GIỚI THIỆU KINH DUY MA CẬT
Thích Tuệ Sỹ
Nhân cách huyền thoại
Vaisali (Tỳ da li), thủ phủ của Vajji (Bạt
kỳ), một cường quốc theo chế độ cộng hòa thị tộc của người Vajji, mà các lân
bang quen gọi là Licchavì, là một đô thị phát triển trù phú thời đức Thích Tôn
tại thế, và những người Licchavì giàu có, vinh quang, được ví như các thiên
thần cõi trời Ðao Lợi (Trayastrimsa).
Một buổi sáng, có tiếng trẻ khóc trước vườn
Thượng uyển của nhà vua. Người giữ vườn ra xem, bắt gặp một bé gái bị bỏ rơi
dưới một gốc xoài. Ông ẳm bé gái về nuôi và đặt tên là Amrapàlì, với ý nghĩa là
người con gái được bảo vệ bởi gốc xoài.
Lớn lên, sắc đẹp của nàng không những rực
sáng cả nước, mà còn chói rạng xa đến những địa phương mà tiếng đồn có thể lan
đến. Nhan sắc của nàng che mờ trí tuệ và dũng lực của các vương tôn, công tử,
những người Licchavì giàu có, thế lực. Nàng trở thành đối tượng tranh chấp của
họ. Ðể tránh cho sự tranh chấp không trở thành xung đột quyết liệt, họ thỏa
thuận Amrapàlì là bảo vật chung. Ðịnh mệnh bắt nàng phải trở thành một kỹ nữ.
Và cũng từ đó, Vaisali trở thành một vườn hoa chói lọi bởi sắc đẹp thiên kiều
bá mỵ của Amrapàlì, thu hút khá nhiều tài sản vật chất của các vương tôn và của
cả những quân vương đầy quyền uy. Trong đó có cả vua Bimbisàra, vua nước Magadha
hùng cường bậc nhất vào thời bấy giờ. Vua một thời là bạn của Thái tử
Siddhàrtha, và sau đó là đệ tử thành tín của Phật. Amrapàlì sinh cho Bimbasàra
một người con. Một con người được sinh ra từ những đam mê trụy lạc của một quân
vương và một kỹ nữ. Nhưng, đó sẽ là một đóa sen từ bùn lầy hôi tanh mà vươn lên
với hương sắc thuần tịnh. Họ đặt tên cho con mình là Vimala, không ô nhiễm, hay
sẽ dứt sạch ô nhiễm. Quả nhiên, về sau Vimala xuất gia theo Phật, rồi chứng đắc
quả A La Hán.
Ðó là một Vimala ẩn sĩ. Từ thanh lâu đi vào
rừng tía. Lang thang với một bình bát và ba y. Hạnh phúc với đời sống tri túc.
Nhưng, còn một Vimala khác không chỉ làm
chói sáng Vaisàlì như một nhân vật huyền thoại. Một con người mà danh tiếng
không chỉ được đồn đãi giữa các vua chúa, các phú gia địch quốc, giữa các trà
đình tửu quán, giũa các chốn thanh lâu trụy lạc; mà danh tiếng ấy còn vang xa
đến tận cùng biên giới của vũ trụ, nếu vũ trụ có biên giới; được các Thánh
nhân, các Bồ tát kính trọng; được các đức Phật tán dương. Ðó là danh tiếng
không chút ô nhiễm ngay dù được truyền tụng giữa bùn lầy ô nhiễm. Ðó là một
Vimala kìrti. Là một Thánh nhân nhưng không hề ở trên cõi Thánh thanh tịnh vô
vi. Ðó cũng là một tay lạc phách giang hồ, mà trong lòng tay, những cánh hoa
giới trở thành thể tính Chân không vi diệu.
Có một nhân vật lịch sử như thế chăng, hay
đấy chỉ là một nhân vật hư cấu để biểu tượng một tư tưởng triết học hay một lý
tưởng Bồ tát đạo của Phật giáo Ðại thừa?
Có thể trả lời một cách dứt khoát rằng đó
là một nhân vật lịch sử, xuất hiện trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử
phát triển Phật giáo nói chung, và trong thời kỳ vận động của Ðại thừa.
Một con người có thật được trang bị với một
cơ sở tư tưởng bất nhị (advaita) để có thể tự nâng lên hàng Thánh giả vượt
ngoài tam giới nhưng đồng thời có thể hạ mình ngập lụt trong thế gian ô nhiễm
mà vẫn không tách lìa thế giới thuần tịnh vô nhiễm.
Một con ngưòi có thật, sống trong trạng
thái an nhiên giải thoát bất khả tư nghị, đã bưng ngọn đèn trí tuệ ra khỏi các
hang động tĩnh mặc, từ các thâm sơn cùng cốc, để rọi sáng đường đi cho những
con người đang mãi chìm đắm trong bùn lầy hôi thối bỗng phát hiện chân diện mục
của mình nguyên lai là thanh tịnh. Ðó là một nghệ sĩ lớn, bằng du hí thần thông
tam muội, hằng rong chơi trong sáu nẻo luân hồi, với những chất liệu thấp hèn,
dơ bẩn của thế giới ô trược, đã nắn thành những tác phẩm Thánh thiện tuyệt vời.
Lịch sử nhân loại nếu chưa từng xuất hiện một, hay nhiều nhân vật như vậy, thì
thế giới này chỉ là một sa mạc nóng bức đầy quái tượng dã thú. Ðó là một khẳng
định mang tính bản thể luận, và cũng là yếu tính lịch sử phát triển của xã hội
loài người.
Chính vì, trong một thời kỳ nhất định, tất yếu xuất hiện
một nhân vật hiện thực như vậy để làm sáng tỏ khát vọng vĩnh cửu của con người,
thúc đẩy lịch sử chuyển hướng sang một giai đoạn mới; và đã có nhiều nhân vật
lịch sử như vậy, cho nên hình ảnh một Vimalakìrti hiện thực được hoá thân thành
nhân vật huyền thoại. Nói cách khác, từ một con người hiện thực, Vimalakìrti
trở thành biểu tượng cho tác nhân lịch sử. Thế nhưng, đó là con người mà chúng
ta sẽ học tập ở đây, như là một cách người nhân cách hóa cho lý tưởng của Ðại
thừa Bồ tát.
Ý nghĩa nhân cách và ý nghĩa lịch sử
Vimalakìrti nirdesa, đó là đề Kinh tiếng
Phạn được khôi phục dựa trên các bản dịch và chú giải của Hán tạng.
Chú Duy Ma Cật Kinh dẫn lời giải của La
Thập (Kumarajìva): "Duy Ma Cật, tiếng nước Tần (Trung hoa) nói là Tịnh
Danh. Tức là một người trong số năm trăm đồng tử. Từ nuớc Diệu hỷ, du hành đến
cõi này. Sau khi làm xong những việc cần làm, lại trở về chỗ cũ." Cùng tác
phẩm, dẫn lời giải của Trúc Ðạo Sinh: "Duy Ma Cật, tiếng Hoa nói là Vô Cấu
Xưng. Do bởi lẫn hành vi trong ngũ dục mà siêu nhiên không vấy bẩn, danh thơm
lan khắp xa, nên có tên như vậy."
Tịnh danh huyền luận, Cát Tạng, dẫn chứng
giải thích của Chân Ðế Tam tạng: "Nói đủ theo tiếng Phạn, thì phiên âm là
Tỳ Ma La Cật Lị Đế. Trong đó, Tỳ nghĩa là diệt, Ma La nghĩa là cấu (cấu bẩn),
Cật Lị Đế nghĩa là minh (tiếng hót). Tổng hợp lại, có nghĩa là diệt cấu minh
(tiếng hót không vấy bẩn). Và Cát Tạng nêu ý kiến: "Minh (tiếng hót) cũng
có nghĩa là danh (tiếng tăm) vậy. "Trước đó, Cát Tạng cũng nêu ý nghĩa có
tính cách biểu tượng về Tịnh Danh: "Do tịnh đức được chứa đầy bên trong,
và danh tiếng tốt đẹp truyền khắp thiên hạ, nên được gọi là Tịnh Danh."
Theo những giải thích dẫn trên, Tịnh Danh
được hiểu như một danh từ mô tả một nhân cách hay một phẩm tính được nhân cách
hóa. Tịnh Danh, như vậy, không nhất thiết phải là tên của một nhân vật lịch sử
có thật nào đó, mà là một đức tính hay một giá trị phổ quát được nhân cách hóa
từ lý tưởng Bồ tát đạo của Ðại thừa. Nói rõ hơn, Tịnh Danh, hay Vô Cấu Xưng,
biểu trưng tinh thần nhập thế của Ðại thừa Bồ tát. Và như vậy, tên Kinh
Vimalakìriti nirdesa, dịch là Duy Ma Cật sở thuyết theo Ngài La Thập, hay
Thuyết Vô cấu xưng theo Ngài Huyền Trang, có thể được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, đó là tác phẩm ghi lại những trần
thuật của Vimalakìrti, một nhân vật lịch sử sáng chói nhất trong phong trào vận
động Ðại thừa.
Thứ hai, đó là tập hợp của học thuyết về sự
vinh quang không ô nhiễm. Với ý nghĩa thứ hai này, Kinh còn có tên khác nữa,
gọi là Bất Tư Nghị Giải Thoát. Căn cứ theo nội dung, tư tưởng của Vimalakìrti
thuộc hệ Bát Nhã, mà đỉnh cao ở đây là lý bất nhị (advaita) được diễn tả bằng
sự im lặng của Vimalakìrti trước câu hỏi của Bồ tát Văn Thù (Manjusrì). Về mặt
thực tiễn hành đạo, như giải thích của Ðại sư Trí Khải, Duy Ma Kinh huyền sớ,
dẫn chứng phẩm 7 "Quán chúng sinh": "Ðối với hạng người tăng
thượng mạn, Phật nói diệt trừ dâm, nộ, si là giải thoát. Với hạng người không
tăng thượng mạn, Phật nói thể tính của dâm, nộ, si chính là giải thoát."
Và Ðại sư nêu ý kiến: "Thể tính dâm, nộ, si là chân tính bất tư nghị, lấy
giải thoát làm thể."
Bởi vì Ðại sư Trí Khải là người sáng lập
Thiên Thai tông, lấy Kinh Pháp Hoa (Saddharma pundarika sùtra) làm sở y, do đó
từ ngữ tăng thượng mạn (abhimàna) trong trích dẫn trên cần được hiểu theo nội
hàm của Pháp Hoa. Ðó là từ ngữ chỉ những vị A La Hán tự thỏa mãn với Thánh quả
mà các Ngài đã chứng, với một cứu cánh duy nhất là nhập Niết bàn không lưu lại
dấu tích như ngọn lửa tắt khi chất đốt đã hết.
Trên phương diện tư tưởng, Duy Ma Cật phê
phán tất cả giáo pháp không chỉ của Thanh văn, mà còn luôn cả Ðại thừa; dù rằng
các giáo pháp ấy được tin tưởng là do chính đức Thích Tôn đã thuyết giảng.
Nhưng rồi, như chúng ta sẽ thấy trong chính văn, sự phê phán của Duy Ma Cật
không có tác dụng đả kích và bác bỏ, mà là lật ngược các điểm giáo pháp để có
thể nhìn rõ những hàm ẩn dưới nhãn quang khác. Tuy khẳng định, "Tính thể
của tham dục, sân hận và si mê chính là giải thoát", nhưng khi hiện bịnh,
Duy Ma Cật ứng dụng sự hiện bịnh ấy như là phương tiện thực tiễn để diễn giải
cho các cư sĩ tại gia về bản chất của tồn tại: "Này các nhân giả, thân này
là vô thường; là pháp yếu ớt, không chắc thật, chóng mục rữa... Thân này vốn
như huyễn, từ phiền não sinh. Thân này vốn như mộng, được nhìn thấy do hư
vọng... Thân này như rắn độc, như kẻ thù, như một đống rỗng không..." Nếu
nhìn trên lý luận hình thức, hai đoạn văn vừa dẫn hoàn toàn mâu thuẫn nhau.
Nhưng nếu bằng lý luận biện chứng siêu nghiệm của Kinh điển Bát Nhã thì cả hai
đều là một thực tại tuyệt đối bất nhị.
Khi gặp Ngài Xá Lợi Phất (Sàriputra) đang
tĩnh tọa trong khu rừng vắng, Duy Ma Cật phê phán: "Thưa Ngài Xá Lợi Phất,
bất tất ngồi như thế mới là tĩnh toạ... Không khởi diệt tận định (samjnàvedita
nirodha samàpatti) mà hiện các oai nghi đó mới là tĩnh tọa..;Không đoạn phiền
não mà nhập Niết bàn; ấy mới là tĩnh tọa..."
Khi lên viếng đức Di Lặc (Maitreya) trên
cung trời Ðâu suất (Tusita), Duy Ma Cật hỏi: "Thưa Ngài Di Lặc, Thế Tôn
thọ ký cho Ngài một đời nữa sẽ thành Phật. Nhưng Ngài được thọ ký theo đời nào?
Quá khứ chăng? Quá khứ đã qua rồi. Vị lai chăng? Vị lai chưa đến. Hiện tại
chăng? Hiện tại không dừng."
Rõ ràng, những phê phán ấy không có tác
dụng phá huỷ, mà bằng vào biện chứng siêu nghiệm của hệ tư tưởng Bát Nhã, triển
khai những ý nghĩa ẩn tàng thâm sâu trong những giáo pháp mà Phật đã dạy. Ðó là
phê phán để thành tựu. Thành tựu như thế được gọi là bất tư nghị (acintya).
Trên nền tảng nhận thức ấy, Duy Ma Cật mở
ra con đường thực tiễn hành động. Con đường đó được gọi là bất tư nghị giải
thoát (acintya vimoksa). Mục tiêu cứu cánh cho những giáo pháp của Phật là giải
thoát. Trong giáo pháp được cho là nguyên thủy, thì ý nghĩa của giải thoát là
diệt trừ tham, sân, si; đoạn tận phiền não, để chấm dứt khổ đau. Trong Ðại
thừa, giáo pháp ấy không hoàn toàn bị bác bỏ. Nhưng giải thoát được xác nhận
với nhận thức trực quán về thể tính của tham, sân, si. Từ đó, Duy Ma Cật được
coi là đỉnh cao trong phong trào vận động của Ðại thừa. Về một phương diện,
cuộc vận động để xác lập Ðại thừa trong giáo nghĩa của Phật bị chỉ trích gay
gắt là xu hướng thế tục hóa đạo Phật. Bởi vì nó đề cao vai trò của cư sĩ tại
gia trong quá trình tu đạo và hành đạo ngang với chúng đệ tử xuất gia. Giáo
pháp nguyên thủy, những yếu nghĩa căn bản do đức Thích Tôn giảng dạy chỉ có thể
được thành tựu với điều kiện thoát ly mọi ràng buộc thế tục. Cư sĩ tại gia chỉ
có vai trò hộ đạo, mà chính yếu là cung cấp các nhu yếu thường nhật cho các đệ
tử xuất gia của Phật. Ðó là điều được xác nhận rõ ràng, tất nhiên là mặt ngoài,
trong tất cả Kinh điển nguyên thủy hay sơ kỳ Phật giáo.
Về mặt giáo nghĩa, cả bốn chúng đệ tử Phật
đều có khả năng thành tựu Thánh đạo như nhau, và tục gia đệ tử cũng có thể
chứng đắc quả vị A La Hán vốn được coi là mục đích cứu cánh trong quá trình tu
đạo. Nhưng tất nhiên đệ tử tại gia với nhiều ràng buộc khó đạt đến mục đích ấy.
Ðoạn Kinh dẫn dưới đây rất thường gặp trong
các Kinh của Nikàya, tức Kinh tạng Pàli, và các Kinh tương đương thuộc bộ A Hàm
trong Hán tạng:
"Ở đây, đức Như Lai xuất hiện ở thế
gian; Ngài là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri,... Có gia chủ hay con trai của gia
chủ,... sau khi nghe Pháp ấy liền phát khởi tín tâm nơi Như Lai. Người ấy sau
khi đã có tín tâm như vậy, bèn suy nghĩ: “Ðời sống tại gia là trói buộc, là con
đường bụi bặm. Ðời sống xuất gia thì tự do thênh thang. Ðời sống tại gia thì
khó mà thực hành phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh không ô
nhiễm. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca sa, xuất gia, lìa bỏ gia
đình."
Ý nghĩa của sự so sánh ấy, cho đến ngày
nay, hay trong những thời kỳ hay nơi những địa phương mà Ðại thừa hưng thịnh
nhất, vẫn còn nguyên giá trị. Thế nhưng, trong những thế kỷ đầu Phật lịch, ý
nghĩa ấy được nhận thức như là tuyệt đối. Vì vậy, nhiều tác giả viết sử Phật
giáo gọi thời đó là thời kỳ Phật giáo tu viện; nghĩa là thời kỳ mà giáo pháp
của Phật chỉ dành riêng cho đệ tử xuất gia, chỉ được nghiên cứu và tu tập trong
các tu viện.
Tất nhiên, lịch sử phát triển của đạo Phật
không tách ngoài phát triển chung của xã hội. Khi xã hội phát triển đến một
hình thái nhất định nào đó, hình thái sinh hoạt Phật giáo, về mặt hành trì cũng
như trên phương diện tư tưởng, phải thay đổi cho phù hợp với hình thái xã hội
mới. Thế nhưng, tích cực tiếp nhận những thay đổi mới để tiến bộ là một khía
cạnh tâm lý của con người, thì tinh thần bảo thủ, sợ thay đổi, cũng là một khía
cạnh tâm lý khác. Cải cách, và bảo thủ, là hai thế lực luôn luôn cọ xát nhau
tạo thành những xung động thường xuyên của lịch sử. Sự tồn tại của Phật giáo,
của các cộng đồng đệ tử Phật giữa các cộng đồng xã hội khác cũng chưa hề thoát
ly các quy luật ấy. Có lẽ tránh cho các chúng đệ tử sau này không bị khóa chặt
bởi quán tính lịch sử, cho nên, trước khi nhập Niết bàn, đức Thích Tôn cho phép
chúng Tỳ kheo có thể lược bỏ một số điều khoản giới luật nếu xét thấy không phù
hợp. Nhưng trong cuộc kiết tập lần đầu tại Ràjagaha, trưởng lão Ca Diếp
(Kasyapa), với tư cách là trưởng lão cao niên nhất trong các đệ tử Phật, đã
quyết định, những gì Phật đã thiết chế, dù lớn dù nhỏ, không một Tỳ kheo nào
được quyền thay đổi.
Chỉ một trăm năm sau ngày Phật Niết bàn,
nhóm Tỳ kheo ở Vajji đã đề ra một số sửa đổi trong các lề luật sinh hoạt. Tất
nhiên họ gặp phải sự chống đối quyết liệt của nhóm Tỳ kheo bảo thủ. Một hội
nghị Tăng đoàn được triệu tập tại Vaisàli để phán quyết tính cách hợp luật hay
vi luật đối với những sửa đổi của nhóm Tỳ kheo Vajji. Kết quả của hội nghị là giáo
đoàn bị phân liệt thành hai bộ phái: Thượng tọa bộ gồm các Tỳ kheo cao niên có
tinh thần bảo thủ, và Ðại chúng bộ gồm số đông các Tỳ kheo trẻ có xu hướng cải
cách.
Mâu thuẫn và xung đột như vậy là quy luật
phát triển của xã hội. Sự phân liệt giáo đoàn là một chứng minh tích cực rằng
Phật giáo không tồn tại ngoài những quá trình thay đổi và phát triển chung của
xã hội. Ðiều đó cho thấy sự xuất hiện của Ðại thừa là tất yếu lịch sử. Và điều
này cũng chứng minh tính cách hiện thực của Duy Ma Cật như một nhân vật lịch sử
trong dòng vận động của Ðại thừa. Có thể chỉ có một Duy Ma Cật trong một thời
điểm nhất định, mà cũng có thể có nhiều Duy Ma Cật trong nhiều thời điểm khác
nhau.
Nói một cách vắn tắt, sự xuất hiện của Duy
Ma Cật là xu hướng khẳng định vai trò tích cực của chúng đệ tử tại gia trong
giáo pháp của Phật, về các mặt hành đạo cũng như hóa đạo. Tuy nhiên, trước khi
vai trò này được khẳng định, một quá trình biến thái của tư tưởng đã phải xảy
ra.
Trước hết, vị trí của bậc A La Hán được hạ
thấp xuống. Quả vị A La Hán không còn được nhận thức như là cứu cánh trong quá
trình tu đạo. Và phẩm cách của Thánh giả A La Hán cũng chưa phải là toàn thiện.
Cũng như mục đích học tập của các người con của một gia đình là để thừa kế và
quản lý sản nghiệp của gia đình. Cũng vậy, người tu Phật chỉ có một cứu cánh
duy nhất phải thành tựu là kế thừa sự nghiệp của Như Lai. So sánh hai mục đích
với nhau, các đệ tử chỉ mong muốn chứng quả A La Hán và nhập Niết bàn ngay
trong đời hiện tại; các đệ tử ấy được nói là những người đi trên cỗ xe nhỏ Tiễu
thừa. Ý nghĩa của sự phân biệt Tiểu thừa và Ðại thừa là như vậy.
Cứu cánh thành Phật không phải là ý tưởng
mới mẻ của các nhà vận động Ðại thừa. Ngay trong các Kinh điển được cho là
nguyên thủy, nhiều vị Phật trong quá khứ thường được đề cập. Và chính đức Thích
Tôn cũng huyền ký về vị Phật tương lai kế tiếp Ngài là Phật Di Lặc. Có nhiều
chúng sinh đã thành Phật và sẽ thành Phật, như vậy, trong quá khứ cũng như
trong hiện tại và vị lai có nhiều chúng sinh đã, và đang tu hành để thành Phật.
Thế nhưng, ngay quả vị A La Hán vốn được nhận thức là thấp như vậy mà đời sống
cư sĩ tại gia còn khó có thể thành tựu, huống gì quả vị cao như Phật. Vậy, cần
một nền tảng tư tưởng để đề cao cứu cánh ấy. Nền tảng ấy, trước vận động của
Duy Ma Cật, là hệ tư tưởng Bát nhã.
Trong nguyên thủy, giáo pháp mà Phật giảng
cho đệ tử tại gia tu học là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm
giới và niệm thiên. Thực tiễn thường nhật, hành đạo của người tại gia chủ yếu
là bố thí, và mục đích là để được sinh thiên. Bố thí, tức là đem tài sản của
mình sở hữu phân phát cho người khác. Trước hết, tài sản được sử dụng như là
phương tiện hộ đạo. Bằng tài sản sở hữu của mình, cư sĩ tại gia cung cấp cho
chúng xuất gia bốn nhu yếu sinh tồn: thực phẩm, y phục, thuốc trị bịnh, và các
phương tiện cư trú. Bố thí cho những người nghèo khốn cũng là hình thức hành
đạo của người tại gia.
Trong Ðại thừa, sự hành đạo chủ yếu của Bồ
tát cũng vẫn là bố thí. Nhưng, trên nền tảng tư tưởng Bát Nhã, sự bố thí bấy
giờ không thuần chỉ là sự ban phát của cải vật chất, mà là phương tiện dẫn vào
bản thể thâm sâu của thực tại. Sự bố thí ấy không nhắm mục đích sinh thiên nữa,
mà là nhắm thẳng đến cứu cánh thành Phật. Nội dung của bố thí không chỉ thuần
của cải vật chất nữa, mà bao hàm cả ba phương diện: Tài thí, Pháp thí và Vô úy
thí. Ðể thực hành Tài thí, Bồ tát phải giàu có. Ðể thực hành Pháp thí, Bồ tát
phải có kiến thức uyên bác. Ðể thực hành Vô úy thí, Bồ tát cần có nghị lực và
dũng cảm. Như thế, Bi Trí Dũng là phương châm hành đạo của Bồ tát.
Chúng ta cũng thấy rằng các Bồ tát với sự
hành đạo như vậy không phải hoàn toàn là lớp người mới, hay một thế hệ Phật tử
mới, hay những ngưòi mới quy y mà tập quán tư tưởng cố hữu chưa dứt bỏ. Mà đó
lại là các đệ tử kỳ cựu trong hàng đệ tử xuất gia của Phật. Như Ngài Subhùti
(Tu Bồ đề) chẳng hạn.
Subhùti là một Ðại Thanh văn, mà môn vô
tránh tam muội của Ngài không có vị Thanh văn nào khác có thể so sánh. Trong
Kim cang Bát Nhã, khi Subhùti hỏi về ý nghĩa phát Bồ đề tâm và làm thế nào để
củng cố và phát triển tâm Bồ đề ấy, Phật chỉ ra pháp môn tu tập thích ứng là bố
thí ba la mật. Chỉ duy nhất bằng vào bố thí ba la mật, Bồ tát có thể thành tựu
nhiều Phật pháp vi diệu khác như thành tựu giới đức, chứng đắc các Thiền định
và tam muội, thể hiện được trí tuệ.
Ðể chứng quả A La Hán, Tỳ kheo cần có Thiền
định. Muốn có Thiền định, Tỳ kheo cần ở những nơi yên tĩnh, cần sống trong
những khu rừng vắng vẻ. Nhưng Bồ tát có thể thực hành bố thí ba la mật ngay
giữa thế gian náo nhiệt. Do thế, giải thoát của Bồ tát không thể nhận thức được
một cách hợp lý bằng tri thức thường nghiệm. Và do ý nghĩa này, đời sống hành
đạo của Duy Ma Cật được nói là bất tư nghị giải thoát.
Trong nguyên thuỷ, giải thoát được hiểu là
diệt trừ phiền não ô nhiễm, dứt sạch tham, sân, si, để chứng nhập Niết bàn. Còn
trong Duy Ma Cật sở thuyết, giải thoát có nghĩa là gì, và mục đích hành đạo của
Bồ tát là gì? Ngay giữa dòng đời ô nhiễm mà không hề bị ô nhiễm, vì bản chất
của tồn tại là vô nhiễm. Cho nên, hành đạo và giải thoát của Duy Ma Cật nhắm
đến một cứu cánh hiện thực. Cứu cánh ấy được thể hiện qua hai phương diện, tuy
hai nhưng là một tuyệt đối bất nhị. Hai phương diện đó là tịnh Phật quốc độ
(Buddhaksetra parisuddhi) và thành tựu chúng sinh (sattva paripàcana). Chúng ta
gọi đó la tông chỉ của Duy Ma Cật sở thuyết.
Cơ Sở Tư Tưởng
Như đã biết, Duy Ma Cật sở thuyết còn có
một tên khác nữa là Bất tư nghị giải thoát. Ðó là tên Kinh mà cũng là tông chỉ
của Kinh. Chúng ta có thể đi sâu vào tông chỉ của Kinh qua hai phạm trù: tông
thể và tông dụng. Tông thể là cơ sở tư tưởng để từ trên đó Bồ tát triển khai
thực tiễn hành đạo của mình. Tông dụng là mục tiêu và cũng là thực tiễn hành
đạo của Bồ tát. Nhu vậy, cơ sở tư tưởng của Duy Ma Cật là bất tư nghị giải
thoát, mà thực tiễn hành đạo của Duy Ma Cật cũng là bất tư nghị giải thoát. Nói
cách khác, ở đây tông thể của Kinh là "nhập bất nhị pháp môn" và tông
dụng của Kinh là "tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh."
Từ quan điểm triết học mà nhìn, chủ điểm mà
Kinh lấy làm nền tảng và triển khai nhận thức về thực tại là nguyên lý bất nhị
(advaita). Ðể nhận thức được thực tại chân thực, Bồ tát cần đi qua cánh cửa bất
nhị.
Nguyên lý bất nhị hướng dẫn nhận thức khởi
đi từ những thực tại sai biệt mà khám phá ra thực tại tối hậu là tuyệt đối thể
ngay trong các tồn tại sai biệt ấy. Tức siêu việt những mặt đối lập của thực
tại vốn chỉ tồn tại trong thế giới danh ngôn và khái niệm, như sinh và diệt,
nhiễm và tịnh, sinh tử và Niết bàn. Trước hết, hiện thực được phơi bày với bản
tính mâu thuẫn nội tại của nó. Các khái niệm mâu thuẫn nhau, loại trừ lẫn nhau,
cùng tồn tại như là yếu tính của tồn tại, khiến cho hiện thực xuất hiện trước
nhận thức như là thực tại hư huyễn, và như vậy nhận thức không có nội dung,
trống rỗng.
Thế nhưng, thực tại tối hậu, mà nhận thức
đạt được ở đây như là Tuyệt đối thể, nguyên lai là chỉnh thể thống nhất của hai
thái cực mâu thuẫn biện chứng.
Tuyệt đối thể đó là kết luận của quá trình
tư biện, là giới hạn của tri thức duy lý. Nó tồn tại như khái niệm vô hạn hay
vô cực trong toán học. Bản thân của khái niệm vô hạn là một nghịch lý toán học.
Không một phép toán nào khả dĩ chứng minh tồn tại hiện thực của một thực thể vô
hạn. Nhưng nếu loại bỏ khái niệm vô hạn, thì không một phép toán nào khả dĩ
được thực hiện trong toán học. Cũng vậy, Tuyệt đối thể là một khái niệm nghịch
lý trong triết học. Nguyên lý bất nhị không thủ tiêu các mặt đối lập và mâu
thuẫn của hiện thực để cho nhận thức đối diện một thế giới trống rỗng, hư vô.
Nguyên lý bất nhị dung hợp các mặt đối lập và mâu thuẫn của hiện thực thành một
Tuyệt đối thể. Nhưng Tuyệt đối thể không được nhận thức trong từng hiện thực
sai biệt; vả lại, ngoài hiện thực sai biệt cũng không thể nhận thức được Tuyệt
đối thể. Nguyên lý bất nhị đẩy nhận thức diễn qua nhiều đợt khủng hoảng, để rồi
cuối cùng đặt nhận thức trước, hay trong, một thực tại vô ngôn, hoàn toàn im
lặng.
Nguyên lý bất nhị, mà cũng là thực tại bất
nhị, là giải thoát bất tư nghị, như vậy là cánh cửa giao thông cho Bồ tát qua
lại giữa Niết bàn và sinh tử. Nếu không được trang bị bằng nguyên lý bất nhị,
Bồ tát sẽ không đủ nghị lực và dũng mãnh để trụ vững trên Bồ đề tâm, dù chưa
đoạn tận phiền não. Do đã thấu triệt nguyên lý bất nhị mà thiên nữ, hiện thân
như là thị nữ của Duy Ma Cật, đã đề xuất một tiền đề khiến cho Ngài Xá Lợi Phất
phải sửng sốt: đam mê dục vọng, thù hận, và vô minh, chính là chân tính của
giải thoát.
Thực Tiễn Hành Ðạo
Trong Duy Ma Kinh huyền sớ, Ðại sư Trí Khải
phân tích nội dung của Kinh theo năm lớp huyền nghĩa, trong đó thứ ba tông chỉ
của Kinh là nhân và quả của Phật quốc bất khả tư nghị. Bởi vì ý nghĩa Phật quốc
được giới thiệu ngay ở phẩm tựa, theo bản dịch của Huyền Tráng, mà theo bản
dịch của Cưu Ma La Thập thì có tiêu đề là phẩm Phật quốc. Theo đó, cư sĩ Bảo
Tích (Ratnaràsi), trưởng đoàn của năm trăm cư sĩ, sau khi cúng dường và xưng
tán Phật, bày tỏ ước nguyện muốn nghe Phật nói về sự thanh tịnh của quốc độ
Phật và hành động của Bồ tát để thành tựu quốc độ thanh tịnh ấy.
Ở đây, căn cứ theo thỉnh cầu của cư sĩ Bảo Tích, chủ đề
của Kinh có thể nói một cách vắn tắt, gồm hai khía cạnh: tịnh Phật quốc độ,
thành tựu chúng sinh.
Nhưng, Phật quốc ở đây cần được hiểu như
thế nào? Nói theo ý nghĩa tổng quát nhất, đó là phạm vi mà trong đó giáo pháp
của Phật được lưu truyền. Hoặc nói, đó là môi trường chịu ảnh hưởng giáo hóa
của một đức Phật nhất định trong một thời gian nhất định. Hoặc nói rõ hơn, và
gọn hơn, đó là thế giới của Phật.
Theo ý nghĩa Tôn giáo, người ta nói rằng
một, và duy nhất chỉ có một, thế giói là một tác phẩm sáng tạo của một đấng
Sáng Tạo Tối Cao. Ðấng Sáng Tạo ấy có quyền lực vô biên và tuyệt đối để sáng
tạo ra một thế giới theo ý muốn của mình, thì cũng có quyền lực như vậy để hủy
diệt thế giới theo ý muốn. Ý nghĩa ấy phản ánh sự thành lập một quốc gia và một
Nhà nước quân chủ. Vua là sở hữu chủ của đất nước. Ðất nước là của vua.
Phật không tự nhận Ngài là đấng Sáng Tạo,
mà chỉ là vị Ðạo sư của trời và người. Phật không phải là sở hữu chủ của thế
giới, thế thì, làm sao có thể nói là có thế giới của Phật?
Ðể có thể nhận thức rõ ý nghĩa này, chúng
ta không thể không có một ít khái niệm về sự hình thành một quốc gia, sự xuất
hiện của Nhà nước, trong lịch sử xã hội loài người, theo quan điểm Phật giáo,
nói một cách tổng quát.
Tất nhiên, ý thức về sự tồn tại của một
quốc gia, sự xuất hiện một cơ cấu Nhà nước, không phải là ý thức tiên nghiệm.
Trong ý thức Tôn giáo, đó là sự giao ước giữa đấng Sáng Tạo và con người. Trong
quan điểm xã hội học, đó là sự giao ước giữa người và người.
Xã hội loài người và các định chế của nó là
một hình thái sinh hoạt ý thức trong một giai đoạn nhất định trong toàn bộ quá
trình sinh thành và hủy diệt của thế giới. Vì vậy, khi luận về ý nghĩa tồn tại
của xã hội và các định chế của nó, không thể không đề cập đến nguồn gốc của thế
giới, và như một hệ luận, nguồn gốc của loài người.
Ðức Phật đã nhiều lần từ chối trả lời về
nguồn gốc và sự hình thành của thế giới. Sự từ chối ấy hoặc được giải thích là
do lập trường thực dụng, hoặc do giới hạn nhận thức luận. Thế nhưng, khi cần
giải thích nguồn gốc các định chế xã hội, mà quan niệm Tôn giáo đương thời cho
thiên định, đức Phật đã nói rõ về nguồn gốc và quá trình tiến hóa của con người
và xã hội con người.
Nếu đọc thẳng vào nhiều Kinh điển Phật
giáo, người ta có cảm tưởng thế giới quan Phật giáo bị bao phủ bởi lớp sương mù
huyền thoại dày đặc. Nhưng, cũng nên hiểu rằng, lớp huyền thoại ấy không phải
đơn giản là hư cấu của ý thức, mà là một hình thái ngôn ngữ. Sự thật hay huyền
thoại tùy thuộc vào cách đọc, hay cách giải mã, ngôn ngữ ấy. Trong nhận thức
luận chung của các khuynh hướng tư tưởng Phật giáo, không hề có khởi điểm và
tận cùng của thời gian, cũng không hề có tâm điểm và biên giới của không gian,
mà chỉ có tận cùng giới hạn của trí năng. Tất nhiên là trí năng của nhận thức
duy lý, dù là nhận thức triết học hay nhận thức khoa học. Trong khoảng thời
gian và không gian vô cùng và vô tận ấy, nói về sự xuất hiện và tồn tại của một
thế giới, trong vô số thế giới khác, cũng có nghĩa là đặt thế giới vào một hệ
quy chiếu đặc biệt nào đó.
Chúng ta cần đứng trên một nền tảng tư duy
về thế giới quan như thế để phân tích những vấn đề chinh trị và xã hội trong
các truyền thống và xu hướng tư tưởng khác nhau của Phật giáo.
Trong quá trình tiến hóa, từ một vi sinh
vật tồn tại và phi hành trong ánh sáng, xuất hiện vào một thời điểm nhất định
trong một chù kỳ thành trụ hoại không của thế giới, con người cũng chỉ là một
sinh vật trong các sinh vật khác, nhưng do thừa hưởng kết quả quá khứ mà bẩm
sinh với một hữu thể tồn tại được phát triển dần thành hai yếu tố vừa độc lập
vừa bất phân là danh và sắc. Trên cơ sở đó, ý thức được phát triển càng lúc
càng cao do vừa lấy ngoại giới làm đối tượng vừa phản chiếu trên chính nó như
là chuỗi tồn tại liên tục của một tự ngã.
Cho đến khi ý thức về sự tồn tại của một tự
ngã được hình thành, con người tự tách mình ra khỏi thế giới quanh mình, phân
biệt những gì thuộc về ta và những gì không thuộc về ta. Cũng như để tăng lớn
thể tích của thân xác, con người, như các sinh vật khác, cần hấp thu các dưỡng
chất từ ngoại giới; cũng vậy, để tăng lớn tự ngã, con người cần chinh phục và
chiếm hữu. Từ đó, hình thành một ý thức về sự tích lũy. Tích lũy như vậy không
phải là một khái niệm tiên thiên, không phải là là ý thức tiên nghiệm, mà là
một hình thái đặc biệt của ý thức xuất hiện vào một thời điểm có ý nghĩa trong
quá trình tiến hóa.
Tích lũy tất nhiên dẫn đến xung đột, cạnh
tranh. Mâu thuẫn xã hội bắt đầu, trật tự cũ bị đảo lộn. Một định chế mới cần
được thiết lập để điều hòa những mâu thuẫn, xung đột, do hệ quả của cạnh tranh.
Chính quyền đầu tiên được gọi theo tiếng Pali là Mahàsammato, được bầu lên bởi
đại chúng. Người đứng đầu cơ cấu mới này đươc gọi là Ràjà, mà sau này thường
được hiểu là vua, hay người cai trị. Nhưng theo định nghĩa của Pàli, Ràjà có
nguồn gốc từ động từ ràjati, "nó làm vui lòng. " Như vậy, chính quyền
hay vua là trọng tài xã hội, được bầu lên và được ủy quyền điều hòa những mâu
thuẫn xã hội.
Song song với hình thái chính quyền nguyên
thủy như trên, các Kinh luận còn nêu lên một hình thái chính quyền khác, đứng
đầu là một Chuyển luân vương (Cakravartin), không phải do dân chúng bầu lên để
bảo vệ quyền lợi của họ, mà do phước báo tích lũy từ nhiều đời của vị ấy. Cả
hai quan điểm cùng được lưu truyền trong một hệ Thánh điển. Nhưng theo cách
nhìn từ lập trường xã hội và sử quan duy lý, cả hai đại diện cho hai thời kỳ
phát triển khác nhau của tư tưởng Phật học về nguồn gốc và hính thái chính
quyền.
Hình thái chính quyền Chuyển luân vương là
quan niệm, và cũng là lý tưởng phổ biến, trong cả hai truyền thống Ðại và Tiểu
thừa. Ðó là một chính quyền đức trị, và nhân dân được giáo hoá thuần thiện, với
đầy đủ mười phạm trù đạo đức, hay mười nghiệp đạo thiện. Lý tưởng về một chính
quyền đức trị và một xã hội đạo đức phản ánh ước mơ của các Phật tử vào các
thời kỳ suy thoái của xã hội. Vả lại, về mặt tiêu cực, như được thấy trong
nhiều Kinh luận, trong nhiều truyện truyền kỳ, sự suy thoái của con người về
mặt đạo đức, và kéo theo đó là sự suy thoái về mặt thể chất, rồi như là hậu quả
tất nhiên của cả hai là suy thoái xã hội toàn diện, là những xu hướng đương
nhiên trong một giai đoạn tiến hoá của thế giới. Tất nhiên, đó không phải là
tiến hóa luận theo chiều tuột dốc, cũng không phải theo chiều hướng thượng.
Tuột dốc hay hướng thượng tùy theo từng thời kỳ; chúng nối tiếp nhau lên xuống
như những đợt sóng trong đại dương sinh tử bao la.
Trong Duy Ma Cật, và trong nhiều Kinh điển
Ðại thừa khác, hình ảnh một quốc gia lý tưởng, và nói rộng ra là một thế giới
lý tưởng, là hình ảnh một Phật quốc (Buddha ksetra). Dù theo nghĩa đen thì cũng
không thể hiểu đó là một quốc gia Phật giáo. Một cách chính xác, từ ngữ ấy cần
được diễn theo hai nghĩa: quốc gia Phật tính và quốc gia Phật hóa. Cả hai tổng
hợp thành một ý nghĩa duy nhất: tư tưởng Tịnh độ.
Nhưng cũng cần phân biệt Tịnh độ tha lực và
Tịnh độ Bồ tát. Tịnh độ tha lực nhắm mục đích thoát khỏi thế giới Ta bà được
coi là uế trược này để sinh về một thế giới tốt đẹp hơn. Tịnh độ Bồ tát là thế
giới lý tưởng mà Bồ tát xây dựng. Bồ tát trước hết sinh ra trong một thế giới
xấu xa, thoái hóa. Bằng ý chí, bằng hành động, "năng hành nan hành",
làm những việc khó làm, Bồ tát biến đổi thế giới ô trược ấy thành Tịnh độ. Vì
rằng, tự bản chất, hết thảy các pháp vốn thanh tịnh.
Tự bản chất, hết thảy các pháp đều thanh
tịnh. Ðó là tiền đề căn bản cho tư tưởng Tịnh độ Bồ tát. Ðây không phải là điều
mới mẻ và riêng biệt của Ðại thừa. Trong A Hàm và Nikàya, đức Phật trước khi
nhập Niết bàn cũng đã nhiều lần ca ngợi vẻ đẹp những nơi Ngài đi qua, xác nhận
ý nghĩa rằng, với những ai đã giác ngộ thì thế giới này luôn luôn được nhìn
thấy là thanh tịnh. Ðây cũng là điều được khẳng định trong phẩm Phật quốc.
Cõi Tịnh độ mà Bồ tát phát nguyện xây dựng,
nói một cách tổng quát, có những đặc điểm như dưới đây:
Về thiên nhiên, đó là thế giới không có
những vật chất xấu xa, dơ bẩn và hôi thối. Người với người sẽ không bị gián
cách nhau bởi không gian vật lý, do đó sự giao thông và giao tiếp không hề bị
chướng ngại. Sự biến đổi khuôn mặt thế giới như vậy là do sự cải hóa tư tưởng
của chúng sinh tồn tại trong đó. Nếu tâm chúng sinh là một tập hợp thiện và ác
lẫn lộn, thì thế giới vật chất mà chúng sống trong đó cũng gồm đủ các thứ đẹp
và xấu. Vì, như Phật đã nói: "Chúng sinh là kẻ thừa tự những hành vi mà nó
đã làm trong quá khứ. "Nói cách khác, với những hành vi được thúc đẩy bởi tham.
Chúng sinh sẽ sáng tạo ra những thứ xấu xa, hôi thối mà chính nó là kẻ thừa
hưởng. Bằng những hành vi bị chi phối bởi thù hận, chúng sinh sẽ sáng tạo những
vật chất chướng ngại để làm gián cách người vời ngừời.
Thiên nhiên phản ánh hình thái ý thức. Cho
nên, một thế giới được cấu thành bởi thiên nhiên xinh đẹp là cõi sống của các
loại chúng sinh thuần thiện, bao gồm mười nghiệp đạo thiện. Trong một quốc gia
mà đứng đầu là Chuyển luân vương, thì nhân dân trong đó cũng thuần thiện. Ðiểm
khác biệt với chúng sinh trong Tịnh độ Bồ tát là ở chỗ, trong cõi này ngoài sự
thành tựu muời nghiệp đạo thiện, chúng sinh thảy đều được giáo hoá Bồ đề tâm,
hướng ước nguyện đến cứu cánh là thành Phật.
Một điểm đặc biệt nữa là, trong Tịnh độ Bồ
tát, không tồn tại một quốc vương hay một hình thức Nhà nước hay chính quyền.
Duy chỉ có Phật hiện hữu như là vị Ðạo sư giảng dạy chân lý chứ không có chúc
năng cai trị. Chúng ta đã biết rằng, cơ cấu chính quyền hay hình thái Nhà nước
chỉ xuất hiện khi mà mâu thuẫn xã hội tiến đến mức độ gay gắt. Xung đột và mâu
thuẫn diễn ra trong quá trình cạnh tranh để tích lũy. Tích lũy được thúc đẩy
bởi tham. Tham là yếu tố tăng trọng bản ngã.
Không phải tất cả chúng sinh trong Tịnh độ
Bồ tát đều đã diệt trừ ngã chấp, đạt đến trình độ vô ngã. Nhưng do bởi không
tồn tại những chất liệu nuôi dưỡng, nên tham phiền não chìm sâu dưới đáu biển ý
thức, không phát huy tác dụng để chi phối con người. Nếu không được thúc đẩy
bởi tham, ý niệm tích lũy không tồn tại. Không tích lũy, do đó không cạnh
tranh, và xã hội không bị cuốn hút vào những xung đột mâu thuẫn. Trong trường
hợp đó, sự tồn tại của một cơ cấu chính quyền là không cần thiết, và không hợp
lý. Hay nói theo cách của các nhà luận lý học Phật giáo: Cái gì không có tác
dụng, cái đó không hiện thực.
Nhưng, Tịnh độ Bồ tát không phải là ước
nguyện chủ quan của Bồ tát. Vì đó là môi trường tồn tại của những chúng sinh có
chung những hình thái ý thúc giống nhau, do đó Tịnh độ Bồ tát là công trình tập
thể. Chừng nào chúng sinh chưa được giáo hóa đầy đủ để tự mình xác lập Chánh
đạo, chừng ấy Bồ tát vẫn chưa thể thành viên mãn hạnh nguyện "tịnh Phật
quốc độ." Cho nên, để tịnh Phật quốc độ, Bồ tát đồng thời cũng nỗ lực để
thành tựu chúng sinh. Trả lời câu hỏi của Bảo Tích về ý nghĩa Tịnh độ của Bồ
tát, đức Phật nói: "Chúng sinh loại là Tịnh độ của Bồ tát." Và sau đó
Ngài nêu ví dụ: Một người có thể xây dựng tùy ý cung điện lâu đài trên khoảng
đất trống, không có các thứ chướng ngại làm vướng bận. Nhưng người đó không thể
dựng các thứ hoặc bằng gỗ hoặc bằng đất giữa hư không. Chúng sinh chính là nền
tảng để Bồ tát xây dựng Tịnh độ.
Nói cách khác, Bồ tát hành đạo để tịnh Phật
quốc độ vì biết rằng tất các các pháp bản lai thanh tịnh. Ðó là Ðại trí. Ðồng
thời Bồ tát cũng thành tựu chúng sinh, vì mục đích hành đạo của Bồ tát là vì
muốn đem sự an lạc đến cho tất cả. Ðó là Ðại bi. Cỗ xe Ðại thừa luôn luôn phải
được vận chuyển bằng hai bánh: Ðại trí và Ðại bi.