MÙA PHẬT ĐẢN ĐẪM MÁU
Chính Đạo
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo
năm 1963 là đề tài còn gây nhiều xúc động và tranh cãi. Tuy nhiên, tới
nay vẫn chưa có nghiên cứu sử đích thực nào về đề tài này.
Một trong
những lý do là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố chưa hoàn toàn giải mật,
và số người được tiếp cận tư liệu văn khố Ðệ nhất Cộng Hòa không nhiều.
Ða số tác giả đều đứng về phe này hay phe kia, xếp đặt và diễn giải các
dữ kiện vốn bị giới hạn, thiếu sót và tán quang theo sự yêu ghét hay
khuynh hướng chính trị, tôn giáo của họ. Tác nhân lịch sử bị đặt lên
những chiếc giường của tên tướng cướp, thừa chặt bớt, ngắn kéo dài ra
cho vừa khuôn thước thành kiến tiên thiên của người kể chuyện cổ tích.
Không
ít người còn bịa đặt ra những chi tiết không thực, xen kẽ vào những
thông tin trộm cắp, nhai lại đó đây, để bẻ cong lịch sử hầu xây dựng một
“kỳ đài” vàng mã cho họ Ngô. Tất cả đã khởi đi từ chính họ Ngô và guồng
máy tuyên truyền của các nhóm Cần Lao Nhân Vị, Ngày 12/11/1963, chẳng
hạn, Tướng Trần Tử Oai tiết lộ với một viên chức Mỹ là Ngô Ðình Nhu đã
trao cho Tổng Giám Ðốc [TGÐ] Thông tin Phan Văn Tạo, thuộc Bộ Công Dân
Vụ, 12 triệu để mở chiến dịch tuyên truyền chống Phật Giáo–12 lần lớn
hơn ngân khoản phát động chiến dịch chống Cộng vào tháng 7/1955.
(Memorandum ngày 13 Nov 1963; LBJL, NS File, Country File, Vietnam, Box
1)
Năm 1963, để chuẩn bị đón phái đoàn LHQ điều tra việc chế độ Diệm
vi phạm điều 18 Tuyên Ngôn Nhân Quyền [Universal Declaration of Human
Rights]–tức “Every one has the right to freedom of thought, conscience
and religion; this right includes freedom to manifest his religion or
belief in teaching, practice, worship and observance;” Doc A-5489,
Add.1, cũng tương tự như Ðiều 17 của Hiến Pháp VNCH ngày 26/10/1956–cơ
quan Việt Tấn Xã [VTX] lưu hành một tài liệu bằng ba thứ tiếng Việt,
Anh, Pháp, gồm ba [3] tập, do Tôn Thất Thiện chủ biên, nhưng dấu kín
những chi tiết như chính quyền ngụy tạo ra để cáo buộc Việt Cộng ném lựu
đạn hay mìn từ lực; hoặc cách đối xử tàn tệ với tăng, ni, sinh viên,
học sinh Phật tử qua các chương trình cải tạo rập khuôn Ðảng CSVN tại
Huế và Sài Gòn do nhóm Nguyễn Mâu và Dương Văn Hiếu tổ chức. Báo cáo của
Liên Hiệp Quốc–United Nations, General Assembly, Agenda Item 77: “The
Violation of Human Rights in South Vietnam;” Doc A-5489–có những phụ bản
này, nhưng chúng tôi chỉ được văn khố LHQ cung cấp phóng ảnh tài liệu
báo cáo. Phải tới khi du khảo Việt Nam năm 2004-2005, chúng tôi mới được
đọc các hồ sơ tự biện hộ trên của chế độ Diệm. (VNCH, Vấn đề Phật giáo
[The Buddhist Questions]; TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8506, 8511).
Ngày 24/10/1963, khi phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới Việt Nam anh em
Diệm-Nhu còn bỏ ra một ngân khoản lớn để đón tiếp và sai thủ hạ (Trần
Hữu Duệ, một tay chơi nổi danh Sài Gòn) dùng tửu sắc gài bẫy quay phim
các đại diện “khả kính” trong phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Hành động này
không những tự nó là một hình tội cản trở công lý, mà còn bộc lộ rõ “đạo
đức” của anh em Diệm-Nhu–hay “morality” [Art 17] và “humanistic
civilization” [Preamble] ghi trong Hiến Pháp 26/10/1956. Nhật ký Ðỗ Thọ
đã nhắc đến màn gài bẫy này từ nhiều thập niên trước. Tại hải ngoại, cựu
Ðại tá Nguyễn Hữu Duệ, Tham Mưu trưởng Lữ Ðoàn Phòng vệ phủ Tổng thống,
cũng thú nhận trên báo Văn Nghệ Tiền Phong tiểu xảo trên. [Một cựu sĩ
quan thông dịch cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc hồi đó, hiện ngụ tại
Houston, Texas, đã tiết lộ với tác giả thủ đoạn này từ lâu]. Vậy mà
người muốn che đậy tội ác cho họ Ngô vẫn cố vin vào “báo cáo” của phái
đoàn LHQ (danh số A/5360) để ngụy biện cho chính sách kỳ thị tôn giáo
của anh em Diệm hay vụ tấn công rạng sáng ngày 21/8/1963.
Nực cười và
mọi rợ nhất là có chiến dịch vu cáo tác giả là “Việt Cộng” vì đã công
bố những tài liệu về họ Ngô cùng đảng viên Cần Lao-Nhân Vị. Nhưng giấy
khó gói được lửa.
Trong cuốn Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, do nhà
Văn Hóa xuất bản năm 1994 tại Houston, Texas, tôi đã dành một chương
khá dài cho cuộc tranh đấu năm 1963 của Phật giáo miền Nam. Tôi cũng cho
công bố một báo cáo đặc biệt của nhân viên tình báo Mỹ về mặt trái của
cuộc đàn áp Phật Giáo tại Huế–gỡ xuống tấm mặt nạ đạo đức của họ Ngô,
trong nỗ lực che đậy dư luận thế giới những tội ác vi phạm nhân quyền.
10 năm sau, nhiều tài liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt Nam và Liên Hiệp Quốc
được giải mật thêm, nên tác giả đã hiệu đính chương này sau mỗi lần
nghiên cứu ở các văn khố, kết đúc thành bài “Mùa Phật Ðản Ðẫm Máu” trong
tập Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hoá, 2004). Năm
2004-2005, nhờ được du khảo tại Việt Nam trong chương trình Fulbright
của Bộ Ngoại Giao Mỹ, với cơ quan đối tác là Trường Khoa Học Nhân Văn
(tại trụ sở Ðại học Van Khoa cũ trước 1975, nơi tôi đã hoàn tất bằng Cử
Nhân Giáo Khoa Triết Ðông năm 1974), làm việc trên các tư liệu văn khố
VNCH tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia [TTLTQG] II Sài Gòn, nên lại hiệu
đính thêm bài này. Tuy nhiên, trên đại thể, những nét chính không thay
đổi.
Bài “Mùa Phật Ðản đẫm máu” dưới đây được hoàn tất với sự khách
quan tối đa mà các tư liệu đã giải mật cho phép. Khi in thành sách–trong
bộ Lâu Ðài Trên Bãi Cát–chúng tôi sẽ cho in lại những tư liệu văn khố
cơ bản nhắc đến trong bài này.
Những tài liệu mới sử dụng:
Báo cáo
của Phái đoàn điều tra LHQ tại Sài Gòn từ 24/10 tới thượng tuần tháng
9/1963. [United Nations, General Assembly, Official Records, Agenda Item
77, “The violation of Human rights in South Vietnam;” Doc. A/5630,
7/12/1963. [Sẽ dẫn UNGA Doc. A/5630]. Trong phần Phụ Bản có tài liệu 3
thứ tiếng Việt, Mỹ và Pháp do Việt Tấn Xã thực hiện, Tôn Thất Thiện chủ
biên, để nộp cho Ủy Ban Ðiều Tra Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi chỉ được tham
khảo tài liệu này tại TTLTQG 2 (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8511.
[Chính
phủ Kennedy công khai áp lực Diệm phải đáp ứng những nguyện vọng của
Phật giáo, thành thực tôn trọng bản Tuyên cáo chung 16/6/1963, và từng
đe dọa sẽ tách biệt khỏi chính sách Phật giáo của chế độ Diệm nếu có
thêm một vụ tự thiêu. Diệm-Nhu quyết không nhân nhượng, tìm đủ cách phản
ứng: Từ bịa đặt ra việc Cộng Sản ném lựu đạn (sau sửa sai thành hai
trái mìn từ lực) trước Ðài phát thanh Huế, đàn áp, bắt giữ người biểu
tình, tới vu cáo cuộc tranh đấu của Phật giáo do Cộng Sản chi phối, nhằm
lật đổ chính quyền. Cả Diệm lẫn Nhu đều lên án “đế quốc” [và Cộng Sản]
nhúng tay vào cuộc tranh đấu của Phật Giáo].
Xem thêm Thích Trí
Quang, “Cuộc vận động Phật giáo Việt Nam: Giai đoạn phát khởi;” Liên Hoa
nguyệt san (29/1/1964), tr. 22, 28; dẫn trong Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng
pháp nạn 1963 (Giao Ðiểm: 2003), tr. 91.
Nguyên Vũ, “Cái chết của
một hàng tướng: Dương Văn Minh, 1916-2001,” trong Nguyên Vũ, Ngàn Năm
Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 9-156; bản hiệu đính đăng trên Phụ
Bản tháng 9 &10/2006 của Hop Luu online;
Chính Ðạo, “Mùa Phật đản đẫm máu;” Cuộc thánh chiến chống Cộng, 2004:243-304.
Vũ Ngự Chiêu, “Vài cảm nghĩ về Thượng tọa Thích Quảng Ðức;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 84 (8-9/2005), tr. 194-206;
Tào Ðộng [ts’ao tung] & Lâm Tế [Lin chi]
Phật giáo Bắc
Tông–đặc biệt là phái Tào Ðộng [ts’ao tung] và Lâm Tế [Lin chi]–chỉ phát
triển mạnh tại Ðàng Trong từ thế kỷ XVI-XVII, sau khi Nguyễn Hoàng được
cử làm trấn thủ Thuận Hóa và tiếp tục “Nam tiến.” Nguyễn Hoàng và đa số
chúa Nguyễn đều chuộng đạo Phật. Khi dời đô về Kim Long, Nguyễn Hoàng
cho xây chùa Thiên Mụ ở xã An Ninh, Hương Trà vào đầu năm 1602 (tháng
Chạp Tân Sửu [24/12/1601-22/1/1602]; ÐNTL, TB, 1:42) Người kế vị, Nguyễn
Phước Nguyên (1613-1635), còn có biệt danh “Sãi vương” hay Phật vương.
Thời
gian này, Ðàng [Ðường] Trong còn là một vùng biên thùy mở rộng cho mọi
tầng lớp di dân và sự du nhập của các tôn giáo có tổ chức. Trong khi các
cộng đồng cư dân bản xứ–thoạt tiên là Chàm, các bộ lạc thiểu số trên
cao nguyên, và rồi đến dân Khmer ở phía Nam–cố gắng duy trì những hệ
thống giá trị xã hội-văn hóa cổ truyền trước chu trình Việt hóa theo lối
tằm ăn dâu, những đợt sóng tị nạn chính trị và kinh tế từ phương Bắc
vào cuối triều Minh [Ming], đầu đời Thanh (Qing, 1644-1666) cũng mang
vào Ðàng Trong một số du tăng Hoa Nam. Trong số những người nổi danh
nhất có Tạ Nguyên Thiều, gốc Triều Châu, đóng góp vào việc phát triển
phái Thiền Bắc tông Lâm Tế vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII.
Tạ
Nguyên Thiều, người Triều Châu, theo thuyền buôn Quảng Ðông tới miền
Nam khoảng năm 1665 [1677?] Dựng chùa ở phủ Qui Ninh (thôn Thuận Chánh,
Tuy Viễn, Bình Ðịnh). Sau tới núi Phú Xuân, huyện Hương Trà, xây chùa
Quốc Ân. Ðược Ngãi Vương Nguyễn Phước Trăn (1687-1691) sai qua Quảng
Ðông đón hòa thượng Thạch Liêm cùng mua các đồ cúng tế. Rồi ban sắc chỉ
trụ trì chùa Hà Trung (xã Hà Trung, Phú Lộc, Thừa Thiên). Kế thừa có:
các sư mang hiệu chữ “Thành” ở chùa Quốc Ân (Huế) và chữ “Minh,” chùa
Thập Tháp (Bình Ðịnh). (Liệt Truyện, TB, VI:260; Nguyễn Tài Thư,
1991:342-45)
Giác Linh (Huyền Khê), đời thứ 35, người Quảng Ðông,
giỏi võ nghệ, tu tại Ðông Phố. Sau ra Phú Xuân, lập chùa Pháp Vân (tức
Thiên Phước). (LT, TB, VI:264)
Ðại lão hòa thượng Viên Quang, đời thứ 36, tới Gia Ðịnh, xây chùa Giác Lâm (Bình Dương). (Liệt Truyện, TB, VI:262-264)
Phái Tào Ðộng chủ trương không thể tách biệt Phật và
chúng sinh. Chỉ phát triển từ thời nhà Tống. Ðời Mạc Mậu Hợp [Lê Thế
Tông (1575-1599)] do thiền sư Thủy Nguyệt, tức Thông Giáo, đời thứ 36,
truyền bá ở Ðàng Ngoài [chùa Hồng Phúc hay chùa Hoè Nhai, Ba Ðình, Hà
Nội]. (Nguyễn Tài Thư, 1991, tr. 350-351) [351]
Phái thiền Tào Ðộng có sứ giả là hòa thượng Thạch Liêm (tức Ðại Sán), đến Huế năm 1695-1696 do lời mời của chúa Nguyễn.
Thạch
Liêm, hiệu là Ðại Sán Thạch Ông thi, người Chiết Tây. Cuối đời Minh, bỏ
đi tu. Vân du khắp nơi. Ðầu năm 1695, tới Huế, và ở lại đây hơn một
năm. Minh Vương Nguyễn Phước Chu (1691-1725) rất quí chuộng, cho ở chùa
Thiên Mụ, và dùng làm cố vấn. Năm 1696, về Quảng Ðông, không trở lại
nữa. (LT, TB, VI:262-264)
Theo Ðại Sán, sư sang Huế là do Ngãi Vương
Nguyễn Phước Trăn (1687-1691) đã nhiều lần mời, lại có thư của quốc sư
Hưng Liên, nên ngày 27/2/1695 rời Hoàng Phố (Quảng Ðông) xuống Hội An.
Tới Huế ngày 12/3/1695. Ðịnh cư ở chùa Thiền Lâm xã An Cựu. Sau đó tới
chùa Thiên Mụ. Mở giới đàn chấn chỉnh hàng ngũ tăng già, nếp sống tu học
và giới luật. Ngoài ra còn cố vấn cho Phước Chu nhiều vấn đề, kể cả
việc xin thông hiếu với nhà Thanh. Ngày 22/7/1696 [24/6 Bính Tí], rời
Hội An về Quảng Ðông, không trở lại nữa. Tác giả Hải ngoại ký sự. (LT,
TB, VI:262-264; Hải ngoại ký sự; Nguyễn Tài Thư, 1991:351-353).
Sáu
năm sau, tháng Giêng Nhâm Ngọ [28/1-26/2/1702], Nguyễn Phước Chu sai sai
bọn Hoàng Thần, Hưng Triệt (người Quảng Ðông, theo hòa thượng Thạch
Liêm đến yết kiến) đáp thuyền Xiêm qua Quảng Ðông mang theo thư và cống
vật xin vua Thanh phong vương, nhưng không thành công. [Lễ vật: 5 cân 4
lạng kỳ nam; 1 cân 13 lạng 5 đồng cân vàng sống; 2 ngà voi nặng 350 cân;
50 cây mây song hoa]. Vua Thanh không đồng ý vì đã phong cho vua Lê.
(Thuyền Thanh thường ghé Quảng Nam buôn bán, nên gọi là nước Quảng Nam.
(TB, 158-159)
Từ Huế và Quảng Nam, phái Tào Ðộng được Liễu Quán và
hơn 50 đệ tử quảng bá ngược ra Ðàng Ngoài, làm sống lại phái Trúc Lâm
Yên tử ở Sơn Nam hạ (Nam Ðịnh).
Liễu Quán tục danh là Lê Thiệt Diệu
(1667-1742), người Bạch Mã, huyện Ðồng Xuân, phủ Phú Yên. Ði tu từ 6
tuổi. 13 tuổi, ra Huế, tu tại chùa Báo Quốc với sư Giác Phong (người
Hoa). Năm 1695, thụ giới với Thạch Liêm (Ðại Sán, người Hoa). 1702 (Nhâm
Ngọ) tới Long Sơn tu tập với Tứ Dung (người Hoa). 1722, về Huế. 1742,
chết. Chúa Nguyễn phong làm Chính Giác Viên Ngộ. (Nguyễn Tài Thư,
1991:345-348)
Trong thế kỷ XVIIIÔ, một số tăng vân du từ Bình Ðịnh
vào vùng châu thổ Cửu Long, xây chùa, lập thiền viện. Năm 1755, Ðạt Bổn
du phương tới Ðông Phố, dựng chùa Kim Chương, truyền y bát cho nhiều thế
hệ. (LT, TB, VI:263)
Huỳnh Lang dựng chùa ở núi Bạch Tháp, phía Bắc Vân Sơn, trấn Hà Tiên. (LT, TB, VI:264-265)
Khi
anh em Nguyễn Nhạc nổi lên ở Bình Ðịnh, năm 1773, Long Kỳ đại sư ở
Quảng Ngãi về kinh xin mật chỉ chiêu tập thủ hạ trong địa phương chống
lại. (LT, TB, VI:266]
Trong khi đó, phái Nam Tông hay Nguyên thủy,
tuyệt đối trung thành với mọi và mỗi lời Phật giảng dạy còn được ghi
chép. Các tăng mặc áo vàng, chỉ ăn ngày một bữa và khất thực, nên không
nhất thiết phải ăn chay như phái Bắc tông. Tại miền Bắc, các thiền viện
Nam Tông dần dần bị giảm thiểu, rồi không để lại dấu vết nào của những
nhà sư như Khang Tăng Hội, hay trường phái Giáo Tông, v.. v... Tại miền
Nam, khoảng đầu thế kỷ VII, phái Nam Tông phát triển khá mạnh ở Lâm Ấp
hay Chiêm Thành. Trong một cuộc đánh cướp nước Chiêm năm 605, quan tướng
Tùy (589-618) mang về Trung Hoa 18 pho tượng vàng và hơn 1,350 bộ kinh
[sutras].
Trong khi đó người Việt gốc Khmer ở vùng châu thổ Cửu Long
cũng lập nên những cộng đồng theo hệ phái Nam Tông, tiêu biểu bằng những
chùa chiền hùng vĩ với mái thiếp vàng, cùng những pho tượng vàng trấn
tự. Các lục cả [tăng] giữ vai trò lãnh đạo tinh thần của các thôn xã
[sóc hay láng]. Tại nhiều nơi, việc giáo dục thanh thiếu niên được hoàn
toàn giao cho hàng tăng lữ. (Mat The, Phat, p. 65).
9/2003-4/8/2010
Chính Ðạo
I. TỪ CỜ ÐẾN MÁU LỬA:
Ngày 6/5, Ðổng lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống, Quách Tòng Ðức, gửi đi
khắp nơi “chỉ thị” [khẩu lệnh] của Tổng thống Ngô Ðình Diệm (1955-1963):
Ra
chỉ thị cho các cơ sở phụng sự bất câu tôn giáo nào, trên các cơ sở
phụng tự (nhà thờ, chùa chiền, v.. v...) chỉ treo cờ quốc gia mà thôi.
Chính phủ đã hỏi các tôn giáo, đều đồng ý là con dân trong một nước chỉ
treo cờ quốc gia. Sự treo cờ, ảnh phía trong thì tùy nghi. . . .
Lúc
trước có khi vì muốn tránh treo cờ đỏ sao vàng Việt Minh hay cờ tam tài
của Pháp, thì có những tôn giáo treo cờ hiệu gì khác.
Nước nhà đã độc lập, nên chỉ treo cờ quốc gia. Các nhà tư cũng vậy.(1)
Theo lời khai của viên chức chính phủ với phái đoàn Liên Hiệp Quốc
[LHQ] vào hạ tuần tháng 10/1963, Diệm biết rõ rằng lệnh cấm treo cờ trên
sẽ ảnh hưởng đến ngày Phật Ðản sắp tới–ngày lễ quan trọng nhất của Phật
Giáo–nhưng bất chấp hậu quả. (2)
Nhiều năm sau, còn có tin Quách
Tòng Ðức không hề gửi đi công điện 9195, nhưng những chi tiết trên tư
liệu nguyên bản (như nhóm giờ và nơi gửi, nhận) khó giúp cho mức khả tín
của lời tự biện hộ trên. Ngoài ra, theo tư liệu chính phủ, khẩu lệnh
này được gửi đi sau khi Ðức đã tham khảo mật với Mai Thọ Truyền, Phó Hội
chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, mà trụ sở đặt tại chùa Xá Lợi, Sài
Gòn. Cách nào đi nữa, thời điểm ban hành lệnh cấm treo cờ tôn giáo [hiểu
như Phật Giáo] của Diệm là điều thiếu khôn ngoan. Chỉ còn không đầy 48
tiếng đồng hồ nữa là Lễ Phật Ðản 2507 (15/4 Quí Mão, tức 8/5/1963), ngày
lễ quan trọng nhất của Phật Giáo. Trên toàn miền nam, các khuôn hội
Phật Giáo và tư gia đã hoàn tất việc chuẩn bị đón mừng Phật Ðản, như
treo cờ, biểu ngữ và dựng cổng chào.
Công điện cấm treo cờ gây một
tia lửa điện xúc động tại Huế và miền Trung, được coi như kinh đô Phật
Giáo từ hạ bán thế kỷ XVI. Ða số chúa Nguyễn đều mến mộ đạo Phật. Từ đời
Minh Mạng (1820-1841), sau nửa thế kỷ chiến tranh hay “cách mạng thay
đổi triều đại cầm quyền,” Khổng giáo chiếm lại vị thế trung tâm quyền
lực, nhưng các vua Nguyễn vẫn duy trì truyền thống tam giáo đồng
nguyên–và, cách nào đó, sử dụng Nho, Lão, Phật như đồng minh chống lại
sự phát triển của Ki-tô giáo, mũi tên công phá, xung kích của chế độ
thực dân Âu Mỹ. Nhân dịp rằm tháng 7 Ất Mùi [7/9/1835], chẳng hạn, Minh
Mạng lập một tuần chay ở chùa Thiên Mụ để siêu độ cho vong linh tử sĩ ở
Bắc Kỳ. Sau cho đặt thêm bài vị tử sĩ ở thành Phiên An (Gia Ðịnh hay Sài
Gòn) trong cuộc nổi loạn của “Lê Văn Khôi” và Ki-tô giáo. Minh Mạng
đích thân tới dự, tuyên bố rằng đạo Phật dạy người bằng thuyết họa phúc,
báo ứng, không nhất thiết là dị đoan. Việc khuyên bảo người làm việc
thiện, dẫu thánh nhân [tức Khổng Khâu] sống lại, cũng không thể đổi bỏ
đi được.
Từ thập niên 1830, Ki-tô giáo Vatican hay “Catholic” được
bảo vệ và hỗ trợ bằng chiến hạm của các nước Âu Mỹ, đặc biệt là Pháp
[France], qua những cuộc chiến tranh nha phiến ở Trung Hoa, mở đầu việc
liệt cường xâu xé đế quốc Thanh; và rồi cuộc biểu dương lực lượng của
Napoléon III tại Việt Nam. Dưới thời Pháp thuộc (1884-1945),
“Catholic”–vì là tôn giáo của dân Pháp và giai tầng trung gian bản xứ,
trụ cột của nền bảo hộ–được khuyến khích, giúp đỡ bành trướng mạnh. Dù
giáo dân chiếm chưa đầy 10% dân số, các cộng đồng Ki-tô bản xứ trở thành
những quốc gia trong một quốc gia, tự ban danh hiệu “công giáo” [public
religion] và cung cấp cho giai tầng trung gian bản xứ cũng như thị dân
một nhân số quan trọng. Chính vì thế Jean-Baptiste Ngô Ðình Diệm
(1897-1963)–với thành tích hết hợp tác với Pháp tới Nhật, và bị đánh giá
là “cuồng đạo” [a Catholic mystic, yogi-like mystic, hay religious
fanatic]–vẫn được Pháp, Mỹ và Bảo Ðại chọn làm Thủ tướng toàn quyền quân
và dân sự từ mùa Xuân 1954. Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield hay Ngoại
trưởng Foster Dulles đều đánh giá Diệm như nhân vật duy nhất có thể cầm
đầu cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam. Ngắn và gọn, số chùa chiền, tu
viện, khuôn hội Phật giáo gia tăng ở phía nam vĩ tuyến 17 từ 1954 tới
1963 không chỉ do ảnh hưởng quốc sách chống Cộng, mà còn phản ảnh sự
chống đối vừa tiêu cực vừa tích cực của Phật giáo với chế độ giáo phiệt
Ki-tô Diệm-Thục-Nhu hay Diemocracy.(3)
Nạn nhân thường trực của Ki-tô
giáo là Phật Giáo cùng những phong tục truyền thống–như thờ cúng tổ
tiên và bái vật [animism]. Mặc dù từ thập niên 1910 viên chức Pháp quyết
định đoạn tuyệt với chính sách đồng hóa [assimilation] và Ki-tô hóa
[catholicization] của Hội truyền giáo, chuyển sang hợp tác
[collaboration] hay Pháp-Việt đề huề [Franco-Vietnamese happy
co-existence], mãi tới thập niên 1920 Phật giáo và các tổ chức tôn giáo
bản xứ khác mới bắt đầu được “duy tân” và khuyến khích đoàn ngũ hóa hầu
chống Cộng. Sau năm 1945, các giới chức cầm quyền khuyến khích việc
thống nhất Phật Giáo, dài theo ranh giới Quốc-Cộng. Tại vùng VNDCCH kiểm
soát, có tổ chức Phật Giáo cứu quốc. Tại vùng Pháp và Bảo Ðại kiểm
soát, từ năm 1950 có nỗ lực thành lập các giáo hội địa phương cùng hai
tổ chức toàn quốc là Tổng Hội Phật Giáo Viêt Nam [THPGVN] và Giáo Hội
Tăng Già. Cũng năm 1950 này, Thượng tọa Tố Liên (1903-1977) đại diện
Việt Nam tham dự Ðại Hội Phật Giáo Thế Giới [World Fellowship of
Buddhists, hay Hội Bằng Hữu Phật Giáo Thế Giới] tại Colombo (Sri Lanka,
hay Tích Lan), từ ngày 26/5 tới 7/6/1950, và ủng hộ nghị quyết chọn cờ
ngũ sắc làm giáo kỳ. Chùa Quán Sứ Hà Nội là nơi lá cờ Phật giáo được
trương lên trước tiên trên đất nước Việt Nam. Trong thập niên 1950, lá
cờ Phật Giáo ngày càng trở thành quen thuộc vì sự phát triển của các hệ
phái Phật Giáo phía nam vĩ tuyến 17. Sự phát triển đặc biệt này, cần
nhấn mạnh, không do sự khuyến khích của tam đầu chế Ngô Ðình Thục-Ngô
Ðình Diệm-Ngô Ðình Nhu. Việc giúp đỡ bất cứ tôn giáo không Ki-tô nào chỉ
có tính cách tượng trưng, do các cấp viên chức địa phương (như không
khắt khe áp dụng luật số 10 về các hiệp hội, hay cho mở sổ số để gây
quĩ, v.. v...). Năm 1963, theo tài liệu chính phủ, tại Sài Gòn có tới
180 chùa: 69 chùa thuộc THPGVN, 22 chùa thuộc Cổ Sơn Môn, và 89 thuộc
các môn phái khác cùng chùa tư. Nhưng từ 1954 tới 1963, tổng số tiền
chính phủ trợ cấp 24 tổ chức Phật Giáo chỉ được 3,681,000 đồng, quá
chênh lệch so với trợ giúp riêng cho Ðại học tư Ki-tô ở Ðà Lạt của Thục
(gồm một phần tài sản tịch thu của Bảy Viễn, tiền vay dài hạn do chính
phủ bảo đảm, độc quyền khai thác lâm sản, v.. v..), lên tới hàng chục
triệu. (4)
Nhận hiểu rằng Phật tử chiếm đa số dân chúng trong nước,
trong những năm đầu, Thục-Diệm-Nhu làm ngơ trước sự phát triển của các
khuôn hội, đoàn Phật tử, v.. v... Những người góp công lớn trong việc
phát triển của Phật giáo là tăng ni di cư và Phật tử chống Cộng. Xây
dựng chùa chiền, tổ chức các ban đại diện, phong trào Phật tử, phát huy
và hoằng dương đạo pháp là một phương thức chống Cộng hòa bình và hữu
hiệu nhất: Lấy tôn giáo chống lại Cộng Sản vô thần (những người từng ví
von tôn giáo như thuốc phiện). (5) Hoà Thượng tọa Thích Quảng Ðộ–đương
kim Tăng thống Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất Việt Nam [GHPGTNVN] là một
trường hợp điển hình. Thày của Quảng Ðộ từng bị Cộng Sản Việt Nam đưa ra
xét xử trước tòa án nhân dân và thảm sát bằng gậy gộc vì tội “Việt
Gian,” gián điệp cho Pháp.
Ngoài ra, việc phát triển chùa chiền,
khuôn hội phản ảnh một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh lạnh giữa Phật
Giáo và Ki-tô giáo, kéo dài đã hơn bốn thế kỷ. Trong giai đoạn Pháp xâm
chiếm Việt Nam, rất nhiều danh tự đã biến thành nhà thờ ở Hà Nội, Sài
Gòn, Nam Ðịnh hay Quảng Trị. Trường hợp nổi danh nhất là việc Kinh lược
Nguyễn Hữu Ðộ bán rẻ chùa Báo Thiên và làng Thọ Xương–tức khu vực Nhà
Chung gần trung tâm Hà Nội hiện nay–cho Giám mục Paul Puginier với số
tiền tượng trưng 100 quan để mua chuộc sự yểm trợ của các giáo sĩ Ki-tô.
Một số tăng miền Trung–như Thích Trí Quang và Thích Ðôn Hậu–từng tham
gia Phong Trào Phật Giáo Cứu Quốc, và có tên trong “sổ đen” của cơ quan
tình báo Pháp. Tuy nhiên Ngô Ðình Cẩn (1911-1964), em áp út Diệm và từng
được xưng tụng là Cố vấn chỉ đạo miền Trung, trước khi Thục ra nắm chức
Tổng Giám Mục Huế–người nổi danh tiêu diệt gần trọn mạng lưới Cộng Sản
nằm vùng miền Trung trong giai đoạn 1955-1960–vẫn không đụng chạm đến
các tăng này. Trong dân gian, có lời truyền tụng là bài vị Ngô Ðình
Dinh, cha Khả và ông nội Diệm, Cẩn, v.. v.. được bí mật thờ trong một
chùa ở Huế.
Cho tới đầu thế kỷ XXI, vì hầu hết phần tử gia đình họ
Ngô đã bị giết hay qua đời, khó thể biết lý do Diệm sai Ðổng lý văn
phòng gửi đi công điện cấm hoặc hạn chế treo cờ ngày 6/5/1963. Lập luận
của chính phủ là quốc kỳ (cờ vàng ba sọc đỏ) phải được tôn trọng hơn cờ
tôn giáo. Dân chúng phải treo quốc kỳ, còn cờ tôn giáo chỉ được phép
treo trong các ngày lễ, tại các nơi thờ tự hay tư gia, nếu được chính
quyền địa phương cho phép. Ðó là tinh thần Nghị định 189/BNV/NA/P5, ngày
12/5/1958 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Lâm Lễ Trinh, được tái xác nhận ngày
14/6/1962. Ngày 29/5/1963, giữa cao trào tranh đấu của Phật Giáo, chính
phủ Diệm ra thêm thông cáo: “Khi qui định thể thức treo quốc kỳ và đạo
kỳ, chánh phủ chỉ muốn nhắc nhở Quốc kỳ là tượng trưng cho chánh nghĩa,
là kết tinh ý thức đấu tranh toàn diện, toàn dân, toàn quân.” (6)
Ngô
Ðình Thục (1897-1984), người bị nghi đứng sau khẩu lệnh tai hại của
Diệm, đổ thêm dầu vào lửa khi cho rằng Công điện ngày 6/5/1963 không
quan trọng, và không đụng chạm đến tôn giáo. Trong Chỉ thị cho giáo dân
ít tháng sau, Thục viết: “Trong đạo ta chỉ có một biểu hiệu là thánh giá
mà thôi. Anh em đừng nghĩ rằng cờ Tòa Thánh Vatican là cờ có tính cách
quốc tế nên được phép treo các nơi. Cái cờ bấy lâu gọi là cờ Tòa Thánh
chỉ là cờ nước Vatican, không phải là cờ của đạo ta. . . . [H]ễ có lễ
trong đạo thì ngoài đường, trong nhà anh em, trong khu ngoài nhà thờ chỉ
treo cờ quốc gia mà thôi, ai không tuân thì xin các cha bổn sở phải
tịch thâu các thứ cờ khác ngoài cờ quốc gia. Không phải ta là công giáo
mà ta vô tổ quốc. Ta hân hạnh có đạo, bởi vì ta hiểu biết đạo rõ ràng
lại vì ta hành đạo triệt để, không phải một tấm vải vài đồng bạc mà thay
được tín ngưỡng đâu.” (7)
Lập trường của giới cai trị này khó thuyết
phục được các lãnh đạo Phật giáo và Phật tử miền Nam. Thục, theo Tướng
Lê Văn Nghiêm, từng tuyên bố với những người tín cẩn rằng “cần phải hạ
Phật giáo bằng mọi phương tiện, nếu không Phật giáo sẽ mạnh hơn Ki-tô,”
và “ngay cả đời sống giáo dân sẽ bị đe dọa.”( 8)
Mùa Xuân 1963 Thục
còn có thêm lý do để “ra tay” với Phật Giáo. Nhân dịp kỷ niệm 25 năm thụ
phong Giám mục, Thục–theo lời một nhân chứng ngoại quốc, viết bằng Mỹ
ngữ ngày 12/6/1963, và Linh mục Cao Văn Luận, Viện truởng Ðại học Huế–đã
xin với Vatican lên chức Hồng Y vì “80% dân chúng trong giáo phận Huế
là giáo dân Ki-tô.” (9)
Ðiều này dễ hiểu và rất có thể là sự thực, vì
từ năm 1961, Thục được coi như người cầm đầu Giáo Hội [miền nam] Việt
Nam, không vì đạo hạnh, mà vì được Diệm kính trọng và nghe lời. Hơn nữa,
việc phong giáo tước thường bị chính trị hóa. Năm 1950, chẳng hạn, Linh
mục John Dooley, một công dân Mỹ gốc Ireland [Ái Nhĩ Lan?], được đặc
cách lên Tổng Giám Mục, Khâm mạng Vatican, để thực thi cuộc thánh chiến
chống Cộng. Trong khi đó, cơ quan tuyên truyền cho rằng giáo hội miền
bắc đã “im lặng,” Ðức Mẹ Fatima đã di cư vào nam; nên Thục xứng đáng
được chức Hồng Y đầu tiên. Vì vậy, theo tài liệu đã dẫn, Vatican gửi một
phái đoàn điều tra tới miền Trung vào đầu tháng 5/1963. Mặc dù cờ Ki-tô
giáo nửa vàng, nửa trắng giăng mắc khắp nơi trong thời gian phái đoàn ở
Việt Nam, đại biểu Vatican cũng ghi nhận Phật tử đang chuẩn bị cờ ngũ
sắc, biểu ngữ và cổng chào mừng đón Phật đản 2507. Bởi thế phái đoàn
Vatican kết luận sơ khởi rằng chỉ có 20% dân miền Trung theo đạo Ki-tô
mà không phải 80% như Thục báo cáo. Ðể che dấu sự thực, Thục ngầm cho
lệnh viên chức địa phương cấm treo cờ hay tuần hành rước lễ Phật Ðản.
Dù
Thục có áp lực Diệm ban hành lệnh cầm treo cờ Phật giáo ngày Phật Ðản
2507 hay chăng, công điện nhắc nhở lệnh cấm ngày 6/5/1963 là sỉ nhục lớn
với Phật tử. Vì, cho tới ngày 5/5, cờ Ki-tô giáo còn phấp phới khắp
miền Nam, trong khi tổng số giáo dân không đầy 10% dân số. Ngày 5/5/1963
này, Diệm còn tổ chức Lễ Tạ Ơn kỷ niệm 25 năm Thục được phong Giám Mục
tại nhà thờ trên đường Kỳ Ðồng, Sài Gòn. Ngoài lễ nghi quân cách, cờ
Ki-tô giáo chi chít khắp nơi.( 10)
Ngay chiều ngày 6/5 (13/4 Quí
Mão), Tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Huế là Nguyễn Văn Ðẳng sao
gửi công điện của Quách Tòng Ðức cho các tổ chức tôn giáo, đặc biệt là
Ban trị sự Giáo hội Tăng già và Hội Phật Giáo Việt Nam tại Trung Phần và
tỉnh Thừa Thiên, cùng Ban tổ chức Lễ Phật Ðản tại Thừa Thiên-Huế. Các
lãnh đạo Phật giáo phản ứng một cách chừng mực. Sáng hôm sau, một phái
đoàn đại diện Tăng Già và ban tổ chức Phật Ðản–gồm Thượng tọa Thích Trí
Quang, Thích Mật Nguyện, Thích Thiện Minh và Thích Thiện Siêu–đến gặp
Thị trưởng Ðẳng để “trình bày những thắc mắc và uất ức” của Phật tử về
lệnh cấm treo cờ. Không thỏa mãn với lời giải thích của Ðẳng, đại diện
Phật Giáo yêu cầu được tiếp kiến Cố vấn chỉ đạo miền Trung về lệnh cấm
treo cờ. Cẩn đồng ý, mời Trí Quang tới tư dinh, dự một cuộc họp với Bộ
trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương và Thị trưởng Ðẳng vào lúc 11G45 ngày
7/5/1963 (14/4 âm lịch). Sau một hồi thảo luận, Cẩn đồng ý cho các chùa
chiền và lễ đài tiếp tục treo cờ, nhưng các tư gia thì nên cho Cảnh Sát
đi thuyết phục họ hạ cờ. Bởi thế, lúc 12 giờ trưa ngày 7/5/1963, Ðẳng
gọi Trưởng ty Cảnh sát Huế tới tư dinh Cẩn, cho lệnh sử dụng Mật vụ để
áp lực dân chúng hạ cờ. Có lẽ vì thế một số nhân viên Cảnh Sát, Công An
đã sốt sắng tháo gỡ cờ Phật giáo bất chấp sự phản đối của dân chúng.
(11)
Khoảng 17G45 ngày 7/5, một phái đoàn gồm các đại diện Giáo Hội Tăng
Già, ban tổ chức Phật đản 2507 và khoảng 200 Phật tử lại kéo tới Toà
Hành chánh tỉnh gặp Ðẳng. Theo lời Bộ trưởng Nội vụ Lương khai với Phái
đoàn Liên Hiệp Quốc ngày 30/10/1963, đích thân Lương cho tạm hoãn thi
hành lệnh cấm treo cờ, và lãnh đạo Phật giáo rất mãn nguyện. (12)
Tại
Ðà Nẵng, cách Huế khoảng 100 cây số về phía Ðông Nam, Cảnh sát cũng tới
các cơ sở thương mại, ra lệnh cấm treo cờ mừng Phật đản; bằng không sẽ
bị rút giấy phép. Chẳng hiểu việc làm này liên hệ gì đến Thị trưởng Hà
Thúc Luyện hay chăng. Cách nào đi nữa, ngày 8/5, Thiếu tướng Nghiêm, Tư
lệnh Quân Ðoàn I, vẫn cho phép quân nhân Phật tử tổ chức lễ Phật Ðản.
(13)
Tại Ðà Nẵng, quân nhân Phật tử dựng một khán đài tại góc đuờng
Thống Nhất và bờ sông Bạch Ðằng (sông Hàn), và tổ chức diễn hành xe hoa.
Tại Huế, Phật tử cũng dựng khán đài và kết cờ Phật Giáo. Nhưng không
khí đấu tranh phảng phất trong không gian. Trong cuộc rước lễ từ chùa
Diệu Ðế tới chùa Từ Ðàm sáng ngày 8/5/1963, Phật tử đã trương lên một số
biểu ngữ đòi bình quyền tôn giáo và thề bảo vệ giáo kỳ bằng mọi giá.
Người
châm ngòi nổ cho cuộc tranh đấu là Thượng tọa Trí Quang, Chủ tịch Hội
Phật Giáo Trung Phần. Sau bài diễn văn nẩy lửa trong buổi lễ sáng 8/5
tại chùa Từ Ðàm–với sự tham dự của nhiều viên chức cao cấp địa phương
(ngoại trừ Ðại biểu Trung Nguyên Trung Phần và Thị trưởng Ðẳng)–Trí
Quang lần lượt đọc lại từng biểu ngữ của Phật tử trương lên trong buổi
sáng mà viên chức chính quyền không hài lòng. Ðám đông hợp xướng lại
bằng những tiếng hoan hô hay đả đảo, biến buổi lễ Phật Ðản thành một
cuộc mít tinh rực lửa tranh đấu bình quyền tôn giáo. Một lãnh tụ đối lập
chế độ giáo phiệt vừa được khai sinh, dưới bộ cà-sa.
Tối đó, một
biến cố đẫm máu đột ngột xảy ra. Giữa lúc hàng ngàn Phật tử tụ họp trước
Ðài phát thanh Huế vào khoảng 8 giờ tối để nghe chương trình phát thanh
đặc biệt Phật Ðản, một nhóm thanh niên Ki-tô giật cờ Phật Giáo tại một
cổng chào, rồi xông tới đập phá lễ đài. Bạo động bùng nổ. Giám đốc đài
Huế, Ngô Ganh, sau khi nhận chỉ thị phải từ chối phát thanh lại cuốn
băng buổi lễ Phật Ðản tại chùa Từ Ðàm, khóa trái cửa “để bảo vệ máy móc”
trước sự đe dọa của một số Phật tử hung hãn. Khoảng 22 giờ, Thị trưởng
Ðẳng được mời tới Ðài phát thanh bàn thảo với Thượng Tọa Trí Quang về
nội dung chương trình phát thanh Phật Ðản mà hàng ngàn người đang chờ
đợi, Thiếu tá Ðặng Sỹ, Phó Tỉnh trưởng Nội An, dẫn Cảnh Sát, và lực
lượng an ninh (Biệt đội Ngô Ðình Khôi) gồm 8 tuần thám xa [blinder] của
Ðịa Phương Quân, 1 đại đội ÐPQ, 1 đại đội trừ Bộ Binh, đến tái lập trật
tự. Sau khi đám đông không chịu giải tán, Sỹ cho lệnh dùng lựu đạn cay,
vòi rồng phun nước, và rồi nổ súng. Ða số binh sĩ không tuân lệnh, chỉ
có đơn vị riêng của Sỹ thẳng tay đàn áp. Xe tuần thám chạy ngang dọc
giữa đám đông. Dân chúng hoảng hốt tranh nhau bỏ chạy tứ phía. Kết quả, 9
người chết (kể cả 2 trẻ em bị tuần thám xa cán), và 14 bị thương.( 14)
Ðây là một hành động có thể bị truy tố về tội ác chiến tranh [war
crime] và tội ác chống lại nhân quyền [crime against Human rights] của
Sỹ; và các cấp chỉ huy, kể cả Ngô Ðình Diệm, phải liên đới trách nhiệm.(
15)
Ðể che đậy sự thực, thoạt tiên chính phủ loan tin một quả lựu
đạn của quân khủng bố (Cộng Sản) từ đám đông ném ra, vì quân đội chỉ bắn
lên trời hoặc dùng đạn mã tử. Lời giải thích này dựa theo mật điện số
100/MM, từ văn phòng Ðại biểu Trung nguyên Trung Phần (Hồ Ðắc Khương)
gửi về Phủ Tổng thống ngày 9/5/1963. Theo Mật điện trên, trong lúc Ðặng
Sỹ đàn áp đám đông, “một quả lựu đạn MK-2 đã từ trong đoàn người phóng
ra làm cho 7 thường dân chết, 1 thường dân và 5 binh sĩ bị thương. Cơ
quan an ninh đã phải xử dụng lựu đạn cay mắt để giải tán đoàn người và
tình hình đã trở lại tương đối yên tịnh vào lúc 24G00.” VP/ÐBCP/TNTP
cũng qui tội cho Việt Cộng, và xin được tổ chức biểu tình ngày 9/5/1963.
(16)
Sau khi đám đông bị giải tán, viên chức chính phủ mang 9 xác
chết tới bệnh viện Trung ương Huế. Theo một nguồn tin an ninh Mỹ, dù
được lệnh phải ghi vào giấy chứng tử là các nạn nhân “chết vì lựu đạn do
khủng bố Việt Cộng ném,” Y sĩ Lê Khắc Quyến, Giám đốc Bệnh viện kiêm
Giám đốc Y tế miền Trung, không đồng ý: Các y sĩ thực hiện giảo nghiệm
(lý khám) kết luận rằng đa số nạn nhân đều chết vì những vết thương trên
đầu, và di thể không hề có mảnh “lựu đạn MK-2” nào. (17)
Bởi vậy,
viên chức chính phủ, dù vẫn nhất tề trút mọi trách nhiệm cho Việt Cộng,
nhưng bắt đầu sửa sai từ “lựu đạn” sang “mìn từ lực” [plastic] cho có vẻ
hợp lý hơn.( 18) Phó TT Nguyễn Ngọc Thơ, trong thư gửi Thượng tọa Thiện
Minh ngày 11/7/1963, biện minh rằng các nạn nhân đêm 8/5 là do
“plastic” của Việt Cộng; chính Y sĩ Quyến, Giám đốc Bệnh viện Trung Ương
Huế, đã xác nhận viêc này trong buổi tiếp xúc ngày 8/7/1963 với Ðại
biểu TNTP và các y sĩ lý khám. (19) Tháng 10/1963, Trần Tử Oai khai với
phái đoàn LHQ tìm sự thực về sự vi phạm nhân quyền tại Nam Việt Nam rằng
Cộng Sản đã cho nổ hai trái mìn từ lực mà quân đội VNCH cũng như Mỹ
không có [That night another more violent meeting took place at the Huê
radio station. Communist elements took advantage of it to explode two
plastic charges which caused the death of eight persons, including
several children and a Catholic girl]. Ở một đoạn khác, Oai lập lại lời
cáo buộc này [With regard to the charge that the Government had ordered
the killing of the demonstrators by tanks, cannons, rifles and grenades,
this was an absolute slander. According to the findings of the medical
experts, all the wounds on the victims’ bodies were caused by the
explosion of plastic charges, which are not used by the Army or the
security forces of Vietnam, but only by Communists.”( 20) Bộ trưởng Nội
vụ cùng một luận điệu. (21)
Rõ ràng có những nỗ lực của viên chức
chính phủ–do tự ý hay nhận lệnh thượng cấp–nhằm cản trở công lý
[obstruction of justice], và bản thân phạm tội dối trá khi đã tuyên thệ
[perjury].
Những ngày kế tiếp, tình hình Huế cực kỳ sôi động. Suốt
đêm mồng 8 rạng 9/5, thanh thiếu niên kéo nhau đi quanh đường phố, hô to
khẩu hiệu đả đảo Diệm. Khoảng 11G00 sáng, chừng 800 Phật tử tụ họp biểu
tình. Ðẳng yêu cầu họ giải tán để tránh bị “phản loạn” lợi dụng. Ðẳng
cũng ra lệnh giới nghiêm từ 9 giờ tối.
Ngày 9/5, Diệm sai Bộ trưởng
Nội vụ trở lại Huế giải quyết. Lương áp lực Trí Quang đi theo xe phóng
thanh kêu gọi mọi người ra về. Trí Quang chỉ hòa thuận bề ngoài, chưa
chịu lùi bước. Theo Lương, Trí Quang đã âm mưu chống chính quyền từ năm
1960, với sự xúi dục của Cộng Sản. Ðặng Ngọc Lựu, thân cận của Trí
Quang, cung cấp tin này. (22) (Nhưng tư liệu CS bác bỏ cáo buộc này:
Trước năm 1963, cán bộ CS không thuyết phục được Phật Giáo ngả theo CS
chống Diệm).
Chiều 9/5, Phong trào Cách Mạng Quốc Gia ở Huế–cánh tay
chính trị của chính quyền và Ðảng Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng từ năm
1954–tổ chức mít-tinh, lên án Cộng Sản phá hoại, khủng bố trong đêm 8/5.
Rất ít người tham dự, và không ai lên diễn đàn. Một số tiểu đoàn Dù gốc
Nùng được điều tới Huế để “bảo vệ trật tự.” Mật vụ bắt đầu lùng bắt các
lãnh tụ Phật tử, và lực lượng an ninh cô lập hàng ngàn người biểu tình
trong vòng rào kẽm gai.( 23)
Ngày 10/5, trong cuộc biểu tình qui tụ
khoảng 5,000-6,000 Phật tử, tăng ni tại chùa Từ Ðàm, Trí Quang đọc diễn
văn, kêu gọi bất bạo động và Phật tử tiếp tục treo cờ. Sau đó, đại diện
Ủy ban tranh đấu trao cho Ðẳng một Tuyên Ngôn [Manifesto], đòi hỏi năm
[5] điều tương đối ôn hoà: tự do treo cờ; Phật giáo được hưởng quyền
dành cho Ki-tô giáo qui định trong Dụ số 10 [ngày 6/8/1950]; ngưng bắt
giữ và khủng bố Phật tử; tự do tín ngưỡng; bồi thường cho nạn nhân ngày
8/5 và trừng trị những người có trách nhiệm. Năm người ký tên là các
tăng trụ trì các chùa danh tiếng đất Huế: Hòa Thượng Tường Vân [tên chùa
Hòa thượng Tịnh Khiết trụ trì], Thượng tọa Mật Nguyện [Trần Lộc, 56
tuổi, tu tại chùa Linh Quang], Mật Hiển [Nguyễn Duy Quang, 56 tuổi, tu
tại chùa Trúc Lâm], Trí Quang [Phạm Trí Quang hay Bông, 41 tuổi], và
Thiện Siêu [Vũ Trọng Tường, 43 tuổi, tu tại chùa Từ Ðàm].( 24).
Với
đại đa số Phật tử, “Dụ số 10” nêu trong Thông Bạch ngày 10/5/1963 có vẻ
xa lạ. Dụ này do Bảo Ðại ban hành ngày 6/8/1950, liên quan đến qui chế
các hiệp hội, đảng phái, gồm 5 chương, 45 điều. Ðiều thứ 44 ghi nhận:
“Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô, và các Hoa kiều lý sự hội sẽ ấn định sau.”( 25)
Ðiều này có nghĩa các tổ chức tôn giáo không Ki-tô như Phật giáo, Hoà
Hảo, Cao Ðài, Islam v.. v... đều chỉ được phép hoạt động nếu có sự đồng
ý của chính phủ.
Thị trưởng Ðẳng, “con nuôi tinh thần” của Hòa
thượng Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật Giáo, lên diễn đàn xin lỗi về
tai nạn đã xảy ra, và hứa bồi thường cho gia đình nạn nhân. Cẩn cũng áp
lực Trí Quang phải ngưng tranh đấu, tìm cách giải quyết. Hôm sau, 11/5,
Trí Quang triệu tập một buổi họp với các giáo sư và sinh viên, học sinh
để giải thích 5 nguyện vọng của Phật giáo.(26)
Ðồng thời, các lãnh tụ
Phật Giáo bắt đầu khai thác cái chết của các nạn nhân tối Phật Ðản, ca
ngợi họ như “thánh tử đạo.” Ngày 12/5, Trí Quang yêu cầu Ðẳng cho làm lễ
cầu siêu cho các nạn nhân vào ngày 14/5. Ðẳng không dám tự quyền, đề
nghị Phật Giáo thảo luận với Tư lệnh Quân Ðoàn I và Ðại biểu Chính phủ
tại TNTP vào hôm sau. Phật Giáo đồng ý lùi ngày cầu siêu lại một tuần,
tức 21/5/1963. Riêng ngày 14/5, chỉ được làm lễ cầu siêu trong chùa Từ
Ðàm.
Trong ngày 13/5, Trí Quang cũng gặp Ðại biểu chính phủ để thảo
luận về 5 đòi hỏi của Phật Giáo. Mặc dù cho rằng những yêu sách của Phật
Giáo “vô căn” [groundless], viên chức này tuyên bố chính phủ sẽ cứu
xét. Ðại biểu chính phủ thêm rằng đòi hỏi của Phật Giáo mang tích cách
“tối hậu thư,” và đây là một sai lầm. (27)
Tại Sài Gòn, mặc dù Quách
Tòng Ðức đã bí mật hội ý với Mai Thọ Truyền trước ngày ban hành lệnh cấm
treo cờ, Phật tử biểu tình liên tiếp trong hai ngày 7 và 8/5 để chống
lệnh cấm và đòi bình quyền tôn giáo. Ngày 9/5, Thượng tọa Tâm Châu, Phó
Hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, thành lập Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ
Phật Giáo–quyết “Tử Vì Ðạo.” Ủy ban Liên Phái qui tụ 11 Hội đoàn, gồm
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, Giáo Hội Tăng
Già Bắc Việt tại miền Nam, Hội Phật Học Nam Việt, Hội Phật Giáo Trung
Việt, Hội Phật Giáo Bắc Việt tại miền Nam [thuộc Tổng hội Phật giáo Việt
Nam; 1960-1965: Hội chủ: Hòa thượng Tịnh Khiết; Phó Hội chủ: Thượng tọa
Tâm Châu, Mai Thọ Truyền], Giáo Hội Thiền Ðịnh Ðạo Tràng (chùa Phật
Bửu, đường Cao Thắng; Ðạo chủ là Hòa thượng Minh Trực, có 16 chùa), Giáo
Hội Tăng Già Kampuchia [người Việt gốc Khmer], Hội Phật Giáo Kampuchia
[người Việt gốc Khmer], (chùa Chantareansey, đường Trương Minh Giảng,
Phú Nhuận; Lục cả Lâm Em), Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy [Therevada]
(chùa Kỳ Viên, đường Phan Ðình Phùng [người Việt], Ðại Ðức Bửu Chơn,
Tăng thống), Hội Phật Giáo Nguyên Thủy [người Việt] (Hội trưởng: Nguyễn
Văn Hiếu; ngoài chùa Kỳ Viên còn có 6 chùa khác: chùa Bình Ðông, Phú
Lâm, Gò Dưa, Bình Hòa (chùa Phổ Minh) và Ðà Nẵng (Tam Bảo)). Tâm Châu,
một tăng di cư, từng vận động chống việc chiếu phim về Phật Thích Ca,
được cử làm Chủ tịch; với Mai Thọ Truyền, Tổng thư ký. Văn phòng đặt tại
chùa Xá Lợi trên đường Bà Huyện Thanh Quan. (28)
Thượng tọa Tâm Châu
cũng gửi tâm thư cho các tăng ni mọi cấp, kêu gọi mọi người quyết tâm
bảo vệ giáo kỳ với tinh thần “tử vì đạo.” (29) Riêng Thượng tọa Thiện
Hòa (1907-1978), Trị sự trưởng Giáo Hội Tăng Gìa Toàn Quốc, kêu gọi tinh
thần bất bạo động, hòa giải. (30)
Cuộc đàn áp ở Huế không chỉ tạo
nên tia lửa điện tranh đấu trong hàng ngũ Phật tử Việt Nam mà cũng khiến
Bộ Ngoại Giao Mỹ đặc biệt quan tâm. Dù tuyên bố trung lập, Bạch Cung có
thiện cảm với Phật Giáo. Từ Oat-shinh-tân, chiều 9/5 [04G24 sáng 10/5
VN], Ngoại trưởng Dean Rusk chỉ thị Ðại sứ Frederick Nolting yêu cầu
Diệm: (1) Không nên đàn áp Phật tử, (2) bày tỏ cảm tình với gia đình nạn
nhân và giúp tiền an táng, (3) sử dụng những biện pháp thích nghi để
vãn hồi trật tự, và (4) tạo tinh thần thân ái giữa các nhóm giáo
dân.(31)
Trong khi đó, Trung ương Tình báo Mỹ [CIA] ghi nhận Cao Ðài
và Hoà Hảo đang thảo luận phối hợp hành động với Phật giáo. Lại cũng có
tin tuyệt thực đã bắt đầu tại Huế từ ngày 12/5. Theo Trung tá Trần Văn
Thưởng–Giám đốc Cảnh Sát Công An Trung nguyên Trung Phần, người đã điều
tra về việc đàn áp Phật Giáo ở miền Trung năm trước–Phật tử dự định biểu
tình khắp đồng bằng miền Trung ngày 21/5. Tại Sài Gòn cũng có tin sẽ
biểu tình ngày 21/5.(32)
Do Nolting dàn xếp, ngày 15/5, Tổng thống
Diệm tiếp đại diện Phật giáo tại Sài Gòn. Phái đoàn này gồm Thượng tọa
Thiện Hòa (Trị sự trưởng Giáo Hội Tăng Già Toàn quốc); Thiện Hoa (Trị sự
trưởng Giáo Hội Nam Việt); Thiện Thái (Trị sự trưởng Giáo Hội Bắc
Việt), Lâm Em (Trị sự trưởng Chùa Chantereansey), Dũng Chí (Phật Giáo
Nguyên Thủy), cùng hai cư sĩ Mai Thọ Truyền (Hội trưởng Hội Phật học Nam
Việt), và Vũ Bảo Vinh (Hội trưởng Hội Phật học Bắc Việt). Phe chính phủ
có Bui Văn Lương (Nội vụ) và Paul Ngô Trọng Hiếu (Công dân vụ).(33)
Theo
Việt Tấn Xã ngày 17/5, về đòi hỏi số 1 (rút lại lệnh cấm treo cờ Phật
giáo), Diệm cho rằng cả Ki-tô lẫn Phật giáo đã có lỗi về việc treo cờ;
chỉ được treo giáo kỳ trong các thánh đường hay chùa. Về đòi hỏi thứ hai
(Dụ số 10), Diệm nói sẽ cứu xét lại. Ðiểm 3, về việc bắt giữ Phật tử và
tăng ni, Paul Hiếu nói không hề có “khủng bố.” Lương cũng khẳng định
“không hề có việc quân đội ném lựu đạn, xe thiết giáp bắn trọng pháo hay
cán vào đám đông. . . . Sự thật chỉ có hai trái mìn từ lực [plastic] do
Việt Cộng thừa lúc lộn xộn mà giựt, vì Quân đội không có plastic và căn
cứ vào vết tích còn lại.” Diệm nói những người bị bắt có hành động bất
an cho dân chúng và chính quyền, nếu tha ra, phần tử xấu sẽ lợi dụng.
Ðiểm 4, về tự do tín ngưỡng, Diệm xác nhận đó là quyền hiến định. Ðiểm
5, về bồi thường, Diệm chỉ hứa sẽ nghiên cứu việc trợ cấp. Ðại diện Phật
giáo đưa thêm hai đề nghị: ra Huế thăm viếng những người bị bắt giữ và
tổ chức cầu siêu cho nạn nhân. Diệm nói sẽ cứu xét đòi hỏi thứ nhất, và
đồng ý đòi hỏi thứ hai, với điều kiện chỉ tổ chức trong khuôn viên các
chùa. Nhưng đại diện Phật giáo, qua buổi họp này, kết luận rằng Diệm
chưa có quyết định nào rõ rệt. (34) Họ kiên nhẫn chờ đợi thiện chí của
chính phủ. Có lẽ vì vậy, Trí Quang đồng ý tu chính lại 5 nguyện vọng, và
ngày 15/5, nhờ Ðẳng chuyển thư cho Cẩn, hứa không tranh đấu nữa. (35)
Ðáng
ghi nhận là từ ngày 15/5 này, Bộ trưởng Nội vụ Lương bắt đầu thay “lựu
đạn” bằng hai trái mìn từ lực của Cộng Sản mà quân đội không được cấp
phát. Ðây là nỗ lực “sửa sai” đầu tiên của chế độ để chối bỏ tội lỗi
(trong khi mãi tới ngày 25/5, Diệm mới thú nhận là cấp dưới đã báo cáo
sai lạc về một hay nhiều trái lựu đạn).(36)
Vì sắp qua Greece [Hy
Lạp] nghỉ thường niên, Nolting khuyên Diệm nên ra tuyên cáo chính thức
về vấn đề Phật Giáo. Nolting cũng tiếp xúc Khâm sứ Vatican là Salvatore
d’Asta và Linh mục Cao Văn Luận để thuyết phục Diệm.
Theo Bộ trưởng
Phủ Tổng thống Nguyễn Ðình Thuần, thương thuyết với Phật giáo tiến triển
tốt đẹp, nhưng chủ chốt là chính phủ muốn tránh trách nhiệm.( 37)
Ngày
18/5, khi cùng XLTV Ðại sứ William C. Trueheart qua chào tạm biệt Diệm,
Nolting cố thuyết phục Diệm đáp ứng nguyện vọng của Phật giáo. Nolting
muốn Diệm tuyên bố chịu trách nhiệm về biến cố ở Huế, bồi thường nạn
nhân, và tái khẳng định chính sách bình quyền tôn giáo và không kỳ thị.
(38) Diệm không hứa điều gì. Diệm vẫn tin, hoặc muốn diễn giải rằng biến
cố ở Huế là do các lãnh tụ Phật giáo khích động; những người ở Huế chết
vì một hay nhiều trái lựu đạn, do Cộng sản hay phe chống chế độ ném,
không phải viên chức chính phủ; và một số lãnh đạo Phật giáo lợi dụng
biến cố ở Huế để củng cố thế lực trong nội bộ Giáo hội. Dưới mắt Diệm,
vấn đề Phật giáo không quá nghiêm trọng như Mỹ tưởng nghĩ.(39) Dù được
xem những khúc phim về cuộc đàn áp Diệm không thay đổi lập trường.(40)
Diệm
chỉ cách chức Ðẳng, đưa Nguyễn Văn Hà ra Huế. Ðồng thời, bổ nhiệm
Nguyễn Xuân Khương, đương kim Tổng Giám Ðốc Ðiền Ðịa, làm Ðại biểu Trung
Nguyên Trung Phần, hiệu lực từ ngày 1/6/1963.
Cho rằng chính phủ kỳ
thị Phật Giáo, tăng ni quyết tranh đấu đến cùng. Ngày 19/5, Hòa thượng
Tịnh Khiết thông báo cho Ðại biểu TNTP và Tư lệnh QÐ I rằng đã cho hai
Thượng tọa Mật Nguyện và Trí Quang tuyệt thực để cầu cho nguyện vọng của
Phật Giáo.( 41) Ngày 23/5, năm lãnh tụ Phật giáo, gồm cả Tịnh Khiết, ra
tuyên ngôn khẳng định lập trường bất bạo động và phi chính trị, nhưng
cương quyết đòi chính phủ phải thỏa mãn đòi hỏi của Phật Giáo “trong một
thời [gian] càng sớm càng tốt,” đồng thời ngưng ngay những cuộc “khủng
bố, bắt giữ.” ( 42)
Tại Sài Gòn, sáng ngày 21/5, 600 tu sĩ làm lễ cầu
siêu cho nạn nhân ở Huế, rồi diễn hành từ chùa Ấn Quang đến Xá Lợi. Bốn
ngày sau, Ủy Ban Liên Phái ra tuyên cáo ủng hộ 5 nguyện vọng của Phật
Giáo, và hứa đoàn kết tranh đấu cho bằng được các nguyện vọng trên. (43)
Phần
chính phủ vẫn im lặng khó hiểu. Mặc dù từ ngày 24/5 các chuyên viên y
khoa khẳng định rằng thương tích nạn nhân ở Huế đêm 8/5 không do mảnh
lựu đạn gây nên Diệm vẫn chẳng tỏ một thái độ hòa giải nào. (44)
Các
lãnh đạo Phật Giáo bèn quyết định mở rộng cuộc tranh đấu: Ngày 28/5, Tâm
Châu thông báo với Diệm là sẽ tổ chức tuyệt thực trong vòng 48 giờ, kể
từ 14 giờ ngày 30/5/1963.(45)
Hôm sau, 29/5, báo chí mới đăng thông
cáo của Diệm, khẳng định quyền tự do và bình đẳng tín ngưỡng được qui
định trong điều 17 của Hiến Pháp; nhưng vẫn bảo vệ lệnh treo cờ, vì quốc
kỳ phải có địa vị tối thượng, và khẳng định chính phủ “không hề có ý
nghĩ phân biệt đối xử với bất cứ tôn giáo nào.”( 46)
Thời gian này,
báo chí Mỹ cũng ra sức ủng hộ Phật Giáo. Gây chấn động nhất là bài trên
tuần báo Newsweek số đề ngày 27/5/1963, vạch trần sự lộng hành của tập
đoàn cai trị Ki-tô của Thục cùng các “quan” ở Huế.( 47) Ngày 29/5, tại
Mỹ, báo New York Times [New York Thời Báo] cũng khai thác ngay bản tin
của Ủy Ban Liên Phái, tường thuật rằng Phật tử rất bất mãn về cách đối
xử của Diệm, và đang chuẩn bị đấu tranh tuyệt thực, đồng thời tổ chức
cầu siêu trong vòng 4 tuần lễ. David Halberstam–một ký giả lập nên sự
nghiệp nhờ chiến tranh Việt Nam và chủ trương nhà Ngô phải ra đi–thuật
lại rằng trong buổi họp ngày 15/5, Diệm đã lên án các tăng sĩ là “bọn
khùng” [damn fools] khi đòi hỏi bình đẳng tôn giáo, vì quyền này đã được
Ðiều 17 của Hiến pháp (một bộ tiểu thuyết luật pháp và nhân quyền) bảo
đảm.
Bộ Ngoại Giao Mỹ vội thông báo cho Trueheart về nội dung bài báo
trên, đồng thời chỉ thị Trueheart phải đích thân gặp Diệm, thuyết phục
Diệm thỏa mãn nguyện vọng của Phật giáo. (48) Hôm sau, Bộ Ngoại Giao
đồng ý cho Trueheart gặp Khâm sứ Vatican, nhờ khuyên bảo Diệm về vấn đề
Phật Giáo. (49)
Trueheart chưa kịp gặp Diệm, Phật Giáo đã hành động.
Hòa thượng Tịnh Khiết–đúng hơn nhóm lãnh đạo tranh đấu–chỉ thị cho các
tăng sĩ tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ kể từ 2 giờ chiều ngày 30/5. Ngày
này, tại Sài Gòn, 350 tăng ni biểu tình trước Quốc Hội, rồi tuyệt thực.
(50) Tại Huế, dù chùa Từ Ðàm bị cô lập, các cấp lãnh đạo Phật giáo vẫn
tuyệt thực. Khoảng 3,000 Phật tử bị vây hãm trong vòng rào kẽm gai. Tại
Quảng Trị, Phật tử biểu tình trong trật tự.
Ngày Thứ Bảy, 1/6, đúng
ngày Tỉnh trưởng Ðẳng, Phó Nội an Sỹ và Ðại biểu Trung phần bị thay thế,
nhiều đoàn Phật tử Huế tụ họp tại một số địa điểm trong thành phố, kể
cả Dinh tỉnh trưởng và Tòa Ðại biểu chính phủ miền Trung. Khoảng 10,000
người tụ họp trước chùa Từ Ðàm. Sau đó giải tán do yêu cầu của các tăng
sĩ. Ðỗ Cao Trí điều Nhảy Dù và M-113 từ Quảng Trị vào Huế đề phòng bất
trắc.( 51)
Tại Ðà Nẵng, Phật tử cũng tổ chức tuần hành không bạo động
vào ngày 1/6, do các tăng ni dẫn đầu. Tối hôm trước, 31/5, Ðại tá Lâm
Văn Phát, Tư lệnh Sư đoàn 2 BB–một giáo dân Ki-tô tân tòng, thường tự
chứng tỏ là rất trung thành với chế độ–cho lệnh các đơn vị dưới quyền
chuẩn bị chống biểu tình. Chiều 1/6, một xe vận tải hai tấn rưỡi (GMC)
của quân đội chở đầy đạn bỗng dưng bị hư máy ở một ngã tư cách Toà Thị
chính một khu phố về phía Bắc. Cấp chỉ huy bèn phái một xe GMC khác tới
tháo rỡ đạn, dưới sự bảo vệ an ninh của một đơn vị tác chiến. Quân Cảnh,
Cảnh Sát và Công An cũng chặn đường từ phía Nam lên Toà Thị chính.
Kế
hoạch của Phát không đủ ngăn cản Phật tử biểu tình trong trật tự. Các
tăng ni dẫn đầu một đoàn phụ nữ và thiếu niên diễn hành qua đường phố,
với khẩu hiệu đòi tự do tín ngưỡng và bình quyền tôn giáo. Tới trước cửa
Toà Thị chính, 7 nhà sư rời đám đông, biểu tình ngồi; trong khi Phật tử
tiếp tục cuộc diễn hành, rồi giải tán.
Giữa lúc Phật tử đang biểu
tình, Phát vào gặp Thị trưởng Hà Thúc Luyện, cho lệnh phải dời 7 nhà sư
đang ngồi trước Toà Thị chính, và giải tán cuộc diễn hành, cho dẫu “đích
thân Thị trưởng phải ném lựu đạn vào đám đông.” Luyện, dù là một cán bộ
Cần Lao cao cấp thân tín của Cẩn, từ chối. Trong đêm 2/6, Phát điều
thêm một số đơn vị khác vào thành phố. Một đại đội tăng cường cho Ty
Công An Ðà Nẵng (đối diện khách sạn). Phần quân nhân Phật tử bị cấm
trại. Trong đêm, 7 nhà sư bị bắt đi mất tích. Hôm sau, 3/6, Luyện bị cất
chức Thị trưởng; vào Sài Gòn trình diện. Trung tá Trần Ngọc Châu, Tỉnh
trưởng Kiến Hoà, một Phật tử gốc miền Trung, ra thay. (52)
Trong khi
Ðà Nẵng đang sôi động, ngày 2/6, Phật tử Quảng Trị lại biểu tình. Chính
quyền đàn áp bằng lựu đạn cay. Giao thông với Huế bị cắt đứt. (53)
Chiều
hôm sau, 3/6, tại Huế, khoảng 500 thanh niên tụ họp trước Tòa Ðại Biểu
Trung Phần. Quân đội “dàn chào” bằng lưỡi lê và lựu đạn cay. Các nẻo
đường dẫn đến chùa bị phong tỏa bằng kẽm gai. Phật tử biểu tình ngồi.
Binh sĩ dùng lựu đạn cay giải tán. Trong khi đó, Trí Quang đã tuyệt thực
nhiều ngày, sức khoẻ suy giảm. Ðại tá Trí ra lệnh giới nghiêm. Khoảng
18G30, quân đội lại tấn công mạnh Phật tử biểu tình tại chợ Bến Ngự.
Dùng cả chất hóa học (blister gas), khiến 67 nạn nhân bị nôn mửa, lưu
lại vết bỏng trên da.( 54)
Ðược báo cáo, ngày 3/6 [sáng 4/6 Việt Nam]
Bộ Ngoại Giao Mỹ hai lần chỉ thị Trueheart phải yêu cầu Diệm hoà giải
với Phật giáo và báo cáo rõ hơn về khói hóa học sử dụng để đàn áp Phật
tử.( 55) Trueheart vội đến gặp Thuần vào khoảng 11G45 ngày 4/6. Khác với
Nolting, Trueheart trở lại thái độ công khai áp lực mà cựu Ðại sứ
Elbridge Durbrow đã áp dụng. Trueheart cảnh cáo rằng Mỹ có thể ngưng yểm
trợ nếu còn đàn áp Phật Giáo. Thuần tiết lộ Hội đồng chính phủ đã đề
nghị thành lập một Ủy Ban Liên Bộ [UBLB] để cứu xét các đòi hỏi của Phật
Giáo như Trueheart yêu cầu từ ngày 1/6, và Diệm đã chấp thuận. Nhu cũng
hứa sẽ tiếp xúc với lãnh tụ Phật Giáo. Ngay chiều đó, Thuần còn mời
Trueheart tới tư dinh, nói đã thành lập một ủy ban điều tra về hơi độc ở
Huế, do Ðại tá Nguyễn Văn An, và Trung tá Y sĩ Liêm cầm đầu. Diệm cũng
sẽ tuyên bố thành lập UBLB, gồm Phó Tổng Thống Thơ, Lương, và Thuần.(
56)
Nhưng khoảng 17G00, Bộ Tư lệnh Quân viện Mỹ tại Việt Nam [MAC-V]
lại xin ý kiến Trueheart về việc Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu MAC-V không
vận 300 Cảnh sát từ Vũng Tàu ra Huế. Trueheart không chấp thuận.( 57)
Mùa Phật Ðản Ðẫm Máu (phần 2 Của 3)
III. TUYÊN CÁO CHUNG 16/6/1963:
Do áp lực Mỹ, từ giữa tháng 5/1963, Diệm đã gặp lãnh tụ Phật Giáo để
thảo luận về 5 đòi hỏi ngày 10/5. Tuy nhiên, chế độ chỉ muốn kéo dài
thời gian để vô hiệu hóa dần cuộc tranh đấu. Họ Ngô không muốn nhận
trách nhiệm vì cho đó là nhược điểm. Diệm cũng không muốn thỏa mãn các
nguyện vọng ngày 10/5 vì sợ Phật Giáo sẽ tiếp tục đòi hỏi nhiều hơn. Áp
lực khuyên Diệm hòa hoãn của Mỹ thì được giải thích theo một ý nghĩa
khác–thực ra, chế độ Diệm đang rơi vào một cuộc khủng hoảng niềm tin với
Mỹ, và Nhu đang bí mật ve vãn Cộng Sản với sự tiếp tay của Pháp và
India. (58)
Trong khi đó, lãnh tụ Phật Giáo khéo léo phối hợp giữa
biểu tình và ngoại giao, nhất là việc sử dụng các cơ quan truyền thông
quốc tế. Một số giáo chức Tây Germany [Ðức] và ký giả ngoại quốc cũng
tích cực tiếp tay. (59)
Biến cố gây xúc động nhất là cuộc tự thiêu
của Thượng tọa Quảng Ðức ở Sài Gòn ngày 11/6/1963. Có thể nói lần đầu
tiên mới có một cuộc đấu tranh tinh xảo đến thế. Bởi vậy, Mỹ không ngừng
áp lực Diệm phải giải quyết cuộc khủng hoảng.
Ngày 16/6, Diệm và
Tịnh Khiết ra một Thông cáo chung. Nhưng Diệm không thực tâm thi hành
những điều đã ký kết. Thục và vợ chồng Nhu-Lệ Xuân cũng tìm mọi cách
ngăn chặn việc thực thi tuyên cáo ngày 16/6. Phật giáo không lùi bước.
A. THƯƠNG THUYẾT:
Chiều ngày 5/6/1963, Ủy Ban Liên Bộ [UBLB] cùng
các Thượng Tọa Thiện Minh và Thiện Hoa ngồi vào bàn thương thuyết. Ngay
sau buổi họp đầu, cả đôi bên đều thất vọng về sự thiếu thành khẩn của
nhau. Dẫu vậy, Thuần cùng Thiện Minh, phụ tá của Trí Quang, bí mật đạt
được thỏa thuận sơ khởi trên 5 đòi hỏi của Phật giáo, với điều kiện phải
được Diệm phê chuẩn. ( 60) Hôm sau, 6/6, hai bên đồng ý chính phủ sẽ
rút quân đội và an ninh khỏi vùng lân cận các chùa, Ðỗ Cao Trí ngừng
biểu dương võ lực. Ngược lại, Phật giáo ngừng tuyên truyền chống chính
phủ.
Thiện Minh lập tức lên đường ra Huế tường trình về những điều
thỏa thuận với UBLB, mang theo một cư sĩ quen biết Thuần để bảo đảm rằng
những phần tử “quá khích” [extremist elements] không phá hoại thương
thuyết. Theo dự trù, Tịnh Khiết, đang tuyệt thực ngoài Huế, cũng sẽ vào
Sài Gòn ký tuyên cáo chung.( 61)
Ngày 6/6 này, Diệm đọc một diễn văn
truyền thanh ngắn, kêu gọi mọi người hãy bình tĩnh vì chính phủ cần thời
gian để giải quyết cuộc khủng hoảng.( 62)
Nhưng tại Huế, tình hình
thêm căng thẳng. Trong ngày 5/6, bạo động lại diễn ra khiến 4 Phật tử
chết, hơn 100 bị thương và hơn 1,000 người bị bắt. Hai sinh viên bị mất
tích. 3 y sĩ Germany [Ðức] và 2 y sĩ Mỹ đang phục vụ tại Huế đã tích cực
giúp đỡ Phật tử. Diệm bèn cho lệnh hai y sĩ Germany, Erich Wulff và
Hans Holterscheidt, phải lập tức rời cố đô. Sau đó, trục xuất họ khỏi
Sài Gòn với lý do “không được ưa chuộng” [Persona Non Grata].( 63)
Chính
quyền Huế còn ngưng tiếp tế cho những người biểu tình bị cô lập. Lãnh
sự John J. Helble báo cáo rằng tình trạng thực phẩm và nước uống tại
chùa Từ Ðàm đã ở mức báo động đỏ. Phi cơ chính phủ thì rải truyền đơn đả
kích Trí Quang và đòi bắt giữ cả Tịnh Khiết.( 64)
Tại Sài Gòn, thái
độ họ Ngô cũng đột ngột cứng rắn. Vợ chồng Nhu-Lệ Xuân công khai trách
mắng Thuần đã nhân nhượng quá nhiều. Ngày 7/6, Phong Trào Phụ Nữ Liên
Ðới [PTPNLÐ] của Lệ Xuân ra “quyết nghị” lên án những cuộc biểu tình
chống chính phủ là chống lại chính nghĩa quốc gia (anti-nationalist), bị
“Cộng sản khai thác và lợi dụng, dẫn đến hỗn loạn và trung lập.” Và yêu
cầu chính phủ không thể tiếp tục im lặng trước những mưu toan chính
trị, lập tức trục xuất những ngoại nhân chuyên phá hoại, dù mặc áo thày
tu hay không, đặc biệt là những kẻ mưu toan biến Việt Nam thành chư hầu
ngoại bang.( 65) Quyết nghị này được trao cho báo chí ngày hôm sau,
8/6/1963.
Ngày này, Trueheart gặp Thuần về quyết nghị của PTPNLÐ trên
nhưng Thuần thú nhận mình không giải quyết được gì. Chiều đó, Truehart
vào Dinh Gia Long, đích thân phản đối lời tuyên bố của vợ Nhu, và dọa sẽ
công khai không ủng hộ chính sách Phật giáo của Diệm. Diệm nói không
thể bác bỏ quyết nghị của PTPNLÐ, vì đây là một hội đoàn tư nhân, nhưng
sẽ cho lệnh Bộ trưởng Nội vụ phải để những người biểu tình tại chùa Từ
Ðàm được tiếp tế lương thực và nước uống. Diệm cũng nói không biết gì về
việc phi cơ chính phủ thả truyền đơn sỉ nhục lãnh tụ Phật giáo. Sau đó,
Diệm khẳng định lập trường: Sẽ thương thuyết trong thế mạnh; Phật giáo
vi phạm lời cam đoan tạm ngưng chiến dịch tuyên truyền, tiếp tục phát
tài liệu cho báo chí ngoại quốc (như Thiện Minh đã tiết lộ về những điều
khoản thỏa thuận); Phật giáo thiếu thành tín (bad faith). Lần đầu tiên,
Diệm thú nhận với Trueheart rằng chính quyền địa phương bất lực trong
việc đối xử với Phật giáo; vì mãi đến ngày 24/5–tức hơn hai tuần lễ sau
cuộc thảm sát ở Huế–chuyên viên y khoa mới báo cáo là thương tích không
do mảnh lựu đạn gây nên. Nhưng Diệm nhấn mạnh sẽ sử dụng mọi biện pháp
cần thiết để duy trì trật tự nếu hỗn loạn tiếp tục.( 66)
Hôm sau,
9/6, báo Times of Vietnam [Việt Nam Thời Báo] đăng nghị quyết ngày 7/6
của PTPNLÐ. Báo này nhấn mạnh vai trò các tăng sĩ Nam tông (Therevada)
trong những cuộc rối loạn hiện nay. Hàm ý là phe Nam tông có liên hệ với
chính sách trung lập hoá miền Nam của Charles de Gaulle và Norodom
Sihanouk. Các báo Việt ngữ không đăng. Diệm cũng cho lệnh đài phát thanh
không nhắc đến lời Lệ Xuân đả kích Phật Giáo. Tuy nhiên, lệnh này ban
hành sau khi đài Sài Gòn đã phát thanh vài ba lần.
Tại Huế, số Phật
tử bị phong tỏa đã 3 ngày không có nước uống, thực phẩm và thuốc men.
Một số tư nhân mang tặng thực phẩm, nước uống. Chính phủ cho chụp hình,
loan báo đó là do chính phủ cung cấp. Trong khi đó, điện thoại với Sài
Gòn bỗng dưng bị “hư.” Lãnh sự Helble không thể liên lạc được với
Trueheart. Thuần cũng lâm vào cảnh tương tự. Phi cơ chính phủ tiếp tục
rải truyền đơn, tố cáo Trí Quang là Cộng Sản. Ðây là bước chuẩn bị cho
việc bắt giữ các lãnh tụ tranh đấu–vì chỉ cần “liên hệ với phiến Cộng”
đã là trọng tội, có thể bị kết án từ khổ sai tới tử hình. Không ít người
đã bị tra tấn đến chết hay thủ tiêu. (67)
Tại Oat-shinh-tân, trưa
ngày 8/6 [đêm 8 rạng 9/6 tại Việt Nam], Ngoại trưởng Rusk chỉ thị
Trueheart yêu cầu Diệm bác bỏ nghị quyết của PTPNLÐ, rút lại Sắc luật số
10, và cần xác định chính phủ duyệt trước hay chăng lời tuyên bố của Lệ
Xuân. Lời tuyên bố của Lệ Xuân, Rusk nhấn mạnh, làm suy giảm vị thế của
VNCH, và tổn hại uy tín của Mỹ, có thể gây khó khăn cho việc tiếp tục
yểm trợ VNCH tại Quốc Hội cũng như dư luận Mỹ. (68) Ngày 9/6, Trueheart
gặp Thuần, cho biết chỉ thị của BNG Mỹ. Rồi đả kích việc chính phủ đang
chuẩn bị phản biểu tình vào ngày 10 hay 11/6. Kế hoạch phản biểu tình
của Paul Hiếu này gồm có những thủ thuật sử dụng “sư giả” từ các tỉnh,
Thanh Niên Cộng Hoà và bọn tệ đoan xã hội Chợ Lớn giả làm sư. Trueheart
cảnh cáo rằng nếu quả thực như vậy, cần phải ngừng ngay. Trueheart cũng
nêu lên vấn đề giáo dân Ðà Nẵng đang chuẩn bị ra nghị quyết cách chức
Thiếu tá Thiệt, Tỉnh trưởng Quảng Nam, nhân dịp làm lễ cầu hồn cho Giáo
hoàng John XXIII (1958-1963) vào ngày 10/6. Nếu đúng sự thực, cần chấm
dứt ngay. Trueheart còn nêu lên vấn đề 4 ký giả (Michaud của AFP,
Sheehan của UPI, Browne của AP và Parry của báo NY Times) đã bị bắt giữ 1
giờ đồng hồ tại Quận 3. Hành động này, Trueheart bảo thẳng Thuần, là
“khùng” và bất lợi. ( 69)
Mãi tới 9 giờ sáng ngày Thứ Hai, 10/6,
Thuần mới gặp Trueheart để phúc đáp. Thuần nói đã trình bày với Diệm và
Nhu về những đề nghị của Mỹ. Về Sắc luật số 10, Diệm không có quyền rút
lại. Quyết nghị của PTPNLÐ không phải là “tuyên bố của bà Nhu,” mà là
của “một tổ chức đại chúng” (cả Thuần lẫn Trueheart đều mỉm cười). Diệm
đã điện thoại cho Paul Hiếu trước mặt Thuần về vấn đề tổ chức phản biểu
tình. Hiếu chối không có kế hoạch đó. Cũng không có kế hoạch đòi cách
chức Tỉnh trưởng Quảng Nam. Ðang dàn xếp cho những người trong chùa Từ
Ðàm ở Huế ra về không gặp trở ngại, ngoại trừ các công chức. Chính phủ
không đứng ra tổ chức lễ cầu hồn cho John XXIII. Diệm vẫn muốn thương
thuyết, nhưng cần cô lập những thành phần quá khích. UBLB sẽ họp lúc
10G00 để nghiên cứu lá thư mới nhất của UB Tranh đấu Phật giáo.( 70)
B. NGỌN LỬA CÚNG DƯỜNG ÐẠO PHÁP:
Biến cố khiến cuộc tranh đấu của
Phật giáo được dư luận thế giới chú ý nhất là cuộc tự thiêu của Thượng
tọa Quảng Ðức tại ngã tư Phan Ðình Phùng-Lê Văn Duyệt Sài Gòn (ngay
trước Tòa Ðại sứ Kampuchea).
Quảng Ðức, tục danh Lâm Văn Tức
(1897-1963), đang tu tại chùa Quán Thế Âm trên đường Nguyễn Huệ, Gia
Ðịnh. Lúc 9G30 sáng ngày 11/6–giữa lúc Diệm và hầu hết nhân viên cao cấp
trong chính phủ đang tham dự buổi quốc lễ cầu hồn cho Giáo Hoàng John
XXIII– chiếc xe Austin của một Phật tử, dưới sự dẫn đường của một đoàn
400-500 tăng sĩ, đưa Quảng Ðức tới chỗ hóa thân. Ðịa điểm này được các
tăng ni làm hàng rào cản không cho Cảnh sát can thiệp. Số khán giả tò mò
lên tới khoảng 500 người, ngày càng đông. Một số ký giả như Sheehan của
hãng UPI cũng được báo trước. Từ xe bước xuống giữa ngã tư, Quảng Ðức
ngồi xuống theo thế thiền định, nhờ một Ðại đức đổ xăng lên thân thể
mình, rồi tự tay châm lửa bằng diêm (quẹt). Malcolm Browne, nhân viên
hãng AP, thu được tấm hình này–bức hình rồi sẽ gây chấn động dư luận thế
giới. (71) Trưa đó, khoảng 400 tăng sĩ đưa thi hài Quảng Ðức tới chùa
Xá Lợi. 2,000 Phật tử cũng lũ lượt kéo nhau tới chùa. Khoảng 1,000 Cảnh
sát tới “bảo vệ an ninh,” nhưng các tăng ni được di chuyển tự do. (72)
Khoảng
12G30, quân đội được lệnh cấm quân. Bảy tiểu đoàn Dù nhận lệnh ứng
chiến. Ðại tá Lê Quang Tung tăng cường 2 Ðại đội Lực Lượng Ðặc Biệt
[LLÐB] cho Sài Gòn, trí quân trong phi trường Tân Sơn Nhất. Nhân viên Mỹ
được nghỉ sớm, và khuyến cáo không nên đến gần các đám biểu tình. (73)
Phần
Trueheart tới gặp Thuần tại tư dinh, bảo thẳng Thuần rằng Diệm phải có
thái độ ngay chiều đó, bằng không Mỹ sẽ tuyên bố không liên hệ đến chính
sách tôn giáo của Diệm. Khi Thuần hỏi có thể dẫn lời Trueheart cho Diệm
và Nhu nghe được không, Trueheart đồng ý. Trueheart cũng lưu ý Thuần về
kháng thư của PTPNLÐ đăng trên Times of Vietnam sáng đó để phản đối
hãng UPI khi gửi đi bản tin của Sheehan; và cảnh cáo rằng nếu đây là
bước đầu để trục xuất Sheehan thì là một điều “ngu xuẩn” (stupid). (74)
Phó
Tổng thống Thơ và Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu cũng vào yêu cầu Diệm phải có
hành động tức khắc, đồng thời chỉ thị UBLB xúc tiến nhanh việc thương
thuyết với Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo Tranh Ðấu. (75)
Ngay tối 11/6
đó, Diệm đọc diễn văn, cam kết là “phía sau Phật Giáo trong nước còn có
Hiến Pháp, tức là có tôi.” (76) Diệm hy vọng diễn văn truyền thanh của
mình sẽ trấn an dư luận cho tới hôm sau, khi UBLB gặp mặt Ủy Ban Liên
Phái.
Tại Oat-shinh-tân, gần nửa đêm 11/6 [gần trưa 12/6 tại Việt
Nam], Rusk chỉ thị cho Trueheart: “Nếu Diệm không có những bước cấp tốc
và hiệu lực để giải quyết cuộc khủng hoảng để gây lại niềm tin của Phật
tử, chúng ta sẽ phải tái duyệt xét việc ủng hộ chế độ Diệm.” (77)
Tối
ngày 12/6, Trueheart mới gặp được Diệm. Không những thông báo cho Diệm
biết cuộc tự thiêu của Quảng Ðức đang gây sôi nổi dư luận thế giới,
Trueheart còn trao cho Diệm một văn bản cảnh giác–theo đúng chỉ thị của
Rusk–là Mỹ có thể sẽ công khai tuyên bố không ủng hộ chính sách Phật
giáo của Diệm. Trước khi kiếu từ, Trueheart nêu lên 3 điểm:
1. Báo cáo ngày 11/6 cho biết chính quyền Huế và Ðà Nẵng tiếp tục bắt giữ người biểu tình.
2.
Chính phủ không thể truy tố những người “giúp” Quảng Ðức tự thiêu.
(Diệm nói có người giúp Quảng Ðức đổ xăng lên mình, và châm lửa.
Trueheart nhấn mạnh rằng hai nhân chứng đích mắt thấy Quảng Ðức tự mình
tưới xăng và châm lửa).
3. Có tin chính phủ đang cấm các tăng ni từ
các tỉnh vào Sài Gòn. (Cả Diệm lẫn Thuần trả lời là vì lý do an ninh.
Diệm thêm rằng Quốc Hội đang thành lập tiểu ban nghiên cứu việc sửa đổi
Sắc Luật số 10). (78)
C. THÔNG CÁO CHUNG:
Từ sáng 12/6, Hoà thượng Tịnh Khiết cùng Trí
Quang và Thiện Minh rời Huế vào Sài Gòn để thương thuyết với UBLB. Ba
lãnh tụ Phật giáo tới phi trường Tân Sơn Nhất lúc 13G15, và tạm trú tại
chùa Xá Lợi. (79) Phó TT Thơ viết thư yêu cầu hai bên họp ngay lúc 18G00
hôm đó để giải quyết mau chóng các đòi hỏi của Phật giáo. Phật giáo
muốn trì hoãn ít ngày để bàn bạc với các đại diện miền Nam, nên nêu lý
do Tịnh Khiết còn yếu sau 5 ngày tuyệt thực, cần tĩnh dưỡng ít lâu. Thơ
lại đề nghị gặp nhau hôm sau, giờ và địa điểm do Phật giáo chọn. Cuối
cùng, Phật giáo đề nghị họp ngày 14/6, với điều kiện chính phủ nhân
nhượng toàn bộ 5 đòi hỏi ngày 10/5/1963. ( 80)
Ngày 14/6, phái đoàn
Phật Giáo do Thiện Minh làm Trưởng đoàn–gồm Thiện Hoa, Tâm Châu, Huyền
Quang (Thư ký), và Ðức Nghiệp (Phó Thư ký)–bắt đầu họp với UBLB. Do áp
lực của Trueheart, ngay sáng hôm đó, chính phủ nhượng bộ đòi hỏi thứ
nhất: đồng ý cho Phật tử treo cờ. Trong phiên họp chiều, đồng ý sửa lại
Sắc luật số 10. Ðể tỏ thiện chí, Tịnh Khiết kêu gọi Phật tử tạm ngưng
biểu tình. ( 81)
Hôm sau, khoảng 18G30, thương thuyết hoàn tất. Ngày
Chủ Nhật, 16/6, hai bên ra thông cáo chung với những điều khoản sau:
Ngưng áp dụng Dụ số 10; cứu xét lại những khiếu nại của Phật Giáo; xác
nhận tự do tôn giáo; sẽ “trợ cấp” (không “bồi thường”) cho gia đình nạn
nhân ở Huế. Tịnh Khiết và Diệm cùng ký vào Tuyên Cáo–nhưng Diệm không ký
ngang chỗ “Khán” của Tịnh Khiết mà ghi vào góc trên của bản Thông cáo
chung như sau: “Những đều được ghi trong thông cáo nầy thì đã được tôi
chấp nhận nguyên tắc ngay từ đầu; Ngô Ðình Diệm.” (82)
Trong khi
thương thuyết đang diễn ra, Phật tử và một số lãnh tụ Phật giáo thiên về
bạo động hơn. Ngày 13/6, Phật tử khắp nơi treo cờ Phật Giáo, chống lệnh
cấm của Diệm (thực ra Diệm đã bí mật đồng ý). Buổi lễ cầu siêu cho
Quảng Ðức ngày 16/6 tại chùa Xá Lợi qui tụ hàng chục vạn người. Hơn
500,000 thanh niên, hoc sinh và Phật tử xuống đường biểu tình. Xô xát
Cảnh Sát kéo dài 45 phút trước chùa. (83) Buổi tối, Thiết Giáp phải tăng
cường cho Cảnh Sát. Một thiếu niên 15 tuổi bị tử thương vì trúng đạn ở
đầu. 3 tăng và 2 Phật tử bị thương. Hàng ngàn người bị bắt giữ. (84)
Ba ngày sau, 19/6, nhờ Cảnh Sát, Công An nỗ lực ngăn chặn Phật tử tham dự, lễ hỏa táng Quảng Ðức bớt hỗn loạn hơn.
IV. GIAI ÐOẠN “HƯU CHIẾN,” 19/6-20/8/1963:
Thông cáo chung ngày 16/6/1963 là cơ hội tốt nhất cho chính phủ Diệm
giải quyết cuộc khủng hoảng Phật Giáo. Nhưng vì những nguyên do thầm
kín, họ Ngô quyết định không tôn trọng những điều đã cam kết. Phật Giáo
chẳng phải không đề phòng. Lãnh đạo Phật Giáo chỉ tạm thời “ngưng chiến”
trong vòng 2 tuần lễ, chờ đợi thành tâm của chính phủ.
A. NỖ LỰC PHÁ HOẠI THÔNG CÁO CHUNG 16/6/1963:
Có dấu hiệu cho thấy vợ chồng Nhu-Lệ Xuân muốn phá hoại việc thực hiện thông cáo chung với Phật giáo.
Một
mặt, Nhu vận động các hội Phật giáo độc lập chống lại cuộc tranh đấu.
Ngày 20/6, Phật Giáo Cổ Sơn Môn –mới thành lập tại chùa Giác Lâm, Chợ
Lớn; do Huệ Tâm, Hoà thượng trụ trì chùa Trung Nghĩa, Sa Ðéc, thủ lĩnh
Lục Hòa Tăng làm Tăng thống–tuyên bố ủng hộ chính sách tôn giáo của
chính phủ, và đứng ngoài chính trị.( 85) Nhu còn cho lệnh cắt bỏ đoạn
phim thời sự về cuộc thương thuyết giữa chính phủ và Phật giáo.
Mặt
khác, Nhu sai các tỉnh tổ chức mít-tinh lên án phong trào tranh đấu của
Phật giáo và phong tỏa các chùa chiền. Ðoàn viên Thanh Niên Cộng Hoà
[TNCH] mặc đồng phục xanh dương đậm đi lấy chữ ký để ra thỉnh nguyện thư
phản đối bản thông cáo chung 16/6/1963, và chuẩn bị biểu tình đòi xét
lại thông cáo chung này. Bản thông cáo số 3 của TNCH đệ trình lên “Tổng
thủ lãnh” Nhu đề ngày 25/6/1963 gồm nhiều lời đả kích Phật giáo nặng nề
như “dị đoan cuồng tín,” “phản loạn, tay sai của kẻ thù chung,” v.. v...
Ðồng thời, lên án Tuyên cáo chung 16/6/1963 là “không phù hợp với lý
tưởng của TNCH, co đặt những đặc quyền và độc quyền cho một nhóm, có
những chủ trương trái với luật lệ hành chánh.” ( 86) Trước sự phản kháng
của Phật giáo, ngày 1/7/1963, TNCH lại ra Tuyên cáo số 4, ám chỉ lãnh
tụ Phật giáo tranh đấu liên hệ với bọn phản loạn và phản quốc, trong khi
đích thân Tổng thủ lãnh “cảnh giác để không cho phép bọn đầu cơ chính
trị và Cộng Sản lợi dụng Thông cáo chung [16/6] đó hầu làm sai lệch nó
ra ngoài phạm vi tôn giáo.”( 87)
Lệ Xuân thì cho PTPNLÐ họp tại trụ
sở trung ương ngày 16/6, dùng loa phóng thanh công bố Quyết nghị ngày
7/6. Rồi ra một Bạch thư [Sách trắng], do vợ chồng Gene và Ann Gregory,
chủ nhiệm báo Times of Vietnam soạn thảo, đăng trên chính tờ Times of
Vietnam số ra ngày 17/6, miệt thị cuộc tranh đấu của Phật giáo, tố cáo
cuộc tranh đấu không vì lý do tôn giáo mà chỉ vì lý do chính trị. ( 88)
Rồi
đến kế hoạch ăn mừng lớn suốt ba ngày, từ 25 tới 27 tháng 6/1963, để kỷ
niệm 25 năm Thục được phong chức Giám mục (Lễ Ngân Khánh = Tea Deum).(
89)
Có lẽ anh em họ Ngô muốn sử dụng ngày lễ này để vận động sự ủng
hộ của khối giáo dân Ki-tô chống Phật Giáo. Bởi thế, ngày 16/6, Tổng
Giám Mục Paul [Nguyễn Văn] Bình chỉ thị các họ đạo phải giữ tôn giáo
biệt lập với chính quyền. “Một giáo dân Ki-tô tốt, và đạo hạnh, là công
dân thượng hạng, ràng buộc với tổ quốc, trung thành với chế độ cầm
quyền, bất kể sự chính thống của chính quyền ấy.” Ðó là lời giải thích
của Pie XI, trong Sắc Dụ ngày 31/12/1929.” (90)
Hệ thống tuyên truyền
của chế độ cũng tìm đủ cách hạ giá trị các lãnh tụ và mục tiêu tranh
đấu của Phật tử. Cán bộ chính phủ loan tin Cộng Sản đã nhúng tay vào máu
khi ném lựu đạn vào đám đông đêm 8/5/1963. Khi những cuộc giải phẫu tử
thi không tìm thấy mảnh lựu đạn, câu chuyện biến thành mìn từ lực Cộng
Sản. Ít năm sau, lại mọc ra chi tiết một Ðại úy Mỹ đã chết từng tự nhận
đặt chất nổ.
Thượng tọa Trí Quang, linh hồn của cuộc tranh đấu miền
Trung, bị cáo buộc là cán bộ Cộng Sản cao cấp, từng bị Pháp bắt giữ, âm
mưu lật đổ chính quyền từ năm 1960. Hòa thượng Tịnh Khiết, theo những
lời tuyên truyền này, không biết quốc ngữ, chỉ ký vào những gì các sư
trẻ, quá khích bắt buộc phải ký. Cuộc tự thiêu của Quảng Ðức không tự
nguyện, mà là một hình tội sát nhân. Quảng Ðức, theo lập luận này, đã bị
chích thuốc trước khi “sát nhân” đổ dầu và châm lửa đốt cháy. Diệm và
Nhu còn đe sẽ truy tố những người đã trợ giúp thượng tọa hóa thân ra
tòa.
Lệ Xuân thì khẳng định rằng cuộc tự thiêu của Quảng Ðức chỉ là
một màn “nướng thịt sư” [barbecue of a bonze] với xăng nhập cảng. Bác sĩ
riêng của Diệm mật báo với Nolting rằng Quảng Ðức bị một số sư trẻ
thuyết phục nên tự thiêu; vì ít năm trước, Quảng Ðức từng hứa với một
người bạn là sẽ “đồng tử,” và nay người bạn đó đã chết, Quảng Ðức cần
giữ lời thề. Nói cách khác, Quảng Ðức không thích chính trị, và không tự
thiêu để chống chính phủ. ( 91)
Trong khi đó, tại vài địa phương,
viên chức thông tin loan tin chống Phật Giáo, chùa chiền bị phong tỏa,
sinh viên, học sinh và thanh niên Phật tử liên tục bị gây khó khăn, và
bắt giữ. Ðiều khiến các lãnh tụ tranh đấu bất mãn nhất là tổ chức Cổ Sơn
Môn công khai tố cáo phe tranh đấu có ý đồ làm chính trị. Ngày 26/6,
Tịnh Khiết phải than với Diệm rằng “tình thế không những không thay đổi
mà còn trầm trọng hơn.”( 92)
Ngày 1/7, Hoàng Văn Giàu, Trưởng đoàn
Thanh Niên Phật Tử, gay gắt lên án thái độ của chính phủ và kêu gọi Phật
tử quyết tâm tranh đấu. (93)
B. NỖ LỰC HÒA GIẢI CỦA MỸ:
Kennedy và các cố vấn cực kỳ bối rối.
Trong một phiên họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia [ANQG], Kennedy đặt câu
hỏi phải chăng Quảng Ðức đã bị “thuốc” [drugged], nhưng các cố vấn khẳng
định đức tin đã quá đủ cho những hy sinh tương tự. Dù là giáo dân
Ki-tô, ủng hộ Diệm từ thập niên 1950, Kennedy chỉ thị Ðại sứ Sài Gòn áp
lực bắt Diệm phải đáp ứng ngay đòi hỏi của Phật giáo. Ngày 14/6 [11 giờ
sáng 15/6/1963 VN], Rusk chỉ thị Trueheart cứu xét việc đưa Phó Tổng
thống Thơ lên thay Diệm trong trường hợp bất trắc, và Trueheart phải
tiếp xúc Thơ cùng những người không ủng hộ Diệm. (94) Nhưng hai ngày
sau, Trueheart trả lời là không tiện bàn với Thơ, vì tình hình đã sáng
sủa hơn–Phật giáo và UBLB đạt được thông cáo chung. Trueheart chỉ hứa sẽ
thuyết phục Diệm hoà hoãn, và nếu Diệm không chịu thực thi thông cáo
chung, sẽ xúc tiến tìm “một giải pháp khác Diệm.” (95)
Ngày 18/6,
Trueheart bảo Thơ rằng chỉ nên coi những thỏa thuận như bước khởi đầu mà
chưa phải hồi kết của cuộc khủng hoảng. Diệm cần thực hiện những điều
đã thỏa thuận. Sáng đó, khi gặp Thuần, Trueheart cũng nói tương tự, với
lời lẽ cứng rắn hơn. Trueheart đặc biệt nhắc Thuần về luận điệu của tờ
Times of Vietnam ngày 17/6 về tuyên cáo chung, và hành vi khiêu khích
của PTPNLÐ. ( 96)
Tối 19/6 [8G28 ngày 20/6/1963 tại VN], Roger
Hilsman chỉ thị cho Trueheart nên lưu ý các viên chức Việt là đừng nên
đồng hoá một cá nhân với chế độ. Thí dụ như lời tuyên bố “Phật giáo có
thể tin cậy nơi Hiến pháp, nghĩa là tôi” của Diệm tạo nên những cảm
tưởng xấu ở Mỹ. Viên chức Việt cũng cần tiếp xúc thường xuyên với lãnh
tụ Phật giáo và đối xử đồng đẳng với họ. Ðặc biệt, thỏa ước 16/6/1963
phải được tôn trọng và nhanh chóng thực hiện để giảm thiểu sự nghi ngờ
của Phật tử. ( 97)
Dư luận thế giới cũng đã chú ý hơn đến cuộc tranh
đấu của Phật giáo. Ngày 14/6, Norodom Sihanouk viết thư cho Kennedy,
phản đối việc đàn áp Phật giáo tại Nam VN. Sihanouk cũng gửi cho TTK/LHQ
U Thant, Thủ tướng Bri-tên McMillan, TT Pháp de Gaulle và TT India,
Radhakrishnan, thông điệp tương tự. Sihanouk còn trao cho Ðại biện VNCH
tại Phnom Penh một công hàm về vụ tàn sát Phật tử ở Huế. ( 98)
Hôm
sau, 15/6, lần đầu tiên tin Phật Giáo Việt Nam được lên trang nhất báo
The New York Times [Nữu Ước Thời Báo], tờ báo uy tín của giới trung lưu
Mỹ. Max Frankel, tác giả, cho rằng nhân viên ngoại giao Mỹ đã nói thẳng
với Diệm bằng giọng điệu gay gắt rằng VN phải thỏa mãn các đòi hỏi của
Phật Giáo, bằng không Mỹ sẽ tuyên bố không yểm trợ chính sách Phật Giáo
của Diệm. ( 99) Thông báo cho Trueheart tin này, BNG chỉ thị Trueheart
nói với Diệm rằng chính phủ Mỹ vẫn yểm trợ Diệm; tạm thời không đề cập
đến bài báo trên NYT. Hầu hết báo lớn và các lãnh tụ Mỹ đều chỉ trích
chế độ Diệm.
Ngày 18/6, Thủ tướng Ceylon là Bandaranaike cũng gửi thư
cho Kennedy, yêu cầu hòa giải để Phật tử, vốn chiếm đa số tại Việt Nam,
được quyền tự do tín ngưỡng. Mười ngày sau, 28/6, đại biểu Cambodia,
Ceylon và Nepal tại LHQ gặp đại biểu Mỹ để bày tỏ quan tâm về tình hình
Phật giáo Việt Nam.( 100)
Ðáng lưu ý là trong hai tháng đầu đấu tranh
của Phật Giáo–mặc dù chính phủ Diệm không ngớt vu cáo cuộc tranh đấu do
Cộng Sản xúi dục, và sau này Nguyễn Hữu Thọ đánh gía nó như “món quà từ
trên trời rơi xuống”–cả Hà Nội lẫn MT/GPMN đều chưa bày tỏ một thái độ
rõ ràng nào ngoài những phản kháng chung chung của Võ Nguyên Giáp hay Hà
Văn Lâu gửi Ủy Ban Quốc Tế Kiểm soát Ðình chiến, hay Tuyên cáo của
MTGPMN về việc vi phạm Hiệp định “Giơ neo vơ.” (101)
Mãi tới ngày
15/7 mới có tin tình báo là MTDT/GPMN kêu gọi binh sĩ và cảnh sát ủng hộ
cuộc tranh đấu của Phật Giáo. (102) Cũng từ ngày này, cán bộ nằm vùng
CS xâm nhập vào các cuộc tranh đấu, lôi kéo thanh thiếu niên nam nữ.
(103)
Các cơ quan tuyên truyền của Ðảng Lao Ðộng Việt Nam mở nhiều chiến dịch khai thác cuộc tranh đấu:
- Mít tinh, tuyên cáo đả kích Mỹ-Diệm và ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo trước dư luận quốc nội cũng như quốc tế.
- Xâm nhập cán bộ vào các đô thị và phong trào tranh đấu
- Gia tăng hoạt động quân sự, đánh phá các đồn bót và Ấp chiến lược.
- Khoét sâu sự khác biệt giữa chính quyền miền Nam và Phật Giáo.
Vì vậy, có lúc an ninh Mỹ phải đặt câu hỏi thực chăng CS đã bỏ vùng thôn quê, dồn vào mặt trận tỉnh thị.
C. THAY ÐỔI ÐẠI SỨ MỸ:
Giữa thời gian này, Oat-shinh-tân gửi công
hàm hỏi ý kiến Diệm về việc thay Ðại sứ ở Sài Gòn. Ngày 20/6/1963, BNG
Mỹ chỉ thị cho Trueheart xin gặp Diệm để xin ý kiến về việc cử Henry
Cabot Lodge thay Nolting. (104)
Sau khi tiếp Trueheart khoảng 1 tiếng
đồng hồ chiều ngày 22/6, ba ngày sau, 25/6, Diệm sai Thuần cho Truheart
biết Diệm rất bất mãn. Diệm cho rằng Mỹ đang thay đổi chính sách và nỗ
lực bắt Diệm phải làm theo Mỹ hay sẽ bị loại bỏ [Diem thought a new
American policy was involved and an effort to force him to do our
bidding or to unseat him]. Diệm cũng nhắn đến tai Lodge rằng “họ có thể
gửi 10 Lodge tới đây, nhưng tôi không để cá nhân tôi hay đất nước này bị
hạ nhục, kể cả việc họ huấn luyện pháo binh bắn vào dinh thự này [they
can send ten Lodges, but I will not permit myself or my country to be
humiliated, not if they train their artillery on this Palace].( 105)
Theo Thuần, Diệm sẽ trở nên cứng đầu hơn. Truheart bảo thẳng
Thuần rằng
cách tốt nhất để tránh đương đầu với Mỹ là chính phủ Diệm nên bắt đầu
thay đổi cách làm việc.( 106)
Ngày 26/6, Thứ trưởng Ngoại giao George
W. Ball chỉ thị cho Trueheart gặp Diệm, giải thích rằng chính sách của
Mỹ không thay đổi; đó là yểm trợ chính phủ chống Cộng miền Nam. Riêng
việc bổ nhiệm Lodge đã được quyết định từ tháng 4/1963, trước khi xảy ra
cuộc khủng hoảng Phật giáo, vì Nolting đã ở Việt Nam hai năm. Mục đích
của Mỹ là cảnh giác Diệm về những hiểm họa có thể tránh, không để làm
suy yếu Diệm. Nhưng quyết định và hành động là trách nhiệm của riêng
Diệm.(107) Hôm sau, Diệm tiếp Trueheart khoảng 2 tiếng rưỡi đồng hồ,
tuyên bố sẽ thực hiện việc dân chủ hóa từ nông thôn lên, nhưng không
muốn vợ chồng Nhu bị tách xa cá nhân mình.( 108) Thuần cũng thông báo
với Trueheart là Chính phủ Việt Nam sẽ ra chỉ thị cho các tỉnh thi hành
nghiêm chỉnh bản tuyên cáo chung 16/6/1963. Cá nhân Diệm có thể sẽ ra
Huế để nghiên cứu và giải quyết mọi sự; Diệm cũng sẽ đọc diễn văn về
việc thực thi tuyên cáo chung.
Nhưng ngày 27/6, Bộ trưởng Nội Vụ
Lương lại tuyên bố với một nhân viên CIA rằng Cộng sản đã xâm nhập phong
trào tranh đấu của Phật giáo, và trong vài ngày tới, sẽ ra thông cáo về
việc những người bị bắt giữ. (109) Lời cáo buộc của Lương báo hiệu
chính sách mới của họ Ngô với Phật giáo. Rất có thể chính sách này được
thảo luận kỹ càng hơn trong dịp anh em họ Ngô về Huế dự lễ kỷ niệm 25
năm ngày thụ phong Giám mục của Thục, trong các cuộc họp mật vào cuối
tháng 6/1963.( 110)
Tại Mỹ, Kennedy và các cố vấn theo dõi những biến chuyển ở Sài Gòn
với mắt nhìn bi quan. Phản ứng tại nội địa Mỹ cũng chẳng có gì đáng lạc
quan. Ngày 27/6, báo New York Times đăng bài cậy đăng nguyên một trang
của 12 lãnh tụ Tin lành Mỹ, kể cả Reinhold Niebuhr và James Pike, yêu
cầu Mỹ triệt thoái khỏi Việt Nam. Bài cậy đăng trên có cả hình Quảng Ðức
tự thiêu của Browne. Chỉ còn vài ký giả ủng hộ Diệm trên những tờ báo
mà Giáo Hội Ki-tô Mỹ có ảnh hưởng.
Quyết định bổ nhiệm Lodge cũng tạo
nên những tia lửa điện trong chính giới và hàng ngũ Tướng tá Việt Nam.
Lodge, một lãnh tụ đảng Cộng Hoà từng đứng phó trong liên danh Richard
M. Nixon năm 1960, nổi danh la ợ“vua đảo chính” (đặc biệt là việc đảo
chính Lý Thừa Vãn ở Nam Hàn). Bởi thế, các mưu toan đảo chính Diệm bắt
đầu rộn rịp tại Sài Gòn. Tin đồn đảo chính loan truyền rộng rãi. Cuối
tháng 6/1963, cơ quan CIA đã thiết lập được danh sách các nhóm có ý làm
đảo chính. Ðáng kể nhất có nhóm “Bác sĩ” Trần Kim Tuyến. Tuyến mới mất
chức Giám đốc Mật Vụ, và đang chờ đi ngoại quốc. Quanh Tuyến có một số
nhân viên Bộ Công Dân Vụ của Paul Hiếu, Tổng Nha Thông Tin, Mật Vụ, và
một số sĩ quan trẻ. Nhóm khác do Huỳnh Văn Lang và Trung tá [Albert]
Phạm Ngọc Thảo, Thanh tra Ấp Chiến Lược, chủ trương. Nhóm này gồm hầu
hết cựu đảng viên của hệ Cần Lao “Liên kỳ Nam-Bắc Việt” do Lang thiết
lập tại miền Nam, kể cả Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu trưởng
Liên quân.
Từ ngày 30/5, đã có tin đồn Tuyến và Albert Thảo mưu làm
đảo chính. (Tuyến bị thất sủng; sau đó bị gửi qua Morocco [Ma Rốc] và
Cộng Hòa Arab, nhưng hai xứ này không nhận). Hai nhóm Tuyến và Thảo,
phần đông là Ki-tô giáo, không muốn thấy “thiên mệnh Mỹ” rơi vào tay
Phật giáo. (Theo tình báo Mỹ, Tuyến được sự yểm trợ của Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Bình, Hoà thượng Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh, Trung
Tướng Dương Văn “Big” Minh và Thiếu tướng Tôn Thất Ðính. Lãnh tụ của
nhóm Tuyến có lẽ là Nguyễn Ngọc Thơ). Nhưng mạnh nhất, và được Mỹ tin
cậy nhất, là nhóm do Trung Tướng [André] Trần Văn Ðôn, Quyền Tổng Tham
Mưu Trưởng, đại diện. Từ tháng 6/1963, André Ðôn và em rể là Lê Văn Kim
đã xin Nolting cho làm đảo chính, nhưng bị Nolting nghiêm khắc trách
mắng:
Ðừng cho tôi mấy thứ làm loạn và yểm trợ nổi loạn. Tại sao mấy
ông không lo làm trọn nhiệm vụ của các quân nhân? Nước Mỹ không dính líu
vào vấn đề đảo chính.( 111)
Ngày 8/7, André Ðôn nói với một nhân viên CIA là nhóm mình được đa số
cấp chỉ huy ủng hộ, ngoại trừ Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh QÐ IV,
và Tôn Thất Ðính, Tư lệnh QÐ III.( 112)
Nhưng khuôn mặt mà chế độ
gờm sợ nhất vẫn là Trung Tướng Dương Văn Minh (1916-2001). “Big” Minh,
một thời được ca tụng như “Anh hùng Rừng Sác,” đang là một Tướng không
có quân, vô quyền lực với chức vụ Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống từ ngày
8/12/1962. Không ai rõ tại sao Tướng Minh bỗng dưng bị thất sủng. Người
nêu lý do Minh đã dấu đi một phuy vàng tịch thu được trong chiến dịch
truy lùng Bình Xuyên. Người suy diễn rằng Diệm không tin Minh, một Tướng
ngoại đạo, do Pháp đào tạo, lại có em trai theo Việt Minh. Thêm vào đó,
một số quan Tướng Mỹ, kể cả Lansdale, không ưa “Big” Minh. Ngày
27/12/1961, chẳng hạn, Lansdale phản đối việc cử “Big” Minh nắm giữ quân
đội vì, theo Lansdale, Minh từng công khai nói về ý định đảo chính
Diệm.( 113) Theo Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, cá nhân ông ta và Big
Minh bị Ngô Ðình Nhu dèm xiểm với Tổng thống Diệm là thành phần “chủ
bại,” nên bị nghi ngờ và thất sủng từ năm 1959.
Cách nào đi nữa,
“Big” Minh từng mưu định ám sát Nhu, nhưng phải bỏ dở. Trong số đồng
minh “tự nhiên” của “Big” Minh có Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, các sĩ quan
gốc miền Nam và một số đảng viên Ðại Việt thời cơ như Ðặng Văn Sung và
Bùi Diễm.
D. ÐỢT TRANH ÐẤU THỨ HAI CỦA PHẬT GIÁO:
Phần Phật giáo vẫn chuẩn
bị tiếp tục tranh đấu, nếu cần. Ngày 26/6, Thiện Minh viết thư phản đối
với UBLB về việc thành lập Phật Giáo Cổ Sơn Môn. Không hài lòng với thư
trả lời ngày 28/6 của UBLB, nhóm tranh đấu quyết định xuống đường. Ngày
30/6, hàng ngàn tăng ni Sài Gòn bắt đầu tuyệt thực. Qua đầu tháng
7/1963, sinh viên, học sinh Sài Gòn biểu tình trước Quốc hội để yểm trợ
cuộc tuyệt thực của các tăng ni.
Ngày 1/7, tờ Times of Vietnam cho
đăng trên trang nhất bản tin tựa đề: “Băng keo Scotch bí ẩn và Ðoạn kết
chứng hoang tưởng đã ló dạng” [Mysterious Scotch Tape and End to
Schizophrenia In Sight]. Bài này hàm ý có sự chia rẽ giữa Nhu và
Thơ-Thuần, cáo buộc Quảng Ðức đã bị “thuốc” trước khi tự thiêu, và đưa
ra nhận định thời gian hưu chiến hai tuần đã qua, nhưng Sài Gòn vẫn yên
tĩnh; ngoại trừ có một biến cố đặc biệt nào, thí dụ như một cuộc tự
thiêu khác, có thể kết luận rằng những đòi hỏi của Phật giáo đã được
thỏa mãn.”( 114) Hai ngày sau, 3/7, Phó TT Thơ tuyên bố vào là, theo sự
điều tra của chính phủ, chính “Việt Cộng” đã gây nên cuộc thảm sát đẫm
máu ở Huế. (Vì việc này, ngày 10/12/1963, Thơ đã bị chất vấn gay gắt
trong một buổi họp báo ở Sài Gòn sau ngày đảo chính Diệm)
Tại Mỹ, từ
ngày Thứ Hai, 1/7, Michael Forrestal đã yêu cầu cho Nolting trở lại Việt
Nam vì Phật giáo có thể biểu tình trở lại sau thời gian “hưu chiến.”
Tối 1/7 đó, Ball chuyển chỉ thị của Hilsman và Nolting cho Trueheart là
phải gặp Diệm ngay, bảo thẳng Diệm rằng dư luận Mỹ nghĩ rằng người thân
của Diệm đang cố tình phá hoại sự thỏa thuận với Phật giáo. Ðúng hay
sai, dư luận Mỹ cũng cho rằng đang có bách hại tôn giáo ở miền Nam. Khi
gặp Thuần, Trueheart yêu cầu Thuần đọc bài viết trên Times of Vietnam,
và đề nghị Mỹ muốn Lệ Xuân đừng nên tuyên bố gì hết; bài báo trên Times
of Vietnam hàm ý thách thức Phật giáo tiếp tục tự thiêu. Rồi thêm chẳng
lẽ Diệm không hiểu rằng chỉ cần một vụ tự thiêu nữa là chính phủ Mỹ sẽ
tuyên bố không dính líu gì đến chính sách tôn giáo của Diệm? Thuần trả
lời rằng Diệm không biết điều đó, và đề nghị Trueheart nên nói thẳng với
Diệm.( 115)
Trueheart xin chỉ thị của Bộ Ngoại Giao và Ball cho gặp Diệm, nói thẳng với Diệm; và nếu cần, gặp cả Nhu. (116)
Buổi
Diệm gặp Trueheart chiều ngày 3/7 khiến liên hệ giữa hai bên thêm căng
thẳng. Khi Trueheart đề nghị Diệm đích thân gặp các lãnh tụ tôn giáo để
giải quyết, Diệm nói sẽ nghiên cứu lại. Khi Trueheart đề cập đến bài
trên Times of Vietnam, Diệm cũng chỉ nói sẽ nghiên cứu.( 117)
Hôm
sau, Thuần cho Trueheart biết rằng có lẽ Diệm không hành động gì về
những đề nghị của Trueheart và yêu cầu Nolting trở lại Sài-Gòn càng sớm
càng tốt.(118) Cũng trong ngày 4/7 này Lệ Xuân viết bài “Who Is Spokeman
of Whom?” [Ai là phát ngôn viên của ai?] trên Times of Vietnam, phủ
nhận tờ Times of Vietnam là cơ quan ngôn luận của mình. Nếu những bài
trên Times of Vietnam có trùng hợp ý kiến của Lệ Xuân, đó cũng không
phải là quan điểm của chính phủ. Lệ Xuân cũng khẳng định không đại diện
cho chính phủ VNCH, và những kẻ xuyên tạc có thể bị lợi dụng bởi Cộng
Sản và tay sai [lackeys] của chúng. Bài này đã được phát cho báo chí
ngày hôm trước.( 119)
Trong phiên họp HÐ/ANQG từ 11G00-11G45 ngày 4/7
(khoảng nửa đêm ngày 4/7 tại Sài Gòn), ý kiến chung của các viên chức
Mỹ là Diệm không chịu xa Nhu. Hilsman, Phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, thông báo
cho Kennedy biết sẽ có đảo chính trong vòng 4 tháng.( 120)
Hôm sau,
5/7, từ Greece về tới Oat-shinh-tân, Nolting được mời tham dự phiên họp
của HÐ/ANQG, rồi nhận lệnh trở lại Sài Gòn càng sớm, càng tốt, với hy
vọng cho Diệm cơ hội chót. Giữa lúc Nolting đang trên đường về nhiệm sở,
ngày Chủ Nhật, 7/7, tại đường Trương Minh Giảng, Công an hành hung một
nhóm ký giả ngoại quốc nổi danh chỉ trích chế độ như Browne, Trưởng văn
phòng hãng AP, Peter Arnett, gốc New Zealand, Sheehan, Halberstam, v..
v..., khi họ đang quan sát và thu hình cuộc biểu tình của các tăng ni
chùa “Miên.”( 121)
Ngày 10/7, bản ước lượng tình báo đặc biệt [SNIE
53-2-63] của Hội đồng ANQG Mỹ dự đoán rằng nếu Diệm không thi hành
nghiêm chỉnh tuyên cáo chung 16/6, sẽ có đảo chính trong tương lai gần,
với hơn 50% cơ hội thành công.( 122)
D. NỖ LỰC VÔ VỌNG CỦA NOLTING:
Nolting vừa về tới Sài Gòn ngày
11/7 đã được Diệm mời vào Dinh Gia Long, trình bày tình hình. Ðể trả lời
câu tuyên bố của Nolting với giới truyền thông khi vừa bước xuống phi
trường–là mong muốn hai bên tiếp tục nói chuyện để đạt thỏa thuận–Diệm
nói kết quả thương thuyết tùy thuộc vào phe tranh đấu.( 123)
Vì nghi
ngờ rằng Phật giáo bị Cộng Sản giật giây, Nolting nỗ lực nối lại mối
giao hảo giữa Toà Ðại sứ và Diệm. Ngày 15/7, Nolting khuyên Diệm nên
công bố một số nhân nhượng cần thiết với Phật giáo. Diệm đồng ý, nhưng
chưa có hành động nào. Theo Nolting, chính Diệm cũng đang muốn tử vì đạo
(124)
Nhưng cuộc diễn hành tới trước tư thất Ðại sứ Nolting ngày
16/7, do Tâm Châu dẫn đầu, để phản đối việc chính phủ tiếp tục đàn áp,
bắt giữ tăng ni, Phật tử, và khẳng định Phật giáo không phải là Cộng sản
hay bị Cộng sản lợi dụng, khiến Diệm cứng rắn hơn.( 125) Hôm sau, 17/7,
Trần Văn Tư, Giám đốc Nha Cảnh sát Ðô thành, sai Cảnh sát đàn áp dữ dội
cuộc biểu tình bất bạo động ở Sài Gòn và chùa Giác Minh tại Chợ Lớn.
Hàng chục xe chở người bị bắt đến các trại tập trung vào An Dưỡng Ðịa
Phú Lâm để sưu tra lý lịch. Các chùa đều bị phong tỏa.
Sau khi
Kennedy tuyên bố trong buổi họp báo ngày 17/7 tại Oat-shinh-tân là hy
vọng cuộc tranh chấp tôn giáo sẽ được giải quyết sớm, ít giờ sau [ngày
18/7 tại Việt Nam], Diệm tuyên bố trên đài thanh không hề đàn áp Phật
giáo, yêu cầu mọi người đoàn kết sau lưng chính phủ, rồi kết luận bằng
câu “Xin ơn trên ban phép lành cho chúng ta.”
Hôm sau nữa, 19/7, Diệm
cho phát lại bài diễn văn truyền thanh vỏn vẹn 2 phút kể trên. Ngày
này, Ủy Ban Liên Phái Tranh Ðấu Bảo Vệ Phật Giáo tán thành lời kêu gọi
của Diệm; và yêu cầu có những biện pháp cụ thể để thực hiện Tuyên cáo
chung 16/6/1963, như phóng thích những người bị bắt giữ từ ngày 8/5,
trừng phạt những người gây nên tội ác trong ngày 8/5, và bồi thường
thiệt hại cho các nạn nhân và gia đình. Hôm sau, 20/7, đích thân Paul
Hiếu và Trần Văn Tư tới Phú Lâm yêu cầu các tăng ni bị bắt giữ được trở
lại chùa Xá Lợi.( 126)
Ngày 22/7, Ủy Ban tranh đấu gửi điện văn thông
báo khắp nơi là cuộc đấu tranh đòi hỏi thực thi Thông cáo chung chưa
chấm dứt: Luân phiên cầu nguyện và tuyệt thực.( 127) Các lãnh tụ tranh
đấu cũng tổ chức họp báo tại chùa Xá Lợi, lên án chính phủ không giữ lời
hứa.( 128)
Ðiều đó, có lẽ Nolting rõ hơn ai hết. Chiều ngày
16/7/1963, khi Nolting vào Dinh Gia Long gặp Nhu, Nhu đã tuyên bố Phật
giáo không có sự đe dọa nào đáng kể.
Nhưng các cố vấn của Kennedy
nhìn sự việc một cách khác. Ngày 23/7, Hilsman chỉ thị cho Nolting là Bộ
Ngoại Giao dự trù sẽ còn nhiều cuộc biểu tình của Phật giáo; những cuộc
biểu tình này khích động thị dân, và có thể sẽ có đảo chính trong vài
tháng, nếu không phải vài tuần; và những cuộc đảo chính ấy hy vọng thành
công. Bởi thế, Nolting có thể ra tuyên cáo tự cách biệt với chính sách
của Diệm; khuyến khích việc kế vị hợp hiến (Thơ lên thay); thuyết phục
những người muốn đảo chính bỏ ý định; hoặc, tiếp tục chờ đợi, hy vọng
Diệm cải cách. Hiện tại, nên theo đuổi chính sách chờ đợi.( 129)
Nolting
vẫn ra công bảo vệ Diệm. Theo Nolting, Diệm là cơ hội tốt nhất của miền
Nam.( 130) Ngày 28/7, Nolting còn tuyên bố với hãng UPI là không hề có
việc đàn áp Phật Giáo ở VNCH, vì Bộ trưởng Nội Vụ Lương đã cho Nolting
biết sẽ không dùng biện pháp mạnh để đàn áp; và dân chúng đã chán ngán
cảnh hỗn loạn. Diệm còn trực tiếp chỉ thị cho Ðại tá Nguyễn Văn Y, Giám
đốc Mật vụ, và Trần Văn Tư, Giám đốc Cảnh Sát Ðô thành, không được dùng
võ lực. Phó Tổng thống Thơ cũng nói đại diện Phật giáo đồng ý gặp Thơ
trên căn bản bán chính thức từ ngày 31/7/1963.
Nhu và Lệ Xuân tiếp
tục sử dụng cán bộ Cần Lao cùng các tổ chức ngoại vi như Thanh Niên Cộng
Hoà, Thanh Nữ Cộng Hoà chống Phật Giáo. Vì quá hăng say phục vụ lãnh tụ
và để chuộc tội thua trận Tua Hai (Tây Ninh) hơn ba năm trước, ngày Chủ
Nhật 23/7, Trung Tá Trần Thanh Chiêu, Giám đốc Nha Thanh Tra Dân Vệ, tụ
tập khoảng 100 dân vệ, gia đình tử sĩ và thương phế binh trước chùa Xá
Lợi, yêu cầu “các thày trở lại việc tu hành, ngưng tiếp tục gây rối loạn
chỉ làm lợi cho Cộng Sản.”( 131)
Lỗ mãng nhất là Lệ Xuân. Không
những chỉ thị cho tờ Times of Viet Nam đả kích Phật giáo, mà còn hàm ý
thách thức các tăng ni tiếp tục tự thiêu.( 132) Ðể trả lời Lệ Xuân, ngày
23/7, Sư bà Diệu Huệ, mẹ Giáo sư Bửu Hội, họp báo tuyên bố sẵn sàng tự
thiêu cúng dường tam bảo. Tuy nhiên, cuối cùng Bửu Hội thuyết phục được
mẹ mình ngưng tự thiêu.( 133)
Ngày 1/8, Lệ Xuân tuyên bố với phóng
viên đài truyền hình Mỹ CBS rằng các lãnh tụ Phật giáo đang âm mưu lật
đổ chính phủ; và tất cả những gì Phật tử đã làm chỉ có mỗi việc “nướng
thịt một sư” [barbecue a bonze] với “săng nhập cảng” [imported gas]. Hai
ngày sau, 3/8, Lệ Xuân tuyên bố trước khoá sinh khoá III Phụ Nữ Bán
Quân Sự rằng những vụ tranh đấu chỉ có bề ngoài tôn giáo, nhưng mục đích
là chính trị, với thủ thuật Cộng Sản, cần phải bẻ gãy. Ðại sứ Trần Văn
Chương, cha ruột Lệ Xuân, phải công khai trách Lệ Xuân là “thiếu tư cách
và hỗn láo” [impertinent and disrespectful] trên đài Tiếng Nói Hoa Kỳ
[VOA] vào ngày 6/8. Ngày 8/8, để trả lời Ðại sứ Chương, Lệ Xuân tuyên bố
dù có “thiếu lễ độ” cũng phải nói “sự thực.” Lệ Xuân cũng biện hộ cho
những lời tuyên bố trên đài CBS ngày 1/8; khẳng định các lãnh tụ Phật
giáo không đại diện cho Phật giáo hay dân tộc Việt Nam.
Hôm sau nữa, 9/8, trong bài phỏng vấn của tuần báo Mỹ Newsweek, Lệ Xuân còn hung hăng hơn.( 134)
Ngoài
ra, còn có tin em trai Lệ Xuân, Trần Văn Khiêm, lên thay Trần Kim Tuyến
làm Giám đốc Mật vụ, và Khiêm đã lập sẵn danh sách những người chống
đối để quăng lưới. Khiêm mang danh sách trên ra khoe với cả một ký giả
Australia.( 135)
Nhu cũng tiếp tay vợ trong chiến dịch đả kích Mỹ và
Phật giáo. Trả lời câu hỏi của Reuters ngày 3/8, Nhu tuyên bố chùa Xá
Lợi đang trở thành một trung tâm mưu lật đổ chính phủ, và nếu không giải
quyết được vấn đề Phật giáo, sẽ có một cuộc đảo chính chống Mỹ và Phật
giáo.( 136) Ngày 7/8, Nhu nói với Nolting là hoàn toàn ủng hộ chính sách
của Diệm qua bản tuyên cáo ngày 18/7, nhưng Lệ Xuân có quyền phát biểu ý
kiến riêng của một công dân.
Ngày 8/8, nhật báo New York Times đăng
hai bài trên trang nhất về Việt Nam. Bài thứ nhất của Halberstam, từ Sài
Gòn, với tựa “Bà Nhu Tố Cáo Mỹ Bắt Chẹt ở Việt Nam” [Mrs. Nhu Denounces
U.S. for “Blackmail” in Vietnam]. Lệ Xuân, theo Halberstam, tuyên bố
rằng Diệm không có quần chúng ủng hộ, phải dựa vào vợ chồng Nhu. Bài thứ
hai của Tad Szulc ở Oat-shinh-tân, tiết lộ mối quan tâm ngày một gia
tăng của chính phủ Kennedy về việc chính phủ Diệm khó sống còn nếu không
hòa hoãn với Phật giáo. Tính sổ chung với những tuyên bố đòi rút số cố
vấn Mỹ trong tháng 5/1963, kế hoạch âm thầm ve vãn Cộng Sản Bắc Việt và
sử dụng Pháp để giải tỏa áp lực Mỹ, vợ chồng Nhu mới đích thực trở thành
Persona Non Grata với Oat-shinh-tân.
Ðặt mình trước nhiều hơn một
lằn đạn–và nhất là đã bị thuyết phục rằng cuộc tranh đấu của Phật giáo
chẳng những không thuần túy tôn giáo mà chỉ là một âm mưu chính trị,
nhằm lật đổ chính phủ, do Cộng Sản xúi dục–mọi nỗ lực của Nolting ở Việt
Nam hầu như uổng phí. Ngày 30/7, Phật tử tổ chức linh đình giỗ thất
tuần (49 ngày) Quảng Ðức. Hôm sau, 31/7, Ủy Ban Tranh Ðấu Bảo Vệ Phật
Giáo ra tuyên cáo phản đối lời tuyên bố ngày 28/7 của Nolting; và hôm
sau nữa, 1/8, Tâm Châu gửi thư trách cứ Nolting, khẳng định “những vụ
đàn áp là cực độ của cả một chuỗi lạm quyền, áp bức giết chóc mà Phật tử
phải gánh chịu trong nhiều năm, dưới nhiều hình thức, do cấp thừa hành
bên dưới của một nền hành chánh cố tình dung túng gây ra.”( 137)
Ngày
1/8, Tịnh Khiết cũng gửi công điện cho Kennedy, phản đối lời tuyên bố
của Nolting rằng không có việc đàn áp Phật Giáo ở VNCH.( 138) Một Nhóm
Người Yêu Nước thì ra tuyên ngôn phản đối Nolting là không hiểu biết gì
về tình cảnh Phật giáo tại Việt Nam.
Ba ngày sau, 4/8, Ðại Ðức Nguyên
Hương (Huỳnh Văn Lễ) tự thiêu trước Dinh Tỉnh trưởng Phan Thiết, và
Phật tử xuống đường biểu tình đòi lại xác đã bị Cảnh Sát lấy đi. Ngày
12/8, một nữ sinh chặt một bàn tay phản đối chính quyền và luận điệu hỗn
hào của Lệ Xuân đối với các tăng ni. Rồi, ngày 13/8, Ðại Ðức Thanh Tuệ
cúng dường tam bảo ở chùa Phước Duyên, Hương Trà, Thừa Thiên. Hai ngày
sau, ni cô Diệu Quang tự thiêu ở Ninh Hòa. Hôm sau nữa, 16/8/1963,
Thượng tọa Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Ðàm, Huế.( 139)
Bẽ bàng hơn
nữa là anh em họ Ngô cũng bắt đầu coi thường Nolting. Khi Nolting cho
Diệm xem bức công điện khẳng định chính phủ Mỹ không thay đổi chính sách
về Việt Nam, Diệm nói: “Tôi tin ông, nhưng không tin nội dung bức điện
ông nhận được.”( 140) Khi Nolting đề nghị Diệm có biện pháp với Lệ
Xuân–người mà theo Nolting đã vượt ngoài sự kiểm soát của cha mẹ và anh
chồng–Diệm chỉ hứa “sẽ cứu xét.”( 141)
Ngày 12/8, khi tiếp kiến
Nolting, Diệm cho rằng các tăng ni không thành thực, và thế giới không
biết đến việc các sư giả muốn lật đổ chế độ. Sau dạ tiệc đưa tiễn
Nolting của Diệm, ngày 13/8, Thơ họp báo, tuyên bố sẽ truy tố một số
người tham dự biểu tình ngày 8/5, và những người bị bắt sau ngày 16/6 có
thể không được khoan hồng. Trong phần hỏi đáp, Thơ so sánh trường hợp
Lệ Xuân với những lời chỉ trích chính phủ VNCH của Thượng Nghị Sĩ
Mansfield. Buổi họp báo của Thơ khiến
Ngoại trưởng Rusk phải gửi điện
tín cho Nolting, hỏi liệu Diệm có muốn đi nghỉ mát chung với vợ chồng
Nhu chăng? (142)
Sau nhiều lần xin ở lại Sài Gòn nhưng bị từ chối,
ngày 14/8, Nolting vào chào từ biệt Diệm. Gần lúc chia tay Diệm mới hứa
sẽ phủ nhận những lời lỗ mãng của Lệ Xuân. Những lời hứa cho có. Ngày
15/8, tờ Times of Viet Nam ca ngợi Nolting như “người đầu tiên xứng đáng
với tước hiệu đại sứ.”( 143)
Do sự dàn xếp của Nolting, báo New York
Herald Tribune [Diễn Ðàn Tiền Phong New York] đăng bài phỏng vấn Diệm
của Marguerite Higgins. Higgins trích lời Diệm là chính phủ vẫn theo
đuổi chính sách ôn hoà với Phật giáo. Diệm và gia đình cũng rất vui lòng
về việc bổ nhiệm tân Ðại sứ Lodge.( 144)
Thực ra, đây chỉ là món quà
tiễn chân Nolting, và để trấn an dư luận Mỹ, vì Diệm-Nhu đang có kế
hoạch xuống tay mạnh với Phật giáo.( 145)
Tại miền Trung, việc bắt
giữ, hành hung, ám sát Phật tử vẫn diễn ra hàng ngày. Tại Huế, sau phiên
họp giữa Thị trưởng Nguyễn Văn Hà và lãnh đạo Phật Giáo ngày 9/8, thái
độ chính quyền ngày một cứng rắn. Ngày 10/8, Thị trưởng Huế yêu cầu
Thượng tọa Thiện Minh tháo gỡ các biểu ngữ chống chính phủ theo tinh
thần buổi gặp mặt ngày 9/8/1963. (146) Phó Tỉnh trưởng Hồ Ứng Dần cũng
yêu cầu Tỉnh hội Phật Giáo Thừa Thiên chấm dứt việc phổ biến các tin tức
và tài liệu bất hợp pháp. Ðồng thời ra thông cáo cấm dân chúng tập
trung đông đảo tại chùa Từ Ðàm và Diệu Ðế vào những giờ phát thanh của
Phật Giáo. (147)
Mờ sáng Thứ Ba, 13/8/1963, Ðại đức Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa
Phước Duyên. (148) Cuộc tự thiêu này châm ngòi cho một đợt tranh đấu
mới.
Ngày14/8, Hoà thượng Tịnh Khiết gưỉ văn thư than phiền về việc
di chuyển linh cữu Thanh Tuệ. (149) Thượng tọa Mật Hiển với cũng xin gặp
Ðại biểu TNTP tường trình về trường hợp Thanh Tuệ. Trong khi đó, một
thợ mộc Phật tử phụ trách việc treo biểu ngữ và cờ bị bắn chết. (150)
Hôm sau, 15/8, khoảng 100 học sinh và sinh viên Huế biểu tình từ chùa Từ
Ðàm về Tòa Hành Chánh tỉnh. Cảnh sát trưởng quận Hữu ngạn chặn đoàn
biểu tình trước trường Ðồng Khánh, bị xô đẩy, mang thương tích cùng một
cảnh binh. Sau đó đoàn biểu tình kéo tới ngồi tại hoa viên trước tòa
hành chính. (151)
Cảnh sát đặt nút chặn phong tỏa chùa Từ Ðàm. Buổi
trưa, khoảng 300 Phật tử tụ họp trên đường Trần Hưng Ðạo. Chính quyền
thả chó đàn áp. Xô xát dữ dội. Một số bị bắt. Ðám đông bị giải tán trong
vòng nửa giờ. 50% nhà hàng, cửa tiệm đóng cửa. 70% sạp vải Ðông Ba
ngưng hoạt động. (152) Ngày này, Ni cô Diệu Quang–tục danh Ngô Thị Thu
(1936-1963), sinh tại Phù Cát, Thừa Thiên, tu tại ni viện Vạn Thạnh, Nha
Trang–tự thiêu tại chùa Ninh Hoà.(153) Hôm sau nữa, 16/8, Ðại đức Tiêu
Diêu–tục danh Ðoàn Văn Mễ (1893-1963), cha của Ðoàn Văn An, giảng sư Ðại
học Huế; năm 1930 mới đi tu, học trò Tịnh Khiết–tự thiêu ở chùa Từ Ðàm.
Chính quyền ban hành lệnh thiết quân luật từ 6 giờ sáng, xe tăng án ngữ
ở một số ngã tư, kẽm gai kéo ra ngăn chặn. (154) Hội Phật Giáo tung tin
quân đội đã cướp thi hài Tiêu Diêu dấu đi. Anh ruột Tiêu Diêu là Bùi
Câu minh xác đã đến tận nơi xin lãnh thi hài về quê mai táng. (155)
Ngày Thứ Bảy, 17/8, Thị trưởng Huế Nguyễn Văn Hà lại ra thông cáo:
Yêu
cầu đồng bào tuyệt đối tránh mọi lợi dụng tôn giáo để đả kích chính
phủ, vi phạm luật pháp quốc gia và làm trở ngại công cuộc bảo vệ an ninh
trật tự công cộng.
Ðưa ra 4 điểm sẽ thi hành:
Triệt để thi hành thông cáo chung;
Phật tử được hoàn toàn tự do đi chùa dự lễ tôn giáo;
Không
hề chủ trương bắt bờ Phật giáo đồ nếu các đồng bào đó không hành động
gì phạm đến kỷ luật quốc gia; trong trường hợp có sự bắt bớ trái phép
yêu cầu cấp tốc can thiệp với tòa [tỉnh] để giải quyết gấp;
Sẽ thiết
lập một Ủy Ban đặc biệt có nhiệm vụ tiếp xúc với đồng bào Phật Giáo để
giải quyết nhanh chóng những việc liên quan đến vấn đề thực thi thông
cáo chung. (156)
Tuy nhiên thông cáo trên không đủ ngăn chặn tăng ni, Phật tử tấp nập
tới chùa Từ Ðàm bái viếng thi hài Thích Tiêu Diêu. Buổi chiều, Tiểu khu
Thừa Thiên mở cuộc họp báo trình bày vụ Tiêu Diêu.
Trong khi đó, Chủ
Nhật, 18/8, Thích Minh Nhật, Tổng thư ký THPG tại Sài Gòn, diễn thuyết
tại chùa Diệu Ðế. Ðề tài: “Phật tử trong giai đoạn hiện tại.” Khoảng
2000 người tham dự. Tại Sài Gòn, Phật tử cũng tụ họp đông đảo ở chùa Xá
Lợi vì có tin chính phủ sẽ ra tay tấn công. Trong khi đó, mười Tướng
lãnh và Tư lệnh đơn vị họp mật. Ðồng ý yêu cầu Diệm thiết quân luật, để
bắt buộc các tu sĩ trở lại chùa.
Thời gian này, sinh viên Huế cũng
bắt đầu xao động. Ngày 15/8, đại diện sinh viên Phật tử gặp Viện trưởng
Ðại học Huế là Cao Văn Luận, xin can thiệp trả tự do cho những người bị
bắt giữ. Mới xuất ngoại trở về, ghi nhận được những đổi thay của chính
giới Mỹ, Luận có phần thiện cảm với phe tranh đấu, nên hứa sẽ can
thiệp.( 57) Nhưng ngay chính Linh mục đang bị thất sủng. Ngày 16/8,
trong khi chính quyền địa phương ban hành lệnh thiết quân luật từ 6 giờ
sáng, bố trí xe tăng án ngữ ở một số ngã tư, kẽm gai kéo ra ngăn chặn dự
định tự thiêu của Ðại đức Tiêu Diêu ở chùa Từ Ðàm, Bộ trưởng Giáo Dục
Nguyễn Quang Trình cùng Trần Hữu Thế, tân Viện trưởng Ðại học Huế, tới
cố đô để làm lễ bàn giao với Linh mục Luận vào ngày hôm sau.( 158)
Nhân
cơ hội này, sinh viên tranh đấu khai thác việc thay thế Viện trưởng
Luận. Ngày 17/8, lễ bàn giao chức Viện trưởng được đánh dấu bằng vụ từ
chức tập thể của các Giáo sư Ðại học Huế: Lê Khắc Quyến, Khoa trưởng Y
khoa; Bùi Trần Huân, Luật khoa; Tôn Thất Hanh, Khoa học; Nguyễn Văn
Trường, ban Khoa học Sư phạm; Lê Tuyên. Thế phải bỏ vào Sài-gòn báo cáo.
Trong khi Luận lên đường vào Ðà Nẵng, các giáo sư lại ký kiến nghị phản
đối việc cách chức Luận (159)
Buổi chiều 17/8, Tiểu khu Thừa Thiên
mở cuộc họp báo trình bày vụ Tiêu Diêu. Lúc 16G00, ký giả ngoại quốc kéo
nhau rời phòng họp vì có tin khoảng 200 sinh viên Huế bắt đầu biểu tình
tới Tòa Ðại biểu TNTP đưa kiến nghị yêu cầu lưu giữ Viện trưởng Luận.
Nguyễn Xuân Khương và Bộ trưởng Trình ra nhận kiến nghị trước cổng Tòa
Ðại biểu. (160)
Chủ Nhật, 18/8, một số Khoa trưởng, Giáo sư và khoảng
500 sinh viên hội thảo tại Ðại học Huế. Vận động bãi khóa, bỏ thi cử,
phản đối việc cách chức Cao Văn Luận, và thành lập một Ban chấp hành
Sinh viên mới, hầu mở rộng liên lạc với Tổng hội Sinh viên Sài Gòn và Ðà
Lạt. Họ đưa kiến nghị lên Tổng thống. (161)
Hôm sau, 19/8, sinh viên
Huế hủy bỏ một cuộc biểu tình vì sợ bị chụp mũ Cộng Sản (ngày kỷ niệm
Cách Mạng tháng 8/1945). Nhưng các giáo chức đệ đơn từ chức trong khi
sinh viên yêu cầu tân Viện trưởng Thế–đương kim Ðại sứ Philippines, mới
được Ngô Ðình Thục đề cử thay Linh mục Luận mà không hề thông báo cho Bộ
Ngoại Giao–chuyển thỉnh nguyện mời Cao Văn Luận trở lại. (162) Thứ Ba,
20/8, Viện trưởng Thế cho lệnh những buổi hội họp trong khuôn viên
trường phải xin phép trước. (163)
Giọt nước làm tràn ly, và cũng
chiếc đinh đầu tiên đóng lên nắp quan tài VNCH, là cuộc tấn công hầu hết
các chùa chiền trên toàn quốc vào nửa đêm ngày 20, rạng ngày 21/8/1963.
Ðây là một tội ác vi phạm nhân quyền khác, nặng nề gấp trăm lần cách
dùng đèn cầy [nến] đốt hậu môn tù nhân mà có nhân chứng tiết lộ rằng Tri
huyện Ngô Ðình Diệm sính dùng để khảo cung nghi can ngày còn làm quan
cho Pháp hơn 30 năm trước. Cuộc tấn công này và những thủ thuật bưng
bít, xuyên tạc của anh em ông Diệm-Nhu trong những ngày kế tiếp–như ông
Diệm cả quyết rằng chỉ lục soát vài chục ngôi chùa lớn trong số 4,700
chùa khắp miền Nam–gỡ xuống chiếc mặt nạ “tiết trực tâm hư” của ông
Diệm, và gột sạch bất cứ thiện cảm nào còn sót lại với ông ta trong đám
đông thầm lặng cũng như viên chức Mỹ.
Cho đến nay, vẫn còn người cố
tình xuyên tạc về biến cố tấn công các chùa chiền đêm 20 rạng 21/8. Bởi
thế tưởng nên thuật lại tóm lược biến cố trên.
Mùa Phật Ðản Ðẫm Máu (phần 3 Của 3)
IV. GIỌT NƯỚC LÀM TRÀN LY:
Sau khi Nolting rời Việt Nam, anh em Diệm-Nhu quyết chào đón tân Ðại
sứ Lodge bằng vài món quà ngoạn mục. Hai món quà lớn nhất là cuộc tổng
tấn công các chùa trên toàn quốc và công khai tiếp xúc với sứ giả Hà
Nội.
Nguyên cớ gần có lẽ là bức điện văn mật ngày 16/8/1963 của Ðại
sứ Trần Văn Chương: Theo Chương, dư luận thế giới và đặc biệt là tại Mỹ
tin rằng Diệm không thể mang lại chiến thắng Cộng Sản. Cuộc khủng hoảng
Phật Giáo vốn dĩ không phải là nguyên nhân, mà chỉ là hậu quả, một giọt
nước làm tràn ly. Bởi thế, Diệm phải ngưng tin dùng các cố vấn Nhu và
Cẩn.( 164)
Ðúng ngày 16/8 này, báo Life đăng lại lời Lệ Xuân tuyên bố
là sẽ phá tan Phật giáo. Trong khi đó, Hòa thượng Tịnh Khiết viết thư
cho Diệm, cực lực phản kháng “sự ác độc của một chế độ xem dân như cỏ
rác,” và “mong được chết an hơn sống khổ.”( 165)
Ngày 17/8, Phật tử tụ họp đông đảo ở chùa Xá Lợi. Hôm sau, hơn 10,000 Phật tử đến chùa Xá Lợi làm lễ cầu siêu.
A. CUỘC TỔNG CÀN QUÉT CHÙA CHIỀN:
Ý định tấn công các chùa chiền
và ban hành thiết quân luật từ nửa đêm ngày 20/8 không được giữ bí mật
hoàn toàn như người ta thường nghĩ. Bộ trưởng Nguyễn Ðình Thuần đã cho
nhân viên Tòa Ðại sứ Mỹ biết về Thiết quân luật trước nhiều giờ.( FRUS,
1961-1963, III:595n2) Một ký giả Mỹ cũng tự nhận được “mật báo” từ một
viên chức nào đó tại Dinh Gia Long, nên đã tới chùa Xá Lợi trước khi xảy
ra cuộc tấn công. Và, thực ra, từ hơn nửa tháng trước, đích thân ông
Nhu đã răn đe trong cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Reuters là sẽ phá
tan chùa Xá Lợi, nhưng khi bị Nolting chất vấn đã qui trách cho ký giả
Mỹ dẫn không đúng lời mình. Từ ngày 7/8/1963, Hòa thượng Tịnh Khiết cũng
đã báo động với Tổng thống Diệm về ”Kế hoạch Nước Lũ,” nhằm cô lập và
phân hoá các chùa, đồng thời đàn áp cuộc đấu tranh của Phật Giáo.
(165bis)
Ngày Chủ Nhật 18/8, mười Tướng và Tư lệnh đơn vị–kể cả Huỳnh
Văn Cao và Tôn Thất Ðính–họp mật, rồi đồng ý yêu cầu Diệm thiết quân
luật, để bắt buộc các tu sĩ trở lại chùa.( 166) Hai ngày sau, 20/8, các
Tướng trình dự thảo Thiết quân luật lên Nhu và Diệm. Diệm chấp thuận,
cho lệnh André Ðôn, mới được cử làm Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng thay Ðại
tướng Lê Văn Tỵ, ký tên và công bố ngay nửa đêm đó. Ðính được cử làm
Tổng trấn. Tuy nhiên, Diệm không hề hé môi về kế hoạch trên trong buổi
họp chính phủ suốt chiều ngày 20/8.( 167)
Khoảng nửa giờ sau khi
Thiết Quân luật có hiệu lực, Nhu cho lệnh tấn công các chùa trên toàn
quốc. Tại chùa Xá Lợi Sài Gòn, nơi đặt bản doanh Ủy ban Tranh đấu Liên
Phái, hai đại đội thuộc Liên đoàn 31 Lực Lượng Ðặc Biệt [LLÐB], Ðại đội
16 Bảo An, và Cảnh Sát mặc giả quân phục đánh chiếm mục tiêu. Hòa thượng
Tịnh Khiết, Thượng tọa Tâm Châu, cùng nhiều tăng sĩ bị bắt giam sau một
giờ chống cự. Khoảng 30 tăng sĩ bị thương, và 2 người bị mất tích. Ðích
thân Ðại tá Lê Quang Tung, Chỉ huy trưởng LLÐB, và Giám đốc Cảnh sát CA
Ðô thành, Trần Văn Tư [tài liệu Pháp ghi là Cò Túc?], chỉ huy, dưới sự
điều động của Ðính.
Do mật báo từ Dinh Ðộc Lập, ký giả ngoại quốc
biết trước tin này và có mặt tại chùa Xá Lợi để chứng kiến cuộc “vét
chùa”, và quyết tâm bảo vệ đạo pháp của các tăng ni. Các chùa Ấn Quang,
Chantareansay (Sài Gòn) đều bị chiếm. Các tăng trụ trì, Thiện Hoa và Lâm
Em, bị bắt .( 168) Ðồng thời, hai chùa Linh Mụ và Từ Ðàm (Huế), cùng
các chùa ở Ðà Nẵng, Nha Trang v.. v... đều bị chìm trong “nước lũ” bạo
lực. Tại Huế, khoảng 3 giờ đêm tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kêu cầu cứu
vang lên khắp nơi. Ðồng bào quanh chùa đánh mõ, gõ thùng thiếc báo
nguy. Ðợt tấn công đầu, Cảnh sát bị đẩy lui. Sau đó, Ðỗ Cao Trí cho lệnh
nổ súng. Những giáo sư, sinh viên và học sinh tranh đấu cũng bị bắt
giữ.( 169) Tổng cộng khoảng 1,400 tăng sĩ, bị bắt trên toàn quốc. Chỉ có
hai sư từ chùa Xá Lợi thoát được tới Phái Bộ Kinh Tế [USOM] gần đó xin
tị nạn. Qua ngày 23/8, Trí Quang cũng trốn được vào Toà Ðại sứ Mỹ.( 170)
Tại
Sài Gòn, Diệm triệu tập Hội đồng chính phủ vào lúc 5G30 sáng. Diệm chỉ
giải thích rằng phải thiết quân luật theo điều 44 Hiến pháp vì Cộng Sản
đã xâm nhập một số tỉnh lÿ, quận lÿ gần thủ đô; nhưng tuyệt nhiên không
đả động đến vụ tấn công chùa Xá Lợi. Vì đã được một nhân viên báo tin
cuộc tấn công chùa Xá Lợi, Ngoại trưởng Mẫu phản đối. Phó Tổng thống Thơ
cũng ngả theo Mẫu.( 171)
Nửa giờ sau, đài phát thanh bắt đầu loan đọc Tuyên cáo ban hành lệnh giới nghiêm trên toàn lãnh thổ, hiệu lực từ ngày 21/8:
Chiếu
điều 44 Hiến Pháp, kể từ ngày 21/8/1963, tôi tuyên bố ban hành lệnh
giới nghiêm trên toàn thể lãnh thổ Quốc Gia. Ủy nhiệm cho QÐVNCH tận
dụng mọi phương tiện và thi hành mọi biện pháp cần thiết bảo vệ Quốc Gia
chiến thắng Cộng Sản, xây dựng tự do, dân chủ.
“Số người đầu cơ
chính trị, lợi dụng tôn giáo, lợi dụng thái độ hòa giải tột bực của
chính phủ liên tiếp hành động bất hợp pháp để tạo nên một tình trạng rối
loạn phá hoại chính sách ấy và cản trở chủ trương dân chủ pháp trị, rất
tổn thương cho uy tín Phật Giáo, chỉ lợi cho Cộng Sản.” (HS 8501 &
8506)
Quân đội VNCH từ nay “chịu trách nhiệm hoàn toàn về an ninh
công cộng, có quyền xét các tư gia bất cứ giờ nào, bắt giữ những người
xét ra có hại cho an ninh công cộng; cấm mọi cuộc hội họp, tụ tập có thể
phương hại cho an ninh trật tự công cộng; hạn chế tự do báo chí, kiểm
soát hệ thống phát thanh, kiểm soát phim ảnh kịch trường; cấm tàng trữ,
lưu hành những ấn loát phẩm, tài liệu, truyền đơn xét có hại cho an ninh
công cộng (điều 3); tất cả mọi vi phạm đến trật tự công cộng đều thuộc
thẩm quyền của Tòa án quân sự (điều 4). (Sắc lệnh này gồm 5 điều, công
bố theo tình trạng khẩn cấp. (172)
Nhu cũng đọc diễn văn, yêu cầu Thanh Niên Cộng Hòa yểm trợ chính phủ. (173)
Trong
phiên họp hàng tuần về ACL ngày Thứ Sáu, 23/8, Ngô Ðình Nhu dành nhiều
thì giờ giải thích về cuộc đấu tranh của Phật Giáo. Theo Nhu, tình trạng
trầm trọng trong nước từ hơn 3 tháng qua là “do một số Sư Sãi đã tiếm
đoạt địa vị của Phật Giáo và có những hành vi, ngôn ngữ và thái độ hoàn
toàn trái ngược với Pháp Chánh của Ðạo Phật và luật pháp của Quốc Gia,
đồng thời bất chấp đến ý chí hòa giải tột bực của Tổng thống và chính
phủ. . . . Thiện chí ôn hòa của chính phủ đã bị số sư sãi trên coi là
biểu hiệu của một sự nhu nhược, nên họ càng làm tới. Họ đã biến các chùa
chiền nhất là chùa Xá Lợi thành những trung tâm khuấy rối, khủng bố các
vị chân tu, hàng ngày mạt sát và đả kích chính phủ, rồi cứ thế được đà,
họ đã tiến tới những âm mưu vận động phá hoại quốc gia, và tổ chức đảo
chánh cố kềt với Cộng Sản và Ngoại quốc.” Họ dùng phương pháp “bình
nghị” để cưỡng ép các vị chân tu phải lần lượt tự thiêu để họ liên tục
khai thác bên cạnh những xác chết đó hầu thực hiện những âm mưu chính
trị của họ. Ban Trị sự Giáo Hội Tăng Già Nam Việt phải bỏ chùa Ấn Quang
về miền Tây.
“Thiêu đốt Thượng tọa Thích Quảng Ðức.” [tr. 7] Có người
bật quẹt đốt Quảng Ðức vì hộp quẹt trong người Thượng tọa bị ướt, không
cháy. Vị sư đưa hộp quẹt đốt Quảng Ðức hối hận bỏ trốn, bị lùng bắt để
thủ tiêu.
Với chính phủ thì bọn người lợi dụng tôn giáo này đã đi từ
khiêu khích này tới khiêu khích khác liên tục. . . Chính phủ tự mình đặt
vào một thế bất động trong lúc bọn người lợi dụng tôn giáo cứ tiến tới
vừa khiêu khích vừa ru ngủ mình [Tâm Châu và Thiện Minh xin gặp Nhu
nhưng không đến, không viết thành văn lời yêu cầu; không tham gia Ủy Ban
Hỗn Hợp]
Ai ưng tu hành thì quyết tâm tu cho đắc đạo, và ai ưng làm
chính trị thì phải từ bỏ áo tu, ra hẳn ngoài đời để làm chính trị, chứ
không thể kéo dài tình trạng mập mờ, nửa đạo nửa đời như từ hơn ba tháng
nay được. (174)
Ngày này, các cấp TNCH gửi kiến nghị ủng hộ Diệm. (175)
Tại Huế,
ngày 24/8, Tỉnh trưởng Nguyễn Mâu sử dụng TNCH xét giấy người khả nghi.
Hôm sau, 25/8, tổ chức “50,000 người” biểu tình trước bến Phú Văn Lâu
chống và “lên án bọn lưu manh phản động đội lốt tôn giáo âm mưu phá rối
an ninh công cộng,” và lên án bọn phản loạn đội lốt tôn giáo. (176) Mâu
còn cho lệnh bắt giữ Thích Trí Hữu, Tổng Thư Ký Phật Giáo Trung Phần,
cùng hai người tháp tùng. (177)
Chiến dịch Nước Lũ nhằm đánh chiếm
chùa và bắt giữ tăng ni là một thứ chiến thắng cay đắng cho chế độ
Diệm-Nhu. Mặc dù hầu hết các lãnh đạo phong trào tranh đấu đều bị bắt
giữ–ngoại trừ Thượng tọa Thích Trí Quang và hai tăng trốn vào được Tòa
đại sứ Mỹ tại Sài Gòn–biến cố này gây nên một chuỗi phản ứng giây chuyền
mà kết quả chung cuộc là cái chết bi thảm của ba anh em họ Ngô.
Trên
bình diện quốc nội, sinh viên, học sinh Huế–có sự tiếp tay của cán bộ
Cộng Sản hay chăng–xuống đường biểu tình dữ dội. Ðường phố Ðà Nẵng cũng
rung chuyển khí thế đấu tranh và quyết tâm đánh dẹp biểu tình của nha
trảo chế độ. Thục, rồi Nhu yêu cầu Linh mục Luận, lúc đó đang tạm trú ở
Ðà Nẵng, trở lại Huế giải quyết. Luận từ chối, dù là một cán bộ Cần Lao
cao cấp–chuyến tham quan Mỹ trong mùa Hè 1963 cho Luận nhận hiểu ngày
tàn của chế độ đã điểm.( 178)
Một biến cố chấn động dư luận là chiều
ngày 22/8, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đột ngột từ chức xuống tóc, đệ đơn
xin từ chức. Sau đó, tiếp kiến các phái đoàn Ngoại giao (Trung Hoa Quốc
Gia, Thái Lan, Ðại Hàn, Nhật Bản, Lãnh sự India, Chủ tịch UHQTKSÐC), và
chào từ biệt Nguyễn Ngọc Thơ tại Hội trường Diên Hồng. Sáng ngày Thứ
Bảy, 24/8, Mẫu tới Ðại học Luật khoa nói chuyện với khoảng 3000 sinh
viên các phân khoa sinh viên. Hô hào sinh viên tranh đấu bất bạo động.
Có Vũ Quốc Thúc và Nguyễn Văn Bông xuất hiện. Hẹn sẽ gặp lại vào ngày
hôm sau. Nhưng từ ngày này, bị giam lỏng tại gia. (179) Ngày 23/8, Diệm
đã không chấp thuận cho Mẫu từ chức, mà chỉ cho nghỉ dài hạn ba tháng,
qua Nepal hành hương. Ngày 26/8, trên đường ra phi trường qua India, Mẫu
bị Tổng trấn Tôn Thất Ðính cản lại tịch thu thông hành. Mãi tới ngày
29/8, Mẫu mới được rời nước.
Biến cố thứ hai là sự nhập cuộc của giới
sinh viên, học sinh Sài Gòn. Ngày 22/8, 1253 sinh viên trường Kỹ thuật
Phú Thọ (trên tổng số 1291 người) bãi khoá. Chỉ có 15/80 sinh viên ban
Cao đẳng hỗn hợp, 7/302 sinh viên Công chánh và 16/189 sinh viên ban
Ðiện đi học. (180) Hôm sau, 23/8, sinh viên Y-Dược Sài Gòn xuống đường
ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật tử và sinh viên, giáo chức tại miền
Trung. Cảnh sát đàn áp mạnh, bắt giữ nhiều người. Việc sinh viên Y-Dược,
được coi là cốt cán của chế độ và những thành phần bảo thủ nhất trong
xã hội, nghiêng về phe Phật Giáo cho thấy uy tín chế độ đã suy tàn. Anh
em Diệm-Nhu tìm cách vuốt ve, nhưng không thành công. Nhiều người trong
số 19 thành viên ủy ban đại diện bị bắt. (181)
Sáng Chủ Nhật 25/8,
hàng chục ngàn sinh viên học sinh biểu tình tại Chợ Bến Thành và nhiều
địa điểm khác trong thủ đô. Hai anh em Diệm-Nhu thẳng tay đàn áp. Nhiều
người chết, bị thương, hay bị bắt giữ. Vì dám chống đối chế độ, sinh
viên, học sinh được chụp ngay cho cái mũ “Cộng Sản.”
Trong khi đó,
Trần Văn Chương–cha vợ Nhu, đương kim Ðại sứ tại Mỹ –cũng từ chức phản
đối, hoặc bị Diệm cách chức, từ ngày 22/8/1863. Mẹ Lệ Xuân, Thân Thị Nam
Trân, từ chức Quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc. Từ ngày 17/8, Chương đã
gửi mật điện cho Diệm, báo cáo rằng dư luận thế giới và đặc biệt tại Mỹ
tin rằng Diệm không thể mang lại chiến thắng Cộng Sản. Cuộc khủng hoảng
Phật Giáo vốn dĩ không phải là nguyên nhân, mà chỉ là hậu quả, một giọt
nước làm tràn ly. Phải ngưng tin dùng các cố vấn Nhu và Cẩn. Nội các
cho rằng điện văn đó không thể chấp nhận được, “khiêu khích và huênh
hoang,” nên ngày 21/8/1963 bị Diệm cách chức trước khi xin từ chức. Diệm
tuyên bố phải loại trừ bọn phá hoại, không đàn áp Phật Giáo, và tin
tưởng ở quân đội. (182)
Tối 27/8, hai vợ chồng Chương còn thúc dục
Tướng Lansdale là Mỹ phải lật đổ ngay Diệm-Nhu, bằng không dân chúng sẽ
trở thành chống Mỹ. Ðích thân Nam Trân yêu cầu Lansdale qua ngay Sài
Gòn, khuyên anh em Diệm rời nước. Nam Trân nhấn mạnh:
Dân chúng đã
ghét họ, và họ không nên ở lại để chờ bị dân chúng giết. Họ chắc chắn sẽ
bị giết nếu còn ở lại, và chẳng có ai trong Dinh [Gia Long] bảo thẳng
với họ về cảm tưởng của dân chúng. Họ đã bị cách biệt hẳn với thực tế.
Sau chín năm cầm quyền, tại sao họ còn muốn tiếp tục nếu toàn gia bị
chết. Nước Mỹ đã bảo Syngman Rhee [Lý Thừa Vãn của Nam Hàn] rời nước
[năm 1961]. Tại sao không làm như thế với Diệm và Nhu?( 183)
Ngày 24/8, Vũ Văn Thái–cựu Giám đốc Ngân sách và Ngoại viện, hiện
đang làm việc cho cơ quan LHQ tại Lome, Togo– cũng viết thư cho
Harriman, đề nghị Diệm và gia đình phải ra đi. Nội dung thư Thái tương
tự như thư riêng của Vũ Văn Mẫu gửi Chester Bowles từ New Dehli.( 184)
Trong
khi đó, cuộc tấn công chùa chiền ngày 21/8 gây nên những phản ứng sâu
đậm khắp thế giới. Từ ngày 11/6, bức hình tự thiêu của Thượng tọa Quảng
Ðức đã trở thành biểu tượng của cuộc tranh đấu của Phật giáo và chính
sách giáo phiệt Ki-tô của anh em Diệm. Vào thượng tuần tháng 8/1963, một
số nước Phật giáo chính thức yêu cầu triệu tập Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp
Quốc thảo luận. Ngày 22/8, từ Nam Vang, chính phủ Cao Miên ra tuyên cáo:
“Chính
phủ Hoàng gia Căm-bốt kinh hoàng đón nhận tin chính phủ Sài-gòn đàn áp
man rợ các tăng ni và Phật tử Nam Việt Nam vào rạng sáng ngày 21/8/1963.
Việc tấn công các chùa bằng lực lượng tinh nhuệ của chính phủ, việc tàn
sát tăng ni, việc bắt giữ, việc phong tỏa các nơi thờ tự đang diễn ra
tại thủ đô Việt Nam là một thách thức thế giới văn minh. Trong lịch sử
hiện đại chỉ có chế độ Hitler mới dám vi phạm những tội ác chống lại
quyền tối thượng của con người như thế.”
Tiếp đó, chính phủ Sihanouk kêu gọi các quốc gia tố cáo và ngăn chặn
tội ác đàn áp Phật giáo của chính phủ Diệm. Nam Vang còn kêu gọi Vatican
cho lệnh chính quyền Diệm và tín đồ Ki-tô phải theo đúng nguyên tắc cao
cả của Ki-tô giáo. (185)
Ngay đến Vatican, điểm tựa vững chắc nhất
của chế độ Diệm, cũng bất bình. Khâm sứ Vatican d’Asta từng bảo thẳng
Diệm rằng việc tấn công chùa chiền và đàn áp Phật Giáo làm hại cho uy
tín Vatican và đi ngược lại quyền lợi của quốc gia Việt Nam.
Tại Mỹ,
hầu hết các cơ quan ngôn luận đều yêu cầu chính phủ Mỹ có thái độ tức
khắc. Tờ New York Times kịch liệt lên án chính phủ Diệm, mà sự mất lòng
dân, độc tài và tàn bạo biểu lộ qua cuộc đàn áp Phật giáo. Báo này cũng
chỉ trích chính phủ Kennedy đã không sử dụng áp lực thích đáng với Diệm
và chậm trễ trong việc minh định thái độ. (186)
Những báo khác gọi
chế độ Diệm là độc tài, cảnh sát trị, làm mất giá trị sự tham chiến của
lính Mỹ trong cuộc chiến chống Cộng. (187)
Chỉ riêng tờ New York
Herald Tribune muốn chính phủ Kennedy tiếp tục yểm trợ chính phủ Diệm
trước hiểm họa Cộng Sản. Marguerite Higgins, trong loạt bài viết về chế
độ Diệm, lập lại hầu như nguyên văn lời tuyên truyền của chế độ Diệm:
không có kỳ thị tôn giáo mà những biến động thuần có tính cách chính
trị, do Cộng Sản giật dây, với sự hỗ trợ của báo chí ngoại quốc, đặc
biệt là Mỹ.
Bối rối và giận dữ nhất là các viên chức Mỹ. Tại Sài Gòn,
để bảo mật, ngay sau nửa đêm 20/8, Nhu cho lệnh cắt đứt dây điện thoại
tới Tòa Ðại sứ Mỹ và tư gia các viên chức Mỹ. Bởi thế, ngày 21/8, từ
Trueheart tới Chánh sở CIA John H. Richardson đều không biết rõ chính
Diệm đã cho lệnh, hay các Tướng lãnh đã làm đảo chính, đánh chiếm chùa
chiền. Ngộ nhận các Tướng làm đảo chính, đài VOA và Bộ Ngoại Giao Mỹ
nghiêm khắc qui trách cho quân đội.( 188)
Mãi tới 6G00 sáng ngày
21/8–sau khi Diệm đã cho công bố lý do hành quân cảnh sát lục soát một
số chùa, và giới nghiêm vì Cộng Sản xuất hiện gần Sài Gòn–Tướng André
Ðôn mới điện thoại cho Paul Harkins thông báo về lý do ban hành thiết
quân luật. Theo Ðôn, Diệm cho lệnh Thiết quân luật để chống lại Phật
giáo. Lệnh này chắc không kéo dài quá ngày bầu cử [Quốc Hội dự trù vào
ngày 31/8/1963]. Ðôn cũng tiết lộ mới chỉ sử dụng 1 tiểu đoàn Dù, 1 tiểu
đoàn TQLC, và quân cảnh ở Sài Gòn. Tuy nhiên, các đơn vị ven đô đều đặt
trong tình trạng báo động. Thiết giáp cũng xuất hiện tại thủ đô và Chợ
Lớn.
Ðại sứ Nolting–đang dự hội nghị Honolulu với tân Ðại sứ Lodge,
Hilsman, Ðề Ðốc Harry D. Felt, và Paul Kattenburg, tân Chủ tịch Ủy Ban
Ðặc Nhiệm Việt Nam tại Bộ Ngoại Giao Mỹ–gửi cho Diệm một công điện phản
đối, trách móc Diệm: “Ðây là lần đầu tiên ông không giữ lời hứa với
tôi.” (189)
Hôm sau, 22/8, Tổng thống Kennedy chỉ thị Lodge nhận
nhiệm sở càng sớm càng tốt, vì Lodge dự định ghé thăm Hong kong ít ngày,
rồi trình ủy nhiệm thư vào ngày 26/8. Oat-shinh-tân vội gửi một phi cơ
quân sự đặc biệt cho Lodge tới ngay Sài Gòn. Khoảng 21G30 ngày 22/8,
Lodge mới có mặt tại thủ đô miền Nam. Tới trước Lodge vài tiếng đồng hồ
là mật điện của Hilsman, chỉ thị phải tìm cách giảm quyền lực Nhu. (190)
Lodge
là một lãnh tụ quan trọng của Ðảng Cộng Hòa Mỹ. Năm 1960, Lodge từng
đứng chung liên danh với Richard M. Nixon, nhưng bị liên danh
Kennedy-Johnson của Ðảng Dân Chủ đả bại khít khao. Từ tháng 6/1963, khi
Oat-shinh-tân hỏi ý kiến về việc đề cử Lodge, Diệm không phản đối, nhưng
không dấu sự bất mãn và lo ngại. Nhu mỉa mai gọi Lodge là Toàn quyền
[Gouverneur General], trong khi Diệm tuyên bố dù có gửi ịá10 LodgeáỂ qua
Việt Nam, Mỹ vẫn phải huấn luyện người bắn pháo binh vào Dinh Gia Long.
Trong
buổi tiếp kiến Kennedy vào trưa ngày 15/8, Lodge có cảm tưởng rằng
Kennedy đặc biệt lo ngại về tình hình Việt Nam, và hàm ý rằng chế độ
Diệm đang đi vào đoạn kết. Cuộc tấn công chùa ngày 21/8 đặt Lodge trước
một việc đã rồi. Một cái tát xiếc, như một ký giả Mỹ nhận định, nếu xét
kỹ những áp lực và đòi hỏi “hòa hoãn với Phật giáo” của Oat-shinh-tân.
Ngay
trong ngày 23/8, Lodge cho nhân viên đi tiếp xúc hầu hết các nhân vật
cao cấp Việt để có được một hình ảnh rõ ràng về tình hình. Lodge còn mời
các ký giả Mỹ tới tham khảo hầu cải thiện liên hệ giữa Tòa Ðại sứ với
các ký giả. Không kém quan trọng, Lodge cho người đi tháo gỡ dây kẽm gai
mà Cảnh sát giăng kín trụ sở USOM, đích thân tiếp xúc hai nhà sư xin tị
nạn, và gặp đại diện nhóm Caravelle. Lodge còn tiếp xúc với Ðại sứ
Italia Giovanni d’Orlandi và Khâm sứ Vatican Salvatore d’Asta. Chỉ trong
vòng 24 giờ, Lodge đã nắm vững được tình hình. Trước hết, quân đội
không dính líu gì đến cuộc tấn công chùa chiền, và nhiều nhóm muốn làm
đảo chính.
Nhân viên CIA Lucien “Lu” Conein và Rufus Phillips được
Nguyễn Ðình Thuần, Võ Văn Hải, Chánh văn phòng của Diệm, André Ðôn, và
Lê Văn Kim, khẳng định rằng chính Nhu cầm đầu cuộc tấn công chùa chiền.(
191) Buổi nói chuyện giữa Ðôn và Conein tại Bộ Tổng Tham Mưu khiến
Lodge chú ý nhất. Ðôn yêu cầu đài VOA cải chính là không phải quân đội
đã tham gia cuộc đàn áp, tấn công các chùa chiền, mà chính Cảnh sát đặc
biệt của Nhu. Theo Ðôn, khoảng 1,420 tăng ni bị bắt giữ khắp miền Nam
trong ngày 21/8. Nhu là “khối óc” [thinker] của Diệm; nhưng Diệm có
quyền quyết định. Lệ Xuân hành xử như “vợ” [platonic wife] Diệm. Diệm
chưa bao giờ lấy vợ và không quen có đàn bà bao quanh. Chín năm qua, Lệ
Xuân chăm sóc Diệm sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc. Lệ Xuân nói chuyện,
giúp Diệm giải tỏa áp lực, và giống như bất cứ người vợ nào, thống trị
gia đình. Giữa Diệm và Lệ Xuân không có liên hệ tình dục, vì Diệm chưa
hề trải qua mùi vị nam nữ. Diệm và Lệ Xuân, theo Ðôn, giống như Hitler
và Eva Braun. Ðôn cũng tiết lộ Diệm rất thích những thanh niên đẹp trai.
Một Trung sĩ làm vườn đã được cất nhắc lên Trung tá, trông coi dinh
điền quân đội, nhờ đẹp trai. Theo Ðôn, không thể tách rời Diệm với vợ
chồng Nhu. Nếu phải chọn giữa Diệm và Nhu, Ðôn muốn Nhu ra đi.( 192)
Tướng
Lê Văn Kim, phụ tá báo chí của Ðôn, tâm sự với Phillips, Giám đốc Phòng
Cải Cách Ðiền Ðịa của cơ quan USOM, đặc trách Ấp Chiến Lược, là quân
đội đã trở thành “tay sai” của Nhu. Chính Nhu đã bầy mưu để các Tướng
yêu cầu ban hành thiết quân luật. Và, 1426 tăng ni, Phật tử đã bị bắt
giữ. Sáng ngày 23/8, sinh viên Y khoa và Dược đã bắt đầu biểu tình. Nhu
đã cho lệnh Cao Xuân Vỹ tổ chức phản biểu tình vào ngày 25/8.
Trong
bữa điểm tâm tại tư dinh Nguyễn Ðình Thuần ngày 24/8, Thuần cũng nói với
Phillips rằng vợ chồng Nhu phải ra đi. Theo Thuần, ngày hôm trước
(23/8), Diệm đã viết thư cho Lệ Xuân, yêu cầu từ nay đừng tuyên bố gì
nữa. Diệm cũng đã chuyển cho Bénoit Trần Tử Oai và Tổng Giám Ðốc Thông
Tin [Phan Văn Tạo?] biết lệnh này. Theo Thuần, Mỹ đừng lo ngại việc mở
cửa cho Cộng Sản với cái giá phải yểm trợ một chính phủ có Nhu. Nếu Mỹ
cả quyết, các Tướng sẽ hành động.( 193)
Vị đắng của cảm giác bị anh
em Diệm-Nhu “phản bội” và ý niệm vai trò Diệm đã mất đi sự tối thiết
hoặc hữu dụng trong chiến lược của Mỹ khiến Lodge giữ thái độ xa cách
với Dinh Gia Long. Sách lược của Lodge là giai đoạn mềm mỏng dưới thời
Nolting đã qua. Diệm phải tìm đến Lodge–như ngày nào Diệm đã phải tìm
đến tu viện Maryknoll ở New Jersey và Oat-shinh-tân cầu viện trợ. Vì,
thực ra Diệm cần Mỹ hơn Mỹ cần Diệm.
Chỉ có Tướng Harkins vẫn ủng hộ
Diệm. Trong báo cáo ngày 22/8 về Oat-shinh-tân, Harkins tán thành việc
tấn công các chùa, vì muốn ổn định tình hình. Harkins cũng không đồng ý
việc đặt Ðôn lên chức Tổng Tham Mưu trưởng, hay Ðính nắm Quân đoàn III
và Biệt Khu Thủ Ðô, vì việc bổ nhậm này tạo cho phe đảo chính cơ hội nắm
quyền dễ dàng.( 194)
Tuy nhiên, phe Cố vấn ANQG Bundy cùng Harriman
và Hilsman tại Bộ Ngoại Giao cảm thấy đã quá đủ với họ Ngô. Ngày cuối
tuần 24/8, XLTV Ngoại trưởng George Ball bật đèn xanh cho Lodge tìm một
giải pháp khác Diệm.
KẾT TỪ:
Mùa Phật Ðản 2507 (1963) đã đi vào lịch sử Phật giáo Việt Nam như một
trong những trang bi hùng nhất. Bảy ngọn lửa cúng dường cho đạo pháp
của tăng ni làm rúng động lương tâm nhân loại, ngoại trừ anh chị em nhà
họ Ngô và nha trảo, trong “cơn điên cuồng tập thể của một gia đình cai
trị chưa từng thấy từ thời các Nga hoàng.”( 195)
Ðây là lần đầu tiên
Phật Giáo đã vượt ra ngoài thế thụ động, “xuất thế” quen thuộc, đứng lên
tranh đấu cho quyền tự do và bình đẳng tín ngưỡng của mình. So với đồng
đạo ở phía Bắc vĩ tuyến 17, lãnh đạo Phật Giáo miền Nam đã chứng tỏ một
lòng vì đạo cao sâu hơn nhiều bậc. Họ đã giành đoạt được quyền tự do và
bình đẳng tôn giáo bằng máu, nước mắt và mồ hôi, mà không chờ đợi, van
vái ân sủng của nhà cầm quyền.
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo miền Nam
trong năm 1963, qua những tài liệu văn khố hiện đã giải mật, nặng tính
chất tôn giáo hơn chính trị. Mặc dù chế độ Diệm-Nhu-Thục cố tình diễn
giải cuộc tranh đấu của Phật Giáo dưới góc cạnh xấu xí nhất–như nặng
mang tính chất chính trị hơn tôn giáo, có bàn tay Cộng Sản giật giây, có
bàn tay ngoại cường (hiểu như người Mỹ), v.. v...– mùa Phật đản đẫm máu
1963 là cao điểm của phong trào duy tân Phật Giáo Việt Nam từ thập niên
1920. Tính cách phi-chính-trị của cuộc tranh đấu khiến người Mỹ, đặc
biệt là Cố vấn ANQG Bundy và Ðại sứ Lodge ra sức tiếp trợ. Nói cách
khác, cuộc tranh đấu của Phật Giáo đã khơi động niềm cảm phục của các
viên chức Mỹ cũng như dư luận thế giới, nơi giáo hội và chính phủ đã
hoàn toàn biệt phân, và tự do tín ngưỡng được coi như nhu cầu tối thiết,
một quyền người cơ bản. Ngay đến đại diện Vatican ở Sài Gòn cũng phải
cảnh cáo Diệm rằng việc đàn áp Phật Giáo là một tội ác, làm giảm uy tín
giáo hội Ki-tô.
Các tăng ni lãnh đạo phong trào tranh đấu không chỉ
chứng tỏ tinh thần Bồ tát đại dũng trước bạo lực, sẵn sàng dùng nhục
thân bảo vệ Phật pháp, mà còn chứng tỏ một chiến thuật vận động đấu
tranh tỉ mỉ, xuất sắc. Họ đã phối hợp giữa vận động quần chúng và các cơ
quan truyền thông quốc tế để tạo nên những biến động thu hút dư luận và
cảm tình của ngay những người chưa đủ khả năng tìm kiếm ra vị trí Việt
Nam trên bản đồ thế giới.
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo hẳn có thể đã
không xảy ra, hoặc giảm bớt cường độ và rút ngắn về thời gian, nếu nhà
cầm quyền khéo léo kiểm soát và giảm thiểu những hậu quả tại hại. Nhưng
chế độ Diệm-Thục-Nhu, giống như bất cứ một chế độ giáo phiệt tương tự
nào, đã đánh giá thấp biên độ và khả năng phát triển của phong trào
tranh đấu. Họ đã sử dụng nguyên vẹn những thủ thuật đã áp dụng đối với
Cao Ðài, Hòa Hảo, Bình Xuyên của tám chín năm trước, khi người Mỹ can
đảm hy sinh cả giao tình với nước Pháp để giữ Diệm ở lại chiếc ghế Thủ
tướng. Nhưng hơn tám năm đã qua, hơn hai tỉ Mỹ kim đã đổ vào Việt Nam.
Viễn ảnh thua trận bắt đầu ám ảnh những chuyên viên về Việt Nam, mà
Fishel, Mendendall hay Mansfield chỉ là ít nhân vật tiêu biểu. Dù rằng
vẫn chưa có một con ngựa nào khá hơn Diệm xuất hiện, các viên chức Mỹ đã
mất đi ảo tưởng về khả năng duy trì một miền Nam chống Cộng của họ Ngô.
Ðó là chưa nói đến mối bận tâm canh cánh bên lòng về âm mưu ve vãn Cộng
Sản của anh em Diệm-Nhu trong mùa Xuân-Hè 1963, hoặc mối đại họa là
bỗng một ngày nào đó Diệm-Nhu công khai đòi Mỹ triệt thoái khỏi Nam Việt
Nam.
Cuộc tranh đấu của Phật Giáo cũng bùng nổ trong một tình thế an
ninh-quân sự đặc biệt. Từ năm 1962-1963, Bắc Kinh đã sốt sắng hơn trong
việc sử dụng thanh nam, thanh nữ và tài nguyên Việt Nam, Lào,
Kampuchea–cùng cái gọi là học thuyết Mao về “chiến tranh giải phóng”–để
gạt ảnh hưởng Mỹ khỏi ngưỡng cửa chiến lược Ðông Nam. Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam đã có cả lực lượng vũ trang lên tới cấp trung đoàn, và
một hệ thống hành chính nông thôn, cùng tình báo tại các thành thị. Mặc
dù không chính thức ủng hộ cuộc tranh đấu của Phật Giáo, Trung Ương Cục
Miền Nam–mới được cải tổ vào cuối Hè 1961–đã lợi dụng cơ hội gửi cán bộ
tình báo chiến lược xâm nhập vào thành thị, khoét dần những lỗ hổng làm
cơ sở tiềm sinh trong giới sinh viên, học sinh, tôn giáo. Cho đến một
lúc, các lãnh đạo Phật Giáo mới khám phá ra rằng chiến thắng của Phật
Giáo năm 1963 mới chỉ là chiến thắng phiến diện. Giai đoạn 1966-1968,
khi Cố vấn QNQG Bundy đã rời chính quyền và Lodge cùng Ellsworth Bunker
đã mất hết thiện cảm, các lãnh tụ Phật Giáo sẽ tri nghiệm được rằng đừng
nên trộn lẫn giữa tôn giáo và chính trị.
9/2003-9/5/2010
Chính Ðạo
© 2004, 2010, by Chieu N. Vu. All Rights Reserved
Phụ chú:
1. CÐ số 9195, ngày 6/5/1963, Quách Tòng Ðức gửi Ðô
trưởng Sài Gòn, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, các Ðại biểu CP; Trung Tâm Lưu
Trữ Quốc Gia [TTLTQG] II (Thành phố Hồ Chí Minh), Phủ Tổng thống Ðệ Nhất
Việt Nam Cộng Hòa [PTT/Ð1CH], Hồ sơ [HS] 8501; 8352. Một học giả Việt
Nam cũng từng tham khảo tư liệu này; Lê Cung, Phong trào Phật Giáo miền
Nam Việt Nam năm 1963 (Huế: Thuận Hóa, 2003), tr. 131-32.
2. Lời khai
của Bénoit Trần Tử Oai, [Bộ trưởng Thông tin], Bùi Văn Lương, Ngô Ðình
Diệm, Ibid., tr. 16; Ngô Ðình Nhu: Ibid., tr. 16-20; Nguyễn Ngọc Thơ:
Ibid., tr. 20-1; Nguyễn Ðình Thuần: Ibid., tr. 25-7; trong UN/GA
Official Records, Agenda Item 77: “The violation of Human rights in
South Vietnam;” Doc. A/5630, 7/12/1963, tr. 22, 23, 16 [Diệm], 16-20
[Nhu], 20-1 [Thơ], 25-7 [Thuần 12-6] [ [Sẽ dẫn UNGA Doc. A/5630].
3.
Xem, thư ngày 20/2/1962, Thích Tịnh Khiết gửi Ngô Ðình Diệm, về việc đàn
áp Phật Giáo tại Phú Yên, Bình Ðịnh, Quảng Ngãi, Quảng Nam; TTLTQG II
(TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 7941; thư ngày 17/2/1962, Wesley Fishel gửi John
A. Hannah, Viện trưởng Ðại học Tiểu bang Michigan (MSU); Foreign
Relations of the United States [FRUS], 1961-1963, II:148-52; báo cáo của
Ðại sứ Roger Lalouette ngày 10/3/1962; Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu,
1939-1975 [VNNB], I-C: 1955-1963, tr. 248-50. Xem thêm chú [32] infra.
4.
TTLTQG 2 (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8540. Xem thêm Thích Trí Quang, “Cuộc
vận động Phật giáo Việt Nam: Giai đoạn phát khởi;” Liên Hoa nguyệt san
(29/1/1964), tr. 22, 28; dẫn trong Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng pháp nạn 1963
(Giao Ðiểm: 2003), tr. 91.
5. Thư ngày 11/3/1955, gửi Thủ tướng, của
Ðoàn Trung Côn [Còn], Hội trưởng sáng lập Tịnh Ðộ Tông Việt Nam, TTK Ủy
ban vận động Phong trào Phật Giáo Xã hội; TTLTQG II (TP/HCM), Phủ Thủ
tướng [PThT], HS 29229: (Phật Giáo, 1954-1955). Xem bảng tổng kết số
chùa tại miền Nam vào tháng 9-10/1963 trong Ibid., PTT/Ð1CH, HS 8506,
& 8512.
6. VNCH, Vấn đề Phật Giáo: Lập trường của chính phủ VNCH:
Văn kiện căn bản, Tập I (từ 6/5/1963 tới 21/8/1963), tr. 1; TTLTQG II
(TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8511. Người chủ biên tập tài liệu ba thứ tiếng
Việt, Anh, Pháp, gồm 3 tập này là Tôn Thất Thiện, của Việt Tấn Xã. Xem
thêm chi tiết trong Ibid., HS 8368 và 8507.
7. TTLTQG 2 (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8507.
8. Archives du Ministère des Affaires Etrangères [AMAE] (Paris), Cambodge-Laos-Vietnam [CLV], Sud Vietnam [SV], 17:70-3.
9.
Xem Phụ Bản I, Chính Ðạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo,
1963-1967 (Houston: Văn Hóa, 1994). Ða số chi tiết dưới đây rút từ tài
liệu Mỹ ngữ trên. Chúng tôi chỉ ghi tài liệu khác nếu cần thiết. Xem
thêm Cao Văn Luận, Bên Giòng Lịch Sử (Sài Gòn: 1972), tr. 328. Ngày
16/9/1963, Lãnh sự Pháp ở Tourane báo cáo rằng theo Tướng Nghiêm chính
sách bài Phật giáo chỉ là của Thục. Ngày 8/5, khi Nghiêm vào Sài Gòn gặp
Diệm, Diệm cho lệnh phải thẳng tay với Phật giáo, và nhận lệnh từ Cẩn.
Ðại tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Sư đoàn 1, được lệnh “duy trì trật tự ở Huế.”
Sau đó Trí được thăng cấp Tướng, thay Nghiêm nắm Vùng I. AMAE (Paris),
CLV, SV, 17:70-3. Về những việc làm của Trí, xem TTLTQG II (TP/HCM),
PTT/Ð1CH, HS 8527.
10. Xem TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8425.
11.
Nguyễn Văn Ðẳng, “Phúc trình của Tòa Hành chánh tỉnh Thừa Thiên về lễ
Phật Ðản tại Huế (20/5/1963),” tr. 2; TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS
8529; Báo cáo số 249-VP/M, ngày 10/5/1963; [Ibid., TNTP.167; Lê Cung,
2003:136.Theo một nguồn tin, Cẩn còn sai Hồ Ðắc Khương, Ðại biểu Chính
phủ tại Trung nguyên Trung Phần, gửi điện tín xin hoãn thi hành lệnh
trên. Cẩn cũng bảo Ðẳng đừng can thiệp vì có giao tình với Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam và, theo lời đồn, bài vị Ngô Ðình Dinh, cha Ngô Ðình Khả,
còn đặt tại chùa Diệu Ðế. Dinh theo đạo thờ cúng tổ tiên. Khả
(1856-1914), cha Diệm, là người đầu tiên theo đạo Ki-tô, và hành nghề
thông ngôn trong thời gian Pháp đánh chiếm Bắc và Trung Việt. Chức vụ
cuối cùng của Khả là Ðề đốc kinh thành vào cuối đời Thành Thái, và được
hàm Thượng thư khi về hưu. Nhờ tước hàm Thượng thư này của Khả, năm 1917
Diệm được tập ấm chức cửu phẩm, làm việc tại Tân Thư viện Huế, tức
Musée Khải Ðịnh. Xem Chính Ðạo, “Jean Baptiste Ngô Ðình Diệm
(1897-1963);” Cuộc thánh chiến chống Cộng (Houston: Văn Hoá, 2004). Cũng
có tin bài vị Dinh đặt tại chùa Từ Hiếu. Tuy nhiên, vào tháng 12/2004,
chưa thể khẳng định có chăng bài vị nói trên (tiếp xúc với một tăng của
chùa này).
12. UN Doc. A/5630, 7/12/1963:22, col2; Báo cáo số
2262-TT/VP/BTM, ngày 9/5/1963, Thừa Thiên gửi BNV; TTLTQG II (TP/HCM),
PTT/Ð1CH, HS 8529. Xem thêm Thích Trí Quang, “Cuộc vận động Phật giáo
Việt Nam: Giai đoạn phát khởi;” Liên Hoa nguyệt san (29/1/1964), tr. 22,
28; dẫn trong Vũ Văn Mẫu, Sáu tháng pháp nạn 1963 (Giao Ðiểm: 2003),
tr. 91.
13. Xem thêm Nguyễn Ngu Í, “Ðại học Huế tranh đấu chống chế
độ cũ qua hai giờ nói chuyện với Giáo sư Lê Tuyên;” Bách Khoa, số 171
(15/2/1964), tr. 37-47, và số 172 (1/3/1964), tr. 27-42. Sẽ dẫn: Nguyễn
Ngu Í, 1964a, và Nguyễn Ngu Í, 1964b.
14. CÐ số 5, 10/5/1963, Huế gửi
BNG; FRUS, 1961-1963, III:284; Airgram A-20, 3/6/1963, Helble gửi Sài
Gòn; Ibid., III:277,n2; Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 279-80;
US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 3, p. 5.
15. Xem danh sách các
nạn nhân trong Phụ lục đính kèm của báo cáo của Nguyễn Văn Ðẳng ngày
20/5/1963; TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8529. Sỹ sau này bị kết án
chung thân khổ sai, nhưng được Nguyễn Văn Thiệu ân xá vào năm 1966 sau
cuộc nổi dạy của miền Trung.
16. CÐ số 100/MM, ngày 9/5/1963, TNTP gửi Ðổng lý VPTT; TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8523.
17. TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8529 [?].
18.
Xem, chẳng hạn, báo cáo của Thị trưởng Huế và các cấp chỉ huy cảnh sát,
quân đội trong TTLTQG II (TP/HCM), PTT, Ð1CH, HS 8529.
19. Ibid., HS 8506.
20. UN/GA Doc. A/5630, 1963, tr. 12, col.2.
21.
“I had concluded, according to the specialists in artillery and
artificiers, whom we had consulted in Hue and Sai Gon, that it was
probably bombs of plastic . . . that we had many bullets because the
United States had given us many free, but we had no plastic; plastic is
the arm of the Viet Cong guerilla.” A/5630, 1963:24, col 1.
22. UN/GA Doc. A/5630, 1963:22-3.
23. FRUS, 1961-1963, III:284-85.
24.
Tâm thư 10/5/1963, công điện cùng ngày của Thích Tịnh Khiết, và tài
liệu giải thích ngày 16/5/1963, 23/5/1963 (Tịnh Khiết, Mật Nguyện, Mật
Hiền, Trí Quang, Thiện Siêu ký) có thể tìm thấy trong TTLTQG II
(TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8541 và 8531. Bản dịch Mỹ ngữ trong FRUS,
1961-1963, III:287-88. Chùa Tường Vân ở xã Thủy Xuân, Hương Thủy. Ngảy
9/9, thị trưởng Huế là Nguyễn Mâu tổ chức một buổi học tập cho các Ni cô
tại chùa Diệu Ðức, xã Thủy Trường, Hương Thủy. 62 người tham gia. Theo
Mâu, có tin Việt Cộng rất lo sợ về những lớp “cải huấn” của Mâu. Bởi thế
Mâu cho lệnh câu lưu điều tra hai sư Lưu Phương (Trương Văn Sung) ở
chùa Trúc Lâm và Tâm Thành (Nguyễn Ðình Hiệp) ở chùa Tường Vân xã Thủy
Xuân, Hương Thủy, vì hai sư này đi vận động dân chúng để được miễn học
tập. (CÐ số 5010-TT/NA/CT-M, ngày 9/9/1963, Nguyễn Mâu gửi BNV; TTLTQG 2
(TP/HCM), PTT/ÐICH, HS 8529)
25. Công báo Việt Nam [CBVN], III:3
[19/8/1950]:434-437. Người soạn thảo luật này là Nguyễn Khắc Vệ, Tổng
trưởng Tư Pháp của chính phủ Trần Văn Hữu. Bản dịch Anh ngữ Dụ số 10
ngày 6/8/1950 cùng hai tu chính ngày 19/12/1952 và 3/4/1954 trích in
trong phần phụ bản XV của UNGA, Doc. A/5630, 7/12/1963:86-9.
26. Nguyễn Ngu Í 1964a:40-1. [Xem chú 13 supra]
27.
CÐ ngày 13/5/1963, Thừa Thiên gửi BNV; TTLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS
8529; FRUS, 1961-1963, III:288, n3. Ðại biểu chính phủ cũng yêu cầu
hoãn ngày cầu siêu cho nạn nhân Huế từ 14/5 tới 21/5;
28. Tâm Châu,
Bạch Thư về vấn đề chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự (Montréal:
Tổ đình Từ Quang, 1994), tr:17. Một nhân chứng khai UBLP/BVPG gồm 14 hội
đoàn. Xem thêm Việt Nam Cộng Hòa, Phủ Tổng thống, Phủ Ðặc Ủy Trung Ương
Tình Báo, “Bản nghiên cứu đặc biệt: Phật Giáo Việt Nam” [n.d.]; PTT/
Ð1CH, HS 8573.
29. Tục danh Ðoàn Văn Hanh, sinh khoảng năm 1922 tại
Ninh Bình, Bắc Việt. Tu tại chùa Xuân Dương, huyện Ða Phúc, Phúc Yên
(Phái Vĩnh Nghiêm). 1951: Cùng Tố Liên vào Huế tổ chức Ðại hội thống
nhất Phật giáo. 1952: Phó Trị sự Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc Việt Nam.
1955: Tham gia Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam. 1959: Thành lập
Hội Phật Giáo Quán Âm Phổ Tế. Trụ sở tại 584/1 đường Phan Thanh Giản Sài
Gòn. 1/1963: Lập Ủy Ban Liên Phái chống phim Sakya. 9/5/1963: Thành lập
Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, qui tụ 11 hội đoàn. Trụ sở đặt tại
chùa Xá Lợi. 25/5/1963: Phát động phong trào tranh đấu tích cực ở miền
Nam. 30/5/1963: Tuyệt thực 48 giờ cùng hàng trăm tăng ni. Thứ Sáu,
14/6/1963: Tham gia phái đoàn Phật Giáo nói chuyện với Ủy Ban Liên Bộ
của chính phủ Diệm. 16/7/1963: Dẫn đầu một đoàn biểu tình trước tư dinh
Ðại sứ Nolting. 21/8/1963, mờ sáng: Bị bắt tại chùa Xá Lợi cho tới ngày
1/11/1963. 31/12/1963: Tham dự Ðại Hội Thống Nhất Phật Giáo ở Chùa Xá
Lợi [cho tới ngày 4/1/1964]. Ðược bầu làm Chủ tịch Viện Hoá Ðạo với
nhiệm kỳ 2 năm. 13/1/1964: Nhận chức Viện trưởng Hoá Ðạo. 20/1/1965:
Cùng Trí Quang, Pháp Tri, Thiện Hoa và Hộ Giác tuyệt thực chống chính
phủ Trần Văn Hương. 27/1/1965: Hội Ðồng Quân Lực ra tuyên cáo nắm lại
chính quyền. Viện Hoá Ðạo ra lệnh ngừng tranh đấu. Các sư ngưng tuyệt
thực. 24/8/1964: Khánh yêu cầu Trí Quang, Tâm Châu và Thiện Minh kêu gọi
sinh viên, học sinh và Phật tử ngưng biểu tình. Các lãnh tụ Phật giáo
ra điều kiện: hủy bỏ hiến chương Vũng Tàu, thành lập chính phủ dân sự,
bảo đảm tự do tôn giáo, và tổ chức bầu cử ngày 1/11/1965. /1975: Tị nạn ở
Pháp, rồi Canada. Hiện tu tại Tổ đình Từ Quang, Montréal, Québec.
9/1/1995: Cùng 126 tăng sĩ ký tên vào kháng thư phản đối việc bắt giữ
Huyền Quang và Trí Ðộ. 2/5/1995: Tham dự biểu tình ở Oat-shinh-tân.
30.
Thiện Hoà, tục danh Hứa Khắc Lợi, sinh tại Chợ Lớn, đi tu từ năm 1935.
1935: Theo học Phật học đường Lưỡng Xuyên. 1936-1938: Theo học An Nam
Phật học đường tại chùa Tây Thiên, Huế. 1938-1939: Theo học Phật học
đường Long Khánh, Bình Ðịnh. 1939: Theo học Phật học đường Báo Quốc,
Huế. 1945-1950: Ở Bắc. 5/1950: Về Sài Gòn. Dạy tại Phật học đường Sùng
Ðức. 1951: Giám đốc Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang. 1953: Trị
sự trưởng GHTGNV. 1959: Trị sự trưởng GHTGTQ. 15/5/1963: Gặp Ngô Ðình
Diệm về 5 nguyện vọng của Phật Giáo. 26/8/1963: Chủ tịch Ủy Ban Liên
Hiệp Bảo Vệ Phật Giáo Thuần Túy, ủng hộ Ngô Ðình Diệm. 1967: Tổng Vụ
trưởng TV Tài chính & Kiến thiết của GHPGVNTN tại Ấn Quang. 1973:
Phó Tăng Thống. 7/2/1978: Chết tại chùa Ấn Quang.
31. CÐ 1066, ngày
9/5/1963, BNG gửi Sài Gòn, FRUS, 1961-1963, III:283. Xem thêm báo cáo
ngày 18/6/1962 của Bùi Văn Lương; TTLTQG II KLTQG II (TP/HCM), PTT/Ð1CH,
HS 7941.
32. FRUS, 1961-1963, III:310.
33. Bộ Công Dân vụ [Civic Action] bao gồm Tổng Nha Thông tin dưới quyền Phan Văn Tạo.
34. FRUS, 1961-1963, III:309-310; Mẫu 2003:246-255.
35. Tâm Châu, Bạch Thư về vấn đề chia rẽ của Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự (Montréal: Tổ đình Từ Quang, 1994), tr. 18.
36. Không rõ Lương hay VTX của Tôn Thất Thiện và Ðặng Ðức Khôi đã phát minh ra lối giải thích mới này.
37. FRUS, 1961-1963, III:311.
38. Ðề nghị này Nolting đã trình về BNG ngày 18/5 và được Rusk chấp thuận ba ngày sau, 21/5; FRUS, 1961-1963, III:312,n3.
39.
FRUS, 1961-1963, III:314. Sau này, Nhu còn phát minh ra lối giải thích
“pain of growth” [sự đau đớn khi phát triển] của Phật giáo Việt Nam, một
hiện tượng quen thuộc của các nước chậm tiến.
40. Gravel, II:226.
Theo Trueheart, Diệm có vẻ “giận dữ” [quite agitated], và không muốn
nghe theo lời khuyên của Mỹ; FRUS, 1961-1963, III:338.
41. CÐ ngày 19/5/1963, Thừa Thiên gửi BNV; TTLTQG II KLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8529.
42. Ibid., HS 8541.
43. Ibid.
44. CÐ 1136, 9/6/1963, Trueheart gửi BNG; FRUS, 1961-1963, III:368.
45. TTLTQG II KLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8541.
46.
VNCH, Vấn đề Phật Giáo: Lập trường của chính phủ VNCH: Văn kiện căn
bản, Tập I (từ 6/5/1963 tới 21/8/1963), tr. 1; Ibid., HS 8511. Người chủ
biên tập tài liệu này là Tôn Thất Thiện, Giám đốc Việt Tấn Xã.
47.
Nguyên văn: The Buddhists (estimated at some ten million) have long been
resentful of the mandarins of Hue and their ruling Catholic oligarchy;
the Buddhists particularly resent a host of restrictions imposed on
their religious freedom by President Diem. Most of Ngo Dinh Diem’s high
Government officials, chiefs of provinces and military officers are
Catholics, and most young army officers are convinced that they must be
at least nominal Catholics if they wish to rise above the rank of
captain. Diem apparently believes (and with some reason) that Catholics
are more loyal to him personally and also more genuinely dedicated in
their anti-Communism. Catholicism, therefore, seems to have become a
kind of status symbol, as well as a prerequisite for advancement . . .
The
Buddhists say that most Government supplies pass through Catholic hands
and are distributed chiefly to Catholics. One American adviser has
reported that Catholic battalion commanders in South Vietnam’s army get
better equipment and heavier weapons than the non-Catholics. In the
countryside, there are a number of villages where Christian priests are
in control and maintain their own private armies. In the northern
coastal region around Hue, small units of these troops, known as the
‘Bishop’s Boys’, are directly responsible to the Archbishop, and their
primary mission is to protect churches and priests. They are armed with
United Sattes weapons and trained at least in part by United States
advisers.
Vast supplies of United States food relief (wheat, flour,
rice, cooking oils) are distributed in South Vietnam through Catholic
Relief Services to Catholic priests in the provinces. Some Viet-Namese
are convinced that many of these supplies never reach the intended
beneficiaries but find their way into the black market instead.”
A/5630:90.
48. NYT, 29/5/1963; FRUS, 1961-1963, III:335-336.
49. CÐ 1162, 30/5/1963, BNG gửi Sài Gòn; FRUS, 1961-1963, III:337n3.
50.
Thư ngày 28/5/1963, Tâm Châu gửi TT; Báo cáo ngày 30/5/1963 của Q. Ðô
trưởng Vũ Tiến Huân; TTLTQG II KLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8501.
51. FRUS, 1961-1963, IV:340-341.
52.
Xem Trần Ngọc Châu, “Phúc trình về cuộc tranh chấp của Tỉnh hội Phật
giáo tại Ðà Nẵng” (19/9/1963); TTLTQG II (Sài Gòn), HS 8520.
53. TTLTQG II KLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8520.
54. FRUS, 1961-1963, III:343-347; A/5630.
55.
FRUS, 1961-1963, III:348-349. Tướng Ðôn báo cáo rằng đây là loại lựu
đạn cay Pháp sử dụng trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918).
56. Ngày
26/2/1964, Thích Trí Quang yêu cầu Thủ tướng Nguyễn Khánh điều tra và
trừng trị thủ phạm; đồng thời bồi thường xứng đáng cho các nạn nhân.
Ngày 7/3/1964, đích thân Trí Quang gặp Thiếu tướng Tôn Thất Xứng, Tư
lệnh QÐ I, Vùng I Chiến thuật, yêu cầu giải quyết. Ngày 17/3/1964, Thiếu
tướng Xứng xác nhận một đơn vị quân đội đã nhận lệnh xua chó berger và
ném lựu đạn cường toan vào đám đông Phật tử đang tiến đến chùa Từ Ðàm.
Ngày 5/3/1964, Nha CS Trung nguyên Trung phần đã xác nhận việc này.
“Hiện còn khoảng 40 nạn nhân bị xuất huyết, mắt càng ngày càng mờ, cơn
điên cuồng ngày càng tăng.” [41 người bị thương trong các ngày 3, 4, 5,
và 6/6/1963 điều trị tại Huế. 20 người xin về nhà. 47 người trong số
trên là Phật tử. Danh sách do Nha CSBTNTP: 45 người. Phật tử trở lại
điều trị ở Huế, 10 người]; (PThT, HS 29369) Ngày 21/3/1964, do sự can
thiệp của Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, 12 nạn nhân được phi cơ quân sự đưa
từ Huế vào Sài Gòn. 5 người điều trị tại Grall, 7 người khác ở Tổng Y
Viện Cộng Hòa. (Tờ trình số 330/BYT/VP/M, ngày 13/4/1964, Ðại tá Vương
Quang Trường gửi Phó Thủ tướng đặc trách Văn Hóa-Xã hội; (PThT, HS
29369)
57. FRUS, 1961-1963, III:349-52.
58. Xem Chính Ðạo, “Phiến
Cộng trong Dinh Gia Long;” Ði Tới (Montréal, Canada), số 73 & 74,
9-10/2003, tr. 46-77; Idem., Cuộc thánh chiến chống Cộng (Houston, TX:
Văn Hoá, 2004). Bản cập nhật đăng trên Hợp Lưu online [hopluu.net] va
vietnamvanhien.net..
59. Xem báo cáo của Nha Cảnh Sát Bắc Trung
nguyên Trung Phần về những hành động và âm mưu của người Mỹ có liên hệ
đến cuộc đấu tranh của Phật Giáo, 12-16/9/1963 [Thiếu tá Ðào Quang Hiếu,
16/9/1963]; HS 8502.
60. FRUS, 1961-1963, III:356-358; TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8509.
61.
FRUS, 1961-1963, III:359-360, 360-361. Sau này, mới xác nhận “phần tử
quá khích” là nhóm “Phật giáo nhập thế,” hay “tân tăng,” mà người dưới
phố gọi là “sư hổ mang”–và đa số đi tu để trốn lính. Họ gọi phái Lục Hòa
Tăng là “thày cúng.”
62. FRUS, 1961-1963, III:360; Vấn đề Phật Giáo, I:1; TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8511.
63.
CÐ ngày 4/6/1963, Nguyễn Quang Trình gửi Viện trưởng Huế; Ibid., HS
8501. Giáo sư Wulff, một chứng nhân của cuộc thảm sát 8/5 tại Huế, đã
viết hồi ký về biến cố trên, và bạn ông chụp được nhiều hình ảnh tại nhà
xác Huế. Các tài liệu này được nạp cho Liên Hiệp Quốc, khiến LHQ quyết
định mở cuộc điều tra. Trong dịp viếng thăm Bệnh viện Huế ngày
18/4/1964, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi đã yêu cầu di tản những bệnh nhân bị
phỏng vì chất cường toan trong ngày 4/6/1963 tại Huế vào Sài Gòn điều
trị. Xem tờ trình ngày 13/4/1964, Bộ trưởng Y tế gửi Phó Thủ tướng đặc
trách Văn hoá-Xã hội; TTLTQG II, Phủ Thủ tướng, HS 29369.
64. FRUS, 1961-1963, III:367-68.
65.
“Quyết nghị của Phong Trào Phụ Nữ Liên Ðới Việt Nam” (Sài Gòn,
7/6/1963), TTLTQG II, (TP/HCM), PTT/Ð1CH, HS 8515; FRUS, 1961-1963,
III:362n2.
66. The Pentagon Papers (Gravel), II:208; FRUS, 1961-1963,
III:366-69. . Ngày 12/11/1963, Tướng Trần Tử Oai tiết lộ với một viên
chức Mỹ là Nhu đã trao 12 triệu cho TGÐ Thông tin Phan Văn Tạo để mở
chiến dịch chống Phật Giáo; Memorandum ngày 13 Nov 1963; LBJL, NS File,
Country File, Vietnam, Box 1.
67. Năm 1956-1957, Hồ Vinh, một giáo sư
Pháp văn trường Phan Châu Trinh Ðà Nẵng từng bị tra tấn đến chết trong
nhà lao Thừa Phủ (Huế). Nguyễn Ðăng Ngọc, hiệu trưởng, một cán bộ Cần
Lao, đích thân đến các lớp đọc bức công điện mật, loan tin “tên Cộng Sản
Vinh” đã “tự tử” trong ngục. Xem thêm lời khai của Phan Quang Ðông, và
bản án Ngô Ðình Cẩn ngày 22/4/1964 về những cuộc thủ tiêu những người bị
vu cáo là Cộng Sản hay gián điệp Pháp, như Nguyễn Văn Yến, v.. v...
68.
CÐ 1194, 8/6/1963 & 1196, 8/6/1963, BNG gửi Ðại sứ Việt Nam; FRUS,
1961-1963, III:363-364, 364-66. Trong số các đề nghị, BNG yêu cầu VNCH
“ít nữa cũng tạm thời ít nhắc đến thuyết Nhân Vị trước công chúng và
tuyên truyền của chính phủ vì đám đông đồng hóa Nhân Vị với Ki-tô giáo;
bổ nhiệm các tuyên úy Phật giáo; thành lập một Hội Ðồng Tôn Giáo Quốc
Gia, vài tăng hay lãnh tụ Phật tử ứng cử trong cuộc tranh cử vào Quốc
Hội tháng 8/1963, và cho họ đắc cử [at least temporarily playdown
Personalism in public pronouncements and GVN propaganda because of
popular identification Personalism with Catholicism; appoint Buddhist
chaplains; create National Religious Council, permit several monks or
lay Buddhist leaders run for and win seats in August National Assembly
elections [NVN: two monk representatives]; Ibid., III:364-65. Trong báo
cáo về Oat-shinh-tân, Trueheart nói không có ý định gặp Diệm, vì Thuần
đã đạt được một số tiến bộ. BNG Mỹ đồng ý.
69. FRUS, 1961-1963,
III:369-71. Giao tình giữa chính phủ Diệm và báo chí Tây phương đầy sóng
gió từ năm 1957, sau khi Diệm được tâng bốc như “Winston Churchill của
Ðông Nam Á.”
70. FRUS, 1961-1963, III:371-73. Về lễ cầu hồn cho John
XIII, Paul Hiếu không nói đúng sự thực. Xem văn thư về lễ trên trong
TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8428.
71. FRUS, 1961-1963, III:374. Hiện nay,
tại góc đường Cách Mạng Tháng Tám và Nguyễn Ðình ChiểƯu (trụ sở UyỰ Ban
Nhân Dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, tức Tòa Ðại sứ Cao Miên cũ),
còn một miếu nhỏ thờ Thượng tọa Quảng Ðức)
72. FRUS, 1961-1963, III:375-76.
73. FRUS, 1961-1963, III:376-78.
74. FRUS, 1961-1963, III:376-78.
75. Mẫu, 2003:277.
76.
“Thông điệp của Tổng thống gởi đồng bào thủ đô ngày 11/6/1963;” TTLTQG
II, PTT/Ð1CH, HS 8506, 8501; NYT, 12/6/1963. Sau này, có lẽ do áp lực
Mỹ, bản dịch tiếng Anh được viết nhẹ hơn: “Buddhism in Vietnam finds its
fundamendal safeguard in the Constitution of which I personally am the
guardian.”
77. Nguyên văn: “If Diem does not take prompt and
effective steps to reestablish Buddhist confidence in him we will have
to reexamine our entire relationship with his regime;” CÐ 1207,
11/6/1963, BNG gửi Ðại sứ Việt Nam; FRUS, 1961-1963, III:383.
78.
FRUS, 1961-1963, III:385-87. Theo tài liệu Bạch Cung ngày 14/6/1963,
Kennedy không biết gì về đe dọa giải kết [disassociation] này, và nhấn
mạnh rằng đây là lần chót; từ nay bất cứ lời đe dọa chính thức nào cần
được sự phê chuẩn của Kennedy. Ibid., III:386-87.
79. Tâm Châu 1994:19; FRUS, 1961-1963, III:384.
80.
FRUS, 1961-1963, III:387-89. Theo Thuần, Phật giáo đã sửa đổi đôi chút
các đòi hỏi, nhưng Trueheart nhấn mạnh nên bỏ các tiểu tiết để đạt ngay
thỏa ước.
81. FRUS, 1961-1963, III:391.
82. TTLTQG II, PTT/Ð1CH,
HS 8509. [Xem Phụ Bản] Xem thêm Tâm Châu, 1994:41-4; The Pentagon Papers
(Gravel), II:226-27; FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 177, 178, 179.
83. NYT, 16/6/1963; FRUS, 1961-1963, III:396-97.
84.
NYT, 17/6/1963; FRUS, 1961-1963, III:396-97. Theo bản tin AP ngày 17/6,
đây là cuộc biểu tình chống chính phủ bạo động nhất từ nhiều năm qua;
Ibid., III:397n3.
85. Lãnh đạo hệ phái này cho rằng họ là hệ phái lâu
đời nhất tại Việt Nam, với hai triệu Phật tử. Mãi tới năm 1964, Cổ Sơn
Môn mới gia nhập Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất.
86. TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8501; Mẫu, 2003:302-4.
87. TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8501; Mẫu, 2003:307-13. Theo Nhu, TNCH lên tới 1.5 triệu đoàn viên; Ibid., tr.300, 304, 310.
88. FRUS, 1961-1963, III:401. Gene Gregory từng biết Diệm từ thập niên 1950.
89. FRUS, 1961-1963, III, tr. 409-10.
90.
Nguyên văn bản dịch tiếng Pháp: “Un bon catholique, en vertu même de la
doctrine catholique, est le meilleur des citoyens, attaché à sa patrie,
loyalement soumis à l'autorité civile établie, sous n'importe quelle
légitime de gouvernement.” Ainsi s'explique Pie XI dans l’encyclique
illius Magistri du 31 décembre 1929.”
91. Nolting, From Trust to
Tragedy: The Political Memoirs of Frederick Nolting [Từ tin cậy tới thảm
kịch: Hồi ký chính trị của Frederick Nolting] (New York: Preager,
1988), tr. 115-116. Lập luận của Nolting giống hệt tuyên cáo của chính
phủ Diệm ngày 21/8/1963–“lợi dụng tín ngưỡng cho mục đích chính trị.”
92. Thư ngày 26/6/1963, Tịnh Khiết gửi TT; TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8541.
93. Ibid., HS 8541.
94.
CÐ 1219, 14/6/1963, BNG gửi Ðại sứ SG; FRUS, 1961-1963, III:394-395.
Charles Ben Wood, người phụ trách Phòng Ðông Dương, soạn thảo Kế hoạch
này từ tháng 5/1963, chuyển về Oat-shinh-tân ngày 23/5/1963, và được
Bạch Cung chấp thuận ngày 6/6/1963; FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 133.
Ngày 16/6, Sài-gòn mới nhận được lệnh trên.
95. Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 296, 298.
96. FRUS, 1961-1963, III:400-401.
97. FRUS, 1961-1963, III:402-4.
98. FRUS, 1961-1963, III:392.
99.
Max Frankel, “US Warns South Viet-Nam on Demands of Buddhists” [Mỹ cảnh
giác Nam Việt-Nam về những đòi hỏi của Phật tử]; NYT, 15/6/1963. Tài
liệu BNG ghi là ngày 14/6/1963; FRUS, 1961-1963, III:393.
100. FRUS, 1961-1963, III:392.
101. Báo cáo của Ðại tá Nguyễn Văn An ngày 22/5/1963 & 15/6/1963; TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8508.
102.
Ngày 18/7, Cảnh sát Quận 5 bắt giữ ba người bị tình nghi hoạt động nội
tuyến cho CS trong hàng ngũ Phật Giáo; Ibid., HS 8501.
103. Hội nghị
Khu Ủy Khu V mở rộng [từ 15/7 tới ngày 31/7/1963] ra nghị quyết: “trước
mắt ra sức nuôi dưỡng mở rộng cuộc đấu tranh của đồng bào Phật Giáo và
nhân dân các tầng lớp chống địch đàn áp Phật Giáo, chia rẽ các tôn
giáo.” [tr. 942] (Huế: thuộc Liên tỉnh 1 của Khu V) Tuy nhiên, đường lối
tổng quát không thay đổi: Cần phải và có khả năng kiềm chế địch trong
loại chiến tranh thứ ba và thắng địch trong loại chiến tranh ấy [tr.
907]; trường kỳ kháng chiến, đánh địch trường kỳ, giành thắng lợi từng
phần [tr. 908]; ở miền núi, đấu tranh võ trang là chính [tr. 910]; ở
đồng bằng, đấu tranh chính trị, vũ trang song song.[ tr.910]; ở đô thị
đấu tranh chính trị là chủ yếu, có kết hợp đấu tranh vũ trang trong một
mức độ nhất định.[ tr. 911] [VKÐTT, 24:895-954]
Nghị quyết tháng
10/1963 của Khu VI mới ghi nhận “cần chú ý tranh thủ xây dựng cơ sở
trong tín đồ Phật Giáo và từng mặt liên minh hành động tiến tới nắm một
số sư sãi tiến bộ, có uy tín trong giới Phật Giáo, cũng như phải tích
cực tranh thủ xây dựng những phấn tử lớp trên . . . có xu hướng tiến bộ
để tiến tới hình thành Mặt Trận lâm thời của thành phố.” (VKÐTT, 24:989)
104.
CÐ số 1250 gửi Sài Gòn, DOS, Central Files, PER-Lodge, Henry Cabot.
(Ngày 22/6, Trueheart báo cáo là Diệm đồng ý tiếp Trueheart vào chiều
ngày 22/6; CÐ số 1230 từ Sài Gòn; Ibid)
105. FRUS, 1961-1963,
III:414. Diệm khẳng định với Trueheart là sẽ tôn trọng những điều thỏa
thuận với Phật giáo; phủ nhận không có việc Nhu sử dụng Thanh Niên Cộng
Hoà để chống lại Phật giáo; nhưng không đề cập gì đến Bạch thư của Lệ
Xuân. Về Cổ Sơn Môn, Diệm nói họ có quyền tự do họp Ðại Hội và bày tỏ ý
kiến. Việc phóng thích những người tham dự biểu tình, Diệm nói cần thanh
lọc; nếu họ không Cộng sản sẽ được phóng thích. Tóm lại, chính Diệm
tách dần khỏi những lời cố vấn của Mỹ; Ibid., III:411-13.
106. Ibid.
107. CÐ 1271, 26/6/1963, Ball gửi Ðại sứ VN; Ibid., III:415-16.
108. FRUS, 1961-1963, III:427-28.
109. FRUS, 1961-1963, III:426n3.
110. FRUS, 1961-1963, III:429-31; Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 304-5.
111. Nolting, 1988:126.
112. The Pentagon Papers (Gravel), II:236; FRUS, 1961-1963, III:474; Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 307.
113. US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 427.
114. FRUS, 1961-1963, III:433n2.
115. FRUS, 1961-1963, III:441-43.
116. FRUS, 1961-1963, III:443-44.
117. FRUS, 1962-1963, III:445-47.
118. FRUS, 1962-1963, III:449-50.
119.
Thời thực dân Pháp, cái mũ “Cộng Sản” đồng nghĩa với “phản loạn.” Nhưng
hiện tượng chụp mũ “Cộng Sản” cho người khác ý kiến hoặc mình không ưa
còn phát triển rộng rãi hơn, vì quốc sách miền Nam là “chống Cộng.” Tàn
tích của thói quen “Tố Cộng” này được bảo quản tốt đẹp ở hải ngoại.
120. FRUS, 1962-1963, III:451-53.
121.
Hôm sau, Browne và Arnett bị truy tố về tội hành hung hai Phó Thẩm sát
viên công nhựt Nguyễn Văn Lăng và Lâm Văn Lý. Xem báo cáo của Phạm Công
Kỉnh, Quận trưởng Cảnh Sát Q. 3, trong TTLTQG II, PTT, Ð1CH, HS 8536.
Theo Trần Thiện Khiêm, các ký giả này dùng đá và máy ảnh để đánh trả
Cảnh sát. Một viên chức nào đó, phê bằng mực đỏ: “Có thực không?” Ibid.,
HS 8527. BNG Mỹ chỉ thị Trueheart can thiệp để miễn tố. Thoạt tiên,
Diệm không đồng ý. Mãi tới ngày 17/7 mới thuận. FRUS, 1962-1963,
III:470-72.
122. The Pentagon Papers (Gravel), II:729-33; US-Vietnam Relations, Bk 12:534;
123. FRUS, 1962-1963, III:483-85.
124.
Nguyên văn: [He is hurt by what he considers misrepresentations and
calumnies (both in Vietnam and outside), torn by conflicting advise,
resentful of US pressure, and not completely in control of his
government’s actions (Nhus). He is, in brief, in a martyr’s mood
himself.]; CÐ 85, ngày 15/7/1963, Nolting gửi BNG; FRUS, 1961-1963,
III:487; Nolting 1988:113.
125. Khán giả và công an, mật vụ khoảng
500 người. Khoảng 11G45, đoàn biểu tình kéo về chùa Xá Lợi, tuyên bố sẽ
tuyệt thực 48 giờ. FRUS, 1961-1963, Tài liệu 221; Tâm Châu, 1994:19.
Ngày 9/7/1963, Tâm Châu đã viết thư cho Ðại sứ Mỹ, yêu cầu Mỹ cho quân
bảo vệ chùa Xá Lợi vì đang có dấu hiệu Diệm-Nhu sẽ đánh chùa. Ibid.,
III:478-79.
126. Mẫu, 2003:353.
127. Báo cáo ngày 23/7/1963 của Ðại biểu CP tại Cao nguyên trung phần; TTLTQG II, PTT, Ð1CH, HS 8501.
128. Mẫu, 2003:354-360.
129.
FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 234. Tưởng nên ghi nhận Hilsman từng là
Giám đốc cơ quan sưu tầm và tình báo, từng ghé thăm Sài Gòn vào tháng
1/1963 và gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng, kể cả Ngô Ðình Diệm. Xem
FRUS, 1961-1963, vol III: Jan-August 1963 (Washington, DC: GPO, 1991),
tr. 1-16.
130. FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 237.
131. Ngày 24/7,
Thuần cho Nolting biết Chiêu đã bị phạt kỷ luật. Báo chí loan tin Chiêu
bị 40 ngày trọng cấm. Ngày 26/7, Tịnh Khiết viết thư xin Diệm nhẹ tay
hơn với Chiêu. Ngày 30/7, Nhu định truy tố Chiêu ra tòa để có dịp nói rõ
“nguyên do thúc đẩy Chiêu biểu tình ... cho báo chí ghi chép.” CÐ ngày
31/7/1963, Ðổng lý văn phòng Phủ TT gửi Bộ trưởng Phụ tá Quốc Phòng. Sau
đó, Chiêu được ân thưởng “Trung dũng bội tinh.” TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS
8501. Theo Vũ Văn Mẫu, các thương phế binh đều là giả; Mẫu,
2003:313-14.
132. FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 198, 200.
133.
TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8501. Hội còn đại diện chế độ qua New York trình
bày với Tổng thư Ký LHQ về cuộc tranh đấu của Phật Giáo vào tháng
10/1963. Tưởng cũng nên ghi nhận, Hội chỉ bênh vực Nhu, và đồng ý bắt
Thục cũng như Lệ Xuân phải rời nước để trấn an dư luận.
134. Newsweek, 9/8/1963; Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 314.
135.
Ngày 11/8, Thuần báo cáo với Nolting là Lệ Xuân giao cho Khiêm tổ chức
một lực lượng Mật vụ riêng; nhưng Nhu phủ nhận. Ngày Thứ Bảy, 31/8, khi
được ký giả người Úc, Denis Warner, phỏng vấn, Khiêm cho Warner coi một
danh sách các viên chức mà Khiêm định ám sát. Theo CIA, Chương, cha
Khiêm và Lệ Xuân, coi Khiêm như “bất lực, tham nhũng và hèn nhát;” FRUS,
1961-1963, IV:Tài liệu 68.
136. Ngày 5/8, báo NYT đăng lại tin này;
Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 312. Tại Việt Nam, Tịnh Khiết cũng
viết thư cho Diệm, báo động về Kế hoạch Nước Lũ, gồm hai giai đoạn đảo
chính và phản đảo chính giả; Thư ngày 5 & 7//8/1963, Tịnh Khiết gửi
TT; TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8541.
137. Ibid., HS 8541; Mẫu, 2003:344-46.
138. TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8541; Mẫu, 2003:343-44.
139.
Chính Ðạo, Tôn Giáo & Chính trị, 1994:334-335. Xem thêm TTLTQG II,
PTT/Ð1CH, HS 8541 (Thanh Tuệ), 8532 (Diệu Quang), 8534 (đô thành)
140. Nolting 1988:117.
141.
Trong báo cáo ngày 10/8, Nolting cho biết Thơ, Thuần, Nhu, Mẫu, Bửu Hội
v.. v... đưa ra giải pháp sau: Lệ Xuân đi “nghỉ dài hạn,” Thục sẽ được
thăng cấp [về Roma]. Thuần còn mật báo rằng các Bộ trưởng đều đồng ý đã
đến giờ thứ 11 của Diệm. Lệ Xuân cùng em ruột là Trần Văn Khiêm tổ chức
một toán cảnh sát đặc biệt để bắt cóc đối thủ. Chắc chắn Nhu cũng biết
việc này.
142. FRUS, 1961-1963, III:Tài liệu 252; Chính Ðạo, VNNB, I-C:1955-1963, tr. 315.
143. Nolting, 1988:119.
144. NYHT, 15/8/1963; Nolting 1988:118; TTLTQG II PTT, Ð1CH, HS 8506.
145.
Ngày 9/8/1963, trong phiếu trình lên Kennedy về vợ chồng Nhu, Michael
Forrestal tiết lộ Miên, Ceylon [Sri Lanka], và Nepal đã đưa vấn đề Phật
giáo ra trước văn phòng Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. Có thể sẽ họp Ðại
Hội Ðồng LHQ.
146. Văn thư số 4406/NA/CT ngày 10/8/1963; HS 8529)
147. CÐ số 4435-TT/NA/CT/M ngày 12/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529)
148.
Tục danh Bùi Huy Chương (1945-1963), 17 tuổi, tu tại chùa Phước Duyên,
Hưng Long, Thừa Thiên; HS 8541; Nguyễn Ngu Í 1964a:42.
149. HS 8541.
150. Nguyễn Ngu Í 1964a:42.
151. CÐ số 4470-TT/NA/CT/M ngày 15/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529; Nguyễn Ngu Í, 1964a:42-43. [Xem chú 13 supra]
152. CÐ số 4470-TT/NA/CT/M ngày 15/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529; Nguyễn Ngu Í 1964a:43)
153. (HS 8532)
154. HS 8527; Nguyễn Ngu Í 1964a:43.
155. CÐ số 4545-TT/NA/CT/M ngày 17/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529)
156. CÐ số 4545-TT/NA/CT/M ngày 17/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529)
157. Nguyễn Ngu Í 1964a:43)
158. Nguyễn Ngu Í 1964a:43-44. [Xem chú 13 supra]
159. Nguyễn Ngu Í 1964b:28)
160. CÐ số 4545-TT/NA/CT/M ngày 17/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529; Nguyễn Ngu Í 1964a:46.
161. CÐ số 4529-TT/NA/CT/M ngày 18/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8529.
162. Nguyễn Ngu Í 1964a:33.
163.
Nguyễn Ngu Í 1964b:35-6. Theo Vũ Văn Mẫu, Thế đã lẻn về Sài Gòn, xin
cho trở lại nhiệm sở cũ. Ngày 19/8,ờ Mẫu ký giấy cho Thế ra đi; Mẫu,
2003:218-221, 387.
164. Phạm Trọng Nhân, “Cuốn sổ tay của một nhân
viên ngoại giao nhân vụ tấn công chùa Xá Lợi,” Bách Khoa, số 169
(15/1/1964), tr. 34. [Sẽ dẫn: Nhân 1964a]
165. Mẫu, 2003:377-379.
165 bis. KLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8541.
166. Phiếu trình ngày 17/8/1963 của Bộ TTM v/v Cộng Sản đang lợi dụng Phật Giáo; TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8501.
167. Thông cáo của TT/VNCH ngày 20/8/1963; Ibid., HS 8501.
168.
Theo tờ trình của Tôn Thất Ðính ngày 22/8/1963, phía Tăng ni không có
ai bị thương; phía công lực, 20 người bị thương. Tại Sài Gòn, 389 sư ni,
106 Phật tử và 133 học sinh bị bắt giữ. Phiếu Ðệ Trình số
0289/QÐIII/VPTL, ngày 22/8/1963, Tôn Thất Ðính kính đệ Tổng thống;
TTLTQG II, PTT/Ð1CH, HS 8527 [số cũ: TM-HS.209]; Lê Cung, 2003:312-316.
Xem thêm The Pentagon Papers (Gravel), II:232; Tâm Châu 1994:19. Nguyễn
Ngu Í 1964b:37-44. [Xem chú 13 supra]
169. Nguyễn Mâu, “Bản tổng kết
thành tích kế hoạch thanh toán vụ tranh chấp bạo động của Phật Giáo tại
Thừa Thiên-Huế, từ 21/8 tới 20/9/1963 (3/10/1963);” TTLTQG II, PTT/Ð1CH,
HS 8501. Theo Mâu, 964 người, kể cả 100 tăng ni, 42 giáo chức, 40 công
chức bị bắt, nhưng 638 người, trong đó có 96 tăng ni, được phóng thích;
Ibid.
170. Nhân, “Cuốn sổ tay;” Bách Khoa, số 169 (15/1/1964), tr.
31-43, và số 170 (1/2/1964), tr. 21-31); Mẫu, 2003:390-398. Riêng tại
Sài-gòn, số tăng ni Phật tử bị bắt lên tới 2,000 người.
171. Nhân 1964a:35-36; Mẫu, 2003:399-418.
172.
Sắc Lệnh số 84-TTP, ngày 20/8/1963; KLTTƯ II, PTT/1CH, HS 8501 &
8506 [SC.04-HS.8466; Cung, 2003:311]. Lệnh này hết hiệu lực từ 12G00
ngày 16/9/1963; SL số 104-TTP, ngày 14/9/1963. Tuy nhiên, tình trạng
khẩn cấp ban hành ngày 15/10/1961, qua SL 209-TTP, được duy trì cho đến
khi có lệnh mới.; Ibid. [8561?] [SC.04-HS.8466]; Lê Cung, 2003:311. “Sắc
lệnh tuyên bố tình trạng giới nghiêm” trên toàn quốc.
173. Ngày 6/9,
Nhu biện bạch với một viên chức CIA Mỹ rằng không liên quan gì đến việc
ban hành thiết quân luật hay tấn công chùa chiền. Tối ngày 18/8, các
Tướng đã yêu cầu Diệm ban hành thiết quân luật. Ngày 19 hay 20/8, Ðỗ Cao
Trí cũng vào gặp Nhu trình bày một kế hoạch tấn công các chùa và danh
sách những người cần bắt mà Trí đã chuẩn bị từ một tháng trước. Nhu chỉ
là con dê tế thần trong cuộc khủng hoảng này. Từ sau ngày 21/8, Nhu vẫn
theo đuổi chính sách hòa hoãn. Nhân viên CIA có cảm tưởng Nhu dấu diếm
sự thực [deception]; FRUS, 1961-1963, IV, Tài liệu 69.
174. VNCH, UBLBÐTACL, Biên bản số 62: Phiên họp của UBLBÐTACL tại Dinh Gia Long ngày 23/8/1963, tr. 6-12; PTT/1CH, HS 8278.
175. PTT/1CH, HS 8511.
176.
HS 8530; CÐ ngày 29/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8530) Tài liệu Việt
Tấn Xã tăng lên 80,000 người “lên án bọn người lợi dụng tôn giáo để đầu
cơ chính trị;” HS 8511.
177. CÐ ngày 29/8/1963, Thừa Thiên gửi BNV; HS 8530.
178. Cao Văn Luận 1972:352-86.
179. Phủ Ðặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Bản tin đặc biệt ngày 24/8/1963; HS 8513; Nhân 1964a:37, 39.
180. PTT ICH, HS 8501.
181. PTT ICH, HS 8513.
182. HS 8511; Herald Tribune, 24/8/1963; Nhân 1964a:34.
183.
Nguyên văn: “You must go to Saigon fast and tell Diem and the Nhu’s to
leave the country now. The people hate them and they shouldn’t stay for
the people to kill them. They will surely be killed if they stay, and
nobody at the Palace now is telling them how the people really feel.
They are cut off from reality. Why do they need power, after nine years
of it, if the family is killed? The US told Synman Rhee to leave. Why
not Diem and Nhu?” JFK Library, NSF Country File, Vietnam; FRUS,
1961-1963, III:666; William C. Gibbons, The U.S. Government and the
Vietnam War, 3 vols (Princeton, NJ: Princeton Univ Press, 1993), II:155.
184. FRUS, 1961-1963, IV:114-5. Ngày 5/9/1963, Harriman mới chuyển thư này cho Bundy, Cố vấn ANQG của Kennedy.
185. CÐ số 896, ngày 23/8/1963, Phnom Penh gửi Paris; CLV, SV, d. 17)
186. Bộ Ngoại Giao Pháp, CÐ số 4879/83, Ðại sứ ở Mỹ gửi BNG; CLV, SV, 17:29.
187. CLV, SV, 17:33.
188.
Từ ngày 11/7/1963, cơ quan an ninh Mỹ đã ghi nhận có dấu hiệu là các sĩ
quan cao cấp và ngay chính Nhu đang âm mưu đảo chính. Trong hai buổi
tiếp xúc với “khoảng 14 Tướng,” kể cả tân Thiếu tướng Ðỗ Cao Trí, Tư
lệnh QÐ I, Nhu tuyên bố có thể có một cuộc đảo chính nếu Diệm trở thành
“nô bộc” của Mỹ [if he believed the government, meaning Diem, was
becoming servile to the United States, he himself would lead a coup
d’Etat]. Ngày 25/6, chính Nhu cũng nói với một quan sát viên Mỹ như
trên. FRUS, 1961-1963, III:490-491. Ngày 13/7, cơ quan CIA báo cáo Ðôn
tự nhận nằm trong một nhóm âm mưu đảo chính; Ibid., III:491. Ngày 15/7,
một cá nhân thuộc nhóm Trần Kim Tuyến tuyên bố sắp có đảo chính, nhưng
không trước ngày 20/7. Ngày 16/7, Big Minh nghĩ cần phải có sự thay đổi
chính phủ; Ibid., III:491n8.
189. Nolting, 1988:121.
190. FRUS, 1961-1963, III:605.
191. The Pentagon Papers (Gravel), II:234.
192.
FRUS, 1961-1963, III, tài liệu 275; Chính Ðạo, VNNB, IC: 1961-1963, tr.
208, 322-23. Trong hồi ký của McNamara, đoạn nói về Lệ Xuân, tương tự
như nhận định này. McNamara còn gọi Lệ Xuân là “một mụ phù thủy.” Theo
cựu Ðại tá Phạm Văn Liễu, năm 1954, đài phát thanh Quân Ðội Quốc Gia đã
phát thanh hầu như mỗi ngày một câu đồng dao: “Nực cười cho họ Ngô Ðình,
Trai không có vợ, mượn tình em dâu.” Trai không có vợ ám chỉ Ngô Ðình
Diệm, và “em dâu” là Lệ Xuân; Trả Ta Sông Núi (Houston: Văn Hóa, 2001),
tập I, tr. 310.
193. FRUS, 1961-1963, III, Tài liệu 174, 273.
194. FRUS, 1961-1963, III:607-610.
195. FRUS, 1961-1964, IV:175.
(Nguồn: Tập San Văn Học Hợp Lưu)