
THẾ GIỚI HOAN CA
Huệ giáo
Hạnh phúc thay chư Phật ra đời!
Xã hội Ấn Độ thời Đức Phật đản sinh, nằm trong một trạng thái đen tối và
nhiều đau khổ. Sự u ám đó không phải phát sinh đơn thuần từ nghèo đói,
bệnh tật mà chính là sự bế tắc từ tư tưởng con người. Biết bao học
thuyết được dựng lên nhằm góp phần xóa tan nỗi khó khăn này bởi những
nhà tư tưởng, tôn giáo, đạo học, tuy nhiên vẫn không chữa được căn bệnh
mà con người đang vướng phải trong tâm thức của họ. Đó là sự bế tắc
trong suy nghĩ, cuộc sống và trong thế giới con người họ đang cố vươn
lên để tự khẳng định lấy mình, và trong hoài niệm một cõi hạnh phúc trần
gian, chứ chưa nói đến một cõi thiên đường nào đó xa xôi.
Trước khi thái tử Tất Đạt Đa đản sinh và cho đến hôm nay, nền văn minh
Ấn Độ vẫn được xem là một trong những chiếc nôi tạo nên nền văn minh của
nhân loại. Nơi đây, một thời đã có rất nhiều triết thuyết đua nhau trổ
hoa như vườn hoa đầy màu sắc, xuất hiện nhiều nhân vật lỗi lạc, minh
triết làm tấm gương cho loài người soi rọi. Thế mà, cũng chính nơi đây,
sự không bình đẳng trong giai cấp, giàu nghèo, địa vị, sang hèn, đen
trắng có một khoảng cách quá lớn. Những hệ tư tưởng đó đã không mang lại
nhiều ích lợi cho con người, không tháo gỡ được nỗi bất an trong cuộc
sống, ngược lại những đau khổ, cuồng loạn cứ như bị chồng chất. Những hệ
tư tưởng ấy được Đức Phật diễn tả đầy màu sắc bao gồm sáu phái triết học
và những tôn giáo khác. Vậy mà, không có một sự đóng góp nào trong niềm
khát vọng và ước mơ của con người, đó là được sống hạnh phúc bởi tạo
dựng một thế giới hòa bình, xây dựng một đời sống an lạc và thịnh vượng
là một niềm khát khao muôn thuở của nhân loại.
Đức Phật ra đời, những lời dạy của Ngài phải chăng là lời giải đáp cho
sự tìm kiếm và trao chìa khóa để con người mở tung cánh cửa cuộc đời để
thực hiện ước mơ của mình, tạo dựng một thế giới an bình cho nội tâm và
ngoại cảnh.
Thật vậy, Đức Phật đã từng tuyên bố: "Không có giai cấp trong nước mắt
cùng mặn, máu cùng đỏ". Một lời tuyên bố như một sự khẳng định minh
triết, một bản tâm ca đời sống của nhân loại. Vì con người không nhận
chân được lòng tự quyết của chính mình và đã phủ nhận tánh linh cao
thượng của người khác. Dẫu biết rằng, ai cũng có Phật tánh và ai cũng
đều có thể trở nên cao thượng. Cao thượng hay thấp hèn, tất cả đều do
quyết định của chính mỗi người. Không một Thượng đế ban phát, không một
thần linh đặt để và không một thế lực bên ngoài nào có thể tạo ra sức
mạnh cao hạ cho người khác, và cuối cùng không có một quyền năng siêu
nhiên nào có thể mang lại hạnh phúc hay đau khổ cho loài người. "Chỉ có
ta làm cho ta ô nhiễm và chỉ có ta làm cho ta trong sạch" và "chỉ có ta
làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ".
Lời minh triết của Đức Phật đã tháo gỡ mọi xiềng xích, phá tung mọi ràng
buộc, vướng kẹt của con người, tháo gỡ một hệ thống mà tư tưởng nội dung
hàm ý Thượng đế là trên hết, thần linh là sáng tạo và cao cả.
Từ hệ tư tưởng "thần thánh" này bao phủ, con người cảm nhận mình trở nên
nhỏ bé, và càng nhỏ bé thì hạnh phúc hay đau khổ - những vấn đề lớn của
cuộc đời, con người không thể giải quyết được. Và cuối cùng là sự an
phận, trong sự đen tối và tủi nhục, bởi sự thật thần thánh và Thượng đế
không hề có sức mạnh, phép mầu như con người tưởng tượng ra.
Sự ra đời của Đức Phật đáp ứng được ước mơ của con người thời đại ấy và
cho đến hôm nay, về sau, Ngài đã mang đến cho chúng ta một thông điệp an
bình là cho đến khi nào con người còn biết rằng trong ta và trong mỗi
người đều có sức mạnh chuyển hóa. Chuyển hóa từ sự nhận thức tầm thường
của dục vọng, từ sự tham muốn thúc đẩy của dục ái, và từ sự tham muốn
dứt khoát xả bỏ tư duy giữa cái ta và cái của ta, thì lúc ấy con người
đã nắm lấy được thông điệp của Ngài và đi đến bên bờ hạnh phúc.
Đức Phật đã dạy cho chúng ta rằng, từ sự nhận thức và hành động có chủ
đích của chúng ta trong hiện tại cũng như trong quá khứ như thế nào thì
cánh cửa hạnh phúc hay đau khổ sẽ đón nhận chúng ta như thế đó. Chẳng
một ai khác có thể cho chúng ta và nhận lãnh cho chúng ta điều này, đừng
bao giờ hão huyền, lầm lẫn. Xác định vững chắc như thế, thì chúng ta đã
thấy được một thế giới mà trong đó tâm tưởng và hình hài của chúng ta
được xây dựng một cách hoàn hảo, hay bóp nát chính từ ngay chúng ta chứ
không ai khác.
Bản An bình ca được thâu tóm như một lời minh triết của Đức Phật trao
đến lòai người, đã làm bùng nổ, tan vỡ một hệ tư tưởng ràng buộc đã ăn
sâu trong tâm trí của con người, và đã đưa chính họ vào ngõ cụt, không
cửa thoát trong vòng tròn ưu phiền của đời sống và luân hồi sinh tử. Sự
giải thoát ra khỏi hệ lụy của một hệ tư tưởng thần thánh đã mang đến
nhiều hạnh phúc cho nhân loại, không những ở trước ngay thời điểm Đức
Phật đản sinh, của những người con Ấn Độ thầm lặng mà cho đến tất cả mọi
người trên thế giới bất kể đó là nam hay nữ, màu da, giai cấp và địa vị
ngày hôm nay. Nếu chúng ta hiểu biết về sự bình đẳng, và mang chúng sống
trong thế giới tương quan tương duyên này thì một điều chắc chắn hiện ra
là không có sự đau khổ dằn vặt, mâu thuẫn giữa con người và con người
với nhau.
Nhận thức được sự cao quý từ bên trong con người, sự bình đẳng đã có của
mỗi người, quyền được sống ấm no, quyền được tái tạo gia đình và xã hội,
quyền được cất lên tiếng nói tự đáy lòng thì chúng ta sẽ thấy được sự
tham sống và mưu cầu hạnh phúc của kẻ khác, chiến tranh sẽ chấm dứt,
khát vọng làm não hại con người sẽ được loại trừ, và tình yêu thương
đồng loại sẽ được tăng trưởng.
Tình yêu thương đồng loại là một thuộc tính luôn có trong trái tim của
con người, nó đồng hành với sự căm thù, và vô số thuộc tính khác, tuy
nhiên con người không dám mạnh dạn loại bỏ những thuộc tính tiêu cực và
phát triển sự yêu thương đó. Ngược lại, con người lại mong muốn trong ý
thức hay vô tình gây tai họa cho đồng loại, muốn cường bá và muốn hơn
thua cao hạ để khẳng định cái ta, một cái ta ảo ảnh mà cứ lầm tưởng đó
là sự thật, và đó là trên hết. Nhưng thật sự, cái ta con người vin vào
ấy chính là tập hợp của vọng tưởng điên đảo tạo thành, của kết tinh sự
tham lam, sân hận, tập khí của ngu si, kiêu hãnh dựng nên để rồi chúng
ta lầm lẫn bám víu vào chúng làm đời sống thật của mình để cuối cùng làm
đau khổ cho nhau, cho đồng loại cộng tồn.
Vì không nhận thấy được lòng yêu thương vô bờ bến có sẵn bên trong của
chúng ta, do đó chúng ta cứ sẵn sàng sử dụng mặt tiêu cực của tâm để gây
chiến và phá hủy, trong đó môi trường, sự an sinh xã hội, sự nghèo đói
lan tràn, đầy dẫy bệnh tật là hệ quả kéo theo bắt nguồn từ việc sử dụng
mặt trái tiêu cực của mỗi con người. Và cuối cùng đã đưa thế giới chúng
ta đang sống đến ngõ cụt trong sự bất an vẫn là bất an.
Cho đến khi nào con người biết vận dụng triệt để sự bình đẳng và lòng
yêu thương này trong cái nhìn thật sâu sắc, có tư duy trong hành động
dưới sự giám sát của tâm thức an tĩnh, bất hại trong cuộc sống ở đó là
một sự tương quan của đồng loại không thể tách rời hay lọai trừ, thì lúc
ấy ước mơ của con người được sống trong một thế giới thịnh vượng, hòa
bình mới có thể khả dĩ được kiến tạo. Còn ngược lại, chúng ta chỉ tạo
thêm nhiều đau khổ với nhau. Sự rêu rao hòa bình chỉ nằm trong sách vở,
tâm tưởng và nằm trên bàn tròn của những kẻ tham vọng không bao giờ được
hành động, có chăng là tấm lòng của những người được học những bài học
tình thương sâu sắc, và ý thức được sự sinh tồn-yên ổn không bệnh tật,
di căn của nhân lọai trong thế giới hiện tại và cho lớp người mai sau,
mà họ đã quên mình xông pha vào chốn nguy hiểm, trong đó mạng sống chỉ
là tơ chỉ.
Kỷ niệm ngày Phật đản sinh, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại Thông điệp An
bình của Đức Phật, và hãy hành động đưa thông điệp này vào trong mỗi con
người, gia đình, quốc gia, và hãy làm cho thông điệp ấy được sáng tỏ như
là cương lĩnh sống và hành động của tất cả mọi người, thì chúng ta sẽ
thấy rằng trí tuệ siêu tuyệt của Đức Phật xuyên suốt thời gian đã đi
cùng với ước mơ muôn thưở của loài người.
Nơi đây, thế giới sẽ cất tiếng vang ca lời hạnh phúc, yêu thương mà Đức
Phật, một vị Thầy dẫn đường đã chỉ cho chúng ta thấy được cách đây hơn
2.500 trước, cho đến thời điểm này lời dạy ấy càng vang vọng trầm hùng
đến độ nào, con người vẫn còn khao khát ước mơ đến chúng và luôn mong
mỏi cho tất cả mọi người thực hiện chúng. Đây mới chính là niềm vui lớn,
một niềm hạnh phúc cao cả chân thật vì chính chúng không bị chi phối bởi
dục vọng của chúng ta. Niềm vui Đức Phật đản sinh. Niềm vui ánh sáng của
Ngài đến với nhân loại. Niềm vui có những người luôn âm thầm thực hiện
chúng. Niềm vui chúng ta biết nghĩ và biết biết sống trong tình thương
không biên giới vô giai cấp. Một niềm vui xuất phát trong tâm thế bình
đẳng.
(Cùng một tác giả)