CHÁNH PHÁP LÀ GÌ
Trần Do Bân
Dịch từ nguyên bản Hoa Ngữ : Thí Luận Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Đích Phật Học Cống Hiến
đăng trên nguyệt san Vajra Bodhi Sea từ số tháng 6, 1996 đến số tháng 10, 1997
Chánh Pháp là gì? Phật Pháp được
chia thành ba thời kỳ là thời Chánh Pháp, thời Tượng Pháp, và
thời Mạt Pháp. Các thời kỳ Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni được ghi chép trong các kinh điển thì không đồng nhất,
nhưng hầu hết các bậc cổ đức đều theo thuyết định thời
kỳ Chánh Pháp là 500 năm, thời kỳ Tượng Pháp là 1.000 năm, và
thời kỳ Mat Pháp là 10.000 năm. Trong thời Chánh Pháp (chánh có
nghĩa là chứng), mặc dầu Đức Phật đã diệt độ, nhưng Pháp
nghi vẫn không thay đổi. Có giáo pháp, có sự hành trì, và có
người chứng đắc quả vị--đó gọi là thời kỳ Chánh Pháp,
và còn được mệnh danh là thời kỳ "Thiền Định kiến
cố".
Trong thời Tượng Pháp (tượng có nghĩa là biểu tượng), tuy vẫn
có giáo pháp, có sự hành trì, nhưng số người chứng đắc quả
vị thì rất ít; thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ
"tự miếu kiên cố". Trong thời Mạt Pháp (mạt có nghĩa
là suy vi, yếu kém), Phật Pháp trở nên suy tàn, chỉ có giáo
pháp chứ không có sự hành trì, và càng không có người chứng
đắc quả vị. Thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ "đấu
tranh kiên cố". Đây là lời giải thích thông thường về ba
thời kỳ "Chánh, Tượng và Mạt" của Phật Pháp.
Thế nhưng, Hòa Thượng định nghĩa về
Chánh Pháp như sau:
"Quý vị thành thật tu hành, không ham hư danh
giả lợi, không tham của cúng dường — đó chính là Chánh Pháp trụ
thế. Nếu mọi người xuất gia đều có thể giữ giới không đụng
đến tiền bạc, đều có thể ngồi Thiền, có thể ngày ăn một
bữa lúc giữa trưa, có thể luôn luôn mặc giới y và nghiêm trì
giới luật, thì đó là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!"
Thậm chí Hòa Thượng còn giảng nghĩa
một cách đơn giản hơn nữa:
"Nếu quý vị có thể không tranh,
không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không
nói dối, thì đó chính là Chánh Pháp đang trụ thế vậy!".
Như vậy, thế nào là thời kỳ Mạt
Pháp? Trong quyển 5 của Pháp Hoa Nghĩa Sớ có chép: "Khi
[Pháp] trở thành suy vi, đó gọi là thời Mạt Pháp." Trong
quyển 6, chương Nghĩa Lâm của Đại Thừa Pháp Uyển có nói:
"Chỉ có giáo pháp mà không có gì khác thì gọi là Mạt
Pháp." Tuy nhiên, sự mô tả chân chánh tường tận về thuyết
Mạt Pháp được xuất hiện trong Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập,
phần Nguyệt Tạng, và trong Kinh Pháp Diệt Tận. Về sau, thuyết
Mạt Pháp xuất hiện dưới triều đại Bắc Tề (550-377 SCN),
trong bài văn phát nguyện của Thiền Sư Huệ Tư ở Nam Nhạc (Nam
Nhạc Tư Thiền Sư Lập Thệ Nguyện Văn). Thiền Sư Huệ Tư đã
tự ghi lại là ngài sanh vào năm thứ 82 của thời Mạt Pháp và
đã chép lại toàn bộ Kinh Bát Nhã cùng nhiều bản văn khác.
Ngài đã nguyện sẽ truyền Pháp cho đến khi Bồ Tát Di Lặc đến
thế gian này. Đời nhà Tùy (589-618 SCN), Thiền Sư Tín Hành đề
xướng "giáo pháp ba giai đoạn" (tam giai giáo) với Nhất
Thừa là giai đoạn đầu tiên, Tam Thừa là giai đoạn thứ nhì,
và Phổ Pháp (toàn bộ lời dạy của Đức Phật) là giai đoạn
thứ ba.
Trong đời nhà Đường (618-905 SCN), Đại
Sư Đạo Trác và Đại Sư Thiện Đạo có nói rằng đương thời
là đã vào thời Mạt Pháp, và chủ trương "thời giáo tương
ưng" (khế hợp giáo pháp với thời đại), khuyến khích người
đời tu pháp môn Niệm Phật. Nói chung, cho dù thời kỳ Mạt
Pháp nhất định có xảy đến chăng nữa, thì trong quyển 49 của
Thập Tụng Luật, Đức Phật cũng đã nêu ra năm điều có thể
khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
Năm điều này là:
1. Tôn Trọng Chánh Giáo. Điều này có
nghĩa rằng các Tỳ Kheo chỉ dựa vào giáo pháp chân chánh mà tiến
tu, xa lánh cái nhìn lệch lạc (thiên kiến) của Tiểu Thừa cùng
các tà thuyết của ngoại đạo; nhờ đó có thể khiến cho
Chánh Pháp không bị hủy diệt.
2. Chỉ Tức Sân Ác (đình chỉ nóng giận
và ác độc). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo luôn luôn thực
hành hạnh nhẫn nhục, không nóng giận, danh tiếng về đức độ
lan xa làm cho mọi người đều quay về và dốc lòng kính ngưỡng;
nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
3. Kính Sự Thượng Tòa (tôn kính phụng
sự các bậc trưởng thượng). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ
Kheo tôn kính và phục tòng các vị đại đức ở hàng thượng tọa
và chuyên cần cầu học yếu nghĩa Phật Pháp từ họ; nhờ đó
có thể khiến cho Chánh Pháp không bị hủy diệt.
4. Ái Lạc Chánh Pháp (trân quý Chánh
Pháp). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo trân quý thâm sâu những
điều pháp nghe được từ các bậc thượng tọa, trưởng lão kỳ
cựu, và vui mừng thực hành theo; nhờ đó có thể khiến cho
Chánh Pháp không bị hủy diệt.
5. Thiện Hối Sơ Tập (giải thích kỹ
càng cho kẻ sơ học). Điều này có nghĩa rằng các Tỳ Kheo phương
tiện diễn nói pháp Đại Thừa một cách khéo léo, làm cho những
kẻ mới bắt đầu học Phật Pháp có thể dựa vào để tiến
tu trên đường Đạo; nhờ đó có thể khiến cho Chánh Pháp
không bị hủy diệt.
Vào thời Mạt Pháp chúng sanh không thể
liên tục phân biệt đuợc chánh tà, đến nỗi nhiều người muốn
vào cửa Phật nhưng đã vào lầm cửa mà tu hành. Đó là do họ thiếu "Trạch
Pháp Nhãn." Mặc dầu trong thời Mạt Pháp, hiện tượng
"mắt cá xen lẫn ngọc trai" [vàng thau lẫn lộn] trong cửa
Phật không phải là ít, song nguyện lực của Hòa Thượng rất rõ
ràng:
"Tôi nhất định phục hưng Chánh Pháp.
Tôi chỉ cho phép Phật Giáo có Chánh Pháp chứ không có Mạt
Pháp! Bất cứ nơi nào tôi đến, nơi đó sẽ có phước đức,
trí huệ và được giảm bớt tai ương. Đây là nguyện lực của
tôi. Do đó, không quản khả năng giới hạn của mình, tôi đi khắp
nơi tuyên thuyết Chánh Pháp và hành trì Chánh Pháp."
Mặc dầu Đức Phật nhiều lần đề
cập đến sự hủy diệt của Phật Pháp, tuy nhiên Đức Phật
cũng có ý khắc phục sự hủy diệt của Chánh Pháp. Như trong
Kinh Niết Bàn có chép: "Trong thời Mạt Pháp sẽ có mười hai
vạn (120.000) vị Đại Bồ Tát trì Pháp, khiến cho bất diệt."
Từ đó có thể biết được rằng nguyện lực "không cho phép có Mạt
Pháp" của Hòa Thượng há chẳng phải chính là tâm đại từ
đại bi của chư Như Lai hay sao?
Hòa Thượng đã cảm
khái rằng:
Phật Pháp vị diệt, Tăng
tự diệt,
Đạo đức ưng tu, nhân bất
tu,
Lão thật chân thành
chiêu vật cơ,
Hư ngụy giảo hoạt thọ
bao ưu.
Cử thế ngũ trược thanh
thậm tiễn.
Chúng sanh tam túy tỉnh
vô thu,
Ân cần ký ngữ Tăng
thanh bối,
Chấn hưng Phật Pháp tại
Tỳ Kheo.
Tạm dịch:
Phật Pháp chưa diệt, Tăng
tự diệt,
Đạo đức cần
tu, chẳng ai tu,
Thành
thật chân chánh,
bị chế diễu,
Gian ngoa xảo trá,
được tán dương.
Muốn đời Ngũ
Trựơc nên tươi sáng,
Chúng
sanh tỉnh hẳn ba lần mê,
Ân cần nhắn nhủ Tăng
Ni trẻ:
Chấn hưng Phật Giáo cậy
Tỳ Kheo!
Trong
Phật Giáo không thể có 99%--nếu chỉ
một phần nhỏ trong Phật Giáo là giả dối, thì đó không còn
là "Chánh Pháp" nữa! Do đó chúng ta phải phân biệt thật
rõ ràng, bởi vì trong các chùa chiền đều có cả "tà pháp
và ngoại đạo". Phật Giáo có câu: "Thà cả ngàn năm
chẳng vãng sanh, còn hơn một ngày trong ma đạo". Nếu chúng
ta thiếu Trạch Pháp Nhãn của "Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh
Hối" (trong Kinh Lăng Nghiêm) e rằng chúng ta có thể trở thành quyến
thuộc của loài ma mà
chính mình lại không hay không biết!
Nhân đây, người viết xin giới
thiệu bảy điểm rất quan trọng trong việc phân biệt chánh tà:
1. Vị Thầy lấy việc trao đổi chồng
vợ, nam nữ hoang dâm, buông thả vô độ, làm mồi nhử để thu
hút đồ chúng, và xem như là phương tiện để cứu thế gian; đó
là tà.
2. Vị Thầy khơi dậy lòng tham của đồ
chúng bằng cách nói rằng mình có thể dùng bùa, chú, và thần
tài để giúp họ trở nên giàu có; đó là tà.
3. Vị Thầy khuyến khích trực tiếp
hay gián tiếp việc giết hai chúng sanh và ăn thịt chúng sanh,
còn nói rằng mình có thể dùng bùa chú để cứu độ vong linh của
những chúng sanh bị ăn thịt; đó là tà.
4. Vị Thầy thực hành các loại khổ
hạnh kỳ dị, tự làm thương tổn để tác động chúng sanh, và
gọi đó là chịu khổ thay cho chúng sanh; đó là tà.
5. Vị Thầy dùng thần thông và các
điều kỳ dị làm "công cụ" để thu hút những chúng
sanh có lòng hiếu kỳ; đó là tà.
6. Vị Thầy tự ý thêm bớt, sửa đổi
các quả vị tu hành trong Phật Giáo và giải thích lệch lạc ý
nghĩa của "tín, giải, tu, chứng," còn tự cho mình là
giáo chủ; đó là tà.
7. Vị Thầy tự lập ra tông phái rồi
tự xưng là giáo chủ mà chính mình lại không có căn bản chân
thật về đạo lý Phật Giáo; đó là tà.
Phần 1: Chánh Pháp và Mạt Pháp
Một lần nọ, có một Phật tử hỏi:
"Hòa Thượng thường nói rằng:
Chân thật nhận lỗi mình,
Không bàn lỗi người khác,
Lỗi người tức lỗi mình,
Đồng thể tức Đại Bi.
Thế nhưng tại sao Hòa Thượng lại
thường công khai phê bình, bàn luận thị phi về người khác và
đăng trong Kim Cang Bồ Đề Hải (Vajra Bodhi Sea - nguyệt san của Vạn
Phật Thánh Thành)? Như vậy phải chăng là nói một đường, làm
một nẻo?"
Hòa Thượng trả lời:
"Người sẽ bị
đọa địa ngục là tôi chứ không phải ông. Nếu những gì tôi
nói là đúng sự thật, thì đó không phải là thị phi; nếu
không đúng sự thật, thì tôi chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục.
Nếu có kẻ nói rằng bậc đại tu hành không bị nhân quả, thì
quả báo là 500 đời làm thân chồn (hồ ly).
Nếu tôi chối bỏ nhân quả--gọi đen
là trắng, gọi trắng là đen, nói đúng thành sai, nói sai thành
đúng - nói những điều không đúng thật, thì tôi sẽ bị đọa
địa ngục Bạt Thiệt (rút lưỡi). Nếu tôi không nói sai, thì
tôi không có tội.
Mạnh Tử có nói: ‘Ta há phải thích
biện luận đâu! Ta cũng bất đắc dĩ đó thôi! Nếu cái đạo của
Dương Tử và Mặc Tử không tắt đi, thì cái đạo của Khổng Tử
chẳng được sáng rỡ vậy!’ (1)
Tại sao tôi thích nói 'thị, phi’ (điều
đúng và điều sai)? Vì trong Phật Giáo có quá nhiều 'thị, phi’!
Lại còn nào là hắc giáo (giáo phái
đen), bạch giáo (giáo phái trắng), hoàng giáo (giáo phái vàng), hồng
giáo (giáo phái đỏ) ... thảy đều biến thành nhiều màu sắc
khác nhau, đến hoa cả mắt. Ngay cả đen cũng không biết mình
là đen, trắng cũng chẳng hay mình là trắng. Cho nên, tôi muốn
nói ra những điều mà người khác không dám nói; nếu quý vì
có ai không hài lòng thì cũng không sao, tôi cũng chẳng bận tâm.
Tôi là kẻ chuyên môn đả phá tà tri tà kiến của người khác!"
Từ đoạn nói chuyện trên, chúng ta
có thể thấu rõ được tâm từ bi bao la không đành lòng thấy
chúng sanh bị đau khổ của Hòa Thượng. Đó gọi là "đại từ
đại bi, gần như tàn nhẫn", và chính là thiện xảo phương
tiện để giáo hóa chúng sanh của bậc Bồ Tát. Hòa Thượng có
lần viết bài thơ nói lên quyết tâm của Ngài:
"Tôi muốn nói lời thật,
Không sợ bị đánh, chửi.
Giết tôi, tôi chẳng sợ,
Giải thoát, có gì ngại?"
Hòa Thượng Hư Vân đã nói:
"Nho sĩ là
tội nhân của Khổng Tử; Tăng sĩ là tội nhân của Phật."
Ngài còn nhấn mạnh: "Kẻ hủy diệt Phật Pháp chính là
giáo đồ của Phật Giáo, chứ không phải các giáo phái khác. Kẻ
làm cho Lục Quốc diệt vong chính là Lục Quốc, chứ không phải
nhà Tần. Kẻ làm suy sụp nhà Tần chính là nhà Tần, chứ không
phải Lục Quốc vậy."
Trong kinh có nói rằng những biểu hiện
suy tàn của thời kỳ Mạt Pháp có thể nhận thấy ở khắp nơi
- như việc Tăng sĩ cưới vợ, ni cô lấy chồng, giới y cà-sa
được thay bằng y phục thế tục, cư sĩ ngồi trên tòa cao, v.v
... Có cư sĩ Âu Dương Cánh Vô đã dùng tri kiến riêng của mình
mà viết ra Lăng Nghiêm Bách Ngụy Thuyết để phản đối Lăng
Nghiêm.
Lại có Pháp Sư Viễn Tham nói rằng
Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Pháp Hoa và nhiều kinh khác, cũng
như Đại Thừa Khởi Tín Luận đều là giả mạo. Đây
chính là những hiện tượng của Thời Kỳ Mạt Pháp.
Hòa Thượng đã nhiều lần lập
đi lập lại
lời huấn thị về việc bảo vệ và duy trì Chánh Pháp:
"Trong Phật Giáo, tất cả kinh điển đều rất quan trọng,
nhưng Kinh Lăng Nghiêm còn quan trọng hơn nữa. Phàm hễ nơi nào
có Kinh Lăng Nghiêm, thì nơi đó có Chánh Pháp trụ thế. Khi Kinh
Lăng Nghiêm bị mất đi, đó là dấu hiệu của Thời Kỳ Mạt
Pháp. Khi giảng Kinh Lăng Nghiêm, tôi có nói rằng: 'Vào thời kỳ
Mạt Pháp, Kinh Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất. Sau đó dần
dần các kinh khác cũng bị diệt theo.' Kinh Lăng Nghiêm là chân
thân của Phật, là xá-lợi của Phật, là tháp miếu thờ Phật.
Nếu Kinh Lăng Nghiệm là ngụy tạo, thì tôi sẵn sàng chịu đọa
địa ngục Vô Gián, vĩnh viễn ở chốn địa nguc, không bao giờ
được trở lại thế gian để gặp mọi người nữa! Người nào
có thể học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, học thuộc Chú Lăng Nghiêm,
thì người đó mới là đệ tử chân chánh của Phật!"
Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói với Tôn Giả Ca Diếp rằng:
"Trong quá khứ khi
Ta là vị vua tên Hữu Đức, để hộ trì Chánh Pháp, Ta đã chiến
đấu với những kẻ muốn hủy hoại Chánh Pháp, và đã thiệt mạng.
Sau khi chết, Ta được sanh về cõi nước của Phật A Súc Bệ và
trở thành đệ tử thượng thủ của Đức Phật đó. Này Ca Diếp!
Những người hộ trì Chánh Pháp được quả báo công đức vô lượng
như thế. Do nhân duyên hộ trì Chánh Pháp này, mà nay Ta được
tướng hảo trang nghiêm và thành tựu được Pháp thân kim cang bất
hoại."
"Pháp" tự nó vốn không có
"Chánh, Tượng, Mạt"; nhưng tâm con người thì có sự phân biệt về
"Chánh, Tượng, Mạt". Theo Hòa Thượng, bất cứ khi nào còn có người dụng
công tu hành, thì khi đó là Chánh Pháp còn đang trụ thế.
Nếu không còn ai tu hành, không có người
nào đọc, tụng, và học thuộc Kinh Lăng Nghiêm, thì đó là Thời
Kỳ Mạt Pháp. Bởi trong Kinh Lăng Nghiêm, có phần "Tứ Chủng
Thanh Tịnh Minh Hối" giảng về sát sanh (sát), trộm cắp (đạo),
dâm dục (dâm), dối trá (vọng); với phần "Ngũ Thập Ấm Ma” giảng
về thiên ma, ngoại đạo cặn kẽ đến tận xương tuỷ; và cả
hai phần này đều nói rất rõ ràng rằng khi nào không còn người
giữ giới, thì khi đó là Thời Kỳ Mạt Pháp. Giới còn, tức
là Phật Pháp còn vậy!
Vào năm 1990, trong một lần thuyết giảng
tại Trung Tâm Lao Công ở Cao Hùng, Đài Loan, Hòa Thượng đã khẩn
thiết nói rằng: "Thời Kỳ Mạt Pháp là do những người tại gia
chỉ hộ trì cho một người xuất gia riêng lẻ mà tạo
thành!". Vì sao lại như thế?
Hòa Thượng giải thích rằng:
"Người
xuất gia sống một mình một chùa, xưng vương xưng bá, làm vua một
cõi. Người tại gia do thiếu Trạch Pháp Nhãn' nên
đi theo hộ Pháp cho họ, hộ tới hộ lui, và hộ luôn xuống địa
ngục! Vào Thời Kỳ Chánh Pháp, tất cả đại chúng đều sống
chung trong một đại tùng lâm của chùa và cùng nhau dụng công
tu Đạo. Song, vào thời kỳ Mạt Pháp, người ta lại không thích
nếp sống của đại tùng lâm nữa. Mỗi người ở một chùa
riêng - ông theo cách của ông, tôi theo cách của tôi - khiến cho người
tại gia trở nên hoang mang, bối rối. Họ thấy ông sư nầy tướng
mạo trông đẹp đẽ bèn hộ pháp cho ông ta, xây chùa riêng cho
ông ta trụ trì. Rồi sau đó lại thấy một vị sư khác cũng không
tệ lắm, họ lại xây cho vị đó một ngôi chùa nữa. Hộ tới hộ lui, rốt cuộc là làm cho
những người xuất gia sanh lòng tham danh hám lợi đến nỗi phải
hoàn tục!"
Hòa Thượng hoàn toàn không phản đối
việc xây chùa, nhưng chỉ vì con người ngày nay quá hưởng thụ,
không biết lấy Pháp nghĩa và giáo dục (nghĩa lý Phật Pháp và
đạo lý giáo dục) để hóa độ chúng sanh. Họ chỉ biết dùng
"chùa lớn" để độ chúng sanh, cùng bày ra phương cách
để được nổi tiếng và trở nên giàu có.
Cái nhìn của Hòa Thượng về việc xây
chùa như sau:
"Tạo chùa không bằng tạo người, tạo người
không bằng tạo Phật. Tôi muốn làm một người thợ đúc tượng.
Tôi muốn đúc nên những vị Phật sống, những vị Bồ Tát sống,
những vị Tổ Sư sống. Tôi còn muốn làm cho tất cả chúng sanh
trên toàn thế giới này đều biến thành những vị Phật sống,
Bồ Tát sống, Tổ Sư sống luôn nữa! Tôi đả phá đây không phải
là những ngôi chùa lớn, mà là các miếu thờ Thổ Địa, miếu
thờ Thành Hoàng, miếu thờ của gia tộc. Khi những người ở chùa
nhỏ dọn sang chùa lớn, thì tất cả có thể cùng nhau tu hành,
như thế mới là nếp sinh hoạt của một đại tùng lâm. Vì sao
ở chùa nhỏ thì không được tốt? Bởi vì ở đó thiếu sự
gò bó, câu thúc; không cần phải "quán tự tại", mà có thể
ăn tự tại, mặc tự tại, đi đứng tự tại, nên rất dễ
quên đi việc tu Đạo. Hàng ngày chỉ biết phan duyên, mà tập
khí nầy chính là vết thương trí mạng làm băng hoại Phật Giáo!"
Tôi hy vọng Phật Giáo sẽ ghi lòng tạc
dạ những lời này và đừng tiếp tục "bịt tai ăn cắp chuông,"
dối gạt nhân loại nữa. Hiện nay, các dấu hiệu hỗn loạn
trong Phật Giáo tại Đài Loan đã vô cùng nghiêm trọng, có thể
nói là đến mức phải báo động rồi; thế nhưng, chẳng có người
nào dám đứng ra lên tiếng kêu gọi; mà ai nấy chỉ trố mắt
ngồi nhìn cảnh Phật Giáo đang đi dần về hướng diệt vong.
Cách ba bước là có một tịnh xá, đi
năm bước là gặp một ngôi chùa lớn – mọi người đều ra sức
tổ chức Pháp hội, siêu độ vong linh, làm lễ quán đảnh, truyền
Pháp, xây chùa..., mà chẳng hay biết gì về việc hoằng dương
giáo nghĩa, hướng dẫn chúng sanh làm thế nào để chấm dứt
sanh tử! (2)
Giáo nghĩa căn bản của Đức Phật là
giáo dục, làm cho tất cả chúng sanh đều có trí huệ, có Trạch
Pháp Nhãn, biết nhân biết quả, đoạn ác tu thiện; chứ chẳng
phải một mực chú trọng về việc xây chùa dựng miếu, tổ chức
Pháp hội! Chúng ta có bao giờ tự hỏi rằng đằng sau những lời
giáo huấn nghiêm khắc này của Hòa Thượng ẩn giấu biết bao máu
lệ xót xa?
Như ý nghĩa trong câu “đản năng
quang chiếu viễn, bất tích tự phần thân”, Hòa Thượng chỉ
muốn ánh sáng từ ngọn đuốc trên tay Ngài soi sáng đuợc càng
xa càng tốt, mà chẳng quan tâm đến việc mình bị phỏng! "Dầu
gặp muôn vàn khó khăn, tôi vẫn giữ vững ý chí của mình."
Đây là lời mô tả chân thật
nhất về Hòa Thượng.
Ghi chú của Ban Việt Dịch:
(1) - Mạnh Tử (Mạnh Kha), người đất Châu
(372-289 trước Tây lịch), là một nhà hiền triết có công rất
lớn trong việc làm sáng tỏ đạo Nho.
- Dương Tử (Dương Chu), người nước Vệ
(khoảng 440-360 trước Tây lich); là một triết gia thời Chiến
Quốc; chủ trương thuyết
"vị
ngã"—chi lo riêng về việc mình mà không hề đếm xỉa đến
thiên hạ sự, quyết gạt bỏ ngoài tại chuyện của người.
- Mặc Tử (Mặc Địch), người nước Sở,
là một đại học giả thời Chiến Quốc, làm Đại Phu cho nước
Tống; chủ trương thuyết kiêm ái và hòa bình; lập ra học phái
Mặc Gia, lấy kiêm ái làm chủ đích.
(2) Lão Hòa Thượng Quảng Khâm đã từng
khai thị rằng: "Trên thế gian hiện nay, đích thực có những người
xuất gia như thế. Họ chỉ mưu tính khuếch trương ngôi chùa của
mình cho lớn, chiêu dụ tín đồ theo mình cho đông, để khoe là
có khả năng trước mặt mọi người! Họ không cho phép tín đồ
kính tin các vị Phật ở những chùa khác (chỉ được tin vị Phật
ở chùa của họ mà thôi!); và tín đồ cũng chỉ được tin một
mình họ thôi, không được tôn kính những người xuất gia khác.
Hạng người cống cao ngã mạn, tự tôn tự đại này, chẳng phải
vẫn còn lăn lóc trong vòng danh lợi giống như người tại gia bình
thường, sống lây lất trong khổ não qua ngày đoạn tháng sao? Phật
Pháp vốn chưa suy vi, chính là lòng người đang suy vi vậy!"
(Nguồn: http://www.dharmasite.net/bdh66/chanhphaplagi.html)