang-nghiêm rồi, họ lần-lượt ra ngoài thành, đi đến chốn Phật.
Khi
ấy, đức Thế-Tôn xa xa trông thấy những người kia đương đi lại, Ngài bảo
các vị Tỳ-Khưu: Các vị có trông thấy những người vợ của dòng Ly-xa,
trước sau rầm-rập, rất là trang-nghiêm, mỹ-lệ đi lại đây không?
Các
vị Tỳ-Khưu đáp: “Dạ, chúng con có trông thấy”.
Đức Phật bảo các
vị Tỳ-Khưu: “Đấy là những người dòng Ly-xa, trưởng-giả cùng vợ của họ
thuộc thành Tỳ-Da-Ly này, dung-nghi xuất nhập của họ, rất là bóng-loáng,
như chư thiên trên cung trời Đao-lỵ không khác!”
Lúc những người
vợ của dòng Ly-xa kia đến nơi Phật rồi, đầu mặt lễ xuống chân Phật,
thương khóc thướt-mướt, không tự hãm được; họ đem các đồ cúng-dàng lên
Phật và bạch rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Kính xin đức Thế-Tôn ở lại cõi thọ,
giáo-hóa chúng-sinh. Nếu nay đức Thế-Tôn nhập Niết-Bàn, chúng con là kẻ
mù tối, mãi mãi không thể khai-ngộ được. Vả lại, chúng con phúc ít, thụ
sinh thân nữ-nhân, thường có những sự ngăn-ngại, không được tự-tại,
không có duyên luôn luôn được thân-cận đức Thế-Tôn, đức Thế-Ton lại sắp
nhập Niết-Bàn, thiện-căn chúng con ngày càng sút-kém!”
Khi ấy,
đức Như-Lai liền đáp rằng: “Từ nay trở đi cho đến hết cõi thọ, các bà
nên giữ giới tinh-cần, như người giữ con mắt; ý-niệm ngay-thẳng, đừng
sinh tâm xiểm-nịnh, ghen-ghét, như thế tức là thường được thấy Tôi vậy!”
Những người vợ của dòng Ly-xa kia, nghe đức Phật nói lời ấy rồi, càng
thêm thương-xót, buồn-bã, không tự hãm được, liền ngồi lùi về một bên.
Bấy
giờ, nàng Am-bà-la (Àmrà) dung-nhan đoan-chính, đệ nhất thế-giới, nghe
đức Phật không bao lâu nữa, sẽ nhập Niết-Bàn, nay là lần cuối cùng, Ngài
nhìn thành Tỳ-Da-Ly, nàng mang lòng thương-xót, áo-não, khóc-lóc
thướt-mướt, liền cùng năm trăm quyến-thuộc của nàng, trang-nghiêm năm
trăm cỗ xe, lần-lượt ra ngoài thành, đi đến nơi Phật.
Lúc đó, đức
Thế-Tôn xa xa trông thấy họ đi lại, Ngài bảo các vị Tỳ-Khưu: “Các vị!
Nay nàng Am-bà-la lại nơi Ta, hình-dáng nàng ấy, đẹp lạ tuyệt-vời, cả
thế-gian này, không ai sánh kịp. Các vị đều nên đoan-tâm, chính-niệm,
đừng sinh ý-tưởng say-mê. Là vị Tỳ-Khưu nên quán thân này, có những thứ
bất-tịnh: gan, mật, dạ-dầy, ruột, tim, phổi, thận, lá-lách, phân, giải,
máu, mủ… đầy-dẫy trong ấy những thứ bất-tịnh, lại có đến tám vạn con
trùng ở ngay trong ấy và lông, tóc, móng, răng, da mỏng bọc thịt, chín
lỗ thường chảy[23]…, không một cái gì có thể vui-thích được. Lại,
căn-bản đầu tiên sinh ra thân này, do nơi bất-tịnh và chỗ có thể
vãng-lai của thân này, đều làm cho bất-tịnh tuôn chảy. Tuy trang-sức
bằng những tơ-lụa sặc-sỡ, xông những hương thơm, nhưng, cũng ví như
trong bình báu đựng đồ xú-uế. Và, thân khi chết, chương-phềnh, rữa-nát,
đốt đốt rời-rã, trong thân có trùng, lại rỉa thịt ăn; còn bị hùm beo,
chim cú, chim cắt… mổ-rỉa. Người đời ngu si, không biết quán-sát
chân-chính, mê-đắm ân-ái, giữ cho đến chết, và ở trong ấy, vọng-sinh
tham-dục. Người nào có trí, lại ưa muốn thế?”
Đức Thế-Tôn liền
nói bài kệ:
Tuy đeo đồ anh-lạc[24],
Hương, hoa tự sửa-sang;
Phân,
giải cùng mũi, dãi,
Bất-tịnh đựng đầy trong.
Chúng-sinh mến-tiếc,
giữ,
Mê-lầm không giác-ngộ;
Cũng như tro phủ lửa,
Người ngu
xéo lên trên.
Trí-giả nên xa tránh,
Đừng sinh tâm nhiễm-trước.
Khi
ấy nàng Am-bà-la đến trước đức Phật, đầu mặt lễ xuống chân Phật, đem
các đồ cúng-dàng, cúng-dàng lên Phật, nuốt lệ nghẹn-ngào, bạch Phật
rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Kính xin đức Thế-Tôn ở lại cõi thọ, lưu lại
thế-gian, không nhập Niết-Bàn, đem lại lợi-ích cho chư Thiên, nhân-dân
thế-gian. Nếu đức Thế-Tôn định nhập Niết-Bàn, hết thảy chúng-sinh, không
còn ai dắt-dẫn, như đứa trẻ mất mẹ hiền!”
Lúc đó, đức Thế-Tôn
bảo nàng Am-bà-la: “Tính, tướng của hết thảy hành-tướng sự-vật như thế,
nay nàng không nên sinh tâm bi-não!”
Đức Thế-Tôn liền thuyết-pháp
cho tất cả mọi người lại nơi Phật nghe: “Này các vị! Các vị từ nay trở
đi nên giữ-gìn giới cấm, không nên thiếu-sót, vi-phạm. Những người
phá-giới, Thiên, long, quỉ-thần đều chán-ghét, tiếng xấu đồn khắp, người
không muốn thấy; nếu ở trong chúng, không có uy-đức, các thiện-quỉ-thần
lại không thủ-hộ; khi mệnh sắp mất, tâm-thức sợ-hãi và dù có chút
thiện-nghiệp, đều không nhớ nghĩ, chết liền theo nghiệp, chịu sự đau-khổ
trong địa-ngục, trải nhiều kiếp số, sau mới được ra lại chịu làm thân
ngã-quỉ, súc-sinh. Cứ luân-chuyển, thế, không biết kỳ nào sẽ được
giải-thoát. Trái lại, Tỳ-Khưu giữ giới, Thiên, long, quỉ-thần, đều cùng
cung-kính, tiếng tốt đồn kkhắp, cả thế-gian hay; ở trong đại-chúng,
uy-đức rỡ-thịnh, các thiện-quỉ-thần, thường theo thủ-hộ, khi mệnh sắp
mất, chính-niệm phân-minh, chết sinh ngay vào những nơi thanh-tịnh”.
Giữa
lúc Như-Lai nói pháp ấy, sáu vạn tám nghìn ức Thiên, Nhân tám bộ xa-lìa
trần-cấu[25] được pháp-nhãn-tịnh[26]; sáu mươi vị Tỳ-Khưu, lậu-nghiệp
hết, ý khai-giải[27], thành bậc A-la-hán[28].
Bấy giờ đức Thế-Tôn
bảo những người dòng Ly-xa cùng vợ họ và nàng Am-bà-la rằng: “Ta nay
muốn đi đến thôn Càn-đồ, các vị đều nên trở về nơi ở của mình và các vị
nên biết: tất cả các hành-tướng (sự-vật) đều là vô-thường, các vị chỉ
nên tu-hành theo những pháp Tôi đã nói, các vị đừng nên làm như đứa trẻ
khóc-lóc, thương-xót áo-não!”
Nói rồi đức Thế-Tôn liền từ tòa
ngồi của mình đứng dậy. Những người dòng Ly-xa cùng vợ họ và nàng
Am-bà-la, nghe đức Phật nói lời ấy, đấm ngực, bứt đầu, kêu gào,
khóc-lóc, noi đường theo Phật không chịu trở về.
Đức Thế-Tôn thấy
tình luyến-mộ sâu-xa như thế, không thể dùng lời nói an-ủi được, Ngài
liền dùng sức thần-thông, hóa làm con sông ngập nước, bờ sông sâu-thẳm,
sóng rồ nước chảy vun-vút. Khi ấy, những người dòng Ly-xa cùng vợ họ và
nàng Am-bà-la thấy đức Như-Lai, các vị Tỳ-Khưu đã ở bờ sông bên kia, tất
cả càng thêm cảm-động, thương xót, buồn-bã, vật-vã lăn ra đất, cùng nói
nhỏ với nhau rằng: “Quái lạ, bỗng dưng nơi đây lại có con sông lớn này,
mà lại có sóng vỗ ầm-ầm kinh sợ? Hẳn là đức Như-Lai thấy chúng ta đi
theo không bỏ, mà hóa làm ra thế, để cho hết đường đi vậy!” Những người
dòng Ly-xa kia cùng vợ họ và nàng Am-bà-la, không qua sông được, lòng
càng thổn-thức, ngặt-nghẽo, nghẹn-ngào, tuyệt-vọng trở về.
Bấy
giờ đức Như-Lai đến thôn Càn-đồ, Ngài ngồi trong khu rừng phía Bắc, bảo
các vị Tỳ-Khưu rằng: “Các vị nên biết có bốn pháp: Một là Giới, hai là
Định, ba là Tuệ, bốn là Giải-Thoát, nếu ai không nghe biết bốn pháp ấy,
người ấy đời đời ở trong bể sinh-tử. Xưa kia Tôi nếu không nghe biết bốn
pháp ấy, Tôi không thể chứng được đạo-quả Vô-thượng Chính-đẳng,
Chính-giác được!”
Đức Thế-Tôn liền nói bài kệ:
Giới, Định,
Tuệ, Giải-thoát,
Nếu Ta không nghe lâu;
Không thể chóng chứng
được,
Đạo vô-thượng chính-chân.
Các vị nên tinh-tiến,
Tu-tập
bốn pháp ấy;
Dứt được khổ sinh-tử,
Ruộng phúc nhất Thiên, Nhân.
Đức
Thế-Tôn nói bài kệ ấy rồi, Ngài lại vì các Tỳ-Khưu phân-biệt và nói
rộng nghĩa của bốn pháp ấy. Trong lúc đức Như-Lai nói những pháp ấy, một
nghìn hai trăm vị Tỳ-Khưu, tức thời đối với mọi pháp, lậu-nghiệp hết, ý
khai-giải, thành bậc A-la-hán.
TOÁT-YẾUĐường đến
thôn Càn-đồ, phải qua thành Tỳ-da-ly.
Đức Thế-Tôn đi qua thành
này Ngài ngửa mặt lên nhìn và cười – nụ ười hàm-ý vĩnh-biệt của Ngài.
Giữa
lúc ấy chư Thiên trên hư-không khóc-lóc, nước mắt chảy xuống như mưa.
Các vị Tỳ-Khưu lại buồn!
Do đó, các người dòng Ly-xa, thành
Tỳ-da-ly nghe biết, kéo nhau đến lễ Phật và thỉnh Phật lưu lại thế-gian,
đức Phật dạy: “Sự-vật đều vô-thường: Núi Tu-di, biển rộng lớn, mặt
trời, mặt trăng, cõi đất, sự ân-ái, thân kim-cương… đều bị vô-thường
chuyển-ly! Thôi, các vị đừng thỉnh Tôi nữa! Các vị hãy lắng tâm nghe Tôi
nói về 7 pháp sau đây: 1/ Vui-vẻ, hòa-thuận với nhau. 2/ Giác-ngộ nhau
và bàn về nghiệp thiện. 3/ Giữ giới và lễ-nghi. 4/ Cung-kính cha mẹ, các
bực tôn-trưởng. 5/ Thân-thích hòa-mục thừa-thuận lẫn nhau. 6/ Sửa-sang,
cúng-dàng tháp-miếu trong nước. 7/ Giữ Phật-pháp, kính Tỳ-Khưu và quí
mến thiện-nam, tín-nữ”.
Ngài lại hướng về các vị Tỳ-Khưu, dạy các
vị nhiều pháp thiết-thực, cần thực-hành[29].
Sau đó, vợ những
người dòng Ly-xa đến lễ Phật và cũng thỉnh đức Phật lưu lại thế-gian.
Đức Phật không nhận lời và khuyên: “Nên giữ giới tinh-cần và ý-niệm ngay
thẳng, không nên xiểm-nịnh, ghen-ghét, tức như Tôi ở đời vậy!”
Đến
lượt nàng Am-bà-la.
Nàng là một người có sắc đẹp tuyệt-vời.
Phòng sự khởi tâm của chúng, trước khi nàng đến, đức Phật đã cho
đại-chúng biết về phép quán bất-tịnh.
Nàng đến, lễ Phật, thỉnh
Phật và đức Phật cũng dạy như các vị đến trước.
Một lần nữa, Ngài
khuyên chung tất cả nên giữ giới thanh-tịnh, không nên thiếu-phạm. Và,
Ngài nói về sự lợi, hại của người giữ giới và phạm giới.
Sau
cùng, Ngài từ-biệt ra đi đến thôn Càn-đồ.
Vì sự quá quyến-luyến
của mọi người quyết theo Ngài không trở về, Ngài phải hóa làm con sông
ngăn-cách hai bên, mới đi được.
Đến thôn Càn-đồ, Ngài dạy các vị
Tỳ-Khưu về 4 pháp: Giới, Định, Tuệ và Giải-thoát.
V. 4 ĐẾ VÀ 4 QUYẾT-THIẾTSau
đó, đức Thế-Tôn cùng các vị Tỳ-Khưu, đều từ tòa ngồi của mình đứng dậy,
đi đến thôn Tượng, thôn Am-bà-la, thôn Diêm-phù, cho đến thành
Thiện-già. Đến thành kia, Ngài cùng các vị Tỳ-Khưu đi quanh trước sau,
rồi ngồi tại một nơi. Đức Thế-Tôn bảo các vị Tỳ-Khưu: “Có bốn Thánh-đế,
các vị nên chăm quán-sát: Một là Khổ-đế. Hai là Tập-đế. Ba là, Diệt-đế.
Bốn là, Đạo-đế.
Các vị Tỳ-Khưu! KHỔ-ĐẾ tức là tám-khổ: Một là,
khổ về sinh, hai là, khổ về già, ba là, khổ về bệnh, bốn là, khổ về
chết, năm là, khổ về mong cầu không được, sáu là, khổ về sự oán-ghét
phải hội-ngộ, bảy là, khổ về tình ân-ái phải biệt-ly, tám là, khổ về năm
ấm[30] rỡ-thịnh. Các vị nên biết: tám thứ khổ ấy cùng pháp hữu-lậu[31]
bức-bách, nên thực là khổ.
TẬP-ĐẾ: Vô-minh tham-ái làm nhân
căn-bản cho tám khổ kia, nên biết Tập-đế này thực là nhân của khổ.
DIỆT-ĐẾ:
Vô-minh tham-ái diệt, ngắt dứt nhân khổ, nên biết Diệt-đế này thực là
diệt.
ĐẠO-ĐẾ: Tức là bát-chính-đạo (tám con đường chính): Một là,
chính-kiến (hiểu biết, tư-tưởng chân-chính), hai là, chính tư-duy
(suy-nghĩ chân-chính), ba là, chính-ngữ (nói năng chân-chính), bốn là,
chính-nghiệp (hành-động chân-chính) năm là, chính-mệnh (nghề sống
chân-chính), sáu là, chính tinh-tiến, bảy là, chính-niệm (nhớ nghĩ
chân-chính), tám là chính-định. Tám pháp ấy, thực là con đường của
Thánh-nhân. Nếu ai tinh-siêng quán được bốn Thánh-đế ấy, nhất-định chóng
xa được bể sinh-tử, đến nơi giải-thoát.
Các vị Tỳ-Khưu! Trong
bốn Thánh-đế ấy, nếu ai đã đạt tới chỗ cứu-cánh, cũng nên cố gắng
giải-thuyết cho người khác. Sau khi Tôi diệt-độ, các vị cũng nên siêng
năng suy-nghĩ, tu-tập.”
Giữa lúc đức Như-Lai nói pháp này, năm
trăm vị Tỳ-Khưu, lậu-nghiệp hết, ý khai-giải, thành bậc A-La-Hán; bốn
vạn chư Thiên trên hư-không, do nơi pháp này, xa lìa trần-cấu, được
pháp-nhãn-tịnh.
Đức Thế-Tôn lại bảo các vị Tỳ-Khưu: “Có bốn pháp
quyết-định về sự nói: (quyết-thuyết): Một là, nếu có vị Tỳ-Khưu, ham
thuyết-pháp, nói là: “tôi thân theo Phật, nghe Phật nói pháp như thế,
tôi hiểu rành nghĩa của pháp ấy và tôi thụ-trì, đọc tụng rất thông-lợi”;
các vị nên thỉnh vị ấy nói, nhưng các vị nên theo chỗ nghe được ấy, tự
suy-nghĩ, rành-rẽ, đúng trong kinh, luật, luận (pháp-tướng) có pháp ấy
ư? Nếu trong kinh, luật, luận có pháp ấy các vị nên thụ-trì, khen ngợi
là quí lắm. Nếu trong kinh, luật, luận không có pháp ấy, các vị không
nên thụ-trì, cũng không nên khen-ngợi. Các vị nên biết: pháp ấy không
phải Tôi nói.”
Hai là, nếu có vị Tỳ-Khưu ham thuyết-pháp nói là:
“tôi ở chỗ kia… nghe các vị Tỳ-Khưu-Tăng được pháp như thế, tôi hiểu
rành nghĩa của pháp ấy. Và tôi thụ-trì, đọc-tụng rất thông-lợi”; các vị
nên thỉnh vị ấy nói, nhưng, các vị nên theo chỗ nghe được pháp ấy, tự
suy-nghĩ rành-rẽ, đúng trong kinh, luật, luận có pháp ấy ư? Nếu trong
kinh, luật, luận có pháp ấy, các vị nên thụ-trì, khen-ngợi là quí lắm.
Nếu trong kinh, luật, luận không có pháp ấy, các vị không nên thụ-trì,
cũng không nên khen-ngợi. Các vị nên biết: pháp ấy không phải Tôi nói
cũng không phải các vị Tỳ-Khưu kia nói”.
Ba là, nếu có vị
Tỳ-Khưu, ham thuyết-pháp, nói là: “tôi theo nơi Tăng-già-lam[32] kia,
nơi A-lan-nhã[33] kia, có nhiều vị Tỳ-Khưu thượng-tọa, đều là các vị
nghe nhiều, học giỏi, thông-minh, trí-tuệ, nói ra pháp ấy, tôi được
nghe, tôi hiểu rành nghĩa của pháp ấy và tôi thụ-trì, đọc tụng rất
thông-lợi”; các vị nên thỉnh vị ấy nói, nhưng, các vị nên theo chỗ nghe
được pháp ấy, tự suy-nghĩ rành-rẽ, đúng trong kinh, luật, luận có pháp
ấy ư? Nếu trong kinh, luật, luận có pháp ấy, các vị nên thụ-trì,
khen-ngợi là quí lắm. Nếu trong kinh, luật, luận không có pháp ấy, các
vị không nên thụ-trì, cũng không nên khen-ngợi. Các vị nên biết: pháp ấy
không phải Tôi nói.”
Bốn là, nếu có vị Tỳ-Khưu ham thuyết-pháp,
nói là: “tôi theo nơi Tăng-già-lam kia, nơi A-lan-nhã kia, có một vị
Tỳ-Khưu thượng-tọa, trí-tuệ, nghe nhiều, nói ra pháp ấy, tôi được nghe,
tôi hiểu rành-rẽ nghĩa của pháp ấy và tôi thụ-trì, đọc tụng rất
thông-lợi”; các vị nên thỉnh vị ấy nói, nhưng các vị nên theo chỗ nghe
được pháp ấy, tự suy-nghĩ rành-rẽ, đúng trong kinh, luật, luận có pháp
ấy ư? Nếu trong kinh, luật, luận có pháp ấy, các vị nên thụ-trì,
khen-ngợi là quí lắm. Nếu trong kinh, luật, luận không có pháp ấy, các
vị không nên thụ-trì, cũng không nên khen-ngợi! Các vị nên biết pháp ấy
không phải Tôi nói.”
Các vị nên phân-biệt rõ bốn pháp quyết-định
về sự nói ấy, lại cũng dùng pháp ấy phân-biệt thuyết-pháp, trao-truyền
cho người khác.
Dù Tôi còn ở đời hay Tôi nhập Niết-Bàn, dối-trá
hay chân-thực, các vị dùng pháp ấy, biết rõ!”
Khi ấy, các vị
Tỳ-Khưu bạch Phật rằng: “Quí hóa thay, lạy đức Thế-Tôn! Từ nay về sau,
chúng con xin phân-biệt lời Phật nói và lời ma nói!”
TOÁT-YẾUQua
thôn Tượng, thôn Am-bà-la, thôn Diêm-phù đức Thế-Tôn cùng các vị
Tỳ-Khưu đến thành Thiện-Già. Tại đây, Ngài dạy các vị Tỳ-Khưu nên chăm
quán-sát về Tứ-thánh-đế: Khổ-đế, Tập-đế, Diệt-đế và Đạo-đế.
Ngài
lại dạy các vị về bốn pháp quyết-định của sự nói: Bốn pháp ấy là:
1/
Có vị Tỳ-Khưu nào nói là thân đi theo Phật, nghe được pháp ấy, hiểu
nghĩa và thụ-trì đọc tụng pháp ấy rất thông-lợi, thời các vị nên đem chỗ
nghe được ấy, suy-nghĩ xem pháp ấy có đúng với kinh, luật, luận hay
không. Nếu đúng các vị nên thụ-trì, khen-ngợi. Bằng không đúng thì thôi,
vì pháp ấy không phải Tôi nói.
2/ Có vị Tỳ-Khưu nào nói là ở nơi
các vị Tỳ-Khưu-Tăng kia được nghe pháp ấy v.v… cũng cần nên suy-nghĩ
như trên.
3/ Có vị Tỳ-Khưu nào nói là ở nơi Tăng-già-lam,
A-lan-nhã kia, có nhiều vị Tỳ-Khưu thượng-tọa giỏi, nói ra pháp ấy và vị
ấy được nghe v.v… cũng cần nên suy-nghĩ như trên.
4/ Có vị
Tỳ-Khưu nào nói là ở nơi kia có một vị Tỳ-Khưu thượng-tọa giỏi, nói ra
pháp ấy và vị ấy được nghe v.v… cũng cần nên suy-nghĩ như trên.
Ngài
dạy tiếp: “Các vị nên phân-biệt rõ 4 pháp quyết-định về sự nói ấy và
cũng dùng 4 pháp ấy phân-biệt thuyết-pháp, trao-truyền cho người khác.
Dù Tôi ở đời hay nhập Niết-Bàn, dối-trá hay chân-thực, các vị dùng pháp
ấy biết rõ!”
VI.
PHẤT-BA-DỤC-ĐẾ CÚNG TRAIBấy giờ, đức Thế-Tôn cùng các
vị Tỳ-Khưu đều từ tòa ngồi của mình, đứng dậy, đi đến thôn Cưu-bà. Đến
thôn kia, Ngài cùng các vị Tỳ-Khưu, đi quanh trước sau, rồi ngồi xuống
dưới một gốc cây.
Khi ấy, những người Bà-la-môn, Trưởng-giả,
Cư-sĩ trong thôn kia, nghe thấy đức Phật đã đến thôn mình, đều cùng nhau
đổ xô đến chốn Phật. Đến nơi, đầu mặt lễ xuống chân Phật, rồi ngồi lui
về một bên, bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay đức Thế-Tôn cùng các
vị Tỳ-Khưu tới thôn chúng con, chúng con riêng nhận có ý-thú khác!”
Đức
Như-Lai liền đáp: “Sau đây ba tháng Tôi sẽ nhập Niết-Bàn, nên từ thành
Tỳ-Da-Ly, đi khắp thôn-ấp lần-lượt Tôi đến thôn này!”
Mọi người
nghe đức Phật nói lời ấy, thương khóc áo-não, buồn-bã lăn ra đất, khoa
tay, bứt đầu, đấm ngực kêu to: “Than ôi, khổ lắm! Con mắt của thế-gian
mất rồi, chúng con không bao lâu nữa, mất nơi quy-hướng, dẫn-đạo!”
Kêu
rồi họ sụt-sùi bạch rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Kính xin đức Thế-Tôn, ở lại
cõi thọ trong một kiếp hay non một kiếp.”
Đức Thế-Tôn đáp: “Các
vị không nên sinh tâm buồn-rầu như thế! Sao vậy. – Tính, tướng của pháp
hữu-vi như thế. Các vị nên bỏ tính lo buồn đi, tĩnh-tâm nghe Tôi
thuyết-pháp lần cuối cùng!”
Lúc đó, những người kia, tự gượng nín
nhịn, cúi đầu lặng nghe. Khi ấy, trong tòa ngồi kia, có một người
Bà-la-môn, tên là Phất-ba-dục-đế, là người thông-minh, trí-tuệ, nghe
nhiều, nhớ kỹ, đức Như-Lai liền bảo người ấy rằng: “Các vị nên biết:
người tại-gia có bốn pháp, phải nên tu-tập: Một là, cung-kính cha mẹ,
hết lòng hiếu-dưỡng. Hai là, thường đem pháp lành, dạy bảo vợ con. Ba
là, thương, nhớ tôi đòi, biết những thức họ có hay không. Bốn là,
gần-gũi thiện-tri-thức, xa tránh người ác. Nếu các ông thường làm được
bốn pháp ấy, đời nay được người kính mến, đời sau thường sinh vào chốn
thiện.
Lại nữa, ông Phất-ba-dục-đế! Người tại-gia có bốn pháp
vui: Một là, không nợ tiền của người khác, thời không có sắc mặt
hổ-thẹn. Hai là, người rất giầu có, tự tiếc không dám dùng gì, ngay đến
cha mẹ, vợ con, thân-thích quyến-thuộc, đều không chu-cấp và không
cúng-dàng các bậc Sa-môn, Bà-la-môn. Ba là, người rất giầu có, thân mặc
áo đẹp, miệng ăn mùi ngon; biết cúng-dàng cha mẹ, thân-thích quyến-thuộc
đều chu-cấp và phụng-sự các bậc Sa-môn, Bà-la-môn. Bốn là, người được
ba nghiệp: thân, khẩu, ý, không làm ác; thông-minh trí-tuệ, ưa thích
nghe nhiều.
Các ông nên biết: người tại-gia tuy có pháp vui ấy,
nhưng, người không mang nợ người khác cùng người chỉ có tâm sẻn tham,
thời pháp ấy gọi là pháp vui tối hạ; người hay làm việc bố-thí, là pháp
vui của bậc trung, còn người mà nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý,
không tạo ác, thông-minh, trí-tuệ, ưa thích nghe nhiều, thời pháp ấy là
pháp vui hơn hết (thượng thắng)”.
Đức Như-Lai liền nói kệ:
Không
nợ cùng sẻn tham,
Gọi là vui tối hạ,
Có của đem bố-thí,
Ấy là
vui bậc trung.
Ba nghiệp luôn trong sạch,
Trí-tuệ, thích nghe
nhiều;
Đó là vui hơn hết,
Người trí-tuệ chăm làm.
Các vị từ
ngày nay,
Cho đến hết cõi thọ;
Già trẻ dạy lẫn nhau,
Làm pháp
trung, thượng ấy.[34]
Bấy giờ, bọn ông Phất-ba-dục-đế bạch Phật
rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Từ nay chúng con xin đem pháp trung và pháp
thượng (hơn hết), mở tỏ và dìu-dắt lẫn nhau!”
Khi ấy, bọn ông
Phất-ba-dục-đế, năm trăm người liền ở trước Phật, thụ tam quy-y[35] và
ngũ giới[36]. Bọn ông Phất-ba-dục-đế kia lại bạch Phật rằng: “Lạy đức
Thế-Tôn cùng chư Tỳ-Khưu-Tăng, ngày mai hoan-hỷ nhận sự cúng-dàng của
chúng con.” Đức Như-Lai mặc nhiên ưng-thuận.
Bọn ông
Phất-ba-dục-đế biết đức Phật ưng-thuận rồi, liền từ tòa ngồi của mình
đứng dậy, cùng chúng-nhân lại chiêm lễ ở đây, đều lễ Phật lui về.
Về
đến nhà mình, suốt đêm họ đi sắm-sửa các thức ăn uống thơm-tho,
ngon-lành. Đến ngày mai, khi sắp đến giờ ăn, họ sai người tín thành tới
bạch Phật: “Kính xin Đức Thế-Tôn, biết thì giờ thụ-trai, việc trai-soạn
đã xong!”
Khi ấy, đức Như-Lai cùng các vị Tỳ-Khưu-Tăng, vây quanh
trước sau Phật, đi tới nhà bọn ông Phất-ba-dục-đế. Đến nơi, lần-lượt
ngồi xuống. Ông Phất-ba-dục-đế, thấy đức Phật và chúng Tăng, đều an-tọa
rồi, ông đi lấy nước, tự tay châm-chước[37] các thức ăn uống. Còn năm
trăm người Bà-la-môn, Trưởng-giả, cư-sĩ, đều đem những cỗ cơm ngon tới
nhà ấy, cùng cúng-dàng lên Phật.
Giữa bữa ăn, trong các vị
Tỳ-Khưu, có vị không khéo giữ uy-nghi nơi thân-tướng, các người
Bà-la-môn, Trưởng-giả, Cư-sĩ trông thấy vị ấy như thế, trong tâm không
được vui-vẻ.
Đức Thế-Tôn biết tâm chúng-nhân như thế, Ngài liền
phổ-cáo rằng: “Các ông nên biết: chính-pháp của Như-Lai sâu rộng như bể,
không thể sánh-lường được. Trong bể lớn, có những chúng-sinh thân-thể
rất to, dài đến một vạn sáu nghìn do-tuần, hoặc có chúng-sinh thân dài
tám nghìn do-tuần, thân dài bốn nghìn do-tuần, thân dài một nghìn
do-tuần, thân dài một tấc, nửa tấc, cho đến những thân cực-vi. Bể pháp
của Như-Lai cũng thế, trong ấy hoặc có vị được quả A-la-hán, đủ ba phép
minh[38] cùng sáu phép thần-thông[39] là vị có uy-đức lớn, đem lại
phúc-lợi cho Nhân-Thiên và trong ấy lại cũng có vị được quả
A-Na-Hàm[40], Tư-Đà-Hàm[41], Tu-Đà-Hoàn[42], nghĩa là, trong ấy cũng có
các vị được tứ quả - tứ hướng[43]; cho đến cũng có những người phàm-phu
chưa được pháp-lợi gì. Thế nên, các vị không nên đối với trong bể pháp,
sinh tâm nghi-ngại!”
Lúc đó đức Thế-Tôn liền nói bài kệ:
Hết
thảy mọi dòng sông,
Đều chảy về biển cả.
Cúng cơm Phật và Tăng,
Phúc
về mình cũng vậy!
Đức Như-Lai nói bài kệ ấy rồi, Ngài lại vì mọi
người, nói hết thảy mọi pháp. Ở trong pháp ấy, bọn ông Phất-ba-dục-đế
năm trăm người, xa lìa trần-khổ, được pháp-nhãn-tịnh.
TOÁT-YẾUĐến
thôn Cưu-Bà đức Phật cùng các vị Tỳ-Khưu đến ngồi dưới gốc cây.
Những
người Bà-la-môn, Trưởng-giả, Cư-sĩ trong số ấy có cả ông Phất-ba-dục-đế
trong thôn nghe biết, kéo nhau đến lễ Phật, được biết đức Phật sắp nhập
Niết-Bàn. Họ kêu khóc, thỉnh Phật lưu lại thế-gian, nhưng Phật không
nhận lời và đều được Ngài an-ủi như bao lần trước.
Tới đây, Ngài
dạy: “Người tại-gia có 4 pháp cần nên tu-tập:
1/ Cung-kính và
hiếu-dưỡng cha mẹ.
2/ Đem pháp lành dạy vợ con.
3/ Thương mến và
giúp đỡ tôi-tớ.
4/ Gần bạn lành, tránh bạn ác.
Ngài lại dạy:
“Người tại-gia có 4 pháp vui:
1/ Không nợ ai.
2/ Giầu có nhưng
bỏn sẻn với cả mình, cha mẹ, thân-thích v.v…
3/ Cự-phú biết ăn mặc,
cung-dưỡng cha mẹ, thân-thích, phụng-sự các vị tu-hành.
4/ Thân,
khẩu, ý, không làm ác, thông-minh, trí-tuệ, nghe nhiều.
Bốn hạng
người này, 2 hạng đầu là pháp vui tối hạ, hạng thứ 3 là bậc trung, còn
hạng thứ 4 là bậc thượng. Vậy, từ nay các vị nên làm theo bậc trung và
bậc thượng kia!”
Mọi người nghe Phật nói pháp đều hoan-hỷ, xin
thụ Tam-quy, ngũ-giới và xin thỉnh Phật cùng chúng Tăng ngày mai tới nhà
nhận sự cúng-dàng của họ.
Trong bữa ăn, có vị không nghiêm-chỉnh
uy-nghi, họ trông thấy, tâm họ không được vui vẻ. Đức Phật cảm thấy
thế, Ngài dạy: “Trong bể lớn có nhiều loại chúng-sinh, to, nhỏ khác
nhau, trong bể Pháp của Tôi cũng vậy, có các vị được Tứ-quả và cũng có
những người phàm-phu chưa được pháp-lợi gì. Các vị không nên ngờ-vực.
Và, biết rằng cúng-dàng Phật, chúng Tăng, phúc ấy mình sẽ được, như nước
mọi sông, đều chảy về bể cả!”
Nghe đức Phật nói, mọi người xa
lìa được trần-cấu và được pháp-nhãn-tịnh.
VII. ÔNG THUẦN-ĐÀ THỈNH PHẬTSau đó,
đức Thế-Tôn cùng các vị Tỳ-Khưu-Tăng từ tòa ngồi của mình đứng dậy, lại
tiến về phía trước, đến thành Ba-ba. Khi ấy, bọn ông Phất-ba-dục-đế năm
trăm người, thương xót kêu-khóc, kính-tiễn đức Như-Lai lên đường, họ
bồi-hồi đoái nhìn mộ-kính, đến khi không trông thấy nữa, họ mới trở về.
Khi
đức Thế-Tôn đến thành Ba-ba rồi, trong thành kia, có người con của một
thợ khéo, tên là Thuần-Đà (Cunda). Nhà ông Thuần-Đà có một khu vườn, rất
tĩnh-mịch, đức Như-Lai liền cùng các vị Tỳ-Khưu vây-quanh trước sau, đi
đến vườn kia.
Ông Thuần-Đà nghe biết đức Phật cùng chúng Tăng
đến vườn nhà mình, vui mừng hớn hở, không tự hãm được, ông cùng những
người đồng loại, đều đến nơi Phật, đầu mặt lễ xuống chân Phật, rồi đứng
lùi một bên, bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Chúng con không biết đức
Thế-Tôn, có duyên gì tới đây, hoặc có ý-thú gì khác?”
Đức Thế-Tôn
đáp: “Nay Tôi sở-dĩ đến đây, là vì không bao lâu nữa Tôi sẽ nhập
Niết-Bàn, Tôi muốn tương kiến lần cuối cùng!”
Bấy giờ, ông
Thuần-Đà cùng những người đồng loại của ông, nghe đức Phật nói lời ấy,
tâm não-thương quá, buồn-bã lăn ra đất, ngất đi giờ lâu mới tỉnh, khẽ
bạch Phật rằng: “Lạy Đức Thế-Tôn! Nay Ngài bỏ chúng-sinh, không đem lòng
từ, niệm đến họ nữa hay sao mà Ngài muốn nhập Niết-Bàn? Kính xin Ngài
hãy ở lại cõi thọ một kiếp hay non một kiếp!” Tức thời, ông lại bứt đầu,
đấm ngực, kêu to: “Than ôi, khổ lắm thay! Con mắt của thế-gian mất rồi,
hết thảy chúng-sinh từ nay về sau chìm-đắm trong bể sinh-tử, không có
kỳ nào ra khỏi được! Sao vậy? Đấng Vô-Thượng Đạo-Sư nhập Niết-Bàn rồi!”
Đức
Thế-Tôn bảo ông Thuần-Đà: “Nay ông không nên sinh tâm lo buồn, hết thảy
mọi hành-tướng của các pháp đều như thế, đều bị vô-thường đổi dời;
ân-ái hội-hợp, quyết có lúc ly-biệt, nên nay ông đừng sinh tâm lo-buồn
nữa!”
Ông Thuần-Đà liền bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay
chúng con cũng biết mọi hành-tướng là vô-thường, ân-ái hội-hợp đều phải
biệt-ly nhưng, đấng Vô-Thượng-Tôn sẽ nhập Niết-Bàn, làm sao chúng con
không thương-xót, áo-não được!”
Khi ấy, đức Thế-Tôn vì ông
Thuần-Đà nói hết thảy pháp. Ông Thuần-Đà nghe rồi, tâm lo buồn hơi bớt,
liền từ tòa ngồi của mình đứng dậy, thân chỉnh uy-nghi, chễ áo vai hữu,
đỉnh lễ xuống chân Phật, bạch rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Ngày mai kính xin
đức Thế-Tôn, nhận sự cúng-dàng đạm-bạc của chúng con!” Đức Thế-Tôn mặc
nhiên ưng-thuận.
Lúc đó, ông Thuần-Đà biết đức Phật đã ưng-thuận,
ông liễn lễ xuống chân Phật, lui về.
Ông Thuần-Đà về nhà, suốt
đêm sắm-sửa nhiều thức ăn uống ngon lành. Ngày mai, khi sắp đến giờ ăn,
ông sai người tín-thành tới bạch Phật: “Kính xin đức Thế-Tôn biết thì
giờ thụ-trai, việc trai-soạn đã xong!”
Khi ấy, đức Như-Lai cùng
các vị Tỳ-Khưu vây-quanh trước sau Ngài, đến nhà ông Thuần-Đà. Đến nơi,
lần-lượt ngồi xuống. Ông Thuần-Đà thấy đức Phật ngồi rồi, ông liền đi
lấy nước, tự tay châm-chước các đồ tinh-soạn xuống bát. Đức Thế-Tôn cùng
chúng Tăng ăn xong, rửa bát, về chỗ ngồi cũ. Ông Thuần-Đà cũng ngồi.
Đức Thế-Tôn bảo ông Thuần-Đà: “Nay ông đã làm được việc phúc hiếm có.
Cúng-dàng cơm Phật và các vị Tỳ-Khưu-Tăng lần cuối cùng, quả-báo ấy,
không bao giờ hết được. Mọi phúc của hết thảy chúng-sinh gieo-trồng,
không có gì có thể so-sánh được với phúc cúng-dàng của ông, ông nên tự
sinh ra tâm vui mừng. Nay lần cuối cùng ta nhận lời thỉnh của ông xong,
Ta không nhận lời thỉnh cúng cơm của ai nữa!”
Đức Thế-Tôn liền
nói bài kệ:
Ông nay đã dựng nên,
Một công-đức hiếm có;
Cuối
cùng được cúng cơm,
Phật cùng Tỳ-Khưu-Tăng.
Công-đức ngày thêm
lên,
Mãi mãi không cùng-kiệt.
Nay ông nên tự mình,
Sinh tâm rất
vui mừng;
Hết thảy phúc người tạo,
Không sánh kịp phúc ông!
TOÁT-YẾUĐến
thành Ba-ba, đức Phật cùng chúng Tăng đến nghỉ tại khu vườn của nhà ông
Thuần-Đà.
Ông Thuần-Đà cùng những người đồng-loại nghe biết, đến
lễ Phật và thỉnh-vấn việc Ngài tới đây. Ngài dạy: “Tôi sắp nhập
Niết-Bàn, nên Tôi muốn tới đây tương-kiến”.
Ông Thuần-Đà cùng mọi
người nghe thấy thế buồn-rầu, kêu-khóc thỉnh Phật lưu lại thế-gian,
thời Ngài đều an-ủi như bao người trước.
Tiếp đó, ông thỉnh Phật
cùng chúng Tăng ngày mai hoan-hỷ tới nhà ông dùng cơm. Đức Phật im-lặng.
Sau
bữa cơm, đức Phật bảo ông Thuần-Đà: Nay ông đã làm được việc phúc hiếm
có là cúng-dàng Phật, chúng Tăng lần cuối cùng. Phúc-báo ấy không bao
giờ hết được. Mọi phúc-báo của chúng-sinh, không thể so-sánh được với
phúc-báo của ông. Ông nên khởi tâm vui mừng. Đây là lần cuối cùng Ta
nhận lời thỉnh của ông thôi!”
VIII. PHẬT ĐỘ ÔNG PHẤT-CA-SAKhi đức Thế-Tôn
nói bài kệ ấy rồi, Ngài liền bảo ông A-Nan: “Nay Tôi thấy đau mình, muốn
chóng đến thành Cưu-thi-na!”
Bấy giờ, ông A-Nan cùng các vị
Tỳ-Khưu và ông Thuần-Đà, nghe đức Phật nói lời ấy, sinh đau khổ quá,
kêu-khóc thướt-mướt, không tự hãm được.
Ngay lúc đó, đức Thế-Tôn
từ tòa ngồi của mình đứng dậy, cùng các vị Tỳ-Khưu vây-quanh trước sau,
đi về thành kia. Ông Thuần-Đà cùng quyến-thuộc cũng đi theo đức Như-Lai.
Nửa
đường đức Thế-Tôn ngồi nghỉ dưới một gốc cây, Ngài bảo ông A-Nan: “Nay
Tôi đau bụng quá!”. Ngài dựa vào ông A-Nan mà đi. Đi cách chỗ kia chưa
được mấy, Ngài thổ-huyết lại trở lại dưới gốc cây cũ, Ngài bảo ông
A-Nan: “Ông cầm cái áo Tăng-già-lê[44], gấp bốn trải xuống đất, Tôi muốn
ngồi nghỉ đây, chứ không thể tiến lên được nữa!” Ông A-Nan vâng lời đức
Phật dạy, làm y như thế.
Đức Thế-Tôn ngồi nghỉ dưới gốc cây và
bảo ông A-Nan: “Nay Tôi khát nước, ông đến sông Ca-khuất-ta, kín ít nước
sạch về cho Tôi uống!”.
Ông A-Nan bạch Phật rằng: “Lạy Đức
Thế-Tôn! Vừa nãy có những người lái buôn cùng năm trăm cỗ xe qua sông
ấy, sợ nước sông đục, không thể uống được!”
Ông A-Nan bạch như
thế đến ba lần. Đức Phật bảo ông A-Nan: “Ông cứ đi đi!” Ông A-Nan cầm
bát đi, đến trên bờ sông, thấy nước sông lắng trong, tâm rất sợ hãi, rởn
cả mình-mẩy, chân lông, ông tự nghĩ rằng: “Vừa rồi ta thấy những người
lái buôn cùng năm trăm cỗ xe qua sông này, ý hẳn còn đục, ngờ đâu lại
trong, thành ra ta trái-nghịch lời sai khiến của Như-Lai!”.
Nghĩ
rồi ông kín nước đem về dâng cúng Phật và nói lên rằng: “Lạ lắm, lạy đức
Thế-Tôn! Vừa rồi con thấy những người lái buôn cùng năm trăm cỗ xe,
trước sau qua sông, đáng lẽ trong vòng mười ngày, nước còn chưa trong,
thế mà nhờ thần-lực của đức Thế-Tôn trong chốt-lát đã trong mát rồi!”
Đức
Thế-Tôn liền bưng nước uống.
Bấy giờ, có một người con của
Mãn-la tiên-nhân, tên là Phất-Ca-Sa, là đệ-tử của Ca-lan tiên-nhân. Ông
này từ thành Cưu-Thi-Na, đến thành Ba-ba, giữa đường tình-cờ thấy đức
Như-Lai ngồi nghỉ dưới gốc cây. Ông liền chắp tay vấn-tấn, rồi ngồi lui
về một bên bạch Phật rằng: “Lạy Đức Thế-Tôn! Pháp xuất-gia, sự-nghiệp
tọa-thiền là tối đệ-nhất, vì nó điều phục tình-căn, làm cho tâm không
rối-loạn, chuyên-tinh tịch-tĩnh, không kinh sợ gì. Sao vậy? – Vì, tôi
ghi nhớ: xưa kia tôi theo thầy tôi là Ca-lan tiên-nhân, đi trên
đường-trường. Khi đã mỏi-mệt, chúng tôi ngồi nghỉ dưới gốc cây bên
đường. Thầy tôi liền tọa-thiền tư-duy. Giữa lúc đó, có những người
lái-buôn chở năm mươi cỗ xe qua trước, mà thầy tôi vẫn ngồi im-lặng,
thân không lay động. Và, cứ như thế khá lâu, thầy tôi mới từ thiền-định
tỉnh dậy. Tôi liền bạch với thầy tôi rằng: “Bạch thầy lúc thầy ngồi
thiền tại đây, có những người lái-buôn cùng năm mươi cỗ xe qua trước,
tiếng kêu như sấm, không biết thầy có nghe thấy không?” Thầy tôi đáp:
“Ta không thấy gì cả.” Tôi lại hỏi: “Vậy thầy có nghe thấy tiếng xe đi
không?” Thầy tôi cũng đáp là không nghe thấy. Tôi bạch: “Bạch thầy, nay
trên áo thầy sở-dĩ có những bụi bám nhơ-nhớp, là do những xe kia đi qua,
gây nên thế!” Khi ấy, tôi cho là rất lạ lùng và biết rằng: pháp
tọa-thiền thực đáng kính-trọng, vì nó khéo điều-nhiếp được tình-căn,
không làm rối loạn!”.
Đức Thế-Tôn đáp ông Phất-ca-sa rằng:
“Sự ông vừa nói, không phải lạ-lùng. Sao vậy? Nếu có người không phải
ngủ-say, cũng không phải nhập Diệt-tận-định[45], tâm đoan-chính, ngồi
Thiền, lúc đó có năm trăm cỗ xe đi qua, người ấy vẫn không biết, không
nghe thấy gì, như thế mới là lạ-lùng chứ!
Lại nữa, ông
Phất-ca-sa! Đây cũng chưa phải là rất lạ. Nếu có người chính-niệm
tọa-thiền, gặp lúc trời sấm-sét ầm ầm, sáng lóe, bấy giờ có hai anh em
người đi cày, nghe tiếng kinh sợ ấy, tức thời chết tươi và bốn con trâu
gần đấy cũng chết ngay, mà người ngồi thiền kia không biết, không nghe
thấy gì, thế được gọi là lạ-lùng chăng? Ông Phất-ca-sa thưa: Lạy đức
Thế-Tôn! Năm trăm cỗ xe qua trước không biết, không nghe, đã là lạ-lùng,
phương chi lại sấm-sét, sáng lóe, ầm ầm động đất không biết, không
nghe, thời là rất hiếm có!”
Đức Thế-Tôn bảo ông Phất-ca-sa: “Xưa
kia ta chính tâm ngồi thiền, suy-nghĩ dưới một gốc cây ở thôn A-xa-ma.
Lúc đó, có những người lái-buôn cùng năm trăm cỗ xe qua trước chỗ ta
ngồi, ta suy-nghĩ trong thiền-định không biết, không nghe thấy gì. Những
người lái-buôn kia, đi qua giờ lâu, Tôi mới xuất-định. Họ vừa đi vừa
ngoảnh lại trông. Lúc họ xa trông thấy Tôi đứng dậy, họ ùa chạy lại,
thấy cát bụi bám nhơ-nhớp trên áo Tôi, họ liền phủi đi và hỏi rằng: “Vừa
rồi, chúng tôi cùng năm trăm cỗ xe đi qua đây, đức Thế-Tôn có trông
thấy không? Tôi đáp: “Tôi không trông thấy!” Họ lại hỏi: “Đức Thế-Tôn
nhắm mắt nên không trông thấy, nhưng, chắc là nghe thấy tiếng?” Tôi đáp:
“Tôi cũng không nghe thấy tiếng!” Họ lại hỏi: “Vậy đức Thế-Tôn ngủ say
hay là nhập Diệt-tận-định?” – Tôi đáp: “Tôi không ngủ say cũng không
phải nhập Diệt-tận-định, Tôi chỉ ở trong thiền suy-nghĩ, nên không nghe,
không thấy gì!” Họ nghe lời nói ấy của Tôi, họ cho là rất lạ-lùng, khen
chưa từng có bao giờ và nói rằng: “Sức tọa-thiền được như thế đấy!” Tôi
liền vì họ, nói cho họ nghe mọi pháp và những người lái-buôn kia, do
nơi mọi pháp ấy, đều xa lìa trần-cấu, được pháp-nhãn-tịnh.
Lại
nữa, ông Phất-ca-sa! Ngày trước Tôi ngồi một mình trong khoảnh ruộng bên
thôn kia, lặng-lẽ suy-nghĩ thiền, chốc-lát tự-nhiên sấm-sét vang-giật,
gió mưa chấn-động cả trời đất. Khi ấy có hai anh em người cày ruộng,
chợt nghe thấy những tiếng ấy, đều cùng sợ mà chết; lại có bốn con trâu
cũng đều chết tươi. bấy giờ, người trong thôn kia, nghe tin có hai người
đi cày, nghe tiếng sét sợ chết, hoặc cha mẹ, vợ con, bạn-bè, họ-hàng
hợp cùng những người trong thôn đi theo, khóc-lóc lại xem; lúc đó, Tôi
mới ở trong thiền-định tỉnh dậy, thấy mặt đất đầy nước bùn, lại có nhiều
người, tụ-tập gào khóc. Có một người đi lại, Tôi liền hỏi: “Sao lại có
nhiều người tự-tập lại đây và khóc-lóc như vậy?” - Người kia đáp: “Vừa
rồi đức Thế-Tôn không nghe biết tiếng sấm, sét ư?” Có hai anh em nhà kia
trong thôn con, cày ruộng tại nơi đây, hai người đồng thời bị sét đánh
chết và cả bốn con trâu cũng đều bị chết, sao mà đức Thế-Tôn không hiểu
biết gì? Hay là, vừa rồi đức Như-Lai ngủ say, hoặc là Ngài nhập
Diệt-tận-định ư? – Tôi đáp: “Không, vừa rồi Tôi không ngủ say cũng không
nhập Diệt-tận-định, Tôi chính-tâm, im-lặng ngồi thiền, nên Tôi không
nghe thấy đó?” Người kia nghe đức Phật nói lời ấy, cho là rất lạ-lùng,
khen chưa từng có bao giờ. Tâm họ tự-niệm: “Tọa-thiền có năng-lực như
thế!” Tôi liền vì họ, nói cho họ nghe mọi pháp. Họ nghe pháp rồi, do
trong những pháp ấy, họ xa-lìa trần-cấu, được pháp-nhãn-tịnh.
Bấy
giờ, ông Phất-ca-sa, nghe đức Phật nói lời ấy, sinh tâm hiếm có, bạch
đức Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Trước đây khi tôi thấy thầy tôi ngồi
thiền, năm mươi cỗ xe đi qua, không nghe, không biết gì, tôi cho là
lạ-lùng; nay đức Như-Lai nói hai việc trên đây, gấp trăm, nghìn, vạn
lần, không gì có thể so-sánh được với năng-lực Thiền-định không thể
nghĩ, bàn được của Như-Lai!” Bạch rồi, ông theo Phật thụ Tam-quy-y. Đức
Như-Lai lại vì ông nói cho nghe mọi pháp nhiệm-mầu. Ông nghe pháp rồi,
tâm-ý khai-ngộ, xa lìa trần-cấu, được pháp-nhãn-tịnh.
Ông ấy liền
bảo người đi hầu: “Ngươi đi cầm hai tấm vải tốt màu vàng ròng của ta,
đem lại đây cho ta, ta muốn dâng cúng Phật!” Người hầu vâng lời, lấy vải
đem đến; ông Phất-ca-sa tay cầm tấm vải, quỳ thẳng trước Phật, bạch
rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay con đem tấm vải này dâng lên Thế-Tôn, kính
mong Thế-Tôn thương con, nhận cho con!”
Đức Thế-Tôn đáp lời ông
Phất-ca-sa: “Tôi nay vì lòng chân-thành của ông, nhận cho ông một tấm,
còn một tấm ông nên đem cúng ông A-Nan! Sao vậy? – Vì, ông A-Nan đêm
ngày hầu cận bên Tôi, vả lại, ngày nay ông trông nom sự đau yếu của Tôi,
nếu có thí-chủ, bố-thí cho người đau yếu cùng người trông nom người đau
yếu ấy, thế gọi là đầy đủ sự bố-thí lớn-lao (mãn-túc đại-thí).”
Ông
Phất-ca-sa nghe đức Phật nói lời ấy, vui mừng hớn-hở, liền để một tấm
vải dưới chân Phật và cầm một tấm tới chỗ ông A-Nan, quỳ thẳng, bạch
rằng: “Nay tôi đem tấm vải này cúng Tôn-giả, kính mong Tôn-giả nhận
cho!” Ông A-Nan đáp: “Quý hóa thay, quý hóa thay! Nay ông tin lời đấng
Thiên-Nhân-Sư, tôi mong ông được an-lạc mãi-mãi, tôi xin nhận vật bố-thí
của ông!”
Sau đó ông Phất-ca-sa, trở về nơi đức Phật, đức Phật
lại vì ông ấy, nói cho nghe mọi pháp. Ông ấy nghe pháp rồi, chứng được
quả A-na-hàm. Khi ấy, ông Phất-ca-sa lại bạch Phật rằng: “Lạy đức
Thế-Tôn! Nay con muốn xuất-gia trong Phật-pháp.” Đức Phật liền gọi:
“Thiện-lai Tỳ-Khưu!”[46] Lúc đó râu tóc tự sạch trụi, áo ca-sa[47] mặc
vào mình, thành Sa-môn, chứng quả A-la-hán.
TOÁT-YẾUSau
lúc phó-trai tại nhà ông Thuần-Đà, đức Phật thấy người đau, Ngài liền
cùng ông A-Nan, các vị Tỳ-Khưu và quyến-thuộc ông Thuần-Đà đi về thành
Cưu-thi-na.
Nửa đường Ngài đau bụng, thổ huyết, đành nghỉ lại
dưới một gốc cây.
Ngài khát nước. Ông A-Nan đến sông Ca-khuất-ta
kín nước về Ngài uống.
Tình-cờ, con của Mãn-la tiên-nhân, tên là
Phất-ca-sa, đệ-tử của Ca-lan tiên-nhân, đi từ thành Cưu-thi-na đến thành
Ba-ba, gặp Ngài tại đây.
Sau khi vấn-tấn đức Phật, ông tán-dương
sự-nghiệp tọa-thiền là tối đệ-nhất, điều-phục được tình-căn, tâm không
rối-loạn, không kinh sợ. Ông nói lại sự nghiệp ấy của thầy ông: một hôm
ngồi thiền dưới gốc cây bên đường, năm mươi cỗ xe đi qua không biết.
Đức
Phật bảo: Như thế chưa thấy gì làm lạ. Ngày xưa Tôi ngồi thiền dưới một
gốc cây tại thôn A-xa-ma, năm trăm cỗ xe của người lái buôn đi qua, Tôi
không nghe thấy gì. Hơn thế nữa, một hôm cũng ở thôn kia, Tôi ngồi
thiền, trời mưa, sét đánh chết 2 người đi cày và 4 con trâu, mà Tôi cũng
không nghe thấy chi!
Ông Phất-ca-sa nghe đức Phật nói thế, ông
rất thán-phục và xin thụ Tam-quy.
Tiếp đó, ông dâng cúng Phật một
tấm vải vàng tốt và đem cúng ông A-Nan một tấm, theo lời Phật chỉ-giáo.
Và,
tới đây ông xin xuất-gia theo Phật-pháp, thành bậc Sa-môn, chứng quả
A-la-hán.
IX. BÁO ĐIỀM
NHẬP-DIỆTBấy giờ, từ diện-môn đức Như-Lai, phóng ra
nhiều hào-quang: xanh, vàng, đỏ, trắng, pha-lê, sắc hồng. Ông A-Nan liền
đỉnh lễ xuống chân Phật, quỳ thẳng, chắp tay, bạch Phật rằng: “Lạy đức
Thế-Tôn! Không biết có nhân-duyên gì, mà đức Thế-Tôn hiện ra thụy-tướng
ấy?”
Đức Phật đáp: Ông A-Nan! Ông nên biết có hai thời Tôi phóng
ra những hào-quang sáng lớn: Một là, khi Tôi sắp thành Phật ở dưới gốc
cây Bồ-Đề, phóng ra hào-quang sáng lớn. Hai là, khi Tôi sắp nhập
Niết-Bàn, phóng ra hào-quang sáng lớn.”
Ông A-Nan! Ông có biết
không: Tôi thành Vô-Thượng Chính-Đẳng Chính-Giác, thuộc về ban đêm, khi
gần sáng, thời khi tôi nhập Niết-Bàn cũng như thế! Ông nay nên biết: gần
sáng đêm hôm nay, tôi sẽ nhập Niết-Bàn, khoảng hàng Sa-la song-thụ bên
bờ sông Ni-liên, nơi Lực-sĩ sinh-địa[48], thuộc thành Cưu-thi-na!”
Đức
Phật nói lời ấy rồi, các vị Tỳ-Khưu, chư Thiên trên hư-không, thương
xót, kêu khóc, không tự hãm được.
Khi ấy, đức Thế-Tôn cùng các vị
Tỳ-Khưu, đến sông Ca-khuất-ta. Đến đây, đức Thế-Tôn liền xuống sông tắm
rửa. Tắm rửa xong. Ngài lại cùng các vị Tỳ-Khưu-Tăng, ngồi bên bờ sông.
Lúc
đó, ông Thuần-Đà, tự trách tâm mình rằng: “Đức Thế-Tôn vì thụ bữa cơm
cúng-dàng của ta, sinh ra đau bụng, mà sắp nhập Niết-Bàn chăng?”
Đức
Thế-Tôn biết tâm ông Thuần-Đà nghĩ thế, Ngài liền bảo ông A-Nan: “Này
ông A-Nan! Ông nay nên biết: hết thảy chúng-sinh, chớ nên trách mình
rằng đức Như-Lai vì thụ bữa cơm cúng-dàng của ta, đến nỗi bị bệnh trong
thân, mà nhập Niết-Bàn. Sao vậy? - Đức Như-Lai ra đời, có hai hạng người
được phúc hơn hết: Một là, khi Như-Lai sắp thành Vô-Thượng Chính-Đẳng,
Chính-Giác, đem món ăn lại dâng cúng. Hai là, khi Như-Lai sắp nhập
Niết-Bàn, cúng-dàng bữa cơm sau cùng. Hai hạng người cúng-dàng ấy, phúc
đều bằng nhau không khác và được quả-báo rất nhiều, không kể xiết được.
Hai hạng người cúng-dàng như thế, kể khó gặp được cũng như hoa
Ưu-đàm[49], bao thời, bao thời, mới có một lần!”
Đức Thế-Tôn liền
bảo ông Thuần-Đà: “Ông Thuần-Đà! Tâm ý ông hiện nay chính có niệm ấy.
Ông không nên tự sinh tâm hối-trách như thế. Ông đã được sự quý-báu
vô-thượng khó được như thế, ông nên tự sinh ra tấm lòng vui mừng,
may-mắn. Ông nên biết: Trong trăm, nghìn, muôn kiếp, khó được nghe thấy
danh-hiệu Phật. Tuy có khi được nghe danh-hiệu Phật, nhưng, trông thấy
được Phật lại khó. Tuy có khi trông thấy được Phật, nhưng, cúng-dàng
được cũng khó. Tuy có khi được cúng-dàng, nhưng, được dự vào hai hạng
cúng-dàng như trên, cũng lại rất khó. Ông nay đã được phúc-quả ấy, không
bao lâu nữa, ông sẽ được biện-tài, trí-tuệ, sắc-lực và thọ-mệnh.”
Ông
Thuần-Đà nghe đức Phật nói lời ấy, tâm sinh vui mừng không tự hãm được,
bạch Phật rằng: “Sung-sướng thay, lạy đức Thế-Tôn! Nay con đã được
lợi-ích lớn-lao như thế!”
Đức Thế-Tôn liền nói bài kệ:
“Người
bố-thí được phúc,
Người từ-tâm không oán;
Người làm thiện khỏi
ác,
Người ly-dục[50] không não.
Nếu làm hạnh như thế,
Không
lâu, chứng Niết-Bàn.”
Đức Thế-Tôn nói bài kệ ấy rồi, Ngài bảo ông
Thuần-Đà: “Ông Thuần-Đà! Nay ông nên đem việc phúc-báo trong sự
cúng-dàng lần cuối cùng này, nói khắp cho mọi người nghe, làm cho những
người được nghe ấy, được sự an-lạc mãi-mãi!”
TOÁT-YẾUSau
khi độ ông Phất-ca-sa rồi, từ diện-môn, đức Thế-Tôn phóng ra hào-quang
nhiều mầu.
Ông A-Nan không hiểu, đỉnh lễ hỏi Phật về nhân-duyên
ấy, đức Phật dạy: “Có 2 thời-kỳ Tôi phóng hào-quang lớn là khi Tôi sắp
thành-đạo dưới gốc Bồ-Đề và khi Tôi sắp nhập Niết-Bàn. Trước khi Tôi
thành-đạo vào lúc gần sáng của ban đêm, thời nay Tôi nhập Niết-Bàn, cũng
thế! Gần sáng đêm hôm nay Tôi sẽ nhập Niết-Bàn dưới hàng cây Sa-la
song-thụ, bên bờ sông Ni-liên-thiền, nơi Lực-sĩ sinh-địa, thuộc thành
Cưu-thi-na!”
Các vị Tỳ-Khưu cùng chư thiên trên hư-không đều
buồn-rầu khóc-lóc!
Liền đó, đức Phật cùng chúng Tăng đi đến sông
Ca-khuất-ta. Đến đây Ngài xuống sông tắm. Tắm xong, Ngài cùng tất cả
ngồi nghỉ bên bờ sông.
Khi ấy ông Thuần-Đà tự-trách là do ông
cúng cơm mà đức Phật đau, nhập-diệt. Ngài cảm thấy như thế, Ngài liền
bảo ông A-Nan: “Chúng-sinh đừng ai có tâm-niệm rằng vì mình cúng cơm, mà
Phật nhập-diệt. Vì, đức Như-Lai ra đời, ai cúng bữa cơm khi sắp
thành-đạo và bữa cơm khi sắp nhập-diệt, được phúc-báo hơn cả.”
“Ông
Thuần-Đà! Ông không nên nghĩ như vậy! Trong trăm, nghìn, muôn kiếp dễ
nghe được hiệu Phật, dễ thấy được Phật, dễ cúng-dàng được Phật và dễ
được dự vào hai buổi cúng-dàng như trên? Ông nên tự vui mừng, đã được
phúc-báo ấy, không bao lâu ông sẽ được biện-tài, trí-tuệ, sắc-lực và
thọ-mệnh. Nhân nào, quả ấy!”
“Vậy ông nên phổ-cáo cho mọi người
biết về sự phúc-báo trong việc cúng-dàng lần cuối cùng này, để cho người
nghe cùng được sự an-lạc.”
X.
PHẬT TỚI SA-LA SONG-THỤBấy giờ, đức Thế-Tôn bảo ông
A-Nan: “Nay Tôi muốn tiến đến khoảng hàng cây Sa-la[51] song-thụ bên bờ
sông Ni-liên, nơi Lực-sĩ sinh-địa, thuộc thành Cưu-thi-na!”
Ông
A-Nan bạch Phật: “Dạ, lạy Thế-Tôn! Con xin vâng.”
Khi ấy đức
Như-Lai cùng các vị Tỳ-Khưu, vây quanh trước sau, tiến lên đường. Qua
sông Ni-liên, đức Thế-Tôn cùng đại-chúng dừng lại ngoài rừng Sa-la, nơi
Lực-sĩ sinh-địa thuộc thành Cưu-thi-na. Ngài bảo ông A-Nan: “Ông đi vào
trong rừng Sa-la, thấy nơi nào có hàng cây song-thụ, riêng một chỗ ấy,
ông quét rửa ở dưới cho sạch-sẽ và ông đặt cái giường kết bằng dây tại
đấy, nhưng để đầu quay về hướng Bắc. Nay thân-thể Tôi mỏi-mệt quá rồi!”
Ông
A-Nan cùng các vị Tỳ-Khưu nghe đức Phật nói lời ấy, càng thêm thương-
xót, buồn-bã! Ông A-Nan sa lệ, vâng lời Phật dạy mà đi. Đến chỗ hàng cây
kia, ông quét rửa, xếp đặt, các việc đều như pháp, rồi ông trở về bạch
Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Con quét rửa, xếp đặt, xong cả rồi!”
Bấy
giờ, đức Thế-Tôn cùng các vị Tỳ-Khưu vào trong rừng Sa-la, đến dưới chỗ
hàng cây song-thụ. Đến nơi, Ngài đặt hông bên hữu xuống giường, nằm xếp
chân như kiểu con Sư-tử nằm ngủ. Ngài đoan-tâm, chính-niệm.
Khi
ấy, hàng cây Sa-la song-thụ bỗng dưng nở hoa, rơi xuống mình đức
Như-Lai. Đức Thế-Tôn liền hỏi ông A-Nan: “Ông có thấy cây Sa-la kia nở
hoa trái mùa để cúng-dàng Tôi không?” Ông A-Nan đáp: “Dạ, lạy đức
Thế-Tôn! Con có trông thấy.” Lúc đó, chư Thiên, long-thần tám bộ, trong
hư-không, rải những hoa quý như các hoa: Man-đà-la, Ma-ha man-đà-la,
Man-thù-sa, Ma-ha man-thù-sa[52] lên trên đức Phật; lại rắc những hương
Ngưu-đầu Chiên-đàn; tấu những kỹ-nhạc cõi Thiên và ca-hát, tán-thán.
Đức
Phật bảo ông A-Nan: “Ông có thấy chư Thiên tám bộ trong hư-không
cúng-dàng Tôi không?” – Ông A-Nan bạch Phật: “Dạ, lạy đức Thế-Tôn! Con
có trông thấy”.
Đức Thế-Tôn lại bảo ông A-Nan: “Muốn cúng-dàng
Tôi, để báo ân, bất-tất phải dùng đến hương-hoa, kỹ-nhạc cõi trời. Giữ
giới cấm thanh-tịnh, đọc tụng kinh sách, suy-nghĩ nghĩa thâm-diệu của
các pháp, thế là cúng-dàng Tôi vậy!”
Khi ấy, có một vị Tỳ-Khưu
tên là Ưu-ba-ma-na (Upamàna) ngày xưa khi đức Như-Lai chưa đem ông A-Nan
vào làm thị-giả, vị Tỳ-Khưu ấy thường giữ việc trông nom đức Như-Lai,
nay ông Ưu-ba-ma-na, thấy đức Như-Lai nằm dưới hàng cây Sa-la song-thụ,
tâm ông rất khổ-não, ông liền đứng trước đức Phật, để được chiêm-ngưỡng
đức Phật lần cuối cùng. Đức Thế-Tôn liền bảo ông rằng: “Ông Ưu-ba-ma-na!
Hôm nay ông không nên đứng lấp trước mặt Tôi!” Ông Ưu-ba-ma-na liền
đứng lui về một bên.
Ông A-Nan thấy thế, tâm ông sinh niệm
ngờ-vực: “Lạ thực, ta hầu Phật từ xưa tới nay trải đã bao năm, ta chưa
từng thấy đức Phật nói ra lời như thế, sao ngày nay đức Như-Lai lại
không cho đứng trước mặt; hay là, nay đức Phật Như-Lai sắp nhập
Niết-Bàn, không cho ai đứng trước mặt buồn-rầu, khóc-lóc? Nghĩ rồi, ông
A-Nan đỉnh lễ xuống chân Phật, quỳ thẳng, chắp tay bạch: “Lạy đức
Thế-Tôn! Từ trước tới nay con hầu Phật, thường thường con đứng trước mặt
đức Thế-Tôn con chưa từng nghe thấy đức Thế-Tôn bảo con đứng lùi ra,
nay sao đức Thế-Tôn lại bảo ông Ưu-ba-ma-na đứng tránh trước mặt?”
Đức
Phật dạy: “Ông A-Nan! Đồ-chúng của chư Thiên, long-thần tám bộ[53],
nghe Tôi nằm nghiêng về hông bên hữu dưới hàng cây Sa-la song-thụ này,
họ tranh nhau lại trông ngắm Tôi, từ trong hư-không, dồn đến mặt đất,
bốn mặt đầy ních đến ba mươi hai do-tuần; Tỳ-Khưu Ưu-ba-ma-na này, đứng
lấp trước mặt Tôi, Thiên, long tám bộ sinh tâm không vui, nghĩ rằng nay
đức Như-Lai ở dưới hàng cây Sa-la song-thụ này, không bao lâu nữa sẽ
nhập Niết-Bàn, chúng ta muốn được trông ngắm đức Như-Lai lần cuối cùng
này, mà vị Tỳ-Khưu kia lại đứng che lấp trước mặt Phật!” Vì nhân-duyên
ấy nên tôi bảo ông ấy đứng lùi về một bên.”
Ông A-nan có biết
không, nay trong tám bộ đây, hoặc có người thương khóc, không tự hãm
được, hoặc có người áo-não, mê-muộn sắp ngất đi, hoặc có người buồn quá,
lấy tay nhổ tóc trên đầu mình, hoặc có người xé đứt những đồ
trang-nghiêm nơi thân mình và đều đồng thanh xướng rằng: “Nay đức
Như-Lai nhập Niết-Bàn, sao nhanh quá vậy thay! Đức Như-Lai ra đời, khó
gặp gỡ được, như hoa Ưu-đàm bao thời, bao thời mới hiện, mà nay không
bao lâu nữa, Ngài sẽ nhập Niết-Bàn. Than ôi, khổ lắm! Con mắt của
thế-gian mất rồi từ nay trở đi, chúng ta lấy ai là nơi quy-y, dẫn-đạo!”
Chư Thiên nơi Ly-dục[54] cũng đều than rằng: “Than ôi, thế-gian rất là
vô-thường, không có cái gì có thụ-sinh, mà không hướng về nơi
tiêu-diệt!” Cũng chư Thiên kia, họ cùng bảo nhau: “Ngày trước đức
Thế-Tôn hoặc nơi thành Tỳ-da-ly (Vaisàli) hoặc ở nơi thành Vương-xá
(Ràjagrha) hoặc ở trong nước Xá-vệ (Sràvasti) cùng ở những nơi khác, khi
an-cư xong, các vị Tỳ-Khưu, từ bốn phương về vấn-tấn đức Thế-Tôn, nhân
thế, chúng ta ở bên đường được trông thấy các vị Tỳ-Khưu, lễ-bái,
cúng-dàng, nghe thụ kinh-pháp, được nhiều phúc-lợi; nay đức Thế-Tôn nhập
Niết-Bàn rồi, các vị Tỳ-Khưu, khi an-cư xong, không về vấn-tấn như
trước nữa, các vị du-hành khắp nơi, chúng ta không được ở bên đường
trông thấy các vị Tỳ-Khưu, lễ bái, cúng-dàng, nghe thụ kinh-pháp, từ nay
chúng ta vĩnh-viễn mất những phúc-lợi ấy.”
Bấy giờ, đức Như-Lai
bảo ông A-Nan: “Nếu Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu-Ni, Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di, sau khi
Tôi diệt-độ, phát tâm, đến bốn nơi của Tôi khi trước, sẽ được nhiều
công-đức không thể tính kể được và nơi sẽ sinh của họ sau này, thường ở
trong cõi Nhân, Thiên, hưởng thụ quả-báo an-vui, không khi nào cùng-tận.
Bốn nơi ấy là những nơi nào? - Một là, nơi khi Như-Lai làm bồ-Tát,
giáng-sinh tại vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) nuớc Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu).
Hai là, nơi Tôi bắt đầu ngồi dưới gốc cây Bồ-Đề (Boddhidruma) thành
Vô-thượng chính-đẳng chính-giác, tại nước Ma-kiệt-đề (Magadha). Ba là,
nơi chuyển-pháp-luân (thuyết-pháp) đầu tiên, trong vườn Lộc-giã
(Mrgadàva) (nơi các Tiên-nhân ở trước), nước Ba-la-nại (Vàranasi
Benares). Bốn là, nơi Tôi nhập Niết-Bàn, khoảng hai hàng cây, trong rừng
Sa-la (Sàlavana) bên bờ sông Ni-liên (Nairanjana) nơi Lực-sĩ sinh-địa,
nước Cưu-thi-na (Kusinagara). Đó là bốn nơi! Nếu Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu-Ni,
Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di, cùng những đồ-chúng ngoại-đạo khác, phát-tâm muốn
đến những nơi kia lễ-bái, đều thu được công-đức, như đã nói ở trên.”
Ông
A-Nan nghe đức Phật nói lời ấy, ông liền bạch Phật: “Lạy đức Thế-Tôn!
Từ nay, con xin tuyên-cáo khắp cả cho bốn bộ-chúng biết bốn nơi ấy và
nếu ai đi đến lễ-bái, được công-đức như thế.”
Khi ấy, ông A-Nan
lại bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nếu các người Ưu-bà-di có
thiện-tâm, giữ trọn giới-hạnh, ham nghe kinh-pháp, muốn yết-kiến vị
Tỳ-Khưu, từ nay chúng con nên xử thế nào? Đức Phật dạy: “Từ nay các ông
đừng nên tương kiến!” Ông A-Nan bạch: “Nếu bỗng nhiên hội-ngộ, nên xử ra
sao?” Đức Phật dạy: “Đừng cùng nói chuyện”. Ông A-nan bạch: “Nếu không
nói chuyện, nhưng, họ có lời thỉnh cầu, muốn nghe kinh-pháp nên làm thế
nào?” Đức Phật dạy: “Nên vì họ, thuyết-pháp cho họ nghe, nhưng, các ông
nên giữ-gìn khéo-léo thân, khẩu, ý của các ông!” Ông A-Nan bạch: “Lạy
đức Thế-Tôn! Từ nay chúng con xin vâng làm như thế.”
TOÁT-YẾUBấy
giờ, đức Thế-Tôn cùng các vị Tỳ-Khưu tiến lên đường.
Đến rừng
Sa-la, Ngài cùng đại-chúng dừng lại, sai ông A-Nan vào sửa-sang khoảng
hàng cây Sa-la song-thụ.
Sửa-sang xong, Ngài cùng tất cả vào
trong rừng. Đến nơi kia Ngài đặt hông bên hữu xuống cái giường kết bằng
dây, đầu hướng Bắc, chân xếp lên như kiểu con sư-tử nằm ngủ. Ngài
đoan-tâm, chính-niệm.
Khi ấy, Thiên long tám bộ trên hư-không rải
hoa, rắc hương, tấu Thiên-nhạc, ca hát tán-thán.
Đức Phật bảo
ông A-Nan: “Muốn cúng-dàng Tôi để báo-ân, bất tất phải dùng đến
hương-hoa, kỹ-nhạc cõi trời. Giữ giới cấm thanh-tịnh, đọc tụng kinh
sách, suy-nghĩ nghĩa thâm-diệu của các pháp, thế là cúng-dàng Tôi vậy!”
Đồ-chúng
của Thiên, long tám bộ đến quá đông. Ai ai cũng than-tiếc, khóc-lóc và
cũng muốn được trông thấy chân-dung đức Phật lần cuối cùng. Cảm thấy
thế, ngài bảo ông Ưu-ba-ma-na Tỳ-Khưu đang đứng trước mặt Ngài, đứng lui
về một bên.
Muốn chúng-sinh đời sau hưởng-thụ quả-báo an-vui,
đức Phật còn dạy nên đi chiêm-lễ, cúng-dàng 4 nơi di-tích của Ngài là
nơi giáng-sinh, nơi thành-đạo, nơi chuyển-pháp-luân và nơi nhập
Niết-Bàn.
Tới đây ông A-Nan hỏi Phật về xử-sự đối với hàng
Ưu-bà-di thiện-tâm, giữ giới, ham muốn nghe kinh, nên như thế nào? Đức
Phật dạy: “Nên thuyết-pháp cho họ nghe, nhưng, mình cũng nên giữ gìn 3
nghiệp cho khéo-léo!”
Ông A-Nan xin vâng làm như thế.
[1] Kinh Đại Bát-Niết-Bàn là cuốn kinh
số 7 trong Đại-Tạng kinh.
Đại Bát-Niết-Bàn (Mahàparinirvàna): Tàu
dịch là “Đại nhập-diệt tức”; “Đại-diệt-độ”; “Đại-viên-tịch nhập”… “Đại”
là lời khen đức “tịch-diệt”, có tính cách sâu, rộng lớn; “Diệt” là diệt
phiền-não nơi thân tâm; “Tức” là yên nghỉ, “Độ” là vượt qua bể sinh-tử,
“Viên-tịch” là công-đức viên-mãn, tịch-diệt phiền-não và “Nhập” có
nghĩa là hướng về nơi tịch-diệt. Tóm lại, là đức-trí đầy đủ, phiền-não
dứt sạch, chứng nhập nơi yên-tịnh sáng-suốt cao-sâu, rộng lớn.
Kinh
này gồm 3 quyển: Thượng, trung, hạ. Nhận thấy ý văn trong kinh
liên-tục, nên khi dịch chúng tôi không theo sự phân chia thành từng
quyển như cũ. Song, đến cuối mỗi quyển cũ chúng tôi có ghi nơi chú-thích
để lưu lại dấu xưa. Và, muốn cho dễ nhận-định và ký-ức, chúng tôi ghi
thêm đề-mục và toát-yếu từng đoạn trong kinh. (lời dịch-giả)
[2]
Gia-phu: Ngồi xếp bằng, hai bàn chân để chéo lên hai vế .
[3] Bốn
phép thần-túc: Còn gọi là 4 như-ý-túc: Dục, niệm, tinh-tiến và tuệ.
[4]
Ma-Vương: Vị chúa trong loài Thiên-ma, tức vị Thiên-chúa ở cõi
Tha-hóa-tự-tại-thiên, là cõi trời thứ 6 thuộc Dục-giới. Ma-vương kia
thường đốc-xuất quyến-thuộc hướng về nhân-gian, làm chướng-ngại đạo
Phật, nên còn gọi là Ba-tuần. Nhưng, Đại-thừa là cho đó là vị Bồ-tát,
dùng đại phương-tiện, hiện Ma-vương để giáo-hóa chúng-sinh.
[5]
Thiện-Thệ: (Tu-già-đà: Sugata): Một hiệu trong 10 hiệu của Phật và có
nghĩa là đi tốt. Ý nói: Dùng nhất thiết trí làm xe, đi trên đường
bát-chính, rảo tới nơi Niết-Bàn, nên gọi là “Thiện-Thệ”.
[6] Hữu:
Tức là hữu-lậu-nghiệp. Ý nói: Chúng-sinh bị sinh-tử luân hồi, đều do
những hành-vi tạo-tác bất thiện huân-tập và hấp-dẫn. Đức Thế-Tôn cũng có
thân ở trong sinh-tử nhưng, vì độ sinh mà có và Ngài đã đạt tới chỗ
vô-lậu rồi. Nay tấm thân giả-tạm do tứ-đại hợp-thành này Ngài muốn trả
về bản-hữu của nó.
[7] Đây là phần chọn lựa những ý yếu-ước trong
chính-văn, hầu giúp quí Phật-tử dễ hiểu, dễ nhớ, khi xem xong từng
đoạn. Vì là, những toát-yếu, nếu Phật-tử nào muốn tụng, xin tụng
chính-văn, mà dành phần này lại. (Lời dịch-giả).
[8] Nhất-thiết
chủng-trí: Tức là Phật-trí, có nghĩa là trí-tuệ biết suốt hết thảy pháp.
[9]
Chuyển-pháp-luân (quay bánh xe pháp): Giáo pháp của Phật gọi là
“pháp-luân” (bánh xe pháp); truyền nói giáo-pháp ấy gọi là “chuyển”
(quay). Nghĩa là giáo-pháp của Phật, quay vòng khắp chúng-sinh-giới, phá
tan những phiền-não. Và, “chuyển” đây còn có nghĩa là chuyển pháp tự
tâm mình, chuyển-di sang tâm người khác.
[10] Sát-lỵ (Ksatriya):
Giai-cấp vua chúa. Gia-cấp thứ 2 trong 4 giai-cấp của Ấn-Độ.
[11]
Bà-la-môn (Bràhmana): Giai-cấp tu-sĩ của Ấn-Độ-giáo, Tàu dịch là
“Tịnh-hạnh”; “Tịnh-chí”, “Tĩnh-chí”. Giái-cấp thứ nhất, trong 4 giai-cấp
của Ấn-Độ.
[12] Trưởng-giả: Tiếng Phạm gọi là
“Nghị-lực-hạ-bát-để” (Drha-pati). Tiếng gọi thông thường chỉ cho người
nhiều của, đủ đức. Bộ Pháp-Hoa Huyền-Tán quyển 10 nói: “Trưởng-giả là
người tâm bình, tính thẳng, nói thực, làm chăm, tuổi nhiều, của lắm”.
[13]
Cư-sĩ: Tiếng Phạm gọi là Ca-la-việt (Kulapati): Là người có của ở nhà
không ra làm việc đời; là người ẩn-dật ở nơi nhà mình không ra làm quan;
hay là người tại-gia có chí-hướng về đạo Phật. Bộ Pháp-Hoa Huyền-Tán
quyển 10 nói: “Giữ đạo tự điềm-đạm, chứa đức ít muốn, gọi là Cư-sĩ”.
[14]
Sa-môn (Srmana): Xưa dịch là “Tức-tâm, Tĩnh-chí, Bần-đạo v.v…” Nay dịch
là “Công-lao, Cần-tức”, đều có nghĩa là vị tu-hành siêng-năng tu-tập,
ngăn dứt phiền-não nơi tâm, làm yên-lặng, trong sạch thần-chí, có công
cần-cù khó-nhọc tiến tu về đạo giải-thoát (đạo Phật).
[15] Đây là
nói về y-cứ của 8 thiền-định phát-khởi ra thắng-tri (hiểu biết cao),
thắng-kiến (thấy biết cao) để xả tâm tham-ái. Đại-ý: 1/ Đạo nơi mình
chưa tăng-trưởng, thời cần chú trọng quán-tưởng ngay nơi thân tâm mình
đã, chưa cần quán-tưởng đến hình-sắc ngoài thân tâm mình, hoặc chỉ ít
thôi. Tỷ-dụ: mình đang quán-tưởng thân mình là bất-tịnh chưa được thấu
đáo, bền chắc, thời chưa nên (hay chỉ ít thôi) đi xem thây người chết
khác, có khi sinh sợ-hãi, thoái-chuyển. 2/ Đạo tiệm tiến, quán nơi mình
và quán nơi người nhiều vẫn không hại. 3/ Đạo đạt dần tới chỗ
thắng-diệu, dù quán hình sắc ngoài, nhưng trong tâm không vương chút
hình-sắc nào. 4/ Tiến thêm hơn nữa, dú quán hình-sắc ngoài nhiều, trong
tâm vẫn không vương chút hình-sắc nào. Bốn quán trên đây là lẫn lộn cả
tịnh và bất-tịnh. Còn tứ quán thứ 5, 6, 7, 8 là đạo đã đạt tới chỗ
thắng-diệu thực sự, không còn có sự chấp-trước vào pháp-tướng nữa, mà
chuyển-biến tự-tại.
[16] Đây là 8 pháp quán giúp người tu
Thiền-định được giải-thoát. Đại-ý: 1/ Trong tâm mình có lòng tham-tưởng
về sắc, muốn trừ nó cho được giải-thoát, nên đi xem cái thây thối-tha,
chương phềnh của người chết v.v… 2/ Muốn thêm kiên-cố trong sự
giải-thoát, dù trong tâm không khởi tưởng tham sắc, vẫn cứ đi xem thây
chết kia v.v… 3/ Quán sắc-tướng thanh-tịnh, trừ-tướng bất tịnh. Ba quán
trên, quán thứ nhất y vào Sơ-thiền-định phát-khởi và duyên vào sắc của
Dục-giới; quán thứ 2 y vào Nhị-thiền-định phát-khởi và duyên vào sắc của
Sơ-thiền; quán thứ 3 y vào Tứ-thiền phát-khởi và duyên vào sắc của
Dục-giới, nhưng cho là sắc bất-tịnh. Còn quán giải-thoát thứ 4, 5, 6, 7 y
vào 4 định của cõi Vô-sắc phát-khởi và ở ngay chỗ đắc định quán về khổ,
không, vô-thường, vô-ngã, sinh tâm chán ghét mà bỏ, nên gọi là
giải-thoát. Quán giải-thoát thứ 8, diệt thụ, tưởng, y vào Tứ-thiền bỏ
hết thảy sở-duyên trong Phi-phi-tưởng nên gọi là giải-thoát.
[17]
Ba mươi bảy đạo phẩm: a/ 4 niệm xứ: Quán thân bất-tịnh, quán thụ là
khổ, quán tâm vô-thường và quán pháp vô-ngã. b/ 4 chính cần: Ác đã sinh
làm cho chóng dứt. Ác chưa sinh làm cho không sinh được. Thiện chưa sinh
làm cho chóng sinh. Thiện đã sinh làm cho tăng-trưởng. c/ 4 thần-túc:
Dục, niệm, tiến và tuệ. d/ Năm căn: Tín, tinh-tiến, niệm, định và tuệ.
e/ Năm lực: Cũng là 5 căn, nhưng, đây đứng về mặt đối-trị mà nói. f/ 7
giác-chi: trạch-pháp, tinh-tiến, hỷ, khinh-an, niệm, định và hành-xả. g/
8 thánh đạo: chính-kiến, chính-tư-duy, chính-ngữ, chính-nghiệp,
chính-mệnh, chính-tinh-tiến, chính-niệm và chính-định.
[18] Ly-xa
(Licchavi): Tên dòng vua, quan của thành Tỳ-da-ly.
[19] Pháp
hữu-vi: Sự-vật do nhân-duyên tạo-tác.
[20] Giác-ý: Ý-niệm
giác-ngộ. Tức 7 giác-chi.
[21] Ngũ-dục: Năm thứ ham-muốn:
của-cải, sắc-đẹp, danh-vọng, ăn-uống, ngủ-nghỉ. Hoặc là sắc, thanh,
hương, vị, xúc: 5 trần-cảnh.
[22] Cửu bộ pháp (tức Cửu bộ kinh):
Chín bộ kinh: Trong kinh có chia làm 12 phận-giáo: 1/ Tu-đa-la (Sutra:
khế-kinh: văn suôi). 2/ Kỳ-dạ (Geya: trùng-tụng: bài kệ nói lại nghĩa
của văn suôi). Già-đà (Gàthà: phúng-tụng: bài kệ 4 câu đứng riêng, không
liền với văn suôi). 3/ Ni-đà-na (Nidàna: nhân-duyên). Y-đế-mục-đa
(Itivrtaka: Bản-sự: nói những việc đời trước). 6/ Xà-đa-già (Jàtaka:
Bản-sinh: Phật tự nói nhân-duyên mình đời trước). 7/ A-phù-đạt-ma
(Adbhuta-dharma: Vị-tằng-hữu: làm những sự hiếm có). 8/ A-ba-đà-na
(Avadàna: thí-dụ). 9/ Ưu-bà-đề-xá (Upadesa: luận-nghĩa). 10/ Ưu-đà-na
(Udana: tự thuyết: tự Phật nói, không đợi ai hỏi). 11/ Tỳ-phật-lược
(Vaipulya: phương-quảng: Văn nói về chân-lý phương-chính, quảng-đại; tức
là đại-thừa-giáo). 12/ Hòa-già-la (Vyàkarana: thụ-ký). Tuy vậy, có chỗ
Tiểu-thừa bỏ: Phương-quảng, thụ-ký và tự-thuyết đi còn 9 phần, gọi là
cửu-bộ pháp (hay cửu-bộ kinh). Và Đại-thừa có chỗ bỏ: Nhân-duyên, thí-dụ
và luận-nghĩa, thành cũng còn 9 bộ-phận.
[23] Chín lỗ thường
chảy: Trong thân người có chín lỗ hổng thường chảy những thứ nhơ-nhớp
là: 2 mắt, 2 lỗ mũi, mồm và nơi đại, tiểu-tiện.
[24] Anh-lạc:
Tiếng Phạm gọi là Chỉ-do-la (Keyùra): Chuỗi dây-chuyền làm bằng ngọc để
đeo vào cổ, vào mình.
[25] Trần-cấu: Chỉ cho phiền-não, nhưng nay
thường chỉ vào 88 kết-sử của kiến-hoặc.
[26] Pháp-nhãn-tịnh:
Nghĩa là thấy chân-lý bằng cách rõ ràng.
[27] Lậu-nghiệp hết, ý
khai-giải: Bậc tam-thừa dùng Thánh-trí dứt hết phiền-não do ý căn tạo
ra, ý được mở tỏ và giải-thoát.
[28] A-la-hán: (Arahat): Quả vị
thứ tư trong 4 quả của bậc Thanh-văn, A-la-hán, Tàu dịch là “Bất-sinh”
(cũng có chỗ gọi là Vô-Sinh). Nghĩa là quả-báo trong một đời diệt hết,
được vào Niết-bàn mãi mãi, không phải tái-sinh trong 3 cõi nữa.
[29]
Xem phần chính-văn.
[30] Năm ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức.
[31]
Pháp hữu-lậu: “Lậu” (dò-rỉ) tên riêng chỉ cho phiền-não. Sự-vật có
hàm-tàng sự phiền-não gọi là hữu-lậu. Hết thảy sự thể trong thế-gian đều
là pháp hữu-lậu.
[32] Tăng-già-lam (Samghàràma): Tàu dịch là
“chúng-viên” cái vườn hay rừng chúng-tăng ở. Nay ta thường cho là chùa.
[33]
A-lan-nhã (Àrinya): Tên gọi chung cho các tự-viện, là nơi ở của các vị
Tỳ-Khưu. Nhưng, đúng ra A-lan-nhã là nơi xa-vắng, yên-tĩnh, nên Tàu dịch
là “Nhàn-tịch”.
[34] Đến đây là hết quyển thượng.
[35]
Tam quy-y: Quy-y Tam-Bảo: Phật, Pháp, Tăng.
[36] Ngũ giới: Năm
điều răn: Không sát-sinh, không trộm-cắp, không tà-dâm, không nói dối và
không uống rượu.
[37] Châm-chước: Hầu-hạ, bưng-rót, gắp bỏ,
san-sẻ thức ăn uống.
[38] Ba phép minh: 1/ Túc-mệnh. 2/
Thiên-nhãn. 3/ Lậu-tận.
[39] 6 phép thần-thông: Thần-thông có
nghĩa là phép có tác-dụng tự-tại vô-ngại. 6 phép ấy là: 1/
Thần-túc-thông (Rddhividhi-jnàna). 2/ Thiên-nhãn-thông (Divya-caksus).
3/ Thiên-nhĩ-thông (Divya-sirotra). 4/ Tha-tâm-thông (Paracit-jnàna). 5/
Túc-mệnh-thông (Pur-vanivàsànusmrti-jnàna). 6/ Lậu-tận-thông
(As-ravaksaya-jnàna).
[40] A-na-hàm (Angàmi): Quả vị thứ 3 trong 4
quả của Thanh-Văn. A-na-hàm Tàu dịch là Bất-lai hay Bất-hoàn. Nghĩa là
vị tu-hành đã diệt hết hoặc-nghiệp cõi Dục không phải trở lại lần nữa.
Và, sau chỉ phải sinh lên cõi Sắc, cõi Vô-Sắc mà thôi.
[41]
Tư-đà-hàm (Sakrdàgàmi): Quả vị thứ 2 trong 4 quả của Thanh-Văn.
Tư-đà-hàm Tàu dịch là “Nhất-lai”. Nghĩa là vị tu-hành, đoạn cửu-địa
tư-hoặc, được 6 phẩm trước, còn 3 phẩm sau, còn phải thụ-sinh trong
Dục-giới một lần nữa, nên gọi là “Nhất-lai”.
[42] Tu-đà-hoàn
(Srotapanna-phala): Quả thứ 1 trong 4 quả của bậc Thanh-Văn. Tàu dịch là
“Nhập-lưu, Nghịch-lưu, Dự-lưu”. Đều có nghĩa là vị tu-hành đã đi ngược
dòng sinh-tử, phàm-phu mà đã được dự vào dòng Thánh-Đạo.
[43]
Tứ-quả: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Tứ-hướng:
Tu-đà-hoàn-hướng, Tu-đà-hàm-hướng, A-na-hàm-hướng, A-la-hán-hướng. Hướng
có nghĩa là hướng tới, đi đến.
[44] Tăng-già-lê (Samghàti): Tên
một áo trong 3 áo của Tỳ-Khưu. Áo này Tàu dịch là “trùng” hay là “hợp”.
Vì áo này xé vải ra thành những miếng vụn xong rồi may đụp lên. Áo này
có nhiều thứ hoặc 9 điều, 11 điều, 13 điều, mỗi điều hai mảnh dài, 1
mảnh ngắn; 15, 17, 19 điều, mỗi điều 3 mảnh dài, 1 mảnh ngắn; 21, 23, 25
điều, mỗi điều 4 mảnh dài, 1 mảnh ngắn.
[45] Diệt-tận-định
(Nirodhasamàpatti): Cũng gọi là Diệt-thụ-tưởng-định là 1 trong 2
Vô-tâm-định. Là môn thiền-định diệt hết tâm, tâm-sở, 6 thức, làm cho
không phát-khởi được nữa.
[46] Thiện-lai Tỳ-Khưu: Đây nói, khi
thời Phật tại thế, người thiện-tâm xuất-gia, do nguyện-lực của
đương-nhân cùng sức uy-thần của Phật, Phật hướng vào người xuất-gia,
gọi: “Thiện-lai Tỳ-Khưu” (vị Tỳ-Khưu do thiện-nguyện tới), tức thì thành
vị Sa-môn; hình tướng như tóc trụi, áo nhuộm, tự đầy đủ…, thân thành
cụ-túc-giới.
[47] Ca-sa (Kasàya): Có nghĩa là áo nhuộm hoại-sắc,
không để chính-sắc. Là áo của các vị Tỳ-Khưu. Áo này có 3 bậc: 5 điều, 7
điều và 9 điều…
[48] Lực-sĩ sinh-địa: Nơi sinh-trưởng của phái
Lực-sĩ, thành Cưu-thi-na.
[49] Hoa Ưu-đàm: Ưu-đàm gọi đủ là
Ưu-đàm-ba-la (Udumbara), Tàu dịch là “Linh-thụy” (điềm linh- thiêng);
“Thụy-ứng” (Ứng vào điềm tốt). Theo Pháp-Hoa văn-cú nói thời hoa này
3.000 năm một lần hiện, khi hoa ấy hiện ra thời có kim-luân-vương ra
đời.
[50] Ly-dục: Xa-lìa dục-vọng.
[51] Sa-la (Sàla): Tàu
dịch là “Kiên-cố” (vững-bền). Theo Tuệ-uyển-sư nói thì đức Phật
nhập-diệt ở khoảng giữa 4 cây Sa-la, nhưng mỗi cây này một gốc mọc thành
2 cây, nên gọi là Sa-la song-thụ.
[52] Trên đây là các hoa cõi
Trời: Hoa Man-đà-la (Mandarava) Tàu dịch là hoa “Tiểu-bạch-đoàn”; hoa
Ma-ha man-đà-la (Maha Mandarava) Tàu dịch là hoa “Đại-bạch-đoàn”; hoa
Mạn-thù-sa (Manjùsaka) Tàu dịch là hoa “Tiểu-xích-đoàn”; hoa Ma-ha
mạn-thù-sa (Maha Manjùsaka) Tàu dịch là hoa “Đại-xích-đoàn”.
[53]
Tám bộ: 1/Thiên (Deva): Các vị trên các cõi Trời. 2/ Long (Nàga): Loài
Rồng. 3/ Dạ-soa (Yaksa): Hoặc gọi là Dược-soa là loài quỉ-thần bay trên
hư-không. 4/ Càn-thát-bà (Gadharva): Tàu dịch là “Hương-ấm”, nhạc-thần
nơi Đế-thích-thiên. 5/ A-tu-la (Asura): Có chỗ gọi là A-tu-luân, Tàu
dịch là “Phi-thiên”, cũng thuộc loài quỉ-thần. 6/ Ca-lâu-la (Garuda):
Chim Kim-sí. 7/ khẩn-na-la (Kimnara): Ca-thần: Nhạc-thần nơi
Đế-thích-thiên. 8/ Ma-hầu-la-già (Mahoga): Đại-mãng-thần.
[54]
Chư Thiên nơi Ly-dục: Chỉ cho các vị trời nơi Sắc-giới trở lên.XI. KHI PHẬT NHẬP DIỆTSau
đó, ông A-Nan lại bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Sau khi Như-Lai
nhập Niết-Bàn, phương-pháp cúng-dàng nên làm thế nào?”
Đức Phật
dạy: “Nay ông không nên lo quẩn vào việc ấy, ông chỉ tự suy-nghĩ là sau
khi Tôi diệt-độ đi, phải hộ-trì chính-pháp, đem những điều trước đây
nghe được, luôn luôn nói cho người khác nghe. Sao vậy? – Vì, chư Thiên
tự họ sẽ cúng-dàng cho thân Tôi. Vả lại, những người Bà-la-môn cùng các
vua, trưởng-giả, cư-sĩ, cũng tự họ sẽ cúng-dàng cho thân Tôi!”
Ông
A-Nan bạch Phật: “Lạy đức Thế-Tôn! Tuy, Nhân, Thiên tự khởi tâm
cúng-dàng, nhưng, con không biết y vào pháp nào?”
Đức Phật dạy:
“Ông A-Nan! Cúng-dàng thân Tôi, y theo pháp đối với
Chuyển-luân-thánh-vương.”
Ông A-Nan lại hỏi: “Lạy đức Thế-Tôn!
Cúng-dàng như Chuyển-luân-thánh-vương, pháp ấy thế nào?”
Đức Phật
dạy: “Ông A-Nan! Phương-pháp cúng-dàng Chuyển-luân-thánh-vương [1], là
dùng bông mới, sạch cùng lấy những tấm vải nhỏ mịn, hợp lại quấn vào
thân Tôi. Cứ như thế, quấn đi, quấn lại, đến đủ một nghìn lần, rồi đặt
vào trong áo quan vàng. Lại làm áo quan bạc bên ngoài, để áo quan vàng
vào trong; lam áo quan đồng bên ngoài, để áo quan bạc vào trong; rồi làm
áo quan sắt bên ngoài, để áo quan đồng vào trong. Sau, lấy nhiều dầu
thơm bao-rửa, cùng đem những hương, hoa thoa-bít và rải đầy trong áo
quan, nhiên hậu đậy nắp xuống. làm một cái xe tang, rất to lớn, cao,
rộng, dát châu-báu, hiên, mui, bao-lơn, đều trang-nghiêm bằng những thứ
tốt đẹp. Xong rồi đặt áo quan lên trên xe.
Lại nữa, nơi làm
hỏa-đàn ở trong thành, phải quét rửa bốn bên rất trong sạch, lấy những
gỗ Chiên-đàn [2] tốt cùng những thứ hương thơm, xếp lên thành một đống
gỗ lớn. Trên đống gỗ ấy, trải căng những tấm vải lụa dầy đẹp, lại mắc
tấm mùng đẹp, lớn, che bên trên. Sau đó, xe tang mới chuyển đến nơi
hỏa-đàn. Nơi đây, đốt hương, rải hoa, cúng-dàng kỹ-nhạc, nhiễu đống gỗ
hương kia, vòng-quanh bảy vòng, nhiên-hậu đem áo quan để trên đống củi
hương ấy và lấy dầu thơm rưới vẩy vào đó. Còn phương-pháp đốt lửa, thời
đốt từ dưới cháy lên. Khi hỏa-đàn xong rồi, thu nhặt Xá-lỵ [3] bỏ vào
trong bát vàng. Và ngay nơi ấy, xây-dựng bảo tháp, ngọn tháp cao vót
trang-nghiêm, treo phan-cái bằng lụa; các người trong nhân-gian, ngày
ngày thường nên đốt hương, tán hoa, mọi thứ cúng-dàng.”
Ông
A-Nan! Ông nên biết: Phương-pháp cúng-dàng Chuyển-luân-thánh-vương, việc
ấy như thế! Việc hỏa-táng thân Tôi, cũng như phương-pháp cúng-dàng
Chuyển-luân-thánh-vương kia vậy. Nhưng, xây tháp Tôi, có khác với tháp
của Chuyển-luân-thánh-vương. Tháp Tôi, ngọn tháp cao vót, trang-nghiêm,
nên treo chín cái tán. Và, nếu có chúng-sinh nào, treo phan-cái thêu,
đốt hương, tán hoa cùng thắp đèn đuốc, lễ-bái, tán-thán tháp Tôi, người
ấy được phúc-lợi mãi mãi; đời sau, không lâu người khác cũng lại xây
tháp lớn cúng-dàng thân họ.
Ông A-Nan! Ông nên biết: Hết thảy
chúng-sinh đều không có tháp, chỉ có bốn hạng người được xây tháp mà
thôi: Một là, vị được mười hiệu: Như-Lai, Ứng-Cúng, Chính-Biến-Tri,
Minh-Hành-Túc, Thiện-Thệ, Thế-Gian-Giải, Vô-Thượng-Sĩ, Điều-Ngự
Trượng-Phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật, Thế-Tôn [4], thương xót chúng-sinh và
có thể vì thế-gian, làm ruộng phúc tốt hơn hết, thời nên xây tháp. Hai
là, vị Bích-Chi-Phật, suy-nghĩ mọi pháp, tự giác-ngộ đạo, cũng có thể
đem lại phúc-lợi cho nhân-dân thế-gian, thời nên xây tháp. Ba là, vị
A-La-Hán, theo chỗ nghe pháp mà suy-nghĩ để dứt sạch lậu-nghiệp
(phiền-não) cũng có thể đem lại phúc-liợ cho nhân-dân thế-gian, thời nên
xây tháp. Bốn là Chuyển-luân-thánh-vương, xưa trồng nhiều phúc, có
uy-đức lớn, cai-trị tứ thiên-hạ [5], bảy báu [6] đầy đủ, tự làm mười
điều thiện [7] lại khuyên nhân-dân trong tứ thiên-hạ cũng làm mười điều
thiện, thời nên xây tháp.
Ông A-Nan! Ông nên biết: Nếu có
chúng-sinh nào, đem mọi đồ cúng-dàng, để cúng-dàng những tháp ấy, họ vẫn
được phúc, song, phúc của họ được, theo thứ bực có sai khác.”
TOÁT-YẾU
Ông
A-Nan bạch Phật về phương-pháp cúng-dàng Ngài, khi Ngài nhập Niết-Bàn
nên như thế nào, thì Ngài gạt đi và bảo: “Việc ấy ông không nên lo, đã
có chư Thiên cùng những người khác liệu-định, ông chỉ nghĩ sau này phải
hộ-trì chính-pháp, đem điều được nghe trước đây, nói cho người khác nghe
mà thôi!”
Nhưng, ông A-Nan cố bạch, đức Phật bảo: “Cúng-dàng Tôi
y như pháp cúng-dàng Chuyển-luân-thánh-vương. Nghĩa là, khi Tôi nhập
Niết-Bàn rồi, lấy vải tốt quấn thân Tôi một nghìn lần, đặt vào trong áo
quan vàng, bên ngoài bọc thêm áo quan bạc, áo quan đồng và ngoài cùng là
áo quan sắt. Rửa dầu thơm, rải hoa, rắc hương, rồi đậy nắp áo quan lại.
Đồng thời, sửa cỗ xe báu, trang-sức đẹp-đẽ, đặt áo quan lên trên,
chuyển tới nơi hỏa-đàn. Nơi hỏa-đàn phải quét rửa sạch-sẽ, lấy những gỗ
hương xếp thành đống lớn. Trên đống gỗ ấy trải tấm lụa đẹp, có mùng che
trên. Và, đốt hương, rải hoa, cúng-dàng kỹ-nhạc, đi nhiễu 7 vòng, sau
mới đặt áo quan lên trên đống gỗ ấy, lấy dầu thơm rưới vẩy 4 bên và châm
lửa đốt từ dưới cháy lên. Cháy xong thu xá-lỵ xây tháp cúng-dàng”.
Ông
A-Nan! Ông nên biết: “Chúng-sinh không có tháp, chỉ có Phật,
Bích-Chi-Phật, A-La-Hán và Chuyển-luân-thánh-vương, là 4 bậc đem lại
phúc-lợi cho nhân-dân thế-gian, có tháp mà thôi. Ai cúng-dàng những tháp
ấy, đều được phúc nhưng, phúc ấy có khác nhau!”
XII. CÔNG-HẠNH ÔNG A-NANÔng
A-Nan nghe đức Phật nói lời ấy, tâm sinh áo-não, thương-xót kêu khóc,
lẩn ra sau Phật, cách Phật không xa mấy, ông nói nhỏ rằng: “Nay ta còn
là người trong Học-địa [8] chưa biết được ý-vị sâu-xa trong mọi pháp, mà
đấng Thiên-Nhân-Sư, một sớm bỏ ta nhập Niết-Bàn, thời nào ta sẽ lên
được đường giải-thoát!” Nói rồi, ông giơ tay vịn một cành cây; rồi ông
đấm ngực, bứt đầu, áo-não, buồn-bã ngất đi.
Khi ấy, đức thế-tôn
hỏi một vị Tỳ-Khưu khác: “Giờ này ông A-Nan ở chỗ nào?”
Vị
Tỳ-Khưu kia đáp: “Lạy đức Thế-Tôn! Ông A-Nan hiện nay ở dưới một gốc
cây, sau đức Như-Lai, ông đang kêu khóc, áo-não lắm!”
Đức Phật
bảo vị Tỳ-Khưu kia: “Ông đến chỗ ông A-Nan, bảo ông ấy rằng: “Nay đấng
Thiên-Nhân-Sư muốn gặp ông!”
Vị Tỳ-Khưu kia đến chỗ ông A-Nan và
nói rõ ý của Như-Lai cho ông A-Nan nghe. Ông A-Nan nghe rồi, liền trở về
nơi Phật. Đến nơi, đầu mặt ông đỉnh lễ xuống chân Phật, rồi đứng dựa về
một bên.
Đức Thế-Tôn hỏi ông A-Nan: “Ngày gần đây Tôi đã nói cho
ông nghe: “Hết thảy mọi hành-tướng, đều thuộc về vô-thường; sự ân-ái
hội-hợp, tất về nơi biệt-ly”, thế mà, sao nay ông còn cứ buồn-rầu,
áo-não vậy!”
Lại nữa, ông A-Nan! “Từ trước tới nay, ông theo hầu
Tôi, trông nom công việc trước, sau, khi tiến, khi chỉ, khi đi, khi lại,
cùng thông-tiếp với tân-khách, đều hợp nghi-tiết; Tôi lại thấy thân,
khẩu, ý ông đều thanh-tịnh, không chút vết nhơ nào, ông được phúc-lợi
không thể tính kể được!”
Đức Thế-Tôn ngoảnh lại bảo các vị
Tỳ-Khưu: “Chính ông A-Nan không nên có sự buồn-rầu, áo-não ấy! Sao vậy? –
Vì, không bao lâu nữa, ông sẽ được đến nơi giải-thoát. Các vị Tỳ-Khưu
nên biết: chư Phật trong đời quá-khứ, đều có thị-giả, như ông A-Nan ngày
nay; chư Phật đời sau cũng thế. Các vị Tỳ-Khưu nên biết: Nay ông A-Nan
đây, trí-tuệ thâm-diệu, thông-minh, căn-khí linh-lợi; từ trước tới nay
Tôi nói ra pháp-tạng gì, ông A-Nan đều ghi nhớ không quên.
Lại
nữa, các vị Tỳ-Khưu! Ông A-Nan biết rõ thời-tiết, khi tiến, khi chỉ: Nếu
có người khách nào, muốn vào yết-kiến tôi, ông A-Nan liền suy-tính
trước từng giờ: Đức Thế-Tôn hoặc giờ nọ tiếp các vị Tỳ-Khưu, giờ nọ tiếp
các vị Tỳ-Khưu-Ni, giờ nọ tiếp các vị Ưu-bà-tắc, giờ nọ tiếp các
Ưu-bà-di, giờ nọ tiếp các vị Bà-la-môn, giờ nọ tiếp các vị dòng Sát-lỵ,
giờ nọ tiếp các vị Trưởng-giả, Cư-sĩ, giờ nọ tiếp các vị ngoại-đạo. Tất
cả những vị như trên, nếu trông thấy Tôi, cùng nghe Tôi thuyết-pháp, đều
được nhiều công-đức, phúc-lợi. Sao vậy? Vì, đều do ông A-Nan thông-tiến
vào yết-kiến Tôi, nên họ được thiện-căn thành-thục ấy.”
Lại nữa,
các vị Tỳ-Khưu! Chuyển-luân-thánh-vương có bốn pháp lạ-lùng hiềm có:
Một là, nếu người Bà-la-môn đến chỗ Chuyển-luân-thánh-vương, trông thấy
dung-nhan nhà vua đoan-chính, uy-đức nhà vua cao-hiển, tâm họ sinh
hoan-hỷ; sau khi nghe tiếng nói của nhà vua, âm-từ trong-suốt, họ cũng
sinh tâm hoan-hỷ, cho đến lúc thấy nhà vua, im-lặng không nói họ cũng
ôm-ấp sự sung-sướng, hớn-hở và khi họ cùng nhà vua từ-biệt, về nơi ở cũ,
họ vẫn còn nhớ lại mến-tiếc, bước bước ngậm-ngùi, buồn-bực, như người
đói khát không được no-đủ. Hai là, các người dòng Sát-lỵ nhỏ. Ba là, các
người dòng Tỳ-xá [9]. Bốn là, các người dòng Thủ-đà-la [10] cũng đều
như thế. Đó là bốn sự lạ-lùng của Chuyển-luân-thánh-vương. Các vị nên
biết: Ông A-Nan cũng có bốn sự lạ-lùng: “Một là, nếu các vị Tỳ-Khưu từ
phương xa lại, muốn vào thăm hỏi Tôi, sau trông thấy ông A-Nan, đều sinh
tâm hoan-hỷ, nghe ông thuyết-pháp cùng khi thấy ông im-lặng, cũng
vui-vẻ, đến khi từ-biệt lui ra, tình thâm-thiết mến đức ông, không có
khi nào quên được. Hai là, các vị Tỳ-Khưu-Ni. Ba là, các vị Ưu-bà-tắc.
Bốn là, các vị Ưu-bà-di, cũng đều như thế. Các vị nên biết: Ông A-Nan có
bốn sự lạ-lùng ấy!”
Bấy giờ, đức Thế-Tôn bảo ông A-Nan: “Nay ông
không nên tự sinh tâm khổ-não, mà nói rằng: “Đấng Thiên-Nhân-Sư sắp
nhập Niết-Bàn, nay thấy không còn có kỳ nào được giải-thoát nữa!” Sao
vậy? – “Phàm hết thảy pháp-tạng Tôi nói, sau khi Tôi diệt độ, suy-nghĩ,
vâng theo gìn-giữ, siêng làm tinh-tiến, không lâu tự mình sẽ được
giải-thoát!”
TOÁT-YẾUSau khi nghe đức Phật nói về
phương-pháp cúng-dàng khi Ngài nhập-diệt, ông A-Nan buồn-rầu, kêu khóc
than thân là còn đang tu-học, nay mất Thầy, biết bao giờ lên được đường
giải-thoát.
Đức Phật cho gọi ông vào và bảo: “Tôi đã từng nói cho
ông biết: sự-vật đều vô-thường, ân-ái phải biệt-ly, thế mà sao ông cứ
tự buồn-rầu mãi vậy?”
“Tôi biết thân, khẩu, ý ông thanh-tịnh,
trông coi việc thị-giả, giao-tiếp tân-khách hợp-nghi, ông được phúc-lợi
nhiều!”
Ngài lại ngoảnh lại bảo các vị Tỳ-Khưu: “Chính ông A-Nan
nên vui lên, không bao lâu nữa ông sẽ được giải-thoát. Ông A-Nan là
người trí-tuệ thông-minh, linh-lợi… Tôi nói gì ông ghi nhớ không quên.
Đối với tân-khách, ông khéo biết ứng-cơ hợp thời. Ông lại còn có đức là
các vị Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu-Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đi ở xa về thăm hỏi Tôi,
họ trông thấy ông, nghe ông thuyết-pháp hay ông im-lặng, họ đều vui-vẻ;
khi từ-biệt họ vẫn nhớ-mến ông mãi mãi!”
Vậy, ông A-Nan! Ông
đừng khổ-não, lo-buồn, suy-nghĩ là không có Thầy, không được giải-thoát
nữa. Ông chỉ nên nghĩ: “Phàm hết thảy pháp-tạng Tôi nói, sau khi Tôi
diệt-độ, suy-nghĩ, vâng theo gìn-giữ, siêng làm tinh-tiến, không lâu tự
mình sẽ được giải-thoát!”
XIII. NHÂN XƯA CỦA THÀNH CƯU-THI-NAÔng A-Nan
được phạm-âm của Như-Lai an-ủi, sự lo buồn của ông giảm bớt, ông liền
bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Tâm ý con hiện nay như hơi tỉnh-ngộ,
con muốn có chút việc thỉnh-cầu, kính xin đức Thế-Tôn thương-xót,
hoan-hỷ!”
Đức Phật liền đáp: “Ông muốn thỉnh-cầu việc gì, cứ việc
nói!”
Ông A-Nan bạch: “Lạy đức Thế-Tôn! Thành Cưu-thi-na này so
với những nước lớn khác, thì nó rất là nhỏ hẹp, biên-địa, nhân dân không
được đông-đúc, kính xin đức Thế-Tôn đi đến những nước lớn khác như:
Vương-xá-thành, Tỳ-da-ly-thành, Xá-vệ-quốc-thành, Ba-la-nại-thành,
A-du-xà-thành, Chiêm-ba-thành, Câu-diễm-di-thành, Đức-soa-thi-la-thành…;
các thành ấy vừa ở chính giữa, nhân dân đông-đúc, quốc-độ giầu có,
vui-vẻ, có nhiều người tín-tâm, trí-tuệ thông-minh, kính xin đức Thế-Tôn
đến những thành kia mà nhập Niết-Bàn, đem lại lợi-ích rộng-lớn cho
những chúng-sinh, ở trong các nơi ấy.”
Đức Thế-Tôn liền đáp lời
ông A-Nan: “Nay ông không nên nói lời thỉnh-cầu Tôi là thành Cưu-thi-na
này nhỏ hẹp, biên-địa. Ông nên nghe kỹ, nay Tôi sẽ vì ông, nói cho ông
rõ!”
Ông A-Nan! Thuở quá-khứ lâu-xa, nơi thành Cưu-thi-na này có
vị Chuyển-luân-thánh-vương, tên là Đại-Thiện-Kiến. Nhà vua có đầy-đủ bảy
thứ châu-báu. Nhà vua có một nghìn người con, có sức-lực dẹp được những
oán-địch, nhưng đều đem chính-pháp giáo-hóa nhân-dân.
Thành này
khi ấy gọi là thành Cưu-thi-bà-đế. Thành này, cửa Đông, cửa Tây cách
nhau mười hai do-tuần [11], cửa Nam, cửa Bắc cách nhau tám do-tuần. Bốn
mặt thành này, chung quanh đều bảy trùng. Trùng thứ nhất bên trong, xây
thuần bằng vàng ròng. Trùng thứ hai, xây thuần bằng bạc. Trùng thứ ba,
xây thuần bằng lưu-ly. Trùng thứ tư, xây thuần bằng pha-lê. Trùng thứ
năm, xây thuần bằng xà-cừ. Trùng thứ sáu, xây thuần bằng mã-não. Trùng
thứ bảy, xây lẫn tất cả mọi thứ châu-báu.
Lầu, mái nhà thành này,
đều làm bảy từng; cửa song, cửa sổ, bao-lơn đều điêu-khắc, trang-sức
bằng báu cả; lại treo nhiều cái linh (chuông nhỏ) báu, những mạng lưới ở
trên. Và, khoảng mỗi từng cách nhau chừng hai dậm. [12]
Bốn cửa
thành ấy, mỗi cửa đều chín trùng và đều trang-sức nghiêm-chỉnh, sáng
ngời vui mắt.
Ngoài bảy trùng thành, đều có những hào nước. Nước
của những hào ấy lắng trong, đủ tám công-đức [13] và bờ hào đều xây bằng
bảy báu. Trên và trong những hào ấy, có các loại chim bay, liệng, nhẩy,
múa, kêu, đậu, như chim loan, chim phụng, chim khổng-tước, vịt nước,
chim nhạn, chim uyên-ương… Trong những hào nước ấy có các thứ hoa, như
hoa Cưu-mâu-đầu, hoa Uất-ba-la, hoa Phân-đà-lỵ cùng những hoa sen xanh,
vàng, đỏ, trắng và mầu sặc-sỡ. Trên bờ hào ấy, có bảy hàng cây báu, mỗi
hàng đều có những thứ châu-báu khác nhau; gió hiu-hiu, thổi từ-từ vào
những cành cây kia, nhánh lá chạm nhau, tiếng vang lên như thiên-nhạc.
Nhân-dân
trong thành, hết thảy đều đầy-đủ sự yên-ổn, giầu có, vui-vẻ đến chỗ
cực-thịnh; ngũ-dục đầy-đủ như cõi trời Đao-lỵ.
Đường xá trong
thành đều treo những hạt minh-châu; nhân-dân đi hay nghỉ, không phân
ngày đêm. Trong thành này thường thường có mười thứ tiếng: Một là, tiếng
voi, hai là tiếng ngựa, ba là tiếng xe, bốn là, tiếng trống, năm là,
tiếng loa, sáu là, tiếng đàn cầm, đàn sắt…, bảy là, tiếng hát, tám là,
tiếng chuông, tiếng khánh họp đại-hội, chín là, tiếng khen-ngợi người
trì-giới, mười là, tiếng thuyết-pháp bàn-bạc với nhau.
Vua
Đại-Thiện-Kiến, có mọi uy-đức, đoan-chính đệ-nhất, mọi người trông thấy,
ai cũng kính-mến; sống lâu, vui-vẻ, thân không có chút tật gì. Tính vua
nhân-từ, nghĩ thương hết thảy, như cha lành thương yêu con mình, hết
thảy nhân-dân, thân-kính nhà vua cũng như cha mình.
Ông A-Nan!
Vua Đại-Thiện-Kiến, đặc-biệt có một thời, nhà vua muốn ra nơi viên-lâm
du-quan, chơi-bời. Nhà vua cho chỉnh-nghiêm bốn loại binh [14], mỗi loại
là tám vạn bốn nghìn. Lại, những phu-nhân, thể-nữ hậu-cung cũng
chỉnh-nghiêm tám vạn bốn nghìn cỗ xe, muốn theo du-khán. Lúc đó, nhà vua
lại sắc cho những dòng Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ…, theo vua xuất-du.
Chỉnh-nghiêm
xe ngựa xong, quan chủ-binh vào tâu vua: “Bốn loại binh đã chỉnh-bị,
xin vua liệu thì giờ xuất-du!” Nhà vua liền lên xe bạch-tượng, cùng
Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ, đại-thần, quyến-thuộc và dùng bốn loại
binh vây quanh trước sau.
Khi ra đi, để đến lâm-viên kia, voi đi
nhanh như gió lướt, các quan, Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ cùng can vua:
“Đại-vương ở mãi trong thâm-cung, nhân-dân bên ngoài, không có duyên
được trông thấy Đại-vương, nay Đại-vương đến viên-lâm du-quan, nhân-dân
đông-đảo, chật cả bên đường, hết thảy đều trông ngóng muốn thấy
Đại-vương; vì sự việc ấy, xin Đại-vương sắc cho người coi xe, không nên
đi nhanh!” Nhà vua nghe lời nói ấy, liền sắc cho người coi xe, nên đi từ
từ. Do đi từ từ, nhân-dân bên đường, mặc ý chiêm-ngưỡng, như con thấy
cha.
Bấy giờ vua Đại-Thiện-Kiến thấy các đường, ngõ, nơi nào cũng
bằng-phẳng, lại có những hàng cây thất-bảo, che rợp, sáng ngời, nhưng,
không thấy có một ao nước nào, nhà vua liền sắc cho một viên quan, giáp
bên các đường, đào ao thất-bảo và mỗi cái ao cách nhau bằng một trăm cái
cung. Lại sai trồng thêm nhiều thứ hoa quí. Trong mỗi một ao, phải cắt
người hầu-hạ, có ai lại tắm, đem hương hoa cung cho họ, cùng cho thức
ăn, uống, mặc ý dùng đủ; cung-cấp như thế, không ngớt ngày đêm. Lại sắc
cho viên quan kia, từ nay về sau, nhân-dân từ bốn phương xa lại, có ai
lại cầu xin tùy họ dùng gì, cung-cấp cho họ.
Đến viên-lâm rồi,
nhà vua cùng Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ cùng các đại-thần du-quan,
chơi-bời cho đến chiều tối, thấy ánh-sáng của châu-báu rực-rỡ, như ban
ngày không khác. Khi không trông thấy bóng mặt trời, mới biết là đã về
đêm, bấy giờ nhà vua cùng các Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ và các
thần-dân, chơi-bời xong rồi, mới trở về cung-thành.
Ngày khác,
các Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ cùng các đại-thần, đem mọi thứ châu-báu
quí-giá, lại dâng vua, nhà vua bảo rằng: “Ngày mới rồi, tôi du-quan
chốn viên-lâm, tôi có sắc cho viên quan nọ: từ nay trở đi, có ai lại
xin, tùy ý họ, cung-cấp cho họ; đấy việc bố-thí của tôi như thế, nay các
khanh, sao lại còn đem những châu-báu đến dâng tôi?”
Bấy giờ,
tâm nhà vua tự nghĩ: “Những người này sở dĩ đem châu-báu đến dâng ta đều
là duyên-cớ làm cho trong nước cùng giầu-sang. Sự việc như thế, chắc do
dân nghèo mà họ đem lại?”
Nhà vua liền sắc cho viên quan coi
kho, đem những trân-bảo cung các đồ tư-sinh, để nơi ngã tư đường, rung
chuông, đánh trống, xướng lệnh cho bốn phương xa biết rằng vua
Đại-Thiện-Kiến, nay mở kho-báu để bố-thí, nếu ai cần dùng, tùy ý lại lấy
và nhà vua thường làm việc bố-thí rộng-rãi như thế, không ngớt ngày
đêm.
Các Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ cùng các đại-thần trong
nước, khi ấy tâu với vua rằng: “Tâu Đại-vương! Cung-điện của Đại-vương
thường ở đây, rất chật-hẹp; khi chúng tôi lại vấn-tấn Đại-vương, không
thể dung cả được những người theo hầu chúng tôi, kính xin Đại-vương nên
mở mang cho rộng-rãi hơn!”
Nhà vua nghe lời nói ấy, im-lặng nhận
lời và tâm tự-niệm rằng: “Nay ta nên mở rộng trụ-xứ này!” Bấy giờ, vua
Đế-Thích biết rõ tâm-niệm của nhà vua, liền gọi một vị Thiên-tử tên là
Tỳ-thủ-kiến-ma, là người tài-nghệ rất khéo, không việc gì là không làm
được, mà bảo rằng: “Nay cõi Diêm-phù-đề (Jambudvipa) có vị
Chuyển-luân-thánh-vương tên là Đại-Thiện-Kiến, muốn mở-mang cung-thành,
ông có thể hiện xuống làm người thợ trông nom giúp cho vị ấy, làm cho
nơi ấy về sự điêu-khắc, trang-sức được trang-nghiêm, mỹ-lệ như nơi ta
không khác?” Vị Thiên-tử vâng sắc-chỉ của vua Đế-Thích hiện xuống
nhân-gian như người tráng-sĩ co ruỗi cánh tay trong chốc-lát đã đến cõi
Diêm-phù-đề và đứng ngay trước nhà vua.
Lúc đó, nhà vua trông
thấy hình-dáng vị Thiên-tử kia phong-tư đoan-chính biết hẳn là không
phải người phàm, nhà vua liền hỏi rằng: “Ngài là vị Thần-đức nào, bỗng
dưng lại đây?” - Vị Thiên-tử kia đáp: Đại-vương nên biết, tôi là
đại-thần của vua Đế-Thích, tên là Tỳ-thủ-kiến-ma, là người thợ rất khéo.
Tâm Đại-vương muốn mở rộng cung-điện, nên vua Đế-Thích sai tôi xuống
đây, làm người thợ trông nom giúp nhà vua. Nhà vua nghe lời nói ấy,
trong lòng rất vui mừng.
Vị Thiên-tử kia bắt đầu xây-dựng mở-mang
cung-thành. Bốn cửa thành, mỗi cửa mở rộng ra, cách nhau hai mươi bốn
do-tuần. Lại xây cung-điện nhà vua. Điện này cao, sâu, dài, rộng mỗi
chiều đều tám do-tuần và đều bằng thất-bảo, trang-nghiêm, mỹ-lệ, như
cung vua Đế-Thích. Trong điện ấy, gồm có tám vạn bốn nghìn căn, cách
nhau. Và đều có giường, mùng, ngọa-cụ bằng thất-bảo.
Sau lại xây
điện thuyết-pháp cho nhà vua. Điện này cao, sâu, dài, rộng cũng tám
do-tuần và cũng trang-nghiêm bằng thất-bảo như trước. Bốn mặt của điện
này, đều có cây thất-bảo cùng lấy những cây hoa quý, trồng thành hàng,
bóng che rợp và sáng rực.
Lại đào những ao báu. Nước trong ao báu
ấy trong-sạch, đủ tám công-đức.
Còn chỗ chính giữa của điện ấy,
đặt tòa Sư-tử rất cao rộng, trang-nghiêm bằng thất-bảo, lấy mùng báu che
đi và để rủ xuống những cái diềm bằng thất-bảo. Và, vì những khách xa
bốn phương lại nghe pháp, nên lại xây tòa Tứ-bảo: Vàng, bạc, lưu-ly,
pha-lê; mà số-lượng ngồi trong tòa ấy có đến tám vạn bốn nghìn người.
Khi
vị Tỳ-thủ-kiến-ma vì vua Đại-Thiện-Kiến tạo-tác cung-thành xong rồi, vị
ấy từ-biệt nhà vua, bỗng dưng không thấy hiện nữa, trở về thiên-thượng.
Đại-Thiện-Kiến-Vương,
thấy cung-thành đều đã xây cất, sửa-sang xong, liền sắc cho viên quan
trực-thuộc, đánh trống, xướng lệnh cho khắp nhân-dân trong quốc-giới
biết: Sau đây bảy ngày, nhà vua sẽ vì hết thảy mọi người, nói nhiều
pháp-lợi; nếu ai muốn nghe pháp, đều tập-họp tại Thuyết-pháp-điện.
Bấy
giờ, Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ, đại-thần, nhân-dân, nghe xướng lệnh
ấy, đúng ngày, đều tập-họp tại Thuyết-pháp-điện.
Lúc đó, nhà vua
lên Thuyết-pháp-điện, ngồi lên tòa sư-tử và hết thảy mọi người đến nghe,
cũng đều ngồi vào tòa Tứ-bảo. Đại-Thiện-Kiến-Vương, trước tiên vì mọi
người nói về pháp thập-thiện, sau lại khai-tuyên nhiều pháp-môn khác. Cứ
thế, cho đến một vạn hai nghìn năm, chúng sinh trong nước ấy, ai từng
nghe pháp của vua Đại-Thiện-Kiến, khi mệnh-chung được sinh lên cõi trời,
không phải sa-đọa vào địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh.
Ông A-Nan!
Vua Đại-Thiện-Kiến thường làm việc lợi-ích chúng-sinh như thế đấy!
Ông
A-Nan! Khi vua Đại-Thiện-Kiến ở trong tĩnh-thất, tâm vua tự-niệm: “Thuở
quá-khứ ta có hành-nghiệp gì, tu thiện-căn gì, sinh ra đời được sự
tôn-quý,có uy-đức lớn, sắc-lực, thọ-mệnh, người ta không sánh bằng được?
Chính do trong thuở quá-khứ, ta tu nhiều về bố-thí, nhẫn-nhục, từ-bi,
nên nay được quả-báo ấy! Vậy nay ta nên tu-tiến hơn nữa.” Nhà vua liền
suy-nghĩ rằng: “Thời-gian không bao lâu nữa ta sẽ chứng được Sơ-thiền,
cho đến được Đệ-Tứ-thiền và lại tu-tập tứ vô-lượng-tâm (từ, bi, hỷ, xả)
nữa!
Ông A-Nan! Không những riêng mình, vua Đại-Thiện-Kiến lại
dạy phu-nhân cùng các thể-nữ tu về Tứ-thiền [15].
Bấy giờ, nơi
Tuyết-sơn có tám vạn bốn nghìn con voi trắng, hằng ngày đến sắp hàng
trước điện nhà vua. Nhà vua tâm-niệm: “Các con voi trắng này thường lại
chỗ ta, phải đi trên các con đường, hẳn là dẫm đạp lên chúng-sinh!” Nghĩ
thế, nhà vua liền sắc cho viên quan chủ về việc binh, từ nay về sau,
không cần những con voi này, hằng ngày đến chỗ tôi nữa; chừng một nghìn
năm sẽ đến một lần, song, chỉ cho bốn vạn hai nghìn con là đủ, bất-tất
phải đủ cả tám vạn bốn nghìn con.
Khi ấy, ngọc-nữ của nhà vua tên
là Thiện-Hiền cùng với các phu-nhân, thể-nữ tám vạn bốn nghìn người,
ngồi thiền, suy-nghĩ ở trong tĩnh-thất đã bốn vạn năm, cùng bảo nhau
rằng: “Chúng ta ngồi thiền, suy-nghĩ tại nơi đây đã bốn vạn năm, không
trông thấy Đại-vương, nay chúng ta nên tới nơi lễ-bái vấn-tấn!” Nói lời
ấy rồi, mọi người cùng theo nhau đến chốn nhà vua.
Lúc đó,
cung-nhân hiện ở nơi vua, vào tâu: “Nay Thiện-Hiền cùng tám vạn bốn
nghìn nữ-nhân lại thăm hỏi Đại-vương!”
Nhà vua nghe rồi, liền đi
lên Thuyết-pháp-điện, ngồi lên tòa sư-tử.
Giây lát, Thiện-Hiền
cùng mọi người đến, nhà vua gọi vào trước điện. Thiện-Hiền cùng mọi
người theo nhau tiến lên đến chỗ vua ngồi, đầu mặt lễ xuống chân vua. Lễ
xong, lần-lượt ngồi và tâu rằng: “Chị em chúng con cùng ngồi thiền,
suy-nghĩ ở trong tĩnh-thất đã bốn vạn năm, lâu không được yết-kiến
Đại-vương, nay chúng con lại đây là để thăm-hỏi sức khỏe Đại-vương và có
chút việc muốn nói, kính xin Đại-vương thuận cho!”
Nhà vua đáp”
“Quý hóa! Các vị muốn nói chi tùy ý”.
Thiện-Hiền liền tâu nhà vua
rằng: “Bốn phương thiên-hạ đây: Nam Diêm-phù-đề (Jumbudvipa), Tây
Cồ-da-ni (Apara-godàniya), Bắc Uất-đan-việt (Uttara-kura), Đông
Phất-bà-đề (Pùrva-videha) nhân-dân rất đông-đảo, giầu-sang, vui-vẻ,
yên-ổn, đều thực-hành thập-thiện, là do sức đức-hóa của Đại-vương. Cõi
Diêm-phù-đề, như thành Cưu-thi-bà-đế này, con số ấy còn có đến tám vạn
bốn nghìn thành. Các thành ấy, Quốc-vương, thần-dân, cùng Bà-la-môn, đều
lại nơi đây, muốn được yết-kiến Đại-vương. Nhưng, Đại-vương ngồi thiền,
trải qua nhiều năm, mọi người lại triều-yết, đều không được thấy, ví
như con hiếu không thấy được cha lành. Vả lại, trong tứ thiên-hạ, rất
lâu không thấy Đại-vương du-lịch chi cả, kính xin Đại-vương khéo dùng
thời-nghi, vỗ-về, tiếp-dắt nhân-dân. Chúng con nữ-nhân yếu-ớt, đối với
nước không ích gì lắm, nên thích-ý ngồi thiền lâu lâu, chứ như Đại-vương
ở nơi tôn-quý, thống-nhiếp trong ngoài, hết thảy nhân-dân, ai cũng
tôn-ngưỡng, há lại làm như việc làm của nữ-nhân chúng con! Voi trắng,
xe, ngựa, mỗi loại có đến tám vạn bốn nghìn, Đại-vương nên đi du-quan!
Ngày trước Đại-vương, thường vì hết thảy chúng-sinh, nói mọi pháp-lợi,
trao-truyền thập-thiện, nhưng, thời-gian gần đây, Đại-vương ngồi thiền,
việc ấy bỏ mất!”
Khi Thiện-Hiền đem những việc ấy can vua, vua
Đại-Thiện-Kiến nghe lời nói ấy, đáp rằng: “Trước sau nàng thường đem
việc thiện khuyên can ta, nhưng, nay ta nghe nàng nói, thấy trái với ý
trước!”
Bấy giờ, Thiện-Hiền nghe nhà vua dạy lời ấy, tâm sinh
áo-não, sa-lệ nghĩ rằng: “Vừa đây ta sở-dĩ can nhà vua, chính là sở-kiến
của ta, cho là đắc-trung (hợp trung-đạo), không ngờ lại sinh ra
tội-lỗi!”
Nàng liền từ tòa ngồi của mình đứng dậy, đỉnh-lễ xuống
chân vua và tâu rằng: “Nay con ngu-si không biết chính-lý, đem việc ấy
lên khuyên-can lên bậc trên, kính xin Đại-vương, cho được sám-hối!” [16]
Khi
ấy, vua Đại-Thiện-Kiến đáp nàng Thiện-Hiền rằng: “Hết thảy mọi
hành-tướng, đều là vô-thường, ân-ái hội-hợp cũng phải biệt-ly; bốn
thiên-hạ này tuy là đông-đảo, hưng-thịnh, không bao lâu nữa ta cũng sẽ
bỏ đi. Xưa kia, tám vạn bốn nghìn năm ta làm đứa anh-nhi, tám vạn bốn
nghìn năm ta làm đồng-tử, tám vạn bốn nghìn năm ta làm ngôi Thái-Tử chịu
phép quán-đỉnh [17], tám vạn bốn nghìn năm lên ngôi vua chịu phép
quán-đỉnh, sau được thành Chuyển-luân-thánh-vương, cai-trị bốn phương
thiên-hạ, đầy đủ thất-bảo, tám vạn bốn nghìn năm thống-lý việc dân, tám
vạn bốn nghìn năm vì các nhân-dân giảng-thuyết mọi pháp, tám vạn bốn
nghìn năm ngồi thiền suy-nghĩ. Từ đấy đến nay là năm mươi tám vạn bốn
nghìn năm. Tuy rằng thọ-mệnh như thế là lâu dài, nhưng, hội-hợp rồi cũng
đều về chỗ hết. Nay ta đã già, giờ chết sắp đến; các vua thuở xưa, sự
tôn-quý và khoái-lạc, cũng như ta không khác, song, cũng bị đổi-dời về
nơi vô-thường. Thành Cưu-thi-bà-đế cùng tám vạn bốn nghìn thành lớn
khác, có hội-hợp cũng có lúc tan-diệt. Vậy, không nên đối với những
thành ấy, riêng sinh yêu-mến, ham-đắm, tăng thêm tâm buông-lung. Nay ta
sở-dĩ được sự tôn-thắng này, đều do xưa kia ta tích-góp mọi nghiệp
thiện. Nay cần trồng nhiều thiện-căn, tạo nhân mai sau, nên ta ngồi
thiền trải nhiều năm như vậy!”
Lúc đó, Thiện-Hiền cùng mọi người
nghe, nghe nhà vua nói lời ấy, tâm rất vui mừng, đỉnh-lễ xuống chân vua
và lui về chỗ ở.
Như thế, không lâu nhà vua bị bệnh nặng, tự biết
mệnh-tận, tức lập Thái-Tử lên làm vua; tập-họp các đại-thần cùng
Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ lại, lấy nước bốn bể rưới lên đầu Thái-Tử.
Sự việc xong-xuôi, nhà vua liền mất và được sinh lên cõi Phạm-thiên.
Ông
A-Nan! Vua Đại-Thiện-Kiến, cai-trị tứ thiên-hạ, mà nơi ở của nhà vua,
chỉ ở một thành lớn trong cõi Diêm-phù-đề; tuy có tám vạn bốn nghìn
thành, nhưng chỗ ở của nhà vua, chỉ một thành Cưu-thi-bà-đế này thôi.
Trong Tuyết-sơn có tám vạn bốn nghìn con voi trắng quý-báu, nhưng nhà
vua cưỡi bất quá cũng chỉ một con. Tuy có tám vạn bốn nghìn con ngựa tốt
nhưng, nhà vua cưỡi bất quá cũng chỉ một con. Tuy có tám vạn bốn nghìn
xe thất-bảo, mà nhà vua thường đi, bất quá cũng chỉ một cỗ. Tuy có tám
vạn bốn nghìn phu-nhân, nhà vua thương yêu, chỉ có một người. Tuy
trang-sức bảo-điện đến tám vạn bốn nghìn cái, nhưng, nơi ở của nhà vua,
bất quá chỉ một nhà. Sự cần dùng của tấm thân, no đủ mà thôi! Thế mà nhà
vua phải lo công việc cho bốn phương, buộc lòng vào công việc của
chúng-sinh, luống mệt tinh-thần, thân không ích gì như thế!”
Ông
A-Nan! Vua Đại-Thiện-Kiến, khi ấy, há là người khác ư, chính là thân Tôi
vậy!
Xưa kia Tôi được sự tôn-quý ấy và quốc-thành tôi ở tức tại
nơi đây. Tôi ở thành này làm Chuyển-luân-vương, thực-hành những việc
thành-tựu lợi-ích vô-lượng chúng-sinh, không thể nào tính kể được. Nay
chư Thiên tới chật-ních hư-không, đều là những người xưa kia khi Tôi làm
vua đem những pháp lành giáo-hóa mà thành. Và, ngày nay tất cả pháp tại
thành này, trông thấy tôi nhập Niết-Bàn, sẽ đem lại cho họ được quả
Bát-Niết-Bàn.
Ông A-Nan! Sự việc như thế, ông sao có thể nói được
là thành Cưu-thi-na này là biên-địa nhỏ hẹp ư? Nay Tôi quyết-định nhập
Niết-Bàn tại thành này!”
Đương khi Như-Lai nói về việc ấy, chư
Thiên, Nhân số hàng ức ức người, ở trong mọi pháp, xa lìa trần-cấu, được
pháp-nhãn-tịnh, tức thời cùng nhau đồng thanh bạch Phật rằng: “Lạy đức
Thế-Tôn! Trong kiếp vô-số, vô-lượng vô-biên xưa kia, Thế-Tôn đem mọi
pháp lành, làm lợi-ích cho chúng con, nay lại ở nơi này, Ngài lấy sự vui
của Bát-Niết-Bàn an-lập cho chúng con!” Bạch rồi, họ liền rải những hoa
quý, cùng tấu những âm-nhạc cõi thiên, ca-hát tán-thán, cúng-dàng
Như-Lai.
Bấy giờ, Ông A-Nan bạch Phật rằng: “Lạ-lùng thay, lạy
đức Thế-Tôn! Thành Cưu-thi-na này, thuở quá-khứ đã có những việc lạ-lùng
ấy, nay con không còn sinh tâm thắc-mắc hẹp-hòi nữa!”
TOÁT-YẾUSau
khi được đức Phật an-ủi, tâm ông A-Nan dần nguôi sự buồn-rầu, ông liền
bạch Phật, thỉnh Phật nên về những thành to-lớn khác, nhập Niết-Bàn, nơi
Cưu-thi-na này nhỏ hẹp và biên-địa quá!
Đức Phật bảo ông A-Nan:
“Ông không nên thỉnh Tôi thế! Ông chưa biết sự tốt đẹp của thành này xưa
kia, Tôi sẽ nói rõ cho ông hiểu:
Thành này xưa kia gọi là thành
Cưu-thi-bà-đế do Chuyển-luân-thánh-vương tên là Đại-Thiện-Kiến ngự-trị.
Thành
này cao rộng, cung-điện, nhà, cửa, đường xá, hồ ao, cây cối… đều
xây-cất và trang-nghiêm bằng thất-bảo. Nhân-dân thuần-thiện, sống lâu
vui-vẻ, sung-sướng…, vì nhà vua hoàn-toàn chỉ đem chính-pháp giáo-hóa
cai-trị.
Tuy vậy, theo sự nhu-cầu của thần-dân thường thường lui
tới, thời thành này vẫn còn chật. Do đó, một thời nhà vua muốn mỏ rộng
cung-thành, tự-nhiên được Tỳ-thủ-kiến-ma thiên-tử xuống kiến-thiết giúp.
Công
việc kiến-thiết xong-xuôi, nhà vua xướng-lệnh, mở cửa Thuyết-pháp-điện
thuyết nhiều pháp-lợi, nhiều người nghe pháp chứng-ngộ.
Sau đấy,
nhà vua tự nghĩ: “Ta được như vầy, do trước đây ta làm nghiệp thiện, nay
ta cần tu-tiến hơn nữa!” Nhà vua tu Thiền và dạy các phu-nhân, thể-nữ
cùng tu.
Qua thời-gian khá lâu, ngọc-nữ Thiện-Hiền cùng các
phu-nhân khuyên nhà vua nên đi kinh-lý khắp nơi để giáo-hóa nhân-dân.
Nhà vua từ chối và nói: “Ta từ khi còn anh-nhi, lúc đồng-tử, lúc làm
Thái-Tử, lúc làm vua, sau thành Chuyển-luân-thánh-vương, cai-trị tứ
thiên-hạ, lúc giảng pháp cho nhân-dân, lúc ngồi Thiền, tất cả tới nay đã
584.000 năm, kể ra cũng lâu lắm rồi. Song, “sự-vật đều vô-thường, ân-ái
phải biệt-ly.” Vì vậy, ta không yêu-mến, ham-đắm; cần trồng nhiều
thiện-căn, tạo nhân mai sau mà thôi!”
Như thế, không lâu nhà vua
bị bệnh, truyền ngôi cho Thái-Tử rồi mất, sinh lên cõi Phạm-thiên.
Ông
A-Nan! Vua Đại-Thiện-Kiến xưa kia có cung-thành, voi ngựa, xe-cộ,
phu-nhân… mỗi đằng đến 84.000, thế mà nhà vua cũng chỉ dùng đến “một” mà
thôi. Sự cần-dùng của tấm thân, chỉ no đủ thế mà nhà vua phải lo công
việc cho 4 phương, buộc lòng vào công việc chúng-sinh, mệt tinh-thần.
Ông
A-Nan! Vua Đại-Thiện-Kiến xưa kia, nay là thân Tôi vậy. Xưa kia Tôi ở
nơi đây, làm công việc thành-tựu cho chúng-sinh không thể kể xiết được
như vậy, há lại cho rằng nơi đây là nhỏ hẹp, biên-địa ư? Tôi quyết-định
nhập Niết-Bàn tại thành này!
XIV. ĐỨC PHẬT VÀ PHÁI LỰC-SĨKhi ấy, đức
Thế-Tôn bảo ông A-Nan: “Nay ông nên vào trong thành Cưu-thi-na bảo những
người trong phái Lực-sĩ rằng: “Hôm nay vào lúc gần sáng Tôi nhập
Niết-Bàn, Tôi muốn mọi người đều lại cùng Tôi tương-kiến; nếu còn điều
gì ngờ, mặc ý cho thỉnh-vấn, đừng để khi Tôi nhập Niết-Bàn, không kịp
tương-kiến, sau sinh hối-hận!”
Ông A-Nan nghe đức Phật nói rồi,
sa lệ áo-não, đỉnh lễ xuống chân Phật, rồi sửa-soạn ra đi.
Ông
giữ thân uy-nghi, cùng với một vị Tỳ-Khưu nữa, cùng nhau vào thành.
Lúc
đó, những già, trẻ, trai, gái phái Lực-sĩ, trong thành Cưu-thi-na, mới
cùng nhau tụ-tập, để tỏ-bày, bàn-bạc về việc đức Như-Lai sắp nhập
Niết-Bàn và ai ai cũng đều muốn đến nơi Phật.
Đang họp bàn, họ
trông thấy ông A-Nan, họ liền hỏi: “Chúng tôi nghe thấy đức Thế-Tôn ở
khoảng hàng cây Sa-la song-thụ sắp nhập Niết-Bàn, chính chúng tôi đang
bàn nhau muốn đến nơi Phật, vậy nay việc ấy thế nào, xin ông cho biết!”
Ông
A-Nan liền đem tất cả những lời Phật dạy, bảo những người trong phái
Lực-sĩ. Những người phái Lực-sĩ ấy nghe rồi, thương khóc, áo-não,
buồn-bã ngất lăn ra đất, nghẹn-ngào nói nhỏ với nhau rằng: “Than ôi, khổ
lắm! Con mắt của thế-gian mất rồi, từ nay chúng ta biết quy-y vào đâu,
cũng như đứa trẻ mất người cha lành; từ nay trở đi, cõi Nhân, Thiên giảm
dần, ba đường ác [18], ngày thêm thịnh!”
Thế rồi, họ bạch ông
A-Nan: “Quyến-thuộc chúng tôi nay muốn cùng nhau đến nơi đức Phật!”
Bấy
giờ, ông A-Nan, giã-từ mọi người, trở về nơi Phật và bạch Phật rằng:
“Con đem lời Thế-Tôn vào thành tuyên-thị cho các người phái Lực-sĩ; các
người ấy, ai cũng đều kinh-ngạc, buồn-bã, khóc-lóc, rưng-rức và đều bảo
sẽ đến chiêm-phụng Thế-Tôn!”
Sau đó, những người già, trẻ, trai,
gái phái Lực-sĩ, hết thảy đi theo nhau, đều sa lệ, kêu khóc, nghẹn-ngào,
theo đường tiến lên.
Ông A-Nan trông thấy số nggười của phái
Lực-sĩ rất đông, tâm ông tự nghĩ: “Nếu đám người đông này, cứ mỗi người,
mỗi người vào lễ Phật, thời không biết thời nào hết; nay ta nên cho mỗi
nhà, mỗi nhà nhất thời lễ Phật thôi!”
Đám người phái Lực-sĩ kia
đã đến nơi Phật, ông A-Nan liền phổ-cáo rằng: “Các vị lại đây đông-đảo,
nếu cứ mỗi người, mỗi người vào lễ Phật, thời không biết thời nào hết
được, nay xin mỗi nhà, mỗi nhà nhất thời lễ Phật!”
Những người
phái Lực-sĩ kia, vâng theo ý ông A-Nan, liền cùng nhau vào lễ Phật, rồi
đứng lui về một bên, bạch Phật rằng: “Kính xin Thế-Tôn hãy ở lại cõi thọ
một kiếp hay non một kiếp, đừng nhập Niết-Bàn, để đem lại lợi-ích cho
hết thảy chư thiên, nhân-dân. Nay các chúng-sinh không có mắt tuệ, kính
xin thế-Tôn, vì khai-đạo cho!”
Đức Như-Lai bảo các người Lực-sĩ:
“Nay các vị không nên thỉnh Tôi như thế nữa! Sao vậy? - Hết thảy mọi
hành-tướng, đều là vô-thường, ân-ái hội-hợp, tất phải quay về chỗ
biệt-ly; như thế, dù Tôi có ở đời đủ một kiếp chăng nữa, thời hội-hợp
cũng có lúc sẽ phải tan-diệt. Vậy, những lời thuyết-pháp của Tôi, các vị
cần ghi-nhớ, gìn-giữ, tụng niệm đừng quên, thế là không khác gì như Tôi
còn ở đời!”
Những người phái Lực-sĩ kia nghe đức Phật nói lời
ấy, biết là không được kết-quả, theo lời thỉnh của mình, tâm họ héo-hon,
buồn-rầu, thương-khóc áo-não, rồi đứng im-lặng.
TOÁT-YẾUĐức
Phật sai ông A-Nan vào thành Cưu-thi-na tìm phái Lực-sĩ tới, cho đức
Phật gặp. Ông A-Nan vâng lời.
Đi đến nơi ông A-Nan thấy họ đang
họp đông-đảo. Ông đem lời đức Phật chỉ-giáo nói cho họ nghe. Họ nói:
“Chúng tôi được tin đức Phật sắp nhập Niết-Bàn, họp nhau để đến chốn
Phật, lễ Phật.”
Tới chốn Phật, phái Lực-sĩ vào lễ Phật và thỉnh
đức Phật lưu lại thế-gian, đem lại lợi-ích cho chúng-sinh.
Đức
Phật dạy: “Sự vật đều vô-thường, ân-ái phải biệt-ly, dù Tôi có ở lại nữa
cũng đến như vậy. Thôi, những lời thuyết-pháp của Tôi, các vị cần
ghi-nhớ, tụng niệm đừng quên, như thế không khác gì như Tôi còn ở đời!”
Phái
Lực-sĩ biết không sao thỉnh được, buồn-rầu đứng im.
XV. ÔNG TU-BẠT-ĐÀ-LA QUY PHẬTKhi
ấy, thành Cưu-thi-na có một người ngoại-đạo, một trăm hai mươi tuổi,
tên là Tu-bạt-đà-la (Subhadra). Ông này thông-minh đa trí, tụng suốt bốn
kinh Phệ-đà [19], hết thảy sách, luận đều thông-đạt cả, nên được hết
thảy mọi người tôn-kính.
Ông nghe biết được Như-Lai ở khoảng
song-thụ trong rừng Sa-la sắp nhập Niết-Bàn. Tâm ông tự nghĩ: “Các sách,
luận của đạo ta nói đức Phật ra đời rất là khó gặp, cũng như hoa Ưu-đàm
bao thời mới hiện một lần. Nay Ngài ở trong rừng Sa-la, ta còn có chỗ
ngờ, ta thử đến thỉnh-vấn, nếu Sa-môn Cồ-Đàm [20] giải-quyết được sự
ngờ-vực của ta, thời thực là người được Nhất-thiết-chủng-trí.
Ông
nghĩ thế rồi, liền đi đến nơi Phật.
Còn ở ngoài rừng ông gặp ông
A-Nan, ông nói với ông A-Nan rằng: “Trong sách, luận đạo tôi nói đức
Phật ra đời rất khó gặp được, ức, nghìn, vạn-kiếp, từng thời, từng thời
mới hiện ra, như hoa Ưu-đàm không thể thường thấy được. Đức Phật
giáo-hóa tại thế-gian, mà tôi vẫn không được trông thấy. Nay tôi nghe
biết Ngài ở trong rừng Sa-la này, sắp nhập Niết-Bàn; tôi có chỗ ngờ,
muốn đến thỉnh-vấn Ngài, vậy mong ông vì tôi bạch lên đức Thế-Tôn là nay
tôi muốn được yết-kiến Ngài một chút!”
Ông A-Nan nghe lời nói ấy
của ông Tu-bạt-đà-la tâm ông tự nghĩ: “Nay đức Thế-Tôn bốn đại [21]
không được an-hòa, Ngài tiếp-đối lâu, là tự mình tăng thêm việc ác,
nghĩa là, nếu ta lại cho người ngoại-đạo vào yết-kiến đức Thế-Tôn, tất
nhiên phải có ngôn-luận, dung-thể sẽ tổn-kịch thêm!” Ông A-Nan liền đáp:
“Nay đức Thế-Tôn bốn đại không được an-hòa, nằm nghỉ trong rừng, thân
đau cực-khổ, vậy nay xin ông không nên vào yết-kiến đức Như-Lai nữa! Xin
ông đừng tới khi đức Thế-Tôn sắp nhập Niết-Bàn, có sự chướng-ngại!”
Ông
Tu-bạt-đà-la thỉnh-cầu ông A-Nan đến ba lần như thế, ông A-Nan cũng lại
đáp lại ba lần như thế. Bấy giờ đức Thế-Tôn dùng Thiên-nhĩ [22]
thanh-tịnh, nghe thấy tiếng ông Tu-bạt-đà-la thỉnh-cầu ông A-Nan; Ngài
lại quán-sát căn-khí của ông ấy, Ngài biết là đã đến thời có thể độ được
ông ấy, Ngài liền dùng Phạm-âm bảo ông A-Nan: “Ông đừng làm trở-ngại
người đệ-tử tối-hậu của Tôi, ông nên thuận cho ông Tu-bạt-đà-la lại
trước Tôi, Tôi muốn được trông thấy ông ấy. Ông ấy là người chất-trực,
thông-tuệ, giác-ngộ dễ-dàng. Ông ấy sở-dĩ đến nơi Tôi là muốn được
giải-quyết điều ngờ-vực, không phải là cố-ý lại để tranh-luận hơn, kém
đâu!”
Lúc đó, ông A-Nan vâng lời Phật dạy mới bảo ông
Tu-bạt-đà-la rằng: “Nay đức Thế-Tôn đã dạy tôi, thuận để ông vào gặp
Ngài”.
Ông Tu-bạt-đà-la nghe biết đức Phật thuận cho ông vào
trước Ngài, vui mừng hớn-hở, không tự hãm được, tâm ông nghĩ rằng:
Sa-môn Cồ-Đàm quyết-định là người chứng được Nhất-thiết-chủng-trí!”
Nghĩ
rồi, ông liền đi vào nơi Phật ở. Thăm hỏi lẫn nhau rồi, ông ngồi về một
bên và bạch phật rằng: “Thưa Cồ-Đàm Sa-môn! Nay tôi có điều muốn hỏi,
xin Ngài hoan-hỷ thuận cho!”
Đức Phật đáp: “Quý hóa thay, quý hóa
thay! Ông Tu-bạt-đà-la, tha-hồ ông muốn hỏi gì, cứ hỏi!”
Ông
Tu-bạt-đà-la liền hỏi Phật: “Nay ở thế-gian này, các vị Sa-môn,
Bà-la-môn, lục-sư ngoại-đạo như: Phú-lan-na-ca-diếp (Purana Kàsyapa),
Mạt-già-lỵ-câu-sa-lê-tử (Maskàri Gosaliputra), A-kỳ-đà-sí-xá-khâm-bà-la
(Ajtakesakambala), Ca-la-cưu-đà-ca-chiên-diên (Kakuda Kàtyàyand),
Ni-kiền-đà-nhã-đề-tử (Nirgranta Jnatiputra)…, đều tự nói là được
Nhất-thiết-trí, cho những học-giả khác là tà-kiến; họ cho hành-động của
đạo họ, là đạo giải-thoát, hành-động của đạo khác chỉ là nhân sinh-tử.
Phải, trái lẫn-lộn, sao biết được đằng nào là hư, thực; thầy nào được
gọi là Sa-môn, thầy nào quyết-định là nhân giải-thoát?”
Đức
Như-Lai đáp: “Quý hóa thay, quý hóa thay, ông Tu-bạt-đà-la! Nay ông hỏi
Tôi được nghĩa ấy, ông hãy nghe cho kỹ, nghe cho kỹ, tôi sẽ vì ông mà
nói về vấn-đề ấy.”
Ông Tu-bạt-đà-la! Trong các pháp, nếu pháp nào
không có pháp Bát-thánh-đạo, sẽ biết là nơi ấy không có tên một bậc
Sa-môn, cho đến tên hai và ba, bốn bậc Sa-môn cũng lại không có [23]. Đã
không có Sa-môn, cũng không có giải-thoát; giải-thoát đã không có, thời
không phải là được Nhất-thiết-chủng-trí!
Ông Tu-bạt-đà-la! Nếu
trong các pháp có Bát-thánh-đạo, nên biết rằng nơi ấy quyết-định có tên
của bốn bậc Sa-môn. Có tên bậc Sa-môn thời có giải-thoát; đã có
giải-thoát, là được Nhất-thiết-chủng-trí!
Ông Tu-bạt-đà-la!
So-sánh các pháp, duy trong pháp Tôi có Bát-thánh-đạo, có tên bốn bậc
Sa-môn, là đạo giải-thoát, là Nhất-thiết-chủng-trí. Các ngoại-đạo kia
như Phú-lan-na-ca-diếp vân vân, trong chỗ thuyết-pháp của họ, không có
Bát-thánh-đạo, không có tên bậc Sa-môn, không phải là giải-thoát và
Nhất-thiết-chủng-trí. Nếu họ nói là có, thời biết lời nói ấy quyết là
lời nói dối-trá!
Ông Tu-bạt-đà-la! Hết thảy chúng-sinh nghe pháp
Tôi nói, tin-thụ, suy-nghĩ, thời biết người ấy tất không nghe không, mà
quyết được giải-thoát!
Ông Tu-bạt-đà-la! Khi Tôi còn ở vương-cung
chưa đi xuất-gia, hết thảy thế-gian đều bị hàng lục-sư mê-hoặc, chưa
thấy có cái thực Sa-môn!
Ông Tu-bạt-đà-la! Năm hai mươi chín tuổi
Tôi xuất-gia học đạo, năm ba mươi sáu tuổi [24] Tôi ngồi dưới gốc cây
Bồ-Đề, suy-nghĩ về nguyên-để cứu-cánh của Bát-thánh-đạo, thành vô-thượng
chính-đẳng chính-giác, chứng được Nhất-thiết-chủng-trí. Chứng-ngộ rồi,
Tôi đi đến vườn Lộc-giã, là nơi trụ-xứ của các tiên-nhân thuở xưa, thuộc
nước Ba-la-nại, Tôi vì bọn ông Kiều-Trần-Như năm người [25], quay
pháp-luân Tứ-đế, họ nghe được dấu-tích của đạo, khi ấy mới có tên Sa-môn
ra đời, đem phúc-lợi cho chúng-sinh!
Ông Tu-bạt-đà-la! Ông nên
biết rằng pháp Tôi được giải-thoát, Như-Lai thực là
Nhất-thiết-chủng-trí!
Ông Tu-bạt-đà-la nghe đức Như-Lai nói về
Bát-thánh-đạo rồi tâm sinh hoan-hỷ, khắp mình sởn lông, khát-ngưỡng muốn
được nghe về nghĩa của Bát-thánh-đạo, ông bạch Phật rằng: “Kính xin
Thế-Tôn, vì con mà phân-biệt và nói rộng nghĩa của Bát-thánh-đạo cho!”
Đức
Thế-Tôn lại vì ông ấy phân-biệt và nói rộng nghĩa của Bát-thánh-đạo.
Ông
Tu-bạt-đà-la nghe đức Phật nói nghĩa của Bát-thánh-đạo rồi, tâm-ý ông
mở tỏ, bỗng dưng đại-ngộ và ở trong mọi pháp ông xa lìa được trần-cấu,
được pháp-nhãn-tịnh, ông liền bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn! Nay con
muốn xuất-gia trong Phật-pháp, mong đức Thế-Tôn chấp-thuận!
Đức
thế-Tôn liền gọi: “Thiện-Lai Tỳ-Khưu!” Râu tóc ông tự sạch, ca-sa mặc
vào mình, tức thành Sa-môn. Đức Thế-Tôn lại nói rộng về Tứ-đế cho ông
nghe, ông liền được lậu-tận, thành A-La-Hán.
Đức Phật bảo ông
A-Nan: “Nay ông nên biết rằng Tôi ở nơi đạo-tràng, thành Vô-thượng
chính-đẳng chính-giác, lần đầu tiên thuyết-pháp độ cho bọn ông
Kiều-Trần-Như năm người, ngày nay trong rừng Sa-la, sắp nhập Niết-Bàn,
lần thuyết-pháp cuối cùng này, Tôi độ cho ông Tu-bạt-đà-la. Từ đây, chư
Thiên, nhân-dân không ai được nghe Tôi thuyết-pháp mà đắc-độ nữa, nhưng,
nếu người có thiện-căn cũng sẽ được giải-thoát, sau đây đều do đệ-tử
của Tôi, dạy bảo lẫn nhau!”
Ông A-Nan! Ông Tu-bạt-đà-la, tuy là
ngoại-đạo, mà thiện-căn của ông ấy, hợp thời thành-thục, duy có Như-Lai
phân-biệt biết được. Sau khi Tôi nhập Niết-Bàn nếu có người ngoại-đạo,
muốn xin xuất-gia trong pháp Tôi, các ông không nên thuận ngay cho họ;
trước tiên yêu cầu họ phải tụng-tập kinh sách trong bốn tháng, xem
ý-tính của họ là hư hay thực. Nếu thấy hạnh họ chất-trực, nhu-hòa và đối
với trong pháp Tôi, thực có ý muốn sâu-xa, sau mới ưng-thuận cho họ
xuất-gia. Ông A-Nan! Sở dĩ thế, là vì các ông trí-tuệ ít, không thể
phân-biệt được căn-khí chúng-sinh ngay, nên buộc các ông trước phải
xem-xét họ đã!
Khi ấy, ông Tu-bạt-đà-la bạch Phật rằng: “Lạy đức
Thế-Tôn! Trước đây con muốn xin xuất-gia, đức Thế-Tôn nếu buộc con trước
phải ở trong Phật-pháp bốn mươi năm đọc-tụng kinh-sách, sau mới cho con
xuất-gia, con cũng chịu được, phương chi là chỉ có bốn tháng!
Đức
Thế-Tôn bảo ông Tu-bạt-đà-la: “Đúng như thế, đúng như thế, ông
Tu-bạt-đà-la! Tôi xem xét ý ông, đối với trong pháp Tôi ân-cần
khát-ngưỡng, nay ông nói ra lời ấy, không phải là hư-thiết.”
Liền
đấy, ông Tu-bạt-đà-la tới trước Phật, bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế-Tôn!
Con không nỡ trông thấy đấng Thiên-Nhân-Tôn nhập Niết-Bàn, hôm nay con
muốn nhập Niết-Bàn trước đức Thế-Tôn!”
Đức Phật dạy: “Quý hóa
thay! Được!”
Lúc đó, ông Tu-bạt-đà-la ngay ở trước mặt Phật nhập
Hỏa-giới tam-muội, mà nhập Niết-Bàn.
TOÁT-YẾUThành
Cưu-thi-na có một người tu ngoại-đạo, quán thông kinh-sách, thọ 120
tuổi tên là Tu-bạt-đà-la.
Xem kinh-sách ông biết đức Phật ra đời
khó gặp được, nay đức Phật sắp nhập Niết-Bàn và còn có chút điều
ngờ-vực, ông liền đi đến chốn Phật.
Đến nơi Sa-la, ông xin ông
A-Nan cho vào yết-kiến Phật. Ông A-Nan từ chối, vì đức Phật đau và Ngài
sắp nhập-diệt, không nên làm chướng-ngại.
Đức Phật dùng Thiên-nhĩ
nghe biết, cùng xét rõ căn-cơ của ông ấy, Ngài bảo ông A-Nan cho vào.
Vào
tới nơi, theo nghi-thức thăm hỏi xong, ông Tu-bạt-đà-la hỏi đức Phật:
“Những người tu-hành của các đạo thời nay, ai cũng đều cho mình là được
Nhất-thiết-trí, còn học-giả khác là tà-kiến; cho đạo mình là giải-thoát,
đạo khác là sinh-tử. Phải, trái, hư, thực khó phân, xin Ngài giải-quyết
giúp cho!”
Đức Phật đáp: “Đạo nào có Bát-thánh-đạo, có tên bậc
Sa-môn, có giải-thoát, là được Nhất-thiết-trí! Trái lại là không được!”
“Khi
Tôi còn ở Vương-cung, làm gì có tên thực Sa-môn. Hăm chín tuổi Tôi
xuất-gia, băm sáu tuổi Tôi suy-nghĩ Bát-chính-đạo, chứng
Nhất-thiết-chủng-trí, và sau đó, Tôi đến Lộc-giã độ cho bọn ông
Kiều-Trần-Như 5 người, khi ấy mới có tên Sa-môn ra đời. Ông nên biết:
pháp Tôi được giải-thoát, Như-Lai là Nhất-thiết-chủng-trí!”
Ông
Tu-bạt-đà-la nghe đức Phật nói pháp ấy rồi, bỗng dưng đại-ngộ. Ông xin
Phật xuất-gia, thành bậc Sa-môn.
Đức Phật lai dặn ông A-Nan sau
đây có độ cho người ngoại-đạo, cần phải xem-xét trong 4 tháng đã!
Tới
đây, ông Tu-bạt-đà-la không nỡ trông thấy Phật nhập Niết-Bàn, ông xin
Phật, ông vào Hỏa-quang tam-muội, nhập Niết-Bàn trước.
XVI. LỜI PHÓ-CHÚCBấy
giờ, đức Như-Lai bảo ông A-Nan: “Ông đừng thấy Tôi nhập Niết-Bàn, cho
là chính-pháp của Tôi ở đây mất hẳn. - Sao vậy? - Xưa Tôi vì các vị
Tỳ-Khưu chế ra giới Ba-la-đề-mộc-soa [26] cùng nói ra nhiều diệu-pháp
khác, những giới-pháp ấy tức là Đại-Sư của các vị và cũng như Tôi còn ở
đời không khác!”
Ông A-Nan! Sau khi Tôi nhập Niết-Bàn, các vị
Tỳ-Khưu đều phải theo thứ-tự, lớn, nhỏ, cung-kính lẫn nhau; không được
gọi tên họ, mà đều gọi tên tự; cùng xem-xét lẫn nhau, đừng để trong
chúng có sự phạm đại-giới; không nên soi-bói lỗi nhỏ của người. Xa-Nặc
(Chandaka) Tỳ-Khưu [27] cần phải phạt nặng!
Ông A-Nan hỏi Phật:
“Lạy đức Thế-Tôn! Thế nào là phạt nặng?”
Đức Phật bảo: “Ông
A-Nan! Phạt nặng là hết thảy Tỳ-Khưu đừng cùng ông ấy nói chuyện!” Ông
A-Nan bạch Phật: “Chúng con xin vâng làm theo lời dạy của Thế-Tôn!”
Khi
ấy đức Thế-Tôn bảo các vị Tỳ-Khưu: “Nay các ông nếu còn ngờ-vực gì, mặc
ý các ông thỉnh-vấn, đừng để sau khi Tôi nhập-diệt, hối-hận rằng
Như-Lai gần nhập Niết-Bàn trong rừng Sa-la, lúc đó ta không dám đến hỏi
để Như-Lai giải-quyết cho, đến nỗi ngày nay tâm-tình ta có chỗ trệ-trọc!
Tuy nay thân thể Tôi có bệnh, nhưng, còn có thể vì các ông giải-thích
những điều ngờ-vực. Nếu các ông muốn vâng giữ chính-pháp, lợi-ích Nhân,
Thiên, sau khi Tôi nhập Niết-Bàn, nay các ông nên hỏi nhanh lên, Tôi
giải-quyết cho chỗ còn ngờ-vực của các ông!”
Đức Thế-Tôn bảo như
thế đến ba lần, các vị Tỳ-Khưu vẫn im-lặng, không có ai xin Ngài
quyết-nghi gì cả. Lúc đó, ông A-Nan liền bạch Phật rằng: “Lạ thay, lạy
đức Thế-Tôn! Đức Thế-Tôn dạy đến ba lần như thế, mà trong chúng này,
không có ai ngờ gì cả!”
Đức Phật dạy: “Đúng như thế, đúng như
thế! Ông A-Nan! Nay trong chúng này, có năm trăm vị Tỳ-Khưu chưa
đắc-đạo, sau khi Tôi nhập Niết-Bàn, trong đời vị-lai các vị ấy,
lậu-nghiệp sẽ được hết và chính ngay ông cũng là người ở trong số ấy!”
Bấy
giờ đức Thế-Tôn bảo các vị Tỳ-Khưu: “Các vị nếu thân, khẩu, ý Tôi bỗng
dưng có xúc-phạm gì, các vị nên bảo Tôi!”
Các vị Tỳ-Khưu nghe đức
Phật nói lời ấy buồn rầu sa lệ, bạch Phật rằng: “Như-Lai há còn có lỗi
nhỏ-nhặt về thân, khẩu, ý?”
Đức Như-Lai liền nói kệ:
Các
hành là vô-thường,
Là pháp sinh-diệt;
Diệt sinh-diệt rồi,
Tịch-diệt
làm vui. [28]
Đức Như-Lai nói bài kệ ấy rồi, Ngài bảo các vị
Tỳ-Khưu: “Các vị nên biết: hết thảy mọi hành-tướng, đều là vô-thường;
thân Tôi nay tuy là thể kim-cương, nhưng cũng không khỏi lẽ vô-thường
biến-thiên. Trong nẻo sinh-tử, rất đáng sợ-hãi, các vị nên siêng làm
hạnh tinh-tiến, cần mau ra khỏi hố lửa sinh-tử này, thế là lời dạy cuối
cùng của Tôi!”
“Thời nhập Niết-Bàn của Tôi đã đến!”
Các vị
Tỳ-Khưu cùng các Thiên, Nhân khác nghe đức Phật dạy lời ấy, thương-xót,
kêu-khóc, buồn-bã ngất lăn ra đất.
Đức Như-Lai liền bảo tất cả
mọi người: “Các vị không nên sinh ra sự buồn-rầu ấy, tính-tướng của mọi
sự-vật, đều như thế cả!”
TOÁT-YẾU
Đức Phật bảo ông
A-Nan: “Đừng thấy Tôi nhập Niết-Bàn, cho là chính-pháp của Tôi cũng mất
hẳn. Xưa kia Tôi chế ra giới-luật, nói diệu-pháp, thời những giới-pháp
đó là Thầy của các vị. Sau khi Tôi nhập-diệt, các vị Tỳ-Khưu đều phải
theo thứ tự, lớn, nhỏ, cung-kính lẫn nhau; xem-xét lẫn nhau, để tránh sự
phạm đại-giới. Nhưng, không nên soi-bói lỗi nhỏ của người!”
Đức
Thế-Tôn bảo các vị Tỳ-Khưu: “Giờ đây các vị còn ngờ-vực gì, cứ hỏi, chả
sau lại phàn-nàn!” Đức Phật hỏi đến ba lần, trong chúng không ai hỏi gì
cả.
Đức Phật lại bảo các vị Tỳ-Khưu: “Tôi có lỗi gì về thân,
khẩu, ý các vị cho tôi biết!” Các vị Tỳ-Khưu buồn-rầu, sa-lệ bạch: “Đức
Thế-Tôn còn có lỗi-lầm gì nữa!”
Ngài dạy tiếp: “Các vị nên biết:
hết thảy mọi hành-tướng đều là vô-thường, thân Tôi nay tuy là thể
kim-cương, nhưng, cũng không khỏi lẽ vô-thường biến-thiên. Trong nẻo
sinh-tử đáng sợ-hãi, các vị nên siêng làm hạnh tinh-tiến, cần mau ra
khỏi hố lửa sinh-tử này, thế là lời dạy cuối cùng của Tôi!”
“Thôi,
thời nhập Niết-Bàn của Tôi đã đến!”
Các vị Tỳ-Khưu buồn, Ngài
dạy: “Các vị không nên buồn-rầu nữa, tính-tướng của mọi sự-vật đều như
thế!”
XVII. ĐỨC PHẬT
NHẬP NIẾT-BÀNNgay khi ấy đức Như-Lai vào Sơ-thiền;
ra Sơ-thiền, vào Nhị-thiền; ra Nhị-thiền, vào Tam-thiền; ra Tam-thiền,
vào Tứ-thiền; ra Tứ-thiền, vào Không-xứ; ra Không-xứ, vào Thức-xứ; ra
Thức-xứ, vào Vô-sở-hữu-xứ; ra Vô-sở-hữu-xứ, vào Phi-tưởng,
phi-phi-tưởng-xứ; ra Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ, vào Diệt-tận-định.
Lúc
đó, ông A-Nan, đã thấy đức Như-Lai im-bặt không nói, thân-thể chi-tiết
không dao-động, liền sa-lệ nói rằng: “Đức Thế-tôn nay đã nhập Niết-Bàn
rồi!”
Bấy giờ ông A-nâu-lâu-đà (Aniruddha) bảo ông A-Nan: “Ngay
bây giờ đức Như-Lai chưa nhập Niết-Bàn đâu! Sở-dĩ Ngài im-bặt, thân
không dao-động, chính là Ngài nhập Diệt-tận-định!”
Đức Thế-Tôn ra
Diệt-tận-định, lại trở vào Phi-tưởng phi-phi-tưởng-xứ và lần-lượt cho
đến vào Sơ-thiền. Rồi Ngài lại ra Sơ-thiền, vào Nhị-thiền; ra Nhị-thiền,
vào Tam-thiền; ra Tam-thiền, vào Tứ-thiền. Và, ngay nơi ấy Ngài nhập
Niết-Bàn.
Khi ấy, ông A-nâu-lâu-đà bảo ông A-Nan: “Đức Thế-Tôn đã
ở nơi Tứ-thiền nhập Niết-Bàn rồi!
Ông A-Nan cùng bốn bộ-chúng,
nghe ông A-nâu-lâu-đà nói lời ấy rồi, thương-xót, kêu-khóc, nghẹn-ngào,
buồn-bã ngất lăn ra đất. Trong chúng ấy, hoặc có người khoa tay, bứt
đầu, đấm ngực gào to, cùng bảo nhau rằng: “Con mắt của thế-gian mất đi,
nhất đán sao chóng vậy thay! Từ nay trở đi, hết thảy chúng-sinh, ai là
người lãnh-đạo và Nhân, Thiên sẽ giảm đi, đường ác ngày càng thêm!”
Lúc
đó, Thiên, Long tám bộ trong hư-không, nước mắt chảy chan-chứa như mưa
dào, bảo lẫn nhau rằng: “Từ nay ai là người quy-y của chúng ta; chúng ta
cũng như đứa trẻ mất mẹ hiền; ba đường ác, ngày mở rộng thêm, cửa
giải-thoát đóng kín nhiều lần! Hết thảy chúng-sinh, trầm-luân bể khổ,
cũng như người đau xa-cách lương-y, như người mù mất người dắt-dẫn!
Chúng ta xa-cách đấng vô-thượng Pháp-vương, giặc phiền-não xâm-bức hàng
ngày!”
Xướng lên lời ấy rồi, họ buồn-bã, áo-não, không tự hãm
được.
Bấy giờ, các người phái Lực-sĩ, trong thành Cưu-thi-na, đều
là những người khỏe-mạnh, như con Hương-tượng, thế mà khi họ trông thấy
đức Như-Lai nhập Niết-Bàn rồi, thân-hình họ tiều-tụy, như người mới
phát bệnh.
Đương lúc đó, cõi đất rung-động, trống trời bỗng kêu,
sóng bốn bể lớn giồ-giập lung-tung, ngọn núi Tu-Di tự-nhiên rung ngả,
gió cuồng bốc mạnh, rừng gỗ gẫy tung, dây-nhợ héo-khô, sợ-kinh khác lạ!
Khi
ấy, Đại-phạm thiên-vương nói bài kệ rằng:
Quá-khứ và vị-lai,
Cùng
ngay trong hiện-tại;
Không có chúng-sinh nào,
Không hướng về
vô-thường.
Như-Lai: Thiên-Nhân-Tôn,
Thân kim-cương kiên-cố;
Còn
không khỏi vô-thường,
Huống là những người khác!
Hết thảy mọi
chúng-sinh,
Mến-tiếc bảo-vệ thân;
Sức thêm hương hoa khác,
Không
biết sẽ hủy-diệt!
Như-Lai thân sắc vàng,
Trang-nghiêm bằng tướng
tốt,
Hội-hợp cũng xả-ly,
Ứng-nhập Bát-Niết-Bàn.
Dứt hẳn mọi
phiền-não,
Thành Nhất-thiết-chủng-trí;
Vẫn còn không khỏi được,
Huống
người phiền-não buộc!
Tếp đó, Thiên-Đế-Thích nói bài kệ rằng:
Tính
của mọi hành-tướng,
Thực là pháp sinh-diệt;
Đấng Lưỡng-Túc [29]
tối-tôn,
Cũng về nơi diệt-tận.
Lửa ba độc [30] cháy bừng,
Thường
thiêu-đốt chúng-sinh;
Không có mây “Đại-Bi”,
Gì cho mưa tắt được?
Ông
A-nâu-lâu-đà cũng nói bài kệ:
Ngày nay đức Như-Lai,
Mọi căn
không dao-động;
Tâm ý hội các pháp,
Mà bỏ nơi thân này.
Điềm-nhiên
bặt lo-nghĩ,
Cũng không tiếp-thụ gì;
Như đèn tắt, sáng hết,
Như-Lai
diệt cũng vậy!
Tới đây, ông A-Nan liền nói tiếp bài kệ:
Cõi
đất bỗng động rung,
Gió cuồng bốn mặt bốc;
Sóng biển vỗ
lung-tung,
Núi Tu-Di chuyển, ngả.
Tâm Thiên, Nhân buồn, khổ,
Nước
mắt khóc như mưa;
Thảy đều sinh sợ-hãi
Như bị Phi-nhân [31] giữ:
Do
Phật nhập Niết-Bàn,
Nên có việc như vậy!
Bấy giờ, có các vị
Tỳ-Khưu cùng Nhân, Thiên ở trong chúng chưa đắc-đạo, thấy đức Như-Lai
nhập Niết-Bàn rồi, tâm sinh áo-não, vật-vã ra đất; người đắc-đạo rồi,
than hoài về cái khổ của thế-gian vô-thường, thương-xót, kêu khóc không
tự-hãm được.
Lúc đó, ông A-nâu-lâu-đà, bảo các vị Tỳ-Khưu cùng cả
Nhân, Thiên rằng: “Các vị không nên sinh tâm ưu-não quá, trước đây
Như-Lai đã vì các vị nói rõ là tính-tướng của các sự-vật đều như thế,
sao các vị còn cố thương khóc vậy ư?”
Khi ấy ông A-Nan liền
phổ-cáo tất cả mọi người từ bốn phương xa lại rằng: “Đức Như-Lai nay đã
nhập Niết-Bàn rồi!” Mọi người nghe ông A-Nan nói thế, thương-xót,
kêu-khóc, buồn-bã, áo-não nghẹn-ngào nói với ông A-Nan: “Nay chúng-nhân
tại đây, quá đông-đảo, chật-chội, đến ba mươi hai do-tuần, cũng đều
đầy-ních, vậy kính xin Tôn-giả cho chúng tôi được lần-lượt tới trước
trông thấy tôn-dung đức Như-Lai để lần cuối cùng chúng tôi được
chiêm-ngưỡng, lễ bái và cúng-dàng. Vì, Như-Lai ra đời khó được gặp gỡ,
như hoa Ưu-Đàm bao thời, bao thời mới hiện. Nay chúng tôi thân ở nơi đức
Thế-Tôn nhập Niết-Bàn đây, xin Tôn-giả thương xót chúng tôi, để cho
chúng tôi được trông thấy chân-dung Phật!”
Ông A-Nan nghe lời
chúng-nhân, tâm tự suy-nghĩ: “Đức Như-Lai ra đời, rất khó được gặp, được
cúng-dàng lần cuối cùng cũng là rất khó, nay ta nên cho những ai
cúng-dàng Phật trước? Nay ta nên cho các vị Tỳ-Khưu-Ni cùng Ưu-bà-di,
được tới trước cúng-dàng thân Phật. Sao vậy? - Họ là những người nữ-lưu
yếu-ớt, vả lại, từ xưa tới nay họ không thường được đến chốn đức Phật.
Do nhân-duyên ấy, ta cho họ tới trước!”
Ông nghĩ thế rồi, liền
phổ-xướng cho các Tỳ-Khưu-Ni, cùng Ưu-bà-di, đều được đến trước nơi thân
đức Như-Lai nhập Niết-Bàn.
Các Tỳ-Khưu-Ni cùng vô-lượng
Ưu-bà-di, đều cùng nhau đến chốn Phật. Đến nơi họ trông thấy đức Như-Lai
nhập Niết-Bàn rồi, họ kêu-khóc áo-não, đi nhiễu, lễ-bái và cúng-dàng
mọi thứ.
Khi ấy, có một bà Ưu-bà-di nghèo-cùng, đã một trăm tuổi,
bà thấy những vợ cùng con gái lớn, nhỏ, của các phái Bà-la-môn, Sát-lỵ,
trưởng-giả, cư-sĩ, đem hương hoa tốt, mọi thứ cúng-dàng Phật, bà tự
thương mình nghèo thiếu, riêng chịu mất nguyện tốt nơi đây, tâm bà tự
nghĩ: “Đức Như-Lai ra đời rất là khó gặp, cúng-dàng Ngài lần cuối cùng
cũng lại rất khó, mà nay ta bần-cùng, khánh-kiệt, không lấy gì biểu-lộ
tâm-thành mình được!” Bà nghĩ thế rồi, càng thêm thương-xót, cảm-động,
bà tới chỗ chân Phật, tâm áo-não quá, khóc-lóc thướt-mướt, nước mắt chảy
xuống chân Phật, làm nhơ chân Phật, bà nguyện: “Nguyện con đời sau sinh
ra nơi nào, con thường được thấy Phật!”
Các Tỳ-Khưu-Ni cùng
Ưu-bà-di, cúng-dàng xong rồi, liền về chỗ mình.
Bấy giờ, ông
A-Nan, lại phổ-cáo cho mọi người khác biết rằng các Tỳ-Khưu-Ni cùng
Ưu-bà-di cúng-dàng xong rồi, các vị có thể lần-lượt tới trước thân Phật
cúng-dàng. Mọi người nghe rồi, lần-lượt đến nơi thân Phật nhập Niết-Bàn.
Đến nơi họ trông thấy đức Như-Lai nhập Niết-Bàn rồi, kêu-khóc vật-vã,
tâm rất sầu-não, họ đem mọi đồ cúng-dàng, cúng-dàng lên Phật.
TOÁT-YẾUKhi
ấy, đức Như-Lai vào ra Tứ-thiền-định, Tứ-không-xứ-định, Diệt-tận-định
hai lần. Lần thứ ba Ngài vào ra từ Sơ-thiền đến Tứ-thiền là Ngài nhập
Niết-Bàn tại đấy. Ông A-nâu-lâu-đà bảo ông A-Nan: “Đức Thế-Tôn nhập
Niết-Bàn tại Tứ-thiền rồi!”
Lúc đó, đại-chúng buồn-rầu, vật-vã,
kêu-khóc, than-thở; chư thiên khóc-lóc nước mắt chảy như mưa dào; phái
Lực-sĩ cũng buồn-bã, lả-lướt như người mới đau. Cả đến cõi đất cũng
rung-động, núi Tu-Di cũng nghiêng-ngả, sóng bể cũng vỗ tung, gió cuồng
bốc mạnh, cây cỏ gẫy, héo… Và, ai ai cũng đều kinh sợ.
Tiếp đến,
Đại-Phạm-thiên-vương nói bài kệ về lẽ vô-thường, không ai thoát được.
Thiên-đế-thích cũng nói về lẽ ấy và than-tiếc chúng-sinh ngày nay bị lửa
3 độc cháy, không còn nước Đại-Bi rưới tắt. Ông A-nâu-lâu-đà nói về đức
Như-Lai xả thân này cũng như đèn tắt sánh sáng hết. Ông A-Nan nói cái
cảnh buồn-rầu của tất cả khi đức Phật nhập Niết-Bàn. Các vị chưa
đắc-đạo, thương-xót áo-não, các vị đắc-đạo rồi, than lẽ vô-thường của
thế-gian!
Ông A-Nan phổ-cáo cho mọi người biết là đức Như-Lai
nhập Niết-Bàn rồi!
Ông cho các Tỳ-Khưu-Ni, các Ưu-bà-di đi vào lễ
Phật, cúng-dàng trước. Trong số ấy có bà lão nghèo vào lễ Phật, khóc,
chảy nước mắt xuống chân Phật. Rồi đến các người nam-giới khác, lần-lượt
vào lễ-bái, cúng-dàng Phật.
XVIII. HỎA-TÁNG THÂN PHẬTLúc đó, các người
phái Lực-sĩ, đều tụ-tập lại, cùng bảo nhau rằng: “Nay chúng ta làm sao
hỏa-táng thân Như-Lai chứ? Đức Thế-Tôn khi sắp Niết-Bàn, chắc Ngài đã có
lời di-sắc?” Nói rồi, họ liền cùng nhau vào hỏi ông A-Nan: “Nay chúng
tôi muốn cùng nhau tới làm việc hỏa-táng thân Như-Lai, vậy phép hỏa-táng
này như thế nào, chắc khi Thế-Tôn sắp nhập Niết-Bàn có di-chỉ lại, kính
xin Tôn-giả bảo cho chúng tôi biết để làm!”
Ông A-Nan bảo các
người phái Lực-sĩ rằng: “Đức Như-Lai di-sắc phương-pháp hỏa-táng Ngài
như phương-pháp hỏa-táng Chuyển-luân-thánh-vương không khác!” Ông A-Nan
liền nói đầy-đủ những việc đức Phật di-sắc trước đây cho họ nghe. Các
người phái Lực-sĩ nghe lời ông A-Nan nói, đều cùng nhau sắm đủ những đồ
trong việc hỏa-táng. Trước tiên, họ sắm cỗ xe báu, chạm-trổ
trang-nghiêm, mỹ-lệ; họ đặt thân Như-Lai trên xe báu kia, đốt hương tán
hoa, tấu mọi kỹ-nhạc, ca-tụng, tán-thán; trong tiếng âm-nhạc, gióng lên
những pháp: “Khổ, không, vô-thường, vô-ngã, bất-tịnh.”
Khi ấy,
những người phái Lực-sĩ, bạch ông A-Nan rằng: “Nay đức Như-Lai nhập
Niết-Bàn rồi, sự cúng-dàng lần cuối cùng này rất là khó gặp, chúng tôi
muốn thỉnh lưu thân Như-Lai lại bảy ngày, bảy đêm, mặc ý cho mọi người
cúng-dàng để cho chư Thiên, Nhân được an-vui mãi mãi được không?”
Ông
A-Nan đem lời thỉnh-cầu của những người phái Lực-sĩ hỏi ông
A-nâu-lâu-đà. Ông A-nâu-lâu-đà đáp ông A-Nan: “Quý hóa thay! Ông cho tùy
ý họ!”
Ông A-Nan bảo những người phái Lực-sĩ rằng: “Thuận cho
các ông lưu thân Phật lại bảy ngày bảy đêm, mặc ý cho mọi người
cúng-dàng!”
Các người phái Lực-sĩ nghe lời ông A-Nan nói, tâm họ
buồn, vui xen-lẫn, ngay trong rừng ấy, họ sắm-sửa mọi thứ cúng-dàng.
Đủ
bảy ngày rồi, các người phái Lực-sĩ lấy bông mới, sạch cùng lấy vải
nhỏ, mịn quấn vào thân Như-Lai. Sau mới lấy áo quan vàng để trong cùng;
trong áo quan vàng này, rắc những bột hương Ngưu-đầu Chiên-đàn cùng các
hoa quý. Họ lại đem áo quan vàng để trong áo quan bạc; đem áo quan bạc
để trong áo quan đồng; đem áo quan đồng để trong áo quan sắt; đem áo
quan sắt để trên xe báu, rồi tấu mọi kỹ-nhạc, ca-hát, tán-thán. Chư
Thiên trong hư-không rắc hoa Man-đà-la, hoa Ma-ha Man-đà-la, hoa
Man-thù-sa, hoa Ma-ha, Man-thù-sa, cùng tấu thiên-nhạc, mọi thứ
cúng-dàng. Cúng-dàng xong rồi, nhiên-hậu lần-lượt hạ các nắp quan xuống.
Bấy
giờ, các người phái Lực-sĩ cùng bảo nhau: “Nay kỳ-hẹn bảy ngày đã đủ,
chúng ta nên khênh áo quan đức Như-Lai đi vòng quanh thành để cho
nhân-dân mặc ý cúng-dàng, sau chúng ta mới khênh đến hỏa-đàn phía
Nam-thành!” Họ nói lới ấy rồi, liền cùng nhau khênh áo quan đức Như-Lai
lên, nhưng, họ đem hết thân-lực mà không thể khênh nổi lên được. Thấy
thế, họ đều kinh-lạ, không biết cớ sao, họ đem việc ấy hỏi ông
A-nâu-lâu-đà: “Chúng tôi tất cả mọi người muốn khênh áo quan Phật, đi
vòng quanh thành, rồi trở về vào cửa Nam. Tới chỗ cúng-dàng hỏa-đàn, thế
mà chúng tôi kiệt-cả thân-lực, vẫn không thể khênh nổi lên được, chúng
tôi không biết thế là những sự-tướng gì, kính xin Tôn-giả vì chúng tôi,
nói cho chúng tôi nghe về sự ấy!”
Ông A-nâu-lâu-đà bảo mọi người
rằng: “Sở-dĩ có việc như thế là vì chư Thiên trên hư-không muốn để áo
quan Phật đi vòng quanh thành, rồi từ cửa Bắc vào, dừng nghỉ ngay giữa
thành, để chư Thiên, Nhân cúng-dàng mọi thứ, sau mới từ cửa Đông ra, đến
chỗ tháp Bảo-quan, mà làm lễ hỏa-táng!”
Các người Lực-sĩ kia,
nghe được lời ấy rồi, cùng bảo nhau rằng: “Ý chư Thiên như vậy, chúng ta
nên thuận tòng.”
Liền đó, họ khênh áo quan Phật, quanh thành một
vòng, từ cửa Bắc vào, dừng nghỉ giữa thành để chư Thiên, Nhân mặc ý
cúng-dàng, tấu kỹ-nhạc hay, đốt hương tán hoa, ca-hát tán-thán. Chư
Thiên trên không rắc hoa Man-đà-la, hoa Ma-ha Man-đà-la, hoa Man-thù-sa,
hoa Ma-ha Man-thù-sa, cùng tấu thiên-nhạc, mọi thứ cúng-dàng.
Cúng-dàng
xong rồi, từ cửa Đông thành ra, đến chỗ tháp Bảo-quan.
Đến nơi
kia, các Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu-Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên, Long tám bộ
cảm-động thương khóc nghẹn-ngào, không tự hãm được, mà cùng nhau nhặt
những gỗ Ngưu-đầu Chiên-đàn và các thứ gỗ thơm khác, xếp lên thành đống.
Trên đống gỗ ấy, trải căng những tấm vải lụa dầy đẹp, mắc tấm mùng đẹp
lớn, che lên trên.
Xong rồi, khênh áo quan Phật, quanh đống gỗ
thơm kia bảy vòng; đốt hương, rải hoa, tấu mọi kỹ-nhạc; nâng áo quan
Phật để trên đống gỗ thơm, lấy dầu thơm tốt, rưới khắp cả.
Bấy
giờ, bốn bộ-chúng cùng chư Thiên, Nhân, thương mến áo-não, không tự hãm
được, cùng nhau lấy lửa, đốt từ dưới đốt lên. Nhưng, lửa không chịu
cháy, dĩ chí đốt đến ba lần, gỗ vẫn không cháy. Mọi người không biết do
đâu, liền đem việc ấy hỏi ông A-nâu-lâu-đà rằng: “Chúng tôi đốt đống gỗ
thơm ba lần, sao mà không cháy?”
Ông A-nâu-lâu-đà đáp rằng: “Có
ra sự ấy vì, Tôn-giả Ma-ha Ca-Diếp (Mahàkàsyapa) ở nước
Đạc-soa-na-kỳ-lỵ, nghe biết đức Như-Lai sắp nhập Niết-Bàn, Tôn-giả cùng
năm trăm Tỳ-Khưu từ nước kia về, muốn được trông thấy đức Thế-Tôn, nên
đức Thế-Tôn không cho lửa cháy!”
Đại-chúng nghe lời ấy rồi, rất
tán-thán là lạ-lùng.
Khi ấy, Tôn-giả Ma-ha Ca-Diếp ở nước
Đạc-soa-na-kỳ-lỵ, xa nghe đức Như-Lai sắp nhập Niết-Bàn ở thành
Cưu-thi-na, tâm rất thương mến, Tôn-giả liền cùng năm trăm vị Tỳ-Khưu,
lên đường đi về.
Cách thành không bao xa, Tôn-giả bị đau mình mệt
quá, ngồi ngay bên đường, không đi được nữa. Lúc Tôn-giả cùng các
Tỳ-Khưu ngồi ở dưới gốc cây, thấy một người ngoại-đạo, tay cầm hoa
Man-đà-la, Tôn-giả Ca-Diếp hỏi: “Ông từ đâu lại đây?” Người kia đáp:
“Tôi từ thành Cưu-thi-na lại!” Tôn-giả Ca-Diếp lại hỏi: “Ông có biết
Thầy tôi là bậc Ứng-biến-tri [32] không?” Người kia liền đáp: “Tôi biết
bậc Đại-Sư Ngài ở khoảng hàng cây song-thụ trong rừng Sa-la, thuộc thành
Cưu-thi-na, nhập Niết-Bàn rồi, nay đã được bảy ngày và giờ này chính ở
chỗ tháp Bảo-quan, sắp làm lễ hỏa-táng; Thiên, Nhân đông-chật, tranh
nhau cúng-dàng, nên tại đấy tôi lấy được bông thiên-hoa này!”
Tôn-giả
Ca-Diếp nghe lời nói ấy rồi, thương khóc nghẹn-ngào, các vị Tỳ-Khưu
buồn-bã, ngất lăn ra đất, bảo nhỏ cùng nhau rằng: “Than ôi, khổ lắm! Con
mắt của thế-gian mất rồi!”
Bấy giờ. Tôn-giả Ca-Diếp, an-ủi các
vị: “Các vị không nên sinh ra sự khổ-não ấy, vì tính-tướng của mọi
sự-vật đều như thế cả! Như-Lai Thiên-Tôn còn không khỏi được, huống là
người khác thoát được ư? Các vị nên tinh-tiến, cần xa lìa đời khổ! Nay
nên đứng dậy, đi nhanh về nơi tháp Bảo-quan, lễ-bái, chiêm-ngưỡng thân
Phật!”
Lúc đó, trong chúng có ít vị Tỳ-Khưu khác, đi xuất-gia
muộn, ngu-si vô-trí, bảo nhau rằng: “Khi Phật còn tại thế, ngăn-cấm,
quở-trách chúng ta, chúng ta không được mặc-ý hành-động, nay Phật nhập
Niết-Bàn rồi, sung-sướng quá!”
Khi ấy, Tôn-giả Ca-Diếp cùng các
Tỳ-Khưu, tiến về thành Cưu-thi-na. Đến tháp Bảo-quan, trông thấy áo quan
Như-Lai, trên đống gỗ thơm tất cả đều thương khóc thướt-mướt, đi nhiễu
bảy vòng, rồi trèo lên đống gỗ thơm đến chỗ áo quan Phật, ở ngay phía
chân, than-khóc nghẹn-ngào và đầu mặt làm lễ chân Phật.
Bấy giờ,
thân đức Như-Lai ở trong áo quan báu, tự nhiên thò ra hai bàn chân.
Tôn-giả Ca-Diếp trông thấy thế, càng thêm thương-xót, kinh-sợ. Chư
Thiên, nhân trông thấy sự lạ-lùng hiếm có ấy, ai cũng ta-thán, sinh
đau-khổ, mến-tiếc quá.
Tôn-giả Ca-Diếp thấy trên chân Phật có vết
nhơ, liền quay lại, hỏi ông A-Nan: “Trên chân Như-Lai sao có vết nhơ
ấy?” Ông A-Nan đáp: “Bắt đầu khi Như-Lai nhập Niết-Bàn, bốn chúng
đông-ních, khi ấy tôi nghĩ rằng nếu cho đại-chúng đồng thời tiến đến
trước Phật để cúng-dàng, thời nữ-nhân yếu-đuối, bất-tất tiến đến trước
được, tôi liền cho các vị Tỳ-Khưu-Ni cùng Ưu-bà-di vào trước đến chỗ
thân Như-Lai lễ-bái, cúng-dàng. Lúc đó, có một Ưu-bà-di bần-cùng, đã một
trăm tuổi, thấy vợ và con gái, lớn, nhỏ của các dòng Bà-la-môn, Sát-lỵ,
trưởng-giả, cư-sĩ, Lực-sĩ…, đem hương-hoa tốt, mọi thứ cúng-dàng, bà tự
thương mình nghèo thiếu, không lấy gì biểu tâm-nguyện được; bà nghĩ thế
rồi, càng thêm thương-xót, cảm-động, bà tới chân Phật, tâm áo-não quá,
bà khóc thướt-mướt, nước mắt chảy xuống, làm nhơ chân Phật như thế!”
Tôn-giả
Ca-Diếp nghe lời ấy rồi, mang tâm buồn-rầu, gở-trách ông A-Nan là không
biết can-ngăn bà, để đến nỗi làm nhơ chân Phật như thế! Tôn-giả liền
đem hương-hoa, cúng-dàng áo quan Phật. Lễ-bái, tán-thán, các việc xong
rồi, hai bàn chân Phật tự nhiên thụt vào. Tôn-giả Ca-Diếp liền trở xuống
đất.
Và do Phật-lực, đống gỗ thơm kia tự-nhiên bốn mặt lửa bốc,
suốt trong bảy ngày, áo quan báu kia cháy tan hết. Bấy giờ, chư Thiên
mưa xuống, lửa tắt đi, các người phái Lực-sĩ thu-nhặt Xá-lỵ; họ gỡ lấy
nghìn trương vải quấn thân Phật ra thì trong cùng một trương, bên ngoài
một trùng vẫn như cũ và còn bọc Xá-lỵ.
Đương khi ấy, chư Thiên
trên hư-không, rải mọi hoa quý, cùng tấu kỹ-nhạc, ca-hát, tán-thán,
cúng-dàng Xá-lỵ. Những người lại đây cùng các người phái Lực-sĩ, đều đặt
mọi thứ cúng-dàng.
Các người phái Lực-sĩ liền đem chóe vàng,
nhặt bỏ Xá-lỵ vào đấy, rồi đặt lên trên xe báu, đốt hương, tán hoa, tấu
mọi kỹ-nhạc, trở về trong thành, cất một cái lầu cao lớn, đặt Xá-lỵ ở
trên lầu, nghiêm-bị bốn loại binh, để phòng-vệ, thủ-hộ và chỉ cho các vị
Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu-Ni được vào lễ-bái, dâng mọi thứ cúng-dàng mà thôi,
còn vua cùng Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ, hết thảy nhân-dân nước khác,
đều không cho đến trước.
TOÁT-YẾUKhi ấy, các
người phái Lực-sĩ, tụ-tập lại, bàn nhau về việc hỏa-táng thân Phật.
Họ
đến hỏi ông A-Nan về phương-pháp hỏa-táng này, chắc khi đức Phật sắp
nhập-diệt có sắc-chỉ lại? Ông A-Nan liền nói rõ những lời đức Phật dạy
về phương-pháp ấy cho họ hiểu.
Họ trở về, thi-hành như pháp.
Sau
họ lại đến xin ông A-Nan lưu thân Phật lại 7 ngày, 7 đêm cho mọi người
tha-hồ cúng-dàng. Ông A-Nan ưng-thuận.
Hết 7 ngày, họ đặt thân
đức Phật vào trong 4 áo quan: vàng, bạc, đồng, sắt, rải hoa, rắc hương,
đậy nắp lại.
Rồi họ khênh áo quan Phật vòng quanh thành, vào cửa
Bắc, nghỉ tại giữa thành, sau từ cửa Đông ra, đến chỗ tháp Bảo-quan, làm
lễ hỏa-táng.
Đến hỏa-đàn, sửa-soạn các việc xong, liền khênh áo
quan Phật đặt trên đống gỗ thơm, rồi đốt lửa. Nhưng, mãi lửa vẫn không
cháy. Vì, Tôn-giả Ma-ha Ca-Diếp từ nước Đạc-soa-na-kỳ-lỵ chưa về kịp.
Tôn-giả
Ca-Diếp về đến nơi, nhiễu Phật, trèo lên chỗ đặt áo quan Phật, lễ dưới
chân Phật, tự nhiên hai bàn chân Ngài thò ra. Tôn-giả càng thương-xót,
Nhân, Thiên rất lạ-lùng.
Lễ-bái xong, chân Phật thụt vào, Tôn-giả
Ca-Diếp xuống, do Phật-lực lửa tự-nhiên bốc cháy 4 mặt đống gỗ. Cháy
suốt 7 ngày, áo quan cháy hết, chư Thiên mưa xuống tắt lửa, phái Lực-sĩ
thu-nhặt Xá-lỵ bỏ vào chóe vàng, đặt lên lầu cao trong thành cúng-dàng
và cắt 4 loại binh phòng-vệ, thủ-hộ, không cho người ngoài vào.
XIX. QUÂN-PHÂN XÁ-LỴKhi
ấy, vua A-Xà-Thế (Ajàtasatru) con bà Vi-Đề-Hy (Vaidehi) nghe thấy phái
Lực-sĩ kia, thu Xá-lỵ Phật, đặt trên lầu cao, nghiêm-bị bốn loại binh để
phòng-vệ, thủ-hộ, tâm rất buồn-rầu, áo-não, lại phẫn-nộ với những người
phái Lực-sĩ kia, nhà vua liền cho người đưa tin đến bảo phái Lực-sĩ kia
rằng: “Đức Thế-Tôn tại thế, cũng là Thầy của ta, khi ngài nhập Niết-Bàn
ta ân-hận không tới yết-kiến được; vả lại, họ ta và họ Thế-Tôn đều
thuộc dòng Sát-lỵ, nay sao các ông, riêng thu Xá-lỵ Ngài đặt trên lầu
cao, nghiêm-bị bốn loại binh, để phòng-vệ, thủ-hộ, mà không chia cho
người khác? Các ông nên đem một phần cho ta, ta muốn tại nước ta, xây
một ngôi tháp quý, sắm mọi thứ cúng-dàng để cúng-dàng Ngài. Các ông nếu
thuận cho, thời hai nước thông-hảo mãi, bằng các ông không thuận, ta sẽ
dấy binh sang đánh nước các ông!”
Và, bảy Quốc-vương kkhác cùng
các người phái Ly-xa, thành Tỳ-da-ly…, cũng đều sai sứ sang với
phương-pháp như thế. Ngay cả đến Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ, cũng đều
sai sứ đem tin sang nói với phái Lực-sĩ rằng: “Đức Thế-Tôn cũng là Thầy
chúng tôi, mong các ông thương-xót tới, cho chúng tôi một phần Xá-lỵ
Ngài!”
Khi, sứ-giả của các nước đến chỗ phái Lực-sĩ, tuyên-ngôn
đầy-đủ ý của các Quốc-vương của họ.
Phái Lực-sĩ nghe rồi, mang
tâm bất-bình lắm, đáp các sứ-giả rằng: “Đức Phật lại nước chúng tôi.
Ngài nhập Niết-Bàn, Xá-lỵ của Ngài tự-nhiên thuộc chúng tôi. Nếu các
người muốn xây tháp trang-nghiêm cúng-dàng trên quốc-giới mình, việc ấy
không thể được. Khi nào tháp ở đây hoàn-thành, mặc ý các ông cùng lại
đây cúng-dàng lễ-bái vui-vẻ với chúng tôi. Còn nếu các ông muốn
dấy-binh, hướng về nước này, thì quân-chúng nước này cũng đủ để
chống-chọi với nhau!”
Bấy giờ, các sứ-giả của các nước kia, đều
trở về nước mình, mỗi người mỗi người đều hướng lên Quốc-vương mình, nói
rõ công việc như thế. Các Quốc-vương nghe rồi, càng mang lòng sân-phẫn,
đều nghiêm-bị bốn loại binh đi công-phạt nước kia. Và, phái Lực-sĩ kia
cũng nghiêm-bị chiến-cụ, để chống-chọi với kẻ địch lại đánh.
Trong
thành Cưu-thi-na, có một người Bà-la-môn tên là Đồ-lô-na, là người
thông-minh, đa trí, thâm-tín Tam-Bảo, tâm tự suy-nghĩ: “Tám Quốc-vương
kia cùng các người phái Ly-xa… thân-lực tráng-kiện, quân-chúng
tinh-nhuệ; vả lại, sức dũng-mãnh của Lực-sĩ khó đương nổi, nếu họ
giao-chiến, quyết không lưỡng-toàn được!”
Ông liền bảo các người
Lực-sĩ kia rằng: “Các ông tuy dũng-nhuệ, quả-cảm, nhưng tám Quốc-vương
kia đồng-lực, đồng-tâm, nhân-chúng tập-hợp, quân-trận hùng-mạnh, nếu các
ông chiến-đấu, lý không lưỡng-toàn, giáo nhọn đã giao tranh, quyết-định
có sự thương-hại. Vả lại, Như-Lai tại thế, dạy người ta làm lành, ngày
nay bỗng dưng đi chém giết nhau! Vậy các ông không nên sẻn-tiếc chút
Xá-lỵ, các ông nên chia cho các nước, cùng phái Ly-xa…; mỗi nơi đều ở
nước họ, xây tháp cúng-dàng; không những hợp với lời dạy của đức Thế-Tôn
xưa kia, lại làm cho các ông đều được phúc-lợi!”
Các người
phái Lực-sĩ, nghe lời nói ấy rồi, tâm ý giải-ngộ, liền đáp lời ông ấy
rằng: “Lời ông nói thực hợp lý, chúng tôi xin theo như lời ông nói!”
Ông
Bà-la-môn kia, thấy những người phái Lực-sĩ đều giải-giáp, ông liền đi
ra ngoài thành, nói truyện với các Quốc-vương rằng: “Nay các Ngài vì
pháp, sao lại dấy binh?”
Các vị Quốc-vương đáp: “Chúng tôi
vì pháp, nên từ nơi xa đến đây cầu Xá-lỵ, chúng tôi thấy họ chống cự,
không chịu chia cho chúng tôi, nên nay chúng tôi phải cùng nhau dấy binh
tại đây!”
Khi ấy, ông Bà-la-môn kia, lại nói với các
Quốc-vương rằng: “Tôi đã cùng họ giải-hòa, các người phái Lực-sĩ kia đều
vui lòng chia phần Xá-lỵ cho các ngài, vậy các ngài mang bình báu vào,
tôi sẽ vì các ngài mà phân chia Xá-lỵ!”
Tám vị Quốc-vương
hoan-hỷ, xin trao bình vàng cho ông. Ông Bà-la-môn kia nhận các bình
vàng rồi, cầm đem về, ở trên lầu cao phân chia Xá-lỵ, đem cho tám
quốc-vương.
Lúc đó tám vị Quốc-vương, được Xá-lỵ rồi, hớn-hở đội
lên đầu, trở về nước mình, đều xây tháp báu. Các người phái Lực-sĩ… lấy
một phần và ở nơi hỏa-đàn, vun những tro than thừa, xây-dựng tháp
cúng-dàng. Như thế là cả thảy có mười nơi xây tháp.
Thế là, trước
khi đức Như-Lai sắp nhập Niết-Bàn, cùng sau khi nhập Niết-Bàn cho đến
việc hỏa-táng, xây các tháp, việc ấy như thế!
Và, sau đó Tôn-giả
Ca-Diếp cùng ông A-Nan và các Tỳ-Khưu kết-tập Tam-tạng ở thành Vương-xá.
[33]
TOÁT-YẾUKhi phái Lực-sĩ thu Xá-lỵ Phật
để lên lầu cao rồi, vua A-xà-thế cùng 7 Quốc-vương khác, đều sai sứ sang
xin mỗi nước một phần về xây tháp cúng-dàng. Và, nếu phái Lực-sĩ không
cho, các nước sẽ đem binh sang đánh.
Cả phái Ly-xa thành Tỳ-da-ly
cùng các Bà-la-môn, trưởng-giả, cư-sĩ… các nước cũng đều cho người sang
xin.
Các sứ-giả tới nơi Lực-sĩ, nói rõ ý-định của các Quốc-vương
của họ. Phái Lực-sĩ bất-bình, nhất định không cho và nếu đánh nhau thì
đánh.
Thế là 2 bên chuẩn-bị chiến-tranh.
Khi ấy, có một
người Bà-la-môn thông-minh, đa-trí, thâm-tín Tam-Bảo tên là Đồ-lô-na,
đến bảo phái Lực-sĩ: “Các ông không nên đánh nhau, nên đem phân-chia
Xá-lỵ cho các nước xây tháp cúng-dàng. Một là không thương-tổn
sinh-mạng, vì nếu các ông chống-cự với 8 nước cùng những phái khác, thế
tất không lợi. Hai là, làm vậy trái với lời dạy làm lành của đức Phật,
các ông không được phúc-lợi.
Phái Lực-sĩ nghe lời. Ông Đồ-lô-na
đi giảng-hòa và đứng ra quân-phân Xá-lỵ cho 8 nước, cho phái Lực-sĩ đem
về xây tháp cúng-dàng.
Sau đó, phái Lực-sĩ lại vun tro nơi
hỏa-đàn xây thêm một cây tháp nữa, thế là cả thảy có mười nơi xây tháp.
Cách
thời-gian ngắn, Tôn-giả Ca-Diếp, ông A-Nan cùng các vị Tỳ-Khưu, kết-tập
Tam-Tạng tại thành Vương-xá.
Trước, sau sự nhập Niết-Bàn của
Phật như thế!
HẾT
[1] Chuyển-luân-thánh-vương: Tiếng Phạm gọi là
Chước-ca-la-phạt-lạt-để-hạt-la-xa (Cakavarti-raja): Vua
Chuyển-luân-thánh-vương có 32 tướng. Khi tức-vị, do thiên-cảm nhà vua
được cỗ xe báu (luân-bảo), xe này quay-chuyển hàng-phục được 4 phương
nên gọi là Chuyển-luân-vương. Khi kiếp số tăng lên của nhân-loại, người
ta thọ đến 2 vạn tuổi trở lên, thời vua Chuyển-luân mới xuất-thế. Mà ở
kiếp diệt, người ta thọ từ vô-lượng tuổi, đến 8 vạn tuổi, thời nhà vua
ra đời. Luân-bảo (cỗ xe báu) của nhà vua có 4 loại: Kim (vàng) ngân
(bạc) đồng và thiết (sắt). Bốn cỗ xe báu này lần-lượt thống-lĩnh 4
đại-châu, như Kim-luân-vương coi cả 4 châu; Ngân-luân-vương coi ba châu:
Đông, Tây và Nam; Đồng-luân-vương coi 2 châu Đông và Nam;
Thiết-luân-vương coi 1 châu Nam-diêm-phù-đề.
[2] Chiên-đàn
(Candana): tên một thứ gỗ thơm, ở núi Ma-la-da, Nam Ấn-Độ. Núi này hình
đầu trâu nên gọi là Ngưu-đầu. Có chỗ gọi là Ngưu-đầu Chiên-đàn Tàu dịch
là “dữ lạc” (cho vui), vì nó chữa được bệnh.
[3] Xá-lỵ (Saria):
Có chỗ gọi là “Thất-lỵ-la”, hay “Thiết-lỵ-la”. Có nghĩa là thân-cốt của
Phật. Xá-lỵ là vô-lượng công-đức lục-độ họp thành, là do sự huân-tu
giới, định, tuệ mà thành. Xá-lỵ có ba hình sắc: sắc trắng là xá-lỵ bằng
xương; sắc đen là xá-lỵ bằng tóc; sắc đỏ là xá-lỵ bằng thịt. Và, có 2
loại xá-lỵ: 1/ Toàn thân xá-lỵ: Như xá-lỵ Phật Đa-Bảo (trong kinh
Pháp-Hoa). 2/ Toái-thân xá-lỵ: Thân đốt vụn ra như thân đức Phật
Thích-Ca. Lại có hai thứ nữa: 1/ Sinh thân xá-lỵ: Thân do tu giới, định,
tuệ mà thành, Như-Lai sau khi nhập-diệt, lưu lại thân-cốt, làm cho
Nhân, thiên được phúc-đức cúng-dàng mãi mãi. 2/ Pháp-thân xá-lỵ: tức là
hết thảy kinh sách, Đại, Tiểu-thừa.
[4] Xin xem chú-thích nơi
kinh Quán-Âm Bồ-Tát Thụ-Ký đã ấn-hành.
[5] Tứ-thiên-hạ: Tức là 4
châu trong thiên-hạ: Đông-thắng thần-châu, Nam-thiệm bộ-châu, Tây-ngưu
hóa-châu và Bắc-câu lô-châu.
[6] Bảy báu: Kim, ngân, lưu-ly,
pha-lê, xà-cừ, mã-não, san-hô.
[7] 10 điều thiện: Không
sát-sinh, không trộm-cắp, không tà-dâm, không nói dối, không nói lưỡi
đôi chiều, không nói thêu-dệt, không nói ác, không tham, không sân,
không si.
[8] Học-địa: Ở địa-vị còn phải tu-học. (Xem kinh
Hiếu-Tử đã giải).
[9] Tỳ-xá (Vesa): Giai-cấp thương-mại.
Giai-cấp thứ 3 trong 4 giai-cấp của Ấn-Độ.
[10] Thủ-đà-la
(Sùdra): Giai-cấp nông-dân, nô-lệ. Giai-cấp thứ 4 trong 4 giai-cấp của
Ấn-Độ.
[11] Do-tuần (Yojana): Theo Thánh-giáo chép thời mỗi
Do-tuần là 16 dậm, mỗi dậm là 576 thước Tây. Như thế mỗi Do-tuần chừng
9,216 thước Tây.
[12] Trong kinh gọi là “nhất tiễn đạo” (một
đường tên đi)
[13] Tám công-đức: 1/ Trừng-tịnh: lặng, sạch. 2/
Thanh-lãnh: trong mát. 3/ Cam-mỹ: ngon-ngọt. 4/ Khinh-nhuyễn: dịu-dàng.
5/ Nhuận-trạch: thấm-nhuần. 6/ An-hòa. 7/ Khi uống khỏi đói khát và khỏi
vô-lượng tội-lỗi, tai-hoạn. 8/ Uống rồi quyết-định nuôi lớn các căn và
thân tứ-đại thêm ích-lợi.
[14] Bốn loại binh: Voi, ngựa, xe và
bộ-binh.
[15] Đến đây là hết quyển trung.
[16] Sám-hối:
Tiếng Phạm gọi tắt là “Sám-ma” (Ksamayati). Chữ “sám-hối” này gọi chung
cả hai tiếng Phạm và tiếng Tàu (“Sám” là “sám-ma”, tiếng Tàu gọi là
“Hối-quá”). Bộ Chỉ-Quán quyển 7 nói: “Sám” là bảy tỏ lỗi ác trước, “Hối”
là cải-đổi những lỗi trước, tu-tỉnh những việc sau.
[17]
Quán-đỉnh (Abhisecani): Theo tục Ấn-Độ, một khi vị Hoàng-Tử được phong
Thái-Tử lên ngôi vua, khi tấn-phong, lấy nước bốn bể rưới lên đầu, biểu ý
chúc tụng.
[18] 3 đường ác: Địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh.
[19]
4 kinh Phệ-đà: Phệ-đà (Veda) Tàu dịch là “Minh-trí, minh-phận…”, nghĩa
là bộ sách tỏ rõ sự thực, phát sinh trí-tuệ. Phệ-đà là tên kinh của
Bà-la-môn-giáo, Ấn-Độ. Kinh này có bốn thứ: 1/ Thọ: Nói về thọ-mệnh. 2/
Từ: Nói về việc tế-tự, cầu phúc. 3/ Bình: Nói về việc lễ-nghi, xem bói,
binh-pháp quân-trận. 4/ Thuật: Nói về việc kỹ-thuật, chú-cấm, y-phương.
[20]
Cồ-Đàm (Gautama): Tên họ của dòng họ Thích. Đây là chỉ vào đức Phật
Thích-Ca Mưu-Ni.
[21] 4 đại: Đất, nước, gió, lửa (tức là chất
dắn, chất lỏng, chất hơi, chất nóng).
[22] Thiên-nhĩ: Cái tai
của người các cõi trời thuộc Sắc-giới. Tai này nghe thấy tiếng nói của
chúng-sinh trong lục-đạo, cùng những tiếng tốt, xấu xa gần.
[23]
Đây là đức Phật chỉ vào 4 quả của Thanh-văn.
[24] Nay hay nói
là 35 tuổi.
[25] Bọn ông Kiều-Trần-Như 5 người: Đây là 5 vị
Tỳ-Khưu, được Phật nói Tứ-diệu-đế độ cho lần đầu tiên: 1/ Kiều-trần-như
(Àjnàta Kaundinya: Tàu dịch là “Hỏa-khí”) 2/ Át-bệ (Asvajit: Tàu dịch
là: “Điều-mã, Mã-thắng, Mã-sư, Mã-tinh”). 3/ Bạt-đề (Bhadrika: Tàu dịch
là: “Tiểu-hiền”). 4/ Thập-lực-ca-diếp (Dasabala Kàsyapa: Tàu dịch là:
“Khỉ-khí”). 5/ Ma-nam-câu-lỵ (Mahànàma Kukila: Tàu dịch là: “Đại-danh”).
[26]
Ba-la-đề-mộc-soa (Pratimoksa): Tàu dịch là: “Biệt-giải-thoát”, có nghĩa
là người thụ giới-luật, đều đạt tới chỗ giải-thoát những lỗi về thân,
khẩu, nhưng trong ấy có sự giản-biệt về định-cộng-giới (luật-nghi do
tĩnh-lự sinh) và về đạo-cộng-giới (tức vộ-lậu luật-nghi).
[27]
Vị này trước đánh ngựa cho Phật đi xuất-gia, sau đi tu hay ác-khẩu, vào
bè với lục-quần Tỳ-Khưu, nhưng, Phật nhập-diệt rồi, cũng được chứng quả.
[28]
Đại-ý đức Phật nói: Sự-vật do giả-tạo mà thành, đều thuộc về vô-thường,
vì nó là thứ có sinh ra, có diệt đi. Nếu diệt được cái sinh-diệt ấy
rồi, thì “tịch-diệt giải-thoát” là vui.
[29] Vị đầy-đủ về 2
phương-diện phúc-đức và trí-tuệ.
[30] Ba độc: Tham, sân, si.
[31]
Phi-nhân: Chỉ vào thiên, long 8 bộ cùng những đồ-chúng ác-quỷ nơi
minh-minh.
[32] Ứng-biến-tri: Tức là Ứng-cúng, Chính-biến-tri, 2
hiệu trong 10 hiệu của Phật. Nghĩa là bậc giác-ngộ, biết hết mọi pháp
và được sự cúng-dàng của Nhân-Thiên.
[33] Đến đây là hết quyển
hạ.