NHỮNG GIAI THOẠI VỀ BÁT CHÁO TRONG KINH PHẬT
Như Quang

Rằm tháng Tư có ba sự kiện quan trọng mà người Phật tử
nào cũng biết. Đó là ngày Phật đản sanh, thành đạo và niết bàn, gọi
chung là ngày lễ Vesak (Tam hợp). Nói đến việc thành đạo của Đức Thế Tôn
là phải nói đến một chi tiết nhỏ nhưng vô cùng quan trọng.
Đó là bát cháo sữa đã giúp sức cho Ngài tu tập đạt thành chánh quả.
Trong buổi sáng trước ngày Thành đạo, lúc Bồ tát ngồi dưới gốc cây
Ajapala gần cội Bồ đề bên bờ sông Neranjarà, một phụ nữ tên Sujata đã
dâng đến Ngài bát cháo sữa mà nàng đã tự tay nấu lấy. Sau khi thọ xong
bữa ăn có nhiều chất dinh dưỡng ấy, Đức Phật nhịn đói luôn suốt bảy tuần
nhật. Có lẽ nhờ bát cháo Sujata mà cháo đã trở thành một món ăn quan
trọng thường được Đức Thế Tôn nhắc đến trong kinh điển. Theo Trường Bộ
Kinh (kinh số 17) có tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa. Rất nhiều lần Đức
Phật được dâng cháo sữa, cháo gạo hay cháo đặc biệt nấu từ hoa cây sala
của gia chủ Ugga, Ngài đều hoan hỷ thọ nhận. Nhưng cũng có khi Ngài chối
từ không thọ nhận. Đó là trường hợp bát cháo của người Bà la môn
Kasibhàradvàja. Tiểu Bộ Kinh (kinh Tập, chương Một, phẩm Rắn, Người cày
ruộng) ghi: “Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại núi
Dakkhinàgini, trong một làng Bà la môn tên Ekanàlà. Lúc bấy giờ, Bà la
môn Kasibhàradvàja có khoảng năm trăm lưỡi cày sẵn sàng, vì là thời gieo
mạ. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi đến chỗ Bà la môn
Kasibhàradvàja đang làm việc. Lúc bấy giờ Bà la môn Kasibhàradvàja đang
phân phát đồ ăn. Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, để khất thực. Bà la
môn Kasibhàradvàja liền nói với Thế Tôn:
- Này Sa môn, ta cày và ta gieo, sau khi cày, sau khi gieo, ta ăn. Và Sa môn, hãy cày và gieo. Sau khi cày và gieo, hãy ăn!
- Này Bà la môn, Ta cũng cày và cũng gieo. Sau khi cày và sau khi gieo, Ta ăn.
- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, hay cái cày, hay lưỡi cày, hay gậy
thúc trâu bò, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Sau khi nghe như
thế, Thế Tôn giảng giải phương pháp cày bừa của Ngài. Bà la môn
Kasibhàradvàja nghe xong hoan hỷ lấy một bát bằng đồng lớn, cho đổ đầy
với cháo sữa dâng Đức Phật nhưng Thế Tôn không thọ dụng vì người này
cúng dường không đúng pháp: Ta không hưởng vật dụng/Do tụng kệ đem
lại/Ðây không phải là pháp/Của bậc có chánh kiến”.
Cháo là hình thức của cơm nấu loãng, là thực phẩm thông dụng của trẻ em
hoặc người già, người bệnh. Có một loại cháo mà tất cả chúng sanh khi đi
đầu thai vào cảnh giới khác đều phải ăn là “cháo lú”. Tục ngữ Việt Nam
có nhắc nhiều đến cháo: ăn một bát cháo chạy ba quãng đồng, ăn cháo để
gạo cho vay, ăn cháo đá bát, tiền trao cháo múc, bữa rau bữa cháo, cơm
hàng cháo chợ, mượn đầu heo nấu cháo v.v… nhưng đây chỉ là những câu nói
ví von không chuyên chở được những lợi ích thực tiễn của cháo. Với cái
nhìn siêu việt của bậc Đạo sư, Đức Phật đã nhận ra năm lợi ích của cháo
là: trị đói, trừ khát, điều hòa phong, làm sạch bàng quang (và huyết
quản) và tiêu hóa các đồ ăn sống còn lại. Năm điều này đã được Ngài nói
đến trong Tăng Chi Bộ Kinh (chương 5, phần Cháo).
Có lẽ chư Tăng chùa Thiếu Lâm tại Trung Hoa cũng thông hiểu những lợi
ích này nên đã sử dụng cháo trong thực đơn hàng ngày: Thiếu Lâm sư Tăng
ngày ba bữa/Sáng thường cháo đặc hai bát đầy/Trưa thì cháo loãng với
bánh bột.
Trưởng giả Cấp Cô Độc cũng thường xuyên cúng dường cháo vào buổi sáng.
Trong khi bậc Ðạo sư còn ở Kỳ Viên, mỗi ngày sáng trưa chiều vị triệu
phú đi đến tinh xá ba lần để cúng dường. Ngoài ra, còn nhiều sự giúp đỡ
khác. Ông Cấp Cô Ðộc không bao giờ đi tay không, ngại các Sa di hay Tỷ
kheo trẻ xem mình có đem gì trong tay không. Buổi sáng ông đem theo
cháo…
Dù cháo là món thực phẩm khiêm nhường nhưng không phải vì lẽ ấy mà các
Tỷ kheo được thọ dụng một cách bừa bãi. Trong một vài trường hợp Đức Thế
Tôn dạy các Tỷ kheo không nên thọ dụng món cháo đặc của người khác khi
đã được thỉnh mời ở một nơi khác. Trong Luật tạng (Đại phẩm, chương Dược
phẩm), Đức Phật kể chuyện một ngàn hai trăm vị Tỷ kheo từ chối thọ nhận
thịt từ sự cúng dường của một quan Đại thần mới có đức tin, vì chư vị
Tỷ kheo này đã thọ cháo đặc vào sáng sớm rồi. Vị quan đại thần giận dữ
và không hoan hỷ. Sau khi Đức Thế Tôn thọ thực xong, Ngài thuyết pháp
cho vị quan ấy và giảng về phước báo mà ông đã tạo, khiến ông trở nên
mừng rỡ, phấn chấn. Do sự kiện này, Thế Tôn chế định điều luật như trên.
Cũng để tránh việc không đem lại niềm tin cho những người chưa có đức
tin, Thế Tôn dạy cháo cúng dường phải được tạo ra hợp pháp, đúng lẽ đạo.
Ngài đã khiển trách một vị Tỷ kheo trước đó làm nghề thợ cạo đã cúng
dường cháo bằng phương pháp không thích nghi. Vị này sai hai người con
của mình đem thùng dao cạo đi từ nhà này qua nhà khác; với sự thưởng
công họ gom góp muối, dầu ăn, gạo lứt, và vật thực loại cứng để làm món
cháo cúng dường đến Đức Thế Tôn. Với tâm của đấng Như Lai, Thế Tôn biết
mọi sự việc nhưng Ngài vẫn hỏi lại người thợ cạo xuất xứ của món cháo và
người thợ cạo đã xác nhận việc làm của mình nên Ngài đã qui định là vị
nào trước đây là thợ cạo không nên mang theo thùng dao cạo (Luật tạng,
Đại phẩm, chương Dược phẩm).
Trong kinh tạng Pàli chúng ta thấy các vị Phật Độc Giác, Phật Bích Chi,
Tỷ kheo… thọ dụng cháo rất thường xuyên. Một vị Bích Chi Phật thường đến
khất thực tại nhà một người chăn bò và được ông nấu dâng rất nhiều cháo
và xúp, mỗi khi thọ nhận Ngài đều dành cho con chó của người chăn bò
một phần cháo nên nó cứ quấn quýt bên Ngài.
Nhưng không phải Tỷ kheo nào cũng nhận được những bát cháo sữa thơm ngon
hay bát cháo mới nấu. Có vị đã phải nhận một bát cháo cũ người ta đem
đi quăng đổ như Tôn giả Ratthapala. Tôn giả đi khất thực từng nhà một ở
Thullakotthita và đến tại nhà người cha mình nhưng không nhận được bố
thí, chỉ nhận được lời sĩ nhục. Lúc bấy giờ, người nữ tỳ thân gia của
Tôn giả Ratthapala muốn quăng đổ cháo ngày hôm qua. Tôn giả Ratthapala
nói với người nữ tỳ ấy:
- Này chị, nếu cần phải quăng đổ cháo này, hãy đổ vào bát của tôi ở đây.
Rồi tôn giả Ratthapala ngồi dựa vào một bức tường, ăn cháo của ngày hôm qua ấy (Trung Bộ Kinh, kinh Ratthapala, số 82).
Cũng giống như Tôn giả Ratthapala nhận được cháo thiu bố thí mà vẫn an
vui thọ dụng, nhiều Tỷ kheo đi khất thực khắp đường phố chỉ nhận được
vài muỗng cháo và họ vẫn an lạc uống cháo ấy như câu chuyện kể trong
Thanh Tịnh Đạo: “Sáng sớm, các đại đức cùng vào thành. Khi họ đã đi hết
một con đường phố và chỉ được muỗng cháo, họ ngồi tại một nhà mát để
uống cháo ấy”.
Cho dù cháo không phải là loại thực phẩm thượng vị nhưng đôi khi các
Tỷ kheo muốn dùng cũng vẫn phải bạch lên Đức Thế Tôn. Thí dụ như có nhu
cầu về nước cháo trắng, các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.
- Này các Tỷ kheo, ta cho phép (sử dụng) nước cháo trắng.
Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ bị bệnh đau bụng bão. Vị ấy đã húp
cháo chua có bỏ muối. Bệnh đau bụng bão ấy của vị ấy đã được thuyên
giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên Đức Thế Tôn.
- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thọ dụng cháo chua có bỏ muối một cách
thoải mái đối với vị bị bệnh (Luật tạng, Đại phẩm, chương Dược phẩm).
Đức Thế Tôn từng nói đến cháo như là dược phẩm và Ngài đã dạy cho một
người Bà la môn nhiều điều lợi ích về cháo cũng như sự lợi ích của việc
bố thí cháo đến những bậc đáng cúng dường:
- Này Bà la môn, đây là mười điều lợi ích của cháo. Mười điều ấy là gì?
Trong khi bố thí cháo (người ấy) bố thí tuổi thọ, bố thí sắc đẹp, bố thí
sự an lạc, bố thí sức mạnh, bố thí trí tuệ, người đã húp cháo dứt hẳn
cơn đói, chận đứng cơn khát, điều hòa gió, làm sạch bàng quang, và làm
tiêu hóa phần (vật thực) thô còn lại chưa được tiêu hóa. Này Bà la môn,
đây là mười điều lợi ích của cháo. Ngài còn dạy thêm: Người nào bố thí
cháo/Cung kính và hợp thời/Đến những ai thu thúc/Ăn vật kẻ khác cho/Là
đã cho vị ấy/Được mười điều lợi ích/Tuổi thọ, và sắc đẹp/An vui, và sức
mạnh/Nhờ đó được sanh khởi/Trí tuệ cho vị ấy/Xua đi được cơn đói/Cơn
khát, gió (điều hòa)/Làm trong sạch bàng quang/Tiêu hóa vật ăn vào/Vật
ấy là dược phẩm/Đấng Thiện Thệ ngợi khen/Bởi thế, người khao khát/An lạc
chốn thiên đường/Hoặc là đang mong muốn/Sự phồn vinh nhân loại/Nên
thường xuyên bố thí/Cháo đầy đủ đến vị/Có nhu cầu an lạc (Luật tạng, Đại
phẩm).
Lời dạy ấy đã đem lại một quả thiện vô cùng thù thắng cho một người giữ
ruộng. Tích truyện Pháp Cú (số 54) có thuật lại câu chuyện một người giữ
ruộng được sanh thiên nhờ bố thí đúng thời một bát cháo cua đến một Tỷ
kheo bị bệnh: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha trong Trúc Lâm.
Thời ấy một Tỷ kheo đang thực hành thiền quán bỗng ngã bệnh vì chứng đau
tai rất trầm trọng. Thuốc chữa của y sĩ chẳng công hiệu gì. Vị ấy trình
với Đức Thế Tôn, Ngài biết cháo cua là thứ thuốc chữa bệnh ấy, bèn dặn
vị Tỷ kheo ấy đến khất thực ở vùng đồng ruộng nước Ma Kiệt Đà. Vị ấy đến
đó và đứng khất thực tại cửa lều người giữ ruộng. Người này, sau khi
nấu món cháo cua làm thức ăn, liền mời vị ấy ngồi và cúng một ít cháo.
Vị Tỷ kheo ăn món cháo thì trở nên khỏe mạnh như thể được tắm với cả
trăm gàu nước mát. Tâm trí thanh thản nhờ thức ăn thích hợp, vị ấy hướng
tâm trở về thiền quán và chứng đắc quả A la hán ngay cả trước khi ăn
xong bữa. Vị ấy bảo người giữ ruộng:
- Này cư sĩ, nhờ phước quả công đức này, hiền hữu sẽ không còn bị thân bệnh và tâm bệnh nữa.
Chúc phước xong, vị ấy ra đi. Về sau người giữ ruộng từ trần, được tái
sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một căn phòng làm bằng ngọc bích,
giữa một tòa lâu đài bằng vàng rộng mười hai do tuần, trụ bằng ngọc được
trang hoàng uy nghiêm với bảy trăm sảnh đường có nóc nhọn cao vút.
Trước cửa lâu đài, một con cua bằng vàng được treo trên một chuỗi ngọc
trai”.
Ngoài ra còn nhiều phước báu cao quý khác như được làm hoàng hậu, làm
vua chỉ vì bố thí cháo đến chư Phật Độc Giác như trong Chuyện tiền thân
(số 415) nói về nguyên nhân hoàng hậu Mallikà được phong làm chánh hậu:
“Mallikà (Mạt Lợi) nguyên là con gái của vị trưởng nghiệp đoàn bán vòng
hoa, cực kỳ diễm lệ và hiền thục. Khi nàng được 16 tuổi, trong lúc đi
đến vườn hoa cùng các thiếu nữ khác, nàng mang theo ba phần cháo sữa
chua trong giỏ hoa. Khi rời thành phố, nàng trông thấy Đức Thế Tôn vào
thành, tỏa hào quang rực rỡ và được Tăng chúng vây quanh, nàng đem cúng
dường Ngài ba phần cháo ấy. Bậc Ðạo Sư đưa bát của ngài ra nhận cháo.
Nàng đảnh lễ chân Đức Như Lai và lấy niềm hoan hỷ ấy làm chủ đề thiền
quán, nàng đứng sang một bên. Bậc Ðạo Sư mỉm cười, nhìn nàng. Tôn giả
Ànanda tự hỏi tại sao Đức Như Lai mỉm cười và hỏi Ngài vấn đề này. Bậc
Ðạo Sư nói lý do:
- Này Ànanda, cô gái này hôm nay sẽ trở thành chánh hậu của vua Kosala do phước báu ba phần cháo này.
Còn cô gái tiếp tục bước đến vườn hoa. Ngay chính hôm ấy vua Kosala giao
chiến với vua Ajàtasattu và thất bại phải đào tẩu. Trong khi đang đi
ngựa, vua nghe tiếng nàng hát rất hấp dẫn liền thúc ngựa vào khu vườn.
Công đức của cô gái đã đến thời chín muồi, vì thế khi thấy vua, nàng
không chạy trốn mà đi đến cầm lấy dây cương nơi mũi ngựa. Vua ngồi trên
lưng ngựa hỏi nàng đã có chồng chưa. Khi nghe nàng đáp chưa, ông đưa
nàng lên ngựa, cùng đạo quân hùng hậu đi vào thành. Chiều hôm ấy vua
phong nàng làm chánh hậu”.
Rồi Ngài kể thêm chuyện tiền thân của Bồ tát Kummasàpinda nhờ bố thí
cháo không có muối đến chư Phật mà được làm vua: “Thuở đó Bồ tát sinh
vào một nhà nghèo. Khi lớn lên ngài tìm kế sinh nhai bằng cách làm công
cho một nhà giàu. Một hôm ngài mua bốn phần cháo ở cửa tiệm và suy nghĩ:
Cái này vừa đủ để ta ăn sáng. Rồi ngài ra làm việc ngoài đồng. Khi thấy
bốn vị Ðộc Giác Phật đang vào Ba La Nại khất thực, ngài suy nghĩ: Ta có
bốn phần cháo này, giả sử ta đem cúng dường các vị đang đến Ba La Nại
khất thực? Vì thế ngài đi đến đảnh lễ các vị và nói:
- Thưa các Tôn giả, con hiện đang cầm bốn phần cháo, con xin cúng dường
các vị, mong các vị nhận lấy để cho con được phước đức đem lại an lạc
lâu dài về sau.
Được các vị nhận lời, ngài đặt bốn phần cháo vào bốn bình bát vừa đảnh lễ cung kính vừa thưa:
- Thưa các Tôn giả, ước mong nhờ phước báu này con sẽ không sinh vào nhà
nghèo nữa, ước mong đây sẽ làm nhân duyên cho con đắc quả vị Chánh
Giác.
Nhờ phước báu này, ngài tái sinh vào mẫu thai của chánh hậu thành Ba La
Nại, được đặt tên vương tử Brahmadatta. Khi được lên làm vua ngài quán
sát biết đó là do công đức cúng dường bốn vị Ðộc Giác Phật bốn phần cháo
ở kiếp trước nên đã nói lên: Cúng dường chư Phật cao quý thay/Người bảo
đừng xem rẻ việc này/Ðem tặng cháo dù không có muối/Cho ta phước báu
lớn như vầy”.
Trong khi cháo đem lại lợi lạc cho nhiều người thì cháo cũng đem đến đau
khổ cho một số người khác. Chuyện tiền thân (số 423) ghi: “Một thiện
gia nam tử ở Sàvatthi nghe giáo pháp của bậc Ðạo Sư thì để lại tài sản,
nhà cửa cho vợ con, và thỉnh cầu bậc Ðạo Sư truyền giới xuất gia cho
mình. Vì ông chỉ là Sa di lúc khất thực cùng các vị giáo thọ, sư trưởng
và Tăng chúng lại đông, nên ông không có được ghế ngồi trong nhà cư sĩ
hoặc trong trai đường, mà chỉ có một ghế thấp nhỏ hoặc ngồi ở dãy ghế
dài cuối chỗ các Sa di. Thức ăn chỉ được múc vội vã cho ông bằng cái
muỗng lớn: ông nhận món cháo tấm, các món cứng thì hôi hám hoặc hư nát,
hoặc các cọng rau đã khô héo, cháy sém và phần ăn này không đủ nuôi sống
ông.
Ông liền đem các món ăn nhận được về đưa cho người vợ cũ mà ông đã rời
bỏ. Nàng cầm lấy bình bát, kính chào ông, đổ hết các thứ ấy ra và thay
vào món cháo nấu thật ngon và cơm trộn sốt cà ri. Vị Sa di bị lòng ham
thích các hương vị ấy lôi cuốn nên không thể rời vợ. Món cháo tấm thanh
tịnh của người xuất gia đã được thay bằng món cháo thượng vị của người
phàm phu để người Sa di đã quay trở lại con đường mà trước đây mình từ
bỏ”.
Qua các câu chuyện về cháo, chúng ta nên tri ân bát cháo Sujata, vì nhờ
nó mà chúng ta có được giáo pháp nhiệm mầu để nương nhờ. Chúng ta cũng
nên suy nghiệm về mười điều lợi ích của cháo và sự cúng dường cháo mà
Đức Thế tôn đã chỉ dạy như thọ dụng cháo đúng pháp và bố thí cháo đúng
thời. Điều quan trọng nhất trong mười điều này là bố thí cháo đến những
vị biết thu thúc tức là giúp điều kiện cho trí tuệ của vị ấy được sanh
khởi. Khi trí tuệ của một bậc phạm hạnh được sanh khởi thì sự lợi ích
đem đến cho chúng sanh là vô lượng.
MÙA VESAK PL.2553
NHƯ QUANG
(Tạp San Y Tế)
Hình minh họa trên là tháp tưởng niệm nơi Đức Phật nhận bát cháo sữa của nàng Sujata tại một gốc cây, bên bờ sông Ni Liên Thiền ngày nay.