HỒ
SƠ TU VIỆN BÁT NHÃ LÀNG MAI
PHẦN I DUYÊN SINH KHỞI
Lời
Ban Biên Tập: Vụ biến động xảy ra tại Tu Viện Bát
Nhã Lâm Đồng trong những tháng vừa qua đã trở thành điểm
nóng thu hút sự quan tâm của cộng đồng Phật giáo trong và
ngoài nước. Đến nay sự biến này đã dần trở thành một
phần của lịch sử Phật Giáo Việt Nam đương thời. Do đó,
chúng tôi đã thu thập mọi tin tức dữ kiện bao gồm phóng
ảnh các văn kiện liên hệ đến sự vụ đã xảy ra, tập
trung vào một hồ sơ lưu trữ trong thư viện, nhằm giúp cho
những người trẻ và các nhà viết sử Phật Giáo về sau
tìm hiểu vấn đề một cách dễ dàng hơn.
MỤC LỤC:
-
Những điểm Thỉnh cầu và Đề nghị của phái đoàn Đạo Tràng Mai Thôn
đến Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - 5-5-2007
- Thiền sư Thích Nhất Hạnh trả lời truyền hình Ý về vấn đề Tây Tạng 05-04-2008
- Nhận Định Về Giáo Lý Làng Mai, Trí Thông
- Giáo Phái Làng Mai "Pháp Môn Thiền Ôm"
Sinh Hoạt Tâm Linh Tại Tu Viện Lộc Uyển (Đất Lành The Buddhist Review, số đầu năm 2001, tr 68 – tr 70)
NHỮNG
ĐIỂM THỈNH CẦU VÀ ĐỀ NGHỊ
CỦA
PHÁI ĐOÀN ĐẠO TRÀNG MAI THÔN ĐẾN CHỦ TỊCH NƯỚC CHXHCN
VIỆT NAM
(Bản
thỉnh cầu đã được Thầy Làng Mai đích thân trao cho ngài
Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết trong dịp phái đoàn Làng
Mai được thừa tiếp tại Phủ Chủ Tịch ngày 05.05.2007)
1.
Xin chính phủ ra lệnh lập một đài
tưởng niệm thuyền nhân thiệt
mạng trên biển cả tại Vũng Tàu.
2.
Xin cho các thân nhân của những người được chôn trong các
nghĩa
trang quân đội VNCH cũ được
dễ dàng viếng thăm, cúng lễ và bốc mộ.
3.
Xin chính phủ yểm trợ việc xây
dựng tháp kỷ niệm Bồ tát Thích Quảng Đức
tại TP HCM.
4.
Xin cho những người gốc Việt cư trú ở nước ngoài được
về nước thăm viếng, làm việc, đầu tư, giảng dạy, hoằng
pháp mà không cần Visa.
5.
Xin bắt đầu cho phép một số những người gốc Việt cư
trú ở nước ngoài được có song tịch (quốc tịch đôi)
để họ có dịp bày tỏ niềm trung thành của họ với tổ
quốc và quê hương.
6.
Xin đừng xem các thầy và các sư cô gốc Việt về nước
để yểm trợ Phật giáo là những giáo sĩ ngoại quốc và
xin cấp phát dễ dàng cho các vị ấy loại Visa làm việc tôn
giáo nhiều lần trong 5 năm một cách dễ dàng mau chóng. Xin
chính phủ cho phép các vị ấy chia sẻ sự tu học của mình
đến mọi tầng lớp nhân dân trong cũng như ngoài các cơ sở
của giáo hội cũng như tại các cơ sở công cộng khác của
đất nước mà không có sự phân biệt kỳ thị.
7.
Xin có một chính sách đặc biệt
đối với Phật giáo, bởi vì
đạo Phật đã là nền móng dựng nước và giữ nước trong
gần hai ngàn năm, và là yếu tố chính của nền văn hóa Việt
Nam.
8.
Để Phật giáo theo kịp đà hội nhập vào đời sống mới,
chấm dứt tình trạng ủng trệ hiện nay và đóng góp tích
cực phần mình vào công trình văn minh hóa nếp sống gia đình,
cộng đồng và xã hội, xin cho phép Phật tử Việt Nam tự
do thành lập nhiều hội đoàn Phật giáo với những nét đặc
thù của mình. Những hội đoàn này chỉ cần đăng ký hợp
pháp là có thể hoạt động được ngay như ở bất cứ một
nước văn minh nào trên thế giới. Phật tử Việt Nam có quyền
chọn lựa một hoặc nhiều hội đoàn thích hợp để có cơ
hội đóng góp công phu và tài năng của mình. Những hội đoàn
này có quyền truyền bá tư tưởng và pháp tu tập của mình
ra các nước ngoài (tương tự như phương thức W.T.O trong lãnh
vực kinh tế). Các hội đoàn đó có thể bao gồm: Giáo Hội
Phật Giáo Nguyên Thỉ, Giáo Hội Phật Giáo Thiền Tông, Giáo
Hội Phật Giáo Tịnh độ Tông, Giáo Hội Phật Giáo Khất
Sĩ, Giáo Hội Phật Giáo Thiên Thai Giáo Quán Tông, Giáo Hội
Phật Giáo Thiền Tịnh Đạo Tràng, Giáo Hội Phật Giáo Sư
Sãi Tây Nam Bộ, Giáo Hội Phật Giáo Nam Tông K’mer, Giáo Hội
Phật Giáo Thống Nhất, Giáo Hội Đạo Bụt Nhất Quán, Giáo
Hội Phật Giáo Hiện Đại Hóa, Gia Đình Phật Tử, Hội Sinh
Viên Phật Tử, Hội Học Sinh Phật Tử, Hội các nhà Khoa Học
Phật Tử, Hội các nhà Giáo Phật Tử, Hội Y Sĩ Phật Tử,
Hội các nhà Văn Phật Tử, Hội Phật Học Nam Việt, Giáo
Hội Tăng Già Chỉnh Lý, v.v...
9.
Xin cho Tăng Ni được phép hành đạo khắp nơi trên lãnh thổ
quê hương (như Hòa thượng đệ nhất Pháp chủ Thích Đức
Nhuận tuyên bố) không bị hạn chế bởi vấn đề hộ khẩu,
có quyền dựng chùa viện bất cứ ở đâu không kể nơi đó
có nền chùa cũ hay không – các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Lào Cai, Thái Nguyên, v.v…
10.
Xin chính phủ thực hiện việc tách
rời tôn giáo khỏi chính trị và chính trị khỏi tôn giáo…
ngưng lại mọi quản chế của chính quyền trên giáo quyền,
giải
thể Ban Tôn giáo Chính phủ và trước hết là ngành Công an
Tôn giáo.
Tất cả các đoàn thể tôn giáo đều được sinh hoạt tự
do trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, như bất cứ một
hội đoàn văn hóa, thương mại, công nghiệp và xã hội nào.
http://www.langmai.org/images/stories/lathulangmai/pdf/ltlm_31_final_phan_1.pdf
Lá
thư Làng Mai số 31 - 04/02/2008
THIỀN
SƯ THÍCH NHẤT HẠNH TRẢ LỜI
TRUYỀN
HÌNH Ý VỀ VẤN ĐỀ TÂY TẠNG
30-03-2008
- Quốc
hội Âu châu nên mở phiên họp đặc biệt về Tây Tạng,
và gửi 1 phái đoàn đa quốc gia đến Lhassa tìm hiểu sự
kiện..;
- Các
nước Tây phương nên can
thiệp để đức Đạt Lai Lạt Ma cũng
được về viếng thăm, thuyết pháp, giảng dạy và tổ chức
những khóa tu như thiền sư Thích Nhất Hạnh đã được về
Việt Nam giảng dạy và hoằng pháp..;
- Dân
chúng Tây Tạng và Phật tử Trung Quốc cần được thấy nhân
cách của đức Đạt Lai Lạt Ma, và dù chỉ giảng dạy Phật
pháp và khuyến khích bảo tồn di sản văn hóa Tây Tạng mà
không cần nói đến chính trị, ngài cũng đã có thể đem
lại rất nhiều hạnh phúc cho dân chúng và quê hương ngài
rồi;
- Sẳn
sàng theo đức Đạt Lại Lạt Ma cùng đi Tây Tạng để ủng
hộ ngài và cũng sẽ cùng ngài dạy Phật pháp cho Phật tử
Tây Tạng nếu được phép.
-
Phật
tử Tây Tạng đừng nên tuyệt vọng bởi vì Việt Nam ngày
xưa tuy bị nội thuộc Trung quốc gần 1000 năm nhưng cuối
cùng cũng đã dành được độc lập cho mình;
-
Nhà
nước Việt Nam nên cho phép ban tổ chức Ngày Lễ Phật đản
Quốc tế mời đức
Đatlai Latma về Việt Nam dự lễ Phật đản vào tháng Năm
sắp tới. Điều này sẽ đem
hạnh phúc thật nhiều cho Phật tử Việt Nam và cũng để
chứng tỏ Việt Nam có lập trường
về Tây Tạng rất khác với Trung quốc...
Đó
là những đề nghị chính yếu của thiền sư Thích Nhất Hạnh
trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền hình Ý quốc vào sáng
thứ Năm (20.03.2008) tại thành phố Roma.
[PSN/ROMA/30.03.2008]
Khi tăng đoàn Làng Mai do thiền sư Thích Nhất Hạnh dẫn đầu
vừa đặt chân tới thành phố Roma (La Mã) trong chuyến
hoằng pháp 14 ngày tại Ý quốc thì cuộc tuần hành trong ôn
hòa của 600 nhà sư Tây Tạng nhân kỷ niệm 49 năm cuộc khởi
nghĩa chống ách thống trị của Trung quốc đã diễn ra đến
ngày thứ 8. Thủ phủ Lhassa đã bị xe tăng, thiết giáp và
quân đội Trung quốc cắt đứt với thế giới bên ngoài;
Đàn áp đẫm máu đã xảy ra, thi thể của hàng trăm nạn
nhân mà đa số là thanh niên cũng như giới tu sĩ Phật giáo
Tây Tạng nằm rải rác khắp đường phồ Lhassa.
Trước
tình cảnh đó, chỉ hai ngày sau khi yên vị, Tăng Đoàn đã
tổ chức một cuộc thiền hành công cộng cho Hòa bình do Thiền
Sư dẫn đầu với sự hưởng ứng của hơn 3000 cư dân của
thành phố Roma, thủ phủ truyền thống Cơ Đốc La Mã trên
thế giới. Cuộc thiền hành đã diễn ra vào lúc 10 giờ 30
phút, sáng ngày 20 tháng 3 năm 2008.
Ba
ngàn người cùng đi trong im lặng, mà mỗi bước chân là một
niệm cho Hòa bình tự thân trên lộ trình nhiều cây số, đồng
loạt và liên tục trong nhiều giờ trên thành phố đã làm
ra không biết bao nhiêu là năng lượng yên bình. Tất cả năng
lượng đó đã được chuyển tới tới Lhassa xoa dịu đau
nhức, chia xẻ yêu thương, hiểu biết cho nạn nhân và cả
tác nhân gây ra đau khổ trong những ngày qua.
Ngay
sau đó, đài truyền hình quốc gia Ý Đại Lợi đã có cuộc
phỏng vấn về vấn đề nóng bỏng mà cả thế giới cùng
quan tâm này. Nội dung cuộc phỏng vấn đã được chiếu lại
trong các bản tin chính thức vào các buổi trưa (13:30) và tối
(20:30) trong ngày 21.03.2008.
Sau
khi trả lời những câu hỏi có tính thời sự thiền sư Thích
Nhất Hạnh đã đưa ra hai đề nghị chính yếu :
1.
Quốc hội Âu châu nên mở một phiên họp đặc biệt về
tình hình Tây Tạng và gửi một phái đoàn nhiều nước về
Lhassa và các địa điểm đau nhức khác để thực tập lắng
nghe những khổ đau của cả các phía và về báo cáo lại
cho Tây phương.
2.
Các nước Tây phương nên can thiệp để đức Đạt Lai Lạt
Ma cũng được về viếng thăm, thuyết pháp, giảng dạy và
tổ chức những khóa tu như thiền sư Thích Nhất Hạnh đã
được về Việt Nam giảng dạy và hoằng pháp. Nếu thiền
sư Thích Nhất Hạnh được về Việt Nam giảng dạy thì đức
Đạt Lai Lạt Ma cũng phải được Trung quốc cho về giảng
dạy. Dân chúng Tây Tạng và Phật tử Trung Quốc cần được
thấy nhân cách của đức Đạt Lai Lạt Ma, và dù chỉ giảng
dạy Phật pháp và khuyến khích bảo tồn di sản văn hóa Tây
Tạng mà không cần nói đến chính trị, ngài cũng đã có
thể đem lại rất nhiều hạnh phúc cho dân chúng và quê hương
ngài rồi. Nếu áp lực các nước Tây phương đủ mạnh như
trong trường hợp thiền sư Thích Nhất Hạnh thì chuyện đức
Đạt Lai Lạt Ma về nước cũng sẽ được xảy ra.
Ngoài
ra (trong buổi phỏng vấn), thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng
đề
nghị nhà nước Việt Nam nên cho phép ban tổ chức Ngày Lễ
Phật đản Quốc tế mời đức Đạt Lai Lạt Ma về Việt
Nam dự lễ Phật đản vào tháng Năm sắp tới. Điều
này sẽ đem hạnh phúc thật nhiều cho Phật tử Việt Nam và
cũng để chứng tỏ Việt Nam có lập trường về Tây Tạng
rất khác với Trung quốc.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh cũng nhắn Phật tử Tây Tạng là đừng
nên tuyệt vọng bởi vì Việt Nam ngày xưa tuy bị nội
thuộc Trung quốc gần 1000 năm nhưng cuối cùng cũng đã dành
được độc lập cho mình.
Được
biết trong chuyến đi hoằng pháp này của tăng thân Làng Mai
tại Ý đại lợi, một khóa tu có 890 thiền sinh Ý tham dự
đã được tổ chức tại trung tâm Castelfusano ở thủ đô
Rome, đem lại hạnh phúc cho mọi người. Ngày chót của Khóa
Tu cũng có hàng trăm người xin quy y thọ trì năm giới. Sau
đó phái đoàn đã đi Napoli, miền cực Nam nước Ý.
Ngày
27.03. 2008, trong buổi họp báo tại tòa thị sảnh Napoli, thiền
sư Thích Nhầt Hạnh đã lập lại những điều đã nói với
đài I truyền hình Ý, nhưng Thiền Sư có thêm rằng Thiền
Sư sẽ sẳn sàng theo Đức Đạt Lại Lạt Ma cùng đi Tây Tạng
để ủng hộ ngài và cũng sẽ cùng ngài dạy Phật pháp cho
Phật tử Tây Tạng nếu được phép. Nhật báo Il Manifesto,
nhật báo El Corriere della Sera và nhật báo La Republica ngày 28.03.2008
đều dành riêng nửa trang thật to của nhật báo để
đăng hình ông thầy tu Việt Nam với đề nghị khá độc
đáo về Tây Tạng.
Ngày
28.03.2008 lúc 9 giờ 30 sáng, 500 người trẻ từ 16 đến 19
tuổi được giáo sư các trường mình đưa tới Rạp Xi Nê
Modernissimo tại Napoli để được thiền sư Việt Nam Thích
Nhất Hạnh dạy cách làm chủ được những cảm xúc mạnh
của mình như sợ hãi, giận dữ, tuyệt vọng… Các cháu
và các giáo sư vô cùng hạnh phúc vì cách giảng dạy rất
dễ nhớ và có thể thực hành được. Tất cả các cháu đều
được quý thầy quý sư cô Làng Mai hướng dẫn tập hát bài
Thở vào thở ra, Là Hoa Tươi Mát, Là Núi Vững Vàng bằng
tiếng Ý.
14
giờ cùng ngày, tăng thân Làng Mai được các bạn đưa
đi thăm thành phố Pompei. Thành phố này, cách đây 1000 năm,
đã bị thạch hỏa của núi lửa Vesuvo phủ lên và làm cho
nguyên thành phố biến thành than hồng rồi hóa thạch. Riêng
sư cô Chân Không và một nhóm tăng thân Napoli đã đến Phòng
khánh tiết của bảo tàng viện Pignatelli của Napoli lúc 17
giờ 30 chiều để hướng dẫn thiền lạy cho hơn 1000 người.
Số người đến tham dự quá đông nên lúc 17 giờ ban tổ
chức bị buộc phải từ chối dòng người cứ tiếp tục
đổ tới không ngừng. Sau buổi thiền lạy, rất đông người
tham dự đã đến xin bái tạ Sư cô vì pháp môn quá mầu nhiệm.
Sáng
29.03.2008, Thiền Sư đã thuyết pháp tại Rạp Hát lớn của
thành phố với 1500 người đến nghe. Sau đó mọi người theo
Thiền Sư ra công trường Plebiscita để cùng đi thiền hành
đến tận công viên sát bờ biển. Tại đây mọi người đều
quyến luyến không muốn rời Thiền Sư và tăng thân Làng Mai.
Hơn hai ngàn người cùng đứng giữa công viên hát Thở vào
thở ra, là hoa tươi mát, là núi vững vàng… để tiển đưa
Sư Ông và Tăng Thân. Tình người ở Napoli rất đậm đà.
Về đến đây tăng thân mới biết rằng bài hát Trở Về
Mái Nhà Xưa, nhạc ngoại quốc lời Việt mà nhiều người
Việt Nam rất thích vốn là từ bản nhạc Trở Về Suriento,
Napoli, lời hát và nhạc gốc là tiếng Ý cũng đậm đà tình
cảm như lời Việt
.
(http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/TDTS_4/13_TraloiphongvantruyenhinhY.htm)
NHẬN
ĐỊNH VỀ GIÁO LÝ LÀNG MAI
Trí
Thông
CHÚ
THÍCH CỦA BBT TVHS:
Bài
viết của thầy Trí Thông đã được phổ biến hạn chế
qua một số e-mails từ lâu. Nay do nhân duyên thích hợp
nên ban biên tập TVHS chính thức phổ biến trên mạng.
Ban biên tập sẵn sàng đón nhận các ý kiến phản hồi tích
cực từ quý độc gỉa. Xin gửi về thuvienhoasen@yahoo.com
chúng tôi sẽ post ngay dưới bài này. (01-11-2009)
Hiện
nay nói đến thầy Nhất Hạnh, không ai mà không biết đến
Thầy. Gần bốn mươi năm hành đạo ở nước ngoài, thầy
Nhất Hạnh đã có những thành công và ảnh hưởng đáng kể
về mặt đạo học cũng như xã hội học.
Thầy
Nhất Hạnh vừa là một vị đạo sư Phật giáo, vừa là một
nhà văn, một nhà thơ rất có tiếng tăm. Thậm chí thầy Nhất
Hạnh còn được tôn vinh là một nhà văn hóa lớn của thế
giới hiện đại. Tuy xuất thân là tu sĩ Phật giáo nhưng là
mẫu người có tư tưởng phóng khoáng, thầy Nhất Hạnh không
chỉ ảnh hưởng tư tưởng của các triết gia hiện sinh Thiên
Chúa Giáo như Garbriel Marcel, Merleau Ponty và nhất là Emmanuel
Mounier mà còn ảnh hưởng tư tưởng của thiền sư Shunryu
Suzuki thuộc thiền phái Nhật Bản. Cộng thêm một ít giáo
lý của Phật giáo Nguyên Thủy, một ít giáo lý của thiền
sư Tăng Hội thuộc tông phái thiền Việt Nam. Đồng thời
để phát triển đạo Phật ở Tây phương, thầy Nhất Hạnh
đã sử dụng những yếu tố văn hóa của họ và dựa vào
nhu yếu của cái gọi là “Thực dụng”, rồi
hình thành một hệ tư tưởng “Thiền” của Làng mai là
“Hiện pháp lạc trú”.
Chính
vì pha trộn nhiều tư tưởng, cho nên thoạt đầu giáo lý
Làng mai cho ta cảm giác mới lạ, hấp dẫn. Nhưng càng đi
sâu vào chi tiết mới phát hiện, thầy Nhất Hạnh phát triển
đạo Phật theo khuynh hướng “Tâm lý học” hơn
là đào sâu giá trị tâm linh của đạo Phật. Cho nên con đường
Thiền của thầy Nhất Hạnh không sâu sắc, sự tu tập
chỉ đạt đến mức “Chánh niệm tỉnh giác”
rồi đứng lại đó. Nếu đạo Phật phát triển theo hướng
này thì chắc chắn một điều “Trong tương lai, đạo
phật mất dần giá trị chứng ngộ tâm linh đến tuyệt đối
như thời Đức Phật”. Điều này cho thấy thầy Nhất
Hạnh đã phát triển một đạo Phật xa dần cái gốc của
nó.
Không
biết có phải vì tùy thuận theo nhu cầu cuộc sống thực
dụng của người Tây phương, tức là làm việc gì cũng phải
có hiệu quả trước mắt thì họ mới tin theo, còn như nói
về cái được nào đó có vẻ mơ hồ xa xôi, hoặc thuộc
về một thế giới mà họ chưa thấy chưa biết, khoa học
chưa chứng minh nên họ không tin. Cho nên thầy Nhất Hạnh
đã xây dựng một hệ thống giáo lý đạo Phật không
căn bản, đó là:
1/ Không
xiển dương giáo lý Nhân Quả Nghiệp Báo, trong khi chính
nhờ Nhân Quả này mà đạo Phật thật sự đem đến cho con
người đạo đức và sự tiến bộ.
Theo
như năm phép thực tập “Chánh niệm” mà thầy
Nhất Hạnh cho đó là con đường thoát duy nhất, có thể cung
cấp những giáo lý; những phép thực tập có khả năng giúp
cho mọi giới nhất là giới trẻ, giới trí thức tháo gỡ
những khó khăn nội tâm; chuyển hóa được những phiền giận
lo âu; những nghi kỵ, tuyệt vọng; tái lập lại được truyền
thông với người thân và đóng góp được một cách tích
cực vào việc xây dựng một nền đạo đức dân tộc có
khả năng chuyển hóa những tiêu cực hiện có như nạn tham
nhũng, nạn mại dâm, nạn ma túy, nạn đổ vỡ gia đình…mà
thầy lại không thiết lập những điều đó trên nền tảng
của Nhân quả thì giống như xây nhà không đặt mống. Bởi
vì có tin Nhân quả, con người mới yêu quý đạo đức và
đi tìm đạo đức, nhẫn chịu được nghịch cảnh một cách
bình an và còn phấn đấu làm tất cả những việc lành, không
mê tín, không làm các điều ác. Ai cũng thấy “Luật
pháp” không thể kiềm giữ được thú tính trong mỗi
con người mà chỉ có Nhân quả trong mỗi con người mới giúp
họ sống đúng và tự giác mà thôi.
Cho
nên, nếu không có một luận thuyết về Luật Nhân Quả
mà lại kêu gọi mọi người phải sống đạo đức thì cái
đạo
đức đó không có nền tảng. Do Không có một một
giáo lý chuẩn nên người ta không thiết tha trong cái việc
xây dựng đạo đức cho cuộc sống. Bởi vì đạo đức cuộc
sống, nó đòi hỏi người ta phải thay đổi nội tâm mình
để sống cho tốt.
Hiện
nay, tuy khoa học chưa chứng minh được đường đi của Nhân
quả nhưng đó là điều có thật. Nó là một nguyên lý tự
nhiên rất công bằng và khách quan của vũ trụ mà Đức Phật
là Người khám phá, có cái nhìn xuyên suốt, thấy rất rõ.
Khi
Đức Phật nói về Nhân quả là do Ngài đã chứng kiến rõ
ràng trong thiền định. Tức là khi Ngài đắc đạo, Ngài nhập
định trong thiền định liền thấy được vô lượng kiếp
của mọi người và thấy rõ ràng mọi chuyện đã diễn ra
theo Nhân quả. Với người gieo nhân như thế…sẽ có kết
quả như thế! Nghĩa là nó luôn có một sự bù đắp rất
công bằng trong vũ trụ này.
Cho
nên, quan điểm Nhân Quả Nghiệp Báo luôn là yếu tố chủ
đạo xuyên suốt, nhất quán trong hệ thống giáo lý của đạo
Phật. Còn những vị Đạo sư đời nay, nếu bỏ qua, không
dạy cho tín đồ tin hiểu vững vàng về Nhân Quả Nghiệp
Báo thì chắc chắn mọi người sẽ hiểu sai đạo Phật, sẽ
dễ rơi vào mê tín và sẽ không ứng dụng được đạo lý
cho cuộc sống cũng như định hướng cho sự tu hành giải
thoát của họ được tốt đẹp hơn.
2/ Không
tin các cõi Trời, không đề cập đến ba cõi sáu đường.
Hòa
Thượng cho rằng: “Niết bàn, Thiên đường, sự sống
bên kia cái chết” chỉ là sáng tạo phẩm của một nhận
thức chủ quan, là những giả thiết siêu hình không thể
kiểm soát.
“Những
từ Niết bàn, Hư vô, Tịch diệt, Bản ngã, Luân hồi…không
có nghĩa nhất định. Có bao nhiêu định nghĩa về Niết
bàn rồi. Và những cố gắng ấy là để làm nên một việc
mà chính Đức Phật Thích Ca đã không làm nổi.
Hỏi
Niết bàn là gì? Ngài đã từ chối không trả lời”.
Đúng
là cái bệnh tâm lý ngã mạn của người đời sau, luôn cho
rằng mình nói đúng hơn ngay cả với Đức Phật. Với trí
tuệ của một Đức Phật thì không điều gì trong vũ trụ
này mà Ngài không lý giải được hết. Những lời dạy của
Ngài luôn có giá trị vượt cả không gian và thời gian. Có
điều do hành nghiệp căn cơ của chúng sinh quá thấp nên không
thể hiểu nổi về cái thấy biết của một tâm chứng đến
tuyệt đối mà ngôn ngữ không diễn tả được. Chỉ có người
nào chứng rồi mới biết cho nên Đức Phật không nói là
vậy.
Có
câu chuyện về “Con Rùa Và Con Cá”, chuyện kể
rằng:
Con
Rùa có thể sống dưới nước và lên bờ cũng được, trong
khi con Cá do nghiệp của nó chỉ sống dưới nước mà không
lên bờ được. Cho nên khi nghe con Rùa nó kể chuyện trên
bờ cho con cá nghe thì con Cá không thể nào tin, bởi vì nó
không chứng kiến nên không tin. Nhưng thật ra có chuyện ở
trên bờ chứ không phải không có.
Cũng
vậy, ở đây chúng ta không chứng kiến được cõi Trời
nhưng không phải là không có. Hồi Đức Phật còn tại
thế, Ngài đã nói trong các kinh rằng “Có Tam Thiên Đại
Thiên Thế Giới”, tức là có hằng hà sa số thế
giới. Tuy nhiên vào thời đó, chưa ai tin hết vì người ta
chỉ thấy phạm vi thế giới của mình thôi. Đến khi khoa
học phát triển, họ đã tìm ra được các hành tinh khác.
Mỗi vì sao là một thế giới. Rồi lên được cung trăng họ
cũng phát hiện đó là một thế giới, nhưng các nhà khoa học
nói đó là một trái đất chết không có người sống. Thật
ra ở đó cũng có những sanh linh sống. Sở dĩ họ không thấy
được vì cách nhau bởi biệt nghiệp.
Tương
tự, Đức Phật có nói đến Lục đạo luân hồi tức là
sáu con đường mà chúng sinh chết đi rồi sống lại và nó
luân hồi qua lại mãi “Ta thấy tất cả chúng sinh luân
hồi trong lục đạo, xây vần trong sáu đường này. Cũng như
một người đứng trên lầu cao nhìn xuống dưới ngã tư đường,
thấy người nào đi đường nào…đường nào”.
Tùy
theo nghiệp lực đã gây tạo mà sau khi chết có người sinh
về cõi Trời hay cõi người. Có người rơi vào ngạ quỷ,
địa ngục hay súc sanh. Nói sáu đường mà sự thật ta chỉ
thấy có hai đường là người và súc sanh. Bốn đường còn
lại là Trời, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục thì không thấy.
Ta không thấy do không chứng kiến được chứ không phải
là không có, tại vì cái biệt nghiệp của mọi loài mọi
chỗ mà sống thì cái nhìn nó khác nhau. Ví dụ cõi Trời sống
không bằng hình tướng mà bằng tư tưởng. Cái tư tưởng
đi qua đi lại không có hình tướng thì làm sao ta thấy được.
Chính
vì không tin có thế giới siêu hình nên thầy Nhất Hạnh chủ
trương “Tôi không có ước ao cái cõi Niết bàn, Tịnh
độ hay Thiên đường, tại vì Niết bàn là ở đây; Tịnh
độ là ở đây; Thiên đường là ở đây”.
“Trong
tâm mình nhẹ nhàng, thảnh thơi và hạnh phúc thì ba nẻo đường
đen tối là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh không thể xuất
hiện. Những nẻo đường đen tối đó có thể phát hiện
trong ta bất cứ lúc nào trong ngày nếu ta đánh mất niệm,
định và tuệ”. Vì vậy không cần phải đi về tương lai
mới có hạnh phúc, hay không cần phải chết mới đi vào Tịnh
độ.
Bởi
vậy nhiều người nhận định, có lẽ thầy Nhất Hạnh do
bị ảnh hưởng của nền văn hóa Tây phương và kiến thức
tâm lý học của mình nên có lối giảng rất thực dụng.
Thầy là một vị tu sĩ Phật giáo có sứ mệnh hoằng truyền
chánh pháp của Đức Thế Tôn lại không tin Niết Bàn
tuyệt đối của Phật. Cho nên đã chủ trương đi
tìm sự thảnh thơi an nhàn trong hiện tại. Điều này làm
cho Đạo Phật bị biến dạng, thật đau
lòng!!!
Đối
với những vấn đề mà khoa học chưa chứng minh được như:
- Giáo
lý Nhân quả nghiệp báo, tình trạng tái sinh luân hồi mãi
hay sự an lạc trong thiền định, các cõi Trời, cõi Địa
ngục, Ngạ quỷ làm người trí thức hay nghi ngờ. Nhưng chúng
ta là người đệ tử Phật phải có niềm tin và đức tin
quả quyết về một sự thật là “Ngoài thế giới vật
lý này còn tồn tại thế giới của siêu nhiên, có sự hiện
hữu của chúng sinh trong đó”. Hơn nữa đó là những
giáo lý quan trọng được Phật thân chứng và thấy rõ, có
thế chúng ta mới tu được.
Sự
thật, địa ngục không phải là sản phẩm tưởng tượng
của tâm để muốn có là có, muốn không là không, mà địa
ngục là khách quan ngoài ý muốn của tâm. Tuy địa ngục thuộc
về thế giới tâm linh, thế giới siêu hình nhưng lại có
thật. Khi một người làm ác, họ không muốn vào địa ngục
nhưng cứ bị một sức hút vô hình đẩy vào. Vì có địa
ngục nên con người rất sợ tội lỗi và sống một đời
hiền lương đạo đức.
3/ Việc
dùng tâm lý để giải quyết đau khổ chỉ là tạm bợ,
phải có
yếu tố công đức mới là tận gốc.
Thầy
Nhất Hạnh dạy rằng: “Mỗi khi có nổi buồn, cơn giận
hay niềm tuyệt vọng, ta dùng phương pháp trị liệu là ôm
ấp những cảm xúc đó một cách ưu ái và hết lòng thì năng
lượng ưu ái đó sẽ làm cho cơn giận hay nổi buồn dịu
lại”. Cách thực tập là hãy chấm dứt hết mọi
ưu tư, chỉ bám sát vào hơi thở ra hơi thở vào.
Chúng
ta thấy với cách thức đó, nếu có tìm được sự an lạc
thì cũng chỉ là một chút yên ắng tạm thời
thôi. Nếu không có phước, những cái bung xung tâm lý vẫn
tiếp tục trổi dậy. Rồi ta lại tiếp tục đè nén và cứ
thế thì tâm càng mệt mỏi. Lúc này tâm không còn yên nữa
mà trở nên rất vọng động.
Muốn
trị tận gốc ta phải biết nguyên nhân của đau khổ là do
đâu ?
- Có
thể do thiếu đạo đức, do không có lý tưởng giải thoát,
do nghiệp quá khứ.
Thường
thiếu đạo đức là do nhân vị kỷ nên cái quả là đau khổ.
Ngược lại với cái nhân vị tha thì cái quả là an vui, đó
là sự hổ tương trên nhân quả. Vì vậy để giải quyết
cái khổ một cách rốt ráo, chúng ta nên theo lời Phật dạy
là hướng về mục tiêu vô ngã sẽ tránh được lỗi lầm
hơn. Ngay cả khi đạt được cái tâm thanh tịnh sáng suốt
vẫn phải tự nhắc mình bản ngã chưa hết, lỗi lầm chưa
sạch để đừng chủ quan tự mãn.
Mặt
khác phải làm nhiều việc phước song song với việc tu tập
thiền định. Chính việc làm lợi ích cho mọi người sẽ
có cái phước tác động trở lại làm tâm được yên một
cách tự nhiên chứ không phải do tu tập. Đó là vì phước
và nhân quả luôn đi đôi, phối hợp nhịp nhàng với nhau
không sơ hở. Cho nên muốn đi tìm sự định tâm mà phước
ít quá sẽ không nhiếp tâm được. Đừng tưởng chỉ thực
hành phương pháp nhiếp tâm là nhiếp được. Bên ngoài thấy
cũng ngồi yên đó nhưng bên trong vọng tưởng vây kín. Cho
nên sự tu hành của mỗi người chỉ tự mình biết. Quan trọng
là phải thành thật với chính mình thì công phu tu hành mới
tiến.
Một
vài điều kiện quan trọng để hóa giải đau khổ là phải
tinh tấn lễ Phật, tinh tấn tu tập thiền định để nhiếp
tâm cho được. Bởi vì khi tâm ta thanh tịnh thì những mục
tiêu thế gian không lừa gạt được mình. Ta vẫn sống giữa
cuộc đời đầy bất trắc nhưng không đau khổ. Trong đời
sống ta thấy được lỗi lầm của mình trong từng điểm
nhỏ. Ngoài ra còn thương yêu giúp đỡ người khác được.
Chính cái tâm vị tha làm mình quên đi thực tại rằng mình
đang có đau khổ, vì niềm vui có được trong những việc
làm giúp người khác đã phủ kín hết tâm mình. Cho nên vừa
tu tập, vừa làm phước, vừa tu dưỡng đạo đức. Đó là
những cái nhân tác thành công đức để giải quyết tận
gốc của đau khổ, chứ không phải đi tìm một nội tâm an
lạc cho chính mình là hết đau khổ. Cái gì đi tìm cho chính
mình là dấu hiệu của cái tâm còn ích kỷ. Mà ích kỷ là
nguyên nhân của đau khổ. Vì vậy chúng ta phải có trí tuệ
thoát ra khỏi chính mình để hướng về mục tiêu vô ngã
thì hạnh phúc là chắc thật.
4/ Cách
dụng công thiền quán thường sử dụng tưởng tượng
làm mệt
đầu óc và tăng thêm ảo tưởng kiêu mạn.
Trong
năm bài thực tập “Chánh niệm” từ thấp đến
cao, ta thấy bài nào trong cách dụng công cũng có tưởng tượng.
Bài tập càng cao thì tưởng tượng càng nhiều. Ví dụ bài
tập thứ tư:
1.
Thở vào, tôi biết tôi thở vào
Thở ra, tôi biết tôi thở ra
2.Thở
vào, tôi thấy tôi là bông hoa
Thở ra, tôi cảm thấy tươi mát
…………………………………
5.
Thở vào, tôi trở nên không gian mênh mông
Thở ra, tôi cảm thấy tự do thênh thang
Hoặc
bài thứ năm:
1.
Thở vào, tôi thấy tôi là em bé năm tuổi
Thở ra, tôi cười với em bé năm tuổi là tôi
………………………………………………..
6.
Thở vào, tôi thấy em bé năm tuổi là mẹ tôi rất mong manh,
rất dễ bị thương tích.
Thở ra, tôi cười với em bé là mẹ tôi với nụ cười hiểu
biết và xót thương.
Qua
những câu quán tưởng như thế, ta thấy phương pháp thực
tập nó không đúng thật như bài kinh “Tứ Niệm Xư”
Phật đã dạy. Mà nó vừa lai lai một chút ở bài
kinh này, vừa lai lai ở khía cạnh tâm lý, tức là thiết lập
lại truyền thông giữa bản thân và cha mẹ.
Đức
Phật dạy: “Hơi thở vô dài, tôi biết hơi thở vô
dài
Hơi thở vô ngắn, tôi biết hơi thở vô ngắn”.
Tức
là hơi thở như thế nào, ta biết như thế đó. Không
có tưởng tượng nó như thế này, như thế kia khi
thở vào hay thở ra. Cái việc tưởng tượng cho tâm mình phủ
trùm “Tôi cảm thấy tôi trở nên không gian mênh mông”.
Chính cái tâm tưởng tượng đó là một loại tâm
loạn, làm mệt trí não.
Ở
đây chúng ta không đi tìm cái phủ trùm đó vì nó là một
sự tưởng tượng và sự tăng trưởng của bản ngã.
Tu
thiền là đi tìm cái không thời gian, không có đối tượng
phải suy nghĩ. Từng phút thấy cái hiện tại nó tan
vỡ, không có. Đó là lúc tâm ta thanh tịnh không còn thời
gian nữa. Còn việc tâm nó phủ trùm, đó là điều tự nhiên
nó phải như vậy, không tưởng tượng. Nếu khởi
động cái tâm để tưởng tượng thì ngay lúc đó là sai lầm.
Chúng ta tu như thế lâu ngày sẽ tẩu hỏa.
Yếu
chỉ của Làng mai trong việc thực tập thiền chánh niệm là
nhiếp tâm vào hơi thở, mĩm cười làm cho thân tâm an lạc,
vững chải thảnh thơi. Và ngay đó cho rằng mình đã về đã
tới, không còn mục đích nào tiến tới nữa.
“Thiền”
lúc đầu là vô niệm. Sau sẽ đi dần đến vô ngã.
Đó là mục tiêu cuối.
Đừng
tưởng tâm được thanh tịnh, thấy mình thảnh thơi vững
chải, có trí tuệ rồi cho rằng trạng thái đó là viên mãn
nên ca ngợi đề cao, cho rằng “ Chỉ có pháp môn thực
tập của tông phái mình là có khả năng giúp hành giả nhiếp
được tâm”. Nghĩ như thế thì mặt dù tâm đang thanh
tịnh đó nhưng vẫn đang tự cao. Một khi có tự cao, rồi
cộng thêm tưởng tượng thì coi chừng nếu không có phước
sâu dầy trong quá khứ, người đó sẽ trở nên điên
loạn.
Cho
nên tâm tự hào là một trở ngại rất nguy hiểm đối với
người tu. Ví dụ hôm nay ta ngồi thiền được an lạc, thảnh
thơi, vững chải. Nhưng nếu ta khởi tâm nghĩ “À! Mình hay
thật, mình tu có tiến bộ” thì qua ngày hôm sau trạng thái
yên ắng sẽ không còn nữa. Đó là do cái tâm tự hào nó
phá tan hết công đức, làm lui sụt lại công phu tu hành của
mình.
Tóm
lại, lối tu thiền của Làng mai không đủ sức có được
chánh niệm tỉnh giác mà chỉ là tâm tư duy thôi.
5/ Trong
giáo lý Làng Mai, chữ “Thiền” bị lạm dụng.
Lạm
dụng đến nổi bất kỳ sự vật, sự việc nào, chỉ cần
gán thêm phía sau chữ “Thiền” một từ nào đó là ta có
ngay một cái tên gọi rất kêu. Ví dụ: Hòa thượng bình thường
cũng gọi là Thiền sư. Lễ lạy gọi là Thiền lạy. Nằm
gọi là Thiền buông thư. Đi gọi là Thiền đi. Ngồi gọi
là Thiền ngồi. Ngoài ra còn có Thiền thở, Thiền làm việc,
Thiền sỏi, Thiền trà, v.v…Toàn là những danh từ hơi lạ
so với tự điển Phật học.
6/ Đánh
giá Đức Phật như một triết gia dễ thương, chứ không có
gì cao siêu.
Trong
quyển Thiết Lập Tịnh Độ, trang 59 của Thầy Nhất Hạnh.
Có đoạn viết:
“…Tuy
Bụt Thích Ca không nói rõ nhưng chúng ta biết rõ Bụt A Di
Đà là một người có khả năng rất lớn trong việc xây dựng
tăng thân. Nếu Bụt A Di Đà không dễ thương thì đâu có
ai muốn đến cõi đó để cộng tác và sống chung với Ngài.
Vì Đức A Di Đà dễ thương quá chừng, cho nên hầu hết tất
cả những người dễ thương đều quy tụ về bên đó”.
Đọc
trích đoạn trên, ta có cảm giác Thầy Nhất Hạnh tán thán
công hạnh của Phật A Di Đà, nhưng thông qua đó là ngầm
ca ngợi mình đã có công thiết lập được nhiều Tăng thân
trên khắp thế giới. Đồng thời Làng mai là một cõi Tịnh
Độ thiết thực bây giờ và ở đây. Cho nên phương
pháp “Mỗi bước chân đi vào tịnh độ”
là quà tặng quý nhất của Làng mai đối với những ai muốn
thực tập. Riêng thầy Nhất Hạnh là người dễ thương nhất
nên Thiền sinh khắp nơi quy tụ về Làng mai, cùng tu tập để
tận hưởng từng bước chân an lạc đang dẫm lên mảnh đất
Tịnh độ ở trời Tây.
Thầy
Nhất Hạnh hiểu Đức Phật chỉ là người tỉnh thức không
cao siêu lắm. Điều đó đã hạ thấp giá trị chứng
ngộ của Đức Phật xuống mức ngang bằng một triết gia.
Tức là cho rằng Đức Phật ngồi suy nghĩ dưới cội bồ
đề mà chứng đạo. Thấy như vậy tức là thầy Nhất Hạnh
không hiểu ý nghĩa lớn lao của sự “Giác ngộ”.
* Để
chứng đạo, một người đệ tử Phật phải thành tựu khả
năng nhập xuất tự tại bốn mức định là từ Sơ thiền
cho đến Tứ thiền”.
Do
mục tiêu tu tập của Làng mai là đứng lại ở chỗ
tư duy, cho nên hiểu sai về Đức Phật như thế
là làm cho đạo Phật chóng suy tàn.
Sự
thật nhân quả của việc thành Phật rất phức tạp. Phải
có chánh nhân là kiếp nào đó đã từng cung kính thiết tha
một vị Phật. Tôn kính đến mức có thể hy sinh cả mạng
sống vì Phật. Nhờ cái tâm tôn kính như vậy mà chúng sinh
đó trở nên khát khao thành Phật. Rồi trải qua nhiều kiếp
tinh cần, chúng sinh đó phải tu tập theo đúng Bát Chánh Đạo,
làm được vô số công đức, thành tựu các mức thiền định
phi thường, diệt trừ hoàn toàn chấp ngã, thoát ra khỏi tâm
thức riêng của mình để trở thành toàn thể vạn hữu. Đó
là như thế.
7/ Xem
Phật và Chúa giống nhau.
Thầy
Nhất Hạnh chủ trương chính Sách vượt thoát khỏi
khuôn khổ tôn giáo của đạo Phật để có thể
hòa đồng các tôn giáo khác với nhau.
Bởi
vậy các thầy và các sư cô đạo tràng Mai Thôn cũng học
Phúc Âm. Đồng thời cũng đã từng đi tham dự những sinh
hoạt tu tập và trao đổi ở các Tu viện Cơ Đốc Giáo tại
Pháp, Hoa Kỳ, Au Châu.
Vào
năm 1995, thầy Nhất Hạnh có viết quyển sách “ Living
Buddha, Living Christ”. Dịch sang tiếng Việt có tựa đề
là “Bụt trong ta, Chúa trong ta”. Với nội dung có sự
so sánh giữa Bụt và Chúa rất giống nhau. Đó là quan
điểm riêng của thầy Nhất Hạnh. Kỳ thực xét
về mọi phương diện Chúa làm sao bằng Phật được. Thầy
Nhất Hạnh nói như thế khiến cho tín đồ Phật giáo mất
cảnh giác về âm mưu bành trướng của kitô. Nghĩa là người
Phật tử lập gia đình thoải mái theo Chúa mà bỏ đạo nhà.
Nói
như thế không có nghĩa là chúng ta tự tôn, kỳ thị, phân
biệt mà là một sự bảo vệ đạo Phật. Ngay cả Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ XIV trong cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng
John Paul II đã từ chối đề nghị một hình thức
hỗn hợp hay thống nhất giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Ngài nói rằng:
"Thật
khó để có chuyện hợp nhất giữa Thiên Chúa giáo và Phật
giáo. Nếu bạn muốn có mối quan hệ mật thiết hơn, thông
hiểu nhau hơn, điều đó đang diễn ra trong các tôn giáo. Ông
lưu ý: Với những cá nhân hành đạo, việc có một chân
lý, một lý tưởng là rất quan trọng. Có nhiều chân lý,
nhiều lý tưởng là mâu thuẫn nhau.
Ông
tiếp: tôi là Phật tử, do đó Phật giáo đối với tôi
là chân lý duy nhất, tín ngưỡng duy nhất. Đối với
người bạn Hồi giáo thì đạo Hồi là chân lý, là tín ngưỡng
duy nhất. Trong lúc ấy tôi vẫn tôn trọng và ngưỡng mộ
những người bạn Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Và nếu
hợp nhất theo nghĩa trộn lẫn vào nhau thì không thể được
và cũng vô ích”. ( Nguồn tin Zenet News Agency )
8/ Thầy
Nhất Hạnh tuyên bố Phật Di Lạc đã Đản Sanh
với hình
thức một Tăng đoàn, một Tăng thân hay một cộng đồng.
Trong
một bài giảng với tựa đề ĐỨC PHẬT CỦA THẾ KỶ XXI,
tại chùa Hoằng Pháp. Thầy Nhất Hạnh nói rằng: “Đức
Phật Di Lạc đã đản sanh. Năm nay Ngài được năm hay sáu
tuổi. Lần này Đức Phật được sinh ra không phải là hình
thức một cá nhân mà là hình thức một tập thể, một cộng
đồng, một tăng đoàn, một tăng thân”…
Đây
là điều kỳ lạ mà hội chúng mới được nghe. Nhưng khi
hiểu rõ đường lối của Làng mai thì thấy ẩn ý của câu
nói đó muốn ám chỉ “Tăng thân” của
Làng Mai là hiện thân của Phật Di Lạc.
Trong
những thập niên qua, thầy Nhất Hạnh dành rất nhiều công
phu để xây dựng một tăng đoàn xuất gia, có khả năng gây
được niềm tin cho giới trí thức và người trẻ tuổi. Cho
nên trong mỗi khóa tu thầy Nhất Hạnh tổ chức nơi nào là
đều có sự góp mặt của tăng đoàn. Tăng đoàn này có khả
năng giảng dạy, hướng dẫn tu học cho mọi người. Đây
là một đòn tâm lý chứng tỏ cho quần chúng thấy giáo lý
làng Mai có thể đáp ứng được nhu yếu của mọi thành phần
trong thời đại mới. Chứ còn nếu thầy Nhất Hạnh một
thân độc mã đi đến các Nước thuyết giảng thì cho dù
thầy có nói cao siêu cách mấy cũng không đủ gây niềm tin
tưởng cho tứ chúng tại các nước ấy.
Tuy
nhiên nói như thế là thầy Nhất Hạnh dám bẻ cong lời Phật
và gây nên một tà kiến trong đạo Phật.
9/ Vì
không tôn trọng Phật nên thầy Nhất Hạnh
đã tuyên
bố mình đang có hóa thân giáo hóa khắp thế giới.
“Khi
mà tôi nghĩ những tác phẩm của tôi in ra hằng 40 – 50 thứ
tiếng, nó đi khắp thế gian, nó đi vào các tu viện của người
Công giáo, vào trong nhà tù, vào trong những ngõ ngách…Giúp
cho người ta tiếp xúc được với chánh pháp của Đức Thế
Tôn. Tôi thấy rằng tôi là những cuốn sách đó, tôi đang
hành đạo ở khắp nơi, tôi có hóa thân khắp nơi. Còn cái
quý vị đang nhìn thấy đây không phải là tôi đâu, nó chỉ
là một mặt nhỏ xíu. Và tôi có những người bạn, có những
người đệ tử tiếp nối tôi trên khắp thế giới, và đó
là những hóa thân của tôi, đó là những sự tiếp
nối của tôi. Khi hình hài này tan hoại, quý vị đừng nghĩ
tôi chết, không đâu. Bản chất của tôi cũng giống như bản
chất của đám mây, nó là vô sanh, bất diệt. Mà bản chất
của quý vị tương tức cũng vậy là vô sanh là bất diệt”.
Thường
chỉ có những vị đắc đạo mới tuyên bố có Pháp thân,
Báo thân, Hóa thân. Thầy Nhất Hạnh tự cho mình có hóa thân
như thế là chứng tỏ mình bằng Phật. Đành
rằng thầy Nhất Hạnh là một vị Tu sĩ có tài, có lý tưởng,
có bản lãnh, có công phát triển đạo Phật ở Tây phương.
Nhưng nếu thầy Nhất Hạnh đừng tự nói những cái hay của
mình, đừng xác quyết mình như Phật thì cái lòng tôn kính
của mọi người đối với thầy Nhất Hạnh thật là vô hạn.
Thiền
Sư Zen Zetsu (Nhật) căn dặn đệ tử: “Đừng nói cho người
chung quanh biết về con trước khi họ tự khám phá ra con”.
Người
chân chính không bao giờ nói ra cái hay của mình, nhưng tự
họ trong đời sống có những hành vi tốt đẹp toát ra. Điều
này khiến người khác cảm nhận được và họ tin chắc đây
là một bậc Thánh nhân.
Ở
các đạo khác, họ xây dựng lòng tôn kính đối với giáo
chủ rất mạnh. Ví dụ đạo Hồi. Bởi vậy đạo của họ
vững vàng và phát triển mạnh là vậy. Chỉ có đạo Phật
rất lạ là có tư tưởng xem nhẹ lòng tôn kính đối với
vị giáo chủ của mình. Cho nên đôi lúc có những vị Thiền
sư chứng ngộ, thích bày tỏ sự cao siêu của mình để cạnh
tranh ngang hàng với Phật.
10/ Truyền
đăng
Vào
thời Đức Phật, kết quả tu tập của các vị đệ tử do
chính Đức Phật xác nhận là họ đang ở vị trí nào theo
tiêu chuẩn của bốn mức Thiền và bốn Thánh vị. Cho nên
việc truyền tâm ấn có nghĩa là thầy công nhận đệ tử
đắc đạo giống mình.
Ngày
nay quý thầy, quý sư cô và cư sĩ Làng Mai, trước khi tấn
phong làm giáo thọ cũng được làm lễ truyền đăng nhưng
là một hình thức tâm lý để giữ chân
họ chứ không còn giá trị tâm linh nữa. Và trong khi thọ
lãnh đó mỗi vị được tặng bài kệ giống như một sự
công nhận, ví dụ:
TT
Thích Phước Tịnh:
Phước
duyên lòng đất nở hoa
Bước
trong cõi tịnh, ngồi tòa chân như
Cánh
đồng sao mọc vô dư
Đỉnh
xuân hằng hữu bây giờ trăng lên.
Chị
Châu Hương Sơn:
Vầng
trăng trên biển bạc
Đã
về ngự Hương Sơn
Sóng
không sinh chẳng diệt
Mưa
biển lại về nguồn.
11/ Thầy
Nhất Hạnh kêu gọi hòa hợp, bắt tay với tất cả.
Nếu
các nước liên hiệp Châu Au có những yếu tố triết học,
thần học và văn hóa chung làm nền tảng cho sự thực hiện
cộng đồng thì các nước Đông Nam Á chúng ta cũng có những
yếu tố như thế để làm mẫu số chung. Đó là đạo Bụt,
đạo Khổng, Đạo Lão, tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, lý
tưởng đại đồng, quan điểm tam tài, ý hướng yêu chuộng
hòa hợp với thiên nhiên và nhất là sự yêu chuộng sự thảnh
thơi nhàn du.
Ai
cũng thấy rõ ràng trong thời đại này, không ai còn có thể
bế quan tỏa cảng, không ai còn có thể đứng một mình như
một hải đảo nữa. Ta không thể nào cô lập trong cô lập.
Ta chỉ có thể đứng thế liên lập mà thôi (Tuổi
trẻ – Tình yêu – Lý tưởng).
Lời
nói như thế là nhen nhúm kêu gọi đa nguyên đa đảng
chứ không phải đạo lý. Bởi vì thầy Nhất Hạnh
cho rằng: “Nhiều ý kiến vẫn hơn một ý niệm độc
tôn. Nhiều thành phần chính kiến tôn giáo, xã hội đồng
tâm hiệp lực xây dựng quê hương vẫn hơn một đảng
phái độc quyền, bao cấp quản ly”.
Còn
đạo lý là ta thương yêu mọi người nhưng phải dẫn dắt
mọi người về với Phật pháp, không phải tạo điều kiện
cho kẻ xấu phát triển. Người có bản lãnh là không chìu
theo cái sai của thế gian. Đôi lúc phải chấp nhận đụng
chạm để thay đổi một quan điểm sai nhằm đưa đến lợi
ích sau này. Có như thế lẽ phải chân lý mới được bày
tỏ.
12/ Thầy
Nhất Hạnh có bổn phận giải thích thật hay
những điều
sư cô Chân Không đề ra có vẻ kỳ lạ.
Ví
dụ: - Sư cô Chân Không, không cho thầy Nhất Hạnh giữ điện
thoại, email, tiền bạc thì thầy phải nói đó là do “Thầy
tự tại không vướng mắc”.
- Sư
cô Chân Không, không cho thầy Nhất Hạnh tiếp khách thì thầy
phải nói là “Thầy được sư cô bảo hộ chu đáo”.
- Sư
cô Chân Không hạn chế tất cả quyền lợi của tăng ni thì
thầy Nhất Hạnh giải thích là “Tuy không có địa chỉ
hay điện thoại riêng nhưng quý thầy cô ở làng Mai chấp
nhận một cách hoan hỷ. Tại vì đó không phải là giới hạn
tự do mà là một phương pháp thực tập uy nghi để bảo hộ
tự do”.
- Ngoài
ra sư cô Chân Không còn quyết định mọi kế hoạch, nhân
sự và kể cả đưa ra giáo lý cho thầy Nhất Hạnh giảng
dạy.
Qua
những điều như vậy cho thấy sư cô Chân Không là người
rất nguy hiểm, tuy là người đứng phía sau nhưng
luôn chỉ đạo cho thầy Nhất Hạnh trong
mọi vấn đề.
Kết luận:
Nhìn
những điểm phân tích trên, ta thấy:
- Thầy
Nhất Hạnh phát triển đạo Phật nhưng bỏ mất cái
gốc.
-
Không yêu quý tôn trọng cái gốc từ Đức phật đã dựng
lập vì có ý tự cho mình không thua kém Phật.
-
Không
tin có Niết bàn tuyệt đối của Phật cũng như không
tin có thế giới siêu hình.
-
Có khuynh hướng hòa đồng các tôn giáo là làm loãng
đạo lý của Phật trộn lẫn giữa đúng và sai.
-
Thầy Nhất Hạnh đưa “Tâm lý học” Tây phương vào trong
cách giảng dạy nên đã lái đạo Phật sang hướng thực
dụng hơn là chứng đạt chiều sâu tâm linh.
-
Trong cách dụng công tu “Thiền” hay tưởng tượng.
-
Có những ý đồ thầm kín khó hiểu.
-
Lệ
thuộc quá nhiều vào sư cô Chân Không.
Mong
các vị Tăng Ni và phật tử phải cảnh giác đừng bị những
lời hoa mỹ lôi kéo, dẫn dụ đi sai đường.
Tháng
6/ 2005
Trí
Thông
Cần
xem “giáo lý làng mai” để đối chiếu.
http://www.thuvienhoasen.org/index-tacgia-nhathanh.htm
GIÁO
PHÁI LÀNG MAI
“PHÁP MÔN THIỀN ÔM”
Đất
Lành The Buddhist Review, số đầu năm 2001, tr 68 – tr 70
●Ngày31
tháng 10, 2009
Trong
hai tháng cuối năm 2000, ngoài những ngày tu tập Thiền quán
thường xuyên hàng tuần mỗi thứ năm và chủ nhật, Tu viện
Lộc Uyển đã tổ chức bốn sinh hoạt đặc biệt như sau:
●
Ngày
19 tháng 11 năm 2000, từ 9 am đến 3 pm. Lễ khai mạc
khóa An Cư Kiết Đông 3 tháng dành cho Tu sĩ và Cư sĩ (xin xem
bài tường thuật chi tiết trong số báo này)
●
Ngày
16 tháng 12 năm 2000, từ 10 am đến 3 pm: Ngày tuổi trẻ
- Các
em từ 5 đến 13 tuổi được qúy Sư cô Hà Nghiêm, Bích Nghiêm
và Thầy Pháp Sơn hướng dẫn các trò chơi và tập làm quen
với thiên nhiên Lộc Uyển.
- Các
em từ 14 đến 28 tuổi được vào Thiền đường nghe pháp
đàm dưới sự hướng dẫn của Sư cô Trung Nghiêm, và quý
Thầy Pháp Dụng, Pháp Dung.
- Đến
trưa, tất cả tham dự viên được hướng dẫn ăn cơm trong
chánh niệm. Phụ huynh các em cũng cùng được tham dự ngày
sinh hoạt
- Đối
với các em, đó là một ngày hạnh phúc khó quên và nếu được
phổ biến rộng rãi, chương trình dành cho tuổi trẻ sẽ được
hưởng ứng nhiều hơn trong tương lai.
- Đặc
biệt có khoảng 7, 8 em thuộc gia đình gốc Mễ ở vùng Vista
đến tham dự và rất hanh phúc khi được chuyện trò với
Thầy Pháp Sơn băng ngôn ngữ các em.
●
Ngày
24 tháng 12 năm 2000 từ 8 am đến 11 pm: Lễ
mừng Giáng Sinh
- Vào
lúc 8 giờ sáng tại Thiền đường Trăng Đầu Non, Tu viện
Lộc Uyển, đại chúng tham dự được nghe pháp thoại của
Sư Ông Nhất Hạnh từ Làng Mai, Pháp Quốc, chuyển qua hệ
thống điện thoại viễn liên
- Tiếp
đó là thiền hành đi từ xóm Vững Chãi về khu Rừng Sồivà
trở về dùng cơm tư do ngoài trời (picnic lunch)
- Buổi
trưa nghỉ ngơi để chuẩn bị chương trình văn nghệ và buổi
cơm tối. Đăc biệt bữa cơm tối đêm
lễ Giáng Sinh, các món ăn được
xem là rất thịnh soạn và được dọn sẵn từng bàn 10 người
sắp trên chiếu trải trên sân gạch của Trai Đường (đại
chúng không phải sắp hàng thường lệ). Lại còn cả bánh
Giáng Sinh làm theo hình cây thông (buche Noel) và một chiếc
bánh lớn hình chữ nhật có chữ Merry
Christmas rất đẹp. Những chiếc
bánh này đều do những bàn tay khéo léo của các Sư cô tạo
nên. Sau khi tuyên đọc “5 điều quán niệm”, bằng tiếng
Anh, tiếng Pháp, tiếng Mễ, và tiếng Việt, đại chúng giữ
chánh niệm trong lúc dùng cơm tối dưới ánh sáng ấm cúng
của những cây đèn cầy (light candle) sắp xếp rất đẹp
mắt ở mỗi bàn ăn. Có khoảng 100 thiền sinh tham dự buổi
lễ trong không khí thân thương an lạc.
- Chương
trình văn nghệ gồm nhiều bài hát, một vỡ kịch mừng Giáng
Sinh do quý Thầy và quý Sư cô Thường Nghiêm, Hà Nghiêm, Quang
Nghiêm, Trung Nghiêm, Thắng Nghiêm và thiền sinh Mỹ-Việt đồng
trình diễn xuất sắc. Hai cháu Hoàng Ánh và Chân TămFee Le)
song ca bài The Twelve Days of Christmas
thật dễ thương. Các Sư cô còn hướng dẫn đại
chúng cùng vui trong nhịp vũ tập thể.
- Tiếp
đó, Thầy Pháp Dụng nói về ý nghĩa chương trình Thiền Nến
(candle light proceccion) đại chúng sắp thực tập như là một
phần sinh hoạt trong ngày cuối năm. Thiền nến thắp sáng
chánh niệm trong mỗi cá nhân để bước vào một năm mới
sung mãn hơn và tinh tiến hơn trong việc tu tập giác ngộ.
- Đại
chúng đi trong im lặng từ Trai Phòng lên xóm Vững Chãi (Solidity
Hamler) và tập trung giữ sân đồi khuynh diệp. Trong ánh sáng
lung linh của những cây nến, đại chúng thiền hành chung quanh
đồi và tập trung ở giữa cùng đồng ca bản nhạc Silent
Night (Đêm Thánh Vô Cùng), lời
Pháp, lời Anh, và lời Việt.
Vũ
trụ và lòng người trong giờ phút mầu nhiệm đó như được
hòa nhập làm một để nuôi
dưỡng chánh niệm trong từng bước chân, trong từng hơi thở,
trong mỗi con người và mọi người.
Buổi
lễ chấm dứt lúc 10 giờ 30 trong hạnh phúc.
●
Ngày
31 tháng 12 năm 2000, từ 8 am đến 1 am: Mừng Tết Dương
Lịch 2001.
Từ
8 giờ sáng chủ nhật 31.12.2000, khoảng 100 thiền sinh Mỹ và
Việt đã có mặt tại Thiền đường Trăng Đầu Non để nghe
bài pháp thoại đầu năm của Sư ông Nhất Hạnh từ Làng
Mai Pháp quốc, chuyển qua hệ thống điện thoại viễn liên.
Đến
10 giờ, Sư cô Bích Nghiêm hướng dẫn thiền định thực tập
thiền hành và cùng đại chúng đi thiền hành từ xóm Vững
Chãi đến Pháp đường Rừng Sồi, nơi cách đây 4 tháng đại
chúng đã được nghe bài pháp thoại với đề tài Giòng Sinh
Mệnh của Sư ông Nhất Hanh trong thời gian khóa tu Thiền quán
năm 2000 tổ chức tại Đại Học UCSD.
Vào
buổi trưa, đại chúng được dùng một bữa cơm tự do ngoài
trời (picnic lunch) và sau đó nghỉ ngơi để chuẩn bị bữa
cơm tối.
Bữa
cơm tối cuối năm được tăng đoàn tổ chức rất công phu,
đặc biệt với món soup do Thầy Pháp Dung nấu, món cơm chiên
do Sư cô Thắng Nghiêm thực hiện. Đại chúng sắp hàng lấy
thức ăn rồi mang đến ngồi ăn chung từng nhóm người trên
những tọa cụ xếp sẵn thành vòng tròn dưới ánh sáng lung
linh của các cây nến trang trí rất mỹ thuật.
Một
không gian thanh tịnh, trang nghiêm, đầy thiền vị, đại chúng
dùng bữa trong chánh niệm, nhìn nhau miệng nở những nụ cười.
Tiếp
theo, Sư cô Trung Chính và Sư cô Từ Nghiêm hướng dẫn Thiền
Buông Thư, đại chúng được 45 phút thoải mái với đó đây
những tiếng ngáy nhẹ nhàng đều đặn của các thiền sinh
dễ ngủ.
Đề
mục “Thiền 5 lạy” cũng được hai Sư cô Trung Chính và
Từ Nghiêm hướng dẫn tiếp nối chương trình. Mỗi một cái
lạy đều được đọc và giải thích tường tận bằng tiếng
Việt và tiếng Anh. Đại chúng vô cùng xúc động khi được
tiếp xúc sâu sắc với Tâm Từ Bi rộng lớn của Đạo Phật
qua cái lạy thứ năm đưa năng lượng chánh niệm của lòng
bi mẫn đến cả những người làm mình khổ đau.
Bây
giờ cũng đã hơn 10 giờ, quý Thầy Pháp Dung và Pháp Sơn hướng
dẫn đại chúng thiền hành lên đồi Yên Tử, nơi được
dự trù sẽ thực hiện một tháp chuông có hình dáng kiến
trúc Chùa Thiên Trù ở Việt Nam
Dọc
trên đường thiền hành từ xóm Vững Chãi lên đỉnh đồi,
vừa được máy ủi cán lại bằng phẳng, một hàng đèn chiếu
sáng đã được Thầy Pháp Khâm thiết trí rất mỹ thuật,
soi sáng đường đi trong đêm đông cuối năm dưới ánh trăng
thượng tuần. Một tấm biển lớn với hai hàng đèn sắp
chữ Happy 2001 cũng được Thầy thiết trí theo bờ đá dựng,
làm tăng cảnh hùng vĩ của núi đồi Đại Ấn Sơn.
Khi
tất cả các thiền sinh lên đến đỉnh đồi1, dàn củi dựng
sẵn từ chiều được thắp lên, ánh sáng tỏa chiếu rực
rỡ trong tiếng đồng ca của đại chúng: Đã về đã tới,
bây giờ ở đây, vững chãi thảnh thơi, quay về nương tựa...I
have arrived, I am home, In the here, and in the now, I am solid, I am
free...Đây là Tịnh độ, Tịnh độ là đây, Mỉm cười chánh
niệm, an trú hôm nay. Bụt là lá chin, Pháp là mây bay, Tăng
thân khắp chốn, quê hương nơi nầy....No coming, no going, No
after, no before. I hold you close to me. I release you to be so free.
Because I am in you and you are in me...
Tiếng
sáo quen thuộc của một nữ thiền sinh Mỹ đế từ Santa Barbara
lay động không gian tĩnh lặng đưa mọi người tận hưởng
cái huyền diệu vô cùng của Đất Trời, và tình thần ái
của một tăng thân cùng chung Niềm
Tin và Hy Vọng.
Chờ
lửa tắt hết, đại chúng thiền hành trở về Thiền đường,
và thời khóa biểu thiền tọa bắt đầu.
Bây
giờ đã 11 giờ 39 phút tại Thiền đường Trăng Đầu Non.
Thầy Pháp Dụng nói bài pháp thoại ngắn, nhấn mạnh đến
21 phút còn lại của năm cũ và mong đại chúng thắp sáng
chánh niệm để bước vào một năm mới nhiều an lạc và
hạnh phúc
Đúng
12 giờ 5 phút, Sư cô Trung Chính dâng hương lễ Phật đầu
năm, đại chúng trang nghiêm đảnh lễ Đức Bổn Sư.
Tiếp
đến là lễ khấn Tổ Tiên đầu năm mới. Tất cả quý Thầy,
quý Sư cô và thiền sinh Việt và Mỹ đến bàn thờ Tổ thiết
trí chân dung Chúa Kytô, chân dung Sư
cô Thanh Quý và chân dung thân phụ, thân mẫu Sư ông Nhất
Hạnh. Sư
cô Thắng Nghiêm đọc lời khấn Tổ đầu năm bằng tiếng
Việt, Thầy Pháp Nguyên đọc bằng tiếng Anh và Thầy Pháp
Sơn đọc băng tiếng Mễ (xin xem toàn văn bản khấn Tổ đầu
năm). Tất cả kính cẩn đảnh lễ 4 lạy trước bàn
thờ Tổ.
●
Chương trình chấm dứt với mục “THIỀN
ÔM”
Thầy
Pháp Dụng giải thích ý nghĩa “THIỀN ÔM” bằng lời Việt,
thầy Pháp Dung tiếp lời bằng tiếng Anh, nhấn mạnh khi ôm
một người thương, thở vào thở ra ba hơi trong chánh niệm,
chúng ta cũng đồng thời ôm lấy tất cả những người thương,
và tất cả những người đã có gây đau khổ cho ta, hóa giải
tất cả khổ đau còn tồn tại và làm lớn mạnh tâm từ
bi trong ta.
Đại
chúng đã tìm thấy Niết Bàn Tịnh Độ ở dưới chân mình,
bên cạnh mình, trong không gian Thiền đường và lan tỏa khắp
nơi trong Tu Viện Lộc Uyển.
Những
tiếng Chúc Mừng Năm Mới, Happy New Year được trao đổi trong
Yêu Thương và Hòa Điệu.
●
Cũng xin ghi thêm ở đây, vào ngày 10 tháng 12 năm 2000, nhóm
thân hữu Lộc Uyển vùng San Diego với sự yểm trợ của nhóm
thân hữu vùng Santa Ana và Los Angeles đã tổ chức một Bữa
Cơm Chay Tình Thương gây quỹ cứu trợ đồng bao bị lụt
ở Việt Nam. Có khoảng 100 thân hữu tham dự với số thu,
sau khi trừ chi phí, là 5,800 MK, đã được chuyển giao cho Tu
Viện để tập trung gởi về Việt Nam cứu trợ thiên tai bão
lụt trong năm 2000..
Các
thức ăn đều do các chị trong ban tổ tình nguyện đóng góp,
đặc biệt nhà hàng Rofaria Pizza do anh chị Dũng làm chủ ở
đường Pomerado, Poway, đã yểm trợ 5 chiếc bánh Pizza chay
cỡ lớn.
Đất
Lành The Buddhist Review, số đầu năm 2001, tr 68 – tr 70