HỒ SƠ TU VIỆN BÁT NHÃ LÀNG MAI
08.
HỒI KẾT PHÁP MÔN LÀNG MAI TẠI VIỆT NAM
MUC LỤC
Hồi Kết Của Pháp Môn Làng Mai Tại Việt Nam - Phỏng vấn Thầy Thích Thanh Thắng
Bát Nhã Là Một Công Án Thiền - Thiền sư Nhất Hạnh
Tôi đọc “Bát Nhã là một Công án Thiền” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh - Trần Chung Ngọc
Cảm Nhận Từ Công án Thiền Bát Nhã - Tịnh Thái
Công án, hay không công án? - Hoàng Phi Long
Về Bài Viết “Công Án” Của Hoàng Phi Long - Trần Chung Ngọc
Nurturing Bodhicitta in Vietnam - An Interview with Sister Thoai Nghiem - By Janelle Combelic
Buddhism, Under Vietnam's Thumb Thich Nhat Hanh and the Unified Buddhist Church of Vietnam both want the state of religious repression to change. They have very different ideas of how to help
Thứ
ba, ngày 12 tháng một năm 2010
HỒI KẾT CỦA
PHÁP MÔN LÀNG MAI TẠI VIỆT NAM?
Trong
buổi gặp mặt đầu năm, thầy Thích Thanh Thắng đã dành
cho Sen Việt cuộc trò chuyện tiếp theo về vụ việc Bát Nhã,
sau khi toàn bộ tu sinh Làng Mai đã bị giải tán. Câu chuyện
vẫn là những suy nghĩ luôn luôn mới, gợi mở và nhiều trăn
trở…
Thưa
thầy, sau khi các tu sinh rời khỏi chùa Phước Huệ, phải
chăng sự việc tu viện Bát Nhã (Lâm Đồng) đã đi đến hồi
kết?
Vâng,
tôi theo dõi tin tức thì thấy nhiều nơi báo chí cũng đã
đưa tin về “hồi kết” của Pháp môn Làng Mai.
Cá
nhân thầy có nghĩ như vậy không?
Dĩ
nhiên, những người quán sát bên ngoài đều ít nhiều nhận
ra “hồi kết” của Pháp môn Làng Mai tại Việt Nam kể từ
khi ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó trưởng ban tôn giáo ra công văn
từ chối đơn đề nghị bảo lãnh tu sinh Làng Mai do Hoà thượng
Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự ký. Mặc
dù trước đó ông Xuân có nói trên báo chí, tự viện nào
muốn bảo lãnh tu sinh Làng Mai đến nơi tu tập mới thì phải
tiến hành theo trình tự thủ tục. “Hồi kết” này sẽ
là 5 năm, 10 năm, hay lâu hơn nữa thì không có gì đảm bảo.
Nói chung, nhà Phật không có cái nhìn “hồi kết”.
Người
Phật tử nào yêu quý Làng Mai thì cũng không có phải buồn
gì với hai từ “hồi kết” này. Trước khi Hoà thượng
Nhất Hạnh trở về Việt Nam năm 2005, chưa có cuộc đón rước
nào mà Chính phủ và Giáo hội tổ chức lại quy mô đến
như thế trên cả khắp ba miền Nam - Trung - Bắc. Lúc đó,
mọi người nghĩ rằng đây là “hồi mở đầu” rực rỡ
của Làng Mai tại Việt Nam, nhưng bây giờ, sự việc lại
bất ngờ trở thành “hồi kết”. Biến động xã hội khôn
lường, không riêng gì trong tôn giáo mà trong mọi lĩnh vực
cuộc sống, cái gọi là “hồi mở đầu” hay “hồi kết”
đều chỉ là giả tạm. Người Phật tử nhận thức cuộc
sống như vậy để hiểu rõ hơn về cảm thọ yêu ghét, vui
buồn của chính mình.
Thầy
có cảm thấy buồn khi sự việc tu viện Làng Mai diễn biến
theo chiều hướng như hiện nay không?
Tôi
nghĩ rằng, ngoài những “khúc mắc” nào đó của Thiền
sư Nhất Hạnh với Nhà nước, cụ thể với Ban tôn giáo Chính
phủ, những gì mà Tăng thân Làng Mai thể hiện trong mấy năm
hiện diện vừa qua ở Việt Nam đã đón nhận được nhiều
tình cảm của người Phật tử dù theo hay không theo Pháp môn
Làng Mai. Vì vậy, tôi tin sự việc diễn ra như hôm nay làm
cho nhiều Phật tử và cả những người trí thức có cảm
tình với Phật giáo cảm thấy buồn lòng. Nhưng nỗi buồn
lớn hơn cả là Giáo hội đã không thể hiện đúng vai trò,
trách nhiệm của mình. Có lẽ nào người Phật tử của thời
nay lại thiếu văn minh mà tranh giành, xô xát nhau vì lợi như
thế? Nếu sự việc xảy ra ở những tổ chức xã hội khác,
nhiều người đã phải hổ thẹn mà từ chức. Tôi nghĩ Giáo
hội tồn tại nhờ niềm tin, công sức của người Phật tử,
vì thế để xảy ra vu việc, Giáo hội nên công khai xin lỗi
người Phật tử trên báo chí. Đó cũng chính là văn hóa tự
chịu trách nhiệm mà con người trong mọi xã hội văn minh
đề cao.
Thầy
nhận xét gì về bốn vấn đề chính được nêu ra trong buổi
họp báo tại Hà Nội?
Cho
đến lúc không còn nhiều khả năng “đối thoại” như hiện
nay, tôi không nói thêm gì về bốn vấn đề chính này, bởi
rõ ràng đó là những điều mà Làng Mai đã từng phủ bác.
Nhưng tôi cho rằng cuộc họp báo đó nhẽ ra phải có đại
diện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham gia thì sẽ khách
quan hơn. Vì sao? Vì từ trước đến nay mọi thông tin đều
khẳng định đó là “mâu thuẫn nội bộ” trong Phật giáo,
cụ thể là giữa thầy Đức Nghi và Thiền sư Nhất Hạnh.
Nếu là “mâu thuẫn nội bộ” thì vai trò giải quyết và
tư cách phát ngôn của Giáo hội càng phải lớn hơn nữa.
Vì với “bốn vấn đề chính” đó, Giáo hội hoàn toàn
có đủ thẩm quyền để xử lý. Chẳng lẽ vấn đề “mâu
thuẫn nội bộ” của tôi mà anh lại phát ngôn và xử lý
thay tôi hay sao? Đó chính là “thế tay thợ đẽo”.
Thầy
có thể nói rõ hơn được không?
Đơn
giản thôi, bạn không thể vừa đá bóng vừa thổi còi phải
không nào? Vì khi bạn làm như vậy là bạn đã làm thay phần
việc vốn thuộc về người khác mà xã hội đã phân công.
Vì không phải công việc của mình, nên trong cuộc họp báo,
người nọ nói mâu thuẫn với người kia. Ông Phó chủ tịch
UBND tỉnh Lâm Đồng nói: “Đây là va chạm giữa các môn
phái tôn giáo và chưa có xô xát, xung đột gây thương tích
hoặc hủy hoại tài sản. Chưa có dấu hiệu hình sự nên
không xử lý hình sự. Chưa có bất kỳ điều tra tư pháp
nào liên quan đến sự việc xảy ra tại tu viện Bát Nhã”.
Điều này khác rất xa với hai bản tường trình và tố cáo
của Chư Tôn đức trong Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng,
khác với chính những thông tin trước đó từ phía nhà nước
khi thừa nhận có xô xát và đẩy về phía “mâu
thuẫn nội bộ”, không đúng với thực tế vụ việc, gây
cười cho những người tiếp nhận thông tin.
Khi
dư luận đã biết rõ vụ việc qua rất nhiều tư liệu, bằng
chứng, mà người gây ra tội không bị xử lý theo đúng pháp
luật, thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến những ứng xử xã
hội khác, dẫn đến tình trạng vô luật, bất công, đảo
lộn trắng đen.
Nội
dung buổi họp báo còn đề cập: “Để giải quyết mâu thuẫn
trên tại Tu viện Bát Nhã, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Thanh Sơn, trong chuyến thăm Pháp cuối tháng 9/2009, có đề
nghị gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh (đã được thông báo
trước một tháng) để bàn cách giải quyết vụ việc nhưng
Thiền sư từ chối không gặp, lấy lý do là đã có chương
trình sang Mỹ”. Điều đó, chứng tỏ nhà nước họ cũng
muốn đối thoại?
Khách
quan mà nói, dù hơi muộn so với những phản ứng từ Làng
Mai, nhưng đây là một động thái tích cực nhất của nhà
nước với Làng Mai sau những sự cố đáng tiếc đã diễn
ra tại tu viện Bát Nhã. Nếu họ hẹn gặp trùng vào ngày
thiền sư Nhất Hạnh sang Mỹ, tôi nghĩ lời từ chối của
thiền sư là bình thường. Nếu không có sự trùng hợp như
vậy, phải chăng thiền sư Nhất Hạnh đã có dụng ý nào
đó? Thực tế, thiền sư Nhất Hạnh cũng ít nhiều từng kiên
nhẫn kêu gọi chính quyền và Giáo hội đoái thương đến
những hạt giống lành của đất nước và xem họ như con
cháu mà thương tưởng đến, nhưng cũng không sớm có hồi
đáp, thậm chí khi giới trí thức cùng vào cuộc ký thỉnh
nguyện thư mà sự việc vẫn rơi vào vô vọng. Nhà nước
có quyền hiểu khác đi về sự từ chối thành ý này của
thiền sư Nhất Hạnh, còn chúng ta hoàn toàn chưa rõ nguyên
nhân vì sao thiền sư từ chối cuộc gặp đó.
Vậy
thầy có nghĩ rằng đó chính là nguyên nhân chính của “hồi
kết”?
Tôi
không nghĩ như vậy, vì đó chỉ là những nguyên nhân phát
sinh sau những gì đã xảy ra. Trong đối thoại không có “hồi
kết”, nếu các bên còn có thể lắng nghe nhau và biết đặt
lợi ích dân tộc cũng như lợi ích của mỗi bên vào bàn
đối thoại.
Cũng
có ý kiến cho rằng thiền sư Nhất Hạnh có những từ ngữ
kích động tu sinh?
Xin
lỗi, chúng ta nên sử dụng từ “kích động” này một cách
thận trọng. Thiền sư Nhất Hạnh là người Thầy, Thiền
sư phải bảo vệ đệ tử của mình khi bị xúc phạm nặng
nề như vậy. Một công dân Việt Nam bị đánh đập ở nước
ngoài, nhà nước cũng lên án hành động đó cơ mà. Lên án
không thể đồng nhất với kích động. Đó là quyền tự
vệ chính đáng. Nếu có thể “kích động” đệ tử của
mình bất bạo động một cách triệt để, thậm chí biết
tha thứ cho cả những người đánh đập và xỉ nhục mình,
thì người Phật tử chúng ta nên tự hào vì phương pháp giáo
dục đó. Bởi nếu thiền sư không thường xuyên “kích động”
đệ tử của mình “ngồi yên như núi”, nhẫn, cảm thông
và thương yêu thì sự việc sẽ còn diễn biến phức tạp
theo chiều hướng bạo động leo thang. Những lời lẽ nào
đó của thiền sư nếu có bị hiểu khác, hay suy diễn theo
góc nhìn chủ quan thì cũng là điều rất đỗi bình thường.
Trong cuộc sống, điều đáng sợ nhất là thái độ vô cảm
trước nỗi khổ đau, nguy nàn của người khác. Cuộc sống
còn có phản ứng thì còn nhìn ra được những vấn đề tích
cực hay tiêu cực mà điều chỉnh, nhưng khi đã vô cảm rồi
thì mạnh ai nấy sống. Một nhà nước văn minh thì công dân
của mình không phân biệt tôn giáo, thành phần đều phải
được che chở, không thể để tình trạng mạnh ai nấy sống
Thầy
nghĩ sao khi Thiền sư Nhất Hạnh nói Giáo hội đã không bảo
vệ được chính con em của mình?
Thiền
sư đặt đệ tử của mình vào vị trí con em của Giáo hội,
chứng tỏ thiền sư không xem mình như người khách “xa lạ”
ghé thăm. Nói thế không có nghĩa rằng thiền sư Nhất Hạnh
“ký thác” hết cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nhưng vì
sao thiền sư không nhận được sự nhiệt tình yểm trợ của
Giáo hội? Đơn giản thôi vì người ta hiểu rõ Làng Mai bị
“đánh” từ “nguồn lực” nào, nhất là khi khoảng cách
trong “hội nhập” và cách thức vận dụng phương tiện
chưa uyển chuyển “tuỳ xứ”, “tuỳ thời” của Làng
Mai trước đó.
Chẳng
nhẽ Phật giáo cũng rơi vào cảnh “khi vui thì vỗ tay vào,
đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”?
Thấy
rõ chứ! Thấy người bảo vệ cái ghế của mình, chỉ là
không thấy được người mà mình phải có trách nhiệm bảo
vệ mà thôi. 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, nay còn cái gì
là thuần tuý và chân phương nhất? Đó không phải hình bóng
của người tu sĩ với cái đầu tròn áo vuông thì là gì.
Nhưng chúng ta đã thấy di sản sống động nhất ấy của
1.000 năm văn hiến đã bị đánh đập và nhục mạ giữa thanh
thiên bạch nhật, giữa công luận. Vậy thử hỏi tinh thần
sáng ngời của các vị quốc sư, cư sĩ của Phật giáo Việt
Nam đâu rồi? Những ngôn quan, gián quan của lịch sử dân
tộc đâu rồi?
Xin
lưu ý, Giáo hội đang vận hành hoàn toàn với cơ chế “xin
- cho”, phấn đấu lấy “thành tích” để vững cái ghế
của mình, nên không ít người đưa ra lý do này lý do kia bằng
cách im lặng để “bảo toàn lực lượng”. Có thể nói,
đạo tình là điều mà người Phật tử chúng ta hiện nay
còn thiếu. Nếu có đạo tình thì sự việc tu viện Bát Nhã
đã có thể hàn gắn được trước bất cứ mâu thuẫn nào.
Bởi vốn dĩ người Phật tử chúng ta không bao giờ cho phép
mình móng tâm sự xung đột. Để Làng Mai xảy ra mâu thuẫn
ngày càng khó hàn gắn với nhà nước đó là cái tội của
những người đang nắm giữ trọng trách Giáo hội. Bởi cả
hình ảnh của nhà nước và của giáo hội đều bị tổn
hại, đáng lo ngại hơn là đánh mất rất nhiều niềm tin
yêu của người Phật tử.
Có
dư luận cho rằng, vụ việc tu viện Bát Nhã là “pháp nạn
Phật giáo Việt Nam”, thầy có nghĩ như vậy không?
Sau
Đức Phật nhập Niết bàn 1000 năm là thời Mạt pháp, sẽ
sinh ra nhiều tệ đoan rối ren. Quan điểm này vẫn tồn tại
trong Phật giáo cho đến ngày nay. Ở vụ việc tu viện Bát
Nhã, từ dùng “pháp nạn” có thể bị suy diễn theo những
chiều hướng chính trị khác nhau. Thực chất, ngay từ thời
Đức Phật còn tại thế, Tăng đoàn cũng từng xảy ra những
vấn đề chia rẽ và gặp những pháp nạn lớn. Điều này
cần có cái nhìn lịch sử khách quan.
Đạo
Phật muốn làm hộ pháp thực sự cho dân tộc, cho đất nước
thì đó phải là một đạo Phật mạnh về nội lực tu hành
và vững trong bản lĩnh nhập thế, vì từ trong truyền thống
của tinh thần Hộ quốc an dân, đạo Phật Việt Nam thể hiện
rất rõ điều đó và chưa từng làm bất cứ điều gì có
lỗi với dân tộc.
Đạo
Phật Việt Nam là đạo Phật nhập thế, vậy mà tiếng nói
Giáo hội không có năng lực thuyết phục, không bảo vệ được
hình ảnh tôn nghiêm của chính mình, thì không cần dùng đến
từ “pháp nạn”, những bất ổn lớn rõ ràng là đang hiện
diện. Xin chúng ta đừng tiếp tục hiểu sai về từ “làm
chính trị” mà mắc tội miệt thị tiền nhân. Các thiền
sư của chúng ta đã từng “làm chính trị” đúng nghĩa trước
nhiều vấn đề quân quốc quan trọng của đất nước. Tại
sao làm văn hoá, tôn giáo cho tốt để nâng cấp đời sống
tinh thần cho mọi người lại không phải là “làm chính trị”
cho dân tộc?
Tôi
nghĩ, với vụ việc Bát Nhã, khi Ban Trị sự Phật giáo Lâm
Đồng viết bản tường trình, tố cáo những “phật tử”
hành hung, nhục mạ hàng Giáo phẩm, tu sinh Làng Mai ở Tu viện
Bát Nhã và chùa Phước Huệ, Giáo hội nhẽ ra phải tiến
hành một cuộc họp bất thường, triệu tập các vị trưởng
lão của cả hai hội đồng (Hội đồng Chứng minh và Hội
đồng Trị sự) để tìm cách tháo gỡ, hàn gắn mọi mâu
thuẫn và đề nghị xử lý theo pháp luật đối với những
phần tử quá khích, nhưng đáng tiếc điều đó đã không
diễn ra. Một đốm lửa nhỏ không lo đề phòng, để đến
khi cháy cả khu rừng rồi mới lo chữa lửa thì nhọc công
và vô tích sự.
“Hồi
kết” của Làng Mai tại Việt Nam có phải là một thách thức
cho đường hướng hoạt động của các tông phái Phật giáo?
Bất
cứ tổ chức xã hội nào cũng có những cơ hội và thách
thức, không riêng gì các tông phái Phật giáo. Vấn đề Làng
Mai là một bài học thấm thía cho không chỉ riêng ai. Như
tôi từng nói, thực trạng Phật giáo Việt Nam thà bộc lộ
sớm, hơn bộc lộ muộn. Vì sao tôi nói “sớm”, vì nó bộc
lộ ngay lúc mà người ta đang ồn ào về hình thức huy hoàng
của chính nó, điều này sẽ cho ra những hình ảnh chân thực
hơn, để người Phật tử hiểu rõ bài học “con trùng trong
người con sư tử mới giết chết con sử tử” hay mối nguy
“xây lâu đài trên cát”.
Với
cái nhìn biện chứng về “hoạ phúc” của tư tưởng phương
Đông, người Phật tử chắc chắn sẽ có cơ hội nhận thức
nhiều hơn về vụ việc Làng Mai. Pháp môn Làng Mai nếu không
hiện diện ở trong nước thì vốn dĩ theo đà phát triển
và hội nhập quốc tế của nó, mô hình Làng Mai có thể vẫn
thành công ở nhiều nơi trên thế giới. Nhưng “hồi kết”
Làng Mai đã làm bộc lộ một khoảng trống chưa thể lấp
đầy của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về tinh thần đoàn
kết, tập trung trí tuệ.
Dù
tạm thời không còn Pháp môn Làng Mai ở trong nước nữa thì
Thiền sư Nhất Hạnh vẫn có thể coi như mình chưa từng có
chuyến trở về Việt Nam. Vấn đề là các thế hệ đi sau
của Làng Mai có “truyền thông” được với trong nước
không, hay sau vụ việc này họ càng đi sâu vào định kiến?
Mặt khác, Giáo hội Phật giáo Việt Nam lại đang rất cần
một hình ảnh khác để thể hiện ở bên ngoài. Cơ hội điều
chỉnh ở ngay trước mặt, nếu biết nắm lấy nó thì không
có mâu thuẫn nào là không thể giải quyết. Người nhà với
nhau mà không thể bao dung, thương yêu được nhau thì đó là
một nỗi bất hạnh lớn.
Cảm
ơn vụ việc Bát Nhã bởi nó đã kéo một Giáo hội đang lơ
lửng ở trên mây xuống mặt đất với đầy những hiện
thực ngổn ngang, đó cũng là gián tiếp mở ra sinh lộ cho
đạo Phật Việt Nam. Nỗi lo nhất hiện nay là sau vụ việc
Bát Nhã, Giáo hội sẽ có những bước điều chỉnh tích cực
như thế nào để lấy lại niềm tin của người Phật tử
và giới trí thức mà thôi.
Thầy
nghĩ gì về tương lai của pháp môn Làng Mai tại Việt Nam?
Ai
cũng nhận ra ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó trưởng ban Tôn giáo
mâu thuẫn trong những phát biểu của mình về việc bảo lãnh
tu sinh, nhưng trong cuộc họp báo quốc tế vừa qua tại Hà
Nội, ông vẫn còn đủ "tự tin" để nói: “Trước hết,
chính quyền địa phương đã kêu gọi, trên tinh thần lục
hòa, để các tăng, phật tử của Tu viện Bát Nhã và những
người theo pháp môn Làng Mai đối thoại và hòa giải mâu
thuẫn”.
Có
thể đối thoại và hoà giải mâu thuẫn được hay không,
điều này nằm ở nhận thức của mỗi bên: Giáo hội, Thiền
sư Nhất Hạnh và Ban Tôn giáo Chính phủ. Nếu Làng Mai được
xem là đối tác dài hạn để mở rộng “sức mạnh mềm”
của người Việt ở phương Tây thì vấn đề “hoà giải
mâu thuẫn” chắc chắn sẽ không khó khăn gì. Lá rụng về
cội đó là niềm tin bao đời của người Việt. Vận dụng
sức mạnh nội lực của người Việt trên nhiều lĩnh vực
thì cần phải có trí tuệ, có tinh thần đoàn kết và lòng
bao dung. Không có kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích dân
tộc lâu dài và bền vững. Đó là chính sách đúng đắn của
ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân.
Tôi
nghĩ, năm 2010 là năm kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội,
năm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo Thế giới,
một lời mời thiền sư và tăng thân Làng Mai về dự lễ
sẽ nói lên được tinh thần khoan dung và đoàn kết của 1.000
năm Thăng Long - Hà Nội, xoá đi những mặc cảm, định
kiến. Đó không chỉ là bản lĩnh cầm quyền của nhà nước
mà còn là tinh thần mà người Việt từ nghìn đời nay vẫn
hướng tới vì lợi ích lâu dài cho dân tộc Việt Nam.
Đó
là lý do tôi nói không có “hồi kết” nào là vĩnh viễn.
Xin
chân thành cảm ơn thầy đã dành cho Sen Việt cuộc trò chuyện
ý nghĩa này!
http://huongsenviet.blogspot.com/BÁT
NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN
Đừng
đi tìm cái anh muốn thấy. Việc làm đó vô ích.
Không
đi tìm, nhưng cho phép cái thấy tự đến, cái thấy ấy sẽ
giải
phóng được cho anh.
-
nhất hạnh-
Bát Nhã
đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Tăng thân Bát Nhã
đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính
quyền, là Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập
niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. Công án là một vấn
nạn cần phải giải quyết bằng niệm, định và tuệ chứ
không thể chỉ bằng trí năng của ta. Nếu chưa giải quyết
được thì mình chưa có hướng đi, chưa có an lạc và hạnh
phúc. Công án này có thể được tham cứu chung, nhưng cũng
có thể được tham cứu riêng. Công án là một mũi tên cắm
vào thân thể ta, chưa rút được mũi tên ra thì chưa có an
lạc. Mũi tên này không phải từ bên ngoài bay tới. Nó không
phải là một tai nạn mà là một cơ hội để ta quán chiếu
và vượt thoát được những băn khoăn trăn trở của ta lâu
nay về ý nghĩa cuộc đời, về tương lai đất nước, về
hạnh phúc chân thật của ta.
Vua
Trần Thái Tông ngày xưa đã từng tu Thiền, đã từng tham
khảo công án và vua cũng đã đưa ra bốn mươi công án Thiền
với các bài Niêm, Tụng và Kệ để mời các bạn tu cùng
tham khảo tại chùa Chân Giáo. Những công án này còn được
ghi lại trong sách Khóa Hư Lục do vua sáng tác. Tuệ Trung Thượng
Sĩ Trần Tung, anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo, cũng đã
từng tham khảo công án, và cũng đã đề ra mười ba công
án, những công án này cũng còn được ghi lại trong sách Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục.
Sách
Bích Nham Lục do thiền sư Viên Ngộ biên soạn vào thế kỷ
mười hai có cả thảy 100 công án thiền với những lời Thùy
thị, Bình xướng và Trước ngữ, là một tác phẩm cổ điển
được sử dụng trong nhiều trăm năm ở chốn thiền môn.
Trong
số các công án phổ thông nhất có các công án “Cây tùng
trước sân”, “Cái tất cả đi về cái một, cái một đi
về đâu?”, “Con chó có Phật tính không?” và “Ai đang
niệm Phật?”. Công án hào hùng nhất mà Tuệ Trung Thượng
Sĩ đưa ra là “ Tất cả đều vô thường, đều là pháp
sinh diệt. Cái gì sinh diệt?”
Công
án không thể được giải quyết bằng lý luận, bằng biện
chứng pháp, dù là biện chứng pháp duy tâm hay duy vật, mà
phải được giải quyết bằng niệm lực và định lực, nghĩa
là bằng năng lượng của chánh niệm và chánh định. Giải
được công án thì ta thấy khỏe, không còn lo sợ thắc mắc
gì nữa, là thấy được con đường đi, là đạt được sự
an tâm.
Nếu
nghĩ rằng con chó có Phật tính hay không là một vấn đề
của riêng con chó, hoặc nghĩ đó là một vấn đề triết
học cần phải giải quyết, thì đó chưa phải là một công
án. Nếu nghĩ rằng cái một đi về đâu là một vấn đề
chỉ liên hệ tới sự vận hành của thế giới khách quan
bên ngoài thì đó cũng không phải là một công án. Nếu nghĩ
rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn,
đang cần một giải pháp “hợp tình hợp lý” thì đó cũng
không phải là một công án. Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhã
là vấn đề chính của bản thân ta, nó có liên hệ trực
tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta và
tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải
quyết được công án Bát Nhã thì ta còn ngủ không yên, ăn
không yên, làm việc không yên, thì lúc ấy Bát Nhã mới thực
sự là một công án. Niệm có nghĩa là nhớ tưởng, là
canh cánh bên lòng, là nâng công án lên từng giây từng phút
trong đời sống hàng ngày của mình để quán chiếu, không
phút giây nào xao lãng. Niệm phải liên tục không được gián
đoạn. Khi ăn cơm, khi mặc áo, khi tiểu tiện hoặc đại tiện,
khi uống trà, khi tắm gội, hành giả phải đưa công án lên
để mà quán chiếu. Công án có khi còn gọi là thoại đầu.
Phật là ai mà ta phải niệm, và người đang niệm Phật, người
ấy là ai? Ta là ai? Phải tìm cho ra. Chưa tìm ra là chưa vỡ
vạc, chưa chứng ngộ, chưa thông suốt.
***
Những
vị xuất gia trong Tăng thân Bát Nhã chắc hẳn là những người
có cơ hội nâng công án Bát Nhã lên cứu xét nhiều nhất
trong đời sống hàng ngày. Ngày nào họ cũng ngồi thiền nhiều
lần, đi thiền hành nhiều lần, và trong khi nấu cơm, giặt
áo, lặt rau, quét tước, v.v., lúc nào họ cũng có cơ hội
tham cứu về công án Bát Nhã. Họ có niệm và họ có định
dễ dàng hơn, vì đó là vấn đề sống chết, vấn đề lý
tưởng, vấn đề tương lai của họ. Và có người đã
quán chiếu thành công, vì vậy ở trong một tình trạng bị
đàn áp và khủng bố thường xuyên như thế mà có những
người trong số họ vẫn cười dòn được, vẫn tươi như
hoa, vẫn chế tác được bình an và tình thương, vẫn không
bị lo lắng sợ hãi và hận thù lôi kéo; trong khi đó thì
những vị khác còn mang nặng chấn thương và những thống
khổ gây nên trong những ngày Bát Nhã và Phước Huệ bị đánh
phá. Một sư cô đã làm được bài kiến giải để trình
lên thầy của mình. Cô viết: “Bát Nhã ngày xưa, nay đã
thành mưa, rơi xuống mặt đất, nẩy hạt Bồ đề.”
Sư cô này chỉ khoảng 18 tuổi, và mới tu chưa đầy hai năm,
nhưng đã quán chiếu thành công.
Tại
sao mình chỉ muốn tu thôi mà người ta không cho mình tu? Tại
sao các bậc tôn túc muốn che chở bảo lãnh cho mình tu mà
nhà nước lại không cho bảo lãnh? Mình có biết chính trị
là cái gì đâu và chẳng tha thiết gì tới chuyện chính trị,
tại sao người ta cứ nói là mình làm chính trị và tại sao
cứ nói Bát Nhã là một mối đe dọa cho an ninh quốc gia? Tại
sao phải giải tán cho được Bát Nhã dù phải áp dụng những
biện pháp như thuê côn đồ, vu khống, lừa gạt, đánh đập,
đe dọa? Tại sao họ là những người đáng bậc cha chú mình
mà họ nỡ làm như thế đối với mình? Nếu nhà nước không
cho mình tu chung như một Tăng thân nữa mà bắt mình phải
mỗi người đi một ngả thì làm sao trong tương lai mình có
thể có lại một Tăng thân? Tại sao ở các nước khác người
ta có tự do để thực tập pháp môn, còn ở đây thì không?
Những câu hỏi như thế dồn dập đi tới. Ngồi thiền, đi
thiền hành, nghe pháp thoại, thực tập chánh niệm trong khi
nấu cơm, làm vườn, chấp tác, người hành giả nuôi niệm
lực và định lực. Niệm và định lực ấy như sức nóng
của lửa làm tan rã tất cả những dấu hỏi, những vấn
nạn. Bát Nhã ngày xưa là hạnh phúc. Mình đã được sống
rất thật với chính mình, với cách sống mà mình muốn sống.
Mình có thể nói ra những cảm nghĩ của mình cho các anh chị
em đồng tu mà không e ngại sợ sệt. Mình đã tìm ra được
tình huynh đệ. Mình có cơ hội đem tuổi trẻ của mình để
giúp đời. Đó là hạnh phúc lớn nhất. Bát Nhã trong những
ngày qua cũng đã từng là một cơn ác mộng, nhưng ta đã có
cơ duyên tìm thấy ta rồi, ta đã tìm được con đường rồi,
thì dù có Bát Nhã hay không có Bát Nhã ta vẫn không cần lo
sợ. Bát Nhã đã trở thành một cơn mưa, đã mưa xuống làm
cho hạt giống kim cương nẩy mầm trong ta. Ngày mai dù không
có Bát Nhã, dù bị đuổi ra khỏi Phước Huệ, nhưng hạt
giống Bồ đề trong ta vẫn không bao giờ mất. Thầy đã dạy
mỗi đứa con thầy phải trở thành một Bát Nhã, một Phương
Bối. Mình là sự tiếp nối của thầy, chắc chắn mình sẽ
tạo dựng được trong tương lai những Bát Nhã mới, những
Phương Bối mới. Đã có hạt giống rồi, đã có đường
đi rồi, mình không còn lo sợ cho tương lai, tương lai của
mình và của đất nước. Những người cấm cản mình tu học
hôm nay, ngày mai mình sẽ có cơ hội độ cho họ. Họ chưa
có cái thấy bây giờ, nhưng sau này họ sẽ có cái thấy ấy.
Một số trong những người đã từng đàn áp, đã từng làm
khổ mình, bây giờ cũng đã hé thấy được sự thật rồi.
Thành kiến và tri giác sai lầm như bức tường Bá Linh đang
rã ra từ từ và sẽ sụp đổ. Mình không lo ngại, không tuyệt
vọng. Mình có thể cười vang như nắng sớm.
***
Mình
là một vị đại úy công an. Ban đầu mình tin rằng nếu cấp
trên đã có chính sách giải tán Bát Nhã thì chắc chắn là
chủ trương này phù hợp với nhu cầu an ninh của đất nước.
Mình có niềm tin nơi lãnh đạo. Nhưng trong quá trình thực
hiện chính sách, mình đã khám phá ra nhiều việc đau lòng.
Bát Nhã đã trở thành công án của đời mình. Mình mất ăn,
mất ngủ. Giữa đêm mình thức dậy. Mình tự hỏi nhóm người
này đã làm gì để mình phải nhìn họ như là những phần
tử phản động, có hại cho an ninh. Họ có vẻ rất bình an;
chính mình mới không có đủ bình an trong lòng. Không có bình
an trong lòng, mình làm sao giữ gìn và thiết lập được sự
bình an trong xã hội? Trên phương diện luật pháp, họ không
có tội tình gì cả. Sự thực là mình đã đứng về phía
những người muốn chiếm hữu tài sản của họ, buộc họ
phải rời nơi mà họ đã cư trú trong nhiều năm, nơi mà cơ
sở đã do chính họ góp phần tạo dựng. Mình đã làm đủ
mọi cách để cho họ đi, nhưng họ đã nhất định không
chịu đi. Họ có vẻ thương yêu nhau, đoàn kết với nhau.
Họ sống một đời sống lành mạnh. Tuy họ trẻ tuổi, nhưng
không ai rơi vào vòng ma túy, hút xách, đĩ điếm. Họ sống
đơn giản, ăn chay, ngồi thiền, nghe kinh, pháp đàm, hoàn toàn
bất bạo động. Họ không có vẻ gì là nguy hiểm. Họ không
hề có một lời nói hoặc hành động nào chống báng nhà
nước. Mình không thể nói là họ phản động, là họ làm
chính trị được. Vậy mà cuối cùng mình phải nói họ là
phản động, là làm chính trị. Mình đã tìm mọi cách để
cho họ bỏ đi: dụ dỗ, dọa nạt, cúp điện nước, kiểm
soát hộ khẩu mỗi ngày, và trong suốt nhiều tháng lúc nào
cũng tới chùa vào ban đêm để sách nhiễu họ, để họ nản
lòng. Họ đã không trách móc, họ lại còn mời mình ngồi
lại, hát cho mình nghe và đòi chụp ảnh với mình nữa. Cuối
cùng mình phải thuê côn đồ tới để phá phách, để đánh
đập, để buộc họ ra đi. Và mình cũng phải mặc thường
phục đến để chỉ huy, để chỉ cho người mình thuê biết
ai là những người dẫn đầu để mà thanh toán. Họ không
chống trả. Vũ khí của họ chỉ là niệm Phật, ngồi thiền,
và nắm lấy tay nhau, để mình không thể gỡ họ ra từng
người mà tống lên xe được. Có cả một vị thiếu tướng
từ trung ương vào để chỉ huy trận đánh. Tại sao phải
huy động một lực lượng hùng hậu như thế, từ trung ương
đến địa phương, để đánh dẹp một nhóm người tay không
hiền lành như thế? Tại sao hơn một năm trời mà không dẹp
được họ? Họ có gì để phải bám víu vào cái chùa này?
Chỉ có ngày hai bữa cơm chay, chỉ có ngày ba buổi ngồi thiền,
một buổi pháp thoại, một buổi thiền hành? Tại sao đông
như thế, trẻ như thế mà họ sống chung với nhau an lành
được như thế? Trong bọn họ có những đứa tốt nghiệp
đại học, con của cán bộ cấp cao, có việc làm, có lương
cao, nhưng đã bỏ tất cả để đến sống đời đạm bạc
tu hành. Phải có một cái gì hay ho lắm mới hấp dẫn được
họ như thế chứ? Đâu có thể nói là chỉ vì họ nghe lời
đường mật của một người nào đó sống ở nước ngoài,
để chống lại nhà nước ta? Bởi vì lệnh trên đã đưa
ra, mình phải thừa hành thôi, nhưng mình rất hổ thẹn với
lương tâm mình. Trước kia, mình đã nghĩ là những thủ đoạn
ấy chỉ để sử dụng tạm thời vì nước vì dân, vì sự
nghiệp đại đoàn kết. Nhưng bây giờ mình đã thấy những
thủ đoạn ấy là gian trá, là thấp hèn, là trái với lương
tâm con người. Mình bắt buộc phải giữ những cảm nghĩ
này cho riêng mình. Mình không dám nói cảm nghĩ ấy ra dù với
những người trong cùng đơn vị, huống hồ là nói với cấp
trên. Mình đi tới cũng không được, mà tìm cách thoát khỏi
guồng máy cũng không xong. Phải làm thế nào đây để mình
có thể sống thật được với chính mình?
***
Mình
thuộc hàng giáo phẩm của Giáo Hội. Bát Nhã đã trở thành
một trăn trở lớn. Những người tu trẻ ấy, mình biết
là họ có tu thật. Ai đã từng thăm viếng và tiếp xúc với
họ đều thấy như thế. Nhưng tại sao mình bất lực không
che chở được cho họ? Tại sao mình phải sống và hành xử
như một nhân viên của chính quyền? Tách rời chính trị khỏi
tôn giáo, giấc mơ này đến bao giờ mới thực hiện được?
Trong thời Thực dân, trong thời ông Diệm và ông Thiệu, tuy
hành đạo có khó khăn thật đấy, nhưng người tu cũng không
bị kiểm soát gắt gao quá đáng như trong hiện tại. Người
ta chỉ muốn có một đạo Phật của tín mộ, của thờ cúng,
người ta không muốn có một đạo Phật có khả năng lãnh
đạo tinh thần và văn hóa đạo đức cho quốc dân. Một đạo
Phật thật sự có uy quyền lãnh đạo tinh thần, người ta
rất sợ. Người ta chỉ chấp nhận được một tổ chức
Giáo Hội mà người ta có thể kiểm soát được, sai sử được.
Ngày xưa đức Thế Tôn cũng đã không chịu khuất phục trước
bạo quyền, kể cả bạo quyền của vua A Xà Thế. Trong thời
Pháp thuộc, trong thời ông Diệm, ông Kỳ và ông Thiệu, các
bậc cha anh của mình cũng đã tranh đấu. Tại sao bây giờ
mình không tiếp nối được công hạnh ấy, tại sao mình phải
chấp nhận vai trò làm công cụ cho một đường lối chính
trị không muốn cho phép mình vươn dậy trên con đường lý
tưởng, thực hiện hoài bão cao cả của bồ đề tâm?
Ban
đầu mình nghĩ rằng bó thân theo nhà nước thì còn có cơ
hội làm được một ít “Phật sự”, còn nếu chống nhà
nước thì hoàn toàn là sẽ không làm được gì, do đó mình
đã phải ẩn nhẫn chịu đựng mọi chê trách của các bạn
đồng liêu để đi vào guồng máy. Nhưng sau đó mình lại
thấy rất rõ ràng rằng chính nhờ các vị ở ngoài Giáo Hội
có can đảm nói lên tiếng nói phản kháng cho nên người ta
mới để cho mình làm được một ít công việc Phật sự.
Mình sẽ trả lời như thế nào với lịch sử? Ý nguyện của
mình là vực dậy một nền Phật giáo sinh động có công năng
phục vụ dân tộc và đất nước, không phải là chiếm giữ
một chức vụ trong guồng máy kiểm soát Phật tử.
Vị
thượng tọa kia bị áp lực không cho phép được tiếp tục
bảo lãnh cho các tăng sinh tiếp tục tu học tại chùa, không
đủ sức kháng cự, phải buộc lòng phản thầy, phản bạn,
đi ngược lại lời nguyền và sự cam kết long trọng của
mình cách đây chỉ có mấy năm. Tội nghiệp cho vị ấy. Nhưng
vị ấy là ai? Vị ấy có mặt ngoài mình hay có mặt ngay trong
tự thân mình ? Mình cũng đang bị áp lực, không dám nói và
làm những gì mình nghĩ để có thể bảo hộ cho con em của
chính mình. Có phải hoài bão sâu sắc của mình là “Tiếp
dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”? Vậy mà vì cớ gì mình
đành phải bất lực nhìn các học tăng, học ni con em của
mình bị đàn áp, nhục mạ và chà đạp? Mình sẽ nhìn con
cháu mình bằng mặt mũi nào? Chân diện mục của mình là
gì? Mình là ai?
Mình
là huynh đệ với nhau, cùng là đệ tử của đức Thế Tôn,
nhưng có phải vì công phu thực tập xây dựng tình huynh đệ
của mình chưa đủ vững chắc, cho nên mình mới bị người
ta chia rẽ và kết quả là mình đã giận hờn nhau, trách móc
nhau? Theo nguyên lý thị hiện của Phật dạy thì đáng lý
dù theo Giáo Hội này hay Giáo Hội kia, mình cũng vẫn là anh
em của nhau, bên nào làm việc bên ấy mà không cần phải
chống đối nhau và xem nhau như thù nghịch. Đó phải chăng
là vì sự thực tập của mình còn yếu kém? Đó phải chăng
là vì đạo lực của mình chưa đủ cao cường? Nhưng mình
đã học được bài học: nếu ngay tự bây giờ mình biết
nhìn nhận nhau, hòa giải với nhau thì mình vẫn có thể vực
dậy tình huynh đệ ngày xưa, gây niềm tin cho quốc dân và
làm gương cho bốn chúng. Dù có trễ nhưng vẫn còn kịp thời.
Chỉ cần một giây phút giác ngộ là tình trạng đạo pháp
sẽ thay đổi. Hình như Bát Nhã ngày nay đã học được bài
học ấy: những vị xuất gia tu học ở đây, số lượng có
cả đến 400 vị, nhưng khi bị đánh đuổi họ đã không bao
giờ tỏ vẻ thù hận vị thượng tọa đã từng cưu mang họ
trong bao nhiêu năm. Họ biết rằng vị thượng tọa ấy vì
chịu áp lực rất nặng nên đã bị bắt buộc phải mời
họ ra khỏi chùa. Mình bị dồn vào phía phải phản bội huynh
đệ mình, đó là vì pháp lực của mình chưa tới mức cao
cường. Mình phải quyết tâm hạ thủ công phu thế nào để
đạt cho được mức đạo lực ấy? Có hiểu mới có thương.
Mà đã thương thì sẽ không còn xem nhau như là thù nghịch.
Xem nhau như là thù nghịch tức là còn làm nạn nhân cho những
âm mưu chia rẽ.
Người
Phật tử Việt Nam, từ hai ngàn năm nay, thời nào cũng thuần
kính tôn ngưỡng Tam Bảo, một lòng quy ngưỡng Phật, Pháp
và Tăng. Vậy mà bây giờ có những nhóm người được thuê
mướn, mang guốc dép đi vào Phật điện giăng biểu ngữ,
chửi bới, ném phân thối vào chư vị tôn túc, đập phá chùa,
hành hung, đánh đuổi các thầy và các sư cô ra khỏi chùa.
Các viên chức chính quyền đã thuê mướn họ, nói họ là
Phật tử. Đó là một hành động vu cáo Phật giáo, bôi bẩn
lịch sử. Hành động này làm cho mình muốn nôn mửa, nhưng
tại sao mình không dám nói lên ? Giáo hội Phật giáo có khả
năng minh oan cho người Phật tử khi người Phật tử bị bôi
xấu và bị vu oan giá họa không ?
Bát
Nhã không phải là một vấn đề mà ban Thường Trực Giáo
Hội phải giải quyết cho xong. Bát Nhã là một công án, một
vấn nạn của đời mình. Mình sẽ phải giải quyết như thế
nào để đừng hổ thẹn với chư vị tổ sư, với những
bậc tiền bối? Tại sao mình không nói được cảm nghĩ chân
thành của mình với các vị đồng liêu trong guồng máy Giáo
Hội? Tại sao mình không được phép thực tập phép Kiến
hòa đồng giải, mà phải che dấu tư tưởng và cảm nghĩ
của mình?
(http://www.langmai.org/thu-vien/tac-pham/1404)
TÔI
ĐỌC “BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN”
CỦA THIỀN
SƯ THÍCH NHẤT HẠNH
Trần
Chung Ngọc
“Công
án” (Koan, 公案, gōng-àn, gong'an) là một thuật ngữ Phật
giáo để chỉ một công cụ tham chiếu của một loại hình
tu chứng trong Thiền Phật giáo để đi từ bờ mê, trong thoáng
chốc hay suốt cả đời, đến bến giác. Ý nghĩa của công
án không thể hiểu được bằng tư duy thuần lý, mà chỉ
có thể đạt được bằng trực giác (the meaning of which cannot
be understood by rational thinking, yet it may be accessible by intuition).
Gần
đây, thuật ngữ đó được Thiền sư Nhất Hạnh đặt thành
tựa đề của một bài viết làm một số bạn đọc, nhất
là bạn đọc Phật tử, thắc mắc. Chúng tôi xin đăng bài
viết dưới đây của tác giả Trần Chung Ngọc, một thân
hữu Phật tử, như một đóng góp phản hồi.
Vài
Lời Nói Đầu: Bài viết này thuộc loại không nên
viết nhưng lại không thể không viết. “Không nên viết”
vì tôi là một Phật tử, và “không thể không viết” cũng
vì tôi là một Phật tử. Là một cư sĩ còn lăn lộn
trong vòng thị phi thế tục mà viết bài nhận định về “Công
án” của một Thiền sư đã thoát tục, vang danh khắp thế
giới như Thiền sư Nhất Hạnh, thì thật quả là “không
nên viết”. Nhưng trong lãnh vực học thuật trí thức,
tôi lại không thể không viết, vì đọc suốt bài “Bát
Nhã Là Một Công Án Thiền” của Thiền sư Nhất Hạnh,
tôi vẫn không hiểu thế nào là “công án Bát Nhã”, so với
cái hiểu trước của tôi về thế nào là một “công án”,
vì vậy cho nên không thể không viết. Rất có thể, tôi
chưa đủ khả năng để hiểu “công án” của Thiền sư
Nhất Hạnh. Tuy nhiên, là một Phật tử không ít thì
nhiều đã thấm nhuần “Kinh
Nền Tảng Đức Tin” (Kinh Phật thuyết cho người
dân Kalama] của Phật Giáo, tôi muốn nói lên những suy tư
của mình về một vấn nạn không chỉ liên quan đến Tu Viện
Bát Nhã mà có thể liên quan đến Phật Giáo Việt Nam nói
riêng, đất nước nói chung, dù rằng những suy tư này, với
những giới hạn của chúng, có thể làm cho một số
người không hài lòng, phật ý.
Thành
thực mà nói, đọc bài viết trên ký tên Nhất Hạnh, với
sự hiểu biết của tôi về Thiền Sư Nhất Hạnh qua một
số không ít những tác phẩm viết về Phật Giáo của Thiền
sư trước đây, tôi thật tình không dám tin đó là sản phẩm
trí tuệ của Thiền sư Nhất Hạnh. Tôi có cảm tưởng
là tên tuổi và uy tín của Thiền sư ở ngoại quốc đã được
sử dụng cho những mục đích có thể nằm ngoài vòng kiểm
soát của Thiền sư. Nhận định này của tôi có thể
sai, nhưng tôi không thể nào nghĩ khác được, sau khi đọc
đi đọc lại bài “Bát
Nhã Là Một Công Án Thiền”. Thật vậy, trong
“công án Bát Nhã” này tôi thấy cả một tu viện, mấy
trăm Tăng thân Làng Mai và Pháp Nạn của Phật Giáo Việt Nam.
[Thích Nhất Hạnh: Bát Nhã đây là Tu Viện Bát Nhã ở
Bảo Lộc, là Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và
đang là một mối băn khoăn cho chính quyền, là Pháp nạn
của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầucủa thế
kỷ thứ hăm mốt.], trái ngược hẳn với sự hiểu biết
của tôi về những “công án” mà tôi đã đọc, thường
chỉ là một mẫu đối thoại , một đoản văn , một câu
chuyện ngắn ngắn thuộc về Thiền Đạo . Những công án
nổi tiếng nhất trong Thiền Tông Phật Giáo chỉ là một chữ
“mu” [vô = không] hay ngắn gọn như “Vạn pháp qui nhất,
nhất qui hà xứ: Tất cả đi về một, một đi về đâu”,
hoặc “Tiếng vỗ của một bàn tay là gì?”. Vậy
bài viết này chỉ để trình bày một khúc mắc trong lòng,
hi vọng có thể giải tỏa được nỗi bức xúc của
tôi.
Tôi không phải là đệ tử của Thiền sư Nhất Hạnh, nhưng
điều này không có nghĩa là tôi ở phe nào đó chống Thiền
sư. Trái lại, tôi đã viết nhiều bài bênh vực Thiền
sư, từ chuyện Thiền sư phản chiến khi xưa cho đến vụ
Thiền sư phát biểu về vụ
Bến Tre sau vụ 9/11 xẩy ra trên nước Mỹ. Tôi cũng
đã giới thiệu cuốn “Đường
Xưa Mây Trắng” của Thiền sư mà tôi cho là một tuyệt
phẩm. Và tôi cũng đã hai lần đưa lên Internet bài “Tùng”
của Thiền sư, một trong những bài mà tôi ưa thích nhất
của Thiền sư. Lâu lắm rồi, tôi đã có lần định
theo chị Chân Huyền đến Làng Hồng [khi còn chưa đổi tên
thành Làng Mai] tu học. Nhưng có lẽ vì chưa đủ duyên
nên tôi không thực hiện được ý định. Rồi thời
gian qua, tôi cũng đã thành thực tỏ ý là tôi không đồng
ý với một số điểm trong những bài thuyết giảng ngoài
lề Phật Giáo của Thiền sư. Vậy quý độc giả hãy
coi bài viết này là một bài phân tích và thảo luận thuần
túy trí thức về một phương pháp thiền quán quan trọng trong
Phật Giáo để đưa hành giả đến giác ngộ: công án, và
chỉ như vậy thôi. Thật ra, phân tích thảo luận trí
thức về “công án” là rời xa công án rồi, vì công án
chỉ có thể chứng nghiệm chứ không thể luận bàn. Nhưng
hiểu thế nào là công án, trong lịch sử Phật Giáo công án
thiền được phát triển từ bao giờ, nhằm mục đích gì,
công dụng của công án là như thế nào, có tác dụng đối
với những hành giả như thế nào, tôi cho không phải
là chuyện vô ích. Đây là những điều cần biết
trước khi đi vào bài “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền”
của Thiền sư Nhất Hạnh.
*
Trước
hết, công án là gì? Thật ra thì không ai có thể trả
lời câu hỏi trên vì có thể chính câu hỏi đó cũng là một
công án, lý do: công án không thể định nghĩa hay hiểu bằng
con đường trí thức. Trước khi đi vào chi
tiết những vấn đề trên để hiểu về một phương pháp
tu tập đặc thù của Phật Giáo, chúng ta hãy đọc vài tài
liệu để biết chút ít về “công án”.
1.
Tỳ Kheo Thích Chơn Thiện viết trong bài “Thiền Công
Án” :
Thật
là lúng túng khi bàn đến Công án Thiền. Hỏi Công án là
gì cũng như hỏi Chân như là gì hay Diệu nghĩa của Phật
pháp là gì!
Làm
sao đặt chân đến đó với ngôn ngữ khái niệm quá nghèo
nàn, giới hạn?
Ðề
cập đến Công án một cách gián tiếp, phủ định chăng?
Nếu bằng cách đó thì chúng ta đã trở lại ngôn ngữ mà
Công án sử dụng.
Mở
cửa Công án bằng những Công án mới chăng? Cách này chỉ
đem lại cho người đọc thêm lúng túng, mà vấn đề Công
án vẫn bỏ ngõ.
Người
viết bèn phương tiện mượn ngôn ngữ nhật dụng để nói
đến Công án, nhưng nói với thái độ đầy cẩn trọng.
Tông
chỉ của Thiền Công án (hay Thiền Tổ sư) là: "Giáo ngoại
biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến
tánh thành Phật" (truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự,
chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật). Do đó, Công
án Thiền thật sự dành riêng cho căn cơ đặc biệt thích
hợp với nó. Tiếng hét, cây
gậy, lời lẽ v.v... hình như chỉ đến riêng với hành giả
đang đối diện với Thiền sư ở một thời điểm đặc biệt
nào đó. Mỗi Công án, vì vậy, có một tác dụng riêng. Ðiểm
giống nhau của các Công án là trợ giúp hành giả bừng ngộ.
Nói đến Ngộ là nói đến ngộ tự tánh, hay pháp tánh. Như
thế, dù đối tượng nắm giữ có khác nhau, thời gian nắm
giữ đối tượng có dài ngắn khác nhau ở mỗi hành giả,
chung qui chỉ có một việc: thế nào để làm hiển lộ tâm
giữa đám sương mù của vọng niệm. Nếu không phải thế
thì chúng ta không có gì để bàn đến Công án cả; trong ý
nghĩa đi tìm giải thoát từ nó…
Với
Công án Tổ dạy, do vì hành giả đặt nhiều tin tưởng vào
đó, nắm giữ nó như là nắm giữ chiếc đũa thần, nên hành
giả tập trung mạnh tâm thức vào đó mà sớm vỡ lẽ tâm,
pháp.
Với
sự vật trước mắt, nếu hành giả can đảm, có đủ lòng
tin, tập trung quán tưởng vào đó, chúng cũng sẽ giúp hành
giả đi đến một thành tựu tương tự.
Một
điều duy nhất đã làm cho Công án trở nên bí ẩn và làm
cho việc thấy Tánh trở nên khó khăn là do sức tập trung
tâm thức không đủ mạnh để làm tan vỡ các vọng niệm.
Sức tập trung tâm thức ấy chỉ đủ mạnh nếu hội đủ
hai điều kiện:
1.
Ðối tượng quán thích hợp với điều kiện tâm lý của
hành giả, thu hút được sức tập trung mãnh liệt của hành
giả.
2.
Lòng tin của hành giả chú tâm vào đối tượng.
Nói
cách khác, bí ẩn của Công án chính ở chỗ làm dấy lên
được sức tập trung mạnh để xóa tan các vọng niệm ấy.
2.
Trong cuốn “
Các Tông Phái của Đạo Phật”.
khi viết về Thiền Tông, Thượng Tọa Tuệ Sỹ có viết một
đoạn về công án như sau, trang 312-313:
Có
một quá trình riêng biệt nơi Thiền Tông. Khi định tâm
vào tư duy tịch mặc, một “công án” được đặt ra cho
hành giả để trắc nghiệm khả năng tiến bộ đến tỏ ngộ.
Khi nhận được một công án, hành giả bắt đầu tĩnh tọa
nơi thiền đường. Ngồi thoải mái, chân kiết già, thân
ngay ngắn và thẳng lưng, tay kết thiền ấn, mắt mở nửa
chừng. Đây gọi là tọa thiền có thể kéo dài nhiều
ngày đêm. Sinh hoạt hàng ngày, ở, ăn, ngủ, tắm …
đều được giữ cho có chừng mực. Im lặng được tuyệt
đối tuân giữ.; tức khi tọa thiền, thọ thực hay tẩy trần,
không ai được nói lời nào và gây tiếng động nào.
Thỉnh thoảng xảy ra cuộc đối thoại gọi là “vấn
đáp” giữa hành giả và thiền sư.., hành giả nêu những
thắc mắc và thiền sư trả lời bằng ẩn dụ hay quát
mắng. Khi hành giả sẵn sàng để giải quyết vấn đề,
ông ta đến thăm sư phụ nơi trượng thất, trình bày những
gì đã thấu hiểu và xin được giải quyết công án.
Nếu thiền sư đắc ý, ngài sẽ nhận cho là đắc đạo; nếu
không hành giả lại phải thiền quán thêm nữa.
3.
Trong bài
Công
Án Thiền và Vấn Đề Nhận Thức, TT. Thích Đức
Thắng viết:
Kiến
thức của người chưa đạt Đạo cũng giống như kiến thức
của bọn mù. Vì cái sở đắc của họ nhờ vào người đạt
Đạo nói cho nghe, cho biết chứ không phải chính họ thấy.
Như trong kinh Viên Giác đức Phật dạy: "Người chưa ra khỏi
luân hồi mà nghĩ bàn về Viên Giác, thì tánh Viên Giác đó
cũng trở thành luân hồi" (trang 64 kinh Viên Giác, H.T. Thiện
Hoa dịch).
Từ
những nhận thức sai lầm mà chúng ta không nhận ra đó, đã
đưa việc làm của chúng ta đến những hậu quả sau đây:
*
Sẽ không có sự đạt ngộ về Đạo trong cách dùng kiến
giải do trí phân biệt mà bàn ngược bàn xuôi về công án
Thiền.
*
Biến Thiền tông thành Giáo tông.
*
Biến những hoạt ngữ của công án Thiền trở thành tử ngữ
(giết chết công án Thiền).
*
Làm mờ mắt thiên hạ bằng những lập luận hợp tình hợp
lý của kiến thức nhị nguyên về công án Thiền.
*
Từ những sai lầm trên chúng ta đã phản bội lại chính mình,
đã phản bội lại chư vị Tổ sư, đã phản bội lại đức
Phật.
Như
vậy, công án Thiền không phải là một đối tượng nhận
thức, vì cứu cánh của chúng vượt lên trên ngôn ngữ chấp
trước của tri thức, đó là một cảnh giới mà kinh Bát Nhã
gọi là" VÔ SỞ ĐẮC," kinh Kim Cương gọi là"VÔ SỞ TRỤ,"
kinh Lăng Già gọi là "CẢNH GIỚI CỦA THÁNH TRÍ TỰ CHỨNG."
4.
Nhuận Bảo viết trong bài
Đôi
Nét Về Thiền Công Án:
Công
án Thiền, chính là Thiền ngữ của các bậc đắc pháp ngày
xưa (Trung-hoa và Việt-nam) được những bậc thầy của
Tông môn này sưu tầm, kết tập lại để dạy người đời
sau tham thiền, tu học .
Những
Thiền ngữ này, tức phương tiện khai thị của các Thiền-sư
hoàn toàn chẳng giống như những bài toán, những luận đề
hay là những lý thuyết khoa học mà con người có thể biện
biệt, phân tích, luận bàn đúng sai phải trái, để rồi dẫn
đến một kết luận tương đối hay cho ra một đáp án khả
dĩ số đông chấp nhận được. Bản chất và công năng của
Công án Thiền hoàn toàn không phải như thế.
5.
Từ Thị viết trong bài
Công Án:
Việc
Thiền tông đem ngôn hạnh của tổ sư các đời ghi chép lại
dùng để khải thị cho kẻ tọa thiền, lâu dần cũng thành
ra một loại tư khảo, hoặc một bài minh nhắc nhở ghi khắc
bên cạnh người ngồi thiền. Vì ngôn hạnh của các Tổ sư
được ghi chép lại như vừa nói trên cũng mang ý nghĩa như
một cáo bạch chính thức, một công án của chính phủ, tức
đầy đủ tính cách trang nghiêm bất khả xâm phạm, lại cũng
giúp khải phát tư tưởng, cung ứng tư duy cho người
nghiên cứu Thiền, đồng thời cũng làm phép tắc khuôn mẫu
để đời sau nương nhờ, cho nên mới gọi là công án.
Phong
khí nầy xuất hiện ban đầu từ đời Ðường, đến nhà
Tống thì thật thạnh hành. Căn cứ vào sách Cảnh Ðức Truyền
Ðăng Lục có người cho rằng tổng số công án ở Trung Quốc
ước khoản 1700, nhưng thật ra không đúng như thế, vì
một số công án chỉ là các mẫu đối cơ giữa sư đồ hay
đấu cơ phong giữa các thiền sư với nhau…
Công
án là một hình thức khải thị sâu kín chỉ ý Thiền tông.
Vậy muốn tìm hiểu sơ bộ chỉ ý Thiền để làm phương
hướng giúp trực giác tự phát lảnh hội phần sâu thẳm
thì các tăng ni sinh nên chú tâm đến phạm trù chỉ ý.
Thật ra về phương diện tuyệt đối thì chỉ ý là phần
bất khả tư nghì, là thánh ý không thể dùng ngôn ngữ văn
tự phàm tình để mong nắm bắt, nhưng ở một chừng mực
tương đối nào đó thì chỉ ý này bao hàm một số nguyên
lý nằm trong chủ trương và tinh thần Thiền tông. Thiền tông
dựa trên tinh thần tự chủ, sùng thật và cách tân ( còn
gọi là thích nghi) và đưa ra chủ tương “Bất lập ngôn
ngữ văn tự, giáo ngoại biệt truyền, dĩ tâm truyền tâm,
Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật”.
Nếu
chúng ta muốn đào sâu hơn nữa về “công án” thì có thể
đọc Daisetz Teitaro Suzuki trong cuốn “Essays in Zen Buddhism”,
Second Series, từ trang 90 đến trang 223. Trong phạm vi bài
viết này, tôi không nghĩ hơn 100 trang viết về Công án của
Suzuki thích hợp với nội dung của bài. Độc giả có
thể tìm đọc phần này trong bản dịch của TT Tuệ Sỹ: “
Thiền
Luận, Tập Trung”, từ trang 125 đến trang 321.
Đọc
48 công án Thiền trong “Vô
Môn Quan” và 100 công án Thiền trong “Bích Nham
Lục” tôi thấy chỉ là những mẩu chuyện (tắc) hỏi đáp
ngắn giữa các Thiền sư, hoặc về các Thiền ngữ hay phong
cách của các Thiền Sư đã đắc Đạo, hoặc về những biến
cố trong cuộc đời của Thiền sư, và công dụng chính của
một công án là giúp hành giả bừng ngộ như Hòa Thượng
Thích Chơn Thiện đã viết ở trên. Xin nói
rõ ở đây là tôi “chỉ đọc” chứ chưa hề tham chiếu
bất cứ một công án nào, đọc để biết vậy thôi, loáng
thoáng cũng có đôi chút cảm hứng về những câu chuyện “bất
bình thường” trong mấy cuốn trên.
Tại
sao trong Thiền Tông Phật Giáo lại có nhiều công án như vậy.
Ít ra là 500 nếu không muốn nói đến con số 1700. Vấn
đề thật là dễ hiểu. Chúng sinh căn trí bất đồng
cho nên không thể dùng một công án cho tất cả mọi người.
Các Thiền sư khi xưa thường biết rõ khả năng và căn trí
của mỗi đệ tử cho nên thường chọn công án nào thích
hợp với căn trí và trình độ tu tập của mỗi đệ tử.
Trong Lời Tựa cuốn “Vô
Môn Quan” của thiền sư Vô Môn Tuệ Khai, Người
kể:
“Các
sư dưới quyền yêu cầu tôi chỉ dạy họ. Cuối cùng,
tôi lấy những công án của các Thiền sư trước và sử dụng
chúng như là những viên gạch để gõ vào cửa, hướng dẫn
họ tùy theo khả năng và khuynh hướng của mỗi người.
Từ lập trường căn bản của Thiền, ‘cái đó” [ngộ]
không bao giờ có thể dạy hay bày tỏ bởi những người khác,
tuy nhiên tôi hi vọng những công án đó có thể dùng như những
viên gạch gõ vào cửa, hay như ngón tay chỉ trăng, cho đến
khi “vô môn quan” được mở ra.”[1]
Từ những
hiểu biết trên về “công án” chúng ta đã có thể có những
kết luận sau đây:
Công
án Thiền, chính là Thiền ngữ của các bậc đắc pháp ngày
xưa.
Công
dụng của công án là hướng dẫn hành giả đi đến giác
ngộ.
Công
án thường được các bậc Thầy đã đạt đạo chọn sao
cho thích hợp với khả năng và căn trí của mỗi hành
giả.
Và
bây giờ chúng ta hãy đi vào bài “Bát Nhã Là Một Công Án
Thiền” của Thiền sư Nhất Hạnh.
*
Mở đầu
Thiền sư Nhất Hạnh viết:
Bát
Nhã đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Tăng thân Bát
Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính
quyền, là Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập
niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. Công án là một vấn
nạn cần phải giải quyết bằng niệm, định và tuệ chứ
không thể chỉ bằng trí năng của ta.
“Công
án Bát Nhã” của Thiền sư Nhất Hạnh, theo đúng tinh thần
của Công án, là để cho các hành giả quán chiếu “Bát Nhã”
như là một “thoại đầu”, như Thiền sư đã viết rõ trong
bài. Nhưng Bát Nhã là gì? Theo Thiền sư thì
Công
án Bát Nhã là Công án Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Công
án Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối
băn khoăn cho chính quyền, là Công án Pháp nạn của Phật
giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ
hăm mốt. , có nghĩa là
Tu viện Bát Nhã ở Bảo
Lộc là một thoại đầu để quán chiếu,
Tăng
thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn
cho chính quyền là một thoại đầu để quán chiếu,
và
Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập
niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt là một thoại
đầu để quán chiếu.
Nhưng
thực ra Tu Viện Bát Nhã, Tăng Thân Làng Mai, và Pháp Nạn Của
Phật Giáo Việt Nam có phải là những thoại đầu để tham
cứu như là tham cứu một công án không. Câu trả lời
nằm trong câu hỏi. Tiện đây chúng ta cũng nên bàn qua
về những “thoại đầu” trên.
Thoại
đầu 1: Tu Viện Bát Nhã. Quán chiếu thoại đầu
“Tu viện Bát Nhã” là quán chiếu cơ sở vật chất “Tu
Viện Bát Nhã” hay là quán chiếu “vụ việc xẩy ra ở Tu
Viện Bát Nhã”? Nếu quán chiếu cơ sở vật chất của
Tu Viện Bát Nhã thì quán chiếu cái gì, toàn bộ cơ sở, hay
chỉ có thiền đường, nhà bếp v…v… Còn quán chiếu vụ
việc xẩy ra ở Tu Viện Bát Nhã thì còn loạn tâm hơn nữa,
vì vụ việc này là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố,
trong đó có mặt của chính Thiền sư, của 400 Tăng sinh Làng
Mai, của Giáo Pháp Làng Mai, của chính quyền, của vị trụ
trì Tu Viện, của chính quyền địa phương, của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam, của công an, của côn đồ, của người
dân địa phương v…v… và v…v…
Thoại
đầu 2: Tăng Thân Bát Nhã. Phần này xin để cho các
Tăng thân Làng Mai và Tăng thân Bát Nhã quán chiếu, hoặc cho
bất cứ ai muốn quán chiếu..
Thoại
đầu 3: Pháp Nạn Của Phật Giáo Việt Nam [trong những
thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt]. Nhưng
thực ra Pháp Nạn của Phật Giáo Việt Nam là ở đâu?
Nó ở ngay trong Làng Mai với những “giáo pháp” như:
- Đức
Ki Tô Hằng Sống là Con của Thượng Đế, đã phục sinh, và
nay vẫn còn tiếp tục sống.
- Chúng
ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của
Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng
ta tu tập. Giêsu sống đúng như lời dạy của Ngài, cho nên
suy gẫm cuộc đời Chúa Giêsu là điều tối cần thiết để
hiểu giáo lý của Ngài.
- Tội
tổ tông cũng có thể được chuyển hóa khi một người tiếp
xúc với Thánh Linh. Giêsu là con của Thượng Đế…
- Nơi
duy nhất chúng ta có thể tiếp xúc với Giêsu và Nước Chúa
là ở trong nội tâm mình.
- Khi
chúng ta theo dõi và tiếp xúc một cách sâu sắc với cuộc
đời và giáo lý của Chúa Giêsu,
chúng
ta có thể thâm nhập vào sự thật của Thượng Đế. Tình
yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm, sự bao dung, là những
biểu hiện của cuộc đời Chúa Giêsu. Thượng Đế xuất
hiện với chúng ta qua Giêsu Ki Tô. Với Thánh Linh và Nước
Chúa ở trong Ngài.
Mấy
câu trên là ở trong cuốn “Living Buddha, Living Christ”, Chương
4 của Thiền sư. Trên trang nhà: http://www.johnworldpeace.com/tnhanh4.html
, sau đây là vài nhận định điển hình của John phê bình
Chương 4 trong cuốn sách trên của Thiền sư :
[John:
Well! No Brother Hanh, Jesus did not live exactly as he taught. His
admonition to turn the other cheek did not apply to his actions in the
Temple. There are many such examples in the gospels of the New Testament
in the Christian Bible. For more examples go to The Saying of Jesus
John:
Well again Brother Hanh, I do not think you want to make this kind of statement.
Further
you can see here the precedent that Jesus set for later Christians to deal
accordingly with non-Christians and their pagan religions.
I
truly respect you Brother Hanh, but you are attempting to write about Christianity
which you do not fully understand ]
Thế
kỷ 21 mới chưa hết MỘT thập niên. Và trong thập niên
này Việt Nam được hân hạnh tổ chức Lễ Tam Hợp của Liên
Hiệp Quốc để kỷ niệm Ngày Sinh, Ngày Thành Đạo, và Ngày
Nhập Niết Bàn của Đức Phật. Thiền sư cùng Tăng thân
Làng Mai đã về dự. Thiền sư cũng đã về Việt Nam
làm Trai Đàn Giải Oan cho những người đã khuất. Thiền
sư cũng đã được Thủ Tướng Phan Văn Khải và Chủ Tịch
Nguyễn Minh Triết tiếp kiến. Thiền sư cũng đã được
dân chúng và Giáo hội đón tiếp với thảm đỏ, lọng vàng.
Vậy Pháp nạn là ở đâu, làm gì có Pháp nạn. Chỉ
sau vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã vào hai năm cuối của thập
niên đầu, thế kỷ 21, Thiền sư mới cho rằng có Pháp
nạn và đó là Pháp Nạn Của Phật Giáo Việt Nam trong những
thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. Vậy phải
chăng Thiền sư cho cái mà Thiền sư gọi là “Pháp nạn
Bát Nhã” cũng là Pháp nạn của Phật Giáo Việt Nam?
Pháp nạn Bát Nhã [nếu thực sự có] tuyệt đối KHÔNG
PHẢI là Pháp Nạn của Phật Giáo Việt Nam. Làng Mai
không
phải là Phật Giáo Việt Nam, dù ở Việt Nam có một số
tu theo Giáo Pháp Làng Mai.. Làng Mai chỉ là một tổ chức
tôn giáo có Tổng Hành Dinh ở Pháp.
Pháp
nạn thật ra đã có từ lâu, ở trong những cụm từ phân
biệt “Ấn Quang và Quốc Tự”, “Thống Nhất và Quốc Doanh”.
Khi xưa, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đã nhìn thấy Pháp Nạn
trong nhận định: “bản thể của Tăng bị lu mờ, nội
bộ Tăng bị phân hóa và thành phần của Tăng có nhiều quan
điểm dị biệt, giới hạnh suy kém và hiểu biết đạo lý
một cách cục bộ, phiến diện”. Ngoài ra, vai
trò của chính quyền địa phương hay của chính quyền trung
ương liên hệ đến vấn đề xã hội không phải là không
quan trọng. Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, không thiếu
gì những trường hợp kiểm soát việc tu hành của các Tăng
sĩ, có khi còn bắt Tăng sĩ hoàn tục. Nhận định như
vậy không có nghĩa là những biện pháp của chính quyền đối
với các Tăng sinh ở Tu Viện Bát Nhã là đúng với truyền
thống văn hóa của Việt Nam.
Vì
cùng là một “công án Bát Nhã” nên hành giả phải quán
chiếu cùng lúc ba thoại đầu. Nhưng ai là hành giả?
Thiền
sư Nhất Hạnh viết:
Công
án Bát Nhã là của mọi người, là của mỗi cá nhân và cũng
là của từng tập thể. Công án ấy có thể được tham
cứu bởi một vị tu sinh Bát Nhã, một học tăng đang theo
học tại một trường Trung Cấp Phật Học trong nước, một
vị Thượng Tọa trong Giáo Hội, một chú Công an, một ông
Bộ trưởng, một vị Linh mục Công giáo, một vị Mục sư
Tin lành, một ủy viên Bộ Chính Trị, một vị chủ tịch
Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố, một bí thư Tỉnh Ủy, một
ủy viên Trung Ương Đảng, một nguyên thủ quốc gia, một
chủ bút nhật báo hay tạp chí, một nhà trí thức, một nhà
nghệ sĩ, một nhà doanh thương, một giáo chức, một ký giả,
một vị trú trì, một vị đại sứ.
Trong
một đoạn khác, Thiền sư Nhất Hạnh viết;
Ngày
xưa, vua Trần Thái Tông ngộ đạo nhờ tham cứu công án
“bốn núi” và công án “con người thật không có vị trí
(vô vị chân nhân) ”. Thiền sư Liễu Quán ở Phú Yên ngộ
đạo nhờ tham cứu công án “tất cả đi về một, một
đi về đâu? ” và đã đệ trình kiến giải tại chùa Ấn
Tôn (Từ Đàm), Huế.
Điều
này có nghĩa là tham cứu Công án là để ngộ đạo.
Hi vọng mọi người chúng ta, xin để tôi ra ngoài, và tất
cả các vị trong danh sách trên của Thiền sư Nhất Hạnh,
đặc biệt là Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, hay một chú Công
an, hay một Linh Mục Công giáo hoặc Mục sư Tin lành đều
có thể ngộ đạo [đạo nào?] nếu có thì giờ và để tâm
tham cứu cùng lúc ba thoại đầu trên. Hi vọng Chủ Tịch
Nước hãy bò việc nước, công an bỏ việc giữ gìn trật
tự an ninh trong xã hội, Linh mục Công giáo bỏ các khóa lễ,
Mục sư Tin Lành bỏ nói bậy v…v… để giải quyết công
án của Thiền sư Nhất Hạnh. Giải quyết như thế nào?
Thiền sư đã dạy rõ:
Công
án không thể được giải quyết bằng lý luận, bằng biện
chứng pháp, dù là biện chứng pháp duy tâm hay duy vật, mà
phải được giải quyết bằng niệm lực và định lực, nghĩa
là bằng năng lượng của chánh niệm và chánh định… Niệm
có nghĩa là nhớ tưởng, là canh cánh bên lòng, là nâng công
án lên từng giây từng phút trong đời sống hàng ngày của
mình để quán chiếu, không phút giây nào xao lãng. Niệm phải
liên tục không được gián đoạn. Khi ăn cơm, khi mặc áo,
khi tiểu tiện hoặc đại tiện, khi uống trà, khi tắm gội,
hành giả phải đưa công án lên để mà quán chiếu.
Cứ thế
mà theo thì sẽ giải được công án của Thiền sư, và Thiền
sư bảo đảm là:
Giải
được công án thì ta thấy khỏe, không còn lo sợ thắc mắc
gì nữa, là thấy được con đường đi, là đạt được sự
an tâm.
Như vậy,
chúng ta thấy rằng, “
Công án Bát Nhã” của Thiền sư
Nhất Hạnh thực ra không phải là một “công án Thiền”,
vì
cái gọi là “công án” này
phát sinh từ một tâm trạng bất mãn, vì hào quang sáng rực
của mình ở ngoại quốc có vẻ như không phát huy được
mà còn bị lu mờ ở trong nước, vì những mục đích không
thành đạt, hi vọng không thành. Hơn nữa, Thiền sư đã
lấy những ý nghĩ một chiều rất chủ quan của mình về
vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã để áp đặt lên đầu nào là
đại úy Công an, nào là hàng giáo phẩm của Giáo hội, thành
phần của ban Tuyên Giáo Trung Ương, ủy viên chính trị hay
ủy viên trung ương Đảng, và cả vị nguyên thủ quốc gia
nữa, để họ phải nghĩ theo những ý nghĩ của mình, bất
kể đến khung cảnh chính trị, đến bối cảnh xã hội,
và nhất là đến sự góp phần của những nguyên nhân mà
chính mình tạo ra để đưa đến vụ việc ở Tu Viện Bát
Nhã. Chứng minh?
Chúng
ta hãy đọc:
Pháp
môn Làng Mai có thể là cơ hội hiếm có để hiện đại hóa
đạo Phật ở Việt Nam, và bốn năm hành trì ở Việt Nam
hình như đã chứng tỏ được khả năng của pháp môn ấy.
Vậy thì tại sao ta lại chịu áp lực của Trung Quốc để
đàn áp và tiêu hủy ngay một nguồn sinh lực quý báu của
ta? Pháp môn thực tập Làng Mai là một phần trong di sản văn
hóa đất nước, hiện thời đang có khả năng đóng góp đáng
kể cho một nền văn minh đạo đức toàn cầu, không phải
chỉ trên mặt lý luận mà quan yếu nhất là trên mặt thực
tế. [Có chủ quan lắm không? Thế giới có hơn 6 tỷ
người, có bao nhiêu người thực tập theo Pháp Môn Làng Mai?
Việt Nam có hơn 80 triệu người, có bao nhiêu người thực
tập theo Pháp môn Làng Mai? Và Pháp Môn Làng Mai có thể
hiện đại hóa đạo Phật ở Việt Nam như thế nào, hiện
đại bằng cách đưa Phật tử vào vòng mê tín của Ki Tô
Giáo??]
“Bát
Nhã ngày xưa, nay đã thành mưa, rơi xuống mặt đất, nẩy
hạt Bồ đề.” [Hạt Bồ Đề của Làng Mai có nẩy mầm
kết hoa ra trái ở Việt Nam được không?]
Tại
sao mình chỉ muốn tu thôi mà người ta không cho mình tu? Tại
sao các bậc tôn túc muốn che chở bảo lãnh cho mình tu mà
nhà nước lại không cho bảo lãnh? Mình có biết chính trị
là cái gì đâu và chẳng tha thiết gì tới chuyện chính trị,
tại sao người ta cứ nói là mình làm chính trị và tại sao
cứ nói Bát Nhã là một mối đe dọa cho an ninh quốc gia?
[Chắc
Thiền sư Nhất Hạnh quên rằng: Trong chuyến đi Việt Nam vào
cuối năm 2007, Thiền sư
đã nói với Chủ tịch nước Nguyễn
Minh Triết rằng nhà nước nên dẹp bõ ngành công an tôn giáo
và giải tán Ban Tôn giáo chính phủ, cơ quan giám định
những sinh hoạt tôn giáo.
Rồi
đến 2008, niên giám của Làng Mai đề xuất với chính phủ
hãy từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản, bỏ chữ “Cộng Sản”
ra khỏi tên của Đảng chính trị cầm quyền, và bỏ cụm
từ “Xã hội chủ nghĩa” ra khỏi tên chính thức của
nước, “Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Vậy,
dù Thiền sư vô tình hay hữu ý, dù Thiền sư muốn hay không
muốn, thì những tuyên bố của Thiền sư là một ứng xử
chính trị: đối tượng là chính trị, lãnh vực là chính
trị, nội dung là chính trị, hậu quả là chính trị.
Không biết chính trị là cái gì thì lại càng không nên dính
vào chính trị]
Tại
sao phải giải tán cho được Bát Nhã dù phải áp dụng những
biện pháp như thuê côn đồ, vu khống, lừa gạt, đánh đập,
đe dọa. [Phải chăng vì Tăng thân Làng Mai đã bất chấp
luật pháp quốc gia về đăng ký, bảo hộ v..v… Phải
chăng vì những tuyên bố chính trị của mình]
Tại
sao hơn một năm trời mà không dẹp được họ? Họ có gì
để phải bám víu vào cái chùa này? [Tại vì họ đã được
Thầy của họ dạy: “Hãy cứ ngồi yên như núi���,
như là một thách đố]
Thiền
sư Nhất Hạnh cho rằng một vị đại úy công an phải
thấy rằng Bát Nhã đã trở thành công án của đời mình.
Mình mất ăn, mất ngủ. Nhưng bây giờ mình đã thấy
những thủ đoạn ấy là gian trá, là thấp hèn, là trái với
lương tâm con người.
Trước
sự kiện côn đồ giả danh Phật tử để phá phách Tu Viện
Bát Nhã, Thiền sư cảm thấy: “Hành động này làm
cho mình muốn nôn mửa, nhưng mình lại không dám nói ra”
Thiền
sư Nhất Hạnh cũng cho rằng Bát Nhã là một vấn đề nhân
quyền ở Việt Nam nhưng cũng là một công án cho một nhà
lãnh đạo chính trị cao cấp như một vị nguyên thủ quốc
gia hoặc một vị bộ trưởng, nước mình có hay không có
chân trong Hội Đồng Bảo An hay Ủy Ban Nhân Quyền của Liên
Hiệp Quốc và các vị này phải cảm thấy hổ thẹn, lương
tâm mình không an ổn vì không dám can thiệp vào chuyện
nội bộ của Việt Nam.
Tôi
không muốn bàn thêm về cái gọi là “công án Bát Nhã”
của Thiền sư Nhất Hạnh mà nội dung phần lớn là lên án
Đảng [Hay tại vì ta là người Mác-xít, ta không có quyền
quy y, ăn chay và giữ giới?], hàng giáo phẩm Giáo hội,
ngành công an, Thượng tọa Thích Đức Nghi, Bộ Chính Trị,
Trung ương Đảng v…v…, vì đối với Thiền sư, tất cả
đều sai lầm trong vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã, do đó tất
cả đều cần phải quán chiếu “công án Bát Nhã” để
sám hối và đạt được sự an tâm.
Vài Lời
Kết:
Tôi
đã đọc khá nhiều sách của Thiền sư Nhất Hạnh. Tôi
đã giới thiệu với một số bạn trẻ, thoải mái hơn khi
đọc tiếng Anh, bản dịch cuốn “Đường
Xưa Mây Trắng” [Old Path, White Clouds]. Tôi đã học
được nhiều từ những tác phẩm của Thiền sư viết về
Phật Giáo. Tôi nghĩ rằng những điều Thiền sư giảng
về “Chánh Niệm”, “Tỉnh thức”, “Hiểu và Thương”
, “Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười” v…v…
rất cần cho xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng thành thực
mà nói, tôi cảm thấy rất đáng tiếc khi Thiền sư càng ngày
càng đi ra ngoài sở trường của Người về Phật Giáo để
đi vào những sở đoản như về Ki Tô Giáo, về nhập cảng
một số hình thức xã hội trong truyền thống văn hóa của
nước ngoài như “Thiền Ôm”, “Bông Hồng Cài Áo” mà
theo tôi, không cần thiết và có thể không thích hợp trong
nền văn hóa Việt Nam, và gần đây dính vào chính trị.
Có
thể chính sự thành công của Thiền sư ở ngoại quốc đã
làm cho Thiền sư thay đổi, chúng ta có thể nhận thấy rõ
ràng trong một số phát biểu của Người đượm nhiều khoa
trương về Tăng thân Làng Mai, nhất là trong bài giảng “Con
Người Lý Tưởng Và Hạnh Phúc” của Thiền sư tại San Jose
Civic Auditorrium chiều chủ nhật 12/9/99. Nhưng chính những sở
đoản này đã làm cho Giáo Pháp Làng Mai không thể ăn sâu
bám rễ ở Việt Nam dù Giáo pháp này rất thành công ở ngoại
quốc. Phật Giáo Việt Nam phải thay đổi, hiện đại
hóa, nhưng điều này không có nghĩa là phải pha trộn với
những điều mê tín hoang đường của Ki Tô Giáo mà ngay cả
những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo cũng đã bác bỏ. Phật
giáo có cả một rừng Kinh điển, một nguồn tâm linh vô tận,
và dù chúng ta có khai thác suốt đời cũng không làm sao tận
dụng được tất cả gia tài của Đức Phật và các Tổ để
lại. Pha trộn với những lễ tiết mê hoặc, “trí tuệ”
với “đức tin”, thì Phật Giáo không còn là Phật
Giáo nữa mà trở thành Phật Giáo lai căng.
Một
thí dụ về một điều giảng dạy của Thiền sư mà tôi cho
là không thích hợp với người Việt Nam. Thiền sư dạy,
để tỏ lòng kính yêu mẹ, tối tối hãy vào nói với mẹ
“Mẹ ơi, con yêu Mẹ lắm”. Điều này con
nhỏ có thể làm, và bà Mẹ Việt Nam có thể nói: “Ơ cái
thằng này ngớ ngẩn” vì chuyện con yêu Mẹ là chuyện đương
nhiên, không cần phải nói ra bằng miệng. Đối với
người đã trưởng thành thì nếu quan tâm tới bố mẹ, người
con thường chỉ hỏi: “Hôm nay Bố Mẹ ăn có ngon miệng không?”
vì “ăn ngon miệng” chứng tỏ rằng sức khỏe của Bố
Mẹ bình thường, không có gì phải lo ngại. Người Việt
Nam sống về nội tâm rất nhiều, không có hời hợt bên ngoài
như người Tây phương. Buổi sáng, trước khi chia tay
nhau đi làm, vợ chồng Mỹ thường hôn nhau đến chụt một
cái, nói “I love you”. Nhưng tỷ lệ ly dị trên nước
Mỹ là trên dưới 50%. “Bông hồng cài áo”, “Ngày
của Mẹ”, “Ngày của Cha” , “Ngày Valentine”, “Ngày
Haloween” [trước là ngày Lễ Chư Thánh], và ngay cả “Ngày
Giáng Sinh”, tất cả chỉ là những hình thức bề ngoài của
thương vụ.
Bài
“Bát Nhã Là Một Công Án Thiền” cũng thuộc
vào sở đoản của Thiền sư Nhất Hạnh. Vì những bức
xúc về vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã, Thiền sư đã viết
lên một bài chẳng liên quan gì đến “công án” cả, ít
nhất là “công án” theo sự hiểu biết thông thường trong
Thiền Tông Phật Giáo. Hơn nữa, trong bài, Thiền sư đã
để lộ ra những dằn vặt tâm tư của mình, dù ẩn sau những
dẫn giải hoa mỹ về “công án”. Điều này chúng ta
có thể thấy rõ qua văn phong bất xứng với Thiền sư trong
nhiều đoạn trong bài.
Tôi
nghĩ rằng Thiền sư Nhất Hạnh cũng chưa giải quyết được
“công án” Bát Nhã do chính mình đề ra. Vì tôi không
thấy sự an tâm của Ngài trong suốt bài viết. Điều
này thật quá rõ ràng vì Thiền sư viết với một giọng trách
cứ đượm nhiều chua chát, cay đắng về những chuyện nằm
ngoài Tông chỉ của Thiền công án: “Giáo ngoại biệt
truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh
thành Phật" . Hơn nữa, Thiền sư thực sự có thiện
chí để giải quyết vụ Bát Nhã cùng với chính quyền không.
Theo dõi thông tin, chúng ta biết:
“Để
giải quyết mâu thuẫn trên tại Tu viện Bát Nhã, Thứ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, trong chuyến thăm Pháp cuối tháng
9/2009, có đề nghị gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh
(đã được thông báo trước một tháng) để bàn cách giải
quyết vụ việc nhưng Thiền sư từ chối không gặp, lấy
lý do là đã có chương trình sang Mỹ hoạt động tôn giáo”
Chúng
ta thử xem hoạt động tôn giáo của Thiền sư là những gì.
Theo chương trình trong Lá Thư Làng Mai số 32 thì những hoạt
động này như sau:
-
6/9/2009: Ngày quán niệm tại Tu viện Lộc Uyển.
-
8/9 – 13/9: Khóa tu tiếng Anh tại Tu Viện Lộc Uyển.
-
19/9: Pháp thoại công cộng tại Pasadena
-
20/9: Ngày quán niệm.
-
23/9 – 27/9: Khóa tu tiếng Việt tại Tu Viện Lộc Uyển.
-
2/10 – 5/10: Khóa tu tiếng Anh tại Tu Viện Bích Nham, New York.
-
9/10: Pháp thoại công cộng tại nhà hát Beacon, New York.
-
10/10: Ngày quán niệm chung với viện Omega tại trung tâm New
York.
Tôi
tự hỏi, tất cả những hoạt động tôn giáo trên quan trọng
đến độ Thiền sư không thể để ra 1, 2 ngày để tìm cách
giải quyết vấn đề 400 Tăng sinh trẻ của Thiền sư đang
gặp khổ nạn tại Tu Viện Bát Nhã hay sao? Hơn nữa,
Làng Mai có cả một đoàn Giáo Thọ xuất sắc, nổi tiếng,
kể cả Sư Bà Chân Không, không ai có thể thay thế Thiền
sư trong một số hoạt động tôn giáo thông thường như quán
chiếu, khóa tu, mà nhiều Chùa, nhiều Tu Viện khác cũng thường
tổ chức hay sao? Nhà nước đã đưa tay ra, nhưng Thiền
sư đã không thèm bắt tay, viện một lý do không có tính cách
thuyết phục. Nếu chương trình hoạt động tôn giáo
của Thiền sư là một chương trình đặc biệt do một quốc
gia thỉnh cầu không thể thay đổi và không ai có thể thay
thế được thì lý do hoạt động tôn giáo của Thiền sư
khả dĩ có thể chấp nhận. Nhưng đây là những hoạt
động hàng năm của Thiền sư trên đất Mỹ, năm nào cũng
quán niệm, năm nào cũng có khóa tu, những hoạt động này
quan trọng hơn là việc giải quyết vấn nạn Bát Nhã hay sao?
Nhiều người cho rằng đó là một hành động cống cao ngã
mạn.
Người
ta trách cứ là Pháp môn Làng mai chủ trương nam nữ cùng
tu, trái với truyền thống nam nữ tu riêng của Việt Nam.
Thực tế cho thấy tu riêng cũng chưa chắc đã đoạn tuyệt
được tình ái huống chi là “lửa gần rơm lâu ngày
cũng bén”, nhất là đối với giới trẻ chưa đủ
định lực. Khi xưa, Đức Phật đưa ra Bát Kỉnh Pháp, chẳng
phải là hạ thấp vai trò của phái nữ, mà là tạo nên một
khoảng cách đạo đức giữa Nam và Nữ, đề phòng củi lửa.
Người
ta cũng trách cứ Thiền sư là, theo quy định của Giáo hội
Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), nếu người tu hành dưới 18
tuổi phải có người giám hộ và phải xin ý kiến cha mẹ,
nhưng đa số những người theo pháp môn Làng Mai đều dưới
18 tuổi đã không tuân thủ quy định này.
Và
nhất là, người ta cũng trách cứ Thiền sư là, tại Tu Viện
Bát Nhã, Thiền sư đã bổ nhiệm Phó Trụ trì Tu viện Bát
Nhã, tấn phong giáo phẩm Hòa thượng cho một vị sư của
Việt Nam mà không thông qua Trụ trì tu viện Bát Nhã và GHPGVN.
Nếu
thật đúng là như vậy thì những điều trách cứ này cho
thấy Thiền sư đã coi thường truyền thống văn hóa của
Phật Giáo Việt Nam, coi thường Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam, hậu quả ra sao, chúng ta có thể đoán trước được,
nhưng không ngờ lại đưa đến vụ việc ngoài ý muốn của
mọi người tại Tu Viện Bát Nhã, gây ảnh hưởng không đẹp
cho tất cả mọi phía, từ chính quyền cho đến GHPGVN và Làng
Mai. Có thể vì cái danh của Thiền sư quá lớn ở ngoại
quốc nên Thiền sư thấy không cần phải quan tâm đến hiện
thực xã hội ở Việt Nam hay truyền thống Phật Giáo ở Việt
Nam.
Tôi
hi vọng Thiền sư có thể khiêm tốn một chút trước Nhà
Nước, trước đại khối Phật Giáo Việt Nam, nhận ra những
hoạt động trái khoáy của mình, và nhất là nhận ra những
sở đoản của mình, trở về với những sở trường, tập
trung vào việc phát huy Giáo Pháp Làng Mai về Phật Giáo, chỉ
là Phật Giáo, không gì ngoài Phật Giáo, và không biến Thiền
Tông thành Giáo Tông.
Mấy
chuyến về Việt Nam của Thiền sư Nhất Hạnh là cơ hội
bằng vàng để cho “Giáo Pháp Làng Mai về Phật Giáo”, nghĩa
là những giáo pháp thuần túy Phật Giáo, phát triển
và hội nhập vào đại Khối Phật Giáo Việt Nam. Nhưng
tiếc thay cho Làng Mai, chỉ vì một số hoạt động có tính
cách trình diễn phô trương, một số bước đi chính trị
vụng về, một số thái độ có vẻ cống cao ngã mạn, cho
nên đã tạo thành một yếu tố tôn giáo trong nhiều yếu
tố khác như chính trị, xã hội v..v… để đưa đến vụ
việc rất đáng tiếc ở Tu Viện Bát Nhã. Nhưng đây
cũng là cơ hội để chính quyền trung ương cũng như địa
phương kiểm điểm lại những biện pháp của mình, để Làng
Mai nhận thức đúng được thực tế xã hội và “hạ mình
để chinh phục” [stoop to conquer], và Giáo hội Phật Giáo
Việt Nam cũng nên lo việc chấn chỉnh nội bộ, thanh lọc
hàng ngũ, lấy lại vai trò của cổ nhân: quốc sư đối với
chính quyền, tôn sư đối với quần chúng.
Phần Phụ:
Vài Nét Về Tự Do Tôn Giáo.
Tôn
giáo là một thành phần của xã hội, không thể đứng ngoài
xã hội hay đứng trên xã hội. Do đó những hoạt động
tôn giáo phải ở trong vòng luật pháp quốc gia. Không
ai có thể nói rằng, luật pháp quốc gia đó không đúng, hay
tôi không đồng ý với luật pháp đó, cho nên tôi không có
bổn phận phải theo luật pháp đó. Quan niệm như vậy
là làm loạn xã hội chứ không phải là tự do tôn giáo hay
tự do tín ngưỡng. Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy
khúc. Cả nước Úc và Giáo hội Công giáo cũng không
thể thay đổi được việc Singapore treo cổ một giáo dân
Công giáo người Úc gốc Việt về tội buôn ma túy. Cả
nước Mỹ cũng không thể thay đổi được việc Singapore đánh
đòn một công dân Mỹ vì tội phá hại công ích. Sau
vụ 9/11 ở New York, Mỹ đã ra luật mà nội dung vi phạm đời
tư cá nhân của công dân Mỹ, nhưng dù người dân không đồng
ý cũng bắt buộc phải chịu đựng. Mỹ là một nước
có thể nói là có tự do tôn giáo nhất trên thế giới, nhưng
chính quyền Mỹ luôn luôn kiểm soát hoạt động của tôn
giáo. Vụ David Koresh ở Waco Texas là một vụ điển hình.
Một vụ điển hình khác là về Osho, trước là Bhagwan Shree
Rajneesh. Nghe nói Việt Nam ngày nay cũng có nhiều người
hâm mộ Osho. Nhưng thực chất Osho như thế nào rất ít
người biết. Sau đây là vài dòng về Osho.
Osho
sinh năm 1931 và chết năm 1990, 58 tuổi. Thời gian ở Ấn
độ, Rajneesh đã nổi tiếng là một “sex guru”. Năm
1981, Osho xin nhập cảnh Mỹ để chữa bệnh. Vì những
lời thuyết giảng hấp dẫn có sức lôi cuốn quần chúng,
quần chúng thường là sơ cơ, [điểm chung của các nhà truyền
giáo thành công, thí dụ như Pat Robertson, Jerry Falwell v..v…
ở Mỹ] của Rajneesh nên Rajneesh và các đệ tử thành lập
ở bang Oregon một cộng đồng gọi là Rajneeshpuram. Cộng
đồng tôn giáo này đã vi phạm luật di trú của Mỹ, có nhiều
người đến trú ngụ bất hợp pháp qua các dịch vụ kết
hôn giả, và phạm nhiều tội ác hình sự (crimes). Rajneesh
bị chính quyền Mỹ điều tra về vụ Rajneesh khai gian khi xin
visa nhập cảnh Mỹ, và những tội ác hình sự ở Rajneeshpuram,
và sau một cuộc dàn xếp của luật sư của Rajneesh với chính
quyền Mỹ, Rajneesh bị phạt $400.000 và bị trục xuất khỏi
Mỹ.
Rajneesh
đi lang thang tìm nơi định cư nhưng 21 quốc gia từ chối không
cho nhập cảnh. Sau cùng Rajneesh trở về cố quốc, Ấn
độ, và định cư ở Pune, lập một tổ chức thiền [meditation
foundation, truyền bá Giáo pháp Osho, tên mà Rajneesh đổi thành
năm 1989. Muốn biết rõ hơn những chi tiết về con người
thực và giáo lý thực của Osho, độc giả có thể tìm đọc
trên: http://en.wikipedia.org/wiki/Osho_%28Bhagwan_Shree_Rajneesh%29.
Độc giả cũng nên tìm đọc trong http://www.quangduc.com/Diendan/80hientuongosho.html,
bài “Hiện
Tượng Osho” của Hoàng Liên Tâm.
Osho cũng đã từng tiên đoán là chiến tranh nguyên tử sẽ
xảy ra trong thập niên 1990.
Các
học giả về tôn giáo đã đánh giá con người và học thuyết
của Osho như thế nào?
Theo
Giáo sư về tôn giáo ở đại học Oregon, Ronald O. Clarke, thì
“Rajneesh
đã để lộ tất cả những đặc điểm điển hình của sự
rối loạn tinh thần về nhân cách “cái Ta” của mình, thí
dụ như là ý niệm vĩ đại về sự quan trọng và duy nhất
của chính mình; bận tâm với những tưởng tượng về sự
thành công vô hạn của mình; về một sự cần thiết phải
được người ta thường xuyên chú ý đến và kính ngưỡng.”
[2] Xin độc giả hãy đọc các học giả tôn giáo đánh giá
Osho trong về Osho trong bài bằng tiếng Anh ở trên Wikipedia
sau đây.
Assessments
by scholars of religion
Some
scholars have suggested that Osho, like other charismatic leaders, may
have had a narcissistic personality.[216][217][218] In his paper The Narcissistic
Guru: A Profile of Bhagwan Shree Rajneesh, Ronald O. Clarke, Emeritus Professor
of Religious Studies at Oregon State University, argued that Osho exhibited
all the typical features of narcissistic personality disorder, such as
a grandiose sense of self-importance and uniqueness; a preoccupation with
fantasies of unlimited success; a need for constant attention and admiration;
a set of characteristic responses to threats to self-esteem; disturbances
in interpersonal relationships; a preoccupation with grooming combined
with frequent resorting to prevarication or outright lying; and a lack
of empathy.[218] Drawing on Osho's reminiscences of his childhood in his
book Glimpses of a Golden Childhood, he suggested that Osho suffered from
a fundamental lack of parental discipline, due to his growing up in the
care of overindulgent grandparents.[218] Osho's self-avowed Buddha status,
he concluded, was part of a delusional system associated with his narcissistic
personality disorder; a condition of ego-inflation rather than egolessness.[218]
In
questioning how the total corpus of Osho's work might be summarised, Bob
Mullan, a sociologist from the University of East Anglia, stated in 1983:
"It certainly is eclectic, a borrowing of truths, half-truths and occasional
misrepresentations from the great traditions. It is also often bland, inaccurate,
spurious and extremely contradictory."[219] He also acknowledged that Osho's
range and imagination were second to none,[219] and that many of his statements
were quite insightful and moving, perhaps even profound at times,[220]
but what remained was essentially "a potpourri of counter-culturalist and
post-counter-culturalist ideas" focusing on love and freedom, the need
to live for the moment, the importance of self, the feeling of "being okay",
the mysteriousness of life, the fun ethic, the individual's responsibility
for their own destiny, and the need to drop the ego, along with fear and
guilt.[221]
Writing
in 1996, Hugh B. Urban similarly found Osho's teaching neither original
nor especially profound, noting that most of its content had been borrowed
from various Eastern and Western philosophies.[172] What he found most
original about Osho was his keen commercial instinct or "marketing strategy",
by which he was able to adapt his teachings to meet the changing desires
of his audience,[172] a theme also picked up on by Gita Mehta in her book
Karma Cola: Marketing the Mystic East.[222] In 2005, Urban observed that
Osho had undergone a "remarkable apotheosis" after his return to India,
and especially in the years since his death, going on to describe him as
a powerful illustration of what F. Max Müller, over a century ago, called
"that world-wide circle through which, like an electric current, Oriental
thought could run to the West and Western thought return to the East."[223]
By negating the dichotomy between spiritual and material desires, and reflecting
the preoccupation with the body and sexuality characteristic of late capitalist
consumer culture, Osho had apparently been able to create a spiritual path
that was remarkably in tune with the socio-economic conditions of his time.[223]
[1]
Zenkei Shibayama, Zen Comments On The Mumonkan, p. 13: The monks
begged me to for instruction. Finally I took up the koan of ancient
Masters and used them as brickbats to knock at the gate in guiding the
monks in accordance with their abilities and inclinations. From the fundamental
standpoint of Zen “it” can never be taught or shown by others, yet
I hope these koan might serve as a brickbats to knock at the door, or as
a finger pointing to the moon until no-gate might be opened.
[2]
Ronald O. Clarke, Emeritus Professor of Religious Studies at Oregon State
University, argued that Osho exhibited all the typical features of narcissistic
personality disorder, such as a grandiose sense of self-importance and
uniqueness; a preoccupation with fantasies of unlimited success; a need
for constant attention and admiration
Trần
Trung Ngọc
(http://giaodiemonline.com/)
CẢM
NHẬN TỪ CÔNG ÁN THIỀN BÁT NHÃ
Thứ
ba, 19/01/2010 17:08 pm
Với
công án thiền "Bát Nhã" mà Sư Ông đưa ra cho chúng ta quán
chiếu, với nhiều ví dụ và suy nghĩ cụ thể cho từng đối
tượng khác nhau, đây thật sự nói lên cái tâm từ bi của
Thầy, nhằm mục đích hướng dẫn mọi người qua công án
này mà có thể giác ngộ. Bát nhã như cơn mưa rào giữa mùa
hạ oi bức, các cây cỏ đều cần nước từ cơn mưa này,
để đâm chồi nảy lộc và vươn lên. Mỗi loại cây cỏ
đều hấp thụ một lượng nước khác nhau nhưng đều có
được lợi ích cho chính mình.
Với
Bát Nhã thì cũng vậy, mọi người trong và ngoài cuộc đều
trải nghiệm khác nhau, đều thu hoạch được nhiều ích lợi
khác nhau cho chính bản thân mình. Nhưng chúng ta chỉ có được
lợi
ích thật sự từ công án Bát Nhã chỉ khi chúng ta VÔ NGÃ,
không đặt cái TA của mình vào đó. Còn cái Ta thì còn phiền
não, lúc đó Bát Nhã chính là phiền não, là chấp trước,
là phân biệt, là vọng tưởng. Như thế thì trên đạo Bồ
Đề không thể có thành tựu.
Là
người xuất gia, nơi nào có duyên với ta thì ta đến
mà tu tập mà giáo hóa chúng sanh, hết duyên hoặc chưa có
đủ duyên thì ta đi. Lòng nhẹ nhàng, không vướng bận, không
nuối tiếc. Bát Nhã hết duyên với ta thì ta đi. Cổ
đức có câu:" Người xuất gia không sợ không có Chùa,
chỉ sợ không có ĐẠO." Nếu ta có ĐẠO thì không
cần lo gì hết, mọi việc đều được chư Phật, Bồ tát
hộ niệm, các vị Long Thần Hộ Pháp giúp đỡ.
Nhìn
lại cuộc đời Đức Thế Tôn thì thấy rõ, Ngài có bận
tâm gì về đạo tràng không? Không. Cho đến các vị tổ sư
đại đức như Ngài Lục Tổ Huệ Năng: Ngài cũng từng bỏ
tự viện mà đi sau khi được truyền y bát từ Ngũ Tổ, ở
ẩn trong rừng mười lăm năm. Ngài không có chấp trước,
Ngài không có phiền não...Chúng ta là hậu bối, phải học
hỏi từ chính cuộc đời của Đức Thế Tôn và Lục Tổ.
Lục
Tổ có dạy:" Phàm là bậc chân tu thì không nhìn lỗi
người." Chúng ta có làm được hay chưa? Chỉ thường
nhìn lỗi mình, nhất định không nhìn lỗi người, với Bát
Nhã và là những người trong cuộc thì chúng ta phải
thấy rõ cái lỗi của mình, phải thấy rõ cái lỗi
của mình...Họ, những người "đàn áp" chúng ta (theo cách
gọi của một số đồng tu trong cuộc), chính là Đại
Thiện Tri Thức, Đại Nghịch Hạnh Bồ Tát...họ giúp
chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng, giúp chúng ta trao dồi đức
hạnh, tu Nhẫn Nhục Ba La mật. Cái ân này chúng ta cảm còn
không hết nữa mà còn lại đi trách móc, đau buồn ư? Như
vậy là Mê chứ chưa thật Giác Ngộ, dù tham thiền
đến 8 vạn 4 ngàn công án mà không hiểu thấu việc này thì
vẫn hoài công...Việc học Phật chưa thể có thành tựu và
với công án thiền Bát Nhã này của Sư Ông đưa ra thì cũng
không được lợi ích gì cả.
Trên
đây là vài cảm nghĩ thô kệch của kẻ hậu học này muốn
chia sẻ cùng các bạn đồng tu, chắc chắn còn nhiều thiếu
sót, mong Quý Vị hoan hỉ bỏ quá cho.
Chân
thành chia sẻ.
Tịnh
Thái.
CÔNG
ÁN, hay
KHÔNG CÔNG ÁN?
Hoàng
Phi Long
Tái
cập nhựt theo yêu cầu của tác giả.
Kính
chào bác Ngọc, trong tình nghĩa đồng bào xin bác vui lòng chấp
nhận cách xưng hô bác - cháu này, thay vì gọi bác là Giáo
sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, và xưng tôi nghe có vẻ ngăn
cách, khó cảm thông nhau bằng bác - cháu như quan hệ gia đình
vừa huyết thống vừa tâm linh giữa hai bác cháu mình.
Thưa
bác, cháu đã để nhiều thì giờ suy nghĩ xem có nên viết
cho bác hay không, trong thời gian đó, cháu cũng đã đọc ít
nhất là 3 lần bài TÔI ĐỌC “BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN”
CỦA THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH của bác đăng trên giaodiemonline.
Cháu bị trì kéo, giằng co bởi một đằng: tác giả đã thuộc
vào hàng bác, đã vậy bác còn đứng vào hàng đại trí thức,
học giả trên cả hai chân đạo - đời ; đằng khác là câu
bác viết: Tôi đã học được nhiều từ những tác phẩm
của Thiền sư viết về Phật Giáo. Tôi nghĩ rằng những điều
Thiền sư giảng về Chánh Niệm, Tỉnh thức, Hiểu và Thương,
Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười v.v… rất
cần cho xã hội Việt Nam ngày nay.
Thưa
bác Ngọc, cuối cùng sự thôi thúc của câu trên đã thắng,
nó bắt cháu phải ngồi đây ( ngày Chủ Nhựt ) gõ bàn
phím ( thay vì đi dạo trong vườn ) để chia sẻ cùng bác vài
kinh nghiệm của thực hành Chánh Niệm, Tỉnh thức, Hiểu và
Thương, Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười
... nếu có gì không phải xin bác chỉ dạy thêm, cháu rất
cám ơn bác.
Chắc
có lẽ bác sẽ không ít ngạc nhiên nghĩ rằng: vì sao cả
một bài viết dài như thế kia mà thằng nhỏ không lý tới,
mà nó chỉ để ý có mấy chữ phụ thuộc là nghĩa lý gì?
Thưa bác Ngọc, theo cháu thì mọi sự mọi việc bác Ngọc
viết ở trên và ở dưới câu này. Cả thảy gồm 9208 từ
dàn trải trên 13 trang A4 đều do 17 chữ này mà ra bác ạ.
Vì cháu đã ngộ ra rằng bác Ngọc đã đọc nhiều tác phẩm
của thầy Nhất Hạnh ( rất nhiều ) nhất là những điều
Thầy giảng về Chánh Niệm, Tỉnh thức, Hiểu và Thương,
Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười nhưng bác
Ngọc không có thực hành cho nên mới có 9191 ( 9208 – 17 )
chữ không cần thiết kia. Chúng nó đã làm phiền lòng, làm
mất thì giờ cho bác, cho cháu, và cho nhiều người khác nữa.
Một điều đáng tiếc phải không bác!
Thưa
bác, cháu không biết nói lý thuyết, hay biện luận bác học
như bác, cháu chỉ muốn chia sẻ với bác một kinh nghiệm
trong vấn đề thực tập chánh niệm. Vì năm năm trở về
trước cháu cũng có suy nghĩ tương tự như bác, bởi vì hồi
đó cháu chỉ có đọc mà không có thực hành nên cháu đã
rất tự hào về đạo Bụt của mình về những giáo lý tuyệt
vời về biện chứng và khoa học, không mù quáng, không có
mê tín như nhiều tôn giáo khác,... với những nhận thức
phiếm diện ấy cháu đã từng vận dụng giáo lý ( đúng hơn
là lý thuyết của giáo lý ) để tranh luận với những người
bạn khác tôn giáo về nhiều vấn đề trong sự tín mộ của
họ. Cháu đã từng dõng dạc bác bỏ sự hiện hữu của Thượng
Đế trong các tôn giáo hữu thần. Cháu đã từng giận hờn,
trách móc, chống đối thái độ cực đoan không được dễ
thương cho lắm của những người anh em Kito. Cố nhiên, những
hành vi ấy đã gây cho cháu nhiều bất an trong lòng cho dù
chưa bao giờ cháu bị bại trong những cuộc tranh luận ấy,
và phía đối tác đã có thể xem cháu như một kẻ thù, một
tên tội đồ đáng ghét của của họ, nhiều khi cũng đáng
thương ( hại ) không chừng. Tóm lại, cháu đã đóng góp vào
việc củng cố những ác cảm vốn có của một số nhất
định nào đó trong đại khối tín đồ của các tôn giáo
hữu thần lên người Phật tử. Vô tình cháu đã làm cho họ
có một ấn tượng không tốt về đạo Bụt, hoặc ít nhất
họ cũng đã nghĩ cháu là một Phật tử không dễ thương.
Nhưng
bắt đầu từ năm năm trở lại đây, cháu lại tự cảm thấy
có lỗi với Bụt với chư Tổ về những hành vi hẹp hòi
cố chấp đó của mình. Lòng cháu bổng mềm ra và thương
được những người mà trước đây cháu cho là cực đoan,
cuồng tín, ... Sự đổi chiều nhận thức bằng 1 góc 180°
ấy không phải tình cờ mà do một cơ duyên đưa đến, và
một thời gian dài thực tập.
Chuyện
xảy ra vào một mùa hè của năm năm trước. Thay vì đi nghỉ
ở những trung tâm thư giản trong hay ngoài nước. Năm ấy
cháu đã dễ dàng nhận lời đề nghị của vài người bạn
Pháp. Họ đã rủ cháu về Làng Mai ở miền Nam nước Pháp
tham dự một khóa tu thiền. Họ nói với cháu là ở đó có
nhiều điều hay lắm, diệu kỳ lắm, v.v...
Như
đã thưa với bác ở trên là cháu cũng đã từng được đọc
một số tác phẩm của thầy Nhất Hạnh, cháu cũng đã từng
nghe về Làng Mai, nhưng tuy cùng ở nước Pháp nhưng cháu chưa
từng đặt chân tới Làng Mai bao giờ vậy mà không biết tại
sao năm đó cháu lại chấp nhận về Làng Mai một cách dễ
dàng như thế, có lẽ do tự ái mà ra, bởi vì họ là người
Pháp mà đã biết thực hành một pháp môn đạo Bụt của
người Việt Nam, trong khi mình là người Việt Nam mà chỉ
biết qua sách vở thôi thì mắc cỡ quá phải không bác!
Thế
là tại cái Làng Mai ở miền Nam nước Pháp đó, và chỉ có
ở đó, lần đầu chính mắt cháu đã thấy, chính tai cháu
đã nghe, chính thân cháu đã hành, và chính tâm cháu đã cảm
được mùi vị và lợi lạc của chánh nệm, tỉnh thức, hiểu
thương, thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười,
ăn cơm im lặng, thiền trà, thiền hành, thiền ôm trong lễ
Bông hồng cài áo v.v...
Bác
Ngọc có biết không, khoảng 95% thiền sinh tu tập tại Làng
Mai là người có gốc đạo Chúa, kế đến là các truyền
thống khác như Do Thái giáo, Hồi giáo, Anh giáo,... và Phật
giáo thì rất ít bác ạ. Họ là những ông Cha, những bà Sơ,
những ông Mục sư, những giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, luật sư,
kiến trúc sư, văn nghệ sĩ, chuyên gia, trí thức, người làm
việc tay chân, doanh gia, vọng tộc, cho chí những em sinh viên,
học sinh, và có cả các em bé nữa, ... đến từ nhiều quốc
gia, đủ mọi màu da, sắc tộc ( như năm rồi có đến 53 quốc
tịch khác nhau ), đủ mọi khuynh hướng chính trị, xã hội.
Điều kỳ diệu là họ đã sống chung với nhau một cách hài
hòa như anh chị em ruột thịt cùng cha, cùng mẹ. Họ cùng
nhau học Phật, thực hành theo Bụt một cách tinh chuyên miên
mật trong 24 giờ mỗi ngày và suốt cả khóa tu 4 tuần lễ
như thế.
Ở
đó, họ không được học lý thuyết về bất sanh, bất diệt,
bất cấu bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố không
trung ... Nhưng họ được huấn luyện cách quán chiếu về
đời sống của một chiếc lá từ khi còn là 1 nụ non trên
thân cây cho đến khi bụ bẩm xanh tươi rồi úa vàng và rơi
xuống đất... cứ như thế mà quán chiếu, và cháu nghĩ nhờ
đó họ đã chứng thực được bản chất của sinh diệt,
luân hồi, thường, vô thường... Chỉ với những cách thức
rất đơn giản như: thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng
cười, đã về đã tới, ăn cơm im lặng, thiền trà, thiền
hành, thiền ôm, ... vậy mà đã giúp họ làm chủ được những
cảm thọ, nhận biết được những tâm hành biểu hiện trong
từng sát na ( ksana ) nơi thân và tâm của họ. Và cũng nhờ
đó mà thình thương trong họ ngày càng lớn ra bác ạ, rất
đúng với lời dạy của thầy Nhất Hạnh là có Hiểu mới
có Thương, Hiểu càng sâu thì Thương càng rộng, Hiểu biết
sâu bao nhiêu thì tình Thương sẽ lớn lên bấy nhiêu, và cháu
thấy chỉ có như thế mình mới buông bỏ được những tâm
hành tiêu cực do định kiến, khái niệm thô thiển gây ra.
Có nhiều thiền sinh chia sẻ với cháu rằng, đôi khi chúng
nó ( tâm hành tiêu cực ) âm thầm rủ nhau ra đi lúc nào mình
cũng không hay, và chỉ biết được khi mình chạm phải một
sự kiện nào đó mà trước đây có thể làm cho mình nóng
giận mà nay thì chẳng những không nóng, không giận mà còn
nở được nụ cười với đối tượng, khi đó mình mới
biết là chúng nó đã ra đi. Nhiệm mầu quá phải không bác!
Bắt
đầu từ đó, năm nào cháu cũng để ra ít nhất là 2 tuần
lễ cho khóa tu mùa hè, ấy là không kể những lần khác trong
năm mỗi khi có cơ hội cháu đều dong về nhập vào trường
năng lượng tỉnh thức của đại chúng, cùng nương vào nhau
thực tập chánh niệm. Chính nhờ những thực tập học được
ở Làng Mai ấy mà giờ đây trong cháu đã có một đạo Bụt
rất mới, nó khác hơn khi chưa thực tập rất nhiều, cũng
nhờ đó mà cháu đã ngộ được bài học ăn chim trĩ * mà
khi xưa cháu cho đó là một thí dụ tầm thường. Trong đời
sống thực làm sao có người ngu ngốc đến như cái anh chàng
bịnh kia. Nhưng một khi tiếp xúc, thực tập, tu hành theo pháp
môn chánh niệm, tỉnh thức, ... mới thấy mình cũng đã từng
ngốc như cái anh chàng ngốc ấy. Cháu thấy rằng trước đây
mình đã từng tụng ăn chi trĩ, ăn chim trĩ, ... như tụng thần
chú, chứ chưa bao giờ được ăn chim trĩ thực sự.
Thành
ra, bác Ngọc đừng có lo như bác đã từng lo là bài viết
của bác: có thể làm cho một số người không hài lòng, phật
ý. Không, cháu không có giận bác một chút nào khi đọc những
gì bác viết rất sai lầm về bài BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN
THIỀN của Sư ông Nhất Hạnh. Chẳng hạn như bác viết rằng:
tôi thật tình không dám tin đó là sản phẩm trí tuệ của
Thiền sư Nhất Hạnh. Tôi có cảm tưởng là tên tuổi và
uy tín của Thiền sư ở ngoại quốc đã được sử dụng
cho những mục đích có thể nằm ngoài vòng kiểm soát của
Thiền sư. Nếu cháu hiểu không lầm, ở đây bác muốn ám
chỉ thầy Nhất Hạnh đã bị ai đó, hoặc một thế lực
ngoại quốc nào đó lợi dụng. Cháu nghĩ là sẽ có không
ít người giận bác về câu này, vì trước khi bắt đầu
bác đã có sẵn một định kiến không tốt về thầy Nhất
Hạnh mặc dù trước đó bác đã từng rào giậu rất kỹ
về lý do bác phải viết bài này. Cũng vì có sẵn chủ ý
trước nên bác đã đánh mất các tiêu chuẩn về trung thực,
khách quan, ... mà các nhà khoa học nói chung, một giáo sư tiến
sĩ khoa học tự nhiên như bác nói riêng bị bắt buộc phải
tuân thủ khi quan sát, nhận định, phân tích một bài viết,
một hiện tượng, một sự kiện nào đó, ở đây là bài
BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN của Sư ông Nhất Hạnh. Nhưng
riêng cháu, cháu đã không giận bác tí nào cả. Ai mà đi giận
người chưa từng thực sự ăn chim trĩ phải không bác.
Thưa
bác Ngọc, đúng ra cháu chỉ cần viết tới đây thôi cũng
đã đủ để bác cháu mình thông cảm nhau rồi. Nhưng cháu
đang ngại một điều khác là sẽ làm cho nhiều người thất
vọng về cháu nếu cháu không chỉ hết ra những bất cập
trong bài của bác. Vậy cháu xin phép được nói thêm đôi
điều, chỉ một đôi điều thôi, chứ mà chỉ hết ra e làm
mất nhiều thì giờ của bác.
Cháu
xin hỏi bác một câu: Công án thiền mà cũng có công thức
sao bác? Xin lỗi bác, cháu có câu hỏi này bởi vì bác viết
rằng: trong “ công án Bát Nhã ” này tôi thấy cả một tu
viện, mấy trăm Tăng thân Làng Mai và Pháp Nạn của Phật
Giáo Việt Nam, trái ngược hẳn với sự hiểu biết của tôi
về những “ công án ” mà tôi đã đọc, thường chỉ là
một mẫu đối thoại, một đoản văn, một câu chuyện ngắn
ngắn thuộc về Thiền Đạo. Sau đó bác lại tầm chương
trích cú ( việc bình thường của học giả ) ở những sách
vở của các thầy Chơn Thiện, Tuệ Sỹ, Đức Thắng, v.v...
( trong số các tác giả ấy có những thầy thuộc hàng học
trò của Thiền sư Nhất Hạnh họ đã từng dự các lớp học
do Thiền Sư trực tiếp giảng dạy trước đây ) chỉ để
phản bác rằng BÁT NHÃ KHÔNG LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN và chứng
minh ( cũng là việc bình thường của khoa học gia ) cho chủ
ý có sẵn ( tới đây thì đã mất bình thường ) của bác,
như cháu đã nêu ở trên. Thưa bác, cháu không thấy công án
BÁT NHÃ nó dài nhiều chữ như bác thấy. Có thể bị định
kiến trấn ngự cho nên bác đã lầm những lời giải thích
của Sư Ông là công án. Nguyên câu mà bác đã trích: Bát Nhã
đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Tăng thân Bát Nhã
đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính
quyền, là Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập
niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. đây chỉ là lời giải
thích ( có chữ đây là ), nó không phải là công án. Công
án BÁT NHÃ chỉ có 2 chữ BÁT NHÃ trơ trụi mà thôi. Thành
ra công trình tầm chương trích cú, quy nạp chứng minh đủ
điều tốn mất mấy trang giấy của bác chỉ để mất thì
giờ, gây rối, hỏa mù trí thức cho nhiều người, nó không
có ích lợi gì cho ai cả, trong đó có bác lẫn các ông Chủ
tịch nước, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng công an, Trưởng,
Phó ban tôn giáo, các vị học giả, giáo sư, tiến sĩ đang
làm việc trong Ban tuyên giáo Trung ương Đảng..., và có thể
( chỉ có thể thôi ) cả Đức Pháp chủ của Giáo Hội nữa.
Thật là tiếc cho bác, phải chi bác chịu theo chân cô Chân
Huyền một lần về Làng Hồng ăn chim trĩ thiệt thì đâu
đến nổi này bác nhỉ!
Tới
đây, cháu xin phép miễn bàn về số lượng công án mà bác
đã trích dẫn một cách không đáng trích vì nó có thể (
cháu nhấn mạnh 2 chữ : có thể ) làm cho người ta hiểu lầm
rằng đó là những hằng số không thay đổi, trái ngược
với giáo lý vô thường đang tác động trong từng sát na (
ksana ) của sự sống. Dễ hiểu hơn nữa, xin bác cho phép cháu
tạm ví vô thường tác động lên sự sống như là hình ảnh
của một dòng sông đang trôi chảy, vì thế cho nên không có
một hằng số nào có thể ngăn cản được nó, mà dù có
ngăn cản được đi nữa thì dòng sống sẽ không còn là chính
nó nữa, khi đó công án cũng sẽ không còn.
Thưa
bác Ngọc, bắt đầu phần chính của bài, bác đã tự tiện
thêm chữ công án vào lời giải thích ban đầu của Sư ông
Nhất Hạnh, bác viết rằng: Theo Thiền sư thì Công án Bát
Nhã là Công án Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Công án Tăng
thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn
cho chính quyền, là Công án Pháp nạn của Phật giáo Việt
Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt.
Trong khi câu viết của Sư Ông lại như vầy, cháu xin trích
dẫn thêm lần nữa: Bát Nhã đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo
Lộc, là Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một
mối băn khoăn cho chính quyền, là Pháp nạn của Phật giáo
Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm
mốt. Vì sao, và vì ai mà bác lại làm một việc thiếu đạo
đức như vậy hả bác Ngọc? Bác đã vô tình, hay cố ý đánh
lừa thiên hạ, có phải bác muốn cho người ta hiểu lầm
rồi sinh tâm oán ghét Sư Ông, và từ đó có thể ghét lây
một tập thể, một tăng thân thánh thiện có hàng chục vạn
con người trên thế giới? Viết như thế bác có biết bác
đã phạm vào bao nhiêu trọng giới, và ác nghiệp bác phải
mang, phải trả như thế nào không? Là Phật tử, là nhà nghiên
cứu, đọc nhiều kinh Phật cháu trộm nghĩ bác đã biết nhiều,
hiểu sâu giáo lý về nghiệp báo luân hồi, nhưng có thể
vì một phút thiếu chánh niệm nào đó nên bác vô tình phạm
phải, cháu mong là như vậy và xin nguyện cho bác được thoát
khỏi ác nghiệp này. Tội tùng tâm khởi, tùng tâm sám, cháu
hy vọng bác sẽ thành tâm sám hối chuyển hóa ác thành lành.
Cháu
biết rồi, bác phải thêm hai chữ ấy vào câu của Sư Ông
như thế bác mới có đủ cơ sở biến lời hướng dẫn thành
ra 3 thoại đầu đúng theo ý muốn của bác: 1. Tu Viện Bát
Nhã ; 2. Tăng Thân Bát Nhã ; 3. Pháp Nạn Của Phật Giáo Việt
Nam. Để từ đó bác mới đủ chứng lý phủ nhận công án
BÁT NHÃ, làm loạn cả tâm thần của chính bác.
- Có
lẽ vì bị loạn tâm cho nên bác Ngọc đã không thấy được
toàn bộ cơ sở vật chất Tu Viện Bát Nhã gồm thiền đường,
nhà bếp, cầu tiêu v.v… đã làm dấy lên lòng tham vô đạo
của nhiều người, trong đó ngoài một vài kẻ " xuất gia
" ra còn có một vị tướng của ngành công an vừa mới nghỉ
hưu, ấy là chưa kể đến những thành phần khác trong Chính
quyền các cấp nhảy vô xí phần san đoạt, ( người bình
dân gọi hành động ấy là cướp ngày ) ngả giá bán cho Hoa
kiều, Hàn kiều làm resort, vấn đề chỉ còn là thời gian
thôi ( xem bài GIẤC
MƠ CÒN ĐÓ BAO LÂU? ). Nếu thấy được như thế thì tu
viện Bát Nhã cũng xứng đáng là một thoại đầu lắm phải
không bác, nhờ những cơ sở vật chất nguy nga tráng lệ ấy
cộng với những cáo buộc dựng đứng như lời chứng: Muốn
giết chó thì phải nói con chó đó bị điên ( xem bài ĐẰNG
SAU ÁNH HÀO QUANG ) đã giúp người khán ( thoại đầu )
nhìn ra được những giá trị đạo đức cách mạng của các
quan chức Đảng, Chính quyền, Giáo hội nó xuống cấp như
thế nào rồi. Ở vị trí lãnh đạo mà còn như thế thử
hỏi tương lại đất nước sẽ đi về đâu? Ai còn tin được
ở những ông quan “ cướp ngày ” ấy, cướp được tu viện
để bán thì việc bán hải đảo, bán đất vùng biên giới
đi tới việc bán nước chắc cũng không xa lắm!
- Cũng
vì loạn tâm nên bác Ngọc đã không thấy được kiến giải:
Bát Nhã ngày xưa, nay đã thành mưa, rơi xuống mặt đất,
nẩy hạt Bồ đề. của một Sư Cô khoảng 18 tuổi và chỉ
tu được chừng 2 năm. Bác cũng không lý tới lời khai thị
của Thiền Sư rằng: ở trong một tình trạng bị đàn áp
và khủng bố thường xuyên như thế mà có những người trong
số họ vẫn cười dòn được, vẫn tươi như hoa, vẫn chế
tác được bình an và tình thương, vẫn không bị lo lắng
sợ hãi và hận thù lôi kéo một cách rõ ràng như thế mà
bác Ngọc vẫn cố tình không muốn hiểu, phải chăng bác đã
được ai đó đặt hàng trước nên bác phải tránh né đề
cập tới những giá trị thực hữu như thế? Nếu không, xin
bác Ngọc hãy tự đặt bác vào hoàn cảnh đó thử xem bác
có thể cười dòn và cười tươi được như hoa giống như
các thầy các sư cô trẻ đáng con, đáng cháu ấy của bác
không? Bác có giữ được bình an, không thù hận người gây
nên khổ cho mình không? Bác có thể nào không lo lắng cho tương
lai của bác không? Bác có tránh được sự lôi kéo bởi bên
này hay bên kia được không? Với một Sư Cô mới 18 tuổi
và tu chưa được hai năm ấy mà những bạo động, đàn áp,
khủng bố, cắt điện, cắt nước, đánh đập, xua đuổi,
bắt loa réo gọi ngày đêm, bắt rắn bỏ vào túi đựng bình
bát, chọi đá, lấp đường, xịt thuốc diệt trùng vào thức
ăn, đổ phân gà xuống suối hủy diệt nguồn nước dùng
cuối cùng, mưa đá, mưa gậy, mưa phân người, phân thú lên
thân thể bậc xuất gia, phụ nữ thò tay bóp bộ phận sinh
dục của thầy tu, phun nước miếng vào đầu, vào mặt tu
sĩ đang trì chú, niệm Phật, đi guốc đi dép vào chính điện,
leo lên bàn Phật căng biểu ngữ hoan hô đả đảo lên tôn
tượng Phật và Bồ tát, v.v... và v.v... tất cả bao nhiêu
bạo hành ác nghiệt ấy đối với Sư Cô là nước cam lộ,
là mưa: mưa xuống đất để hạt Bồ đề nảy mầm. Cháu
xin hỏi bác, ngoài Tăng thân Bát Nhã như hiện thời ai có
thể có được thái độ ung dung tự tại, một mực thương
người hại mình được như thế không? Nếu không có chứng
nghiệm bằng tự thân, bằng năng lượng của Niệm và Định
ấy liệu có ai có thể có được kiến giải như Sư Cô đó
không? Và vậy thì Pháp môn Làng Mai có đáng được áp dụng
cho Phật giáo Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung không?
Đáng lắm chứ bác!
- Và
vì loạn tâm nên bác Ngọc đã không thấy được Pháp nạn
của Phật giáo Việt Nam, bác Ngọc chỉ thấy một việc rất
sai trái ( tà kiến ) rằng gần 400 tăng thân ấy không phải
là con, là cháu của Tổ quốc, của chư tôn đức trong Giáo
Hội, cho nên bác mới có sự phân biệt Bát Nhã - Làng Mai
với đạo Phật Việt Nam mặc dù đại bộ phận của gần
400 con người ấy chưa từng được đặt chân đến Làng Mai
ở Pháp bao giờ. Bác đã nhắm mắt không muốn thấy tờ Thông
cáo Chiêu sinh do ai ký tên, tờ Nội quy, và những Nguyên tắc,
Tiêu chuẩn để được trở thành Tu sinh của Tu viện Bát
Nhã như thế nào. Vì không muốn thấy, cho nên bác cũng không
muốn điều tra tìm hiểu xem những thông tin mà bác nghe từ
quý ngài Trưởng, Phó ban Tôn giáo Chính phủ, Vụ trưởng
Phật giáo vụ, Phát ngôn viên Bộ ngoại giao, Trưởng, Phó
Chủ tịch UBND Lâm Đồng, Công an, Mặt trận, Báo đài của
Đảng, v.v... Những con người có khả năng nay nói thế này
mai nói thế khác, khi thì Trụ trì ngưng bảo lãnh thì không
được ở, phải giải tán về nguyên quán. Mốt thì: nếu
có 1 tu viện nào bảo lãnh thì được về đó tiếp tục tu
tập theo pháp môn chọn lựa, đến khi có nơi đứng ra bảo
lãnh thì viện cớ: không được tập trung đông người. Ngày
kia thì bảo vi phạm pháp luật, vị thành niên xuất gia không
có sự đồng ý của cha mẹ... Nếu có vi phạm pháp luật
tại sao không đưa họ ra tòa, nếu ai vi phạm nguyên tắc xuất
gia dành cho vị thành niên sao Giáo hội không có biện pháp
đối với cá nhân đó? Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam là một nhà nước pháp quyền thì ai vi phạm pháp luật
đã có tòa án, tại sao Viện công tố ( kiểm sát nhân dân
) không truy tố họ ra tòa mà phải áp dụng đến biện pháp
thuê " côn đồ " giả danh Phật tử ; cán bộ, sĩ quan, nhân
viên an ninh cảnh sát thì giả dạng thường dân để chỉ
huy đánh phá, giải tán bằng còi hiệu??? Bao nhiêu câu hỏi,
bao nhiêu nghi vấn như vậy mà bác Ngọc đã không xem xét tới,
một nguyên tắc mà người nghiên cứu như bác không được
phép bỏ qua. Vậy mà bác đã bỏ qua tất cả, nhắm mắt tin
vào lời nói điêu ngoa giả trá của họ hơn là sự thật
trước mắt có hình, có phim ảnh, có người chứng, vật chứng
đầy đủ cả trong lẫn ngoài nước, cả người Việt Nam
lẫn người ngoại quốc, cả thường dân lẫn viên chức ngoại
giao Âu - Mỹ. Bác Ngọc cũng không muốn thấy những công văn,
kiến nghị, đề xuất bảo lãnh cho Tăng thân tiếp tục ở
lại Tu viện Bát Nhã của Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh Hội
Lâm Đồng ; giấy bảo lãnh Tăng thân của quý Hòa thượng
viện chủ tu viện Toàn Giác và thiền viện Trúc Lâm. Bác
cũng quên luôn các công văn số 500/CV.HĐTS và 505/CV.HĐTS
ngày 09 tháng 11 năm 2009 của HĐTS-GHPGVN do Hòa thượng Thích
Thiện Nhơn, Phó chủ tịch Hội đồng Trị sư kiêm Tổng thư
ký GHPGVN phê duyệt 2 Đơn Bảo Lãnh trên, ... Tất cả những
thứ đó không phải là ước muốn che chở, bảo lãnh của
các bậc tôn túc trong GHPGVN từ địa phương, tới trung ương
thì là gì? Vì sao mà ước nguyện của quý ngài không thành?
Có phải chăng quý ngài đã không có thực quyền, chỉ muốn
chở che cho con cháu mình mà cũng không được nếu đó không
phải là Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong thập niên
đầu của thế kỷ này thì là gì thưa bác Trần Chung Ngọc?
Đó là cháu chưa nói tới Huyết Thư, Lệ Thư của Tăng Ni
trẻ trong Giáo Hội, nếu tính hết đơn thư, kiến nghị của
đồng bào các giới, các thành phần trí thức, công nông,
nghệ sĩ, văn sĩ, doanh thương, giáo sĩ tín đồ các tôn giáo
bạn v.v... có lẽ phải gọi đó là Quốc nạn mới đúng thưa
bác Ngọc!
Trong
phần giải thích thế nào là công án trước khi sang phần
khai thị Thiền Sư đã cảnh cáo với chúng ta một cách rõ
ràng rằng:
Công
án không thể được giải quyết bằng lý luận, bằng biện
chứng pháp, dù là biện chứng pháp duy tâm hay duy vật, mà
phải được giải quyết bằng niệm lực và định lực, nghĩa
là bằng năng lượng của chánh niệm và chánh định. Giải
được công án thì ta thấy khỏe, không còn lo sợ thắc mắc
gì nữa, là thấy được con đường đi, là đạt được sự
an tâm.
Nếu
nghĩ rằng con chó có Phật tính hay không là một vấn đề
của riêng con chó, hoặc nghĩ đó là một vấn đề triết
học cần phải giải quyết, thì đó chưa phải là một công
án.
Nếu
nghĩ rằng cái một đi về đâu là một vấn đề chỉ liên
hệ tới sự vận hành của thế giới khách quan bên ngoài
thì đó cũng không phải là một công án.
Nếu
nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó
khăn, đang cần một giải pháp “ hợp tình hợp lý " thì
đó cũng không phải là một công án.
Đã
thế mà bác Ngọc vẫn cứ dùng lý luận, biện chứng pháp
một cách cưỡng ép, thiếu trong sáng, đôi khi vô đạo để
cố tình bác bỏ công án BÁT NHÃ. Cố ý hiểu sai, bóp méo
những sự kiện thật trong phần khai thị của Thiền Sư để
đánh lừa dư luận, mua chuộc sự đồng tình của một số
ít Phật tử nhưng không có tu, không có học, bị cơ chế
toàn trị mị dân tuyên truyền sai sự thật để các quan được
vinh thân trường trị. Thì ra bác Ngọc có khác chi các bác,
các cô, các chú, các anh, các chị, các em bị gọi là " côn
đồ " được công an, chính quyền thuê tới tu viện Bát Nhã
và chùa Phước Huệ để bóp cổ, đánh đập, bóp vào bộ
phận sinh dục, khạc nhổ phun nước miếng vào mặt vào đầu
tu sĩ, để đập phá chùa viện, tượng đài, tung phân người
phân thú lên mình nhà sư, v.v... để cuối buổi được chính
quyền trả vài trăm ngàn, và bác cũng không khác chi những
công an, cán bộ Đảng, sĩ quan công an cấp tướng, ... đeo
khẩu trang mặc thường phục giả dạng thường dân chỉ huy
đám " côn đồ " nghèo khổ kia thực hiện kế hoạch của
Trung ương giao phó.
Nhưng
bác Ngọc ơi, cháu không có giận bác, cũng như không bao giờ
giận tất cả những ai làm khổ, giải tán Tăng thân một
cách bất minh, và phi luật như thế đâu. Ngay cả ông tướng
công an ( mới về hưu ) đòi hối lộ 5 tỉ đồng thì tăng
thân Bát Nhã sẽ được ở yên tu học tại Tu Viện, và ông
sẽ tống cổ Thượng tọa Viện chủ đi chỗ khác chơi ...
mà cháu còn không giận huống chi bác. Bởi vì cháu biết rằng
tất cả những tâm hành tiêu cực ấy không phải là bản
chất thật của bác, cũng như không phải của những con người
ấy, đó chỉ là sự giả tạm nhất thời mà thôi, vì Tổ
đã dạy rằng: Con chó cũng có Phật tánh, và Bụt thì lại
nói: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh mà cháu thì đã
có niềm tin lớn vào những lời dạy ấy, vì cháu thấy mình
có rất nhiều may mắn và nhiều diễm phúc mới thấy được,
nghe được, cảm được cái tánh Phật ấy thể hiện ở Tăng
thân Bát Nhã rất đúng với kiến giải trên của Sư Cô 18
tuổi kia, cháu xin trích lại đây thêm một lần nữa để
bác chiêm nghiệm: Bát Nhã ngày xưa, nay đã thành mưa, rơi
xuống mặt đất, nẩy hạt Bồ đề.
- Nếu
nghĩ rằng Bát Nhã là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó
khăn, đang cần một giải pháp “ hợp tình hợp lý " thì
đó cũng không phải là một công án. Sư Ông đã nói rất
rõ như thế mà bác Ngọc cứ vin vào những vấn đề của
400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một giải pháp “
hợp tình hợp lý " để cố trích dẫn những điều không
thật, những sự kiện dựng đứng của Chính quyền để cố
biện luận cho bằng được rằng BÁT NHÃ không phải là một
công án, rồi dựa vào đó mà tầm chương, trích cú, lập
lại những tuyên bố của các quan chức chính quyền để trách
cứ Sư Ông, đôi khi bác Ngọc còn lạc đề bước sang lãnh
vực giáo lý giải thích nhập nhằng pháp môn Làng Mai với
Thiên Chúa giáo, chỉ trích thiền phổ BÔNG HỒNG CÀI ÁO có
số tái bản đến mấy ngàn lần, được hàng triệu người
Việt Nam lẫn hàng chục quốc tịch khác trên thế giới cùng
áp dụng. Trách cứ Sư Ông cống cao ngã mạn, Nhà nước đã
đưa tay ra, nhưng Thiền sư đã không thèm bắt tay, viện một
lý do không có tính cách thuyết phục v.v... Nhưng trước sau
gì bác Ngọc cũng chỉ nghe, và chỉ muốn thấy có một chiều
từ đầu bài cho tới cuối bài dài 13 trang A4 của bác. Nhưng
bác Ngọc đã không chứng minh được một cách khách quan rằng
BÁT NHÃ không phải là MỘT CÔNG ÁN THIỀN.
Cháu
nghĩ, tới đây đã đủ để bác Ngọc thấy được vấn đề
một cách khách quan hơn trước nhiều rồi, xin miễn bàn đến
những đối tượng ( hành giả ) cần quán chiếu Công án vì
cháu sợ bàn càng nhiều cháu có thể càng bị bác lên án
là vô lễ với người lớn. Vậy cháu xin phép bác cho cháu
khép lại cuộc đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm tu học rất
chân thành của cháu ở đây. Kính chúc bác Ngọc luôn an lạc,
và tỉnh thức!
Bài
liên quan: Tôi đọc “Bát Nhã
là một Công án Thiền” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh -
Trần Chung Ngọc
Cháu
của bác,
Hoàng
Phi Long
Paris,
28.2.2010
( Tác
giả gửi bài này tới website giaodiemonline.com với mong muốn
được Giao Điểm phổ biến trong tinh thần vô tư và khách
quan của tờ điện báo. Đồng thời cũng gửi tới trang nhà
phusa.info mong trang nhà Phù Sa phổ biến để rộng đường
dư luận. )
*Trong
kinh Bách dụ có một ví dụ rằng: Có một người bệnh năm
này sang năm khác. Hôm đó anh gặp một ông thầy thuốc rất
giỏi, khám bệnh xong ông nói như thế này: bây giờ anh đi
mua vài con chim trĩ về làm thịt, nấu cháo ăn thì hết bệnh.
Sau khi ông thầy thuốc đi, anh chàng này sướng quá, anh ngồi
và lặp lại chữ đó: chim trĩ, chim trĩ. Anh lặp lại như
vậy hoài, anh lặp lại mấy tháng mà không thấy lành bệnh
gì cả. Tại vì anh đã nắm lấy ảnh tượng và đánh mất
bản chất. Có một người bạn khác tới, thấy anh nói chim
trĩ, chim trĩ một cách điên rồ như vậy mới hỏi: anh làm
gì vậy? Anh ta trả lời: Ông thầy thuốc nói tôi phải áp
dụng chim trĩ thì tôi mới có thể lành bệnh được, thành
ra tôi cứ tụng niệm chữ chim trĩ. Người bạn đó mới phát
khởi lòng thương, anh ta nói: anh lầm rồi, ngồi xuống đây.
Anh cầm cây viết vẽ lên một con chim trĩ: đây này, con chim
trĩ như vậy nè, anh phải ăn nó thì anh mới có thể lành
bệnh được. Ngay khi người bạn đó đi khỏi, anh chàng này
mới lấy cái kéo cắt con chim trĩ đó ra, rồi anh thuê thợ
vẽ thêm nhiều chim trĩ nữa, anh cắt ra anh nuốt. Anh nuốt
bao nhiêu là chim trĩ bằng giấy mà vẫn không lành bệnh. Rốt
cuộc ông thầy cũ tới và nghe được câu chuyện đó. Ông
thầy không nói nữa, ông dắt anh ta ra chợ mua mấy con chim
trĩ về, bảo người nhà nấu cháo bắt anh ăn ngay tại chỗ,
rồi anh ta lành bệnh.
VỀ
BÀI VIẾT “CÔNG ÁN”
CỦA HOÀNG
PHI LONG
Trần
Chung Ngọc
04 tháng 3, 2010
LTS:
Thường thường người ta không muốn có căng thẳng giữa
những người trong cùng một tập thể mà sự thể hiện nằm
trong các bài viết phê phán. Nhưng sống trong một tập thể
dù nhỏ đến đâu, ngay cả trong một gia đình, cũng vẫn có
tranh luận. Thường thì kết quả của tranh luận ít khi đưa
đến việc đồng ý với nhau. Ngoại trừ những trường hợp
không thể nói đến trong không khí lành mạnh, tranh luận chưa
hẳn là không có khía cạnh tốt của nó. Có những tranh luận
để mỗi người được "lớn lên", có những tranh luận để
mỗi bên trở nên sắc bén hơn, cũng như có những tranh cãi
để mỗi bên khiêm nhượng hơn. Tòa soạn cho rằng những
bài tranh luận dưới đây nếu không có được những điểm
tích cực cho đôi bên cũng như độc giả thì cũng không có
gì là tiêu cực. Những bài liên hệ đề cập trong bài sau
đây đều được dẫn đến bài gốc do đường dẫn ẩn ngay
trong tựa bài. Độc giả có thể bấm vào tựa để xem nguyên
văn. Trân trọng (SH).
Tôi
vừa đọc bài “Bát Nhã: Công Án Hay Không Công Án?” của
cháu Hoàng Phi Long trên giaodiemonline.com trong đó cháu đưa ra
một số ý kiến về bài “Tôi Đọc “Bát Nhã Là Một Công
Án Thiền” Của Thiền Sư Nhất Hạnh”. Tôi không hiểu tại
sao Giao Điểm lại cho đăng bài đó. Không phải tôi đặt
vấn đề với Giao Điểm vì Hoàng Phi Long viết tiêu cực về
tôi, mà vì bài đó không thuộc loại “kiến hòa đồng giải”.
Nội dung bài của Hoàng Phi Long không có tính cách “kiến
hòa đồng giải” và văn phong không hợp với tiêu chuẩn
nghiên cứu trí thức của Giao Điểm. Giao Điểm cũng hi vọng
tôi và Hoàng Phi Long sẽ viết qua các đề tài khác. Tôi hiểu,
vì vấn nạn Bát Nhã là một vấn đề nhức nhối đối với
tất cả mọi phía đã từng có mặt trong, hoặc quan tâm đến,
vụ việc này, cho nên chẳng nên kéo dài. Vì vậy trong bài
này tôi sẽ không bình luận gì thêm về vụ việc Bát Nhã
hay về “Bát Nhã Là Một Công Án Thiền” của Thiền sư
Nhất Hạnh.
Thật
ra thì với loại văn phong của Hoàng Phi Long trong bài “Bát
Nhã: Công Án Hay Không Công Án?” mà đôi khi tôi thường thấy
trong vài bài mà các thân hữu gửi cho tôi với mục đích
thông tin, tôi thường không bao giờ bận tâm để ý. Nhưng
đây là một trường hợp đặc biệt về một bài phản biện
rất hiếm hoi đối với tôi. Tôi đã viết rất nhiều bài
đăng trên Giao Điểm và Sách Hiếm nhưng hầu như không thấy
ai viết một bài phản biện nào. Hơn nữa, Hoàng Phi Long tự
nhận là một đệ tử của Làng Mai và đã thực tập Chánh
Niệm trong nhiều năm. Điều đáng để ý là tác giả nhân
danh là hàng hậu bối, xưng hô cháu cháu bác bác, nhưng lại
viết với nhiều đoạn văn phong không tương xứng với quan
hệ “bác-cháu như quan hệ gia đình vừa huyết thống vừa
tâm linh”, quy kết nhiều điều vô căn cứ, nên tôi cũng
bỏ chút thì giờ để khai sáng vài điều cho một người
còn trẻ. Do đó, bài này chỉ có mục đích giáo dục cá nhân,
chứ không phải để tranh cãi đôi co với một hậu bối.
Sau đây tôi sẽ đi vào vài đoạn trong bài của Hoàng Phi Long.
۞
HPL:
Kính chào bác Ngọc, trong tình nghĩa đồng bào xin bác vui lòng
chấp nhận cách xưng hô bác - cháu này, thay vì gọi bác là
Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, và xưng tôi nghe có vẻ
ngăn cách, khó cảm thông nhau bằng bác - cháu như quan hệ
gia đình vừa huyết thống vừa tâm linh giữa hai bác cháu
mình.
TCN:
Chào cháu Hoàng Phi Long, cháu xưng hô như vậy là rất phải.
Trong tất cả các bài viết của bác, bác chẳng bao giờ xưng
là Giáo sư Tiến sĩ cả. Bác quan niệm rằng giá trị của
một bài viết không nhất thiết phải tương xứng với bằng
cấp, địa vị, chức tước, danh vọng v..v.. của tác giả,
mà tùy thuộc vào nội dung đúng hay sai, văn phong và tài liệu
quy chiếu, cùng những lý luận để hỗ trợ cho lập luận
của tác giả ở trong bài có giá trị trí thức không. Với
quan niệm như vậy, đọc bài của cháu với nhiều đoạn văn
phong xách mé, còn trẻ mà đã muốn dạy đời bằng những
sự khoe khoang và hiểu biết phiến diện của mình về Phật
Pháp, và nhất là nhắc lại những luận điệu một chiều
quen thuộc xung quanh vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã, bác cảm
thấy thật tội nghiệp cho cháu.
۞
HPL:
Vì cháu đã ngộ ra rằng bác Ngọc đã đọc nhiều tác phẩm
của thầy Nhất Hạnh (rất nhiều) nhất là những điều Thầy
giảng về “Chánh Niệm”, “Tỉnh thức”, “Hiểu và Thương”,
“Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười” nhưng
bác Ngọc không có thực hành cho nên mới có 9191 (9208 - 17)
chữ không cần thiết kia.
TCN:
Điều sơ đẳng nhất trong một bài phê bình là không bao giờ
nên đoán mò khi mà mình không biết rõ, nhất là chỉ dựa
theo sự suy đoán tầm bậy của mình. Tiểu xảo đoán mò này
chúng ta thường thấy trên các diễn đàn truyền thông hải
ngoại, không phải là để đối thoại trí thức theo đúng
tinh thần của đối thoại, mà là một thủ đoạn chụp sự
đoán mò hay cố ý đoán mò hay bịa đặt của mình lên đối
phương với mục đích hạ thấp đối phương. Tiểu xảo đoán
mò này thực ra chỉ là “viết bậy” cho nên không đáng
phải bận tâm. Bác đã gặp tiểu xảo này rất nhiều lần,
nhưng bác chưa bao giờ bận tâm cải chính. Bác có thực tập
những điều trên hay không thì chỉ có mình bác biết, và
bác không có bổn phận cho ai biết là bác đã thực tập,
hay không thực tập, những gì và như thế nào..
Cháu
đã biết là Phật Giáo có tới “84000” Pháp môn để tu
tập, vậy thực hành, hay không thực hành, một vài Pháp môn
đâu có nói lên được điều gì, tại sao phải đặt nặng
vấn đề thực hành, hay không thực hành, vài Pháp môn mình
thực tập và muốn người khác cũng phải thực tập những
Pháp môn đó như mình? Nhưng thú thực cùng cháu, ngay khi bác
viết bài này thì bác chẳng còn nghĩ đến “Chánh Niệm”,
“Tỉnh thức”, “Hiểu và Thương”, hay “Thở vào tâm
tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười” . Bác cảm thấy rằng
những phương pháp tu tập trên, đối với những người hiểu
biết, thì rất có thể họ sẽ thực tập nếu họ muốn,
và khi nào có thể, còn lúc nào cũng phải nhớ đến chúng
và ép mình làm theo lời dạy thì đó là một hình thức trói
buộc. Bác rất bận, nên “không có thì giờ” để thực
tập “Chánh Niệm”, “Tỉnh thức”, “Hiểu và Thương”
“Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười” suốt
ngày.
Thật
ra thì những phương pháp thực tập này là ngày xưa Đức
Phật dạy cho Tăng đoàn của Ngài, và ngày nay mang ra áp dụng
cho những người coi ngồi thiền hay hành thiền là cứu cánh,
hoặc những người dự các khóa tu trong một vài ngày hay vài
tuần lễ để có sự bình an trong tâm, cái “tâm viên ý mã”
mà ai cũng có. Lãnh vực của “chánh niệm” là “tứ niệm
xứ” nhưng không phải lúc nào con người cũng có thể quán
thân bất tịnh, quán thọ khổ, quán tâm vô thường, và quán
Pháp vô ngã. Tỉnh thức, theo nguyên nghĩa chính là giác ngộ.
Đối với đại chúng suốt ngày lo cho cuộc sống của mình
và gia đình, đối diện với bao nhiêu vấn nạn trong xã hội,
làm gì có thì giờ để mà thực tập. Không thực tập không
có nghĩa là họ không có tâm bình an, không có lòng vị tha,
không có tình thương, không biết gì về từ bi hỉ xả v…v…
, và không dùng chúng để mang lại những lợi ích thực tế
cho xã hội, thay vì cho bản thân.
۞
HPL:
Thưa bác, cháu không biết nói lý thuyết, hay biện luận bác
học như bác, cháu chỉ muốn chia sẻ với bác một kinh nghiệm
trong vấn đề thực tập chánh niệm. Vì năm năm trở về
trước cháu cũng có suy nghĩ tương tự như bác, bởi vì hồi
đó cháu chỉ có đọc mà không có thực hành.
TCN:
Đây lại là một câu thuộc loại đoán mò của cháu, suy bụng
ta ra bụng người. Cháu đọc mà không thực hành và cháu cũng
đoán mò là bác đọc mà không thực hành. Cháu nên học cách
viết cho đàng hoàng, không nên viết bậy về những điều
mình không biết. Kinh nghiệm thực tập chánh niệm của cháu
là của cháu, không liên quan gì đến kinh nghiệm thực tập,
hay không thực tập, của bác. Bác cũng không có hứng thú
để biết về kinh nghiệm thực tập của cháu.
Trong
một bài viết thuộc loại phê bình hay đối thoại, thường
người ta chỉ tập trung vào việc nhận định về các đoạn
văn, văn phong, luận cứ ở trong bài mà người ta muốn phê
bình. Đi ra ngoài tiêu chuẩn này là chưa biết phê bình hay
đối thoại. Ngoài ra, tối kỵ là viết về cá nhân mình,
không những nó lạc đề mà độc giả thường không quan tâm,
không muốn biết, và thường không tin những gì mình viết
về chính mình. Vì ai cũng có thể bịa ra vài điều để quảng
cáo cho chính mình mà độc giả không có cách nào kiểm chứng.
Đây là những điều cháu cần hiểu rõ để rút kinh nghiệm
và viết cẩn thận hơn trong tương lai, nếu cháu còn can đảm
để viết. Vì không hiểu được như vậy, nên trong cả một
đoạn dài tiếp theo, cháu chỉ kể về những chuyện cá nhân,
những chuyện mà người đọc thường chẳng mấy ai quan tâm.
Người Mỹ thường nói về những trường hợp này: “Who
cares?”.
Nội
dung những đoạn này không ngoài tự đề cao cá nhân là mình
đã lột xác sau khi theo Làng Mai và quảng cáo cho Pháp Môn
Làng Mai. Nhưng càng đọc bác càng thấy cháu chỉ nói như
con vẹt, nhắc lại những điều mà cháu nghe được, một
mớ lý thuyết suông tương phản với những lời tự khoe về
sự thực tập của cháu, cho nên bác chẳng buồn phê bình
làm chi. Tuy nhiên có vài đoạn bác cũng muốn điểm qua.
۞
HPL:
Bác Ngọc có biết không, [TCN: BIẾT ĐỂ LÀM GÌ?] khoảng 95%
thiền sinh tu tập tại Làng Mai là người có gốc đạo Chúa,
kế đến là các truyền thống khác như Hồi giáo, Anh giáo,
Do Thái giáo,... và Phật giáo thì rất ít bác ạ. Họ là những
ông Cha, những bà Sơ, những ông Mục sư, những giáo sư, bác
sĩ, kỹ sư, luật sư, kiến trúc sư, văn nghệ sĩ, chuyên gia,
trí thức, người làm việc tay chân, doanh gia, vọng tộc, cho
chí những em sinh viên, học sinh, và cả em nhỏ, ... đến từ
nhiều quốc gia, đủ mọi màu da, sắc tộc (như năm rồi có
đến 53 quốc tịch khác nhau), đủ mọi khuynh hướng chính
trị, xã hội. Điều kỳ diệu là họ đã sống chung với
nhau một cách hài hòa như anh chị em ruột thịt cùng cha, cùng
mẹ. Họ cùng nhau học Phật, thực hành theo Bụt một cách
tinh chuyên miên mật trong 24 giờ mỗi ngày và suốt cả khóa
tu 4 tuần lễ như thế.
TCN:
Đây là những điều mà Làng Mai thường xuyên nói lên để
quảng cáo cho Làng Mai. 4 tuần lễ là 28 ngày. 28 ngày thực
hành theo Bụt [sic] [theo Bụt hay theo thầy?] trong 24 giờ một
ngày không ngủ. Có vẻ như Pháp môn Làng Mai là để cho những
con người phi thường, rất đáng phục. Nhưng sau khóa tu thì
sao?
۞
HPL:
Ở đó, họ không được học lý thuyết về bất sanh, bất
diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố
không trung ... Nhưng họ được huấn luyện cách quán chiếu
về đời sống của một chiếc lá từ khi còn là 1 nụ non
trên thân cây cho đến khi bụ bẩm xanh tươi rồi úa vàng
và rơi xuống đất... cứ như thế mà quán chiếu, và cháu
nghĩ nhờ đó họ đã chứng thực được bản chất của sinh
diệt, luân hồi, thường, vô thường...
TCN:
Tâm Kinh không phải là một “lý thuyết”. Bản chất của
sinh diệt, luân hồi, vô thường… có ngay trước mắt trên
vạn pháp đối với những người có một tâm hồn nhạy cảm
và biết quan sát. Đông qua, Xuân tới. Lá rụng rồi lại mọc.
Tuyết xuống, tuyết tan. Hoa nở, rồi tàn. Trẻ đó, già đó.
Hợp đó, tan đó. Ước vọng đó, tan vỡ đó. Khỏe đó, bệnh
đó. Sống đó, chết đó v.v… và v.v…. Không cần phải quán
chiếu đời sống của một chiếc lá làm gì cho mất thì giờ.
۞
HPL:
Chỉ với những cách thức rất đơn giản như: thở vào tâm
tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười, đã về đã tới, ăn
cơm im lặng, thiền trà, thiền hành, thiền ôm, ... vậy mà
đã giúp họ làm chủ được những cảm thọ, nhận biết
được những tâm hành biểu hiện trong từng xác na nơi thân
và tâm của họ. [Lại là đoán mò về người khác] Và cũng
nhờ đó mà tình thương trong họ ngày càng lớn ra bác ạ,
rất đúng với lời dạy của Thầy Nhất Hạnh là có Hiểu
mới có Thương, Hiểu càng sâu thì Thương càng rộng, Hiểu
biết sâu bao nhiêu thì tình Thương sẽ lớn lên bấy nhiêu,
và cháu thấy chỉ có như thế mình mới buông bỏ được
những tâm hành tiêu cực do định kiến, khái niệm thô thiển
gây ra.
TCN:
“Nói thì hay, vỗ tay thì dở” Tình thương đặt không đúng
chỗ có thể gây nhiều hại hơn là giúp được cái gì. Tình
thương đặt không đúng chỗ nhiều khi chỉ có tính cách mị
dân, có hại cho xã hội, đó là tình thương mù quáng.. Chỉ
có sự thật mới có khả năng giúp, làm thức tỉnh và chuyển
hóa con người. Và giúp cho con người biết rõ sự thật mới
chính là tình thương thực sự. Chúa Giê-su đã chẳng từng
nói, John 8:32: “Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự
thật sẽ cởi trói cho các ngươi” [Then you will know the truth,
and the truth will set you free.] Đạo Phật là đạo của trí tuệ.
Chỉ có trí tuệ và sự hiểu biết rõ ràng mới có thể giúp
cho hành giả đặt tình thương cho đúng chỗ. Tình thương
phải phát xuất từ lòng từ bi. Từ là cho vui, và bi là cứu
khổ. Cháu nên nhớ, thế giới ngày nay, ít ra là 99.99%, sống
trong Tục Đế chứ không sống trong “Chân đế” của nhà
Phật. Trong Tục đế, ước vọng càng cao thì thất vọng càng
lớn. Còn chưa ở trong Chân đế thì chưa thể áp dụng được
những ý tưởng hay tiêu chuẩn của Chân đế.
۞
HPL:
Thành ra, bác Ngọc đừng có lo như bác đã từng lo là bài
viết của bác: "có thể làm cho một số người không hài
lòng, phật ý". Không, cháu không có giận bác một chút nào
khi đọc những gì bác viết rất sai lầm về bài “BÁT NHÃ
LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN” của Sư ông Nhất Hạnh. Chẳng hạn
như bác viết rằng: "tôi thật tình không dám tin đó là sản
phẩm trí tuệ của Thiền sư Nhất Hạnh. Tôi có cảm tưởng
là tên tuổi và uy tín của Thiền sư ở ngoại quốc đã được
sử dụng cho những mục đích có thể nằm ngoài vòng kiểm
soát của Thiền sư". Nếu cháu hiểu không lầm, ở đây bác
muốn ám chỉ thầy Nhất Hạnh đã bị ai đó, hoặc một thế
lực ngoại quốc nào đó lợi dụng.
TCN:
Cháu cho rằng bác phải bận tâm đến cái giận, hoặc không
giận, của cháu đối với bác hay sao? Cháu có giận thì chỉ
tự mình làm khổ mình mà thôi, vậy không giận là phải.
Bác đã viết là có thể bác nghĩ sai nhưng bác không thể
nghĩ khác được. Tại sao? Bác đã nói rõ: với sự hiểu
biết của bác về Thiền Sư Nhất Hạnh qua một số không
ít những tác phẩm viết về Phật Giáo của Thiền sư trước
đây, bác thật tình không dám tin đó là sản phẩm trí tuệ
của Thiền sư Nhất Hạnh. Còn của ai thì Bác không dám lạm
bàn, không ám chỉ ai hết. Nhưng nếu thật đó là của Thiền
sư Nhất Hạnh thì bác thành thực xin lỗi Thiền sư vì đã
nghĩ sai, nhưng xin lỗi trong niềm thất vọng, thất vọng vì
sự xuống cấp của một người mà bác đã từng ngưỡng
mộ. Bác có thể nghĩ sai về tác giả bài “Bát Nhã Là Một
Công Án Thiền”, nhưng những điều bác viết trong bài thì
không sai Hãy đọc kỹ lại bài “Bát Nhã Là Một Công Án
Thiền”, từ những tư tưởng cho đến văn phong thì sẽ hiểu
tại sao bác lại nghĩ và viết như vậy..
۞
HPL:
Cháu nghĩ là sẽ có không ít người giận bác về câu này,
vì trước khi bắt đầu bác đã có sẵn một định kiến
không tốt về thầy Nhất Hạnh mặc dù trước đó bác đã
từng rào giậu rất kỹ về lý do bác phải viết bài này.
Cũng vì có sẵn chủ ý trước nên bác đã đánh mất các
tiêu chuẩn về trung thực, khách quan, ... mà các nhà khoa học
nói chung, một giáo sư tiến sĩ khoa học tự nhiên như bác
nói riêng bị bắt buộc phải tuân thủ khi quan sát, nhận
định, phân tích một bài viết, một hiện tượng, một sự
kiện nào đó, ở đây là bài “BÁT NHÃ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN”
của Sư ông Nhất Hạnh.
TCN:
Bác viết thuần túy dựa trên lô-gíc và phân tích các vấn
đề trong nội dung của bài, không phải vì định kiến. Tiêu
chuẩn về trung thực, khách quan của cháu về bài của Thiền
sư Nhất Hạnh là như thế nào, cháu có thể cho bác biết
không. Và bác đã viết không trung thực, không khách quan ở
chỗ nào, cháu có thể vạch ra không? Có phải là cháu cho
rằng bác đã không trung thực, không khách quan như trong đoạn
cháu viết sau đây.
۞
HPL:
Cháu xin hỏi bác một câu: Công án thiền mà cũng có công
thức sao bác? Xin lỗi bác, cháu có câu hỏi này bởi vì bác
viết rằng: "trong “công án Bát Nhã” này tôi thấy cả một
tu viện, mấy trăm Tăng thân Làng Mai và Pháp Nạn của Phật
Giáo Việt Nam, trái ngược hẳn với sự hiểu biết của tôi
về những “công án” mà tôi đã đọc, thường chỉ là
một mẫu đối thoại, một đoản văn, một câu chuyện ngắn
ngắn thuộc về Thiền Đạo". Sau đó bác lại tầm chương
trích cú (việc bình thường của học giả) ở những sách
vở của các thầy Chơn Thiện, Tuệ Sỹ, Đức Thắng, v.v...
(trong số các tác giả ấy có những thầy thuộc hàng học
trò của Thiền sư Nhất Hạnh họ đã từng dự các lớp học
do Thiền Sư trực tiếp giảng dạy trước đây) chỉ để
phản bác rằng "BÁT NHÃ KHÔNG LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN" và chứng
minh (cũng là việc bình thường của khoa học gia) cho chủ
ý có sẵn (tới đây thì đã mất bình thường) của bác,
như cháu đã nêu ở trên. Thưa bác, cháu không thấy công án
"BÁT NHÃ" nó dài nhiều chữ như bác thấy. Có thể bị định
kiến trấn ngự cho nên bác đã lầm những lời giải thích
của Sư Ông là công án. Nguyên câu mà bác đã trích: "Bát
Nhã đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Tăng thân Bát
Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính
quyền, là Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những thập
niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt." đây chỉ là lời
giải thích (có chữ "đây là"), nó không phải là công án.
Công án "BÁT NHÃ" chỉ có 2 chữ "BÁT NHÃ" trơ trụi mà thôi.
Thưa
bác Ngọc, bắt đầu phần chính của bài, bác đã tự tiện
thêm chữ "công án" vào lời giải thích ban đầu của Sư ông
Nhất Hạnh, bác viết rằng: "Theo Thiền sư thì Công án Bát
Nhã là Công án Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc, là Công án Tăng
thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn
cho chính quyền, là Công án Pháp nạn của Phật giáo Việt
Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt".
Trong khi câu viết của Sư Ông lại như vầy, cháu xin trích
dẫn thêm lần nữa: "Bát Nhã đây là Tu Viện Bát Nhã ở Bảo
Lộc, là Tăng thân Bát Nhã đang gặp khó khăn và đang là một
mối băn khoăn cho chính quyền, là Pháp nạn của Phật giáo
Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm
mốt." Vì sao, và vì ai mà bác lại làm một việc thiếu đạo
đức như vậy hả bác Ngọc? Bác đã vô tình, hay cố ý đánh
lừa thiên hạ, có phải bác muốn cho người ta hiểu lầm
rồi sinh tâm oán ghét Sư Ông, và từ đó có thể ghét lây
một tập thể, một tăng thân thánh thiện có hàng chục, hàng
trăm vạn con người trên thế giới?
TCN:
Công án Thiền không phải là một công thức nhưng không phải
ai cũng có thể đưa ra một vấn nạn để giải quyết, nhất
là vấn nạn đó là một vấn nạn xã hội, và gọi đó là
Công án. Trong Thiền Tông Phật Giáo, Công án có ý nghĩa và
công dụng riêng của Công án. Để giúp cháu hiểu hơn, bác
cũng muốn hỏi cháu một câu: Công án Thiền là gì? Công dụng
của Công án Thiền là gì? Có phải là để giúp hành giả
đạt ngộ bởi những bậc Thầy đã giác ngộ không? Hay Công
án là để giải quyết một vấn nạn xã hội, và ai cũng
có thể bầy ra một Công án Thiền? Những trích dẫn [không
phải là tầm chương trích cú] của các tác giả như Chơn
Thiện, Tuệ Sỹ, Đức Thắng chỉ có một mục đích tìm hiểu
thế nào là một công án Thiền trong Thiền Tông Phật Giáo.
Nếu quý vị này thực sự thuộc hạng học trò của Thiền
sư Nhất Hạnh thì phải chăng tất cả những gì của Thiền
sư Nhất Hạnh họ đều phải coi như là khuôn vàng thước
ngọc để mà rập khuôn theo mà không cần đến khả năng
suy tư của mình? Nếu thật là như vậy là quý vị này đã
quên mất Kinh căn bản trong đạo Phật là Kinh Đức Phật
thuyết cho người dân Kalama. Bác không nghĩ như vậy. Trong
Phật Giáo có câu “Y Pháp Bất Y Nhân”. Vấn đề không phải
là quý vị này thuộc hạng học trò của Thiền sư Nhất Hạnh
mà là quý vị đó đã viết những gì, đúng hay sai, chúng
ta có thể học được những gì trong đó. Nếu cháu viết
như trên chỉ có mục đích nói lên điều là những quý vị
đó chỉ thuộc hàng học trò của Thiền sư, không thể nào
bằng được Thiền sư Nhất Hạnh thì thật sự cháu chỉ
chứng tỏ cho độc giả thấy trình độ hiểu biết rất kém
của mình mà thôi, không có một giá trị thuyết phục nào,
vì không có thể rút tỉa ra một kết luận nào về quý vị
đó. Cháu có ý định tôn cao Thầy của mình, nhưng viết như
vậy chỉ chứng tỏ là mình chưa xứng đáng là đệ tử của
vị Thầy mà mình muốn tôn vinh.
Cháu
không thấy nhưng mà bác thấy. Vì bác hiểu tiếng Việt hơn
cháu. Trước hết, cháu viết về “tầm chương, trích cú”
mà cháu không hiểu câu này từ đâu mà ra và có ý nghĩa gì.
Nhưng bác bỏ qua. Thứ đến, cháu hiểu thế nào về cụm
từ “đây là” nằm trong một câu? Có phải là để giải
thích cho rõ nghĩa không? Cháu viết “đây chỉ là lời giải
thích”, nhưng giải thích cho ai và giải thích cái gì? Giải
thích là giải thích cho người đọc, và giải thích phải
là giải thích một cái gì đó, có phải không. Trong những
lời giải thích trên thì “đây là” giải thích cho cái gì?
Nếu Công án “Bát Nhã” chỉ có 2 chữ “Bát Nhã” trơ
trụi mà thôi, thì “đây là” nằm trong đó để giải thích
cái gì? Và những thứ nằm sau “đây là” có nghĩa gì và
để làm gì? Nhưng thế nào là 2 chữ “Bát Nhã” trơ trụi?
Đó là “Văn tự Bát Nhã”, hay “Quán Chiếu Bát Nhã”,
hay là “Thật Tướng Bát Nhã”, bởi vì Bát Nhã gồm có
ba. Quán chiếu Bát-nhã là dùng trí tuệ soi sáng, xem xét kỹ
những điều Phật dạy trong kinh rồi ứng dụng tu hành. Từ
Quán chiếu Bát-nhã mới đi tới Thật tướng Bát-nhã. Thật
tướng Bát-nhã là trí tuệ chân thật, giác ngộ viên mãn.
Theo lô-gíc thông thường thì Bác có thể viết như sau mà
không sợ sai lầm:
- Mọi
người hãy tham cứu Công án « Bát Nhã »
- Bát
Nhã « đây là » Tu Viện Bát Nhã [có phải « đây là » là
để giải thích cho hai từ « Bát Nhã » không, hay là để
giải thích một cái gì khác?]
- Vậy,
tham cứu « công án Bát Nhã » « đây chính là » là tham cứu
« công án Tu viện Bát Nhã »
Lô-gíc
này cũng có thể áp dụng cho hai cụm từ « Tăng Thân Làng
Mai », và « Pháp nạn của Phật giáo Việt Nam trong những
thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. »
Đến
đây bác không còn muốn nhận xét thêm về bài viết của
cháu nữa. Vì tất cả phần sau bài viết của cháu là để
chống Cộng [trong chánh niệm của cháu] theo luận điệu quen
thuộc đã thấy trên vài trang nhà ở Pháp, Mỹ v…v…, đôi
khi với văn phong hỗn xược [trong chánh niệm của cháu], dạy
đời [trong chánh niệm của cháu]. Độc giả có thể vào trang
nhà giaodiemonline đọc toàn bài của Hoàng Phi Long để tấy
rằng tôi nhận định không sai.
۞۞۞
Để
kết luận, bác muốn tặng cháu một câu của Samuel Butler.
Câu của Samuel Butler như sau :
Những
đặc tính đúng nhất của sự ngu si là lòng tự cao, tự đại,
hãnh diện, và kiêu căng.
[The
truest characters of ignorance are vanity and pride and arrogance]
Bác
cũng muốn đề nghị với cháu là: “Cháu hãy mang bài
“Bát Nhã: Công Án Hay Không Công Án?” của cháu trình với
Thầy Nhất Hạnh của cháu, và thỉnh xin ý kiến của Thầy
về bài viết này.” Ý kiến của Thầy ra sao, làm ơn
cho bác biết, bác xin cám ơn.
Và
sau cùng, bác hi vọng cháu có thể đọc thêm một ý kiến
về Công án Thiền Bát Nhã, ý kiến này là một trong những
ý kiến bác thấy trên Internet (phần nhấn mạnh là của bác):
(
http://www.sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt044.php)
KHI
CÔNG ÁN THIỀN VÀO QÚAN NHẬU
Phan
Tấn Hải
Trong
một quán nhậu, một dân chơi rót rượu vào ly chưa cạn của
bạn và ngật ngưỡng bình luận rằng "Trên tuyết thêm sương..."
như dường Công án Thiền đã trở thành một túi phi tiêu
đeo bên mình của các tay võ hiệp, và khi gặp chuyện là các
mũi phi tiêu Công án được phóng ra liền để diễn võ.
Đọc
bài Bóng ma của các Công án Thiền (viết tắt:
BM) của Nguyễn Bình (talawas, 19.03.2004), tôi đã biết thêm
nhiều thông tin hiếm hoi, bất ngờ. Thiền, từ một pháp tu
nghiêm ngặt của nhà chùa, rồi trở thành phong thái thời
thượng của một số trí thức Việt Nam, và rồi khi cần
thuyết phục nhau, thì "dùng công án Thiền dễ hơn nhiều..."
Mặc dù tác giả viết trong một văn phong đùa giỡn, châm
biếm, cho một đề tài khác - về một quyết định của Bộ
Giáo dục và Đào tạo mà tác giả mô tả khó hiểu như "cây
bách trước sân" - nơi đây chúng ta cũng có vài điểm cần
nói về Thiền, một mảng văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Điều
lý thú tác giả Nguyễn Bình nói là "cuối những năm 70, đầu
những năm 80 ở Hà Nội có một cơn sốt các Công án Thiền."
Đây hiển nhiên là một nhân duyên rất tốt, nhưng lại là
một điều hết sức lạ lùng. Lúc đó, thực sự Thiền Tông
ở miền Nam cũng vẫn chưa được hưng thịnh như các năm
đầu thế kỷ 21. Cuối những năm 1970, đầu các năm 80, tôi
bấy giờ là một tên thanh niên miệt mài đi gõ cửa các chùa
để tìm học Thiền, và có vẻ như mặt ngoài đã khám phá
ra rằng "cơn sốt Thiền Tông" của miền Nam thực sự hầu
hết chỉ ảnh hưởng tới phong thái sống của một phần
giới trí thức thành thị, và như dường được du nhập phần
lớn từ sách vở. Đại đa số các chùa thực sự không theo
Thiền Tông. Trừ các chùa Nam Tông theo nghi thức riêng, tương
tự như Phật Giáo ở Thái Lan và Cam Bốt, còn hầu hết đều
là các chùa Bắc Tông theo nghi thức tổng hợp cả Thiền Tông,
Tịnh Độ và Mật Tông - nhưng lại lấy Tịnh Độ làm chính,
và Thiền chỉ là phụ thôi, hoặc có thể bỏ hẳn luôn các
quan tâm về Thiền. Lúc đó, nhiều người còn nghĩ, có lẽ
Thiền Tông thất truyền rồi, hệt như một số môn võ công
bí truyền của Chùa Thiếu Lâm.
Vài
năm sau, tôi mới biết là Thiền Tông chưa thất truyền ở
Việt Nam. Vẫn còn có những vị thầy của môn học khó nhọc
này.
Nhưng
sách vở để nghiên cứu thì nhiều lắm, đọc tha hồ. Lúc
đó, Thầy Thích Thanh Từ đã dịch vài chục cuốn về Thiền
rồi; nhưng cứ nghe nói là Thầy đang nhập thất liên tục
ở Tu Viện Chân Không, Vũng Tàu. Trong khi đó, các nhà xuất
bản khác cũng có nhiều tác phẩm, dịch phẩm.
Khoảng
năm 1980, nghe dân tu học Sài Gòn loan tin rằng Thầy
Thích Duy Lực sẽ phổ biến bản văn mới dịch của
Ngài Trung Phong Bổn, một vị Thiền Sư Trung Hoa của nhiều
thế kỷ trước, tôi đạp xe đạp tới Chùa Từ Ân ở Chợ
Lớn để tìm mua. Tới vào buổi trưa, chùa đầy người, cúng
lạy thành kính, mùi khói nhang và mùi đủ thứ làm ngộp thở.
Tôi hỏi, và không ai biết chuyện dạy Thiền hay bán sách
Thiền gì cả, may có một chức việc trong chùa chỉ tôi lên
lầu 2 để tìm mua. Cuốn này lúc đó chỉ là một xấp giấy,
hình như quay roneo hay chụp photocopy, đóng kẹp lại. Như thế
thì thấy, Thiền cũng chỉ ở một góc lầu thôi. Nhu cầu
quần chúng cần đủ thứ khác, phải có chuông, có mõ, có
khói, có nhang, có tụng, có hát, vân vân. Tôi về đọc cuốn
Trung
Phong Ngữ Lục hoài vẫn không hiểu. Cho tới về sau,
khi trực tiếp gặp một vị sư già ở một vùng quê - nhưng
đây lại là chuyện khác.
Điều
hết sức bất ngờ trong bài viết BM là hiện tượng Thiền
Tông bỗng thành môn võ chữ nghĩa, để các cao thủ biến
những câu nói đặc dị thành phi tiêu đụng đâu phóng đó
nhằm biểu diễn võ công, cho dù ở quán rượu, quán bia...
một hiện tượng khó thể hình dung được, cho dù trong cuốn
tiểu thuyết giàu tưởng tượng nhất. Có phải đây là sự
suy thoái của Phật Giáo, khi được quần chúng hiểu Thiền
như một túi phi tiêu để phóng? Thử xem ông Nguyễn Bình mô
tả hiện tượng tức cười này như sau trong bài BM:
"Từ
chỗ là sở hữu vụng trộm của một nhóm trí thức văn nghệ
cấp tiến và a-văng-gác mà phần lớn là không theo Thiền,
chúng bước vào văn hoá đại chúng. Ở các quán bia, quán
lẩu ngày nay, nơi dân chúng được "vô tư" bày tỏ phong độ
anh hùng không thua ai của họ, những lời rút từ các Công
án Thiền thứ thiệt (hay thứ rởm, tôi không kiểm tra được,
vì tôi không biết hết 1700 Công án) như "Lấy đũa quơ trăng",
"Thiền sư qua sông", "Quẳng dao giết lợn xuống là thành Phật",
"Một được một mất", "Gãi ngứa trên giày" thành chuyện
đầu môi. Ông bạn hàng này dốc thêm rượu vào cái li còn
chưa hết của ông bạn hàng khác cũng ngật ngưỡng bình luận
rằng "Trên tuyết thêm sương"! Nhưng kì diệu nhất là giới
trí thức văn nghệ, kể từ phong trào về nguồn (đúng ra
là tái về nguồn vì trí thức văn nghệ miền Nam trước 1975
đã về nguồn trước rồi), cũng cứ đem những "ngón tay trỏ
mặt trăng", "mũi tên qua khỏi trời tây"... cùng là "vô minh",
"vô ngôn", "vô thường", "vô ngã", "vô sở đắc", "vô sở
trụ" dùng như dán bùa chú lên khắp mọi nơi. Cái khổ là
bây giờ người ta có thể ít nhiều công khai dị ứng với
chủ nghĩa cộng sản, nhưng dị ứng với...Thiền, Phật, minh
triết phương Đông thì lại không xong!"
Tuy nhiên,
công án Thiền không chỉ để các dân nhậu đem ra đùa giỡn
trên bàn rượu, mà còn được nhiều vị trí thức lấy để
phóng hỏa mù, để khỏi phải đưa ra các câu trả lời minh
bạch. Phóng công án Thiền lên bàn nhậu thường là do cao
hứng, để đùa giỡn cho vui. Nhưng khi dùng công án để tránh
né trả lời, thì đây không còn là chuyện cao hứng mà chỉ
là thủ đoạn đời thường, một thứ khôn lanh đường phố.
Trong
bài viết BM, tác giả Nguyễn Bình kể như sau:
"...Việc
tụng niệm này tôi thấy đáng khó chịu vì nó tạo "điều
kiện sang trọng" cho người ta lẩn tránh lời đáp rõ ràng,
sáng tỏ cho những câu hỏi rất cần một lời đáp rõ ràng,
sáng tỏ. Hỏi một nhà văn rằng vì sao anh ta cứ mài óc ra
mà viết bài cho báo lá cải. Đáp: Phật cũng chỉ là que cứt
khô thôi mà! Hỏi tiếp: Sao Phật lại là que cứt khô? Đáp:
Anh không biết Công án Thiền à? Thế là người hỏi cứng
họng. Trao đổi với một trí thức khác: Bài viết này của
anh toàn những nội dung chả nói được điều gì. Đáp: Nói
được cũng bị ba mươi hèo, không nói được cũng bị ba
mươi hèo thôi ông ạ. Hỏi tiếp: Ba mươi hèo ở đâu ra thế?
Đáp: Thế là ông không đọc Công án Thiền rồi!"
Hiện
tượng dân chúng đời thường và trí thức văn nghệ sử
dụng công án Thiền như thế, vậy thì giới tu hành ra sao?
Tác
giả Nguyễn Bình cũng thấy bi quan về các vị sư như sau:
"Lẽ
ra các nhà nghiên cứu Phật giáo và giới trí thức tu hành
phải có những tiếng nói phản tỉnh rõ ràng trong tình hình
này. Tiếc thay, giới nghiên cứu Phật giáo nếu có...nghiên
cứu thì chỉ dừng lại ở việc tán dương chung chung, sáo
rỗng và nhàm chán những giá trị của Phật giáo như từ
thuở nào. Tất nhiên tôi không phản đối các giá trị đó,
nhưng tôi cho rằng để Phật giáo có thể sống một cách
sinh động, gần gũi và là một bộ phận không thể thiếu
trong đời sống hiện đại của thời đại chúng ta thì người
ta không thể giảng giải tán dương nó như ở thời Trung cổ
được. Còn giới trí thức tu hành từng đóng những vai trò
lớn trên phương diện xây dựng ý thức quốc gia và đóng
những dấu ấn quan trọng trong diện mạo đời sống tinh thần
của xã hội Việt Nam, nay đã mất hẳn vị trí. Ở nhiều
chùa chiền hiện nay chỉ thấy những vị sư bận tiếp khách
du lịch, chạy sô cầu kinh trong các đám hoặc lo cho nhà hàng
cơm chay hơn là lo suy tư nghiền ngẫm kinh kệ. Chính mắt tôi
chứng kiến cảnh người đi lễ Phật dâng lên cả con gà
luộc mà sư vẫn tỉnh bơ nhận lễ. Chẳng lẽ giới tu hành
không nhận ra rằng nền tảng tri thức của Phật giáo tại
Việt Nam hiện nay hầu như đã không còn nữa, kinh sách thì
bị hiểu lơ mơ, đào tạo tăng lữ thì chỉ mang tính hình
thức, Phật giáo đã suy thoái thành một thứ tín ngưỡng
dễ dãi và thời thượng, Bồ Tát chỉ còn là một vị thần
giúp người ta trúng quả, vào cầu, đẻ con trai, trừng phạt
ngoại tình... và thi đỗ đại học? Nói chung chung về những
tinh túy của Phật giáo trong một bối cảnh như vậy, liệu
có phải là mơ màng về những bóng ma không?"
A ha!
Có phải giới tu hành Phật Giáo đang mơ màng về những bóng
ma? Có phải Phật Giáo đã suy thoái thành tín ngưỡng dễ
dãi và thời thượng? Có phải nền tảng tri thức của Phật
giáo tại Việt Nam hiện nay hầu như đã không còn nữa, kinh
sách thì bị hiểu lơ mơ, đào tạo tăng lữ thì chỉ mang
tính hình thức? Đây mới là những vấn đề lớn, cực kỳ
lớn cho cả giáo hội, cho tất cả những người quan tâm về
Phật Giáo.
Hiển
nhiên, cúng gà vịt rươụ bia thì người cúng đã sai, mà
vị thầy nhận lễ còn sai lớn nữa. Nhưng nếu chúng ta nhìn
kỹ tình hình Việt Nam, thì thấy đào tạo các vị sư giới
luật trang nghiêm, Phật Học uyên bác cho đủ các địa phương
thì thật là khó. Và có lẽ sẽ không thể nào làm nổi trong
vài thập niên tới.
Một
bản thống kê trên báo Giác Ngộ năm 2003 cho biết có vài
ngàn (tôi nhớ, hình như hơn 3.000) ngôi chùa tại Việt Nam
thiếu sư trụ trì. Như thế là khủng hoảng thiếu Tăng Ni,
ít nhất cũng là cả chục ngàn. Không phải Tăng Ni nào cũng
đủ sức làm vị trụ trì. Vì từ chỗ xuất gia, tới chỗ
thọ 10 giới sa di là mất vài năm rồi, sau đó tu học thêm
vài năm mới thọ 250 giới của tỳ kheo... Còn bên Ni thì tốn
thêm vài năm nữa, vì thủ tục phức tạp hơn. Nhưng tu học
là một chuyện, còn làm trụ trì lại đòi một khả năng
tiếp cận quần chúng phức tạp hơn. Có những vị sư chỉ
ưa hạnh ngồi Thiền trong núi, có những vị chỉ thích ngồi
tụng đọc kinh điển, có những vị chỉ muốn dịch kinh,
và có những vị chỉ thích làm từ thiện xã hội. Và như
thế, khi nói thiếu 3.000 sư trụ trì, có nghĩa là cần đào
tạo ít nhất 15.000 sư cho công việc toàn bộ của giáo hội.
Trong
tình hình thiếu tăng ni như thế, nếu có ai mặc áo nhà sư
để dọn vào các ngôi chùa hoang phế kia mà nhận lễ gà vịt
thì là bình thường. Chỉ sợ có khi họ còn làm tệ hơn thế.
Nhưng
có phải Phật Giáo đã trở thành tín ngưỡng dễ dãi và
thời thượng? Thực sự, lời than phiền này không phải là
hiếm. Thời nào cũng thế, và ở nước nào cũng thế, vẫn
có những mảng Phật Giáo trở thành dễ dãi, có khi được
linh động sáp nhập với tín ngưỡng dân gian. Thí dụ, Phật
đâu có dạy xin xăm, vậy mà nhiều chùa vẫn cho xin xăm đầu
năm, coi như tiếp nhận luôn các nếp văn hóa dân gian, nhưng
nên nhớ, các cột trụ của giáo pháp vẫn giữ không đổi.
Thế nên các sư mới nói "tùy duyên mà bất biến."
Còn
nếu nói "nền tảng tri thức của Phật giáo tại Việt Nam
hiện nay hầu như đã không còn nữa, kinh sách thì bị hiểu
lơ mơ, đào tạo tăng lữ thì chỉ mang tính hình thức" thì
đã là một nhận xét hết sức vội vã. Trong bài viết, tác
giả Nguyễn Bình chỉ nêu lên một số chuyện mắt thấy tai
nghe, và rồi rút ra kết luận như thế. Đó chỉ là vài chuyện
trong môi trường mà tác giả tiếp cận, chứ không phải toàn
cảnh Phật Giáo Việt Nam.
Có
thật nền tảng của Phật giáo tại Việt Nam hiện nay hầu
như đã không còn nữa, kinh sách thì bị hiểu lơ mơ? Tác
giả Nguyễn Bình đã đọc những sách nào, báo nào, thống
kê nào của Phật Giáo để nhận xét như thế? Hay là chỉ
nghe chuyện ở bàn rượu, ở một số nhà văn ưa phóng phi
tiêu công án? Tác giả có biết Việt Nam hiện có bao nhiêu
trường Phật Học, và chương trình dạy những gì? Tác giả
có biết tại một số chùa thuộc các tông phái chuyên biệt,
các sư phải tu học ra sao? Có phải là "nền tảng... không
còn nữa"?
Còn
hiểu kinh sách lơ mơ là sao? Kinh sách nào, và ai hiểu? Nếu
mà hấp tấp kết luận như tác giả, thì chúng đã sẽ phủ
nhận công sức của quý Tăng Ni đã và đang dày công bồi
đắp cho nền Phật Học ở Việt Nam. Và nỗi nguy của nhận
xét đó là, đồng bào Phật Tử sẽ hoang mang, biết có còn
chịu theo quý Tăng Ni để tu học hay không, một khi "nền tảng
Phật Học đã mất... và kinh sách lơ mơ"? Rồi ai sẽ đứng
ra hướng dẫn Phật Pháp cho đồng bào nữa?
Thực
sự, không hề có chuyện kinh sách lơ mơ gì hết. Hãy thấy,
thời nào cũng có các vận động học Phật và tu trì. Cứ
nhìn từng giai đoạn cũng thấy.
Như
phong trào Phật Học của cụ Tâm Minh Lê Đình Thám thời Pháp
thuộc đã đào tạo nhiều danh tăng hòa thượng, trong đó
có những vị xứng đáng thuộc hàng Tam Tạng Pháp Sư như
cố Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, hay như Hòa Thượng Thích
Minh Châu. Cũng như bầu không khí say mê học Phật mà Đại
Học Vạn Hạnh đã thổi bùng dậy trước 1975, đã dẫn tới
cái mà có người goị là "thời thượng của Thiền Tông."
Nhìn cho kỹ, Thiền chỉ là một mảng của toàn cảnh Phật
Học lúc đó.
Hay
như gần đây, tạp chí Giác Ngộ đã thực hiện chương trình
Phật Học Cơ Bản Hàm Thụ (1998-2002), và in 4 cuốn sách theo
thứ tự niên học cho chương trình này.
Chúng
ta có thể hỏi, nếu kinh sách lơ mơ và nền tảng đã mất,
thì các vị tinh thông tam tạng đã học gì, viết gì, dịch
gì và dạy gì? Tương tự, cả một viện đại học không
lẽ chỉ đưa sinh viên vào hội trường rồi dạy nhau "phóng
phi tiêu công án Thiền"? Tương tự, không lẽ 4 cuốn Cơ Bản
Hàm Thụ cũng toàn là chữ lơ mơ, câu lơ mơ, kinh sách lơ
mơ... nói là cơ bản, nhưng đâu có dễ đâu.
Đó
là nói về học, bây giờ sẽ nói về tu. Có thật là giới
tu hành "nói chung chung về những tinh túy của Phật giáo trong
một bối cảnh như vậy, liệu có phải là mơ màng về những
bóng ma không?" Không phải thế. Vẫn còn rất nhiều người
tu hết sức nghiêm túc.
Chỉ
nói riêng về những chỗ mà tôi được đọc, được nghe
kể, và có khi may mắn được tiếp cận, thì số người tu
nghiêm túc nhiều không thể đếm nổi. Thí dụ, tôi được
đọc trên trang web về dòng Thiền của Hòa Thượng Thanh Từ
với các bản thanh qui, với chương trình học Kinh-Luận-Sử
trong 3 năm đầu mới vào, thì thấy rõ phép tu, phép học rất
nghiêm. Hay như dòng Thiền của cố Hòa Thượng Duy Lực, với
pháp tham thoại đầu yêu cầu hết sức miên mật thì còn
thì giờ đâu mà mơ với màng, thời với thượng (tôi may
mắn có nhiều pháp hữu bên dòng này, nêu hiểu rõ là không
có chuyện gì lơ mơ ở đây cả). Hay như pháp môn Tịnh Mật
Song Tu do cố Hòa Thượng Thiền Tâm chủ xướng khi ngài về
trụ ở Đại Ninh, Lâm Đồng, nơi tôi từng lên cầu pháp,
thì trong 24 giờ mỗi ngày đều là nhập thất cả, đâu có
chỗ để phải nói "đào tạo tăng lữ thì chỉ mang tính hình
thức"... Hay như Núi Vải ở Bà Rịa, tôi được nghe nói hiện
đang có 800 vị sư Nam Tông đang ngồi biệt tu ở các am cốc,
hang động quanh núi.
Thêm
nữa, khi xét theo kiến giải qua văn tự, trong những bài tôi
may mắn đọc về Thiền Tông thì thấy trong nước rất nhiều
bậc tôn túc, với những lời lời như châu ngọc của Hòa
Thượng Minh Trực, hay Thầy Đại Lãn (tức Thượng Tọa Đức
Thắng), cư sĩ Nhuận Bảo... thì ai dám bảo là Thiền Tông
thất truyền rồi?
Nhiều
nữa, nhiều nữa. Còn rất nhiều chùa, rất nhiều vị tăng
ni đáng kính nữa mà tôi chưa biết hết, hoặc có biết nhưng
không tiện viết lên giấy.
Bàn
xong phần tu học, bây giờ chúng ta bàn qua khía cạnh xã hội
của nhà chùa.
Với
tấm lòng thiết tha với Phật học, Nguyễn Bình đã nêu lên
hiện tượng nổi bật ở nhiều thành phố lớn, "nhiều chùa
chiền hiện nay chỉ thấy những vị sư bận tiếp khách du
lịch, chạy sô cầu kinh trong các đám hoặc lo cho nhà hàng
cơm chay hơn là lo suy tư nghiền ngẫm kinh kệ..."
Sự
thật đúng là có như thế, nhưng không phải tất cả như
thế, và câu chuyện cực kỳ phức tạp hơn nhiều.
Khách
du lịch tới thì tất nhiên phải ra tiếp. Vị sư có nhiệm
vụ Tri Khách phải lo việc này. Nhưng không phải tất cả
các sư trong chùa cần ra tiếp khách. Cũng không phải chùa
nào du khách cũng tới, phải nằm trong danh sách các tour du
lịch mới được, còn không thì chỉ có khách quen về tìm
thăm thầy cũ thôi. Thêm nữa, việc quản chúng cực kỳ phức
tạp ở thời này. Đâu phải vị sư nào muốn xin dời hộ
khẩu về thành phố là được, mà có xin nhập chúng vào các
chùa trong danh sách du lịch là cũng thiên nan vạn nan chứ.
Còn
tình hình "chạy sô cầu kinh trong các đám" chỉ nói lên hiện
tượng thiếu tăng ni cho nhu cầu tang lễ của dân chúng. Vì
thầy chùa mà không tụng kinh cho đám ma thì nên vào núi nhập
thất là hơn. Khi Phật Tử tới gõ cửa chùa, xin tụng kinh
cho ba mẹ vừa từ trần, cho dù có cảm cúm nhức đầu, quý
thầy cũng phải đi chứ. Chỉ trừ trường hợp có thầy nào
bày vẽ cho tang chủ tốn kém, phức tạp... thì mới là đáng
trách. Nhưng hiển nhiên là ở đâu cũng có các vị thầy kỳ
dị như thế, ưa bày chuyện.
Đặc
biệt, cách dùng chữ "chạy sô" của Nguyễn Bình dễ làm độc
giả khởi tâm bất kính với quý Tăng Ni, vì hóa ra việc tụng
kinh đám ma cũng là một nghề như ca sĩ. Đây không phải là
nghề. Tụng kinh đám ma không phải là nghề nghiệp gì cả,
mà đây là việc cứu nguy khẩn cấp. Những hiện tượng này
mắt thường đâu có thấy hết, mà chỉ có Phật mới thấy
để dạy cho chúng ta thôi. Dù là Nam Tông hay Bắc Tông, đều
có nghi thức tụng kinh cho người sắp chết và người mới
chết. Quan trọng nhất là giây phút cận tử.
Thí
dụ, như Nam Tông, vị thầy sẽ thuyết về tam pháp ấn, tụng
các bài kinh ngắn để người bệnh giữ tâm bình an lìa trần,
hy vọng kiếp sau có cơ hội tu học Phật nữa. Còn đối với
người đã chết, nghi thức Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy
Việt Nam ghi là dựa theo Kinh Hồi Hướng Vong Linh, khi vua Bim
Bi Sa Ra nằm mơ thấy thân nhân quá cố bị đói lạnh, Phật
mới "dạy cách tạo phước hồi hướng vong linh để thoát
ly khổ ách."
Còn
bên Bắc Tông, khi cận tử, người bệnh sẽ được tăng ni
và các ban hộ niệm tới Niệm Phật và tụng Kinh A Di Đà,
và có các nghi thức cầu siêu trong hạn 49 ngày sau khi chết
với hy vọng vãng sanh về Cõi Cực Lạc.
Nên
nhấn mạnh, tụng kinh đám ma không phải "chạy sô." Nói như
thế, Phật Tử sẽ hiểu nhầm về nghi thức này.
Còn
như việc "lo cho nhà hàng cơm chay" thì hẳn là ít thầy nào
có doanh nghiệp như thế vậy. Chỗ này không có gì để bàn,
vì giới luật không cho cá nhân quý thầy làm như thế, trừ
phi tiệm cơm là tài sản của giáo hội, hay của một hội
từ thiện.
Và
bây giờ là một vấn đề rất là lớn: vai trò tăng sĩ trong
việc xây dựng ý thức quốc gia. Nguyễn Bình viết trong bài
BM như sau: "Còn giới trí thức tu hành từng đóng những vai
trò lớn trên phương diện xây dựng ý thức quốc gia và đóng
những dấu ấn quan trọng trong diện mạo đời sống tinh thần
của xã hội Việt Nam, nay đã mất hẳn vị trí."
Các
nhà sư xây dựng ý thức quốc gia? Vâng, đó là chuyện của
thời Lý, Trần. Đó là chuyện mới hai thập niên trước,
người ta còn cấm nhắc tới. Tu là tu đi, đừng bàn chính
trị - đó là lời dặn dò của công an khu vực. Nhưng lúc
đó tu cũng là vất vả lắm, cứ bị xem như ăn bám, xem như
không chịu sản xuất của cải cho xã hội, vân vân... Thậm
chí như bây giờ, giấy tạm trú, giấy hộ khẩu vẫn còn
làm trở ngại cho việc quý thầy di chuyển, việc tìm nơi
tu học mới, việc đổi trường, vân vân.
Phải
thấy, nếu chính quyền Việt Nam không thỉnh ý, thì sẽ không
một nhà sư nào dám nhắc đến chuyện "xây dựng ý thức
quốc gia" nữa - không một nhà sư nào dám nữa. Phật Giáo
thực sự đã "mất hẳn vị trí dấu ấn quan trọng" đó rồi.
Có phải nhà nước thực sự chỉ muốn các sư chạy sô tụng
kinh cho đám ma?
Câu
trả lời chắc là kiếm không ra, bởi vì "hỏi ba lần đều
bị từ chối mà không chịu tự mình ngộ ra," để dẫn câu
cuối trong bài BM của Nguyễn Bình.
3-2004
(talawas)
Nguyên
Giác Phan Tấn Hải là tác giả các cuốn:
Vài
Chú Giải Về Thiền Đốn Ngộ
http://www.thuvienhoasen.org/u-chugiaithien-00.htm,
Ba
Thiền sư
http://www.thuvienhoasen.org/bathiensu-00.htm
Chú
giải về Phowa
http://www.thuvienhoasen.org/chuyendithanthuc-00.htm