GIỚI THIỆU KINH ĐIỀM LÀNH
(Mangala Sutta)
Bình Anson
Kinh Điềm Lành (Mangala Sutta) -- còn có tên là
kinh Phước Đức hay kinh Hạnh Phúc -- là bài kinh số 5 trong Tiểu Tụng (Khuddakapātha),
thuộc Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikāya). Đây là một bài kinh rất phổ thông
tại các quốc gia Phật giáo Nam truyền và thường được chư Tăng tụng và thuyết
giảng trong các dịp lễ. Ở đây, chúng tôi xin trình bày tóm tắt sơ lược nội
dung bài kinh.
Evam me sutam:
Ekam
samayam
Bhagavā
Sāvatthiyam
viharati Jetavane
Anāthapindikassa
ārāme. |
Tôi được nghe như vầy:
Một thời Đức Thế Tôn
Gần nơi thành Xá vệ,
Tại Kỳ viên tinh xá
Của ngài Cấp-Cô-Độc. |
Atha kho aññatarā
devatā
abhikkantāya rattiyā
abhikkantavannā
kevalakappam
Jetavanam
obhāsetvā
yena Bhagavā tenupasankami
upasankamitvā
Bhagavantam
abhivādetvā
ekamantam atthāsi. |
Vào hạ tuần canh đêm,
Vị thiên tử hiện ra,
Với hào quang rực rỡ,
Chiếu sáng cả Kỳ viên,
Đến nơi Đức Phật ngự,
Đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Rồi đứng sang một bên. |
Ekamantam
thitā
kho sā devatā
Bhagavantam gāthāya
ajjabhāsi: |
Sau khi đã đứng yên,
Vị ấy bạch Thế Tôn,
Bằng lời kệ như sau: |
Bahū
devā manussā ca,
Mangalāni
acintayum,
Ākankhamānā
sotthānam,
Brūhi
mangalam uttamam. |
Chư thiên nhân thao thức,
Muốn biết về điềm lành,
Ðể sống đời an lạc,
Xin Thế Tôn chỉ dạy. |
|
(Đức Phật trả lời:) |
|
Asevanā
ca bālānam,
Panditānañca
sevanā,
Pūjā ca pūjanīyānam,
Etam mangalam
uttamam. |
Không gần kẻ ngu si,
Thân cận người hiền trí,
Cúng dường bậc xứng đáng,
Là điềm lành tối thượng |
Đầu tiên là 3 điềm lành: tránh xa kẻ ngu (bāla),
thân cận người hiền trí, thiện tri thức (pandita), cúng dường
(pūjā)
những bậc xứng
đáng để được cúng dường. Gần mực thì
đen, gần đèn
thì sáng. Người ngu ở
đây là
người không biết phân biệt thiện ác và có khuynh hướng theo các
điều xấu ác. Bậc trí hiền là
những người có
đạo đức, tinh cần học và
hành trong giáo pháp. Tôn kính và dâng tặng phẩm vật
đến các bậc tôn túc, phẩm hạnh thanh
cao là một
điều quý nên
làm.
Patirūpadesavāso
ca,
Pubbe ca katapuññatā,
Attasammāpanidhi
ca,
Etam mangalam
uttamam. |
Ở trú xứ thích hợp,
Quá khứ tạo nhân lành,
Hướng tâm theo lẽ chánh,
Là điềm lành tối thượng |
Có 3
điềm lành:
- Trú xứ (desa) thích hợp
(patirūpa)
là những nơi có môi trường văn
hóa xã hội tốt cho sự
tu tập. Ở bầu thì dài, ở ống thì tròn. Chúng ta thường bị tác
động bởi hoàn
cảnh xã hội. Ở những nơi chỉ chuộng hình thức hào nhoáng bên ngoài,
hưởng thụ vật chất, chạy theo nhu cầu dục lạc, lễ nghi rườm rà,
chuộng các lời hoa mỹ rỗng tuếch thì cũng khó tu tập.
- Nếu trong quá khứ của
đời này,
hay trong các
đời trước, đã
tạo các công
đức
(katapuññatā),
nay, quả phước lành sẽ
được gặt hái trong hiện tại. Đây là
một
điềm lành.
Bằng không, hãy nỗ lực làm việc thiện,
để tạo nhân lành
cho tương lai.
- Một
điềm lành
khác là tâm ta có
định hướng chân chánh, đúng đắn
(sammāpanidhi),
hiệp theo lẽ
đạo. Đây là
điều quan trọng, phải có tác ý đúng.
Bāhu-saccañca
sippañca,
Vinayo ca susikkhito,
Subhāsitā
ca yā vācā,
Etam mangalam
uttamam. |
Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Giới luật biết tu tập,
Có những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng |
Có 4
điềm lành
ở
đây: được học và
có nhiều hiểu biết (bāhu-saccam)
, có nghề nghiệp tốt (sippam), biết hành trì các nguyên tắc
giới luật đạo đức (vinayo), và biết dùng ngôn từ hòa ái, chân
thật.
Mātāpitu
upatthānam,
Puttadārassa
sangaho,
Anākulā
ca kammatā,
Etam mangalam
uttamam. |
Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Biết nuôi nấng vợ con.
Việc làm không xung khắc,
Là điềm lành tối thượng |
Có 3
điềm lành:
phụng dưỡng cha mẹ (mātāpitu),
nuôi nấng gia
đình
(puttadārassa),
có công việc làm không gây xung
đột
(anākulā)
với người khác.
Dānañca
dhammacariyā
ca,
Ñātakānañca
sangaho,
Anavajjāni
kammāni,
Etam mangalam
uttamam. |
Bố thí, hành đúng pháp,
Giúp quyến thuộc họ hàng,
Hành xử không tỳ vết,
Là điềm lành tối thượng |
Có 4
điềm lành:
có lòng bố thí rộng rãi (dānā),
có phẩm hạnh trong sạch theo giáo pháp (dhammacariyā),
biết giúp
đỡ bà
con họ hàng (ñātakā),
có những hành
động giao tiếp trong sạch, không
bị chê trách (anavajjā).
Āratī viratī pāpā,
Majjapānā ca saññamo,
Appamādo ca dhammesu,
Etam mangalam
uttamam. |
Ghê sợ, tránh điều
ác
Không nghiện ngập rượu chè,
Tinh tấn hành thiện pháp,
Là điềm lành tối thượng |
Có 4
điềm lành:
biết ghê sợ (āratī)
tội lỗi, biết tránh xa (viratī)
tội lỗi (viratī
pāpā),
không rượu chè say sưa làm u mê (majjapānā),
tinh tấn (appamādo)
làm các
điều lành,
thiện pháp (dhammesu).
Gāravo
ca nivāto ca,
Santutthī
ca kataññutā,
Kālena dhammassavanam,
Etam mangalam
uttamam. |
Sống lễ độ, khiêm
cung,
Tri túc và tri ân,
Đúng thời, nghe giảng Pháp,
Là điềm lành tối thượng. |
Có 5
điềm lành:
thái
độ lễ phép
có văn
hóa (gāravo),
tính khiêm hạ (nivāto),
biết sống
đủ,
tri túc (santutthī),
biết nhớ ơn, tri ân (kataññutā),
và biết
đến nghe Pháp
(dhammassavanam)
đúng thời, đúng lúc
(kālena).
Khantī
ca sovacassatā,
Samanānañca
dassanam,
Kālena
dhammasākacchā,
Etam mangalam
uttamam. |
Kham nhẫn, biết phục thiện,
Thường đến gặp Sa-môn,
Ðúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng |
Có 4
điềm lành:
biết kiên nhẫn (khantī)
và chịu
đựng, biết phục thiện dễ dạy
(sovacassatā),
thường thân cận các bậc tu hành (samana), và
đàm
luận, trao
đổi học Pháp
(dhammasākacchā).
Tapo ca brahmacariyañca,
Ariyasaccāna
dassanam,
Nibbāna
sacchikiriyā
ca,
Etam mangalam
uttamam. |
Tự chế, sống phạm hạnh,
Thấy chân lý nhiệm mầu.
Thực chứng quả Niết Bàn
Là điềm lành tối thượng |
Có 4
điềm lành:
sống tinh cần tự chế (tapo), sống
đời sống phạm hạnh
(brahmacariya),
thẩm thấu chân lý nhiệm mầu (ariyasaccā)
– tức là Tứ thánh
đế,
thực chứng Niết bàn (nibbāna
sacchikiriyā).
Phutthassa
lokadhammehi,
Cittam
yassa na kampati,
Asokam
virajam
khemam,
Etam mangalam
uttamam. |
Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sầu,
An nhiên, không uế não,
Là điềm lành tối thượng |
Có 4
điềm lành:
Tâm bất
động, không lay chuyển khi
bị gió
đời
hay pháp thế gian (lokadhamma) – khen chê,
được mất, vinh nhục, buồn vui –
thổi
đến. Ba điềm lành
khác: không còn sầu não (asoka), sống an nhiên (khema),
không còn uế nhiễm (virajam).
Etādisāni
katvāna,
Sabbatthamaparājitā,
Sabbattha sotthim
gacchanti,
Tantesam
mangalam
uttaman’ti. |
Ai sống được như
thế,
Đến đâu không thối thất,
Đến đâu cũng an toàn,
Những điềm lành tối thượng. |
Được như thế là đã nhập dòng thánh giải thoát. Khi ấy, cho dù
sống trong dòng
đời,
đi đến đâu cũng không bao giờ bị tham sân si
đánh bại
(sabbattha
aparājitā),
đi đến đâu cũng bình
an tự tại, an toàn (sabbattha
sotthim
gacchanti).
Đó là
điềm lành
cao quý nhất.
*
Trong 11 câu kệ trên, Đức Phật đã đưa ra một bản hướng dẫn tổng
quát cho người cư sĩ Phật tử, như là một cẩm nang tu học. Đầu tiên,
người ấy phải biết tránh xa người ngu ác, chỉ biết chạy theo cám dỗ
của ngũ dục. Phải biết thân cận bậc thiện tri thức để học hỏi, phải
biết cung kính bậc tôn kính. Người ấy phải biết chọn nơi thích hợp
để sinh sống, và
biết tạo nhân lành
để có phước báu tương lai. Phải biết
hướng tâm theo đường chánh, học rộng và
có tay nghề giỏi, có việc làm không gây tranh chấp, xung
đột với người khác.
Trong gia
đình,
người ấy phải biết phụng dưỡng cha mẹ, nuôi nấng vợ con, giúp
đỡ quyến thuộc.
Người ấy phải có lòng bố thí rộng rãi, tinh tấn giữ giới, không
nghiện ngập say sưa, biết ghê sợ và tránh xa các
điều tội lỗi. Người ấy
có những hành
động thiện lành,
không bị chê cười, có những lời nói khéo léo, hòa ái.
Trong tiến trình tu học, người ấy phải biết lễ
độ, khiêm
tốn, không cống cao ngã mạn. Phải biết sống tri túc và lúc nào cũng
có lòng biết ơn những người
đã
giúp,
đã
chỉ dạy mình. Người ấy phải sẵn sàng nghe và sửa
đổi tâm tánh mình.
Lúc nào cũng tinh tấn học và hành theo giáo pháp, gần gũi các bậc tu
hành có
đức hạnh cao quý.
Sống tự chế, tỉnh giác, có giới
đức tốt, người ấy nổ lực để thấu
đạt
và thực chứng chân lý nhiệm mầu – tức là Tứ Diệu
Đế, để nhập dòng
thánh giải thoát, chứng
đắc Niết bàn.
Nếu
được như thế, người ấy sống an nhiên
tự tại, không xao
động bởi các pháp thế gian. Đi đến đâu
cũng an vui,
ở nơi nào cũng không bao giờ bị tham sân si áp chế.
Đó là
phước lành cao thượng nhất trên
đời.
Theo lời ngài Hòa thượng Narada trong quyển "Đức
Phật và Phật Pháp":
Bài kinh nổi tiếng nầy, thường
được trì
tụng trong các nước Phật Giáo, là một bài tóm tắt minh bạch và
đầy đủ các điều luân lý của đạo Phật,
cho cá nhân và xã hội.
Ba mươi tám
điều phước đức trong bài
đó là
một hướng dẫn thiết yếu cho
đường đời. Bắt đầu là
"lánh xa kẻ xấu ác" vốn căn
bản cho các tiến bộ luân lý và
tâm linh, những
điều Phước
Ðức
đưa đến thành
tựu một tâm ý vô tham, vô úy an nhiên. Hành trì theo các lời dạy
trong bài kệ là một con
đường chắc chắn đưa đến đời sống hài
hòa và tiến bộ của cá nhân cũng như của xã hội, quốc gia, và nhân
loại.
Bình Anson
Perth, Tây Úc
tháng 08-2011